Bò xa miệng hầm chừng dăm ba mét, mình lật ngửa người ra thở. Ðây là một bãi gianh người ta trồng để lợp nhà. Lần đầu tiên trong đời mình thấy không khí quí giá đến thế, ngọt ngào đến thế!
☆
Ba thằng nằm ngửa nhìn trời hít thở no nê. Con chim sâu nhảy nhót trên cành xoan: chích chích... chích chích ...Nó hạnh phúc quá, tự do quá, không cơ cực như con người....
☆
Ðặt chân đến “chiến trường” là lập tức xông lên... nương!
Chiến trường Khu 5 không chỉ phải đối phó với ca nông bầy hay gọi là pháo bầy (các khẩu pháo ở các nơi khác nhau như tàu biển, đồn bốt v.v... đồng thời bắn dồn dập vào một điểm), đối phó với bom bi, bộ binh đi càn, B57, B52... mà còn đối phó với những cái khác không kém phần khốc liệt. Ðó là cái đói, bệnh tật và thiếu thốn. Thiếu mọi thứ, thiếu cái ăn cái mặc, thuốc men, thiếu cả ánh sáng vì luôn luôn sống về đêm, sống trong rừng sâu, chui hầm chui hố, ẩm mốc ướt át; thiếu cả không khí để thở khi ngộp hầm. Anh hoạt động báo chí truyên truyền văn hóa văn nghệ gì không biết, cứ phải tự túc lương thực sáu tháng, phải tìm được đất trồng được ngô trồng được lúa để tự túc sáu tháng, cấp trên chỉ cung cấp sáu tháng thôi. Về đến khu lại trừ bớt, chỉ cung cấp năm tháng thôi, về đến đơn vị điện ảnh lại trừ 10 ngày. Có nghĩa mỗi năm phải tự túc bảy tháng hai mươi ngày.
Cái khốn nạn nhất là phải đi làm nương. Có người quanh năm chỉ đi làm nương. Nhiều khi nghĩ mà uất. Nếu làm nương làm rẫy thì ở ngoài Bắc lên mẹ nó Hòa Bình mà làm, vào đây làm gì cho nó khổ! Chết đói không ít. Mấy anh em điện ảnh bọn mình phải đi kiếm ăn hằng năm trời, phát quang cả mấy cái đồi, hú lên chẳng nghe tiếng nhau. Phát quang rồi, chờ cây cỏ khô đi rồi đốt. Thế thì là lạy ông tôi ở bụi này chứ còn gì nữa. Nó biết Việt cộng ở đấy chứ đâu! Thế mà cứ cặm cụi làm, nhịn đói phát cây dọn nương, cái gì đốt được thì đốt, rồi lấy gậy nhọn đâm lỗ tra ngô chờ thu hoạch chống đói! Cứ hai đứa một, thay nhau đứa chọc lỗ đứa tra ngô. Chỉ chọc với tra mà hoa cả mắt! Tình hình nước sôi lửa bỏng là thế, trang bị máy móc, nhân lực chuẩn bị công phu gian nan là thế mà vứt hết, chỉ lo ăn! Chờ cho ngô trổ cờ ra bắp để có cái đút vào mồm! Mà có những thằng cả năm làm nương, kể cả khi nắng đẹp, khi có nhiều sự kiện để quay cũng chẳng được sờ đến máy!
So với mấy anh em khác cùng đi một đợt như Dân, Hiến, Sửu, mình may mắn được xuống đồng bằng sớm. Trường và Tâm thì đi tuốt vào trong rồi.
Xuống đồng bằng thì nguy hiểm nhưng no hơn, dân nuôi mà! Cũng lén lút thôi nhưng mà có cái ăn, người có da có thịt phổng phao hơn, và cũng là vùng có chiến sự, có chuyện để quay phim. Tất nhiên nguy hiểm hơn, cận kề với cái chết hơn. Mình tán tỉnh mấy ông phụ trách và được nhận một máy quay 16 ly cực tốt, máy Paya Polex cùng với một cơ số phim trên 30 hộp.
Chẳng hiểu biết gì nhiều về phim nhựa nên mình rất yên tâm khi người phụ trách căn dặn: “Cơ số phim cậu nhận toàn bộ là négatif AgFA color của Tây Ðức, cực tốt. Phim này máy này đoàn quay phim của Trung Quốc để lại, ta không nhập được đâu!”.
Ai ngờ rằng cái phim AgFA color cực tốt đó sau này làm khổ mình...
Sông Thu Bồn có cái cồn cát rộng mênh mông ở giữa, cầu Chiêm Sơn bắc qua đó. Phía Nam cây cầu nằm trên xã Xuyên Trường. Ở đó có nhiều kỉ niệm khi mình làm “Những Người Dân Quê Tôi”. Có cụ già vẽ tranh, cụ giáo Niên, chữ nghĩa nhiều. Cụ dịch truyền đơn ra chữ Hán để vận động lính Nam Hàn, về sau điệp báo biết được và bọn lính Nam Hàn đã giết cụ.
Mình đã ở nhà cụ nhiều lần, cụ có con tập kết ra Bắc, là cán bộ có tên tuổi. Anh Toán, con trai cụ sau năm 1975 là trưởng phòng giáo dục huyện Duy Xuyên, hơn tuổi mình. Giờ đây anh vẫn thỉnh thoảng viết thư cho mình, lời lẽ rất thân thương.
Thôn của cụ nằm sát sông Thu Bồn. Hồi chiến tranh bọn mình phải chú ý, ngồi đâu đồ đạc phải ở liền đó, thứ gì cũng phải ở trong tầm tay, không thể để đây cái quần kia cái áo, thời gian đâu mà nhặt nhạnh, chỉ trong vài giây là quơ được hết và ù té, xuống sông xuống hầm gì đó thì tùy. Vấn đề không phải là tài sản mà đồ đạc là bằng chứng chứa chấp Việt cộng, nhà bị đốt, người bị giết.
Hồi mới xuống đồng bằng mình trắng trẻo trẻ trung, vác máy quay phim ra chợ giải phóng, người ta gọi là thằng Tây con, lớ nga lớ ngớ. Có lần ngủ cạnh chợ Bàn Thạch pháo bầy bắn tới. Khi đó phải lập tức lăn mình xuống đất hoặc chui xuống hầm; còn mình cứ nằm trên võng. Ông Tý bảo:
- Cha này điên!!!
- Sao?
- Tụt xuống võng chui vào hầm đi!
Về sau Tý hỏi:
- Sao ông liều thế?
Ca nông bắn tới mình không thèm nằm xuống, cứ ngơ ngác như bò đội nón vì nghĩ đứng hay nằm thì cái xác to hay nhỏ vẫn thế. Mình chẳng biết làm gì, có ai huấn luyện cho đâu.
Cả một vùng tan hoang, nhà cửa tung tóe, lợn gà táo tác...
Vì thế ông Tý mới thương và đi theo mình. Ông Tý nói với mấy ông lãnh đạo: “ Không để tôi đi với nó thì trước sau thế nào nó cũng chết. Nó chẳng biết cái gì cả!”.
Căng thẳng khủng khiếp, không giây phút nào được thảnh thơi, lúc nào cũng phập phồng. Bọn mình lúc đó gồm anh Sơn giáo viên ở Hải Phòng, anh Ba du kích ở địa phương chạy xe lambretta; một người nữa rất quan trọng trong cuộc đời làm phim của mình ở khu 5, đó là anh Tý, sinh năm Mậu Tý gọi là Tý, bút danh Triều Phương. Anh là nhà thơ, nhà giáo có lúc là trưởng phòng giáo dục, có lúc lại là trưởng đoàn Văn công của tỉnh Quảng Ðà. Anh này thương mình, tự nguyện đi theo mình, tất nhiên được sự đồng ý của cấp trên. Sau này, Tý nhiều lần viết thư cho mình, kể cả khi mình đã ra Bắc, những bức thư hay kinh khủng. Bây giờ con cái của Tý giữ những bức thư đó.
Có một lần ở Xuyên Trường, gần nhà cụ giáo Niên, mấy anh em tụ bạ tếu táo qua đêm, thì khoảng 4 rưỡi sáng hôm sau, máy bay quần đảo ngay trên đầu. Nhiều trực thăng lắm, chắc là đổ quân. Và ngay lập tức họ đổ quân, đông đến nỗi đám lính có thể cầm tay nhau mà quây cả vùng. Họ lùng sục. Không kịp chạy, tất cả lao xuống hầm hết. Các hầm thường có lỗ thông hơi dẫn lên nơi có những bụi lau, gốc tre... Ðêm hôm qua trời mưa, lỗ thông hơi bị bít kín. Mình nhảy xuống cái hầm một người. Thế rồi ông Ba nhảy xuống, lát sau lại thêm ông Tý cũng chui vào. Ba thằng rúc xuống cái hầm một người, lỗ thông hơi tắc, đậy nắp xuống không tài nào thở được, mình không quen...
Hồi đó đi đến đâu là phải xem hầm đã rồi mới tắm rửa, kiếm cái ăn hay bàn công việc, không thể làm bất cứ việc gì mà chưa biết cái hầm ở đâu.
Anh Sơn, giáo viên Hải Phòng hồi tối còn nằm tào lao với tụi mình, lúc chạy ra bị bắn chết ngay. Chúng mình chạy sau còn trông thấy anh ấy nằm sấp, nửa thân trước chìm dưới nước. Sau này hồi tưởng lại, mình cứ bị ám ảnh rằng nếu bố mẹ Sơn trông thấy cảnh thê thảm này...
Ở dưới hầm chỉ một lát thì ngộp thở, không thể nào chịu nổi nữa. Mình bảo:
- Anh Tý ơi, anh cho tôi lên!
Mình nghĩ ở lại thì chắc chết – chết như Lê Anh Xuân. Chui ra chưa chắc họ đã thấy, thấy chưa chắc đã bắn, bắn chưa chắc đã chết.
Tiếng máy bay. Tiếng người la hét, tiếng súng, tiếng lựu đạn nổ...
Mình lịm đi lúc nào không biết. Khi thiếu ôxy, cái chết đến một cách rất lạ, có trải nghiệm mới biết. Quanh đầu như có một cái vành đai thép xiết dần lại, xiết mãi, xiết mãi. Óc như muốn vỡ ra. Khi lịm dần đi, mình chỉ có một ý nghĩ là nhục nhã quá, vô lý quá... Mọi sự thiếu thốn trên cõi đời này đều có thể tưởng tượng được, cơm gạo, quần áo thuốc men, tình yêu thương, ánh mặt trời, nhưng thiếu ôxy để thở thì mình không thể hình dung nổi.
Mình nài nỉ, ông Tý bảo:
- Không được. Nó biết, nó đốt, nó giết hết cái nhà này, cái gia đình ở trên kia chứ không phải thân xác của ông.
Nhưng rồi ông Tý cũng không chịu nổi và ông cũng biết rằng ở lại thì chết thê thảm. Ông Tý là người địa phương, ông quen với những trò đó, ông lại xuống sau, còn khỏe, ông khẽ đẩy nắp hầm lên. Mình hồi tỉnh, thấy ông đang nâng cằm mình ghé mũi mình sát vào cái khe hở nắp hầm. Tỉnh dậy trong tay ông Tý, mình xúc động lắm.
Lúc đó đã khoảng 10 sáng. Mình bảo:
- Thôi ông Tý ơi ta lên thôi!
- Không được.
- Thế này ông Tý nhé, chúng ta không thể đem tất cả đồ đạc máy móc lên được. Nếu ta còn sống thì sẽ quay lại tìm kiếm. Tôi để lại hết, ông cho tôi lên. Các ông có lên không thì tùy.
Mình nâng nắp hầm chui lên, bỏ lại mũ, dép, phim máy và tất cả đồ đạc vì còn phải bò.
Bò xa miệng hầm chừng dăm ba mét, mình lật ngửa người ra thở. Ðây là một bãi gianh người ta trồng để lợp nhà. Lần đầu tiên trong đời mình thấy không khí quí giá đến thế, ngọt ngào đến thế!
Một lúc sau mình thấy có người chạm vào chân, ông Tý lên. Dăm phút sau, ông Ba cũng lên. Ba thằng nằm dài bên cạnh nhau. Cái bãi gianh rộng chừng vài trăm mét.
Tiếng súng im ắng, mấy thằng Mỹ khiêng từ trong nhà ra một cái gương to. Chúng quét xà phòng lên mặt cạo râu rồi khui đồ hộp ra ăn. Giờ nào việc ấy đúng kiểu Mỹ! Bây giờ mà chúng nó nhìn thấy mấy thằng Việt cộng trong gương thì bỏ mẹ!
Ba thằng nằm ngửa nhìn trời hít thở no nê. Con chim sâu nhảy nhót trên cành xoan:
chích chích... chích chích ...
Nó hạnh phúc quá, tự do quá, không cơ cực như con người.
Tý dúi cho mình quả lựu đạn M26, mình hỏi khẽ:
- Ném thế nào?
- Thì gỡ cái nịt thun này ra rồi ném. Ðừng để nó bật cái mỏ vịt trên tay thì đi đời cả lũ.
Mình cầm quả lựu đạn bò đi được một đoạn thì nó vướng víu quá, mình trả lại ông Tý cho xong chuyện. Mình có được huấn luyện súng đạn gì đâu.
Mình chỉ còn cái quần đùi, áo cộc tay. Y như khi bị ném xuống công viên Thống Nhất mấy năm sau. Mình theo hai ông kia cứ thế bò đi như con rệp, không mũ, không dép, qua vườn cây, qua cống rãnh, chuồng trâu, chuồng tiêu, chân tay người ngợm xước xát hết...
- Bò đi đâu thế này?
- Bò lên núi Dựng.
- Bao giờ thì đến núi?
- Không xa đâu, năm ba cây số thôi.
Di chuyển trong tầm kiểm soát của Mỹ và quân đội Cộng hòa nhưng cũng có lúc đứng lên đi được. Ðến triền núi thì chiều đã muộn. Ba thằng đều diện “đồng phục”: Quần đùi áo cộc, nhem nhuốc xác xơ và đều chẳng có gì trong bụng.
Ðến tối thì bò đến núi Dựng. Ðó là một nhánh núi đâm ra biển, rất gần địa danh “Ðập Vĩnh Trinh” khét tiếng với vụ thảm sát dưới chính quyền thời Ngô Ðình Diệm.
Ðến một cái hang, đó là cái khe đá nứt nghiêng, bên trong chỗ xâm xấp nước, chỗ khô. Chiều cao chỉ đủ để ngồi và nằm. Mới vào thấy im phăng phắc, sau đó thấy xì xào đủ giọng Nam, giọng Bắc, giọng Huế...
Khoảng 4 giờ sáng. Mình bảo:
- Anh Tý ơi, ta đi thôi. Thế nào nó cũng phát hiện được, nó phụt súng phun lửa thì chết cháy hết.
Trăng bàng bạc, sương se lạnh, xung quanh im phăng phắc, thỉnh thoảng đâu đó vọng lại những âm thanh là lạ, rờn rợn. Mấy thằng bảo nhau chuồn. Chuồn đi đâu? Có đi đâu cũng chỉ loanh quanh trong vùng mà thôi. Cả ngày lang thang trong các khu nhà vườn bỏ hoang, nhiều nhà bỏ hoang lắm. Có nhà có cây cảnh có cả cây cổ thụ, xác xơ hết cả. Và chẳng có gì ăn được. Tối đến cũng không về hang nữa, ngồi ở bờ ruộng. Muỗi như trấu, chỉ còn cách bẻ cành cây mà xua, trụi lá rồi thì bẻ cành khác, không thì muỗi nó làm thịt.
Mấy ngày như thế? Sáu ngày! Bên kia họ gọi là cuộc hành quân, bên này gọi là trận càn.
Ðến ngày thứ sáu, ba thằng đi men theo một con suối to. Ðây là vùng bán sơn địa, con suối có hai bờ dốc đứng. Mấy đứa rủ nhau xuống suối, ba thằng tô hô tắm rửa giặt giũ cho bớt ngứa ngáy. Bỗng dưng ca nông bắn tới rầm rầm đúng chỗ đang tắm, ba thằng tồng ngồng chạy chí chết.
Tưởng đơn giản, cứ chạy theo vách đất bờ suối là được, nào ngờ con suối có trong bản đồ. Ðám biệt kích ở trên cao soi ống nhòm và gọi ca nông bắn theo tọa độ. Chạy đến đâu ca nông nổ theo đến đó mà không hiểu sao ba đứa nguyên vẹn cả. Về sau chắc quá tầm quan sát hoặc ra ngoài tọa độ, chúng không bắn nữa. Giả sử ba đứa đừng chạy dọc suối mà tản ra thì chưa chắc đã bị săn đuổi...
Chạy đến đập Vĩnh Trinh. Sát ngay đó có một con đường sắt. Người ta bóc tà vẹt dựng một cái hầm chữ A. Ba đứa chui vào đấy.
Mới được dăm bảy phút, ca nông lại bắn ầm ầm. Máy bay kéo đến bắn phá, bom hất đất từ sườn núi phủ lên nóc hầm rồi bom lại thổi đất đi làm trơ nóc hầm.
Bom đạn thừa thãi, người ta phí phạm quá.
Khói bom mù mịt, trời tối đen. Lúc đó khoảng 11, 12 giờ đêm.
Ðói. Mệt. Chán nản và tuyệt vọng.
Sáu bảy ngày không ăn gì. Có gì mà ăn!
Lại mò về sát làng Xuyên Trường. Gặp du kích, họ bảo: “Biến ngay! Chúng nó đông lắm!” .
Họ bấm đèn. Ba đứa bây giờ mới nhìn thấy mặt nhau. Ðứa nào đứa ấy như Tây đen, mắt trắng, răng trắng, mặt đầy bùn đất lại bị khói bom hun cho đen kịt. Những chuyện này mấy năm sau ông Tý còn kể lại trong những bức thư.
Mình sốt ruột quá, chỉ sợ phim hỏng máy hỏng.
Tý hỏi đám du kích:
- Có gì ăn không?
- Chẳng có gì cả.
- Thế thì bây giờ đi đâu?
- Các anh quay lại, trèo qua cái núi này, đi ngược lên đến xã Xuyên Thanh.
Ðêm khuya. Sáu, bảy ngày nay bụng rỗng, chân ngâm nước xây xát, tóe máu, quần áo tả tơi ướt át... sức đâu mà đi nữa!
- Rét quá, có mảnh quần áo nào khô không?
Một cậu du kích bảo:
- Có ngay, có ngay.
Nói rồi anh ta rút dao găm phạt mấy tàu lá chuối, khoét cái lỗ ở giữa rồi trùm qua đầu mình, bẻ gập nửa trước nửa sau tàu lá, lấy dây chuối buộc ngang lưng. Choàng cho ba thằng ba cái “ba đờ xuy” rồi, anh ta hô: Biến!
Ba thằng mò mẫm trong bóng đêm mờ mờ leo qua núi đến được xã Xuyên Thanh. Tý bảo để tôi dẫn đi. Lại cống rãnh, chuồng trâu, hố xí... Rồi Tý dẫn vào nhà bà cô. Bà nhìn ba đứa như ba con ma.
- Thôi vào đi, rửa ráy rồi vào bếp mà sưởi.
Bà già đi nấu cơm. Bữa cơm ăn với mắm, ngon chưa từng có trên đời!
Chiều hôm sau trở về làng, lại còn mang theo mấy nắm cơm.
Nhà cháy, người chết, tiếng gọi nhau, tiếng khóc than. Tan hoang, tang tóc, thương đau...
Mình mò đến vườn gianh, mở nắp hầm tìm lại được phim máy, ba lô quần áo nguyên vẹn.
Chiến trường khốc liệt, người cơ cực, phim máy cũng cơ cực, bom đạn cày xới, đất vùi, nước ngập, lang thang mọi nẻo đường...