Trong mắt Quang Trung lúc bấy giờ, quốc gia chỉ có thể trường tồn, xã tắc chỉ có thể hưng thịnh khi kẻ thường dân dám nói với bề trên điều ngay thẳng và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới nói điều phải trái .
Phim “Hà Nội Trong Mắt Ai” khởi quay năm 1982 và lập tức gây ra một cơn sóng. Người đã xem thì phần lớn tán đồng và bình luận sôi nổi.
Và nó mau chóng... bị cấm!
Ðạo diễn Trần Văn Thủy điêu đứng.
☆
Vì bị cấm cho nên nhiều người ở thế hệ đó cũng chưa được xem; lớp trẻ bây giờ càng không mấy ai biết.
Nhưng bộ phim vẫn nổi tiếng và sống rất lâu, cho đến bây giờ nhiều người vẫn tìm xem. Báo chí xới lại và đăng nhiều bài phỏng vấn đạo diễn.
Sẽ rất thú vị nghe Thủy kể về bộ phim và số phận của nó.
☆
...Một thời gian sau sự vang dội của phim “Phản Bội”, tôi bị khựng lại, chẳng biết làm cái gì cho đỡ bị hẫng hụt. Ðề tài trên giao xuống vẫn là phát triển kinh tế, xây dựng hợp tác xã, giáo dục chính trị, ca ngợi lòng tin...
Tháng tháng tôi vẫn lĩnh suất lương còm và rong chơi. Chơi mãi thì cũng ngượng, cũng chán. Cả năm 1981 chẳng làm gì cho hãng phim cả. Cuối năm bình năng suất lao động, tôi thuộc diện yếu kém. Ðâu có phải lúc nào cũng có đề tài ngon! Lúc nào cũng làm được phim hay! Nó còn do cuộc đời đưa đẩy, tâm linh mách bảo.
Ðầu năm 1982, tôi quyết định gặp lãnh đạo hãng phim xin làm một phim bất kỳ cho tròn bổn phận của một người làm công ăn lương, để cuối năm có “năng suất” như mọi người.
Phim nào cũng được, đề tài nào cũng được, hay dở gì cũng được, miễn là tròn bổn phận.
“Hà Nội Trong Mắt Ai” bắt đầu như thế chứ tuyệt đối không phải như bản án chính trị là “ âm mưu của một thế lực xấu xa ”, càng không phải như lời đồn “ tác giả của nó là một người can trường, uyên bác ”...
Ông Lưu Xuân Thư, Giám đốc hãng phim, một người lô tô, tốt bụng, hiểu tâm trạng của tôi, một hôm ông đi qua phòng hành chính, chỗ tôi ngồi, tay khua khua tập giấy:
- “Hà Nội Năm Cửa Ô” đây, phim du lịch đây, ai muốn làm thì xin mời đây...!
Tôi bước ra giật lấy tập giấy trong tay ông.
Ðó là kịch bản “Hà Nội Năm Cửa Ô” của tác giả Ðào Trọng Khánh đã được hãng phim duyệt để đưa vào sản xuất. Trang đầu, ông Trương Huy trưởng phòng biên tập (là trưởng phòng giáo vụ ở trường Ðiện ảnh mới chuyển về) có ghi một số ý kiến thẩm định nội dung: “Phim quảng bá du lịch, chất liệu chủ yếu của cụ Hoàng Ðạo Thúy ... ” (Tài liệu này tôi còn lưu giữ cẩn thận).
☆
Ðọc kịch bản xong, ngó ra ngoài phố xá, cảnh người rồng rắn xếp hàng mua khẩu phần lương thực, những người cơ nhỡ lay lắt nơi công viên vỉa hè. Cảnh quan thời đó (1982) thực sự điêu tàn. Chùa chiền di tích, phố cổ, của ngon vật lạ, con người thanh lịch ... đâu còn như trong giấc mơ xưa của cụ Hoàng Ðạo Thúy để mà quảng bá du lịch. Làm một bộ phim màu dài năm sáu cuộn là một số tiền không nhỏ chỉ để chiếu chác vài lần lấy lệ rồi bỏ xó thì thật là thất nhân tâm.
Ðiều này ám ảnh tôi rất nhiều đến nỗi sau này làm thành bộ phim khác với cái tên “Hà Nội Trong Mắt Ai” như mọi người đã biết, sau đoạn nói về sự anh minh của Nguyễn Trãi: “ Chăn lạnh vắt vai đêm chẳng ngủ. Suốt đời ôm mãi nỗi lo dân ”, tôi tương vào một đoạn thô thiển như sau: “ Dân mình còn nghèo, còn thiếu, cuộc sống còn vất vả nhiều, làm một bộ phim nói chuyện cha ông tốn tới nửa triệu đồng mà không mang lại lợi ích gì thì quả là một điều phù phiếm. Thường những chuyện ấy phải tính bằng thế kỷ còn dân ta lo cuộc sống thì lại phải tính bằng ngày bằng giờ . ”
Bên bàn trà chén rượu với bạn bè tôi thường ví tôi như “một cỗ xe cũ không phanh” là thế...
☆
Nhận kịch bản thì đương nhiên phải làm, nhưng làm thế nào với “Hà Nội Năm Cửa Ô” thì tôi bí. Có thể vào tay người khác thì nhoáng cái là xong phim, là có phim. Tôi nhận tôi thua kém nhiều đồng nghiệp vì sự chậm chạp, cả nghĩ và cầu toàn. Hàng tháng trời tôi lang thang vào các đền chùa, điện Huy Văn, gọi là điện thì thật là tội nghiệp, chùa Bộc, đền Quan Thánh, nhà thờ Nguyễn Trãi, nhà thờ Chu Văn An, nhà thờ Ngô Thời Nhậm, Văn Miếu, mộ nữ sĩ Ðoàn Thị Ðiểm, dấu xưa của Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương... Cả tháng trời tôi lần mò đọc sách ở Thư viện Quốc Gia, Thư viện Hà Nội, Thư viện Khoa học; tìm gặp các nhà nghiên cứu như ông Nguyễn Vinh Phúc, ông Trần Huy Bá (ông Bá là anh em thúc bá với sử gia Trần Huy Liệu)...
Có lúc bỗng như bừng tỉnh, tôi tự hỏi, tôi đang làm gì thế này? Quên béng rằng công việc trước mắt của tôi là làm phim chứ không phải tìm đọc lan man như thế. Tất cả những gì làm nên sự tích của các bậc tiên liệt tôi sưu tầm được, học hỏi được đều ám ảnh tôi, lôi cuốn tôi. Ðêm ngày tôi sống với những chuyện ấy, bị hút hồn vào những chuyện ấy. Tôi bàng hoàng và mặc cảm, thì ra trước đây tôi chẳng hiểu gì về Hà Nội cả. Tôi thấy ngàn lần có lỗi với tiền nhân vì không ý thức được rằng cha ông ta đã dày công như thế nào, đã hoài vọng như thế nào đối với hậu thế...
Thôi thì đằng nào cũng nhận làm rồi. Cũng tiền của ấy, công sức ấy, thời gian ấy, cũng vẫn đề tài Hà Nội nhưng làm khác đi về nội dung, về hồn cốt.
“Hà Nội Năm Cửa Ô” là Hà Nội cho quảng bá du lịch.
“Hà Nội Trong Mắt Ai” là Hà Nội tư tưởng, Hà Nội cho cách thức trị nước yên dân.
Trước khi khởi quay, tôi bỏ thời gian lấy giấy bút ra làm rất kỹ cái việc “kê đơn bốc thuốc”, nghĩa là xã hội đương thời có những khuyết tật gì, bệnh hoạn gì cần điều trị, tôi ghi ra theo cách gạch đầu dòng để khi trích các tích tuồng của lịch sử trong quá vãng mà có thể khiến người ta liên tưởng, người ta giật mình, người ta ngẫm nghĩ thì tôi tương vào.
☆
Thủy tìm trong chồng tư liệu lấy ra một tập lời bình phim “Hà Nội Trong Mắt Ai” do chính Trần Văn Thủy viết và Lưu Hà chép lại, trang giấy đã ố vàng. Thủy đọc:
- Những tấm bia ở Văn Miếu còn đến bây giờ là do công lao của Lê Thánh Tông. Ông vua hiền mến chuộng văn chương đã cho dựng từ năm 1475 để ghi tên những người đỗ tiến sĩ. Nhà vua đã cho lập hội Tao đàn, đứng đầu là “Nhị Thập Bát Tú” gồm 28 nhà thơ lớn đương thời; cùng với các ngự sử xây dựng bộ luật Hồng Ðức. Trong thời trị vì của nhà vua, Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên cùng nhiều trước tác khác đã ra đời.
(Cảnh: Chùa Huy Văn)
Ðến phố Hàng Bột, tạt vào chùa Huy Văn, xưa gọi là điện Huy Văn. Ta gặp lại Lê Thánh Tông, gặp lại những chuyện kể mà người đời nay còn phải nhiều ngẫm nghĩ.
Bởi từng có thời thơ ấu gian nan, chịu nhiều oan trái hay bởi chữ Tâm mà xưa trên mảnh đất này, nơi vườn hoa Cửa Nam bây giờ, năm 1491, Lê Thánh Tông đã cho dựng đình Quảng Văn, trong đình đặt trống Ðăng Văn để ai có điều gì oan khuất, hết nơi bày tỏ, đến đây đánh lên ba hồi trống, nội quan ra nhận đơn và nhà vua sẽ xét xử.
Luận về các thời phong kiến xưa, các sử gia góp rằng “giá như thời hậu Trần hay thời Lê mạt mà đặt trống Ðăng Văn ở đây thì dân chúng quanh vùng sẽ phải đinh tai nhức óc” .
☆
Thủy buông tập giấy:
- Khốn nạn quá! Cái chữ “xưa” sau này làm mình điêu đứng. Người ta thẩm vấn: Thế thì tại sao không phải thời phong kiến mà lại là thời phong kiến xưa? Anh nói như thế là có thời phong kiến nay à? Rồi thì “Lê mạt là Lê nào?”
Tiếp lời bình trên phim:
...Vua Lê Thánh Tông ra đời không phải trong hoàng cung mà ra đời trên mảnh đất dân dã này, vào lúc mẹ ông, bà Ngô Thị Ngọc Giao đang gặp cảnh éo le, ơn nhờ Nguyễn Trãi, ra nương náu ở đây. Sau này phía trái điện còn dựng tượng vợ Lê Thánh Tông là Trường Lạc Hoàng hậu. Ðiện Huy Văn này được xây cất từ thời Lê Thái Tông. Sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông đã cho tu sửa lại để hoài niệm nơi mình ra đời.
(Cảnh đổ nát của điện Huy Văn)
Khéo thay 38 năm Lê Thánh Tông cầm quyền lại là một giai đoạn cực thịnh của đất nước. Vua hiền, tôi giỏi, tỏ rõ cái tài coi sóc trăm họ của một người công minh.
Có phải A-bu-ta-líp đã nói với chúng ta rằng:
“ Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác. ”
Thăm Gò Ðống Ða, một trong mười ba gò đống chôn vùi xác quân xâm lược Mãn Thanh. Cảnh trí này gắn liền với tên tuổi của Quang Trung vĩ đại.
Năm 18 tuổi Huệ đã cùng các anh dấy binh khởi nghĩa.
Năm 32 tuổi đập tan chúa Nguyễn ở phương Nam, tiêu diệt hai vạn quân Xiêm trên sông Rạch Gầm.
Năm 36 tuổi, diệt Trịnh phía Bắc, đánh tan tác 20 vạn quân Thanh, 4 lần tiến quân vào Gia Ðịnh, 3 lần ra Thăng Long, lần nào cũng kinh thiên động địa.
Ðâu đó như còn vang vọng lời Quang Trung hào hùng lệnh cho tướng sĩ:
“Ðánh cho nó tan tành xe pháo;
đánh cho nó mảnh giáp sạch không;
đánh cho nó biết nước Nam anh hùng có chủ...”
Ngôi chùa này - chùa Bộc nằm ngay trên chiến trường cũ của vua Quang Trung. Một tấm bia trong chùa còn ghi rằng:
“ Khoảnh dĩ binh tai chi hậu chuyển nhỡn thành không ”; nghĩa là: Sau trận hỏa công chớp mắt tan ra mây khói.
Trong chùa này chứa đựng một chân lý vĩnh hằng. Ðó là Lòng Dân.
Ngay dưới thời nhà Nguyễn chống Tây Sơn, dân chúng vẫn dựng tượng Quang Trung, tôn thờ người anh hùng áo vải mà tấm lòng bao dung quảng đại còn lớn hơn cả uy vũ vốn đã rất lẫy lừng.
Chuyện kể rằng: Hồi cuối Lê, Quang Trung Nguyễn Huệ sau khi diệt Trịnh đã đến thăm vua Lê Cảnh Hưng. Ông vua già mất quyền đã lâu, quan văn quan võ thưa thớt, nay Bắc Bình Vương đường hoàng bước lên thềm rồng, lưng đeo kiếm, mọi người xanh mắt sợ...
Chỉ có một mình Phương Ðình Pháp tiến ra, lễ phép nhưng dõng dạc nói: “ Thưa tướng quân, phép nước lên điện không được đem vũ khí, xin tướng quân cởi kiếm!” Nguyễn Huệ trừng mắt, nhưng Pháp vẫn điềm nhiên. Chợt nghĩ phải, Nguyễn Huệ thản nhiên trao kiếm cho Pháp...
(Lời bình có tiếng vọng (echo) vang lên trang nghiêm và đĩnh đạc):
Trong mắt Quang Trung lúc bấy giờ, quốc gia chỉ có thể trường tồn, xã tắc chỉ có thể hưng thịnh khi kẻ thường dân dám nói với bề trên điều ngay thẳng và người có quyền uy phải biết nghe kẻ dưới nói điều phải trái.
...Phải chăng vì thế từ năm Bính Ngọ, trong lúc mọi di chỉ Quang Trung đều bị nhà Nguyễn thù hận đốt phá tan tành nhưng dân chúng vẫn dựng tượng Quang Trung.
Dòng chữ “Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng” được tạc kín đáo ở phía sau chân tượng.
Phải chăng vì thế mà phía trên đầu Quang Trung không thờ chữ Dũng, chữ Vũ, chữ Uy, chữ Linh mà rực rỡ chỉ một chữ Tâm.
☆
Vào Bảo tàng Lịch sử đi tìm nghĩa của chữ Tâm cũng nên đến với Nguyễn Trãi. Ðất nước chỉ để lại một Nguyễn Trãi. Ông tiếng là người làng Nhị Khê nhưng sinh thành ở Hà Nội.
Sử viết rằng: Mùa xuân năm Bính Thân 1416 ở Lũng Nhai, Lam Sơn, Lê Lợi cho lập đàn cao một trượng rồi cùng Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi và các nghĩa sĩ làm lễ tế trời đất, kết nghĩa ăn thề nguyện đồng cam cộng khổ, sống chết có nhau trừ ngoại xâm cứu trăm họ.
Lúc ấy Lê Lợi chân thành nói: “ Ta là người mặc áo vải chuyên nghề cày cấy nay vì trừ bạo mà nổi binh, lòng không nghĩ đến việc xưng vương xưng bá ” .
Bia Vĩnh Lăng được dựng lên để ghi công lao to lớn của Lê Lợi, Nguyễn Trãi và nghĩa quân Lam Sơn, nhưng không thấy trên bia ghi rằng khi Lê Lợi lên ngôi bị bệnh tật ốm đau, con trưởng là Tư Tề thì ngu dốt ngông cuồng; con thứ Nguyên Long thì còn nhỏ, bởi thế đem lòng trắc ẩn, lo cho ngôi báu sau này mà nghi kị các công thần.
Cũng không thấy ghi rằng năm 1429 vì ngờ vực mà Lê Lợi đã sai giết Phạm Văn Xảo; sai 42 lực sĩ về trại Sơn Ðông nơi Trần Nguyên Hãn cáo quan ở ẩn, bắt Hãn về kinh trị tội. Dọc đường Hãn đã nhảy xuống sông tự vẫn.
Cũng không thấy ghi rằng chính Lê Lợi đã sai bắt Nguyễn Trãi, tước hết quan chức và tống ngục...
...Mười năm nằm gai nếm mật với nhau là thế.
(Trở lại hình ảnh bức tượng vua Lê cầm gươm chỉ ra phía trước)
Xưa, Lê Lợi từng nói: “ ...Ta là người mặc áo vải chuyên nghề cày cấy. Nay vì trừ bạo mà nổi binh, lòng không nghĩ đến việc xưng vương xưng bá ” .
Với vua Lê, Nguyễn Trãi vẫn:
“...Nguyện xin bệ hạ thương yêu nuôi dưỡng lấy dân chúng, khiến cho trong xóm ngoài làng không còn tiếng oán hận sầu than. Ðó chính là cái gốc của quốc nhạc vậy... Thương yêu dân chúng hãy làm những việc nhân đức. Ðừng vì ơn riêng mà thưởng bậy, chớ vì mình giận mà phạt bừa. Ðừng thích tiền của mà xa xỉ. Có thế quốc gia mới yên ổn bền vững lâu dài được.”
Thờ chữ Tâm trong lòng và ngòi bút dám viết lên trời xanh những điều trung thực, Nguyễn Trãi ghi: “ Trời không che riêng ai; đất không chở riêng ai. Mến người có nhân là dân, mà người chở thuyền lật thuyền cũng là dân. ”
Trong “Quân Trung Từ Mệnh Tập”, Nguyễn Trãi viết: “ Lẽ thành bại và sự hưng vong của một quốc gia có liên quan mật thiết tới nỗi vui buồn của người dân .”
Phải chăng Nguyễn Trãi đã kế thừa tinh thần của Trần Thủ Ðộ, vị khai quốc công thần đời Trần. Ðộ nói :“ Phàm đã làm vua trong thiên hạ phải biết lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, phải biết lấy tầm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình. ”
Phải chăng Trãi đã kế thừa lời trăng trối của Trần Hưng Ðạo với vua Trần Anh Tông. Khi Anh Tông vào hỏi kế giữ nước nếu giặc phương Bắc xâm lấn: “ Khoan sức dân làm kế sâu gốc bền, lẽ đó là thượng sách để giữ nước .”
☆
...Tô Hiến Thành là người Hạ Mỗ, Ðan Phượng, ngoại thành Hà Nội. Cuối đời bệnh nặng, có viên tham tri chính sự trong triều là Võ Tán Ðường ngày đêm chăm sóc thuốc men; còn quan gián nghị đại phu Trần Trung Tá bận việc triều chính thì ít đến.
Khi ông sắp mất, hoàng thái hậu mới hỏi ông rằng:
- Thưa tướng công, chẳng may một mai tướng công qua đời lấy ai nối nghiệp?
Không đắn đo, ông trả lời:
- Gián nghị đại phu Trần Trung Tá.
Thái hậu rất ngạc nhiên mà rằng:
- Võ Tán Ðường mới là người hết lòng phục dịch tướng công, cớ sao tướng công không tiến cử lại lại tiến cử Trần Trung Tá là người ít chăm lo đến tướng công?
Tô Hiến Thành nghĩ rất lung mà rằng:
- Xét trong triều chỉ có Trần Trung Tá là người làm được việc lớn nên tôi tiến cử; nếu thái hậu hỏi người giỏi việc hầu hạ thì tôi sẽ tiến cử Võ Tán Ðường!
(Màn hình hiện lên những pho tượng trong chùa Tây Phương)
... Những pho tượng lặng im. Các vị nói gì với hậu thế? Ðất nước tồn vinh phải chăng bởi có người tài; người tài tạo dựng nên dung mạo và sự trường tồn của chính các vị đó!
☆
Nội dung bộ phim “Hà Nội Trong Mắt Ai” là như vậy. Nhưng vừa mới ra đời nó đã bị bầm dập không tưởng tượng nổi.
Hãy nghe Trần Văn Thủy kể:
1983, 1984, 1985... tôi không còn cái gì nữa. Kể cả điều kiện làm việc cho đến “miếng cơm manh áo”, tất tật. Vợ tôi bảo tôi điên, bạn bè cũng nói vậy, nhưng khổ nhất là sự cô đơn.
Tất nhiên tôi không hề run sợ mà còn cảm thấy thanh thản, tự tin vào điều tôi nghĩ, vào việc tôi làm. Khi bị truy hỏi, tôi khẳng định với cơ quan công an và những người có trách nhiệm rằng:
- Kịch bản “Hà Nội Năm Cửa Ô” chỉ là cái cớ để tôi khởi đầu, để tôi có người cộng sự, có máy móc, có phim nhựa, nó không có liên quan gì đến hồn cốt của “Hà Nội Trong Mắt Ai” cả.
- Nội dung “Hà Nội Trong Mắt Ai”, tức là cái kịch bản đích thật để làm phim là do chính tôi viết, tôi thực hiện, tôi chịu trách nhiệm.
- Khi phim dựng xong, cái tên phim “Hà Nội Trong Mắt Ai” do tôi đặt và toàn bộ lời bình cũng do tôi viết.
Tôi không thể đổ sự phiền lụy cho ai và càng không thể bịa ra rằng ai đã xúi bẩy tôi trong công việc này.
☆
...Hàng ngày tôi tìm đến những nơi từng quay bộ phim này để suy ngẫm, thắp hương và khấn thầm: “ Thưa các bậc tiên liệt, con có tội tình gì không? Bộ phim chỉ nói về sự anh minh của các vị, lẽ nào lại bị đổ ”...
Tôi “kêu” với các vị chức sắc: “ Xin các anh chỉ bảo cho những chỗ không phải, những chỗ sai để chúng tôi sửa. ”
Ban giám đốc hãng “kính chuyển” nguyện vọng này lên những người “cầm cân nảy mực”. Họ đồng ý cho sửa bộ phim, nhưng khi hỏi “cần sửa chỗ nào” thì một vị nói gọn lỏn: “ Bộ phim này sai đến mức không thể sửa được ”!
☆
Cùng kíp làm phim có Lưu Hà, quay phim chính, con trai anh Lưu Xuân Thư. Ðây là bộ phim đầu tay của Hà ở trường Sân khấu Ðiện ảnh. Tôi xui Hà đề nghị nhà trường tổ chức chiếu phim này ở Cung Thiếu nhi với danh nghĩa “báo cáo tác phẩm”. Cung Thiếu nhi là điểm chiếu phim sang nhất Hà Nội lúc bấy giờ với hơn 500 chỗ, màn ảnh trắng, ánh sáng mạnh.
Danh sách mời, ngoài thầy trò của trường Sân khấu Ðiện ảnh, có các học giả, nhà nghiên cứu, lãnh đạo nhiều Cục, Vụ, Viện...
Ơn trời, kế hoạch được chấp thuận! Khán giả đến chật cứng các hàng ghế. Trong khi xem họ reo hò, vỗ tay tán thưởng ầm cả rạp.
Sau buổi chiếu, lãnh đạo Xí nghiệp hỏi tôi:
- Bây giờ ý cậu thế nào?
- Bộ phim này ra đời không chỉ có công sức cá nhân tôi mà còn của cả tập thể, của cả Xí nghiệp. Nếu phim hay, được khen ngợi thì là công chung, nhưng tại sao phim “có vấn đề” thì cả 100 roi các anh đánh cả vào tôi?
Họ thành thật:
- Cậu nói phải! Nhưng bây giờ sửa thế nào?
- Sửa thế nào là chuyện của các anh. Cụ Hồ dạy phải biết lắng nghe ý kiến quần chúng. Ít nhất thì các anh cũng phải chiếu cho anh chị em trong hãng, trong Cục Ðiện ảnh, Xưởng phim bạn, cho các Hội văn học, nghệ thuật để người ta góp ý...
Xem phim xong, nhiều người thốt lên: “ Sao cái phim như thế này lại bị cấm ?”. Không ai, kể cả các vị bên Viện Triết, Viện Sử, Viện Văn, Viện Hán Nôm... đều tán thành nội dung cuốn phim. Nhưng vẫn có lệnh bất thành văn từ đâu đó: “Không được chiếu bộ phim này dưới bất kỳ hình thức nào!”.
Ðó là vào giữa năm 1983.
Tôi hết hy vọng...
Bỗng một hôm, ông Nguyễn Việt Dũng, phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (Hội đồng Bộ trưởng) gọi điện đến hãng phim, yêu cầu mang phim “Hà Nội Trong Mắt Ai” lên chiếu. Lãnh đạo hãng trả lời:
- Ðã có lệnh của cấp trên là không được chiếu!
Ngày 15-10-1983, Văn phòng lại gọi xuống, vẫn bị từ chối với lý do: “ Phim đang được cắt ra để sửa ”. Nhưng từ đầu dây bên kia, ông Dũng nói:
- Chúng tôi biết phim ấy có thể chiếu được hay không. Ðây là chỉ thị của Thủ tướng Phạm Văn Ðồng!
Kế hoạch chiếu phim “Hà Nội Trong Mắt Ai” cho Thủ tướng Phạm Văn Ðồng xem được ấn định lúc 3 giờ chiều ngày 18-10-1983. Tôi đề nghị được đi cùng, giám đốc Bùi Ðình Hạc từ chối:
- Ði sao được. Vào đấy phải qua “cổng đỏ”, người ta điểm danh!
- Anh Hạc ơi! Anh cứ cho tôi đi cùng vì tôi muốn nghe bằng chính tai của tôi xem ông Ðồng nói gì.
Thế nhưng ông Hạc không đồng ý.
Gần đến giờ hẹn, tôi lẻn lên “con” Lada trắng của giám đốc, ngồi sẵn ở ghế sau, bên cạnh 5 hộp phim.
Ðến nước ấy thì ông Hạc đành chấp thuận. Tới nơi, bảo vệ từ chốt gác hỏi vọng ra:
- Xe nào đấy?
- Xe xưởng phim vào chiếu phim cho ông Ðồng xem!
Cái barie được kéo lên, vẫn cái giọng ấy vọng ra:
- Vào đi!
Tôi bảo ông Hạc:
- Ðấy, có kiểm tra giấy tờ, điểm danh gì đâu!
Tôi bê 5 hộp phim vào phòng khách.
☆
Gần 30 phút sau Thủ tướng bước vào. Ông bực mình nói ngay:
- Muốn xem một bộ phim mà khó thế à? Nếu khó quá thì tôi không phiền các đồng chí nữa.
Có ai tưởng tượng nổi không: Thủ tướng đã phải chờ ngót nửa tháng kể từ lúc yêu cầu xem bộ phim....
.......
☆
Khi hết phim, đèn bật sáng, ông Ðồng vẫn ngồi lặng lẽ, đầu hơi cúi, tay đặt lên trán. Những người có mặt trong phòng cũng im lặng, nghe rõ tiếng quạt trần quay nhè nhẹ trên đầu.
Một lát sau ông quay sang hỏi tôi:
- Những ai đã xem phim này và họ nói những gì?
Tôi nhường lời để ông Hạc trình bày cho phải phép. Ông Hạc nói:
- Thưa, các đồng chí có trách nhiệm đánh giá là đây là bộ phim có vấn đề, mượn xưa để nói nay. Bộ phim đã không cùng Ðảng giải quyết những khó khăn hiện tại mà nuối tiếc quá khứ phong kiến và gieo rắc vào quần chúng đảng viên những bi quan, hoài nghi và tiêu cực...
Ông Hạc nói thêm:
- Các đồng chí đó kết luận rằng tác giả bộ phim là một nghệ sĩ, chứ không phải là nghệ sĩ cách mạng.
- Ai nói thế?
- Thưa, các đồng chí Hoàng Tùng, Hà Xuân Trường, Văn Phác...
Nghe đến đó ông Ðồng rất bức xúc và dằn giọng:
- Ai cho phép các anh tự cho mình cái quyền là người phán xử cuối cùng?
Ông trầm ngâm hồi lâu và nói:
- Tôi không nghĩ sự thể lại quan trọng đến mức này. Ý kiến thứ nhất của tôi là: Nếu đã là anh em văn nghệ với nhau thì phải biết thương yêu, bảo vệ nhau. Các anh mà không bênh vực nhau thì còn ai bênh vực các anh? Ý kiến thứ hai của tôi, anh Dũng ghi vào biên bản để gửi sang Văn phòng Ban Bí thư: Tổ chức chiếu công khai bộ phim này cho nhân dân xem, chiếu càng rộng càng tốt, càng nhiều càng tốt.
Chiếu ngay lập tức! Nếu phát hiện ra cái gì sai thì sửa!
Trước khi chúng tôi ra về, ông còn ân cần dặn riêng tôi, nếu có chuyện gì không hay thì tìm mọi cách chủ động liên hệ với ông.
Không biết có phải vì bức xúc trước số phận của bộ phim và tình cảnh của tôi hay không mà tại buổi khai mạc Ðại hội Ðiện ảnh toàn quốc lần thứ II diễn ra tại Cung Thiếu nhi chỉ 2 ngày sau khi xem phim “Hà Nội Trong Mắt Ai”, thủ tướng Phạm Văn Ðồng đến rất sớm và đã có bài phát biểu hơn một giờ đồng hồ trước hơn 500 nghệ sĩ điện ảnh toàn quốc.
Ông nói rất kỹ, rất mạnh mẽ, rất sâu sắc, về cách thức quản lý, lãnh đạo văn nghệ: “ Ðừng bắt anh em văn nghệ sĩ phải chui qua một cái lỗ kim, theo một khuôn mẫu có sẵn ...”.
Hẳn những người có mặt tại buổi lễ còn nhớ mãi hình ảnh đầy ấn tượng khi ông hướng về phía Chủ tịch đoàn Ðại hội mà rằng: “Tôi lạy các anh! Tôi xin các anh! Khi duyệt phim thì cố gắng rộng lượng như tôi”. Cả hội trường lập tức vỡ òa bởi những tràng vỗ tay. Ai nấy đều hiểu ông muốn nói gì. Từ đó, bộ phim bắt đầu được chiếu cho một số cơ quan hội đoàn, câu lạc bộ...
Câu chuyện trên một số báo đã kể lại, trong đó nhà báo Trần Ngọc Kha viết kỹ hơn cả và đăng trên Ðời sống Pháp luật, Hà Nội mới, Vietnamnet, Vanchuongviet.org.vn.
☆
Không ai ngờ, chỉ vài ba tháng sau kể từ khi Thủ tướng Phạm Văn Ðồng can thiệp, “Hà Nội Trong Mắt Ai” lại biến khỏi màn ảnh.
Chỉ biết là không được chiếu, bị cấm. Cứ thế mà thi hành.
Chẳng ai trả lời cho có đầu có đuôi, cho ra ngọn ra ngành.
Ðối với một tác phẩm hay tác giả, lệnh cấm có thể là một biên bản hội nghị hẳn hoi được truyền đạt nội bộ, hoặc có khi chỉ là một câu nhắn nhe, một cú phôn và thường là không thời hạn...
Cũng nên kể cho đúng sự thật là, vào dịp này tôi còn được gọi lên chiếu “Hà Nội Trong Mắt Ai” cho ông Lê Ðức Thọ (ở nhà nghỉ Nghi Tàm) và ông Trường Chinh (ở Văn phòng Trung ương) xem và hỏi chuyện tôi. Những buổi gặp này có nhiều điều khó quên, nếu thuận tiện, tôi có thể kể vào một dịp khác. Ðiều cụ thể đáng nói là phim vẫn bị cấm, không được chiếu.
Rồi mấy năm sau, phim được công chiếu, được giải thưởng thì người ta mời ông Trường Chinh xem lại. Lần này thì ông vui vẻ, cởi mở và có những lời khen ngợi chúng tôi. Những lời khen đó tôi không dám nhắc lại vì quả tình chúng tôi không xứng đáng với lời khen như thế.
☆