Chuyện Nghề Của Thủy

Lượt đọc: 7728 | 8 Đánh giá: 9,8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BA

Tôi nói cho ông biết nhá, cái loại miền núi như tôi đào bảy ngày không ra một thằng đâu! Thằng này nó là người Kinh thật nhưng nó sống ở trên đó phục vụ trên đó. Nếu không có thằng Nông, thằng Lò, thằng Ma nào thì phải đào tạo nó chứ!

Ông Lương Qui Nhân, Trưởng Ty Văn hóa Lai Châu là người dân tộc Thái, hiền lành tử tế lắm. Ông còn là một nhà thơ có tiếng. Sau ông làm phó chủ tịch tỉnh Lai Châu. Khi mới lên Lai Châu nhậm chức, ông đổ bệnh, ốm yếu. Hắn chưa học nghề y tá mà phải tiêm cho ông.

Hắn và Sơn làm tất cả mọi việc khởi đầu của một ty Văn hóa như dự thảo kế hoạch xây dựng cơ quan, kế hoạch đào tạo, phương hướng hoạt động, tuyển người, cử cán bộ đi học, thành lập các phòng ban, xây dựng đoàn Văn công... Ngoài ra còn nhiều lần tổ chức các đội chiếu bóng, đoàn văn hóa lưu động đi các vùng núi xa xôi triển lãm ảnh, múa hát, chiếu phim cho bà con xem. Hắn là người tổ chức cũng là trưởng đoàn. Dần dần hắn nhận ra sự lợi hại của phim ảnh, nó có tác dụng rất mạnh so với những bài nói lê thê, giải thích dài dòng. Phim ảnh có tác động rất nhanh rất mạnh với người xem, nhất là phim khoa học.

Từ đó hắn thích phim ảnh vì nó có thể bày tỏ tâm tư suy nghĩ về một vấn đề nào đó.

Hắn đã viết một bức thư dài nhiều trang gửi một ông lãnh đạo tỉnh, xin được về xuôi học làm phim rồi lại quay về phục vụ Lai Châu. Chuyện học ở trường điện ảnh rồi đi miền Nam của hắn sau này là theo lệnh điều động, ngoài dự kiến của tỉnh và của riêng hắn.

Hắn làm cả văn thư cho nên mọi công văn giấy tờ đều qua tay. Thấy có một khóa học điện ảnh có cái tên rất ngộ là “Khóa chống Mỹ cứu nước”. Hắn nói với ông Lương Qui Nhân và xin đi học. Ông ấy bảo:

- Ừ nhỉ. Cậu đi thì hay đấy!

Ông ấy tin người thế đấy. Trong đời hắn hay gặp những người “ nhẹ dạ cả tin ” như thế. Nói vậy cho vui, thực ra phải nói họ là những người có nhân có đức. Sau này ông Trần Ðộ khi mất chức rồi còn ký quyết định cho hắn đi dự Liên hoan phim, làm việc tại Pháp và châu Âu; Khi làm “Tiếng Vĩ Cầm Ở Mỹ Lai”, Giám đốc hãng phim cấp tiền, điều người, giao máy cho hắn mang đi, trong khi kịch bản đề cương đều mới chỉ là ý tưởng loáng thoáng trong đầu ...

- Thế thì làm thế nào ạ?

- Thì công văn đây, ưu ái miền núi mà! Tôi làm quyết định nhá?

Ông Nhân ký quyết định cử đi học và các giấy tờ linh tinh khác, ký cả quyết định thôi trả lương. Ông bảo:

- Nếu xin học được thì học, không thì xé hết đi, lại quay về đây.

“Người Kinh chúng tôi không dễ tin người như thế đâu”, hắn lẩm bẩm...

Con đường cuốc bộ từ Lai Châu về Hà Nội khó khăn lắm, đặc biệt là máy bay Mỹ đã bắt đầu bắn phá. Từ Lai Châu đi Tuần Giáo, đến Tuần Giáo, hắn có việc phải vòng về Ðiện Biên, cuốc bộ mất cả tuần. Thời đó phố Ðiện Biên chỉ là con đường đất với hai dãy nhà lá. Chẳng có hàng quán gì, sáng sớm có đôi chỗ bán bánh cuốn, bán xôi cho người đi đường, nắng lên là tản đi hết để tránh máy bay. Sơn La, Mộc Châu cũng còn rất hoang sơ tăm tối.

Ðó là giữa năm 1965.

...Lưng đeo cái ba lô tồi tàn, trước ngực đeo cái túi vải - cái túi của họa sĩ Ðặng Trần Sơn vốn dùng để đựng đồ vẽ - bên trong lót lá chuối, đựng bánh cuốn, hắn vừa đi vừa bốc ăn, bước thấp bước cao, thập thững trên đường núi Tây Bắc, ngày đi, đêm vào bản ngủ nhờ...

Ðó là những bước chân ban đầu trên con đường “tìm đến điện ảnh” của đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân Trần Văn Thủy – nói theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

...Ðến Thuận Châu vớ được cái xe đi nhờ, mấy ngày sau về tới Hà Nội. Ðến phố Cao Bá Quát, có trụ sở Ðiện ảnh.

Chiêu sinh ở đó.

Hắn trình bày và đưa giấy tờ ra.

Ðược câu trả lời:

- Thi cách đây 2 tuần rồi còn gì nữa!

Thế là xong!

Phải xé hết giấy tờ quay về Lai Châu tiếp tục cày thôi.

Nhưng rồi hắn nghĩ, chắc ở Hà Nội vẫn có cái ngóc ngách nào đó chăng, còn nước còn tát.

Chẳng quen biết ai, người thì đen đúa cóc cáy... Cứ liều đi gõ cửa mấy nơi, các ông ấy đều nói: “ Biết vậy, nhưng phải thi cử chứ!

Một tuần lang thang.

Một hôm hắn đến Cục Ðiện ảnh ở đường Hoàng Hoa Thám xem có nhân vật nào đó để thưa gửi, nhờ vả.

Thấy một ông đeo kính trắng từ trên dốc ục ịch đi xuống, khó đoán loại người thế nào.

- Anh ơi anh, em ở miền núi về có việc này anh giúp em có được không?

- Cậu là thế nào?

Hắn trình bày xong rồi nói:

- Anh cho phép em hỏi: Anh có chức gì ở đây không? Anh tên là gì ạ?

- Tao chả có chức quyền gì cả. Tao là Nông Ích Ðạt! Tao là người miền núi, tao thấy mày tội nghiệp, mày láng cháng ở đây mấy ngày nay, chắc khổ lắm hả?

Ông cầm tay hắn, bảo:

- Ði theo tao.

Lên gác, đến trước mặt một ông, sau này mới biết là ông Trần Ðức Hinh, Cục phó Cục Ðiện ảnh kiêm Hiệu trưởng trường Ðiện ảnh phụ trách cái khóa học đang mở.

- Ông Hinh, cái thằng này nó ở Tây Bắc về đây này. Nó ôm cả hồ sơ giấy tờ trên kia gửi về. Ðường sá xa xôi, bom đạn như thế, nó về muộn, bây giờ mới có mặt, không xem xét ưu ái cho nó không được đâu. Tôi nói cho ông biết nhá, cái loại miền núi như tôi đào bảy ngày không ra một thằng đâu! Thằng này nó là người Kinh thật nhưng nó sống ở trên đó phục vụ trên đó. Nếu không có thằng Nông, thằng Lò, thằng Ma nào thì phải đào tạo nó chứ! Giấy tờ hồ sơ làm rồi, cắt lương rồi, để nó đứng đường à! Mấy ngày nay nó vật vờ ở đây rồi...

Ông Hinh bảo:

- Ðược, để tôi xem thế nào.

May thế, trời xui đất khiến thế nào gặp được ông Nông Ích Ðạt, nếu không thì chả có ngày hôm nay mà ngồi đây nói chuyện con cà con kê... Tất cả chúng nó mặt lạnh như kem, khinh người miền núi như rác.

Sau này do chán đời, cùng quẫn về tinh thần, hai vợ chồng đạo diễn Nông Ích Ðạt đều uống thuốc ngủ tự tử. Tự tử mà không chết! Người ta cứu được. Nhưng rồi ông bà cũng chẳng sống thêm được bao lâu. Ai cũng thương xót con người hồn nhiên tốt bụng như vậy...

Trong thâm tâm, hắn nghĩ, học xong lại về miền núi thôi chứ làm sao dám chơi trèo với các anh chị dưới xuôi. Hắn biết thân biết phận của mình. Hắn tự ti, mặc cảm lắm.

Ông Hinh viết mảnh giấy thế này:

Gửi anh Trương Huy,

Anh xem xét kỹ trường hợp này. Theo ý kiến của anh Nông Ích Ðạt thì nên cân nhắc vì trường hợp này ở miền núi về.”

Ông Huy là trưởng phòng giáo vụ.

Ông Hinh bảo hắn đến 33 Hoàng Hoa Thám, trường Ðiện ảnh ở đó.

Mấy cái nhà lá, bãi đất rộng mênh mông...

...Ôi cái tên Hoàng Hoa Thám, tên một con người kiên cường, xả thân vì tự do vì đất nước. Anh chàng “người Lai Châu gốc Nam Ðịnh” Trần Văn Thủy, “chẳng Lò, chẳng Nông, cũng chẳng Ma” giờ đây đang thất thểu trên con đường này, bụng đói, mắt hoa, trước mặt là tương lai vô định có tưởng tượng nổi rằng gần hai chục năm sau (1982), cũng nơi đây, anh Phạm Hà sửng sốt, phanh xe nhảy xuống dắt bộ: “Ô Thủy! Cậu chưa bị bắt à?” Ấy là nói cái “vụ án Hà Nội Trong Mắt Ai” ầm ĩ một thời! Vụ này còn chưa kịp lắng xuống thì lại cũng trên con đường này, năm 1988,“Chuyện Tử Tế” cất cánh “bay” sang Leipzig một cách đầy bí hiểm.

Chợt nghĩ, bây giờ trong phòng khách nhà Thủy, lại cũng trên đường Hoàng Hoa Thám, hình như còn thiếu bức chân dung Ðề Thám, con Hùm Xám Yên Thế, con người vĩ đại mà tên tuổi gắn với gia đình một cách đầy “tính xi-nê-ma” như thế. Và biết đâu từ cảm hứng của một nghệ sĩ, tuy đã ở bên kia sườn dốc, cuốn phim “Ðề Thám” sẽ ra mắt người xem, sau cuốn tiểu thuyết “Người Trăm Năm Cũ” viết về Hoàng Hoa Thám của người bạn chí thân Hoàng Khởi Phong?

...Hắn gặp ông Trương Huy, người bệ vệ, ăn to nói lớn (cuối đời ông bị đột quị, nhỏ bé một cách lạ lùng, khách đến thăm, ông ngồi co ro ôm khư khư mấy hộp quà, tội lắm).

Cuối cùng Thủy được nhà trường thu nhận với một điều dặn dò: “Vì cậu không qua thi cử cho nên nhà trường không biết năng lực thế nào. Cứ học thử, nếu học tốt thì được; nếu không được, không phù hợp thì trả cậu về Ty Văn hóa Lai Châu.”

Ở hoàn cảnh như thế thì phải hiền lành ngoan ngoãn chịu khó mà học chứ sao.

Lớp này khai mạc tháng 8/1965, sẽ bế giảng tháng 8/1967. Học được một nửa thời gian thì có lệnh cực kỳ khẩn cấp của Ban Tổ chức Trung ương và của Ban Thống Nhất là phải điều động ngay lập tức 6 phóng viên quay phim vào chiến trường miền Nam.

Khóa học lúc bấy giờ có 120 học viên chia làm 4 lớp: Chủ nhiệm, Biên kịch, Quay phim, Ðạo diễn.

Hắn ở lớp Quay phim, học ở nơi sơ tán, ngày nghỉ các bạn về Hà Nội cả, hắn ở lại trường cặm cụi học bài.

Năm đầu toàn học lý thuyết, học chay. Có đúng hai lần được sờ vào máy quay phim, chiếc máy Admiral 16 ly, cổ lỗ, của Tiệp Khắc. Chưa lần nào được quay một trường đoạn mà chỉ được bấm hai lần. Một lần là thử ống kính tele, chụp cùng một nhân vật, đặt chế độ tele, chế độ normal, chế độ grand-angle (góc mở lớn), xem ảnh cắt đến cỡ nào. Một lần nữa là thử độ nhạy của phim, 21, 18, 17 dyn với ánh sáng mạnh yếu khác nhau. Ống kính mở ra, bấm ba cái, đủ sáng, thừa sáng và thiếu sáng, in ra xem hiệu quả thế nào...

Trình độ như vậy, xin một chân phụ quay ở các xưởng phim ngoài Bắc lúc đó cũng không đâu nhận.

Nhưng phải nói rằng khóa học đó sau này có nhiều người thành đạt, kể ra không xuể, đóng góp phần không nhỏ cho thành tựu ngành Ðiện ảnh Việt Nam. Bây giờ hàng năm các đồng môn năm xưa gặp lại nhau, vẫn thân thiết ôn lại thời sơ tán, chuyện các thầy, các bạn...

Một hôm, vào giữa năm 1966, ông Nguyễn Ðức, Bí thư đảng ủy gọi hắn lên. Ông bảo:

- Ban giám hiệu và anh em đánh giá cậu học tập tiến bộ, thái độ nghiêm túc...

Ông có nêu việc cấp trên cần người đi công tác ngay, vào chiến trường miền Nam, chưa biết là khu 5 hay Nam bộ hay Quảng Trị. Ông hỏi:

- Thủy thấy thế nào, có bằng lòng, có cảm thấy vinh dự không?

Hắn nói:

- Cảm ơn anh đã lưu tâm và gọi tôi lên nói chuyện. Tôi đã ở Tây Bắc 5 năm, đã quen gian khổ cho nên không ngại đi chiến trường. Nhưng tôi có nguyện vọng được học xong. Khi đó các anh bảo tôi đi đâu cũng được. Một điều nữa là khi Lai Châu cử tôi đi học họ hy vọng tôi trở về đấy để phục vụ.

Cấp trên hỏi tôi có thấy vinh dự không; tôi xin thưa, tôi không thấy vinh dự và đối với tôi, 5, 6 năm lam lũ vất vả ở Tây Bắc đã là đỉnh điểm vinh dự rồi. Còn bây giờ cấp trên điều tôi đi thì là chuyện khác. Tôi sẽ chấp hành dù tôi có nguyện vọng được học xong.

Ông Ðức nói:

- Theo qui định tất cả đều phải là đảng viên. Các anh khác như anh Hiến, anh Sửu đã là đảng viên cả ; anh Tâm, anh Trường là người miền Nam thì không nói. Riêng cậu chưa phải đảng viên. Tổ chức sẽ xem xét. Cậu biểu hiện tốt, chuyện kết nạp chỉ là thủ tục.

- Nếu các anh đã dự định như thế thì tôi không thể nói điều gì xung quanh vấn đề này cả.

Chuyện “ưu ái” này làm hắn chột dạ và mất ngủ nhiều đêm. Hắn thầm nghĩ, khó có thể được kết nạp vì lý lịch “không ra gì”. Chuyện đảng viên hay không đảng viên không quan trọng. Ðiều đáng ngại là, đẻ ra cái việc về địa phương điều tra lại lòi ra cái lý lịch “ không ra gì ” thì không được học tiếp nữa, có nghĩa là ngay việc học trường Ðiện ảnh cũng hỏng luôn.

Hắn nói thật lòng với ông Nguyễn Ðức, đại ý: Cho tôi học xong, còn đi đâu tôi không ngại. Lý lịch của tôi không đơn giản.

Ông ấy bảo, chuyện ấy tổ chức sẽ lo.

Người cầm hồ sơ của hắn về địa phương điều tra lý lịch là ông Võ Hoàng Khả, bí thư chi bộ, người miền Nam, học viên do bên quân đội cử sang, tính tình rất dễ chịu.

Mãi sau này khi hắn ở chiến trường sống sót trở ra ông Khả mới kể chuyện gặp ông già hắn ở Thượng Trại Hải Hậu (đó là nơi gia đình hắn sơ tán, còn nhà hắn ở thành phố). Nghe chuyện tìm hiểu lý lịch, ông già hắn lắc đầu ngao ngán lắm.

Ông Khả kể: Vừa nghe nói thẩm tra, địa phương đã gạt phắt đi: “ Gia đình này không được! ”. Ông Khả nói, yêu cầu của cấp trên là những người đi chiến trường phải là đảng viên vì đó là chiến trường ác liệt, nhất là quay phim, không mấy người nguyên lành hay sống sót trở về.

Ông Khả về trường báo cáo thế nào không biết, rồi họ dự kiến kết nạp.

Chuyện kết nạp đảng của hắn diễn ra rất nhanh gọn, chỉ có điều hoàn cảnh gấp gáp quá, hắn phải tập trung lên Hòa Bình để đi B, không kịp làm thủ tục kết nạp ở trường Ðiện ảnh. Thời gian ở Hòa Bình trong lúc sửa soạn lên ô tô vào Quảng Bình, người ta mới đọc quyết định kết nạp.

Cho đến bây giờ - cuối năm 2012, nhà hắn cả chục anh chị em trai gái dâu rể, có người mấy chục năm làm việc trong các cơ quan nhà nước, tuyệt nhiên không có ai là đảng viên cả.

Em gái hắn thi vào hai trường, trường nhạc Hà Nội và trường nhạc Quân đội; hai lần thi đều đỗ điểm cao nhưng vì lí lịch, không được gọi vào học.

Kể đến đây, hắn bỗng nhớ lại một chuyện chẳng vui vẻ gì...

Hồi năm 2000, khi ấy hắn đã tròn sáu mươi, có Ðại hội Hội Nhà báo ở nhà khách Hùng Vương - cánh làm phim tài liệu, được người ta cấp cho cái thẻ nhà báo cho nên hắn đến dự. Lâu rồi chẳng nhớ nội dung cuộc họp, chỉ biết gặp nhau bô lô ba la rồi bia bọt... Họp hai, ba ngày, hôm đó là buổi gặp cuối cùng để liên hoan sau mấy ngày đại hội.

Từ đường Hoàng Hoa Thám (lại Hoàng Hoa Thám) rẽ xuống Ngọc Hà, đến lưng chừng dốc thấy người xe ùn tắc, kẹt cứng hết cả lại. Hắn cũng dừng xe. Thấy một cậu người cao lớn, dựng chân chống chiếc xe mô tô lên, hằm hằm đi đến chiếc taxi đang đỗ quay ngang giữa đường. Tên côn đồ giật cửa rồi lôi cậu lái xe ra đấm túi bụi vào mặt vào mũi. Cậu lái xe trông hiền lành kiểu như ở nhà quê ra Hà Nội kiếm việc. Người đông như thế mà chẳng có ai nói năng gì. Thủy mới hô lên:

- Này các anh ơi, có chuyện gì phải trái thì có công an có pháp luật chứ tại sao lại đánh người như thế này!

Nói thật, khi nó đấm cậu kia Thủy có cảm giác như nó đấm vào mặt con mình. Ai cũng biết bây giờ mà can thiệp vào chuyện giữa đường giữa chợ thì dễ mang vạ vào thân lắm nhưng thấy nó dã man quá, không thể kiềm chế được, Thủy hét lên:

- Dừng lại ngay! Không thể đánh người như thế được. Tôi là nhà báo đây!

Tên côn đồ buông người lái xe ra, quay ngoắt lại xông tới nắm cổ áo Thủy, xốc lên và dằn giọng:

- Ð. mẹ thằng cộng sản già!

Hắn choáng hết cả người. Mấy bà xung quanh bảo: “ Bác ơi bác đi đi, bác đi đi ...”

Biết làm thế nào! Ðây không phải là chỗ nói phải trái. Nói thêm gì nữa!

Hắn đành nuốt cục hận vào trong bụng rồi tìm cách thoát đi.

Trên đường đến nhà khách Hùng Vương ở ngay gần đó, hắn đi như người mộng du.

Tại sao nó biết mình là thằng cộng sản nhỉ? À! Là nhà báo ắt phải là đảng viên, là cộng sản. Mà tại sao nó lại chửi mình nặng lời thế nhỉ? Nếu ngày đó mình không phải đi B, không trở thành đảng viên thì nó chửi thế có là hồ đồ vô lối không nhỉ?

Mà đảng viên thì cũng có năm bảy đường. Người ta còn buôn chuyện: “...anh ta tuy là đảng viên nhưng mà là người tốt đó thôi!

Ðến nơi, ngay tầng một, đèn đóm sáng trưng, đồ ăn thức uống bày la liệt, khách khứa ồn ào, nói cười ầm ĩ. Hắn gửi xe rồi thẫn thờ bước lên bậc thềm. Người hắn gặp đầu tiên là ông Dụ, Khổng Minh Dụ, người phụ trách A25 của Bộ Công an, cơ quan quản lý an ninh văn hóa. Do chức trách được giao, ông Dụ có quan hệ rộng với các anh em văn nghệ sĩ. Ðối với hắn, ông ấy không thân cũng không sơ, có thể nói chuyện với nhau được. Hắn vẫn còn giữ bài thơ ông ấy làm tặng mấy năm sau đó.

Cách đây nửa năm bài thơ được đăng lại trên tờ báo nào đó, gặp các bạn già ở câu lạc bộ, các cụ còn đưa bài thơ ra chọc: “ Người ta cứ bảo ông bị công an trù dập, thế mà thiếu tướng công an Khổng Minh Dụ làm thơ ca ngợi ông đây này ”...

Thấy hắn đến, ông Khổng Minh Dụ hỏi:

- Ông làm sao mà như người mất hồn thế?

Hắn không nói năng gì cả. Bao nhiêu là người mà ông để ý đến hắn vì chắc thấy thần thái lạ quá.

Ông Dụ kéo hắn ra xa và hai người ngồi xuống hàng ghế sát tường. Ông mang đến cốc rượu vang bảo:

- Uống đi, có gì mà buồn thế?

Hắn không biết giữ kín tâm tư để không thể hiện ra thái độ bên ngoài, nhưng lại không muốn kể ra. Kể để làm gì? Mà kể cho một người như Khổng Minh Dụ thì không biết ông ấy nghĩ thế nào!

Nhưng ông ấy rất chân thành:

- Thôi có chuyện gì bỏ qua đi, ngồi với anh em cứ vui vẻ. Uống đi!

Hắn mới bảo:

- Tôi vừa gặp chuyện rất bực mình.

- Thế thì kể đi xem nào.

- Tôi chẳng biết chuyện này có lọt tai ông không, nhưng thôi, tôi cứ kể.

Hắn kể lại câu chuyện như nó đã xảy ra. Khổng Minh Dụ ưu tư và tỏ ra thông cảm. Ðiều này làm cho hắn thấy mến và gần gũi ông hơn.

Ông Dụ nói:

- Ðể chia sẻ với ông, tôi kể cho ông nghe một chuyện để thấy điều ông vừa gặp phải cũng thường thôi. Hôm ấy tôi và một số cán bộ cao cấp của Bộ Công an đi Hải Phòng. Trời đã gần tối, mưa tầm tã, đường tắc, xe ùn đống lại, còi inh ỏi. Có một ông nông dân vai vác bừa tay dắt trâu luồn lách thế nào đó đến đầu xe của chúng tôi, đập đánh rầm một cái vào nắp capô xe rồi réo tên Ðỗ Mười ra mà chửi... (ông Ðỗ Mười lúc đó là Tổng bí thư).

Ông ta chửi rất tục.

Câu chửi tục tằn lắm, người viết không thể kể ra đây được.

Mấy ông lãnh đạo công an đành ngồi chịu trận chứ biết làm sao! Quát nạt, bắt bớ người ta à?

Trầm ngâm hồi lâu, ông Dụ nói:

- Thế mà phải im đấy ông Thủy ạ!

Câu chuyện của ông Dụ làm hắn nguôi ngoai phần nào. Nhưng năm đó, cũng là năm cuối cùng hắn sinh hoạt đảng. Hắn làm việc trong biên chế nhà nước, sáu mươi tuổi thì hưu, nhưng hắn chỉ thôi việc với cơ quan nhà nước thôi, không hề “hưu” mà vẫn phải làm việc cật lực: Làm phim ba bốn tâp, viết sách, tham dự những hoạt động nghề nghiệp, Liên hoan phim, hội thảo liên miên trong và ngoài nước, rồi những việc hiếu nghĩa...cho đến bây giờ chưa ngưng nghỉ. Hắn cũng muốn “hưu” lắm nhưng chưa được, chỉ được cái thanh thản là bây giờ ra đường, nếu có gì sơ suất bọn trẻ có réo “ thằng cộng sản già ” ra mà chửi thì chúng chửi ai đó chứ không phải hắn.

« Lùi
Tiến »