Lan, anh chưa có án nhưng Lương bạn anh thì đã có án em ạ. Án tử hình. Em nghe những tiếng ấy có thấy gì không em? Tính mạng của một người được định đoạt trong ba tiếng ghê rợn ấy. Em thấy đó, làm sao không thiết tha với sự sống cho được.
Từ ngày anh vào đây, gặp Lương, Lương và anh cùng ở với nhau một căn lều, Lương có vợ và hai con hiện ở trong thành phố Huế em ạ. Bây giờ thì anh ấy không còn ở chung với anh nữa, người ta giam riêng người có án tử hình qua một khu khác. Tuy nhiên Lương vẫn còn một tia hy vọng, con vật nào mà lại không hy vọng hở em? Ấy là sáng nay khi nghe tuyên đọc cái án tử hình, sau đó người ta cho Lương ký vào lá đơn xin Chủ tịch ân xá. Lúc đó anh nhìn thấy một tia sáng bừng lên trên khuôn mặt đã tắt hết sinh khí của Lương; khi người ta áp giải Lương đi qua khu đặc biệt, Lương còn ngoái lại nhìn anh, anh còn thấy tia sáng ấy rỡ ràng trong đáy mắt Lương, em ơi, tia sáng ấy nói với anh nhiều hơn tất cả những lời than van rên siết trong cuộc đời này. Nó làm tim anh nhói buốt như muốn ngừng đập.
Anh chưa nói với em về Lương nhỉ, anh sắp nói đây, để em có thể biết vì sao chút tia sáng nhỏ nhoi trong mắt người bạn có án tử hình đã làm cho anh nhức buốt đau đớn hơn tất cả những lần anh bị tra tấn đánh đập.
Anh không nhớ rõ đã quen Lương từ hồi nào, có lẽ vì vẻ hiền lành mơ mộng của Lương đã làm cho sự có mặt của anh ấy trở nên mờ nhạt đối với mọi người chung quanh. Từ khi ra kháng chiến, anh thường đi công tác qua lại vùng Lương ở nên thỉnh thoảng anh thường tạt lại thăm Lương.
Trong thời kỳ này anh có dịp gần gũi Lương hơn và cũng lạ lùng về Lương nhiều hơn. Anh không hiểu nổi tại sao lại có thể có người mang một tấm lòng tin yêu cuộc đời một cách tuyệt đối và hồn nhiên đến như vậy. Thật thế, mặc những gập ghềnh bất ổn mà Lương luôn nhìn thấy một cách sáng suốt, Lương vẫn tiếp tục yêu thương cuộc đời và tin tưởng tương lai một cách vô điều kiện, không hề trả giá bao giờ. Là một loại người trí thức hoàn toàn thiên về văn học, triết lý và những mộng mị tương tư, Lương không có một ý thức nào về chính trị, nhưng khi cuộc kháng chiến trên quê hương ta bắt đầu, Lương cho rằng bổn phận của mình là phải có mặt. Thế là anh ấy ở lại quê làng tình nguyện tham gia kháng chiến. Người ta giao cho anh ấy dạy bình dân học vụ và trông coi trường tiểu học, anh chấp nhận công việc một cách vui vẻ, tận tụy với trách nhiệm của mình như vốn anh ấy sinh ra để làm một hương sư vậy.
Mặc dù thế người ta cũng không thể dung cho Lương yên ổn trong phận sự đó, bởi vì Lương là thành phần địa chủ phú hào, đã thế Lương lại mắc thêm cái tội thương nhớ vợ con, ưa đi lang thang mơ mộng đầu ghềnh cuối bãi, vì thế cho nên Lương đã bị bắt. Lan đừng hỏi anh tại sao, tại sao người ta lại có thể bị bắt bớ giam cầm vì những tội không phải là tội như vậy.
Anh không thể giải thích cho em hiểu được đâu, em quá đẹp, quá thần tiên để có thể hiểu nổi những điều như vậy. Để anh kể tiếp, dù sao cũng phải có một cớ hợp lý để bắt người chứ, vậy thì người ta cho Lương một cái tội, tội làm Việt gian, ghê không em, Việt gian, quá nặng nề em ạ, cái tội ấy thật quá ê chề nhục nhã. Anh những tưởng Lương đau đớn vô cùng vì cái danh từ Việt gian ấy, nhưng lạ lùng thay, khi gặp Lương ở đây, anh ngạc nhiên nhìn thấy vẻ mặt Lương yên hàn vô sự một cách vô lý. Khi nói đến nỗi oan ức của Lương, Lương chỉ nói thật giản dị:
– À, chẳng qua họ lầm, người ta ai chả có lúc lầm lẫn, mọi việc rồi sẽ sáng tỏ chứ. Dù sao tôi cũng mong mọi việc điều tra chóng xong để trở về trước ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám để tổ chức lễ kỷ niệm cho học trò của tôi kẻo tôi vắng mặt cũng khá lâu rồi, công việc ở trường chả biết ra sao.
Lan ơi, còn có niềm tin yêu nào trong cuộc đời này thiết tha hơn câu nói của người bạn đáng thương của anh nữa không? Đất nước ơi, còn những đứa con chân tình như thế sao đến nỗi đọa đày? Anh không nói thêm với Lương về việc đó nữa, anh nghĩ nếu Lương đã tin tưởng như thế, những ngày tháng tù đày gian lao ở đây cũng bớt khắc nghiệt đi nhiều.
Lan ơi, Lương đã nằm xuống vĩnh viễn rồi Lan ạ. Anh đã nghĩ phải cố gắng lắm mới nghĩ được rằng Lương đã chết, và nghĩ như thế rồi, anh cảm thấy một ý niệm thờ ơ khôn tả đối với mọi thứ còn sót lại trên đời này. Thoạt tiên anh muốn thét lên, nhưng tiếng kêu thất thanh của anh tan loãng mất hút vào cõi hư vô, xác bạn bây giờ đã nằm yên trong lòng đất. Có còn gì đáng gào lên nữa đâu. Anh nhớ lại hình như lâu lắm rồi, những chuyện đã xảy ra, như trong cơn mộng dữ nào từ tiền kiếp.
Trời tháng bảy ở đây thấy rõ hơi thu hơn bất cứ nơi nào khác, sáng ra thấy lòng suối sâu hơn, sương lạnh bốc lên từ đó dày hơn, nắng quái buổi chiều nhuộm vàng cây lá sẫm màu hơn, bất chợt có lúc một luồng ớn lạnh chạy suốt qua tâm hồn giá buốt của anh. Hôm qua Lương đi rồi, anh ngủ trong căn lều của anh có một mình, con trai như anh mà đêm đầu tiên không có Lương, anh nhìn chỗ nằm của Lương bên cạnh anh, cứ nghĩ như có một thây ma đang nằm đó, anh không ngớt lập đi lập lại trong trí rằng Lương không chết, Lương sẽ không bao giờ chết, Lương sẽ được ân xá. Làm sao một người có thể cam tâm chết được khi có một người vợ và hai đứa con ngây thơ vô tội đang chờ. Thế nhưng cái chết cứ ám ảnh anh làm cả người anh căng thẳng, có lúc rã rời, nhức nhối. Quá nửa đêm anh thấy trong người gây gây sốt, tâm trí chập chờn nửa tỉnh nửa mê. Anh nghe như có tiếng người lao xao, tiếng chân người chạy rầm rập, như có nhiều bóng đuốc lướt ngang qua lều anh, cơn mê nhận chìm anh xuống, người anh nặng như chì, không cử động nổi. Mắt anh có lúc lóa lên, có lúc tối sầm hẳn lại, không thể nào mở mắt ra được nữa, cuối cùng anh nghe những tiếng súng nổ mơ hồ như vang vọng từ nơi nào xa xôi lắm, như từ một kiếp khác. Anh thiếp đi không biết bao nhiêu lâu, cho đến khi nghe tiếng người giữ tù mở khóa cửa lều nghe loảng xoảng, anh vụt thức dậy, người anh mệt lả, miệng nhạt thếch, cơn sốt còn váng vất. Người coi tù càu nhàu:
– Dậy đi, nhanh lên cho, ngủ kỹ thế ông, dậy đi, lo đi chôn xác tù vượt ngục hồi hôm chứ.
Anh chợt thấy người tỉnh hẳn, nhẹ tênh, anh nhỏm dậy thật nhanh, lòng thầm mong linh tính mình bị lầm lạc, trong khi tim anh thắt lại, đập thình thịch từng hồi chuông báo nguy: “Tù vượt ngục? Ai, ai thế?”
– Còn ai vào đấy nữa, thằng Lương vẫn ở đây với anh đấy thôi. Anh làm bộ không biết gì à, cả đêm nó báo hại chúng tôi phải vất vả, cả trại báo động xôn xao cả lên, bộ đội đuổi theo chặn đúng phóc con đường lòng chảo dọc suối đi về phía bắc. Đ.M. thằng nào vượt ngục cũng mưu toan chạy về phía đó, giặc nó chờ sẵn, nó đón rước mà. Hừm, cứ tưởng bở, cho chết, đáng kiếp cái thứ đồ Việt gian.
Anh đứng lên, loạng choạng suýt ngã, anh lảo đảo bước ra ngoài, qua mặt người coi ngục, bỏ hắn lại đó với câu chửi thề treo trên đôi môi xám xịt.
Trời chưa sáng, bóng tối còn vương vất trên những bụi cây đám cỏ, anh nhìn thấy một đám tù nhân tập hợp ở cuối sân trại, dưới ánh đuốc lập lòa. Anh đi về phía đó, có tiếng người nói oang oang:
– Đáng lẽ chúng tôi quăng xác nó xuống lòng khe cho quạ mổ diều tha cho rồi, nhưng thượng cấp ra lệnh mang nó về cho các anh trông thấy đó làm gương. Đấy, chống con mắt lên mà nhìn, đừng anh nào làm chúng tôi nhọc xác nữa đấy nhé, khôn hồn cho nó, để bắn chết chứ bắt sống về thì có mà nhừ đòn. Rừng Tây Hạ này đừng có hòng mà trốn, trại cải hối này còn kiên cố hơn tường đá cửa sắt nữa kia, có ngu thì mới tưởng bở là trốn được.
Anh tiến đến gần giọng nói và ánh đuốc, Lương nằm dài trên đất, một manh chiếu rách đắp sơ sài trên thi thể. Anh đứng lặng, người anh trống rỗng, vô hồn, không còn cảm giác gì nữa. Một người bạn tù biết chúng anh là bạn thân, có nhã ý cúi xuống lật manh chiếu ra đưa cao bó đuốc soi sáng mặt Lương. Anh cúi xuống, ánh lửa bập bùng trên khuôn mặt người chết gây một cảm giác sống động. Đột nhiên anh đọc thấy trên khuôn mặt đó những chuỗi ngày bình yên thơ mộng xa xưa, từ đứa bé tươi hồng thả một cánh diều dài suốt một dải chiều quê mênh mông thoáng gió đến gã thư sinh say ngủ trong khoang thuyền đầy trăng lồng lộng tiếng hò mái nhì vời vợi qua phá Tam Giang không bờ không bến. Bây giờ là đây, cái thân xác cứng đờ im lìm nơi đất tù hoang dã, anh quỳ bên Lương, nắm chặt bàn tay cứng lạnh, hơi lạnh này lạ nhỉ, thuở nhỏ anh nghe người ta nói cái lạnh của người chết không giống một hơi lạnh nào khác, có lẽ là như thế này đây. Bây giờ còn chi mà nghĩ nữa, Lan ơi, hãy đưa bàn tay của em cho anh nắm, một bàn tay ấm áp, mềm mại, một bàn tay sống.
Ôi, sự sống, phải nắm một bàn tay đã chết rồi mới biết được, đó là bàn tay của một kẻ lạ, không thể là bàn tay của người đã từng trò chuyện thân thiết, yêu thương trong cõi đời. Anh ngẩng lên nhìn quanh, họ đều đứng đó, những kẻ coi anh là thù, cũng như những người coi anh là bạn, họ đang còn những bàn tay ấm áp, những bàn tay thuận tiện cho cái siết chặt tay gắn bó, họ không là kẻ lạ, có lẽ lần lượt, một ngày nào đó, sẽ đến phiên từng người, nhưng bây giờ thì họ vẫn còn ở đó.
Lan ơi, hòn đất cuối cùng vừa lấp kín thi hài bạn anh thì ánh mặt trời vừa ló dạng, ánh vàng rực rỡ dát lên từng đám cây rừng, từng phiến đá xanh. Mặt trời soi sáng những khuôn mặt võ vàng vì sợ hãi, vì thiếu ăn thiếu ngủ, vì lao nhọc của những người tù đi chôn xác chết, trong đó có anh. Anh nhìn nắm đất đỏ dậy vừa được vun lên, ngu ngơ thầm nghĩ: “Lẽ ra ánh mặt trời này còn chiếu sáng khuôn mặt của Lương, dù chỉ một ngày, dù chỉ một ngày nữa thôi.”