Con Rồng An Nam

Lượt đọc: 59062 | 30 Đánh giá: 9,6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đông và Tây

Lúc ấy, người lính gác chòi, thắp ngọn đèn manchon trước khi về chòi của đồng bạn, ở bên cạnh. Nơi đây, họ đã cắt nhau gác đêm, để cầm canh, tôi đã thường mang theo sách để đọc. Thời gian này, tôi đọc rất nhiều, đủ loại sách tiểu thuyết, luận đàm triết học, du ký… toàn là sách tiếng Pháp.

Trong thời gian theo học ở Pháp, không phải tôi chỉ chú ý đến tư tưởng Tây phương, mà tôi vẫn thắc mắc về điểm dị biệt giữa nền học vấn Tây phương với nền học vấn Đông phương tôi từng thụ giáo trong thời thơ ấu. Sự dị biệt đó phải chăng là nguyên nhân của dư luận Âu châu đối với dân tộc Việt Nam? Phải chăng đó chính là nguyên nhân của mặc cảm tự tôn của họ đối với chúng tôi?

Trước khi chết ít lâu vào năm 1925, Bác sĩ Tôn Dật Tiên, cầm vận mạng nước Tân Trung Hoa, đã viết từ năm 1911 như sau:

“Nền văn minh Âu Mỹ hoàn toàn là vật chất. Không có gì thô bạo, tàn nhẫn và tồi bằng. Chúng ta, người Trung Hoa, chúng ta gọi nó là dã man. Sự thua kém của chúng ta về hùng cường, chính là do chúng ta đã khinh thường và lơ là về loại văn minh đó. Đường lối của người Trung Hoa chúng ta nhằm vào nhân văn, cương thường, đạo lý. Các sách cổ của chúng ta gọi đó là vương đạo”.

Tôi đã từng nói là tâm hồn của người Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của Khổng Mạnh. Tuy nhiên, vị quốc phu của Trung Hoa đã sai lầm khi kết án người Tây phương là dã man, cũng như đã sai lầm nữa, khi ông cho rằng người Tây phương coi thường chúng ta vì đạt mức tiến bộ như họ.

Tư tưởng Việt Nam chúng tôi lấy đạo trung dung làm gốc, để nhận định về điều này.

Đã không biết bao lần, tôi được nghe lời phê bình sau đây, và ở cửa miệng của người được coi là có thiện chí: “Người Đông phương không có lập luận hữu hiệu như chúng ta”.

Nhưng đó là tại họ là người Tây phương, vì họ đã có thể nghĩ rằng: Không thể có hai luận lý (hữu lý) được: một luận lý Đông phương, và một luận lý Tây phương, mà chỉ có độc nhất một luận lý mà thôi. Chúng ta, người Tây phương, chúng ta đã thấm nhuần luận lý đó, còn người Đông phương thì chưa. Vậy thì phải chăng là lạ lùng, khi so sánh sự tương đồng của hai tư tưởng này:

- Đức Phu tử đứng trước một con sông, đã nói: Tất cả mọi vật đều trôi đi, như dòng nước chảy, ngày đêm không ngừng.

và tư tưởng thứ hai:

- Tất cả đều qua đi, qua đi. Không ai tắm hai lần cùng trên một dòng nước bao giờ.

Tư tưởng trên là của Khổng phu tử, Còn tư tưởng dưới là của Héraclite d’Éphèse (Hy Lạp). Cả hai đều sống ở thế kỷ thứ năm trước công nguyên. Họ chưa hề gặp nhau, chưa từng biết nhau tất nhiên, và họ đã chết cách xa nhau tới một vạn hai ngàn năm. Một người ở phía đông và một người ở phía tây, chỉ cách nhau vài tháng.

Cả hai vị này đều đã nghĩ rằng vạn vật sinh ra đều từ mâu thuẫn trái ngược nhau. Mâu thuẫn chính là Cha đẻ của mọi sự việc, và chỉ có sự tương đồng của tạo hóa mới điều hòa được mâu thuẫn mà thôi. Chúng tôi trung thành với tư tưởng ấy, nhưng tư tưởng Tây phương không chịu đứng im. Tư tưởng Tây phương đã được Aristote và Descartes lôi cuốn kéo đi.

Tất nhiên đã có một tư tưởng của Á Đông, không giống như điều mà Aristote và Descartes đã nghĩ. Ngày nay, nhờ ảnh hưởng của các học giả người Đức về đầu thế kỷ mười chín, Tây phương đã tìm thấy sự luận lý tương đồng giữa hai bên, đã có cách đây hai mười lăm thế kỷ, và do thế Tây phương đã bị rung động bởi tất cả căn nguyên lập lý của họ đều bị xáo trộn đến tận gốc rễ.

Tây phương tuyên bố rằng, một vật không thể vừa là nó, lại vừa là cái nghịch lại của nó được. Và như vậy, giữa hai chiều đốỉ nghịch ấy, hẳn phải có một cái đúng còn cái kia thì phải là sai, không thể có cái thứ ba xen vào. Chúng tôi nói rằng mâu thuẫn vốn nằm ngay trong mọi sự vật sống động, và chính vì nó có mâu thuẫn nên nó mới sống động được. Rằng giữa cái chiều đối nghịch của tả vởi hữu, nẩy ra yêu tố thứ ba chẳng phải tả, chẳng phải hữu, cũng chẳng phải sự hợp nhất, của tả và hữu. Như đứa trẻ sơ sinh, vừa có máu của mẹ, vừa có máu của cha, nhưng nó chẳng tập trung được tất cả mọi đặc điểm của hai dòng máu kia.

Còn về nguyên tắc lập lý của Tây phương, bất cứ việc gì cũng phải có nguyên nhân, và nguyên nhân như nhau thì hậu quả cũng như nhau. Chúng tôi chỉ cần biết thế. Bởi vì không bao giờ có sự liên hệ trừu tượng nào cho một kết quả cụ thể bao giờ, mà chỉ có sự kết hợp cụ thể đưa đến những đối nghịch hữu lý. Không bao giờ có sự liên hệ của dữ kiện, mà dữ kiện này là nguyên nhân độc nhất và chính thức của dữ kiện kia, mà chỉ có sự xen kẽ hình thái do mâu thuẫn tạo nên mà thôi. Như trong cuộc chiến chẳng hạn, sự tẩn công hay phòng thủ, sự tiến hay thoái, sự thắng hay bại đều là những hình thái đối nghịch. Nếu không có thua thì không có thắng, và ngược lại, và sự chiến đấu ấỵ là một liên hệ hỗ tương tạo nên chiến tranh.

Từ đó, có những sự xoay chiều đổi hướng luôn luôn trong một tác động của con người: Sự tan vỡ do kết hợp mà nên, thành công do thất bại mà tới… Đối với chúng tôi, người Đông phương, không có chữ Có và chữ Không, chữ Đúng và chữ Sai, chữ Chấp hay chữ Bất chấp, như kiểu luận lý Tây phương. Trong sự biến chuyển của thời gian, tất cả những danh từ ấy không phải chỉ có một nghĩa nhất định, bất di dịch, chữ Có có thể trở thành Không và Không trở thành Có.

Sự đồng lõa nhất định không có hạn, nhưng nhiều khi cái xấu, lại trở thành tốt đẹp. Vì vậy, không phải diệt những kẻ xấu đi, mà chỉ thay thế nó mà thôi. Tất cả nguyên lý Khổng Mạnh nằm trong luật âm dương. Áp dụng cho tất cả mọi lãnh vực. Đạo là Âm và Dương. Âm / Dương là hai thể đối nghịch, nằm trong Đạo, và Đạo hòa đồng hai thể ấy để tạo nên sự nhịp nhàng trên thế gian. Đạo len lỏi ở khắp nơi, uốn éo như những dòng sông ở Viễn Đông. Tất cả thực chất hành động của chúng tôi là ở đây, như thế đó. Như đi đường thẳng mà lại ra đường vòng. Có thể người ta đã nhìn vào khía cạnh ấy, để có một sự nhận xét sai lầm đối với chúng tôi: Người Việt Nam lờ đờ, ngờ nghệch và gian dối…

Đạo Khổng đã cho một đáp số chung, từ to đến nhỏ. Đó là một đạo học tổng quát. Rất dễ theo, bởi đã nằm trong một hệ thống tư tưởng lâu đời, tạo nên một chất keo sơn vững chãi, đủ để giữ nước, và bảo đảm nền độc lập cho non sông xã tắc. Đó là đạo cương thường.

Đối với một người, nó cho sự tự tin, vì đã biết tu thân, giữ đủ đạo hạnh để tề gia, rồi từ đó mới có thể vươn lên mà cầm quyền thiên hạ được. Như thế, đạo Khổng đã hướng lên một chiều lý tưởng thanh khiết, và có những giáo điều hết sức thiết thực, áp dụng cho khắp mọi lãnh vực.

Khổng Tử đã đặt ra chín điều cần thiết để nói về đức độ của một người. Đó là tứ đức và ngũ thường.

Ngũ thường là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí và Tín, còn tứ đức là Công, Liêm, Minh, Chính.

Nhân là đem tình đồng loại mà đổi phó với nhau, theo tinh thần dĩ đức báo đức, dĩ trực báo oán.

Lễ là luôn lịch sự đối với mọi người, không chê bai, ngắt lời, xỏ xiên, dè bỉu hầu kính trọng nhân vị mọi người.

Nghĩa là giữ tròn bổn phận của mình, dù cho đốì tượng có đi theo điều trái nghịch, mình vẫn phải ở trong cái ngũ thường này.

Trí là sự thông minh, biết tiến biết thoái, mà không ngu xuẩn thấp hèn.

Và Tín là không bao giờ sai lời, quyết chẳng đơn sai theo châm ngôn Nhất ngôn tứ xuất, tứ mã nan truy.

Còn tứ đức kia là Công, Liêm, Minh, Chính, phần nhiều để dành cho các vị công chức, quan lại.

Công là công bình, không bỏ trắng ra đen, không vơ vào cái lợi, mà đẩy cái xấu cho người: Kỷ sỗ bất dục, vật thỉ ư nhân, Điều mình chẳng thích thì không nên làm cho người khác.

Liêm là liêm khiết, thanh liêm. Giữ đúng cái mức chân chính, không lạm dụng, ngay từ vật nhỏ mà không người kiểm soát: Y phục sứng kỳ đức. Điều mình không được, hay chưa tới, thì không bao giờ vơ vào.

Minh là sáng suốt, để đủ khả năng đảm nhiệm trách vụ, khỏi đưa đến sự hỏng việc làm hại đại cuộc, hay làm oan khuất người khác, do sự u tối và ngoan cố của mình.

Chính là đường lối vương đạo, đường lối dứt khoát của Đạo rồi.

Đó chính là trung dung vậy. Đức Phu tử nói: “Đức độ là sự bền vững, không bao giờ thay đổi. Khi đã đạt đức thì phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất. Đó là sự tuyệt vời, mà xưa nay ít người đạt được. Trung dung hòa giải mọi sự bất đồng trong nguyên tắc đối nghịch nhau, để có sự co dãn uyển chuyển khi áp dụng”.

Vì vậy, Khổng tử vạch ra một học thuyết, có những giáo điều, cho cá nhân cũng như cho tập thể, lấy tam cương, ngũ thường, để đạt tới mức tu, tề, trị, bình, gìn giữ cho con người được đạo hạnh, gia đạo được an vui, mới có thể trị an thiên hạ được.

Do thế, lý tưởng tuyệt vời của chúng tôi đẩy chúng tôi vào sự xả kỷ, từ bỏ mọi tư lợi cá nhân để được vui sống trong đại đồng, tìm hạnh phúc trong hạnh phúc chung với đồng loại.

Khi Khổng tử đã vang danh khắp nơi, vua nước Lỗ yêu cầu ông đến gặp Lão tử, vốn là người lập ra đạo Lão. Lão tử tu thiền tại một chiếc hang ở trong rừng. Hai vị hiền triết gặp nhau, nhưng đạo của các ngài không phù hợp nhau nên không thể dung hòa được.

Khổng tử dạy dân tứ đức, làm điều lành, tránh điều dữ. Vì biết tu thân, sửa đức, nên biết hòa đồng xã hội. Như vậy, theo Khổng tử, muốn đảm trách công việc trị quốc, cần phải có hai điều chính là sự nhân ái và lẽ công bình. Có nhân ái và công bình, mới biết tôn trọng lẽ sống và nhận phẩm của nhau hầu đưa đến thái bình, thịnh trị.

Lão tử ngược lại, lại khuyên dân nên từ bỏ hình hài, không chú trọng đến ngoại lai, do bất động, một hình thái của thờ ơ, lãnh đạm, một thứ gần như chống đốì tiêu cực, vô tình mặc đời, không cần biết đến. Như vậy chỉ chuyên về mặt tu dưỡng nội tâm, hướng vào cõi hư vô huyền bí. Đạo của Lão tử trở thành một thứ cá nhân chủ nghĩa, đi tìm sự tĩnh, để đạt thái lạc cho riêng mình mà thôi. Căn nguyên đạo Lão không đưa đến sự tiến bộ của học vấn, không chú trọng về mọi hoạt động thực tiễn, mà chỉ cố gắng đào sâu nội tâm để tìm chân lý.

Tuy nhiên cả hai bậc hiền triết ấy, mặc dù học thuyết khác nhau, đều có ảnh hưởng sâu đậm đến tâm hồn dân tộc tôi, để biết an vui trong sự nghèo túng, hay biết tự chế trong hạnh lạc.

Riêng tôi, tôi thấy Khổng giáo đã đưa đến một sự súc tích thâm sâu của những đường lối thích ứng, để tùy thời, hầu đối phó với những khó khăn bên ngoài. Vì vậy, Ngài đã viết rằng: Thọ tỉ Nam sơn, phước như Đông hảỉ.

Người đạt đạo, thì vững như núi, người khôn thì biết uyển chuyển như nước. Uyển chuyển như nưởc, nên luôn được hưởng phúc, rộng lớn vô cùng. Còn người đạt thì trơ như đá vững như đồng, không màng bất cứ cám dỗ nào, nên được bình an, vững bền như núi.

Về Phật giáo do Thích Ca Mâu Ni sáng lập nên. Ngài sanh cùng thời với Khổng tử và Lão tử, nhưng Phật giáo xâm nhập vào nước tôi, sau đạo Khổng và đạo Lão rất lâu (đầu kỷ nguyên Công giáo).

Phật không phải là một vị Thần, cũng không phải là một sứ giả của Trời. Ngài chỉ là một người, một bực Thầy đã giác ngộ, đã thông suốt các vấn đề, đi sát tâm lý. Ngài dẫn dắt các đệ tử vào con đường chính.

Tôi đã từng nói, tôi không phải là người theo đạo Phật. Nhưng cha tôi, thì có theo. Căn bản của Phật giáo nằm trong thuyết luân hồi. Thể xác con người vốn là không, còn linh hồn thì bất diệt. Linh hồn luân lưu qua nhiều kiếp liên tiếp để đầu thai, mà tùy theo sự ăn ở của mình, để được hưởng phúc, hay phải làm kiếp súc sanh. Phải gột bỏ tham sân si mới khỏi bị sa đọa vào hỏa ngục. Như vậy Phật giáo đặt ra một đường tu, nằm trong nguyên nhân của hai chiềụ nhân và quả. Nhờ vậy, dân tộc tôi cố gắng ăn ở tốt lành, để gọi là “vê tròn quả phúc” và “ông cha để lại phúc cho con cháu mai sau”. Như vậy, đó là căn bản của nền văn hóa Việt Nam. Nhưng chúng tôi thiên nhiều nhất về đạo Khổng, lấy chữ hiếu làm đầu, nên thường được gọi là đạo hiếu. Tư tưởng sáng tạo ở nước tôi nằm trong luật mâu thuẫn. Một xã hội sống động, tiến bộ, đi từ mâu thụẫn này đến mâu thuẫn khác. Đó chính là biến động. Vạn vật đều biến động, mà trở thành nguyên ủy cho sự mới được sanh ra. Như vậy, đạo Khổng đã đi sát thực tế đối với con người. Cho nên không lấy làm lạ là người Tây phương, ngay từ khi mới sanh ra, chịu ảnh hưởng của tư tưởng La Hy không thể nào hiểu nổi được sự trái ngược trong luận lý của chúng tôi.

Bất cứ một nền triết học nào, ngoài Khổng giáo chỉ đưa đến sự phá sản một xã hội như xã hội của chúng tôi. Bởi thế, ai dự thi làm quan ở nước tôi không thể trình bày quan điểm trái ngược với Khổng Mạnh. Họ sẽ phải thỉ hành các nguyên tắc mà họ trình bày thì phải tỏ ra đã thấu đạo đến tận gốc rễ.

« Lùi
Tiến »