Con Rồng An Nam

Lượt đọc: 59072 | 30 Đánh giá: 9,6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cách mạng Việt Minh

Giữa sự xáo trộn lung tung đó, nhiều tin tức xấu đã đến với tôi. Nguyễn Văn Sâm, Khâm sai ở Sài Gòn đã không thể nào nhận được nhiệm vụ của mình. Ông ta có thể đã bị ám sát ngay sau khi rời Huế. Ai giết?… Ở Hà Nội, nhiều biến cố quan trọng đã xảy ra. Ngay sau khi quân Nhật đầu hàng, quân cảm tử của Võ Nguyên Giáp đã xuất hiện trong thành phố. Dưới mắt quân Nhật bất động, họ đã mở các nhà tù, tạo nên một lớp quân ô hợp, nhưng bất lương, tàn bạo. Ngày 17 tháng 8, theo sự khích động của họ, đã có một cuộc biểu tình tập họp với hai vạn người trước Nhà Hát Lớn. Họ hoan hô nền độc lập, thay đổi cờ mới, màu đỏ có ngôi sao vàng, mà người tà nói là được quân cảnh Nhật tạo ra. Cờ vàng quẻ ly bị xóa bỏ…

Ngày hôm sau, Khâm sai Phan Kế Toại phải bỏ nhiệm sở, và bị thay thế bằng một Uỷ ban Lâm thời, và vô danh. Ngày 19, đoàn quân cảm tử Việt Minh được tăng cường thêm một số người cuồng nhiệt reo hò ầm ĩ, và tiến chiếm các công thự: dinh Khâm sai, tòa án, trụ sở bộ Tài chính, trường đại học, trường trung học… Chẳng những người Nhật chịu trách nhiệm về an ninh, đã bất động, mà còn trao từng kho khí giới của đoàn Bảo an cho họ.

Những tin đó đến tai tôi với ít nhiều lệch lạc. Từ Nam kỳ, tin tức còn mơ hồ hơn nữa. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lãnh tụ Thanh niên Tiền phong, ngày 13 tháng 8, có lẽ đã cầm đầu mặt trận quốc gia trước khi thành lập một Uy ban Lâm thời xứ bộ Nam kỳ đặt ở dinh Toàn quyền cũ, dưới sự chủ tọa của một nhân vật tên Trần Văn Giàu, mà Tạ Quang Bửu bảo cho tôi biết thuộc phong trào Việt Minh. Ở Sài Gòn cũng vậy, quân Nhật không có phản ứng gì.

Nặng nề hơn nữa, khắp nơi đã có những vụ ám sát và mất tích, thường là đối với các nhân vật quốc gia.

Tại Huế cũng có những vụ rải truyền đơn, và đã có nhiều nhóm theo lệnh bí mật, đã tập họp và kéo vào trong thành, sát ngay hoàng cung.

Ngày 22 tháng 8, tôi tiếp viên Thiếu tá Nhật chỉ huy quân cảnh bị trong thành phố. Ông ta cho biết, theo chỉ thị của bộ Tư lệnh Đồng minh, ông ta đã có những biện pháp để giữ an ninh cho hoàng thành và cho hoàng tộc. Đã đặt các chướng ngại vật ở trước cầu Clémenceau và các cổng ra vào hoàng cung. Tôi chống lại ngay quyết định này:

- Tôi từ chối nhất định sự bảo vệ của ông. Tôi yêu cầu ông hãy hủy bỏ ngay hệ thống phòng thủ này của ông. Tôi không muốn một đội quân ngoại quốc nào làm đổ máu dân tộc tôi.

Để chắc chắn lệnh tôi được tuân hành, tôi cho gửi cho viên Đại tá một văn thư có đóng dấu quốc tỉ của tôi, yêu cầu ông ta phải bải bỏ lệnh giữ an ninh ở ngoài thành nội.

Đối với viên võ quan giữ hoàng cung, cũng lo ngại những sự tập họp này nọ, tôi ra lệnh phải bỏ ngỏ các cửa thành, như thường nhật.

Một buổi chiều, một thanh niên được tôi tuyển chọn làm phụ giáo cho Thái tử Bảo Long, đến gặp tôi. Với tất cả sự nài nỉ, gần như khẩu cầu, anh ta năn nỉ xin tôi dời bỏ hoàng cung để tạm lánh ra Lăng. Sự lo ngại của anh ta là thành thật, hay đó chỉ là một lời khích động? Tôi chẳng bao giờ hiểu được.

Trái lại, tôi đã thuộc lòng lịch sử nước Pháp, để có thể quên được bài học Varennes (1) hay lời tuyên bố kiêu ngạo của Danton (2) “Không ai mang tổ quốc lên đế giầy của mình”. Không, tôi không đi đâu, tôi biết rằng có thể tin vào sự khôn ngoan và trung thành của dân tộc của mình.

Ít lâu sau, chính viên chủ sự bưu điện ở Huế xin yết kiến tôi. Ông ta có một bức điện tín đặc biệt để đưa cho tôi. Chiều hôm ấy vốn có đông quan khách tiếp nối nhau gặp tôi, dù quá trễ, tôi cũng tiếp ông ta. Ông ta đệ trình một bức điện văn, đánh đi từ Hà Nội bằng vô tuyến điện. Thật lạ lùng là ngành vô tuyến điện còn hoạt động được.

“Trước ý chí đồng nhất của toàn thể dân chúng Việt Nam, sẵn sàng hy sinh tất cả để cứu vãn nền độc lập quốc gia, chúng tôi thành kính xin đức Hoàng đế hãy làm một cử chỉ lịch sử để từ bỏ ngai vàng”.

Bức điện này được ký dưới là “Uỷ ban Nhân dân Cứu quốc” đại diện cho tất cả mọi đảng phái, và tầng lớp dân chúng.

Chẳng cần biết rõ ai là người thủ xướng, bản điện văn này đã phản ảnh một ý chí vô cùng thành thực. Người thảo ra bức điện văn là những nhà ái quốc y như tôi, đều mong mỏi độc lập và thống nhất cho tổ quốc Việt Nam.

Sáng ngày hôm sau 23, chung quanh tôi hoàn toàn trống rỗng. Chẳng thấy Trần Trọng Kim, cũng chẳng thấy bất cứ một Bộ trưởng nào vào điện. Chỉ còn vài người lính phụ trách mở và đóng cửa điện, đi lại ở sân chầu vắng lạnh. Trong dịp quốc lễ gần đây, chưa tới hai tháng, sân chầu đã đầy ních các quan và kẻ thân hoàng cung. Bữa nay, chỉ còn riêng hoàng tùng đệ Vĩnh Cẩn, còn trung thành đứng cạnh tôi mà thôi.

Tôi bỗng nhớ lại chiếc xà rơi và nhớ đến lời tiên tri của mẫu thân tôi: “một chỗ ngoặt của đời con...”

Những lời bí mật của Tạ Quang Bửu cũng nổi lên trong óc. Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh là gì, mà có thể động viên được dân chúng, cụ thể được nguyện vọng của mọi người, và đọc cho tôi đường hướng phải theo?

Tôi không biết một lãnh tụ nào của họ. Thế mà… Họ đã liên lạc được với Đồng minh Trung Hoa, Mỹ, Pháp, trong khi lời kêu gọi của tôi gởi cho Tổng thống Truman, cho Thống chế Tưởng Giới Thạch, cho Quốc vương Anh, cho Tướng De Gaulle lại im lìm, không có hồi âm. Họ có súng đạn, phương tiện, còn tôi thì không có cả khả năng để tập hợp những bậc trung thần và những người thân cận xưa nay, bỗng câm như thóc, hay có âm mưu chống lại tôi… Họ đã chiếm được quyền hành không mất một mảy lông, và tôi bị bơ vơ trong một kinh thành chết.

Tất cả như tập hợp lại cho họ, đầy bí hiểm. Sự thành công không thể chối cãi này, phải chăng là một dấu hiệu chứng tỏ họ đã nhận được thiên mệnh của Trời?

Dân chúng vốn có một năng khiếu rất chắc chắn, để trong những giờ phút lịch sử linh thiêng, đổ xô cả đến người có sứ mệnh lãnh đạo. Thời gian đã đến cho tôi, để sự lựa chọn mà hòa hợp với chính số mệnh của mình với số mệnh của toàn thể nhân dân.

Tháng ba (tức thời Nhật) sự tồn vong lịch sử của đất nước, đã đòi hỏi tôi phải ở ngồi. Thì ngày nay, tôi phải theo nhân dân, cũng trong tinh thần ấy. Tôi phải thoái vị, như nhân dân đã đòi hỏi. Là Hoàng đế, tôi đã dấn thân cho nền độc lập và thống nhất của Tổ quốc Việt Nam. Tôi không thể, ngày nay gây nên cảm tưởng đã đi ngược lại con đường đã mở ra cho đất nước. Vậy thì là một công dân thường, tôi trở về với nhân dân tôi, và cùng với họ, cùng với các lãnh tụ để dẫn dắt toàn dân hướng vào số mệnh, tạo dựng và củng cố nền thống nhất kia, nền độc lập kia.

Họ muốn một cuộc cách mạng ư? Thì tôi xin hiến dâng cuộc cách mạng ấy, nhưng không đổ máu, bằng một nền chính trị tiến bộ. Nếu họ muốn theo gương các nước, thì chỉ có một giải pháp: sự lưu vong của tôi. Nhưng biết ai mà tôi ngỏ ý kiến này?

Tôi liền cử người em họ là Hoàng thân Vĩnh Cẩn, và viên Chánh văn phòng Phan Khắc Hòe đi dò hỏi trong thành phố. Họ đã trở về, chẳng biết ai mà hỏi bây giờ.

Tôi liền gởi một điện tín vu vơ, y như người ném cái chai xuống biển… Bằng vô tuyến điện, tôi gởi cho “Uỷ ban Nhân dân Cứu quốc” ở Hà Nội:

“Đáp ứng lời kêu gọi của úy ban, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử quốc gia, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của úy ban sớm tới Huế, để nhận bàn giao”.

Trong đêm ấy, vẫn chỉ có Vĩnh Cẩn bên cạnh, tôi soạn bản tuyên ngôn thoái vị.

Sáng ngày 23 tháng 8, hai phái viên của Việt Minh đến cung điện. Đó là những người đại diện cho Việt Nam Độc lập Đồng minh, do Hà Nội cử vào. Trần Huy Liệu trưởng phái đoàn là phó chủ tịch của úy ban. Đó là một người gầy còm, có hình thái tiều tụy, đeo đôi kính đen để che cặp mắt lé, mà người ta lấy làm khó chịu khi phải nhìn lâu. Kẻ đồng hành là Cù Huy Cận trông thật vô nghĩa. Tôi không khỏi thất vọng.

Trần Huy Liệu trình tôi một tờ giấy ủy quyền, tên ký lằng nhằng khó đọc, và tuyên bố với một giọng khá trịnh trọng:

- Nhân danh dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh của Mặt trận Giải phóng đất nước cho chúng tôi vinh dự đến gần Hoàng thượng, để nhận ấn kiếm.

Đó là lần đầu tiên mà tôi nghe thấy tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi liền đưa bản tuyên ngôn thoái vị. Trần Huy Liệu bàn với người đồng hành, nói nhỏ vài câu, rồi ngoảnh sang tôi và nói:

- Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết.

Đến chiều, trước hàng nghìn người tụ hội vội vàng trước cửa Ngọ Môn, tôi bận trào phục và đọc bản tuyên ngôn thoái vị, đề ngày 25 tháng 8 năm 1945 dưới đây:

“Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,

“Vì nền độc lập của Việt Nam,

“Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.

“Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân là: Ở giờ phút quyết định này của Lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.

“Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.

“Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm, ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.

“Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.

“Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:

- Thứ nhất: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia.

- Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.

- Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc íập quốc gia.

“Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao điều cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.

“Việt Nam độc lập muôn năm.

“Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm.

“Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945”.

Bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Tôi quan sát các khán giả đứng hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.

Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu.

Trần Huy Liệu và Cù Hụy Cận tiễn tôi phía sau. Trước khi chia tay với tôi, đại diện của Uy ban Giải phóng nói:

- Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi, muốn mời Ngài ra Hà Nội để dự lễ đặt cơ cấu chính quyền dân chủ cộng hòa.

- Thưa ông Đại diện, tôi xin gửi lời ông cám ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhã ý mời tôi, và tôi không bỏ lỡ dịp để tới dự.

Trong sự cô tịch của cung điện trở về, tôi viết một thông điệp gửi cho tất cả hoàng gia:

“Đã chấp nhận khẩu hiệu “Dân vi quý,” và đã tuyên bố là Trẫm muốn được làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước bị trị, Trẫm đã tuyên bố thoái vị và trao lại quyền hành cho một chính phủ có khả năng hưởng tất cả mọi tiềm năng quốc gia vào sự củng cố nên độc lập này, hầu đem lại hạnh phúc cho đồng bào.

“Quốc gia độc lập, Nhân dân hạnh phúc. Cho tám chữ đó, trong tám mươi năm qua, biết bao anh chị em chúng ta đã hy sinh tính mạng trong rừng sâu, trong tù ngục, và so sánh với hàng nghìn hàng vạn anh hùng liệt sĩ, anh thư, sự thoái vị của Trẫm chỉ là một việc cỏn con.

“Vì vậy, Trẫm tin chắc rằng, sau khi nghe xong thông điệp của Trẫm về sự thoái ngôi tất cả hoàng tộc chúng ta đã để bổn phận làm dân đối với tổ quốc trên tình yêu của đàn con đối với tổ tiên, và sẵn sàng hợp nhất đối với tất cả đồng bào để khuông phù chính phủ dân chủ cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập cho đất nước. Chỉ có như vậy, hoàng gia mới tỏ sự trung thành vôi Trẫm, vấ sự tôn kính đối với tổ tiên”.

Hôm sau, mẫu thân tôi dời cung điện cùng với các con tôi để đến ở ngôi biệt thự nghỉ mát ở bờ sông Phú Cam ở phía Nam thành phố. Hoàng hậu Nam Phương theo bà sau đó hai mươi bốn giờ. Còn riêng tôi, vẫn ở trong cung điện. Tôi tìm thấy một sự thanh thản, bình tĩnh vô cùng. Tôi không thấy một sự hối hận nào. Tôi gần có thể kêu lên: “Thật hoàn toàn tự do”.

Sự bình thản đó không liên can gì đến tinh thần trách nhiệm của tôi, đối với một nhiệm vụ lịch sử. Trái lại, tôi ý thức được bổn phận của tôi, và tôi đã làm đúng. Khi thoái vị, hy sinh ngai vàng, tôi đã góp phần cùng với nhân dân trong bao nỗi đau thương của họ góp phần đó, chính bởi lòng yêu thương dân tộc mà rạ. Tất nhiên, sự hy sinh ấy không phải dễ, nhưng nó đã cho phép cứu nguy dân tộc, và chứng tỏ sự đoàn kết quốc gia. Bây giờ, nhân dân cần phải nắm tay kết thành một khối chặt chẽ chung quanh một đoàn thể, mạnh mẽ hơn tôi nhiều, để có thể thể hiện được nền độc lập ấy.

Rất ít tin tức lọt đến tai tôi. Không có báo chí, không có đài. Chỉ riêng Việt Minh có những phương tiện truyền tin.

Nhờ một người cán bộ từ Hà Nội cho biết, ngày 29 tháng 8, một chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh cầm đầu đã được thành lập. Đến ngày 2 tháng 9, tuyên ngôn long trọng về nền độc lập của Việt Nam và mở đầu triều đại của nền Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên ngôn này có lời kết án chống chủ nghĩa thực dân Pháp, và lời lẽ vũ bão làm tôi sửng sốt:

“… Tất cả dân tộc Việt Nam, cùng chung một ý chí, đều quyết định chiến đấu đến cùng để chống lại tất cả ý đồ xâm lược của thực dân Pháp...”

Lời kết luận thích hợp với ý định của chính tôi hơn:

“… Nước Việt Nam có quyền được tự do và độc lập, và trong thực trạng, đã tự do và độc lập. Tất cả nhân dân Việt Nam đã quyết định động viên tất cả tiềm năng, tinh thần và vật chất, hy sinh mạng sống và tài sản, để giữ chủ quyền tự do và độc lập của mình”.

Cứ như thế, ở chỗ nào Việt Minh cũng rêu rao tỏ quyền uy về lãnh đạo của mình. Nhờ sự rỗng tuếch vô chính phủ do sự thoái vị của tôi, và nhờ sự bất can thiệp đầy hảo ý của quân đội Nhật, trước tình trạng mập mờ, và lợi dụng sự tuyên truyền phóng đại và đe dọa, người của Việt Minh như đoạt được quyền hành trên toàn quốc, trong mười lăm ngày sau khi quân Nhật đầu hàng.

“Công dân” Vĩnh Thụy - tên gọi của tôi, sau khi thoái vị - chẳng có việc gì làm ở Huế. Tôi quyết định nhận lời mời của Hồ Chí Minh để ra Hà Nội.

Tin ra Hà Nội của tôi gây sự ngạc nhiên mới trong hoàng cung. Những ai đã từng dự những biến cố trong những ngày vừa qua, thật sự cũng chẳng hiểu vì sao, không bao giờ ngờ tới trò đùa dai này lại đi quá xa như vậy. Một bà cụ già bảo tôi:

- Ngài đi xa như vậy, có thể là một tai họa, chúng ta đã mất hết cả rồi. Thật là trời đổ.

Tuy nhiên, Đức Khổng Phu tử đã chẳng nói rằng: “Người phải được coi như bậc thánh nhân. Người đã nhất định nhường ngôi, và cũng chẳng để cho dân biết, hầu tôn thờ niềm cao thượng vì dân vì nước của mình”.

Chú thích:

 (1) Bài học Varennes, nghĩa là vua Louis XVI, bỏ chạy, thì bị bắt ở thị xá Varennes, khi muốn trốn ra ngoại quốc, và bị giết.

(2) Danton là nhà cách mạng Pháp bị Robespierre đưa lên đoạn đầu đài. Cả hai đều là nạn nhân của thời cách mạng Pháp, thế kỷ 18.

« Lùi
Tiến »