Tướng Eisenhower được bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1952. Khi nhận chức vào Tòa Bạch Ốc, ông đọc một bài diễn văn trong đó có câu: “Người lính Pháp chiến đấu ở Đông Dương, và người lính Mỹ chiến đấu ở Triều Tiên, đều cùng chung một mục đích...” Như vậy, đối với người Mỹ, cuộc chiến ở Đông Dương không phải là chiến tranh giữa thuộc địa với mẫu quốc, mà chiến tranh của phương Tây chống Cộng sản, một cuộc chiến để giành lấy tự do ở Việt Nam.
Một đề tài khác khá hài lòng. Nhờ quân đội và nghĩa dũng quán, tỉnh Hưng Yên ở Bắc Việt hoàn toàn nằm trong tay người Việt, cũng như các tỉnh Tân An, Bến Tre, Gò Công ở Nam Việt.
Trên tất cả đất nước, chương trình bình định đang được Thủ tướng Tâm áp dụng, đều mang lại kết quả tốt đẹp. Sau cuộc hành quân của quân đội, thì hệ thống hành chánh và chính trị được thế ngay vào đó, đầu tiên do một hạt nhân từ trung ương lan dần ra như vết dầu loang, tãi rộng ra mãi. Nhiệm vụ ấy được trao cho một cơ quan gọi là Quân Thú Lưu Động GAMO (Groupement Administration Mobile Opérationnel). Đoàn này hoàn toàn do người Việt Nam đảm nhận, và lần lượt đóng ngay vào vùng vừa được càn quét, để đảm trách các vấn đề hành chính, xã hội, y tế, cảnh bị, học chính và tuyên truyền. Cuộc bình định này đã tỏ ra rất hữu hiệu ở vùng Hải Phòng và Hà Nội.
Nguyễn Văn Tâm dùng một chính sách khôn khéo. Nhân vật này, từng tỏ ra cương quyết và chống Cộng triệt để, thích bắt chước Thủ tướng Clémenceau, nên đã thành công trong việc tập hợp rộng rãi trong chính phủ của mình, mọi giai tầng xã hội trong nước. Nhờ vậy, ông ta đã được nhóm Cao Đài ủng hộ, đưa hai đại diện vào trong chính phủ, thêm hai đại diện phe Việt Nam Quốc dân đảng trong đó có lãnh tụ Vũ Hồng Khanh, từng ở trong chính phủ với Hồ Chí Minh năm 1946, có thêm một đại diện của Đại Việt, vì khi Nguyễn Văn Tâm làm Thủ hiến Bắc Việt, Tâm đã trù ếm phe này khá nặng.
Ngoài ra, những ưu đãi của ông trước quân đội quốc gia, vì có con là Nguyễn Văn Hinh làm Tổng Tham mưu trưởng, càng củng cố vị trí chiến đấu của ông, nên rất lừng danh. Cuộc cải cách điền địạ, sự chuẩn bị một Quốc hội toàn quốc, đã đem lại cho ông một số đông dân chúng, nhất là trong giới bình dân.
Như vậy, chúng tôi không thể bị coi là bất động được. Tuy nhiên, điều đó không đúng như ở Pháp. Dư luận dân chúng vẫn không hiểu gì về tình thế cả. Các đảng phái chính trị tỏ vẻ lo âu, và đảng Xã hội lại có ý định quay về điều đình với Hồ Chí Minh. Vì vậy tình hình chính trị nước Pháp đứng im tại chỗ. Tuy nhiên, chúng tôi được nhiều lợi điểm đối với các nước Tây phương, bây giờ tỏ ra đoàn kết trước cuộc chiến ở Đông Dương. Vì vậy, ngày 17 tháng chạp, Hội đồng Đại Tây Dương họp ở Paris, đã ra một thông cáo nói rằng:
- Cuộc chiến do quân đội Liên hiệp Pháp đang phải đương đầu ở Đông Dương, rất đáng được các chính phủ Đại Tây Dương yểm trợ liên tục. Cho đến nay, chỉ có Hoa Kỳ viện trợ cho Đông Dương, vì gần một nửa các binh phí đều do Mỹ đài thọ. Sự viện trợ đó không phải không đưa lại vài vấn đề giữa Pháp và chúng tôi. Chúng tôi thì mong rằng, viện trợ của Hoa Kỳ được đưa thẳng cho chúng tôi không phải qua trung gian nước Pháp, mà chúng tôi biết nền kinh tế của họ sẽ được hưởng một nguồn lợi quan trọng, riêng về mặt chuyển ngân thôi. Tuy rằng điều mong ước của chúng tôi giống như của Hoa Kỳ, chính phủ Pháp không bao giờ chấp nhận điều thỉnh cầu đó.
Tổng thống Auriol nói:
- Chúng tôi rất mong họ (Hoa Kỳ) giúp đỡ cho Đông Dương, nhưng xin họ đừng có để chân vào.
Nhưng điều chính của tôi vẫn là việc thành lập đạo quân quốc gia. Cuộc nói chuyện của tôi với Tướng Salan vào tháng 11 là đề tài của một chương trình dự trù tỉ mỉ, mà tôi bảo Hinh soạn thảo, khi chính phủ mới được thành lập ở Paris.
Ông René Mayer làm Thủ tướng của chính phủ mới này, được thành lập ngày 8 tháng giêng. Ông Letourneau vẫn còn là thành viên và vẫn giữ bộ Quốc gia Liên kết.
Tướng Hinh được sự đồng ý của Paris về chương trình này, là tạo dựng đợt đầu, 54 tiểu đoàn khinh quân. Các tiểu đoàn này tương đương với lực lượng địa phương của Việt Minh, đủ khả năng đánh lại họ tại chổ, dùng để bình trị khi những đơn vị của quân đội viễn chinh Pháp dành cho các trận di động. Đến năm 1953, quân số của chúng tôi sẽ tăng cường tới 40.000 người. Dự trù này được viên Bộ trưởng Quốc phòng của chính phủ Tâm muốn nói biến ra thành đạo quân qui ước với các sư đoàn nặng, để kể từ tháng 10, sẽ đem ra sử dụng trên trận địa được.
Sự tham gia đó rất cần thiết, khi có cuộc phản công vào trung tuần tháng giêng trên vùng sơn cước ở miền Trung. Tại đó, các đơn vị của sư đoàn 4 lính thổ, đã bị đụng độ nặng nề. Sau cuộc tấn công mùa thu ở vùng sơn cước miền Bắc Việt Nam, quân đội Việt Minh bị chặn đứng ở Nà Sản, nay thì chúng sẽ cố gắng đánh vào miền cao nguyên Trung phần này. Tại Nà Sản, căn cứ không quân đóng vai trò chiến lược. Thì đây sẽ là trái đấm đối với các cuộc đổ bộ vào bờ biển Qui Nhơn mà chúng vẫn sử dụng thường xuyên. Như tại Nà Sản, quân địch có vẻ lảng xa, ít nhất cũng tạm thời. Nhiều cuộc tuần tiễu phát ra từ Qui Nhơn đến An Khê làm giảm bớt dự định của Việt Minh.
Tết năm Quí Tị, ngày 13 tháng giêng, tôi gửi bản thông điệp thứ ba hàng năm cho dân chúng Việt Nam. Bản thông điệp thứ nhất vào năm 1951, tôi vạch ra những nét chính để kiến thiết quốc gia. Trong bản thông điệp năm ngoái, tôi ấn định về nền cải cách văn hóa. Và năm nay, tôi dành để vạch một đường lối quốc tế cho Việt Nam trên thế giới và vào thế kỷ 20:
“… Chúng ta ở cửa ngõ một đế quốc bao la, vĩ đại vì văn hóa, nhưng đối với chúng ta vẫn là một mối đe dọa cụ thể thường xuyên. Hai bên chênh lệch quá nhiều, tôi bảo cho những người lầm đường hay những Việt giãn đã xúi giục họ lầm lạc. Các anh hẳn biết rằng ngày mà thể chất quốc gia của chúng ta đông hóa với đế quốc đó, thì nó sẽ hút hết chúng ta. Chúng ta chỉ có thể tồn tại, khi giữ mình nguyên vẹn, khác xa với họ.
“Hỡi đồng bào,
“Vào ngày tết thiêng liêng của quốc gia này, hãy nhớ rằng hình dáng và nhiệm vụ của Việt Nam làm cho chúng ta có mặt trên quả địa cầu. Chúng ta chỉ dính vào Á châu, phải chăng có một chút ở bên sườn? Thật sự, chúng ta ngoảnh lưng vào châu Á, và nhìn ra bể, nhìn ra các hải đảo và bán đảo, nhìn vào các dân tộc sống trên bể và do bể mà ra. Chúng ta là một cái sườn núi dốc hướng vào Mặt Trời. Thế mà một dân tộc phải có liên chính trị địa dư của nó. Chính là trên ngọn sóng, và ngoài ngọn sóng, mới là bạn, là khách hàng và đồng minh của chúng ta.
“Về phương diện ấy, sự tập hợp của những dân tộc đầy tương lai, ở rải rác khắp năm châu, là Liên hiệp Pháp, đối với chúng ta là chỗ tựa đáng quí. Ngay một lần đầu, nó đã cho chúng ta một địa bàn đầy bè bạn, khách hàng, và người hợp tác...”
Về phần hai của thông điệp, tôi kêu gọi các đồng bào còn rụt rè chưa dám tham gia, và đặc biệt là giới thanh niên học sinh:
“Vì thế mà nhiều người phần đông là các thanh niên trẻ tuổi, chỉ biết cái học sách vở, tự hào là trí thức để hợm hĩnh, đã coi địa bàn chính trị như một sân khấu, chỉ có động tác đóng kịch là đáng kể…”
Rồi tôi kêu gọi tất cả những ai đã chiến đấu chống lại chúng tôi:
“Những con đường quá khích nào cũng đều ngắn ngủi, và sẽ làm cho kẻ sử dụng phải lao đao. Chỉ có con đường trung dung, thanh thản, là dùng được, mà tôi muốn tập hợp tất cả đồng bào lại, kể cả những người đã đi quá trớn, hay những ai còn đang chờ đợi, những ai nhạo báng, hay còn ngờ vực loanh quanh. Còn đối với ai đã đi ngược lại quyền lợi quốc gia, liệu có cần phải nói rằng, cửa ngõ gia đình vẫn luôn luôn bỏ ngỏ?”
Trong tháng 2, nhiều cuộc viếng thăm tới tấp. Đầu tiên là Tướng Lechères đến để xác nhận với Tướng Tổng Tư lệnh mục đích chiến tranh đã được chính phủ ấn định rõ rệt. Rồi đến ông Paul Raynaud, Chủ tịch Uỷ ban Tài chính Quốc hội, đi du lịch qua, từ ngày 10 đến 24 tháng 2. Sau là cuộc viếng thăm của dân biểu phái tả Paul Devinat, đi công cán cho Quốc hội, đến để kiểm soát việc sử dụng các binh phí, tình trạng quân nhu, quân cụ và sự tiến triển của các quân đội quốc gia Việt, Miên, Lào. Cuối cùng, là sự viếng thăm của Thống chế Juin, đi cùng ông Letourneau. Chúng tôi lợi dụng sự có mặt của ông này để triệu tập một hội nghị quân sự ở Đà Lạt ngày 24 tháng 2.
Hội nghị này đặt dưới quyền chủ tọa của tôi. Tham dự ngoài ông Letourneau có Tướng Salan, Tướng Hinh, Thủ tướng Tầm, quyền Bộ trưởng Quốc phòng Lê Quang Huy và Chánh văn phòng của tôi là Nguyễn Đệ.
Nhiều quyết định quan trọng được đề ra. Trước tiên là sự chấp nhận dứt khoát chương trình thành lập đoàn khinh quán, mà binh phí một phần sẽ do ngân quỹ Việt Nam đài thọ, vào khoảng 50 tỉ quan.
Cũng quyết định trên nguyên tắc, rằng tất cả các đơn vị đó sẽ đặt dưới quyền chỉ huy của Việt Nam. Phần khác, vị Tổng Tư lệnh vốn là Quốc trưởng, và vị Tham mưu trưởng Việt Nam phải có những phối hợp với viên Tổng Tư lệnh Pháp liên hệ đến các cuộc hành quân và đặt kế hoạch. Quân đội Việt Nam không còn là một quân đội nằm trong quân đội Pháp, mà là một quân đội đồng minh. Đó là Việt Nam hóa chiến tranh.
Chương trình tổng quát được chấp nhận là sự nâng giá trị của quân đội Việt Nam đến năm 1955 trên căn bản là 8 sư đoàn, bao gồm 175.000 quân chính qui trong đó có 50,000 quân trừ bị. Ngoài ra chương trình ấy còn đặt ra các cơ quan liên hệ, sự hình thành của một đoàn Không quân, gồm có một trường học hai nhóm chiến lược, và một tiểu đoàn, cũng như sự thành lập đoàn giang đĩnh và tuần duyên. Như vậy, điều chúng tôi đòi hỏi cho chương trình này, để hoàn tất vào năm 1953, 54 tiểu đoàn khinh quân, 14 đại đội pháo binh, và 19 đơn vị dân chuyển, đưa tổng số quân đội lên 40.000 người nữa. Sự đánh giá chương trình này được ấn định ở Paris, để vào tháng 6, sẽ đưa cho Washington, hầu được viện trợ tương xứng.
Tôi ghi nhận với tất cả sự hài lòng, vì các quyết định này đã được toàn thể hội nghị chấp nhận trong bầu không khí hoàn toàn thông cảm và nhất trí.
Bốn ngày sau, Thống chế Juin và ông Letourneau đến Nà Sản để khen thưởng binh sĩ đã đạt được mục tiêu, làm cho tướng Giáp phải thu quân bỏ chạy.
Viên thanh tra quân lực Pháp vừa đi thăm Triều Tiên một tuần về. Tôi tiếp ông ta ngày 4 tháng 3, tại biệt điện của tôi ở Ban Mê Thuột. Ông có vẻ bớt lo lắng hơn lần trước khi ông gặp tôi ngày 15 tháng 2. Ông bảo cho tôi biết, ông đã được ông Letourneau đồng ý, sẽ mời Tướng Clark, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở Viễn Đông, đến quan sát tại chỗ, những điều chúng tôi đã làm ở Việt Nam. Rồi ông kể cho tôi nghe dự định Mỹ về Triều Tiên:
- Người Mỹ không biết làm cách nào để rút chân ra khỏi vụ này mà khỏi bị mất mặt. Họ đã dự định những giải pháp rất mâu thuẫn là đưa cả người Tàu ở Đài Loan vào trong vụ lộn xộn này. Nhưng rồi họ lại bỏ cuộc. Dù sao nữa, nếu sự đàm phán hiện nay mà thành, thì Triều Tiên sẽ bị cắt làm hai. Như vậy, họ sẽ tạo ra miền Nam Triều Tiên một đạo quân, theo kiểu Mỹ. Theo tôi, đó là sự nhầm lẫn lớn. Dù sao nữa, không phải đó là điều mà người ta sẽ làm ở đây.
- Thưa Thống chế, hẳn Thống chế đã biết những điều mà chúng tôi đang muốn sử dựng các tiểu đoàn khinh quân đặc biệt?
- Vâng, đây chính là điều cần thiết. Những người thấy cần phải chống lại với đoàn quân du kích Việt Minh, nhưng cần phải đem đến cho họ một nền hành chánh, do các công chức đã thành, để đến ngay vùng đất vừa chiếm được.
- Đó là chúng tôi đang dự định với đoàn GAMO (Quân thư lưu động), nhưng chúng tôi chưa đủ nhân viên. Hẳn Thống chế thấy nước Pháp đã để lại đây cả một đống công chức vô ích, chỉ dùng thì giờ để chọc gậy bánh xe. Những người mà chúng tôi cần, đó là các kỹ thuật gia, các chuyên viên, chứ không phải bọn người trong ngành cai trị thuộc địa…
- Thưa Hoàng thượng, khi tôi qua Triều Tiên, điều tôi đã nhìn thấy ở Việt Nam làm tôi tin tưởng, nhất là ở miền Nam, dân chúng đã bắt đầu ý thức được sự chuyển tiếp chế độ, nền độc lập của đất nước, ở miền Trung và miền Bắc thì chưa nhất định, vì vậy, tôi muốn rằng Ngài sẽ thành lập sớm đạo khinh quân của Ngài. Tôi đã trông thấy viên Tham mưu trưởng trẻ tuổi, Tướng Hinh, mà tôi từng biết, đó là một thanh niên vững chãi, và kết quả mà y đã đạt được đều rất đáng khen. Quân đội của Ngài đánh trận giỏi, nó đã mất nhiều người, bởi vì chưa quen đánh trận lắm.
- Thưa Thống chế, tôi xin đa tạ Thống chế về những điều nhận xét vừa qua, tôi mong rằng Thống chế sẽ nhắc lại ở Paris, mà người ta thường không hiểu lắm về nỗ lực của chúng tôi.
- Thưa Hoàng thượng, tôi sẽ không quên điều đó. Nhưng tôi xin Ngài nên đề phòng. Một mặt, nước Pháp đã phải gánh chịu quá nặng, mà nó còn nhiều điều bắt buộc khác nữa. Mặt khác, dù cho công việc tiến triển ra sao, không thể chỉ lấy quân sự mà giải quyết hết được, còn cần phải có sự điều đình khác nữa, và đó là việc của Ngài…
Ý nghĩ điều đình chính trị chẳng phải mới nhen lên lần đầu. Trước khi chính phủ đổ, ông Pinay với sự thỏa hiệp của Tổng thống Auriol đã có ý định dùng cách đi đêm để nói chuyện với phe đối nghịch. Được ông Letourneau báo động, vì ông này thành thực ác cảm với bọn Việt Minh, tôi phải miễn cưỡng chấp nhận sự đi đêm, trên nguyên tắc.
Giáo sư Bửu Hội, một nhà bác vật (kỹ sư) Việt Nam đã ở Pháp lâu năm, được tôi cử vào sứ mạng này. Thủ tướng René Mayer liền lo liệu việc này. Bửu Hội đến Rangoon, để gặp đại diện của Việt Minh ngày 26 tháng 2. Tôi không bao giờ rõ cái gì đã xảy ra, vì câu chuyện này không có đoạn cuối. Nhưng sự việc ấy đã giúp tôi hiểu được tâm trạng của giới chính trị gia Pháp, Tôi sợ rằng, dưới áp lực của dư luận quần chúng, chính phủ Pháp có thể có một sáng kiến mới loại ấy, đẩy tôi vào chỗ sự đã rồi. Vậy thì cần gì đến bao sự hy sinh, và nỗ lực do dân chúng Việt Nam đã bỏ ra trong mấy năm liền? Giả thuyết ấy thật độc ác đối với chúng tôi, cũng như nước Pháp là kẻ đầu tiên đã nản lòng trước những khó khăn bởi tiên thiện bất túc. Thế thì phản ứng của bọn người đầy nhiệt tâm mà chúng tôi đưa vào cuộc kháng chiến này, mà họ phải riêng mình gánh chịu với vài người lính Pháp tất cả những hậu quả tai hại?
Tôi mong rằng có thể nói nỗi khổ tâm ấy với vị đại diện của chính phủ Pháp, nhưng ông Letourneau đến đây như gió, mỗi khi sự có mặt của ông là cần thiết, rồi trở về Pháp ngay do những hoạt động chính trị khác của ông ở Paris. Sự biến dạng của Đại tướng De Lattre bỗng trở lại với tôi ngày nay như một điều tai hại vô cùng.
Đáp lời mời của Thống chế Juin, Tướng Clark đến Sài Gòn ngày 19 tháng 3. Tôi tưởng rằng cuộc thăm viếng này sẽ có lợi. Dù sao nữa, nó cũng giúp cho viên Tư lệnh quân lực Mỹ để xác nhận công khai là: “tính chất tương đồng giữa cuộc chiến ở Triều Tiên và ở Đông Dương y hệt như nhau”.
Sự thăm viếng đầu tiên của Tướng Clark trùng hợp với những triệu chứng đầu tiên cho thấy sự chuyển quân của Việt Minh muốn tiến về Bắc Lào. Tại đây, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp phải đương đầu. Như ở Nghĩa Lộ năm ngoái, người ta mở đầu trận đánh mùa xuân, để di tản Sầm Nưa, thị trấn của tỉnh cùng mang tên ấy, ở sát biên giới nước tôi.
Chính vào lúc đó, có một sự kiện khá lạ lùng. Năm 1953 lẽ ra phải tổ chức tế Nam Giao. Đức bà Từ Cung Thái hậu vẫn có liên lạc với các nhà chiêm tinh cũ của Triều đình báo cho tôi biết ngày giờ thuận tiện để làm lễ. Lúc ấy tôi đang ở Ban Mê Thuột, nên định rằng sẽ cử hành buổi tế ngay tại chỗ, vì con đâu cha mẹ đấy, theo đúng phong tục Việt Nam.
Nơi đất được chọn là làng Boun Trap, cách xa Ban Mê Thuột khoảng trên 10 cây số, trên đường ra Hồ và ở cửa rừng. Tôi cho đem đoàn voi của tôi đến, độ 20 con to lớn đồ sộ, tập trung thành vòng tròn, để như là dâng buổi tế sống vậy. Vì hiện nay đang có chiến tranh, tôi muốn cho đoàn voi của hoàng gia tham dự, để tỏ lòng tôn kính như xưa kia Đức Vua Gia Long đã thu phục sơn hà, voi đã đóng vai trò khai quốc công thần.
Mỗi một con vật đó, có một tiểu sử ly kỳ. Trong bọn này, đặc biệt có con gọi là Buôn Con, tôi từng cỡi thường nhật, là con voi đực cao tới ba mét. Khi tôi tới Ban đơn viên chủ làng Kim Jo Nop cho tôi mượn con voi này để đi săn. Đó là con vật giá trị nhất của ông ta. Thấy con vật cực kỳ tinh khôn, tôi đề nghị với Kim Jo Nop bán lại cho tôi, ông ta từ chối và kêu lên: “Người ta có thể lấy vợ tôi, lấy con gái tôi, nhưng không lấy được voi của tôi...”
Cuối cùng, với sự hỗ trợ với viên công sứ sở tại, sau khi tổ chức nhiều buổi hội hè, viên tù trưởng mềm lòng và bằng lòng bán lại cho tôi, những quản tượng người Rhadé đã đưa nó đến kho sưu tập thú rừng của tôi ở Quảng Trị. Khi đến gần Cam Lộ, họ liền trao cho các quản tượng Việt Nam, mà con voi kiêu hãnh này tòng phục ngay. Tôi cỡi nó hàng tuần.
Theo gương của các tay săn bắn người Bandon, thà chết đói còn hơn là trồng một cây lúa, Buôn Con cũng từ chối làm việc, kể cả việc đi lấy thức ăn. Tôi phải đưa từ Huế ra một con voi cái, để gom góp đồ ăn lại cho nó. Buôn Con chấp nhận và ăn.
Nhưng voi cái lợi dụng lúc đi tìm thức ăn để lảng ra xa và chạy trốn. Có đến sáu lần như vậy. Cứ mỗi lần bỏ chạy, Buôn Con phải cùng viên quản tượng đi tìm, đưa về đoàn. Đến lần thứ bảy, viên quản tượng lại đi tìm, và khi bắt được con voi cái vô kỷ luật này thì bị nó quật chết tươi.
Buôn Con nghe được đủ thứ tiếng mọi, tiếng Việt Nam và cả tiếng Pháp. Nó rất quen thuộc các động tác của tôi, để mỗi khi đi săn, thì bao giờ cũng ngưng lại cách xa con mồi độ 40 thước, để tôi có thể bắn với độ hữu hiệu nhất.
Một hôm, có con hổ nhẩy lên lưng nó từ phía sau, và cào nó rất sâu. Vết thương bị nhiễm trùng. Cần phải giải phẫu nơi bả vai. Người thú y không có thuốc tê. Trong suốt thời gian giải phẫu, người quản tượng nói với nó, bảo nó rằng cần phải chịu đau một chút, vì điều đó có ích cho nó. Nó nằm im không nhúc nhích. Sau đó nó khỏi.
Gặp biến cố năm 1945, bọn Cộng sản chiếm được Quảng Trị, nó không chịu làm gì với họ. Rồi có thể là do chính biến, nó bỏ chạy và vào rừng trong suốt thời gian tôi vắng mặt. Khi tôi trở về năm 1949, nó lại về khu sưu tập thú rừng. Không phải chỉ có một mình nó, nhiều con khác cũng lục tục trở về, có cả quản tượng. Có lẽ bọn này cũng chẳng muốn hợp tác với bọn Cộng sản.
Buôn Con chỉ có một ngà. Voi một ngà rất dữ tợn, nên khi trông thấy voi một ngà là các loài khác đều sợ hãi.
Vào đêm mùa xuân của tháng 4, quãng 3 giờ sáng, bên cửa rừng đầy đuốc cháy sáng, chúng tôi hành lễ Nam Giao. Trong sự lặng thinh của núi rừng, giữa thiên nhiên tươi tốt, tất cả như thân cận gần nhau, nghi thức buổi lễ đã vô cùng cảm động, hơn cả buổi tế ở đàn tế Nam Giao ở Huế. Buổi lễ đã nhuốm màu vĩ đại mà ít khi tôi được cảm thấy. Tôi báo cáo lên Trời Đất sứ mạng của tôi, và buổi tế đã kéo dài cho tới gần sáng. Một con voi đã tỏ ra nóng ruột. Bất thình lình, nó tấn công con voi kế cận. Tất cả vòng tròn voi, như một lâu đài giấy bồi nghiêng ngửa, trở thành lộn xộn và tan rã. Tất cả những người dự lễ, đều mạnh ai nấy chạy, cố gắng tránh những con vật hung hăng phá đổ mọi vật trên đường. Tôi đứng lại một mình ở giữa chỗ hỗn loạn đó, trong bộ đại trào, nhiều khi bị con voi điên chạm phải.
Tôi liền gọi Buôn Con, bảo nó đến gần tôi, và ra lệnh cho nó dẹp cuộc náo loạn này. Nó liền đi gọi từng con một, lần lượt, có khi chỉ bằng vài tiếng hí, để bắt đứng vào hàng ngũ. Trong vòng mươi phút, trật tự lại trở lại như cũ, tôi chưa hề đổi chỗ lần nào. Một số người từng theo tôi dự lễ này, cho rằng đây là một triệu chứng của nhà Trời.
Cần phải nói rằng, vào mùa xuân năm 1953, nếu tình hình quân sự không có gì nghiêm trọng, thì tình hình chính trị lại gia tăng. Ngay trong lãnh vực này, thời gian không làm việc cho chúng tôi.
Mỗi một ngày, chúng tôi đi sâu vào trách nhiệm, mỗi một ngày chúng tôi phải đối phó với chiến tranh, và cũng mỗi một ngày trên bình diện chính trị, chúng tôi gặt hái được kết quả tốt. Nhưng nước Pháp, do quan niệm liên hiệp của khối quốc gia liên kết, vẫn khư khư giữ lấy vai trò chỉ đạo vốn đã lỗi thời rồi.
Quốc vương Sihanouk hành động đầu tiên, theo kiểu của ông, bằng một thái độ đáng khen. Sau khi nắm vững tất cả mọi quyền hành quốc gia trong tay, ông ta sang Pháp vào tháng 4. Tại đây, ông giải thích cho Tổng thống Vincent Auriol và cho chính phủ là quan điểm hệ thống của Liên hiệp Pháp không phù hợp với thực tế. Ngày nay, nếu người ta muốn chúng tôi giải quyết việc dẹp loạn nội bộ, thì chúng tôi cần phải được hoàn toàn độc lập, với tất cả các mặt ngoại giao, quân sự và kinh tế. Nếu lên những điều của Hiến pháp, cần phải sửa đổi, chính phủ Pháp từ chối mọi yêu sách của ông Hoàng chùa Tháp. Ông này rời bỏ Paris để sang Hoa Kỳ, và khi đến Nữu Ước, đã tuyên bố một lời nẩy lửa:
- Nếu người Pháp không thỏa mãn yêu sách của chúng tôi, chúng tôi sẽ đi theo đường lối chung của Việt Minh.
Phản ứng của René Mayer thật bất ngờ. Ngày 9 tháng 5, không cần sự tham gia ý kiến của Hội đồng, tự ý ông ta hạ giá đồng bạc Đông Dương, đang từ 17 quan xuống còn có 10 quan. Biện pháp ấy có hiệu lực nhằm hủy bỏ mọi khả năng hốì đoái, và gây xáo trộn nặng nề cho nền kinh tế của Đông Dương.
Chính phủ Pháp còn đưa ra một quyết định nữa, mà đến khi thi hành, tôi mới được thông báo: Tướng Salan được thay thế bằng Tướng Navarre, mà ngày 21 tháng 5 đã được ông Letourneau đón tiếp ở Sài Gòn. Ba hôm sau, Tướng Salan đến chào biệt tôi ở Ban Mê Thuột. Tôi không giấu ông ta về sự ngạc nhiên của tôi về thái độ của chính phủ Pháp, và sự mù tịt mà họ để cho tôi trong mọi quyết định, làm tôi rất bực mình.
Hôm sau, gặp ông Letourneau, tôi tỏ cho ông ta biết sự bất bình của tôi và yêu cầu ông ta phải định lại nghĩa về Liên hiệp Pháp, càng sớm càng tốt. Bởi vì căn cứ vào các quyết định của chính phủ Pháp vừa qua, với tính cách hai bên đồng thỏa thuận, thì Pháp đã vi phạm tinh thần của hiệp định Paris, tôi yêu cầu bãi bỏ vấn đề tiền tệ và quan thuế giữa bốn bên, và đòi cho Việt Nam quyền Tổng Tư lệnh quân đội Việt Nam và Pháp.
Thật là phí công, vì ông Letourneau chỉ còn là bộ trưởng phụ trách giải quyết các việc thông thường. Chính phủ René Mayer đổ từ ngày 21 tháng 5. Cuộc khủng hoảng nội các kéo dài tới 35 ngày.
Ông Joseph Laniel, tân Thủ tướng nội các, được tấn phong ngày 26 tháng 6, tuyên bố:
- Chính phủ kiên trì tìm một đoạn chót cho những biến cố ở Đông Dương, dù đang là lúc đàm phán được ký kết sau cuộc đình chiến ở Triều Tiên hay bất cứ cuộc đàm phán nào phù hợp với các chính phủ của quốc gia liên kết.
Từ nay, chính phủ Pháp sẽ không có bộ các quốc gia liên kết nữa, nhưng chỉ còn là một vị quốc vụ khanh, trao cho ông Marc Jacquet. Còn ông Paul Reynaud phó thủ tướng nội các, chịu trách nhiệm về các vấn đề Đông Dương do ủy quyền của Thủ tướng. Thật là giản dị, từ nay không ai biết ai là người chịu trách nhiệm. Hơn nữa, chẳng ai là đồng nhất giữa hội đồng chính phủ. Nếu ông Paul Reynaud như sẵn sàng theo đuổi kỳ cùng mục tiêu độc lập, thì nhiều bộ trưởng khác, tập trung quanh ông Georges Bidault, bộ trưởng Ngoại giao lại muốn giữ tình trạng liên minh của Liên hiệp Pháp.
Lập trường thứ nhất của ông Reynaud thắng và ngày 3 tháng 7, ông Reynaud ra một tuyên ngôn, nhân danh chính phủ, trong đó ông nhấn mạnh:
- Nước Pháp muốn kiện toàn nền độc lập và chủ quyền của các quốc gia liên kết, bằng cách thảo luận trên phương diện bình đẳng, về tính chất các sợỉ liên lạc sẽ đặt ra với từng nước một.
Để chứng tỏ sự thay đổi đường hướng này, chính phủ Laniel ngay ngày hôm ấy cử ông Maurico Dejean đang làm đại sứ ở Nhật, vào chức Tổng ủy viên ở Đông Dương.
Tưởng Navarre đến chào tôi, mấy ngày sau khi ông đến ông cho tôi hay những nét chính về kế hoạch hành quân mà ông sẽ đặt ra. Điểm chính vẫn là để lợi thời gian cho quân đội Việt Nam phát triển, trong khi vẫn theo đuổi chính sách bình trị ở những vùng mà chúng tôi đã thu hồi được.
Về vấn đề quân đội của chúng tôi, tôi cũng cho ông biết thêm những yếu tố mới. Ít ngày sau, ông đi Paris để xin phép chính phủ chấp thuận kế hoạch này. Khi ông trở lại, ông cũng không nói gì cho tôi biết cả…
Trong thời gian này, tôi tiếp một phái đoàn trí thức Việt Nam trong đó có Ngô Đình Nhu, là em của Ngô Đình Diệm. Họ đến để “gợi ý tôi để dân chủ hóa chế độ bằng cách lập ra một Quốc hội”.
- Tôi muốn lắm, tôi bảo họ thế, nhưng các anh lập như thế nào?
- Thưa Hoàng thượng, một người Pháp, một nửa Quốc hội này sẽ do dân bầu, còn nửa kia là dọ Quốc trưởng chỉ định.
Lập tức, tôi ngắt lời:
- Không thể như thế được. Nếu các anh muốn có một Quốc hội, chúng tôi sẽ lập ra Quốc hội đó, nhưng nó phải do toàn thể dân chúng bầu ra. Tôi sẵn sàng làm như vậy, nhưng tôi không cần lưu ý các anh nên cẩn thận, và phải chịu mọi trách nhiệm. Trong đất nước này, chỉ có hai người là có thể đặt ra đươc một Quốc hội như vậy: Hồ Chí Minh và tôi.
Bọn này liền có phản ứng, mà tôi đang chờ đợi:
- Thưa Hoàng thượng, đây chỉ là sự gợi ý của chúng tôi, Quốc hội ấy, tất nhiên là tùy thuộc ở Ngài, để thành lập vào lúc nào Ngài cho là thuận lợi.
Tôi quyết định đi Pháp và đến vào ngày 2 tháng 8. Tôi về Cannes với gia đình vài ngày. Cuộc nghỉ ngơi ngắn ngủi ấy giúp tôi thu lượm được tâm trạng của các nhà chính trị Pháp. Hình như là những quyết định do văn phòng tôi hay do chính phủ của Tấm đều bị dư luận Pháp lên án dữ dội.
Đối với những người không bằng lòng này, phần tôi, tôi cũng có những sự bất mãn, và tôi có đầy đủ hồ sơ.
Một người trong bọn họ thì than phiền về chỗ chính phủ Pháp đã yêu cầu miễn thuế xuất cảnh cho các xí nghiệp khai thác, vẫn chưa được xét đến. Thế mà các thuế xuất cảnh này được đánh là để bù vào chỗ thua thiệt của chúng tôi, do sự phá giá đồng bạc. Hồ sơ thứ hai thì nhằm vào quyết định độc đoán của nước Pháp, là không công nhận giá trị văn bằng do trường Đại học Hà Nội cấp, được bằng với văn bằng do trường Đại học Pháp cấp. Quyết định ấy thật tai hại cho các sinh viên Việt Nam muốn tiếp tục theo học ở Pháp. Cuối cùng, có cả hồ sơ nói về đề nghị ngưng bắn với Việt Minh.
Bởi vì tôi biết sự vận động của Bửu Hội không phải là độc nhất. Một phái đoàn con buôn, thuộc giới áp phe, mới đây đã sang Tàu, và kẻ chủ chốt chẳng ai khác hơn là viên cựu Quận trưởng Aubrac, mà sự giao hảo với Hồ Chí Minh ai cũng đã rõ. Tôi được biết vụ này, do những tin đồn, rỉ tai trong các nhà băng Trung Hoa và Việt Nam, là bọn tài phiệt sẽ tìm cách cứu vãn và che chở cho quyền lợi của họ, nếu có cuộc đình chiến xảy ra với Việt Minh, và sự chia đôi nước Việt Nam, như đã từng xảy ra ở Triều Tiên. Dự định ấy có thể có khá lâu rồi, vì tôi được biết có những chuyên viên phòng nhì Pháp (2è bureau) đang tìm những băng cũ thu tiếng nói của Hồ Chí Minh, để có thể kiểm thính được lời tuyên bố mới nói về đình chiến ở đài Việt Minh.
Tôi sợ rằng người Pháp, quá mệt mỏi về cuộc chiến tranh này, bất cần tôi, sẽ đình chiến với Việt Minh,
Thế mà, những điều kiện về thỏa hiệp ở Đông Dương lại rất bấp bênh hơn ở Triều Tiên nhiều. Những cuộc đàm phán cứ kéo dài, và đưa vào ngõ cụt. Ngược lại, nó có một hậu quả tâm lý tức khắc: đặt dân tộc Việt Nam trực tiếp vào chiến tranh, và làm suy giảm sự phát triển của quân đội quốc gia.
Tôi không muốn người ta đẩy tôi vào chỗ Lý Thừa Vân, phải lãnh đủ ở Triều Tiên.
Trường hợp nước Pháp bỏ mặc chúng tôi phải gánh chịu tất cả sức nặng của chiến tranh, thì theo đúng lẽ công bằng, nó phải trao trả chúng tôi nền độc lập hoàn toàn. Nếu nó có những sự điều đình, điều đình cuối cùng, nó phải chừa ra cái cuối cùng này, như vấn đề hối đoái, vấn đề đặc miễn tài phán và quyền Tổng Tư lệnh quân đội. Chính vì lẽ đó, tôi lại sang Pháp.
Tổng thống Vincent Auriol mời tôi đến gặp ông ở Rambouillet. Chúng tôi thảo luận với nhau suốt 48 giờ đồng hồ là ngày 27 và 28 tháng 8. Có các ông Joseph Laniel, Edgare Faure, Georges Bidault, Marc Jacquet và Paul Reynaud cùng tham dự.
Cuộc nói chuyện bắt đầu trong một không khí khó chịu. Tôi giải thích cho Tổng thống Cộng hòa Pháp quốc:
- Lời tuyên bố ngày 3 tháng 7 của ông Paul Reynaud đã làm tôi rất bất mãn. Tôi biết rằng đây chỉ là để chiều lòng Quốc vương Sihanouk. Về phần tôi, tôi không hề xin các Ngài một cái gì. Tất nhiên, lời tuyên bố đó không có lý do và cũng không có ích gì hết. Trái lại nữa, hoàn cảnh của tôi tự nó đã không dễ dàng gì, tôi phải đối phó với các giáo phái đang cố gắng chống lại sự hợp nhất quân đội, với các điền chủ đã hiểu sai lạc ý nghĩa của sự cải cách ruộng đất, với các tay bảo thủ không muốn chấp nhận sự cố gắng canh tân, dân chủ, với các nhà ái quốc quốc gia đang nghĩ là Thủ tướng Tâm thân Pháp, với những đảng viên xã hội đang sợ một sự phục hồi nền quân chủ, với các cơ quan của phủ Cao ủy lúc nào cũng muốn hạn chế chức năng của hiệp ước… Tôi phải đưa quân đội trẻ của chúng tôi ra ngay chiến trường, và hơn nữa, để đánh nhau với Việt Minh. Vậy mà ông Paul Reynaud đã muốn bao gồm tất cả những cái táp nham đó, để tập hợp được với nhau, điều mà không bao giờ có thể thực hiện được, nếu không có một hỗ trợ bên ngoài. Nhiều khi, tôi đã nghĩ rằng Paris muốn tôi gánh chịu hết trách nhiệm cho sự thất bại của nó, nhưng thưa Tổng thống, tôi xin nhắc lại, cái thất bại ấy là thất bại của giải pháp Pháp, chứ không phải của Bảo Đại…
Để trở lại lời tuyên bố của ông Paul Reynaud, một chữ trong đó làm chúng tôi bất mãn. Đó là chữ “kiện toàn nền độc lập” do câu ấy đã chưa nói hết, nếu không cho rằng nói sai…
Ngày hôm sau, chúng tôi lại tiếp tục nói chuyện với Tổng thống Auriol. Ông ta nói đến sự thay thế ông ta, vì sẽ rời điện Elysée vào cuối năm, và không có ý định xin tái nhiệm lần nữa.
- Điều tôi muốn xin Tổng thống, tôi nói, đó là nước Pháp đảm bảo vẫn tiếp tục giúp đỡ chúng tôi, chiến đấu chống với Việt Minh.
Ngay chiều hôm ấy, tôi trở về Cannes.
Vài hôm sau, Tướng Catroux vẫn có cảm tình nồng hậu với tôi từ 1949, đến gặp tôi. Ông đến để cho biết là đem một thông điệp của chính phủ:
- Thưa Hoàng thượng, tôi nghĩ rằng Hoàng thượng nên làm một cái gì, có thể hướng chế độ vào một sự dân chủ hóa…
- Thưa Đại tướng, tôi muốn lắm, nhưng Ngài thử cho tôi biết cách nào?
- Chính phủ Pháp muốn rằng Ngài tập hợp ở SàiGòn các nhà chính trị, và trí thức trên toàn quốc.
Thật lạ lùng, ý kiến này rất trùng hợp với điều mà ông Adlai Stevenson vẫn đã nói với tôi ở Ban Mê Thuột, cũng như điều mong muốn của giới trí thức ở SàiGòn đã bảo tôi, trước khi tôi đi Pháp. Tôi trả lời Đại tướng Catroux:
- Thưa vâng. Xin Đại tướng báo với Paris, là tôi sẽ về Sài Gòn để tập hợp một hội nghị gồm đủ mọi xu hướng. Theo nhãn quan của các Ngài, đó sẽ là trung tâm tập hợp tất cả mọi đối lập. Rồi các Ngài sẽ thấy nó sẽ đưa đến đâu…
Tôi liền cho vời ông Tâm lúc ấy ở Paris, và bảo ông ta đừng có dính líu gì vào vụ này. Nên để cho đại diện của Pháp tìm người để lập hội nghị. Người ta chọn Bửu Lộc.
Ngày 14 tháng 10, Hội Nghị Toàn Quốc Việt Nam họp ở Sài Gòn, và lần đầu tiên, bầu ra ban chấp hành. Đó là Trần Trọng Kim được bầu làm Chủ tịch. Trần Trọng Kim là Thủ tướng chính phủ thành lập dưới thời Nhật tặng tôi nền độc lập vào năm 1945. Sự lựa chọn đã có ý nghĩa.
Biết trước cái gì sẽ xảy ra ở SàiGòn, tôi thảo một lời tuyên bố trong đó nói rõ vị trí của tôi. Lời tuyên bố này được đăng trên báo Le Monde, ngày 15 tháng 10 dưới hình thức một bài phỏng vấn.
Ngày 16 tháng 10, 200 đại diện của hội nghị, trong một không khí rất khích động đã trả lời về câu hỏi đặt ra là: Mối giao dịch giữa Việt Nam và Pháp sẽ đặt ra như thế nào? Họ đã đồng nhất trả lời:
“Nhận thấy rằng Liên hiệp Pháp dựng lên bởi ban Tân hiến pháp Pháp năm 1946, đã trái với đường lối chủ quyền quốc gia, Hội nghị toàn quốc quyết định:
- Nước Việt Nam độc lập, không gia nhập vào Liên hiệp Pháp.
- Sau khi chuyển giao các cơ sở và thẩm quyền vẫn còn do Pháp giữ, nước Việt Nam sẽ ký với nước Pháp một hiệp ước đồng minh, trên căn bản bình đẳng, đối với những nhu cầu và tùy trường hợp, cho một hạn định do chính phủ Việt Nam ấn định”.
Khi bản này được phổ biến, cả Paris sôi sục và bất mãn. Tướng Catroux được người ta cử đến tôi ngay tức khắc, đã kêu lên:
- Thật ô nhục, thưa Hoàng thượng. Tổng thống Auriol xin Ngài trở về SàiGòn tức khắc, và phủ nhận Hội nghị này.
- Thưa Đại tướng, nhưng đó là do các Ngài yêu cầu, do nước Pháp yêu cầu. Tôi không yêu cầu gì. Tôi không có tí trách nhiệm gì trong vụ này, và cũng không có lý do nào để phủ nhận những người mà tôi không yêu cầu họ cái gì. Phần khác, tôi đã ấn định ngày tôi rời Pháp là ngày cuối tháng, tôi không thay đổi chương trình.
Đại tướng ra đi, không khỏi thất vọng nặng nề.
Ngày hôm sau, tôi được biết là Hội nghị, đến kỳ họp thứ hai, dưới ảnh hưởng của Bửu Lộc, đã muốn tu chính lại bản này, bằng cách thêm vào câu: “Nước Việt Nam độc lập không gia nhập vào Liên hiệp Pháp” mấy chữ sau đây: “dưới hình thức hiện tại…” Nhưng các đại diện đã lợi dụng cuộc họp này, để đưa tiếng nói của hội nghị thành tiếng nói của một quốc hội lập hiến.
Đấy, như thế là chúng ta biết sự thiếu kinh nghiệm của các nhà chính trị Pháp. Tôi biết rõ, các đại biểu đã bị lôi cuốn vào ngôn ngữ quá độ, là do một nhóm thiểu số người Bắc, và họ phải hiểu trong lo âu, sự phiêu lưu mà họ muốn lăn vào, sẽ đưa họ tới đâu?
Cũng không cần phải nói là lời nói quá sỗ sàng này, quả đã nhiễm chiều vô ơn bạc nghĩa với nước Pháp. Nhưng nó chứng tỏ một hành động độc lập đối với tôi. Giữa lúc mà đất nước, phải cương quyết đương đầu với chiến tranh, mà đường lối chính trị do chính phủ lãnh đạo, phải đạt những kết quả khả quan tôi không thể nào tha thứ được một hành động như thế.
Đầu tháng 11 năm 1953, tôi trở về Việt Nam, nhưng cố tình không vào SàiGòn, mà lên ngay Ban Mê Thuột.
Tại đấy, mấy hôm sau, tôi cho gọi các đại diện Hội nghị đến.
Họ đã tập trung ở phòng khánh tiết, tự hỏi không rõ phản ứng của tôi sẽ ra sao. Rất vắn tắt, tôi bảo họ:
- Thưa các ông, sự việc đã qua rồi, các ông đã gần như nói rõ vị trí của tôi. Người ta hỏi ý kiến của các ông, các ông đã cho ý kiến. Bây giờ điều tôi chờ đợi ở các ông, là xin chấm dứt cái Hội nghị này, và xin các ông hãy trở về nhà.
Tôi có cảm tưởng rằng, sau lời nói đó đa số các đại biểu, đã thở ra một cách nhẹ nhõm. Dù sao nữa, họ cũng trở về nhà họ, và người ta không còn nghe thấy nhắc đến Hội nghị nữa.
Tại Paris, Thủ tướng Laniel trong hai cuộc bàn cãi quan trọng ở Quốc hội trước tiên và ở Hội đồng Chính phủ, đã cố gắng một cách đáng khen, để dập tắt dần câu chuyện. Ông nhấn mạnh trong cả hai lần rằng:
- Nếu một giải pháp danh dự tìm thấy được, dù dưới địa hạt địa phương, hay địa hạt quốc tế, nước Pháp cũng như Hoa Kỳ tại Triều Tiên, sẽ rất sung sướng để chấp nhận một giải pháp ngoại giao về chiến tranh ở Đông Dương.
Câu nói đó không phải là không gây ra một vài lo lắng cho chúng tôi.
Nhất là, khi tôi được biết qua một sự tiết lộ rằng chính phủ Pháp có ý định mời Pandit Nehru để lên tiếng kêu gọi về hòa bình cho Đông Nam Á, nước Pháp sẵn sàng chấp nhận một cuộc đàm phán Pháp-Hoa dưới sự chủ tọa của nhà trung gian Nehru. Để đền đáp về sự can thiệp này, lãnh tụ Ấn Độ sẽ được trả công một cách xứng đáng, đối với năm nhượng địa của Pháp tại Ấn Độ…
Thật lạ lùng, là ngày 29 tháng 11, trong một cuộc phỏng vấn trên báo Thụy Điển Expressen, Hồ Chí Minh nhắc lại, long trọng rằng Việt Minh rất mong được điều đình với Pháp, và ý muốn của ông ta là sẵn sàng tiếp nhận một sứ giả của một nước trung lập.
Tôi không rõ, Hồ Chí Minh cũng được vô tình biết được tin này, do một sự vô ý tiết lộ nào khác không.
Được chính thức báo cho biết, Tướng Navarre đã dứt khoát về chuyện điều đình, giữ gìn quân đội viễn chinh thật chu đáo.
Thế nhưng, tại hội nghị Bemudes, hai ông Laniel và Bidault nêu vấn đề lên trước người Mỹ và người Anh.
Lời tuyên bố của Hồ Chí Minh trong cuộc phỏng vấn phổ biến ở SàiGòn làm cho tình thế thêm gay cấn. Những nhà quốc gia đều bận rộn khẩn trương.
Ngày 11 tháng chạp, Thủ tướng Tâm gởi tôi một bức công điện xin gặp. Để trả lời, tôi yêu cầu ông ta nên từ chức.
Thật vậy, qua radio, tôi được biết Tâm có ý định lợi dụng vụ hội nghị, để lập ra một Nghị viện, nhưng chẳng ai hoan nghênh. Mặt khác, ông Georges Bidault muốn cho tôi hiểu ngầm là có thể có sự điều đình quốc tế về Việt Nam.
Vì những lý do đó, và để ngăn chặn một khủng hoảng mà tôi cảm thấy, ngày 17 tháng chạp, tôi chấm dứt nhiệm vụ của Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, và ủy nhiệm Hoàng thân Bửu Lộc lập chính phủ mới.
Cũng ngày hôm ấy, tại Paris, Nghị viện họp, và sau tám ngày mà cả, ông René Coty được bầu làm Tổng thống Pháp.