Con Rồng An Nam

Lượt đọc: 59051 | 30 Đánh giá: 9,6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bảo tồn lễ nghi

Được trao cho nhiệm vụ bảo tồn lễ nghi, tôi đã hoàn tất với một sự chân thành khuôn mẫu. Hàng ngày, tôi mang phẩm vật đến kính dâng trước bàn thờ tổ tiên tôi, và không để lỡ dịp ngồi trầm tư trong lăng tẩm giữa vùng quê yên tĩnh đầy thơ mộng của đất thần kinh.

Cũng theo tinh thần ấy, sau khi hỏi ý kiến triều đình, tôi ra một sắc dụ, tôi phong mẫu thân tôi lên chức Hoàng thái hậu.

Một biến cố khác lại xảy ra, làm cho cuộc đời tôi có sự thay đổi quan trọng.

Số là khi tôi vừa từ Pháp trở về, đã có tiếng xì xầm trong hoàng cung để tuyển hoàng hậu cho tôi. Đức Thái hậu, cũng như các vị thượng quan trọng triều ai nấy đều có sẵn người của mình để tiến dẫn. Nhiều lần, tôi đã nhận thấy có sự sóng gió xa xôi, nhưng tôi không để ý mấy. Biết rằng về vấn đề này, việc lựa chọn của Vua chỉ có thể dựa vào đề nghị của triều đình, tôi đợi người ta cho những đề nghị rõ ràng.

Ngược lại, như tôi đã từng nói, tôi đã quyết định là phá tan chế độ đa thê đang thịnh hành ở Việt Nam. Khi đề cử tôi lên làm Đông cung Thái tử, không có gì là khó khăn, vì tôi là con trai độc nhất của cha tôi, nhưng tôi từng biết, có nhiều tấn bi kịch đẫm máu xảy ra vì chuyện tranh chấp kế vị, nhiều khi có tính cách hèn hạ xấu xa, giữa anh em ruột, hay anh em khác mẹ, mà tôi muốn tránh vết xe đổ ấy.

Hai cụ Charles cũng rất quan tâm đến sự tìm cho tôi một người vợ. Họ mong rằng vị Hoàng hậu này cũng phải có một nền học vẩn như tôi.

Vì vậy, nhân dịp cuối năm, tôi đi nghỉ mát ở Đà Lạt vài ngày, con gái của quan Toàn quyền Pierre Pasquier cũng nghỉ mát ở đó. Tại khách sạn Lang Bian đại sảnh đường, Quan Toàn quyền có giới thiệu tôi với một thiếu nữ Việt Nam đi cùng với cụ bà Charles, cô Marie Thérèse Nguyễn Hữu Hào, con gái nhà điền chủ Nguyễn Hào. Theo đạo Công giáo, cô này mới mười tám tuổi, vừa mãn khóa ở Couvent des Oiseaux ở Pháp.

Sau lần gặp gỡ đầu tiên ấy, thường thường chúng tôi gặp lại nhau một cách bất ngờ. Marie Thérèse rất thích thú ngày du học tại Pháp. Cũng như tôi, cô rất yêu âm nhạc và các môn thể thao. Cô có vẻ đẹp yểu điệu của người miền Nam.

Trong triều đại của chúng tôi, vì tìm kiếm người vợ cho Vua, hướng nhiều vào con gái miền Nam. Bởi vì đối với người Trung hay Bắc kỳ, Nam kỳ vẫn được ít nhiều coi như “đất hứa”. Sau vài lần trò chuyện, một tình cảm êm dịu đã nẩy nở ra giữa chúng tôi, và chúng tôi hứa hẹn sẽ gặp lại nhau.

Khi trở về Huế, tôi có kể lại cho mẫu thân tôi chuyện này, và ý định của tôi. Bà không mấy hoan nghênh, khi biết cô theo đạo Công giáo và cũng Tây học như tôi. Bà muốn rằng tôi nên lấy được người vợ biết tôn cổ, biết đạo tam tòng tứ đức. Mặt khác, bà cũng rất quan tâm về vấn đề giáo dục con cái theo đạo Thiên chúa. Thế nhưng, đây không phải chỉ là vấn đề hoàn toàn tôn giáo, mà là một vấn đề quốc gia. Bởi vì, nếu trẻ con sanh ra do cuộc hôn nhân này, lại theo đạo Công giáo, thì nay mai đây, người kế vị lên làm vua, làm sao mà có thể biết phụng thờ tôn miếu, và làm lễ tế Nam giao? Triều đình cũng rất bỡ ngỡ. Các vị Tứ trụ triều đình bàn cãi sôi nổi. Lần gặp gỡ về sau, với cô Marie Thérèse, tôi ngỏ ý muốn lấy cô, tôi quyết định bất chấp cái thủ tục cổ lỗ kia, và sẽ báo cho triều đình ý định này.

Ngày cưới là ngày 20 tháng 3 năm 1934. Đám cưới được cử hành trước triều đình và các đại diện của Pháp. Đó là một vấn đề mới mẻ, vì từ xưa đến nay chưa bao giờ như vậy. Tôi cũng có quyết định tấn phong ngay cho vợ tôi, tước hiệu là Hoàng hậu, sau khi cưới, điều mà từ xưa, mẫu thân tôi chỉ được phong, sau khi phụ hoàng đã chết.

Tôi tấn phong cho vợ tôi là Nam Phương Hoàng hậu, có nghĩa là hương thơm của miền Nam, đồng thời cũng theo một sắc dụ, tôi cho phép Hoàng hậu được mặc áo màu vàng da cam, vốn chỉ dành riêng cho Hoàng đế.

Lễ tấn phong được cử hành ở ngay điện Cần Chánh, là nơi vẫn dùng để thiết đại triều. Trước sân chầu có trải thảm đỏ và vàng, vẫn dùng để Hoàng đế bước lên. Các quan triều thần đều tập họp đủ mặt. Hoàng hậu vận trào phục màu vàng, đầu đội mũ kết trân châu bảo ngọc, đi hia mũi nhọn, tay cầm phết ngà, từ từ tiến vào, qua hai hàng quan triều thần chào đón, để tiến tới trước ngai, tôi đang ngồi đợi. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước tôi, một thiếu nữ đã một mình tiến cung vua như vậy.

Khi đến trước mặt tôi, Hoàng hậu khấn đầu làm lễ vái ba vái, rồi ngồi sang bên phải tôi, trên chiếc ngai vàng thấp hơn. Lễ tấn phong hoàn tất rất nhanh chóng. Tôi đưa hoàng hậu về điện Kiến Trung và ở đấy với tôi.

Đến chiều, Hoàng hậu tới triều kiến Đức Hoàng thái hậu. Đức bà rất hoan hỉ và tiếp đón niềm nở. Một kim sách được lập cho Hoàng hậu, và sắc chỉ tấn phong được đem ra niêm yết ở tòa sắc chỉ.

Trước khi lấy vợ, tôi đã cho sửa chữa lại điện Kiến Trung cổ kính thành cung điện tối tân, đầy đủ tiện nghi. Đây là ngôi nhà được trang bị kiểu Âu Châu, có nhiều phòng ngủ, một buồng ăn và phòng làm việc. Theo sự yêu cầu của tôi, Hoàng hậu sẽ phụ trách các vấn đề xã hội. Sau khi xem xét các phòng ốc, Hoàng hậu tỏ ra rất thích thú về sự xếp đặt này của tôi.

Chiều ngày cưới, tôi mời hai cụ Charles đến dự tiệc. Sau đó, biết rằng mình đã hoàn tất nhiệm vụ, hai cụ trở về Pháp.

Thường xuyên, chúng tôi ở đây, vì chưa có biệt điện riêng. Triều đình chỉ có tại đây một vị đại diện miền núi, vị này cũng chẳng được mang danh hiệu quan tước gì. Chúng tôi liền cho xây một cung điện ở Đà Lạt.

Ít lâu sau khi cưới, tôi có gửi cho Đức Giáo hoàng Pie XI một bức thư và do chính phủ Pháp chuyển đi. Bức thư nói rằng, người Việt Nam chưa có ai làm sứ thần cạnh điện Vatican.

Khi có ý nghĩ đó, tôi đã ngỏ ý với cụ Charles và với quan Toàn quyền Pasquier thì hai vị này rất hoan nghênh ý định đó. Bức thư này không những đề cập đến vấn đề hôn nhân của tôi, và việc giáo dục các con tôi sau này, lại còn chứng tỏ một sự hóa giải một tiềm thức hận thù xảy ra cả trăm năm trước, đồng thời tạo sự gặp gỡ của Tây phương với Đông phương, qua nước Việt Nam coi như đất của tương phùng, và qua cá nhân tôi vừa là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng, được trau dồi bởi hai nền văn hóa Đông và Tây.

Theo tinh thần của dân tộc tôi, vốn chuộng hòa bình, đầy đức tính khoan hòa, ngôi biệt thự này quả nhiên là đất hiền hòa, an ổn, yên lặng tuyệt vời. Nếu trong nhiều hoạt động căn cứ vào đạo Khổng, đừng nên quên rằng Khổng Tử không phải là nhà sáng lập ra tôn giáo, mà chỉ là nhà hiền triết. Đạo Khổng không từ bỏ tôn giáo nào, trừ các loại dạy người ta hận thù và sự gây rối, làm loạn xã hội.

Cha tôi, Hoàng đế Khải Định theo đạo Phật, nhưng trong cung điện, Ngài không được tỏ ra là theo Phật giáo. Để có thể thờ Phật, Ngài phải cho xây riêng một ngôi chùa, ở ngoài hoàng cung, nơi có cung điện mùa hè của người. Các nhà sư không bao giờ được vào cung, và riêng tôi, tôi chưa bao giờ có liên lạc gì với họ. Trong thời gian tôi được đăng quang lên làm vua, Đức Khâm mạng Tòa Thánh La Mã Drapier có đến dự các buổi lễ chính thức, đó chỉ là Ngài đứng trong danh sách quan khách người Pháp chứ không phải nhân danh chức vụ tôn giáo của Ngài:

Trong cung điện nhà Vua, chỉ có một vị Thánh: Đó là Thiên tử, tức con của Ngọc hoàng Thượng đế.

Trong lịch sử nước tôi, thường có sự lẫn lộn giữa quyền năng chính trị với quyền năng tôn giáo. Những sự lẫn lộn đó được tập trung cả vào bản thân của Hoàng đế vừa là con trời vừa là đại giáo chủ, vì tính cách thiêng liêng Hoàng đế giữ tất cả mọi quyền năng tối thượng của thế gian.

Không thể chối cãi được rằng sự đó tạo nên một vấn đề tế nhị đối với người có đạo Thiên chúa, vốn trên nguyên tắc, chịu ảnh hưởng quyền năng của Giáo hoàng.

Vì tính chất khoan dung, nên các quan có đạo Thiên chúa được miễn dự tế Nam Giao, do Hoàng đế giữ nhiệm vụ đại giáo chủ hành lễ. Đổỉ với dân chúng Việt Nam cũng như đối với vua, Trời là bậc chí tôn, độc nhất vô nhị, không hình hài. Người ta khấn vái, nguyện cầu, vì tất cả đều nằm trong tay Ngài, Ngài là đấng Tạo hóa, bất diệt và thuần nhất.

Tôi sẽ trở lại vấn đề này, khi tôi tả về tế Nam Giao, lúc đó Vua trở thành bậc chí tôn để toát ra tính chất thần thánh của mình.

Trong thời gian theo học ở Pháp, tôi đã đi thăm nhiều nhà thờ, đã thăm nhiều thánh địa, như Lourdes hay Lisieux, do ý muốn của mình. Rồi trong thời gian học tập, nhất là khi học ở đại học đường Khoa học Chính trị PO, tôi rất chăm chú về khoa kinh tế chính trị học, và lịch sử của dân tộc. Mặc dù đọc rất nhiều sách về triết học, và biết khá nhiều các phương pháp cai trị cổ kim, tôi chẳng bao giờ quan tâm đến các tài liệu này, hay học vấn này. Đến nỗi rằng cho tới bây giờ, tôi chỉ mê say với nền học vấn tôi được thụ giáo trong thời thơ ấu mà thôi.

Người ta thường bàn luận với nhau muốn biết người Việt Nam có là dân tộc sùng đạo hay không. Đại chúng ở nước tôi rất thực tế, chăm chỉ, và biết chịu kham chịu khổ, và phần nhiều ít học. Sự thích ứng dễ dàng với đời sống trong cõi bụi trần này, và thiếu chất liệu muốn bay cao, đã đưa họ vào sự can cam phận, chẳng thiết mơ màng đến chuyện tôn giáo mịt mù, cũng như đạo trung dung của Khổng Tử dạy họ sự khôn ngoan hiền hòa, chẳng để cho họ nghĩ gì đến điều bí hiểm cao vời nào khác. Nhiều người lại nghĩ rằng, họ hiền hòa và bình thản trước sự chỉ tin tưởng vào sự thờ cúng tổ tiên, biết thích ứng với thiên địa trời đất, nhiều khi trở thành dị đoan, tin vào bói toán, tử vi, đấy chính là biểu hiện của sự khao khát tâm linh, của cõi hư huyền. Tôi không chấm dứt sự bàn luận, nhưng tôi muốn nói rằng ngày nay, đối với một nước nếu không có một căn bản học vấn có thể biết phân biệt những gian nguy hay những mâu thuẫn này nọ, thì không thể vươn lên được, nhất là trên lãnh vực kinh tế. Tinh thần của nước tôi là tinh thần bất di bất dịch từ ngàn xưa cũ, lấy đạo hiếu trung làm căn bản, và nằm trong cái gọi là đạo trung dung của Khổng Phu Tử. Được gọt dũa trong nền triết học ấy, chúng tôi thấy dính liền vào với tổ tiên. Thờ cúng tổ tiên là tập quán thiêng liêng, ăn sâu bắt rễ ngay trong tâm khảm mình, và được biểu lộ ra trong những ngày giỗ tết hay đình đám hội hè.

Như đối với ngày giỗ ông nội tôi, là thân sinh ra cha tôi, Hoàng đế Khải Định đã ra ở lăng của Ngài mấy ngày. Khi tôi còn ở Huế, tôi thường đến lăng của các tổ tiên tôi. Lăng của Vua Gia Long thì trơ trụi, không có đền đài, y như hình thái người chiến sĩ gội đất nằm sương. Lăng của Vua Minh Mạng và Tự Đức thì tráng lệ nguy nga, đúng là lăng tẩm của bậc vua chúa mà triều đại đã đạt tới mức thịnh vượng tột cùng. Lăng của Hoàng đế Khải Định, cha tôi, thì giản dị, nằm trên một ngọn đồi khá xa, đó là mộ của người hiền lành và tốt.

Hiện nay, sự tế lễ công khai đã được bãi bỏ.

Chỉ còn tại Phú Cam, theo gương trinh nữ trong đền liệt thánh, mẫu thân tôi, qua bao cuộc biển dâu của những trang sử bi thương, vẫn lủi thủi làm bổn phận mình đèn nhang cúng vái. Ôi ngọn đèn leo let, tượng trưng cho linh hồn của hoàng cung còn rơi rớt lại.

Trung dung, xả kỷ vị tha, khoán hòa đại độ… Làm cách nào mà sự xâm nhập của Gia tô giáo vào Việt Nam có thể rạng danh được trước trang sử bi thương đầy máu lệ, với  bao tử vì đạo để đem lại cho cộng đồng Thiên chúa giáo ở nước tôi danh hiệu: Trưởng nữ của đạo Thiên chúa ở Viễn Đông?

Những nhà truyền giáo đầu tiên đến bờ biển tôi, đã áp dụng một cách thức khéo léo là làm quân sư cho các bậc vua chúa. Cách thức ấy rất thành công ở Trung Hoa, cho đến ngày mà các Hoàng đế Trung Hoa tỏ ra chán ngây với trò khoe khoang khoa học của họ. Ở Việt Nam thì Cha Bá Đa Lộc mà chúng ta đã biết rõ vai trò của ông ta đối với Vua Gia Long, là một vị đại diện cuối cùng tốt đẹp của họ.

Tuy nhiên, Cha Bá Đa Lộc khi nhân danh Vua Gia Long, ký hiệp ước Versailles vẫn không quên chú trọng về hình thái cụ thể của sự truyền giáo dài hạn. Thế thì, nếu có nhà giáo sĩ đi trước, phần đông họ đã theo chân bọn thám hiểm hay bọn người đi cướp đất đai để làm thuộc địa. Giữa bọn khuếch trương thuộc địa với sự bành trướng của giáo hội hải ngoại, đã có sự liên lạc chặt chẽ. Các tàu chiến giương oai ở ngoài khơi để làm phách cho đẹp mặt người da trắng, làm áp lực để buộc ký những hiệp ước chẳng phải chỉ liên can đến sự truyền giáo, mà còn mang theo nhiều ý đồ mờ ám, xấu xa, chính là những nguyên nhân cho phản ứng bài ngoại, mà nạn nhân là các nhà truyền giáo nhiều hơn. Sự thù ghét, khinh bỉ, do thái độ của họ, đã thúc đẩy bọn người đi kiếm đất, bọn thực dân, đã gây nên bao thảm trạng đẫm máu về thế kỷ mười chín.

Ngoài những khó khăn nổi ấy, còn phải kể đến những khó khăn chìm, khổ nhận ra được. Như tục thờ phụng tổ tiên, tôn thờ Khổng Tử, có nhiều nghi thức như nghi thức tôn giáo đã làm người ta hiểu lầm chính là tôn giáo chính cống. Thực sự, đây chỉ là một hình thái trịnh trọng nằm trong nghi thức và tinh thần, bọn giáo sĩ và các tông đồ của họ lại cho là mê tín, dị đoan. Sự tách biệt xa vời đó đưa đến phong trào bài đạo rất tai hại trong thế kỷ mười bảy và mười tám. Phong trào này thúc người ta đến chỗ cảnh giác những cái gì có thể coi là sự xâm nhập của Thiên chúa giáo, giả trá dưới phong tục thờ cúng của Việt Nam. Phải lương thiện mà nói rằng, giả trá bắt chước để né tránh này cũng chẳng giải quyết được gì. Nhiều giáo sĩ, như trường hợp Cha Bá Đa Lệc nghĩ rằng, nên giảm bớt sự cứng rắn bài giáo, giết hại các nhà truyền giáo, ở thế kỷ mười tám. Nhưng chẳng ai nghe cả. Vấn đề này mỗi ngày gây nguy hại mãi lên, làm tình thế thêm găng, và đào một hố chia rẽ sâu đậm giữa Đông và Tây phương.

Ngày nay, vấn đề đã được giải quyết. Việc thờ cúng Khổng Tử, cũng như sự thờ phượng gia tiên, có thể đi song phương với Thiên chúa giáo. Đến độ rằng, có một giáo sĩ Thiên chúa giáo gốc Đông phương đã có thể tuyên bố: “Tôi là người theo đạo Thiên chúa vì tôi theo đạo Khổng”.

Sự tôn kính linh hồn của người Việt Nam khi sửa soạn về bên kia thế giới được thể hiện qua các tang lễ, vốn được sửa soạn kỹ lưỡng từng li từng tí một. Nhà thờ Công giáo cũng bắt chước nghi lễ trịnh trọng này để cho phù hợp với nguyện vọng của dân chúng. Cũng như người ta không lấy làm lạ là nhiều gia đình Việt Nam đã lập bàn thờ tiên tổ, phía trên có treo tượng Thiên chúa hay thánh giá. Sự tôn thờ tổ tiên và Khổng Tử chỉ làm gia tăng tinh thần gia tộc, và nhờ đó làm nở nang nền xử thế của công dân giáo dục. Bởi vì khi hiểu thấu đáo tinh thần đạo hiếu, cũng như tam cương ngũ thường của Khổng Mạnh, thì có một tiềm năng mạnh mẽ, để tin tưởng, mà biết tiến tới, dẩn thân.

Tổ tiên là những bậc tiền bối, nối liền đời trước đến đời sau, và trở thành bậc trưởng thượng để con cháu tiếp theo. Như thế, đàn con mỗi ngày một trưởng thành cứ theo vết chân cũ của người xưa mà đời lại nối dòng.

Tôi rất sung sướng là bức thư tôi gởi cho Đức Giáo hoàng Pie XI đã có thể tạo sự hiểu biết giữa Đông phương và Tây phương, dù chỉ trong muôn một. Tôi tin rằng, chính sự thông cảm này đã có trong tôi một mầm quí báu.

Vì vậy, sau đó rất lâu, khi tôi trở thành vua cầm quyền thực sự vào năm 1949, viên Đại sứ đầu tiên được cử ra ngoại quốc, chính là viên thần Việt Nam cạnh điện Vatican.

« Lùi
Tiến »