Kính gửi:
Ngài Thủ tướng Ôn Gia Bảo
Có lẽ đang say giấc nồng
Trong Văn phòng Thủ tướng
Tại Trung Quốc
Người gửi:
Nhà giáo dục nửa đêm của ông ấy
Về những vấn đề khởi nghiệp:
“Cọp Trắng”
Thưa Thủ tướng.
Vậy.
Tiếng cười của tôi nghe thế nào?
Nách của tôi có mùi gì?
Và khi tôi nhe răng, có đúng là - như ngài ắt hẳn đang mường tượng trong đầu - miệng tôi rộng ra như quỷ há mồm?
Ôi, tôi có thể nói không ngưng nghỉ về bản thân, thưa ngài. Tôi có thể hể hả cho rằng mình không phải hạng sát nhân tầm thường, mà là kẻ giết chết chính ông chủ của mình (người gần như là ông bố thứ hai), đồng thời có thể đã góp phần vào cái chết của mọi thành viên gia đình ông ấy. Một kẻ giết người hàng loạt thực sự.
Nhưng tôi không muốn nói liên tu bất tận về bản thân. Ngài nên lắng nghe mấy tay doanh nhân Bangalore này - doanh nghiệp đầu tay của tôi đã kí hợp đồng với American Express, doanh nghiệp đầu tay của tôi điều hành phần mềm tại bệnh viện này ở London, vân vân. Tôi ghét tất cả thái độ Bangalore khốn khiếp đó, cho ngài biết.
(Nhưng nếu ngài nhất thiết phải tìm hiểu thêm về tôi, chỉ cần vào trang web của tôi: www.whitetiger-technologydrivers.com. Đúng đấy! Đó là đường dẫn của doanh nghiệp đầu tay của tôi!)
Vậy nên tôi chán nói về mình rồi, thưa ngài. Tối nay, tôi muốn kể về một người đàn ông quan trọng khác trong chuyện của tôi.
Ông chủ cũ.
Khuôn mặt ông Ashok tái hiện trong tâm trí tôi như nó vẫn hiện lên mỗi ngày khi tôi còn hầu hạ ông ấy - trong kính xe chiếu hậu. Đó là một khuôn mặt đẹp đến nỗi đôi khi tôi không thể rời mắt. Hãy hình dung một người cao trên mét tám, vai rộng, với vầng trán quyền lực, uy nghi của một địa chủ; song lại luôn lịch thiệp (hầu như luôn luôn - trừ lúc ông đấm vào mặt bà Pinky) và tốt bụng với những người xung quanh, ngay cả người hầu và tài xế.
Bây giờ một khuôn mặt khác xuất hiện, cạnh khuôn mặt ông ấy, trong lăng kính kí ức. Bà Pinky - vợ ông ấy. Từng chi tiết đẹp không kém chồng; tựa hình ảnh nữ thần ở đền thờ Ấn Độ giáo Birla tại New Delhi, cũng đẹp như nam thần mà bà lấy làm chồng. Bà thường ngồi ở ghế sau, hai vợ chồng thường nói chuyện với nhau, và tôi thường chở họ đi bất kì nơi nào họ muốn, trung thành như vị-thần-đầy-tớ Hanuman phụng sự ông bà chủ mình, Ram và Sita.
Nghĩ đến ông Ashok làm tôi thấy mủi lòng. Ước gì có ít khăn giấy ở đây.
Có một thực tế kì lạ thế này: khi đã sát hại một ai đó, ta sẽ cảm thấy mình có trách nhiệm với cuộc sống của người ấy - thậm chí cảm giác muốn chiếm hữu người ấy. Ta biết về người ấy rõ hơn cha mẹ người ấy, họ biết hình hài bào thai của người ấy, còn ta biết hình hài thi thể người ấy. Chỉ có ta mới kết thúc được câu chuyện đời người ấy; chỉ có ta biết tại sao cơ thể người ấy phải bị ném vào lửa trước thời điểm thực sự, và tại sao những ngón chân người ấy quắp lại, chống chọi để được ở lại thế gian này thêm một giờ nữa.
Thực ra thì, dù tôi đã giết ông ấy, ngài sẽ không nghe tôi nói một câu tệ bạc nào về ông ấy cả. Tôi đã bảo toàn danh dự cho ông ấy khi còn là đầy tớ, giờ thì tôi đã (về mặt nào đó) là chủ ông ấy, tôi cũng không vì thế mà thôi đứng ra giữ thể diện cho ông ấy. Tôi nợ ông ấy quá nhiều.
Ông ấy và bà Pinky thường ngồi ở ghế sau, tán gẫu về cuộc sống, về Ấn Độ, về nước Mỹ - bằng tiếng Hindi và tiếng Anh - và nhờ nghe lén họ, tôi cũng học được nhiều về cuộc sống, về Ấn Độ, về nước Mỹ - kèm một chút tiếng Anh. (Có lẽ nhiều hơn tí chút so với tiếng Anh mà tôi khoe mẽ từ đầu thư đến giờ...!) Nhiều ý tưởng xuất chúng của tôi thật ra là vay mượn từ chủ cũ hoặc anh trai ông ấy hoặc một người nào đó mà tôi chở trên xe. (Tôi thú nhận, thưa Thủ tướng: tôi không phải là kẻ suy nghĩ ra trò - nhưng tôi là một người lắng nghe tuyệt vời.) Thực sự thì, cuối cùng ông Ashok và tôi cũng có chút bất đồng về một thuật ngữ tiếng Anh - income tax[11] - và mọi chuyện trở nên xấu đi giữa hai chúng tôi, nhưng đoạn lộn xộn đó nằm ở phần sau câu chuyện. Ngay lúc này quan hệ chúng tôi ở trạng thái tốt nhất: chúng tôi chỉ mới gặp nhau, ở nơi xa Delhi, thành phố có tên gọi Dhanbad.
Tôi đến Dhanbad sau khi bố tôi qua đời. Ông đã bị ốm một thời gian, nhưng ở Laxmangarh chẳng có một bệnh viện nào, cho dù có đến ba viên gạch khởi công khác nhau cho một bệnh viện, do ba chính trị gia khác nhau đặt xuống trước khi diễn ra ba cuộc bầu cử khác nhau. Vào buổi sáng hôm đó, khi bố bắt đầu ho ra máu, anh Kishan và tôi đưa ông qua sông bằng thuyền. Chúng tôi liên tục lấy nước sông rửa miệng cho ông, nhưng thứ nước ấy ô nhiễm đến mức làm ông khạc ra nhiều máu hơn nữa. Một ông phu xe ở bờ bên kia sông nhận ra bố tôi; ông chở ba chúng tôi miễn phí đến bệnh viện nhà nước.
Ba con dê đen nằm trên bậc tam cấp dẫn lên tòa nhà sơn trắng bạc thếch; mùi phân dê phảng phất từ cánh cửa để mở. Kính cửa sổ vỡ gần hết; một con mèo ngó chúng tôi trân trối từ cánh cửa sổ rạn nứt.
Một tấm bảng trên cổng đề chữ:
BỆNH VIỆN PHỔ THÔNG MIỄN PHÍ LOHIA
ĐƯỢC ĐẢNG VIÊN ĐẠI XÃ HỘI KHÁNH THÀNH
MỘT BẰNG CHỨNG THIÊNG LIÊNG CHO THẤY NGÀI GIỮ LỜI
Anh Kishan và tôi khiêng bố vào, giẫm lên những cục phân dê rải đầy như chòm sao đen trên nền đất. Chẳng có bác sĩ nào trong bệnh viện. Tay hộ lý, sau khi được chúng tôi giúi cho mười rupee, nói rằng bác sĩ có thể đến vào buổi tối. Những cánh cửa vào các phòng trong bệnh viện mở toang; những chiếc giường với các thanh kim loại bật ra ngoài, con mèo bắt đầu gừ gừ khi chúng tôi vừa đặt chân vào phòng.
“Ở trong phòng không an toàn - con mèo đó đã ngửi thấy mùi máu.”
Hai người đàn ông Hồi giáo đã trải một tờ báo xuống đất và đang ngồi trên đó. Một người có vết thương hở ở chân. Ông ta mời chúng tôi ngồi xuống với ông và người bạn. Anh Kishan và tôi hạ bố xuống mấy tờ báo. Chúng tôi chờ ở đó.
Hai bé gái đến ngồi xuống phía sau chúng tôi; cả hai đứa đều có mắt vàng quạch.
“Bệnh vàng da. Nó đã lây cho em.”
“Tao không có. Mày lây cho tao. Giờ thì hai đứa sẽ chết!”
Một ông già với con mắt dán bông băng đến ngồi xuống phía sau hai bé gái.
Hai người đàn ông Hồi giáo trải thêm nhiều tờ báo xuống sàn, hàng dài những con mắt bị đau, vết thương hở và những cái miệng mê sảng ngày một dài ra.
“Tại sao ở đây không có bác sĩ vậy bác?” Tôi hỏi. “Đây là bệnh viện duy nhất ở hai bên bờ sông mà.”
“Thì, chuyện là thế này,” người đàn ông Hồi giáo già hơn nói. “Một viên thanh tra y tế nhà nước có nghĩa vụ kiểm tra xem bác sĩ có đến các bệnh viện làng thế này không. Hễ chức vụ này bị khuyết, Đảng viên Đại Xã hội lại cho tất cả bác sĩ biết ông đang có một cuộc đấu giá vị trí đó. Mức giá hiện hành cho vị trí ấy là khoảng bốn trăm nghìn rupee đấy.”
“Nhiều thế ạ!” tôi nói, mồm há hốc.
“Chứ sao? Làm trong dịch vụ công tiền nhiều lắm! Cháu cứ tưởng tượng ta là bác sĩ nhé. Ta chạy vạy mượn tiền, rồi đưa cho Đảng viên Đại Xã hội trong lúc chạm chân ông ta. Ông ta cho ta công việc này. Ta tuyên thệ trước Thượng đế và Hiến pháp Ấn Độ, và sau đó ta gác giày lên bàn ở thủ đô.” Ông nâng chân gác lên một chiếc bàn tưởng tượng. “Kế tiếp, ta gọi toàn thể bác sĩ nhà nước cấp thấp mà ta có nghĩa vụ giám sát vào phòng ta. Ta lôi quyển sổ chấm công ra. Ta gọi to, ‘Bác sĩ Ram Pandey.’ ”
Ông ta chỉ tay vào tôi; tôi làm bộ vào một vai trong vở kịch.
Tôi chào: “Vâng, thưa ngài!”
Ông xòe bàn tay trước mặt tôi.
“Bây giờ, anh - Bác sĩ Ram Pandey - sẽ vui lòng để một phần ba tiền lương của anh vào tay ta. Ngoan lắm. Đáp lại, ta làm việc này.” Ông đánh dấu vào quyển sổ tưởng tượng. “Anh có thể giữ phần lương nhà nước còn lại rồi đi làm tại các bệnh viện tư đến hết tuần. Quên cái làng đi. Vì theo quyển sổ này anh đã đến đó. Anh đã chữa trị cái chân bị thương của ta. Anh đã chữa lànhbệnh vàng da của con bé đó.”
“Ái chà,” những bệnh nhân thốt lên. Ngay cả bọn hộ lý, lúc bấy giờ đã vây quanh chúng tôi để nghe, cũng gật gù ra chừng hiểu biết. Những câu chuyện về sự mục ruỗng và biến chất bao giờ cũng là những câu chuyện hay nhất, phải không nào?
Khi anh Kishan cho ít thức ăn vào miệng bố, ông khạc nó ra cùng với máu. Cơ thể đen bóng săn chắc của ông lên cơn co giật, nôn máu ra tứ phía. Hai đứa con gái mắt vàng thét toáng lên. Những bệnh nhân khác dịch ra xa bố tôi.
“Ông ấy bị bệnh lao phải không?” người Hồi giáo già hơn hỏi trong lúc đuổi ruồi khỏi vết thương trên chân.
“Chúng cháu không biết, thưa bác. Ông bị ho khá lâu rồi, nhưng cũng chẳng biết bị bệnh gì.”
“Ôi, vậy là bị lao rồi. Ta từng thấy nhiều người phu xe bị bệnh này. Công việc vắt kiệt sức họ. Thôi, chắc là bác sĩ sẽ đến vào tối nay.”
Nhưng bác sĩ không đến. Khoảng sáu giờ chiều hôm ấy, như quyển sổ chấm công hẳn đã báo cáo chính xác, bố tôi vĩnh viễn được chữa khỏi bệnh lao. Bọn hộ lý bắt chúng tôi lau chùi sạch sẽ những chỗ bố làm bẩn rồi mới đưa thi thể ông đi. Một con dê trắng đi vào, ngửi khụt khịt trong lúc chúng tôi lau máu trên sàn nhà. Bọn hộ lý xoa đầu nó, cho nó ăn một củ cà rốt múp míp trong khi chúng tôi lau sạch chỗ máu loang lổ trên sàn.
Đám cưới của anh Kishan diễn ra một tháng sau lễ hỏa táng.
Đó là một đám tốt. Chúng tôi là nhà trai, mặc sức khoắng nhà gái. Tôi nhớ chính xác của hồi môn mà chúng tôi yêu cầu nhà gái phải giao, nghĩ đến nó thôi cũng đủ làm tôi chảy nước dãi: năm nghìn rupee tiền mặt, đều là những tờ bạc không dính đất, mới cáu từ nhà băng, cộng với một chiếc xe đạp hiệu Hero, cộng với một sợi dây chuyền vàng dày cộm cho Kishan. Sau đám cưới, bà Kusum lấy năm nghìn rupee, chiếc xe đạp Hero và sợi dây chuyền vàng; Kishan có hai tuần để đút cái ấy vào người vợ, rồi anh bị buộc lên đường đến Dhanbad. Anh họ Dilip và tôi cùng đi với anh. Ba chúng tôi tìm việc tại một quán trà ở Dhanbad - chủ quán đã nghe tiếng lành về anh Kishan tại quán trà ở Laxmangarh.
Phước báu cho chúng tôi, ông ta chưa nghe nói gì về tôi cả.
Ngài hãy đi vào bất kì quán trà nào dọc sông Hằng, nhìn những người đàn ông làm trong các hàng quán đó - tôi gọi là đàn ông, nhưng đúng hơn phải gọi họ là người nhện, lổm ngổm bò giữa lối đi và bên dưới những cái bàn với giẻ rách trong tay, những con người bị vắt kiệt trong những bộ đồng phục nhàu nát, bơ phờ tiều tụy, râu ria tua tủa, tuổi đã ba mươi, bốn mươi song vẫn là những “thằng nhóc”. Nhưng số trời đã định họ phải làm tốt công việc của mình - với sự trung thực, tận tụy và chân thành, như cách mà Gandhi chắc chắn sẽ làm.
Tôi làm việc hầu như không trung thực, thiếu tận tụy mà cũng chả có chân thành gì ráo - vì thế quán trà hóa ra lại là một trải nghiệm vô cùng bổ ích.
Thay vì lau vết bẩn trên bàn và đập than cho vào lò, tôi dùng thời gian của mình tại quán trà ở Laxmangarh để bí mật theo dõi các vị khách và nghe lỏm mọi chuyện họ nói với nhau. Tôi tự nhủ, đây là cách để đi tiếp con đường học vấn của mình - đó là điều tốt đẹp mà tôi có thể nói về bản thân. Tôi lúc nào cũng có niềm tin tuyệt đối vào giáo dục - đặc biệt là của riêng tôi.
Ông chủ ngồi ở trước quán, bên dưới tấm ảnh vĩ đại của Gandhi, khuấy nồi xirô đường đang sôi nhẹ. Ông ấy biết tôi âm mưu chuyện gì! Mỗi khi nhìn thấy tôi lượn lờ quanh một chiếc bàn nào đó hoặc giả vờ kì cọ vết bẩn để nghe lỏm được kĩ hơn, ông thường quát lên, “Thằng ranh con!” rồi nhảy phắt khỏi ghế, đuổi tôi chạy vòng quanh quán với chiếc muôi vừa dùng để khuấy đường, gõ cốp cốp lên đầu tôi. Chiếc muôi chạm đến đâu, xirô đang sôi kêu xèo xèo đến đó, để lại những đốm đen lấm chấm trên tai tôi mà người ta thỉnh thoảng vẫn nghĩ là do chứng bạch biến hay bệnh về da; một mảng da màu hồng có thể làm đặc điểm nhận diện ra tôi, dù cảnh sát, y như rằng, đã bỏ qua nó.
Cuối cùng tôi bị trả về nhà. Không còn ai ở Laxmangarh muốn thuê tôi làm sau vụ đó, ngay cả làm ruộng. Vậy là chủ yếu tại tôi mà Kishan và Dilip phải đến Dhanbad - để cho tôi cơ hội làm lại sự nghiệp của một người nhện.
Trong chuyến đi từ làng lên thị, từ Laxmangarh đến Delhi, con đường của nhà doanh nghiệp băng qua cơ man nào là thị xã, nơi có sự ô nhiễm, tiếng ồn và giao thông của một thành phố lớn - nhưng lại thiếu vắng cảm giác về một lịch sử lâu đời, về sự quy hoạch và phồn hoa của một đô thị thực thụ. Chỉ là những đô thị nửa vời, được xây lên cho những con người nửa vời.
Không khí ở Dhanbad đẫm mùi tiền. Tôi nhìn thấy những tòa nhà bốn bề bằng kính, những người đàn ông răng bịt vàng. Tất thảy đám cửa kính và răng vàng này đến từ các mỏ than đá. Ở ngoài thị xã có than đá, nhiều hơn ở bất kì nơi nào tại khu Bóng tối, cũng có thể nhiều hơn bất kì nơi nào trên thế giới. Thợ mỏ đến ăn ở quán trà của tôi - tôi luôn phục vụ họ tốt nhất, vì họ kể những câu chuyện hay nhất.
Họ nói những mỏ than đá kéo dài hàng dặm hàng dặm bên ngoài thị xã. Ở vài chỗ có lửa cháy dưới lòng đất và tỏa khói lên không trung - những ngọn lửa cháy liên tục trong suốt một trăm năm!
Và chính tại quán trà trong thành phố được xây lên bằng than đá này, chính trong lúc lau bàn và lân la hóng chuyện mà cuộc đời của tôi đã đổi thay.
“Mày biết không, thỉnh thoảng tao nghĩ mình đã sai lầm khi trở thành thợ mỏ.”
“Thì sao? Người như tao và mày còn làm được gì khác? Chính trị gia chắc?”
“Thời buổi này ai cũng có xe con - mày biết người ta trả cho tài xế bao nhiêu không? Một nghìn bảy trăm rupee một tháng!”
Tôi đánh rơi giẻ lau. Tôi chạy đến chỗ anh Kishan, lúc bấy giờ đang lau chùi mé trong bếp lò.
Sau khi bố mất, anh Kishan là người chăm sóc tôi. Tôi không cố ý giấu giếm công lao của anh trong việc làm cho tôi trở thành như ngày nay. Nhưng anh chẳng có gan làm giàu gì cả. Anh thà cứ để tôi tự chìm xuống bùn.
“Không làm gì hết,” Kishan nói. “Bà nội nói cứ gắn bó với quán trà - và chúng ta sẽ gắn bó với quán trà.”
Tôi tìm đến tất cả những bãi xe taxi, quỳ xuống van xin những người lạ ở đó; nhưng không ai chịu dạy tôi lái xe miễn phí. Phải mất ba trăm rupee để học lái xe.
Ba trăm rupee!
Ngày nay, ở Bangalore tôi không tìm được đủ nhân sự cho công việc kinh doanh. Người ta cứ đến rồi lại đi. Người giỏi chẳng bao giờ ở lại. Tôi đang nghĩ đến chuyện đăng quảng cáo trên báo.
DOANH NHÂN TẠI BANGALORE CẦN TUYỂN NGƯỜI THÔNG MINH
NỘP ĐƠN NGAY!
TRẢ LƯƠNG HẬU HĨNH
TẶNG KÈM MIỄN PHÍ NHỮNG BÀI HỌC VỀ CUỘC SỐNG VÀ KINH DOANH!
Đến bất kì quán rượu hay quầy bar nào ở Bangalore với hai tai giỏng lên, ngài sẽ nghe thấy điệp khúc muôn thuở: không tìm đủ nhân viên làm ở trung tâm hỗ trợ khách hàng qua điện thoại, không tìm đủ kĩ sư phần mềm, không tìm đủ giám đốc bán hàng. Có hai mươi, hai mươi lăm trang quảng cáo tuyển dụng đăng báo hằng tuần.
Ở Bóng tối, mọi chuyện thật khác. Ở đó, vào mỗi buổi sáng, hàng chục nghìn thanh niên vạ vật ở các quán trà, đọc báo hoặc nằm ườn trên charpoy[12] hát ư ử, hoặc ngồi trong phòng tâm sự với tấm hình của diễn viên điện ảnh. Ngày nay họ chẳng có việc gì để làm. Họ biết họ sẽ chẳng tìm được việc gì để làm. Họ đã tự bỏ cuộc.
Họ là những kẻ thông minh.
Những kẻ ngu ngốc đã tập hợp tại cánh đồng nằm ở trung tâm thị xã. Thỉnh thoảng có một xe tải chạy qua, cả lũ đàn ông trên cánh đồng đuổi theo chiếc xe, hai tay với về trước, miệng hét toáng, “Chọn tôi! Chọn tôi!”
Mọi người xô tôi; tôi xô lại, nhưng chiếc xe chỉ lấy tối đa sáu, bảy người, bỏ những kẻ còn lại phía sau. Họ lên đường làm công việc đào xới hay xây dựng gì đó - những kẻ may mắn khốn kiếp. Lại chờ thêm nửa giờ nữa. Một chiếc xe tải khác đến. Lại náo loạn, lại đánh nhau. Sau cuộc chiến thứ năm hay thứ sáu trong ngày, cuối cùng tôi cũng đã lên đứng đầu đám đông, mặt đối mặt với người lái xe tải. Hắn là người Sikh, đầu đội khăn xếp màu xanh to đùng. Một tay hắn cầm gậy gỗ, huơ huơ liên hồi để đẩy lùi đám đông.
“Mày!” hắn quát. “Cởi áo ra! Tao phải xem ti mày ra sao rồi mới cho mày việc!”
Hắn nhìn ngực tôi, vặn vẹo đầu ti - vỗ mông - nhìn chòng chọc vào mắt tôi - rồi thọt cây gậy vào đùi tôi: “Gầy quá! Xéo!”
“Xin ông hãy cho tôi một cơ hội - thân thể tôi gầy gò nhưng đã đánh nhau ra trò - tôi sẽ đào xới cho ông, tôi sẽ kéo xi măng cho ông, tôi sẽ...”
Hắn vung gậy đánh trúng vào tai trái tôi. Tôi ngã nhào, những kẻ khác tràn lên giành chỗ.
Tôi ngồi trên đất, xoa xoa tai, nhìn chiếc xe tải bỏ đi trong đám bụi mờ.
Bóng một con đại bàng lướt qua. Tôi òa khóc.
“Cọp Trắng! Em đây rồi!”
Anh Kishan và anh họ Dilip xốc tôi dậy, cười hớn hở. Tin tốt lành! Bà nội đã chịu cho chúng tôi đóng tiền học lái xe. “Chỉ có điều,” Kishan nói. “Bà bảo em là con lợn tham lam. Bà muốn em thề trước tất cả các vị thần trên trời là em sẽ không quên bà khi em trở nên giàu có.”
“Em thề.”
“Véo cổ và thề đi - em sẽ gửi từng đồng rupee kiếm được hàng tháng về cho bà.”
Chúng tôi đến nhà của cánh tài xế taxi. Một lão già mặc đồng phục màu nâu, trông giống bộ quân phục thời trước, đang hút ống điếu hơ nóng trên một bát than cháy. Kishan thưa chuyện với lão.
Lão tài xế hỏi, “Mày thuộc giai cấp nào?”
“Halwai ạ.”
“Những kẻ làm bánh kẹo,” lão lắc đầu nói.
“Dòng họ Halwai bọn mày làm nghề đấy. Mày là dân làm bánh kẹo. Sao có thể học lái xe?” Lão chĩa ống điếu vào những hòn than đang cháy. “Với mày cũng giống lấy than mà làm ra nước đá. Điều khiển một chiếc xe - lão kéo cần gạt của một hộp số vô hình - “giống như thuần hóa một con ngựa hoang - chỉ một đứa con trai thuộc giai cấp chiến binh mới làm nổi. Mày phải có máu hiếu chiến. Người Hồi giáo, người Rajput, người Sikh - họ là chiến binh, họ có thể trở thành tài xế. Mày nghĩ người làm bánh kẹo có giữ nổi cần số bốn không?”
Nhưng rồi vẫn có cách để biến than thành nước đá, bắt đầu từ sáu giờ sáng hôm sau. Ba trăm rupee, cộng thêm tiền thưởng, sẽ biến điều đó thành hiện thực. Chúng tôi thực hành trên xe taxi. Mỗi lần tôi thao tác sai với cái cần số, lão lại đập tay lên đầu tôi. “Sao mày không theo nghề pha trà làm bánh cho rồi?”
Cứ mỗi giờ tôi học trong xe, lão bắt tôi dành ra hai, ba giờ bên dưới nó - tôi bị buộc làm thợ sửa xe miễn phí cho tất cả xe taxi ở bến; mỗi đêm, tôi bò ra khỏi gầm xe taxi như con lợn nhô lên từ cống nước thải, mặt lấm lem dầu mỡ, hai tay bóng loáng dầu động cơ. Tôi nhúng mình vào một Hằng Hà đen kịt - và trồi lên thành một tài xế lái xe.
“Nghe đây,” lão tài xế nói khi tôi đưa cho lão một trăm rupee tiền thưởng như đã hứa. “Chưa đủ để lái xe đâu. Mày phải trở thành một tài xế. Phải có thái độ đúng đắn, hiểu không? Đứa nào định chơi xấu mày trên đường, hãy làm thế này” - lão siết chặt nắm tay và lắc lắc nó - “rồi gọi nó là thằng chó chết vài lần. Con đường là rừng rậm, hiểu chứ? Một tài xế giỏi phải rống lên để tiến về trước.”
Lão vỗ lưng tôi.
“Mày khá hơn tao tưởng - mày làm tao ngạc nhiên đấy, nhóc con à. Tao có phần thưởng cho mày đây.”
Lão cất bước; tôi đi theo. Lúc đó là buổi tối. Chúng tôi đi qua những con đường và khu chợ tối lờ mờ. Chúng tôi đi suốt nửa giờ, trong lúc mọi thứ xung quanh trở nên đen kịt - rồi sau đó như bước chân vào một thế giới pháo hoa.
Trên con đường cơ man nào là cửa chính và cửa sổ sặc sỡ sắc màu, ở mỗi ô cửa có một cô gái nhìn tôi với nụ cười rạng rỡ. Những sợi ruy băng màu đỏ và kim tuyến lấp lánh giữa các mái nhà; trà đang được nấu trong các quầy hàng hai bên đường. Bốn người đàn ông ập đến chỗ chúng tôi cùng lúc. Lão tài xế bảo họ đi nơi khác, vì đó là lần đầu tiên của tôi. “Để nó thưởng thức cảnh đẹp trước. Đó là tiết mục hay nhất của trò chơi, phải không - tiết mục ngắm!”
“Được, được,” đám đàn ông nói và lùi lại. “Đó là điều bọn tôi muốn cậu ấy làm - thưởng thức đi nhé!”
Tôi bước đi với lão tài xế, há hốc mồm, mê mẩn trước tất cả những cô gái lộng lẫy đang cười cợt và mời mọc tôi từ sau những ô cửa sổ lắp lưới sắt - tất cả đều van vỉ tôi đút cái ấy vào họ!
Lão tài xế giải thích cho tôi những món hàng đang chào bán. Ở trên một tòa nhà nọ, ngồi trên bậu cửa sao cho chúng tôi có thể nhìn thấy hết cặp chân đen bóng, là “gái Mỹ”: những cô gái mặc váy ngắn cũn cỡn, mang giày cao gót đế to, đeo túi xách hồng có chữ tiếng Anh mạ vàng. Họ mảnh mai và khỏe khoắn - dành cho loại đàn ông thích gái Tây. Trong góc này, ngồi ở cửa ra vào của một căn nhà để mở, là những cô “truyền thống” - loại béo lùn mặc sari, dành cho những kẻ muốn xài đáng đồng tiền bát gạo. Có cửa sổ toàn là pêđê - cửa cạnh bên lại là mấy em mới lớn. Mặt của một thằng oắt con ló ra giữa cặp đùi của một cô gái rồi biến mất.
Luồng ánh sáng chói lòa ập vào mắt tôi: cánh cửa màu xanh mở ra, bốn cô gái người Nepal da sáng, mặc váy lót dài, từ trong nhìn ra.
“Chúng nó!” Tôi la lên. “Chúng! Chúng! Chúng!”
“Tốt,” lão tài xế nói. “Tao cũng thích thế - tao luôn chọn hàng ngoại.”
Chúng tôi đi vào, lão ta chọn một trong bốn cô, tôi chọn một cô khác, rồi chúng tôi đi vào hai phòng, và cô ả tôi chọn đóng cửa lại sau lưng tôi.
Lần đầu tiên của đời tôi!
Nửa giờ sau, tôi và lão tài xế lảo đảo đi về nhà lão, say xỉn và sung sướng. Tôi gắp than vào ống điếu, đưa nó cho lão và quan sát khi lão rít một hơi thật sâu, thật đã. Khói bốc ra từ hai lỗ mũi lão.
“Bây giờ thế nào? Tao đã dạy mày làm tài xế và làm đàn ông - mày còn muốn gì nữa?”
“Thưa ông... nhờ ông hỏi hộ xem các anh taxi có cần người không ạ? Trước mắt con sẽ làm không công. Con cần việc làm.”
Lão tài xế bật cười. “Tao không có công ăn việc làm trong bốn chục năm qua rồi, thằng ngu. Làm thế quái nào mà tao giúp mày được? Giờ thì biến đi.”
Vậy là, sáng hôm sau, tôi đi từ nhà này sang nhà khác, gõ cổng đập cửa những nhà giàu, hỏi xem có ai cần tài xế - một tài xế giỏi - một tài xế kinh nghiệm - để lái xe cho họ.
Ai cũng nói không. Người ta không tìm việc kiểu đó. Phải có quen biết mới mong tìm được việc. Không phải bằng cách gõ lên cổng rồi hỏi.
Tinh thần khởi nghiệp không được tưởng thưởng ở hầu khắp Ấn Độ, thưa ngài. Đó là một thực tế buồn.
Mỗi buổi tối tôi trở về nhà mệt mỏi phát khóc, nhưng anh Kishan bảo, “Cứ cố gắng. Cuối cùng rồi một người nào đó sẽ nhận em.”
Vậy là tôi tiếp tục tìm kiếm, từ nhà này qua nhà khác, rồi nhà này qua nhà khác, rồi nhà này qua nhà khác. Cuối cùng, sau hai tuần dò hỏi và bị xua đuổi, tôi đến một căn nhà với những bức tường cao ba mét, bên ngoài mỗi cửa sổ gắn một lớp lưới sắt.
Một người Nepal mắt xếch, dáng bộ ranh mãnh với hàng ria trắng nhìn tôi chăm chú qua chấn song của cổng.
“Mày muốn gì?”
Tôi không thích cách ông ta hỏi; nhưng vẫn nhoẻn miệng cười.
“Ông có cần tài xế không ạ? Con có bốn năm kinh nghiệm. Ông chủ con mới chết, vì thế con...”
“Cút đi. Bọn tao có tài xế rồi,” ông quản gia người Nepal đáp. Ông ta xoay xoay một chùm chìa khóa to rồi nhếch mép cười.
Tim tôi thắt lại, tôi đã định quay đi - thì trông thấy một dáng người trên ban công, một người mặc quần áo trắng dài thùng thình, vừa đi vừa chìm đắm trong suy tư. Tôi xin thề trước thánh thần, thưa ngài - tôi thề trước tất cả 36.000.004 vị thần - khoảnh khắc tôi trông thấy khuôn mặt ấy, tôi biết: Đây chính là ông chủ của tôi.
Một duyên số đen đủi nào đó đã gắn kết đường đời ông ấy với đường đời tôi, vì vào đúng lúc ấy ông ta nhìn xuống.
Tôi biết ông ấy đi xuống để cứu tôi. Tôi chỉ việc đánh lạc hướng thằng cha Nepal này càng lâu càng tốt.
“Con là tài xế giỏi, thưa ông. Con không hút thuốc, không uống rượu, không trộm cắp.”
“Cút đi, mày không hiểu à?”
“Con không bất kính với thánh thần, con không vô lễ với gia đình.”
“Mày bị gì vậy? Biến đi, ngay lập tức...”
“Con không buôn chuyện về chủ mình, con không trộm cắp, con không báng bổ.”
Vừa lúc ấy, cửa nhà mở ra. Nhưng đấy không phải là người đàn ông trên ban công - mà là một người già hơn, với bộ ria mép dày màu trắng, cong vút ở hai đầu.
“Có chuyện gì thế, Ram Bahadur?” ông hỏi bằng tiếng Nepal.
“Thưa ông, nó đang ăn xin ạ. Xin tiền.”
Tôi đập vào cánh cổng. “Con đến từ làng của ông, thưa ông. Con đến từ Laxmangarh! Cái làng gần Pháo đài đen! Làng của ông!”
Ông già chính là lão Cò!
Lão nhìn tôi thật lâu, rồi nói với ông quản gia người Nepal, “Cho thằng nhỏ vào.”
Vút! - Ngay khi cánh cổng mở ra, tôi lao thẳng đến chân lão Cò. Không một vận động viên Olympic nào có thể băng qua cánh cổng nhanh bằng tôi; ông quản gia người Nepal chẳng có cách nào cản tôi lại.
Ngài nên nhìn thấy tôi ngày hôm ấy - thật là một màn trình diễn điêu luyện với những tiếng than khóc, những cái hôn hít và nước mắt đầm đìa! Không khéo ngài còn nghĩ tôi xuất thân từ tầng lớp diễn viên ấy chứ! Và trong suốt thời gian ôm chân lão Cò, tôi nhìn trân trối vào những móng chân không cắt bẩn thỉu, to tướng của lão, thầm nghĩ, Lão ta đang làm gì ở Dhanbad? Sao lão không về quê, móc túi những ngư dân nghèo khổ và nằm đè lên mấy đứa con gái của họ?
“Đứng dậy đi, thằng nhóc,” lão nói - những cái móng chân không cắt to tướng cào vào má tôi. Ông Ashok - chính là người đàn ông trên ban công, còn ai khác - bấy giờ đang đứng cạnh lão.
“Mày đến từ Laxmangarh thật à?”
“Vâng ạ. Con từng làm trong quán trà - cái quán có tấm ảnh to của ông Gandhi ấy. Con từng đập than ở đấy. Ông có đến đấy dùng trà một lần.”
“À, cái làng cũ.” Lão nhắm mắt lại. “Thế người ở đó còn nhớ ta không? Cũng đã ba năm rồi ấy nhỉ, từ dạo ta còn ở đấy.”
“Dĩ nhiên rồi ạ - người ta nói, ‘Bố chúng ta đi rồi, Thakur Ramdev đi rồi, người chủ đất tốt nhất đã đi rồi, ai sẽ bảo vệ chúng ta đây?’ ”
Lão Cò sướng mê ly. Lão quay sang ông Ashok.
“Để xem nó giỏi đến đâu. Gọi cả Mukesh nữa. Chúng ta làm một vòng nào.”
Mãi về sau này tôi mới nhận ra số mình đỏ thế nào. Ông Ashok vừa trở về từ Mỹ vào ngày hôm trước; một chiếc xe đã được mua cho ông ấy. Cần một tài xế để lái xe. Và vào ngày hôm đó tôi đã xuất hiện.
Giờ thì, có hai chiếc xe trong garage. Một là chiếc Maruti Suzuki hạng xoàng - loại xe nhỏ màu trắng ngài thấy trên khắp Ấn Độ - chiếc kia là Honda City. Thế này, chiếc Maruti y như một người bạn đơn giản, nhỏ nhắn, một đầy tớ hoàn hảo đối với người tài xế; khoảnh khắc ngài khởi động máy, nó thực hiện chính xác những gì mà người tài xế mong muốn. Honda City là một chiếc xe to, một sinh vật tinh tế hơn, có trí tuệ riêng; nó có thiết bị lái bằng điện, một động cơ tiên tiến, và nó làm những gì nó muốn. Vì lúc ấy tôi quá hồi hộp, nếu lão Cò bảo tôi lái thử chiếc Honda City thì đúng là đời tôi tận số rồi, thưa ngài. Nhưng may mắn đứng về phía tôi.
Họ bảo tôi lái chiếc Maruti Suzuki.
Lão Cò và ông Ashok lên ghế phía sau; một người đàn ông nhỏ bé, ngăm đen - ngài Mukesh, một người con trai khác của lão Cò - ngồi vào yên trước và ra lệnh cho tôi. Ông quản gia người Nepal sa sầm nét mặt khi thấy tôi đánh xe ra khỏi cổng - tiến vào thành phố Dhanbad.
Họ bắt tôi chở đi loăng quăng trong nửa giờ, rồi bảo tôi quay về.
“Không tồi,” lão Cò nói khi bước ra khỏi xe. “Anh bạn rất cẩn thận và giỏi. Họ của anh bạn là gì ấy nhỉ?”
“Halwai ạ.”
“Halwai...” Lão quay sang người đàn ông da ngăm đen. “Đó là giai cấp nào, trên cùng hay dưới cùng?”
Và tôi biết tương lai mình phụ thuộc vào câu trả lời cho câu hỏi này.
***
Tôi nên giải thích đôi điều về từ “giai cấp”. Ngay cả người Ấn Độ cũng bối rối về từ này, nhất là người Ấn Độ có học thức trong thành phố. Họ sẽ giải thích vòng vo tam quốc với ngài. Nhưng nó rất đơn giản, thật đấy.
Hãy bắt đầu từ tôi.
Đấy: Halwai, tên tôi, có nghĩa là “người làm bánh kẹo”.
Đó là giai cấp của tôi - số phận của tôi. Mọi người ở Bóng tối nghe đến tên ấy là biết ngay tất tần tật về tôi. Bởi vậy mà anh Kishan và tôi đi đến đâu là xin được việc làm ở cửa hàng bánh kẹo đến đó. Chủ quán nghĩ, À chúng thuộc giai cấp Halwai, làm bánh pha trà đã có sẵn trong máu chúng.
Nhưng nếu chúng tôi thuộc giai cấp Halwai thì tại sao bố tôi không làm bánh kẹo mà lại đi làm phu xe? Tại sao tôi trải qua những ngày tháng đập than và lau bàn, thay vì ăn gulab jamuns[13] và bánh ngọt vào lúc mình muốn, tại nơi mình chọn? Tại sao tôi lại gầy tong, đen nhẻm và láu cá chứ không tròn trịa, bơ sữa và sáng láng như một đứa bé được nuôi lớn bằng bánh kẹo?
Chuyện là, đất nước này, trong những tháng ngày huy hoàng nhất, khi là dân tộc giàu nhất trái đất, từng giống như một cái vườn thú. Một vườn thú sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng. Ai ở yên chỗ nấy, người người hạnh phúc. Người thợ kim hoàn ở đây. Người chăn bò ở đây. Địa chủ ở kia. Người được gọi là Halwai thì làm bánh kẹo. Người được gọi là gã chăn bò thì chăn bò. Những kẻ tiện dân thì hót phân. Địa chủ rất tử tế với nông nô của mình. Đàn bà trùm đầu bằng khăn mạng và nhìn xuống đất khi nói chuyện với đàn ông lạ.
Rồi sau đó, nhờ tất cả những chính trị gia ở Delhi, vào ngày mười lăm tháng tám năm 1947 - ngày người Anh ra đi - những cái lồng được xổ tung; những con vật tấn công và xâu xé lẫn nhau, luật rừng thay thế luật vườn thú. Những kẻ hung ác nhất, háu đói nhất, đã ăn tươi nuốt sống kẻ khác, và trở thành những kẻ bụng to. Không cần biết là đàn bà, tín đồ Hồi giáo hay tiện dân: bất kì ai có cái bụng to đều lên hương. Ông cụ thân sinh của bố tôi hẳn là một Halwai chân chính, một người làm bánh kẹo, nhưng khi ông thừa kế cửa hàng bánh kẹo, một thành viên thuộc tầng lớp khác hẳn đã cuỗm nó từ tay ông với sự trợ giúp của cảnh sát. Bố tôi không có cái bụng to để chiến đấu lại. Vì thế mà ông đã rơi một mạch xuống bùn đen, xuống tầng lớp của một phu xe. Đó là lí do vì sao tôi đã đánh lừa vận mệnh của mình khi trở nên béo tốt, với làn da bơ sữa và khuôn mặt tươi tỉnh, sáng láng.
Tóm lại - ngày xưa ở Ấn Độ từng có một nghìn giai cấp và số phận. Ngày nay, chỉ có hai giai cấp: Những gã bụng to, và Những gã bụng nhỏ.
Và chỉ có hai số phận: ăn - hoặc bị ăn.
***
Bấy giờ, người đàn ông ngăm đen - ngài Mukesh, anh của ông Ashok - không biết câu trả lời - tôi đã nói với ngài rằng người thành phố chẳng biết tí gì về hệ thống giai cấp, vì vậy lão Cò quay sang hỏi thẳng tôi.
“Cậu đến từ giai cấp trên cùng hay dưới cùng, cậu bé?”
Tôi không biết ông ấy muốn tôi nói gì, nên tôi đắn đo cả hai phương án trả lời - phương án nào có lẽ cũng tốt cả - rồi đáp, “Dưới cùng ạ.”
Quay sang ngài Mukesh, lão già nói, “Tất cả nhân viên của chúng ta đều là giai cấp trên cùng. Có một hai đứa thuộc giai cấp dưới cùng làm cho chúng ta thì cũng chả sao.”
Ngài Mukesh nhìn tôi dò xét. Ông ta không rành lệ làng, nhưng lại có hết sự ranh mãnh của các địa chủ.
“Mày có uống rượu không?”
“Không ạ. Giai cấp của con không bao giờ uống rượu.”
“Halwai...” Ông Ashok cười thích thú. “Cậu làm bánh kẹo phải không? Những lúc không lái xe cậu nấu ăn cho chúng ta được không?”
“Dĩ nhiên rồi ạ. Con nấu ăn giỏi lắm. Làm bánh kẹo rất ngon. Gulab jamun, laddoo, bất cứ món gì ông thích,” tôi đáp. “Con làm việc ở quán trà nhiều năm rồi ạ.”
Ông Ashok có vẻ hứng thú với câu chuyện này. “Chỉ có ở Ấn Độ,” ông ấy nói. “Tài xế của ta cũng có thể làm bánh kẹo cho ta. Chỉ có ở Ấn Độ. Bắt đầu từ ngày mai.”
“Không cần gấp thế,” Ngài Mukesh nói. “Trước tiên phải hỏi han gia cảnh nó. Nhà có bao nhiêu người, sống ở đâu, mọi thứ. Còn một chuyện nữa: mày muốn bao nhiêu?”
Một cuộc kiểm tra khác.
“Tuyệt đối không cần gì, thưa ông. Ông như bố mẹ con, sao con dám đòi hỏi bố mẹ phải trả tiền cho mình?”
“Tám trăm rupee một tháng,” ông ta nói.
“Không, thưa ông, làm ơn - thế thì nhiều quá. Xin cho con bằng nửa ấy, thế là đủ. Hơn cả đủ rồi ạ.”
“Nếu làm được ở đây hơn hai tháng thì sẽ tăng lên một nghìn năm trăm.”
Làm ra vẻ đau khổ, tôi chấp nhận số tiền ấy.
Ngài Mukesh vẫn chưa thuyết phục lắm về tôi. Ông ta nhìn tôi từ trên xuống dưới rồi nói, “Nó còn nhỏ. Ta có cần người lớn hơn không?”
Lão Cò lắc đầu. “Bắt lúc còn nhỏ thì mới giữ được chúng cả đời. Nếu thuê tài xế bốn mươi mấy tuổi thì anh được, bao nhiêu, hai mươi năm phục vụ là cùng, rồi sau đó mắt mũi chúng kèm nhèm hết cả. Anh bạn này xài được ba mươi, ba mươi lăm năm. Cái răng cái tóc của nó đều tốt cả, tướng tá lại ngon lành.”
Lão ngậm nước cốt trầu đầy ngập trong miệng, rồi quay qua, nhổ ra một bãi đỏ ối.
Sau đó lão bảo tôi hai ngày nữa quay lại.
Lão hẳn đã gọi cho đàn em ở Laxmangarh. Tay đàn em đó hẳn đã đến nói chuyện với bà nội Kusum, và dò la hàng xóm về chúng tôi, rồi báo cáo lại: “Nó có gia đình đàng hoàng. Nhà nó chẳng gây ra chuyện gì. Bố chết mấy năm trước vì bệnh lao. Ông ta là phu xe. Anh em cũng đang ở Dhanbad, làm công trong quán trà. Không có tiền án ủng hộ Naxal hay các tay khủng bố khác. Và chúng không di chuyển: chúng ta biết chính xác chúng ở đâu.”
Thông tin cuối cùng rất quan trọng. Họ cần biết gia đình tôi ở đâu vào mọi lúc.
Tôi đã kể cho ngài chưa ấy nhỉ, về cái việc mà gã Trâu Nước làm với đầy tớ trong nhà. Người này có nhiệm vụ trông chừng đứa con trai sơ sinh của y, nhưng đứa bé đã bị Naxal bắt cóc, đánh đập và giết chết. Người đầy tớ đó thuộc giai cấp chúng tôi, thưa ngài. Một người Halwai. Tôi đã nhìn thấy ông một hai lần khi tôi còn nhỏ. Người đầy tớ này không liên quan gì đến vụ bắt cóc; nhưng Trâu Nước không tin ông ta và thuê bốn tay súng tra tấn ông ta. Rồi bọn chúng bắn xuyên qua đầu ông ta.
Như thế là sòng phẳng. Tôi cũng sẽ làm thế với người nào để cho con trai của tôi bị bắt cóc.
Nhưng rồi, vì Trâu Nước tin chắc rằng người đầy tớ đó đã chủ tâm để đứa bé bị bắt cóc, vì tiền, cho nên y đã tìm đến nhà của người đầy tớ này. Một người anh trai ăn đòn trong lúc đang làm ruộng; bị đánh đến chết ở đó. Vợ của người anh trai bị ba tên đàn ông lấy mạng. Một người em gái, vẫn chưa lấy chồng, cũng bị phăng teo. Sau đó căn nhà của họ bị bốn tên tay sai bao vây rồi châm lửa đốt.
Vậy, có ai lại muốn điều này xảy ra với gia đình mình, thưa ngài?
Kẻ quái vật mất nhân tính nào có thể đẩy bà nội, anh trai, cô, bác, thím và cháu trai của mình đến chỗ chết?
Lão Cò và các con có thể tin cậy vào sự trung thành của tôi.
Khi tôi trở lại, ông quản gia người Nepal mở cổng không nói một lời. Giờ thì tôi đã vào được bên trong trang viên.
Xét về việc làm chủ thì ông Ashok, ngài Mukesh và lão Cò tốt hơn tôi tưởng. Trong nhà luôn có đủ thức ăn cho kẻ hầu người hạ. Ngày chủ nhật còn có món đặc biệt, cơm trộn thịt gà rút xương. Trước đó tôi chưa bao giờ ăn một món gà tử tế; nó khiến ta có cảm giác như mình là ông hoàng, ăn thịt gà hết chủ nhật này đến chủ nhật khác, ăn xong thì liếm mút từng ngón tay. Tôi có một phòng ngủ có mái che. Thực ra, tôi phải ở chung phòng với một tài xế khác, một người mặt mày dữ tợn tên là Ram Persad, hắn có một chiếc giường to đẹp, còn tôi phải ngủ trên sàn nhà - dù sao thì một căn phòng có mái che vẫn là một căn phòng có mái che, tốt hơn nhiều so với ngủ ngoài đường, như anh Kishan và tôi vẫn ngủ lăn lóc suốt thời gian ở Dhanbad. Trên hết, tôi có một thứ mà những kẻ lớn lên ở khu Bóng tối chúng tôi quý hơn tất cả. Một bộ đồng phục. Một bộ đồng phục kaki!
Ngày hôm sau tôi đi đến ngân hàng - tòa nhà mà cửa làm toàn bằng kính ấy. Tôi thấy bóng mình trong gương - tất cả đều là kaki. Tôi đi tới đi lui trước ngân hàng cả chục lần, chỉ để trầm trồ trước bản thân mình.
Giá mà họ cho tôi một cái còi bạc, đời tôi xem như được lên thiên đàng!
Anh Kishan đến thăm tôi mỗi tháng một lần. Bà nội Kusum đã quyết định cho tôi hằng tháng được giữ lại chín mươi rupee: phần còn lại đi thẳng đến Kishan - người sẽ gửi thẳng nó về cho bà ở quê nhà. Hằng tháng tôi đưa tiền cho anh qua những song sắt màu đen của cánh cổng sau, và chúng tôi thường nói chuyện được vài phút trước khi ông quản gia người Nepal hét toáng lên, “Thế đủ rồi - thằng nhóc còn chuyện phải làm!”
Công việc của một tài xế số hai khá đơn giản. Nếu tài xế số một, Ram Persad, bận chở ông chủ đi quanh thị xã bằng chiếc Honda City, và ai đó trong nhà muốn đi ra chợ, hoặc đến mỏ than, hoặc đến ga tàu hỏa, thì tôi sẽ ngồi vào chiếc Maruti Suzuki, chở họ đến đó. Bằng không tôi phải có mặt ở nhà và luôn tay luôn chân làm việc.
Bây giờ, tôi nói họ xem tôi như “tài xế”. Tôi không biết chính xác các ngài tổ chức kẻ hầu người hạ ở Trung Quốc thế nào. Nhưng ở Ấn Độ - hay, ít nhất là, ở Bóng tối - người giàu không có tài xế, đầu bếp, thợ cắt tóc và thợ may. Họ chỉ đơn giản có toàn đầy tớ.
Ý tôi là bất cứ khi nào không lái xe thì tôi phải quét sân, pha trà, lau mạng nhện bằng chổi cán dài, hoặc đuổi bò ra khỏi trang viên. Có một việc mà tôi không được phép làm, đó là chạm vào chiếc Honda City: chỉ có Ram Persad được quyền lái và lau chùi nó. Vào buổi tối tôi thường quan sát hắn lau bề ngoài bóng loáng của chiếc xe với vải mềm. Lòng tôi sôi lên vì ghen tị.
Tôi có thể nhìn thấy, ngay chỉ từ bên ngoài, rằng nó là một chiếc xe đẹp, hiện đại, với đầy đủ tiện nghi: dàn loa, máy điều hòa nhiệt độ, ghế bọc da bóng loáng đẹp đẽ, và một ống nhổ bằng nhôm không gỉ ở phía sau. Lái một chiếc xe đẹp như thế hẳn là sướng như tiên. Tôi thì chỉ có chiếc Maruti Suzuki cũ kĩ cà tàng.
Một buổi tối, khi tôi đang quan sát, ông Ashok đến và ngó nghiêng một lượt quanh chiếc xe. Tôi phát hiện ra ông ấy là một người rất tò mò.
“Cái đó để làm gì? Cái vật bóng loáng ở phía sau ấy?”
“Ống nhổ, thưa ngài.”
“Cái gì?”
Ram Persad giải thích. Ống nhổ này dành cho lão Cò, người thường xuyên ăn trầu. Nếu lão nhổ trầu ra ngoài cửa xe, trầu có thể dính vào thành xe, vì thế lão nhổ xuống gần chân mình, vào cái ống nhổ, được tài xế rửa ráy sạch sẽ sau mỗi chuyến đi.
“Kinh quá,” ông Ashok nói.
Ông đang hỏi về một thứ khác thì Roshan, con trai ngài Mukesh chạy đến chỗ chúng tôi với một cái gậy bằng nhựa và quả bóng trong tay.
Ram Persad búng tay ra hiệu cho tôi.
(Chơi cricket bằng bất kì loại gậy nào với chủ nhà đang hăng máu - rồi để chủ thắng một cách vẻ vang - là một trong những nhiệm vụ được đặt ra cho tài xế số hai.)
Ông Ashok cũng tham gia. Ông làm người giữ cọc, còn tôi ném bóng cật lực cho thằng oắt con.
“Ta là Azharuddin, đội trưởng Ấn Độ!” thằng lỏi gào lên mỗi khi nó đánh trúng cú sáu điểm hoặc bốn điểm.
“Xưng là Gavaskar chứ. Azharuddin là người Hồi giáo.”
Đấy là lão Cò. Lão đã vào sân xem trận đấu.
Ông Ashok đáp, “Bố này, nói gì mà dớ dẩn thế không biết! Ấn Độ giáo với chả Hồi giáo, có gì khác nhau đâu nào?”
“Ối giời, đám trai trẻ các anh cứ là suy nghĩ cấp tiến!” lão Cò nói. Lão đặt tay lên tôi. “Ông phải cuỗm anh bạn tài xế này một chút, Roshan ạ - ông xin lỗi, ông sẽ trả lại cho cháu trong một giờ nữa, nhé?”
Lão Cò có một cách sử dụng tài xế số hai rất đặc biệt. Chân lão yếu, gân guốc xanh xao cả lên, vì thế bác sĩ bảo lão phải ngồi ngoài sân mỗi tối ngâm chân trong nước ấm và có người hầu xoa bóp.
Tôi phải bắc ấm đun nước, bê nó vào sân, nhấc từng cái chân của lão già nhúng vào nước nóng rồi nhẹ nhàng xoa bóp hai chân; khi tôi làm thế, lão thường nhắm mắt lại rên rỉ.
Sau nửa giờ, lão sẽ lên tiếng, “Nước lạnh rồi,” và tôi phải nhấc chân lão ra khỏi xô, từng chân một, rồi bê chiếc xô vào nhà vệ sinh. Nước trong xô đen ngòm - những cọng lông chết và mẩu da nổi lềnh bềnh. Tôi phải châm nước nóng mới vào xô, rồi bê nó trở lại.
Trong lúc tôi xoa bóp, hai người con trai của lão kéo ghế ngồi cạnh bố để đàm đạo. Ram Persad thường đem ra một chai đầy chất lỏng màu vàng, rót vào ba chiếc ly, cho đá vào, rồi dâng mỗi người một ly. Các con trai đợi bố hớp ngụm đầu tiên và nói, “A... whisky. Làm sao ta sống nổi ở cái xứ này nếu không có nó,” rồi cuộc nhàn đàm bắt đầu. Họ càng nói nhiều, tôi càng xoa bóp nhanh. Họ nói về chính trị, than đá, và về đất nước của ngài - Trung Quốc. Vì lý do nào đó những chủ đề này - chính trị, than đá, Trung Quốc - có liên hệ đến gia tài của lão Cò; và tôi lờ mờ nhận ra vận mệnh của mình, vì tôi bấy giờ đã là một thành viên của gia đình này, cũng có liên hệ mật thiết đến ba chủ đề ấy. Cuộc nhàn đàm về than đá và Trung Quốc quyện lẫn trong mùi rượu whisky từ những chiếc ly, mùi mồ hôi khăm khẳm túa ra từ bàn chân lão Cò hòa vào nước ấm, lớp da bong tróc của lão, và những cú chạm nhẹ vào lưng tôi khi ông Ashok hoặc Mangut đung đưa đôi chân mang giày xăng đan. Tôi tiếp nhận tất cả - đó là điều tuyệt vời về các doanh nhân. Chúng tôi giống như bọt biển - chúng tôi hấp thụ và lớn lên.
Một cú đánh trời giáng vỗ lên đầu tôi.
Tôi ngước lên trông thấy lão Cò, vẫn đang giơ bàn tay trên đầu tôi, nhìn tôi trừng trừng.
“Biết cái đấy là gì không?”
“Vâng, thưa ông,” tôi đáp - với một nụ cười toe toét trên mặt.
“Tốt.”
Một phút sau lão lại đánh lên đầu tôi.
“Bố bảo nó đấy là gì đi. Con nghĩ nó không biết đâu. Anh bạn, anh bóp mạnh quá đấy. Anh phấn khích quá. Bố tôi phát cáu lên kìa. Nhẹ tay thôi.”
“Vâng, thưa ông.”
“Có cần phải đánh đám tôi tớ không, bố?”
“Đây không phải là nước Mỹ, con trai ạ. Đừng hỏi những câu như thế.”
“Thế sao con không thể hỏi?”
“Chúng mong chờ được ta đánh, Ashok ạ. Nhớ đấy - có thế chúng mới kính trọng chúng ta.”
Bà Pinky không bao giờ tham gia những cuộc đàm đạo thế này. Trừ lúc đeo kính mát chơi cầu lông với Ram Persad, bà không bao giờ rời phòng. Tôi lấy làm lạ chẳng biết có chuyện gì với bà - cãi nhau với chồng chăng? Hay là ông ấy không làm tốt chuyện ấy trên giường với bà?
Khi lão Cò nói, “Nước lạnh rồi,” lần thứ hai và nhấc chân ra khỏi xô, việc của tôi đã xong.
Tôi dội nước lạnh xuống bồn rửa.
Tôi rửa tay trong mười phút, lau khô, rồi lại rửa, nhưng vẫn chẳng ăn thua. Dù có rửa tay bao nhiêu lần sau khi xoa bóp chân người khác, cái mùi của lớp da già nua, bong tróc sẽ bám trên da ta suốt cả ngày.
***
Chỉ có một hoạt động mà đầy tớ số một và đầy tớ số hai cùng nhau làm. Ít nhất một tuần một lần, vào khoảng sáu giờ, Ram Persad và tôi đi khỏi nhà xuống con đường chính, đến cửa hiệu với tấm bảng đề chữ:
HIỆU RƯỢU ANH JACKPOT
CÓ BÁN RƯỢU NGOẠI LÀM TẠI ẤN
Tôi nên giải thích với ngài, thưa ngài Gia Bảo, rằng ở đất nước chúng tôi có hai loại đàn ông: đàn ông rượu “Ấn” và đàn ông rượu “Anh”. Rượu “Ấn” dành cho đám trai làng như tôi - rượu mạnh, rượu đế, rượu tăm. Rượu “Anh”, về thông thường, dành cho người giàu. Rum, whisky, bia, gin - bất cứ thứ gì người Anh bỏ lại. (Có rượu “Trung” không, ngài thủ tướng? Tôi rất sẵn lòng nhấp một ngụm.)
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của tài xế số một là đến Jackpot mỗi tuần một lần để mua một chai rượu whisky thuộc vào loại đắt nhất cho bố con lão Cò. Theo yêu cầu đối với đầy tớ, dù xin đừng hỏi tôi tại sao, tài xế số hai phải đi cùng hắn ta trong những chuyến thế này. Tôi đoán mình có nhiệm vụ canh chừng để hắn không cao chạy xa bay với chai rượu.
Những chai rượu đủ màu sắc với nhiều kích cỡ khác nhau bày biện trên kệ hàng ở Jackpot, hai thằng choai choai giành giật nhau sau quầy tính tiền để đáp ứng yêu cầu của những ông khách đang quát tháo ầm ĩ. Trên bức tường trắng bên hông cửa hiệu là hàng trăm nhãn rượu viết bằng sơn đỏ nhỏ giọt, chia thành năm nhóm, BIA, RUM, WHISKY, GIN và VODKA.
BẢNG GIÁ HIỆU RƯỢU ANH “JACKPOT”
RƯỢU WHISKY CỦA CHÚNG TÔI
WHISKY LOẠI MỘT
(CẢ WHISKY RẺ HƠN CŨNG CÓ: LIÊN HỆ Ở QUẦY TÍNH TIỀN.)
VODKA CỦA CHÚNG TÔI
VODKA LOẠI MỘT...
Đó là một cửa hiệu nhỏ, và không dưới năm chục người đang chen chúc trong khoảng không gian ba mét trước quầy tính tiền, ai cũng hét lạc cả giọng trong lúc vẫy vẫy những tờ tiền mệnh giá cao:
“Rượu mạnh Kingfisher một lít!”
“Old Monk nửa chai!”
“Thunderbolt! Thunderbolt!”
Họ sẽ không uống những loại rượu này; trông bộ dạng quần áo bẩn thỉu rách rưới thì biết ngay họ chỉ là đầy tớ, như Ram Persad và tôi, đi mua rượu Anh cho ông chủ của mình. Nếu đến Jackpot sau tám giờ tối vào đêm cuối tuần thì cảnh tượng chẳng khác nào nội chiến trước quầy tính tiền; tôi phải đẩy lùi đám đàn ông trong khi Ram Persad chen lấn đến quầy và hét toáng lên:
“Black Dog! Chai đầy!”
Black Dog là cái tên đầu tiên trong danh mục whisky loại một. Đó là loại rượu duy nhất mà bố con lão Cò chịu uống.
Ram Persad thường nhận lấy chai rượu; rồi sau đó tôi sẽ tả xung hữu đột với đám đầy tớ khác để tìm đường thoát ra trong khi hắn ôm chai rượu trong tay. Đó là thời điểm duy nhất mà chúng tôi hợp tác như đồng đội.
Trên đường về nhà, Ram Persad lúc nào cũng ghé lại bên vệ đường và trút chai Black Dog ra khỏi hộp giấy bồi. Hắn bảo làm thế để kiểm tra xem Jackpot có đánh lừa chúng tôi không. Tôi biết hắn láo toét. Hắn chỉ muốn được cầm lấy chai rượu mà thôi. Hắn muốn được ôm chai whisky loại một đầy ngập mới nguyên trong tay. Hắn muốn tưởng tượng đang mua rượu cho chính mình. Rồi hắn lại cho chai rượu vào hộp giấy bồi và trở về nhà, tôi đi theo sau, hãy còn hoa cả mắt vì nhìn thấy quá nhiều rượu Anh.
Buổi tối, khi Ram Persad ngáy ầm ầm trên giường, tôi nằm trên sàn gối đầu lên hai bàn tay.
Tôi nhìn chằm chằm lên trần nhà.
Và suy nghĩ làm sao mà hai con trai của lão Cò lại khác nhau một trời một vực như ngày với đêm.
Ngài Mukesh là một người nhỏ bé, đen nhẻm, xấu xí, và cực kì khôn ngoan. Lúc còn ở nhà chúng tôi hay gọi ông ta sau lưng là “Cầy Mangut”. Ông ta kết hôn đã vài năm với một người vợ chất phác đang béo lên từng ngày sau khi sinh hai đứa con, đều là trai. Ông “Cầy Mangut” này không thừa hưởng thân hình - nhưng lại thừa hưởng đầu óc của ông bố. Hễ thấy tôi rảnh tay một chút là ông ta lại quát, “Tài xế, đừng la cà ở đó làm gì! Lau xe đi.”
“Lau rồi thưa ông.”
“Vậy thì lấy chổi quét sân đi.”
Ông Ashok thừa hưởng thân hình của bố; ông ấy cao, to và đẹp trai, ra dáng con trai địa chủ. Vào buổi tối, tôi thấy ông chơi cầu lông với vợ trong trang viên. Bà ấy mặc quần; tôi há hốc mồm. Trước đấy có ai nhìn thấy phụ nữ mặc quần bao giờ - trừ trong phim ảnh? Thoạt đầu tôi cứ ngỡ bà là người Mỹ, một trong những thứ kì diệu mà ông Ashok đem về từ New York, như giọng nói và nước hoa hương hoa quả mà ông thoa lên mặt sau khi cạo râu.
Hai ngày sau, Ram Persad và ông già người Nepal mắt xếch đứng buôn chuyện với nhau. Tôi cầm chổi, bắt đầu quét sân rồi tiến gần hơn, gần hơn đến họ.
“Bà ấy theo đạo Cơ Đốc, mày biết không?”
“Không đời nào.”
“Thật mà!”
“Và ông lấy bà?”
“Họ lấy nhau bên Mỹ. Người Ấn chúng ta khi đến đó rồi thì chẳng còn coi trọng chuyện gia phong giai cấp nữa,” ông già người Nepal nói.
“Ông già một mực phản đối chuyện cưới xin. Người nhà bà ta cũng chẳng vui sướng gì cho cam.”
“Vậy - chuyện xảy ra như thế nào?”
Ông già người Nepal trừng mắt nhìn tôi. “Ê, mày đang nghe lỏm bọn tao đấy phỏng?”
“Không ạ.”
Một buổi sáng có tiếng gõ cửa tại khu nhà ở của tài xế, và khi tôi bước ra, bà Pinky đang đứng đấy với hai cây vợt trong tay.
Một tấm lưới đã được giăng giữa hai chiếc cột ở góc sân; bà đứng ở một phía của tấm lưới, tôi đứng phía còn lại. Bà phát cầu - nó tung lên, rồi rơi xuống cạnh chân tôi.
“Này! Di chuyển đi! Đánh nó lại!”
“Xin lỗi bà. Con xin lỗi.”
Tôi chưa từng chơi trò này bao giờ. Tôi đánh quả cầu về phía bà, nhưng nó bay thẳng vào tấm lưới.
“Ôi, đồ vô dụng. Thằng tài xế kia đâu?”
Ram Persad lao ngay đến chỗ tấm lưới. Hắn đã đứng cạnh bên theo dõi trò chơi suốt. Hắn biết chính xác cách chơi cầu lông.
Tôi nhìn hắn đánh quả cầu nhẹ nhàng qua khỏi tấm lưới và đáp trả nhịp nhàng từng cú một với bà, bụng dạ sôi lên.
Trên thế gian này có lòng căm ghét nào cho bằng lòng căm ghét của tài xế số hai đối với tài xế số một?
Dù chúng tôi ngủ dưới một mái nhà, chỉ cách nhau vài mét, nhưng chúng tôi không bao giờ hé răng với nhau một lời - không hề có Xin chào hay Mẹ anh khỏe không, chẳng có gì hết. Tôi cảm nhận được hơi nóng tỏa ra từ hắn suốt đêm - tôi biết hắn đang nguyền rủa và ếm bùa tôi trong lúc ngủ. Thì đấy, ngày nào hắn cũng dậy cúi đầu trước không dưới hai mươi bức ảnh các loại thần mà hắn treo trên tường phòng, rồi nói, “Om, om, om.” Khi hắn làm thế, hắn nhìn tôi qua khóe mắt, như thể nói, Mày không cầu nguyện à? Mày là gì, một tên Naxal chắc?
Một đêm tôi ra chợ mua hai tá tượng Hanuman và Ram loại rẻ nhất mà tôi tìm được rồi đem về chất đầy phòng; và chúng tôi thi nhau, người này lấn át lời cầu nguyện của kẻ kia vào buổi sáng trong khi cúi mình đảnh lễ trước những vị thần riêng của mình.
Ông già người Nepal tay mặt liền tay trái với Ram Persad. Một hôm ông ta ập vào phòng tôi rồi đặt một chiếc xô nhựa đánh phịch xuống đất.
“Mày có thích chó không, thằng trai làng?” ông ta hỏi với nụ cười nhăn nhở.
Có hai con chó thuộc giống Pomeran trong nhà - tên là Cuddles và Puddles. Người giàu muốn chó của mình được đối xử như con người, ngài biết không - họ muốn chó của mình được chiều chuộng, dắt đi dạo và nựng nịu, thậm chí được tắm rửa nữa chứ! Và đố ngài biết ai phải làm công việc tắm táp ấy? Tôi quỳ xuống kì cọ lũ chó, sau đó xoa xà phòng cho chúng, đánh nổi bọt, rồi rửa sạch, sau đó lấy máy sấy tóc sấy khô da chúng. Xong đâu đấy tôi cầm dây dắt chúng đi dạo quanh trang viên trong khi ông vua Nepal ngồi ở một góc và quát, “Đừng kéo dây mạnh quá! Chúng còn đáng giá hơn cả mày đấy!”
Khi đã xong nhiệm vụ với Cuddles và Puddles, tôi đi về, ngửi hai tay mình - thứ duy nhất có thể làm bay mùi da chó khỏi đôi tay của kẻ đầy tớ chính là mùi da của ông chủ nó.
Ông Ashok đang đứng ngoài phòng tôi.
Tôi chạy đến trước mặt ông và cúi rạp xuống. Ông đi vào phòng; tôi đi theo, vẫn cúi gập người. Ông cúi đầu để đi qua khung cửa - cái khung được xây cho đám đầy tớ thiếu ăn, không phải cho ông chủ cao lớn được chăm sóc kĩ như ông ấy. Ông nhìn lên trần nhà đầy nghi ngại.
“Khiếp nhỉ,” ông nói.
Cho đến lúc đó tôi đã không nhận ra sơn trên trần đang tróc ra thành mảng lớn, và mạng nhện giăng khắp các góc phòng. Tôi đã quá hạnh phúc trong căn phòng ấy đến thời điểm này.
“Sao có mùi kinh thế? Mở cửa sổ ra nào.”
Ông ngồi xuống giường của Ram Persad rồi lấy ngón tay ấn xuống. Có cảm giác cứng. Tôi lập tức thôi ganh tị với Ram Persad.
(Và vậy là tôi nhìn căn phòng bằng mắt ông ấy; ngửi nó bằng mũi ông ấy, ấn nó bằng ngón tay ông ấy - tôi đã bắt đầu lĩnh hội ông chủ của mình!)
Ông nhìn về phía tôi, nhưng tránh ánh mắt tôi, cứ như thấy tội lỗi gì đấy.
“Cậu và Ram Persad đều sẽ có một căn phòng tốt hơn để ngủ. Có giường riêng. Và một chút riêng tư.”
“Xin ông đừng làm thế ạ. Nơi này đã là cung điện với chúng con rồi.”
Điều đó khiến ông ấy cảm thấy dễ chịu hơn. Ông nhìn tôi.
“Cậu đến từ Laxmangarh, phải không?”
“Vâng thưa ông.”
“Ta sinh ra ở Laxmangarh. Nhưng ta chưa từng nhìn thấy nơi ấy. Cậu cũng sinh ra ở đấy à?”
“Vâng thưa ông. Sinh ra và lớn lên ở đó.”
“Nơi ấy thế nào?”
Trước khi tôi kịp trả lời, ông nói, “Chắc là đẹp lắm.”
“Như thiên đường đấy ạ.”
Ông nhìn tôi từ trên xuống dưới, từ đầu đến chân, như cách mà tôi đã quan sát ông kể từ khi tôi mới đến nhà này. Đôi mắt ông đầy ắp tư lự: sao hai cá thể người đối lập nhường này lại có thể được tạo ra bởi cùng một loại đất cát, nước và ánh sáng mặt trời như thế?
“Chà, ta muốn đến đó hôm nay,” ông nói, đứng dậy khỏi giường. “Ta muốn nhìn thấy nơi mình sinh ra. Cậu sẽ chở ta đến đó.”
“Vâng thưa ông!”
Về nhà! Lại còn được mặc đồng phục, lái chiếc xe của lão Cò, chuyện trò với con trai và con dâu lão!
Tôi những muốn quỳ xuống chân ông và hôn lên chúng.
Lão Cò cũng muốn đi cùng chúng tôi, và như thế sẽ thực sự biến chuyến về làng của tôi trở nên long trọng - nhưng vào phút chót lão quyết định ở lại. Cuối cùng, chỉ có ông Ashok và bà Pinky được tôi chở đi trên chiếc Honda City, về miền quê, thẳng tiến Laxmangarh.
Đó là lần đầu tiên tôi chở hai vợ chồng họ - đặc quyền này vẫn thuộc về Ram Persad cho đến lúc ấy. Tôi vẫn chưa quen với chiếc Honda City, vốn là một chiếc xe đỏng đảnh có tâm tính riêng, như tôi đã nói. Tôi chỉ cầu mong các vị thần - tất cả thần thánh - đừng để tôi phạm sai lầm nào.
Họ chẳng nói gì trong nửa giờ. Là tài xế, đôi khi ngài có thể cảm nhận được khi nào không khí trong xe đang căng thẳng; nó làm tăng nhiệt độ trong xe. Người phụ nữ trên xe đang rất giận dữ.
“Tại sao chúng ta lại đi đến cái chốn khỉ ho cò gáy này, Ashoky?” Giọng của bà, cuối cùng cũng phá tan sự im lặng.
“Đó là quê quán tổ tiên của anh, Pinky à. Em không muốn nhìn thấy nó sao? Anh được sinh ra ở đó - nhưng bố gửi anh đi khi anh còn nhỏ. Lúc ấy đang có rắc rối với những du kích Cộng sản. Anh nghĩ chúng ta có thể...”
“Anh đã định ngày về chưa?” bà đột ngột hỏi.“Ý em là về New York.”
“Không. Chưa đâu. Chúng ta sẽ định ngày sớm thôi.”
Ông im lặng trong giây lát; hai tai tôi lúc ấy đã mở căng. Nếu họ trở về Mỹ - chẳng phải là họ sẽ không còn cần đến tài xế thứ hai trong nhà hay sao?
Bà chẳng nói gì; nhưng tôi xin thề, tôi có thể nghe thấy tiếng bà nghiến răng.
Song ông Ashok lại chẳng hay biết gì - ông bắt đầu ngân nga trong miệng một bài nhạc phim, cho đến khi bà nói, “Đùa cái đ. gì thế.”
“Thế là sao?”
“Anh nói dối chuyện trở về Mỹ, đúng không, Ashok - anh sẽ không bao giờ trở lại, có phải không?”
“Trong xe có tài xế, Pinky - anh sẽ giải thích mọi chuyện sau.”
“Ôi, nó thì có gì quan trọng! Nó chỉ là tài xế. Còn anh lại đang đánh trống lảng lần nữa!”
Một mùi hương đáng yêu bao trùm chiếc xe - tôi biết bà hẳn đã di chuyển và chỉnh trang lại quần áo.
“Sao chúng ta lại cần tài xế chứ? Sao anh không lái xe, như anh từng lái đấy thôi?”
“Pinky, đó là New York - em không thể lái xe ở Ấn Độ, cứ nhìn giao thông mà xem. Chẳng có ai tuân thủ luật lệ gì cả - người ta cứ băng qua đường như điên - nhìn xem - nhìn kia kìa...”
Một chiếc máy kéo đang chạy xuống đường hết tốc lực, khạc ra một chùm khói dầu diesel đen kịt từ ống xả.
“Nó đang chạy sai lề! Người lái chiếc máy kéo ấy thậm chí còn không nhận ra!”
Tôi cũng chẳng nhận ra. Thì tôi biết phải chạy xe ở lề trái, nhưng đến lúc đó tôi không ngờ lại có người bức xúc vì chuyện này đến thế.
“Và cứ nhìn dầu diesel mà nó đang thải ra kìa. Nếu anh lái xe ở đây, anh sẽ điên mất, Pinky ạ.”
Chúng tôi đi dọc theo một con sông, và rồi cũng đến cuối con đường trải nhựa, tôi chở họ qua một đoạn đường dằn xóc, sau đó qua một khu chợ nhỏ với đâu chừng ba cửa hiệu giống nhau, bán những món hàng như nhau gồm dầu hỏa, nhang, và gạo. Mọi người nhìn chúng tôi không chớp mắt. Vài đứa trẻ bắt đầu chạy theo xe. Ông Ashok vẫy tay với bọn chúng, cố làm cho bà Pinky vẫy theo.
Lũ trẻ con biến mất; chúng tôi đã vượt qua ranh giới mà chúng không thể chạy theo được nữa. Chúng tôi vào khu địa chủ.
Người quản gia đang đợi ở cổng trang viên của lão Cò; ông ta mở cửa xe ngay cả trước khi tôi cho xe dừng hẳn, rồi chạm vào chân ông Ashok.
“Hoàng tử nhỏ, cuối cùng ngài cũng đến đây. Cuối cùng cũng đã đến!”
Lợn Rừng đến dùng cơm trưa với ông Ashok và bà Pinky - dù sao lão cũng là bác của họ. Vừa trông thấy lão bước vào dinh thự để dùng bữa trưa, tôi vội đi xuống nhà bếp nói với ông quản gia, “Tôi yêu kính ông Ashok lắm, cứ để tôi phục vụ ông ấy bữa trưa!” Người đầu bếp đồng ý - và tôi có dịp lần đầu tiên nhìn tận mắt Lợn Rừng sau ngần ấy năm. Lão già hơn tôi tưởng, lưng còng hơn, nhưng răng thì vẫn như cũ: bén và xỉn đen với hai chiếc răng hình móc câu không lẫn vào đâu được cong vểnh sang hai bên. Họ ăn ở phòng yến tiệc - một nơi tuyệt diệu, trần cao vời vợi, có đồ nội thất nặng trịch kiểu cổ bày biện khắp nơi, và một đèn chùm khổng lồ.
“Thật là một tòa nhà đẹp,” ông Ashok nói. “Mọi thứ đều lộng lẫy.”
“Trừ chiếc đèn chùm - nó hơi lòe loẹt,” bà nói.
“Bố cháu mê đèn chùm lắm,” Lợn Rừng lên tiếng. “Nó còn muốn gắn một chiếc trong phòng tắm ở đây, cháu biết không? Bác nói nghiêm túc đấy!”
Khi người quản gia bê những đĩa thức ăn ra đặt lên bàn, ông Ashok nhìn rồi hỏi, “Bác không có món gì cho người ăn chay à? Tôi không ăn thịt.”
“Ta chưa từng nghe nói địa chủ nào là người ăn chay,” Lợn Rừng nói. “Như thế không tự nhiên. Cháu cần ăn thịt để trở nên rắn rỏi hơn.” Lão há miệng chỉ vào hai chiếc răng cong vút.
“Cháu không thể tin nổi việc giết động vật vô tội vạ. Cháu biết nhiều người ăn chay ở Mỹ, và cháu nghĩ họ đúng.”
“Đám trai trẻ các cháu tiếp nhận những tư tưởng điên rồ gì thế?” lão già nói. “Cháu là địa chủ. Chỉ những người Bà La Môn mới ăn chay, không phải chúng ta.”
Sau bữa trưa tôi rửa bát, giúp người quản gia pha trà. Ông chủ đã được phục vụ; giờ là lúc tôi đi thăm nhà. Tôi rời khỏi dinh thự bằng cửa sau.
Thật tình, họ còn nhanh chân hơn cả tôi. Cả nhà tôi đã kéo đến dinh thự, đang xúm xít quanh chiếc Honda City, nhìn nó chằm chằm đầy tự hào, mặc dù quá hãi không dám chạm vào.
Kishan giơ tay lên. Tôi đã không gặp anh kể từ khi anh rời Dhanbad về nhà làm ruộng - đó là ba tháng trước. Tôi cúi xuống chạm vào chân anh, và cứ ôm rịt lấy chúng thật lâu, vì tôi biết giây phút tôi thả ra anh sẽ cho tôi nhừ đòn - tôi đã không gửi tiền về nhà trong hai tháng qua.
“Ối da, hóa ra nó cũng còn nhớ đến nhà mình đấy!” anh ngọt nhạt, hất tôi ra khỏi chân. “Nó có quan tâm gì đến chúng ta đâu cơ chứ?”
“Xin anh tha lỗi cho em.”
“Chú mày chẳng gửi đồng xu nào về trong mấy tháng rồi. Chú quên mất thỏa thuận của chúng ta.”
“Tha lỗi cho em, tha lỗi cho em.”
Nhưng họ có giận gì đâu. Đó là lần đầu tiên tôi có thể nhớ mình được quan tâm chăm sóc nhiều hơn con trâu. Om sòm ồn ào nhất, như thường lệ, là bà già Kusum quỷ quyệt, mồm cứ cười hí hửng, tay chà xát cánh tay.
“Ôi, ngày cháu còn nhỏ cứ là một tay bà đút cho ăn bánh kẹo,” bà vừa nói vừa bẹo má tôi. Bà quá khiếp vía trước bộ đồng phục của tôi nên chả dám thử đụng vào chỗ nào khác trên người.
Họ suýt nữa là vác tôi lên lưng trở về nhà cũ, phải nói thế. Xóm giềng đang chờ ở đấy để xem bộ đồng phục của tôi.
Tôi được giới thiệu những đứa trẻ con sinh ra trong nhà sau khi tôi đi, bị buộc phải hôn lên trán chúng. Thím Laila đã sinh hai đứa khi tôi đi. Vợ anh họ Pappu, Leela, đã kịp làm một đứa. Gia đình đông đúc hơn. Nhu cầu cũng nhiều hơn. Tôi bị tổng xỉ vả vì không gửi tiền về hằng tháng.
Kusum đấm vào đầu thùm thụp; mò sang nhà hàng xóm rên rỉ. “Thằng cháu tôi có công ăn việc làm, vậy mà nó vẫn còn bắt tôi làm việc. Đến là khổ cho cái thân già này.”
“Kiếm vợ cho nó đi!” xóm giềng la ó. “Đó là cách duy nhất thuần phục những đứa hoang đàng như nó!”
“Phải,” Kusum đáp. “Phải, đó là một ý hay.” Bà cười nhăn nhở, chà xát cánh tay. “Một ý rất hay.”
Kishan có rất nhiều tin tức để báo với tôi - và bởi vì đây là Bóng tối, nên tất thảy đều là tin xấu. Đảng viên Đại Xã hội đang mục nát hơn bao giờ hết. Cuộc chiến giữa những tên khủng bố Naxal với địa chủ trở nên đẫm máu hơn. Những kẻ ruồi muỗi như chúng tôi bị kẹt ở giữa. Mỗi bên đều có đội quân riêng, đi lăng quăng bắn giết đánh đập những người bị tình nghi là ủng hộ phe kia.
“Cuộc sống ở đây biến thành địa ngục rồi,” anh bảo. “Nhưng bọn anh rất vui vì chú thoát khỏi chốn hỗn tạp này - chú có một bộ đồng phục, và một ông chủ tốt.”
Kishan đã thay đổi. Anh gầy hơn, đen hơn - gân cổ lòi ra nhô cao trên chiếc xương đòn sâu hoắm. Đột nhiên, anh đã trở thành bố.
Tôi thấy bà Kusum cười toe, chà xát cánh tay, và nói về chuyện cưới hỏi của tôi. Bà đích thân dọn bữa trưa cho tôi. Khi chan cà ri vào đĩa - bà đã làm món gà, chỉ dành riêng cho tôi - bà bảo, “Ta sẽ gút chuyện cưới hỏi vào cuối năm nay, được không? Chúng ta tìm thấy người cho cháu rồi - một con vịt cái béo mẫm xinh đẹp. Khi nào nó phát kinh, nó có thể đến đây.”
Trước mặt tôi là những miếng xương và thịt đỏ hỏn nấu cà ri - vậy mà tôi cứ ngỡ họ dọn món thịt tươi lấy từ thân thể anh Kishan bày lên đĩa cho tôi.
“Thưa bà,” tôi nói, nhìn miếng thịt to đỏ hỏn nấu cà ri, “cho cháu ít thời gian. Cháu chưa sẵn sàng cưới vợ.”
Bà chưng hửng. “Ý mày là sao, chưa sẵn sàng? Mày sẽ làm những gì chúng tao muốn.” Bà mỉm cười. “Giờ thì ăn đi, cục cưng. Bà làm thịt gà chỉ để cho cháu đấy.”
Tôi đáp, “Không.”
“Ăn đi.”
Bà đẩy cái đĩa đến gần tôi.
Mọi người trong nhà dừng tay để theo dõi màn đấu khẩu.
Bà lườm nguýt. “Mày là ai chứ, người Bà La Môn chắc? Ăn, ăn đi.”
“Không!” tôi tống cái đĩa mạnh đến nỗi nó bay vào góc nhà, đập vào tường rồi bắn cà ri đỏ tung tóe xuống đất. “Cháu nói rồi, cháu sẽ không cưới xin gì hết!”
Bà quá sửng sốt đến nỗi không thốt được một câu. Anh Kishan đứng dậy cố ngăn tôi lại khi tôi bỏ đi, nhưng tôi đẩy anh qua một bên - anh ngã giúi giụi - còn tôi bước ra khỏi nhà.
Trẻ con chạy theo tôi ra ngoài, những đứa bé nhỏ xíu bẩn thỉu con của thím này thím nọ mà tên tôi chả buồn biết, đầu tóc tôi chả buồn chạm vào. Chúng từ từ hiểu ra và quay trở lại.
Tôi bỏ lại ngôi đền, khu chợ, lũ lợn, và cống rãnh. Tôi đứng lẻ loi tại cái ao - Pháo đài đen nằm trên đồi trước mặt tôi.
Tôi ngồi xuống mé nước, nghiến răng kèn kẹt. Tôi không thể thôi nghĩ ngợi về thân hình anh Kishan. Bọn họ đang ăn tươi nuốt sống anh ở đấy! Bọn họ sẽ đối xử với anh như đã làm với bố - khoét dần khoét mòn anh ra rồi bỏ mặc anh yếu ớt và bất lực, cho đến khi bị lao phổi rồi chết trên sàn một bệnh viện nhà nước, chờ được bác sĩ khám, khạc máu tung tóe khắp tường!
Có tiếng tóe nước. Con trâu nhấc cái đầu phủ lá súng lên - tròn mắt ngó tôi. Một con cò đứng trên một chân nhìn tôi chăm chú.
Tôi đi cho đến khi nước ngập đến cổ, rồi bơi - qua những hoa sen hoa súng, qua con trâu, qua nòng nọc cá tôm và những tảng đá to lăn xuống từ pháo đài. Trên thành lũy đổ nát, bầy khỉ xúm lại nhìn: tôi đã bắt đầu leo lên đồi.
Ngài đã quen với tình yêu thi ca của tôi - và đặc biệt là tác phẩm của bốn thi hào Hồi giáo được công nhận là xuất sắc nhất mọi thời đại. Thế này, Iqbal, một trong số đó, đã viết nên một bài thơ xuất chúng trong đó ông hình dung mình là Quỷ sứ đòi quyền lợi lúc Thượng đế tìm cách đe dọa nó. Quỷ sứ, theo các tín đồ Hồi giáo, từng là kẻ thân cận Thượng đế, cho đến khi nó chống lại Người và trở thành kẻ tự do, kể từ đó luôn có cuộc đấu trí giữa Thượng đế và Quỷ sứ. Đây là những gì Iqbal viết. Từ ngữ chính xác của bài thơ thì tôi không nhớ, nhưng đại khái là thế này.
Thượng đế nói: Ta có quyền năng. Ta là vô thượng. Hãy làm tôi tớ cho ta lần nữa.
Quỷ đáp: Ha!
Khi tôi nhớ đến con quỷ của Iqbal, như tôi vẫn thường nhớ mỗi khi nằm ở đây dưới chiếc đèn chùm này, tôi mường tượng ra một hình hài nhỏ thó đen đúa mặc đồng phục kaki đang leo lên lối vào pháo đài đen.
Giờ thì nó đứng đấy, một chân trên thành lũy Pháo đài đen, vây xung quanh là bầy khỉ kinh ngạc. Tít trên trời xanh, Thượng đế đang dang bàn tay Người xuống đồng bằng phía dưới, chỉ cho gã nhỏ thó này làng Laxmangarh, nhánh sông Hằng, và tất thảy những gì nằm trên đó: một triệu ngôi làng như thế, một tỉ người như thế. Rồi Thượng đế hỏi gã nhỏ thó:
Tất cả không tuyệt sao? Tất cả không lớn lao sao? Con có thấy vinh dự được trở thành tôi tớ của ta không?
Và rồi tôi thấy cái gã nhỏ thó đen đủi này trong bộ đồng phục kaki ướt sũng bắt đầu run lên bần bật như thể giận quá hóa điên, trước khi làm một cử chỉ cảm tạ với Đấng toàn năng vì đã tạo ra thế giới theo cách này, thay vì theo mọi cách khác mà nó lẽ ra nên thế.
Tôi thấy gã nhỏ thó trong bộ đồng phục kaki nhổ nước bọt vào Thượng đế hết lần này đến lần khác, trong lúc tôi nhìn những cánh quạt đen cắt ngang ánh sáng đèn chùm hết lần này đến lần khác.
***
Nửa giờ sau, tôi xuống đồi, đi thẳng đến dinh thự lão Cò. Ông Ashok và bà Pinky đang đợi tôi bên chiếc Honda City.
“Mày biến đi đâu vậy thằng tài xế kia?” bà quát. “Bọn tao đợi mày nãy giờ đấy.”
“Xin lỗi bà,” tôi đáp, cười gượng gạo. “Con thành thật xin lỗi.”
“Độ lượng chút đi, Pinky. Cậu ấy về thăm nhà thôi mà. Em cũng biết ở khu Bóng tối người ta thân thiết với gia đình mình thế nào rồi chứ.”
Bà Kusum, cô Luttu, và toàn thể chị em phụ nữ đã tề tựu bên vệ đường khi chúng tôi lái xe ra. Họ há hốc mồm nhìn tôi - sửng sốt vì tôi không hề buông ra một lời xin lỗi: tôi trông thấy bà Kusum giơ nắm đấm xương xẩu về phía mình.
Tôi nhấn ga rồ máy vượt qua họ.
Chúng tôi đi qua khu chợ - tôi nhìn lại quán trà: những người nhện đang làm việc tại bàn, những chiếc xe lôi được xếp ngay ngắn thành hàng ở phía sau, còn người lái xe đạp với tấm áp phích phim khiêu dâm mỗi ngày ở bên kia bờ sông vừa mới bắt đầu cuốc xe đầu tiên.
Tôi lái xe qua thảm thực vật xanh rì, qua những bụi rậm cây cối và bầy trâu nước nằm ườn trên ao bùn; qua những đám dây leo và bờ bụi; qua ruộng lúa; qua đám cọ; qua bụi chuối; qua cây đa cây đề; qua bờ cỏ dại với lũ trâu lấp ló. Một thằng bé cởi trần đang cưỡi trâu bên vệ đường; khi trông thấy chúng tôi, nó giật nắm đấm và hét toáng lên vui sướng - và tôi cũng muốn hét lên đáp lại: Đúng, tao cũng cảm thấy thế! Tao sẽ không bao giờ quay lại đấy!
“Bây giờ nói được chưa, Ashoky? Anh trả lời câu hỏi của em được chưa?”
“Thôi được rồi. Nghe này, khi ta quay về, anh đã thực lòng nghĩ rằng chỉ về trong hai tháng, Pinky ạ. Nhưng... mọi thứ đã thay đổi quá nhiều ở Ấn Độ. Bây giờ có nhiều thứ anh có thể làm được ở đây hơn là ở New York.”
“Ashoky, thật vớ vẩn.”
“Không, không vớ vẩn. Thật đấy, không hề. Cái cách mà mọi thứ đang thay đổi ở Ấn Độ hiện nay sẽ biến nơi này thành một nước giống như Mỹ trong mười năm tới. Thêm nữa, anh thích ở đây hơn. Ở đây chúng ta có người phục vụ chu đáo - có tài xế, người quản gia, người xoa bóp. Ở New York tìm đâu ra một nơi mà người ta bê trà và bánh bích quy đến cho em khi em nằm trên giường, như Ram Bahadur làm cho chúng ta? Em biết không, bác ấy đã làm trong nhà anh ba mươi năm - chúng ta gọi bác ấy là đầy tớ, chứ thực ra bác ấy là người nhà rồi. Bố tìm thấy ông bác người Nepal này đang đi lang thang ở Dhanbad với một khẩu súng trong tay và nói...”
Ông chợt im bặt.
“Em có thấy không, Pinky?”
“Cái gì?”
“Em có thấy cậu tài xế làm gì không?”
Tim tôi đánh thót. Tôi không biết mình mới làm gì. Ông Ashok chồm lên nói, “Tài xế, cậu vừa mới chạm tay lên mắt, đúng không?”
“Vâng thưa ông.”
“Em thấy chưa, Pinky - chúng ta vừa mới lái xe ngang qua một ngôi đền” - ông Ashok chỉ vào khối kiến trúc hình chóp cao nghệu với những con rắn đen quấn vào nhau vẽ trên tường mà chúng tôi vừa mới băng qua - “vậy là cậu tài xế...”
Ông chạm vào vai tôi.
“Cậu tên gì?”
“Balram ạ.”
“Vậy là cậu Balram đây chạm lên mắt như một dấu hiệu của lòng tôn kính. Dân làng ở khu Bóng tối thật là sùng tín.”
Điều đó có vẻ gây ấn tượng mạnh lên họ, vì thế một lát sau tôi lại đặt ngón tay lên mắt, lần nữa.
“Thế nghĩa là gì, cậu tài xế? Ta chẳng thấy ngôi đền nào quanh đây cả.”
“Ơ... chúng ta vừa băng qua một cái cây thiêng, thưa ông. Con chỉ bày tỏ lòng tôn kính.”
“Em nghe chưa? Họ thờ phụng thiên nhiên. Thật đẹp biết bao, phải không nào?”
Cả hai mở to mắt nhìn vào mỗi cái cây hay ngôi đền mà xe băng qua, và quay sang tôi xem từng phản ứng của lòng mộ đạo - mà tôi đã chỉ cho họ, hẳn nhiên rồi, với sự tỉ mỉ ngày càng tăng: đầu tiên chỉ chạm vào mắt, sau đó đến cổ, đến xương đòn, và cả đầu ti nữa.
Họ tin sái cổ rằng tôi là người đầy tớ mộ đạo nhất thế gian. (Nhớ nhá, Ram Persad!)
Con đường trở lại Dhanbad đã bị phong tỏa. Một chiếc xe tải đỗ chắn ngang. Một đám đàn ông đeo dây buộc đầu màu đỏ đang hô vang khẩu hiệu.
“Vùng lên chống bọn nhà giàu! Ủng hộ Đảng viên Đại Xã hội. Tống cổ bọn địa chủ!”
Không lâu sau một đoàn xe tải khác đến: những người ngồi trong xe đeo dây buộc đầu màu xanh, hô khẩu hiệu đáp lại đám người trong chiếc xe tải kia.
Một cuộc chiến sắp bùng nổ.
“Có chuyện gì thế?” bà Pinky hỏi giọng thảng thốt.
“Bình tĩnh,” ông đáp. “Đang là mùa bầu cử, thế thôi.”
Bây giờ, để giải thích với ngài chuyện gì đang xảy ra với những câu khẩu hiệu từ những chiếc xe tải này, tôi sẽ phải nói hết với ngài về dân chủ - một khái niệm mà người Trung Quốc các ngài, theo tôi được biết, chưa quen lắm. Nhưng chuyện đó phải chờ đến mai, thưa Ngài.
Giờ là 2g44 phút sáng.