Cọp Trắng

Lượt đọc: 1397 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ĐÊM THỨ SÁU

Ước mơ của người giàu, và ước mơ của kẻ nghèo - chúng chẳng bao giờ giẫm lên nhau, phải không?

Ngài thấy đấy, người nghèo cả đời mơ được đủ ăn và trông giống người giàu. Còn người giàu mơ gì?

Giảm cân và trông giống kẻ nghèo.

Hằng đêm, khuôn viên quanh Cao ốc Buckingham Dãy B trở thành sân tập thể dục. Những người đàn ông to béo, bụng phệ cùng những phụ nữ to béo hơn, bụng phệ hơn, mồ hôi tuôn ròng ròng như suối dưới tay, đang tập “đi bộ” buổi tối.

Ngài xem, với tất cả những buổi tiệc tùng thâu đêm thế này, và kiểu ăn uống nhậu nhẹt như thế, người giàu ở Delhi thường dễ béo lên. Vì vậy họ đi bộ để giảm cân.

Bây giờ, người ta nên đi bộ ở đâu? Tại những nơi lộ thiên - bên bờ sông, trong công viên, quanh khu rừng.

Tuy nhiên, để thể hiện tài năng thường thấy của họ trong việc quy hoạch thành phố, người giàu ở Delhi đã xây khu vực này ở Gurgaon thành một nơi không có công viên, bãi cỏ hay sân chơi - chỉ là những tòa nhà, trung tâm mua sắm, khách sạn, và thêm nhiều tòa nhà. Có một vỉa hè bên ngoài, nhưng đấy là nơi để bọn nhà nghèo tá túc. Vì thế nếu muốn “đi bộ” một chút, ngài phải làm điều đó trong khuôn viên bê tông của tòa nhà mình.

Bây giờ, trong lúc đi bộ quanh khu chung cư, đám người béo ấy buộc các đầy tớ gầy đét của mình - đa phần là tài xế - đứng ở nhiều điểm trên cung đường với chai nước khoáng và khăn lạnh trong tay. Mỗi lần đi hết một vòng quanh tòa nhà, họ dừng lại cạnh đầy tớ của mình, vồ lấy chai nước - uống ừng ực - giật cái khăn - lau, lau - rồi bắt đầu vòng hai.

Môi Bạch Biến đứng ở một góc của khuôn viên, với chai nước và chiếc khăn đẫm mồ hôi của chủ trên tay. Cứ vài phút hắn lại quay sang tôi nháy mắt một cái - chủ hắn, gã làm thép, cách đấy hai tuần vẫn còn bị hói, nay đang tập thể thao với một mái tóc đen dày - kết quả một đợt làm tóc giả tốn kém mà ông ta sang tận nước Anh mới có. Chỏm tóc này là đề tài buôn chuyện chính của đám tài xế mấy hôm nay - những gã tài xế khác đã đưa Môi Bạch Biến mười rupee để giở lại các trò cũ như đạp phanh bất thình lình, hoặc phóng hết tốc lực qua ổ gà, để làm rơi chỏm tóc giả của ông chủ hắn ít nhất một lần.

Bí mật của chủ mình bị đám tái xế tiết lộ và lôi ra mổ xẻ mỗi buổi tối - dù vậy nếu bất kì đứa nào lấy chuyện li dị ra làm đề tài buôn dưa lê, hắn biết hắn sẽ lôi thôi với tôi. Tôi không cho phép bất kì kẻ nào xâm phạm đến đời tư ông Ashok.

Tôi đang đứng cách Môi Bạch Biến chỉ vài mét, cầm chai nước khoáng của chủ trong tay và vắt chiếc khăn ướt mồ hôi của ông trên vai.

Ông Ashok sắp đi hết vòng - tôi có thể ngửi thấy mùi mồ hôi của ông tiến về phía tôi. Đây là vòng thứ ba của ông ấy. Ông cầm lấy chai nước, nốc cạn, lau mặt bằng khăn, rồi quàng nó qua vai tôi.

“Ta xong rồi, Balram. Đem khăn và chai lên nhà nhé?”

“Vâng, thưa ông,” tôi đáp, nhìn ông đi vào khu chung cư. Ông đi bộ một hoặc hai lần mỗi tuần, nhưng rõ ràng như thế là không đủ để bù lại những đêm bù khú của ông ấy - tôi thấy một cái bụng to ướt sũng bết chặt vào chiếc áo phông của ông. Dạo này ông ấy mới đáng tởm làm sao chứ.

Tôi ra dấu cho Môi Bạch Biến trước khi đi xuống bãi đỗ xe.

Mười phút sau, tôi ngửi thấy mùi mồ hôi của gã làm thép và nghe tiếng bước chân. Môi Bạch Biến đã xuống. Tôi gọi hắn đến chiếc Honda City - đó là nơi duy nhất trên cõi đời này mà tôi còn cảm thấy an toàn tuyệt đối.

“Chuyện gì thế, Chuột Đồng? Muốn quyển tạp chí khác hả?”

“Không phải thế. Chuyện khác.”

Tôi hạ người xuống; ngồi xổm cạnh bánh xe chiếc City. Tôi lấy ngón tay cào đường rãnh của lốp xe. Hắn cũng ngồi xổm xuống.

Tôi đưa hắn xem sợi tóc vàng - tôi đã buộc nó quanh cổ tay, như đeo một chiếc mề đay. Hắn đưa cổ tay tôi lên mũi - dùng ngón tay xoa xoa sợi tóc, ngửi nó, rồi thả cổ tay tôi xuống.

“Không vấn đề.” Hắn nháy mắt. “Tao đã bảo ông chủ mày sẽ thấy cô đơn mà.”

“Đừng nói về ông ấy!” Tôi túm cổ hắn. Hắn đẩy tôi ra.

“Mày điên à? Muốn làm người ta ngạt thở sao!”

Tôi lại cào đường rãnh trên lốp xe. “Tốn bao nhiêu?”

“Hàng xịn hay hàng thường? Còn trinh hay mất trinh? Tùy cả đấy.”

“Tao không quan tâm. Chỉ cần có tóc vàng - giống trong quảng cáo dầu gội đầu ấy.”

“Rẻ nhất mười, mười hai nghìn.”

“Đắt thế. Ông ấy sẽ không chịu trả hơn bốn nghìn bảy trăm đâu.”

“Sáu nghìn năm trăm, Chuột Đồng. Đấy là giá thấp nhất. Da trắng phải có giá của nó chứ.”

“Được.”

“Chừng nào ông ta muốn vậy, Chuột Đồng?”

“Tao sẽ cho mày biết. Sẽ sớm thôi. Còn nữa - tao muốn biết một chuyện khác.”

Tôi đưa mặt vào lốp xe và ngửi mùi da. Để lấy dũng khí.

“Có bao nhiêu cách để tài xế đánh lừa ông chủ của mình?”

***

Ngài Gia Bảo, tôi biết rằng trong những quyển sách kinh doanh bọc giấy bóng kính thông thường có những “cột thông tin bên lề” nhỏ. Ở giai đoạn này của câu chuyện, để ngài đỡ nhàm chán, tôi muốn thêm “cột thông tin” của mình vào chuyện kể về quá trình trưởng thành và phát triển của nhà doanh nhân hiện đại.

TÀI XẾ CÓ MÁU LÀM GIÀU KIẾM THÊM TIỀN BẰNG CÁCH NÀO?

1.Khi ông chủ vắng mặt, y có thể trộm xăng trong xe, dùng một cái phễu. Sau đó bán xăng.

2. Khi ông chủ bảo y sửa xe, y có thể tìm đến một thợ cơ khí ăn hối lộ; tay thợ này sẽ thổi phồng giá sửa xe, và người tài xế sẽ nhận phần chênh lệch. Đây là danh sách một số thợ cơ khí có máu làm giàu thường giúp đỡ tài xế có máu làm giàu:

Lucky Mechanics, ở Lado Serai, gần Qutub

R.V. Repairs, ở Greater Kailash Phần Hai

Nilofar Mechanics, ở DLF Giai đoạn Một, Gurgaon.

3. Y nên nghiên cứu thói quen của chủ, rồi tự hỏi: “Chủ của mình có bất cẩn không? Nếu có, đâu là cách ta có thể lợi lộc từ sự bất cẩn của ông ấy?” Chẳng hạn, nếu chủ y để chai rượu Anh rỗng lăn lóc trong xe, y có thể bán những chai rượu whisky đó cho bọn nấu rượu lậu. Johnnie Walker Black có giá bán lại tốt nhất.

4.Khi đã có kinh nghiệm và sự tự tin, và sẵn sàng liều hơn, y có thể biến xe của chủ thành xe taxi tự do. Tuyến đường từ Gurgaon đến Delhi cực kì thích hợp cho việc này; rất nhiều chàng Romeo đến thăm bạn gái làm việc trong các trung tâm hỗ trợ khách hàng qua điện thoại. Một khi tài xế có máu làm giàu chắc chắn rằng chủ của y sẽ không để ý đến sự vắng mặt của chiếc xe - và rằng không có bạn bè nào của chủ có thể ở trên đường vào giờ này - y có thể dành thời gian rảnh rỗi lượn lờ, đón và trả khách.

Tối hôm ấy tôi nằm trong màn chắn muỗi, đèn trong phòng mở sáng, nhìn theo những con gián đen bò trên nóc màn, những bộ râu rung rung giật giật, như những mẩu dây thần kinh của tôi: còn tôi nằm trên giường, kích động đến mức không thò nổi tay ra để nghiền nát chúng. Một con bay xuống đáp ngay phía trên đầu tôi.

Lẽ ra mày nên yêu cầu bọn họ trả tiền khi bắt mày kí vào thứ ấy. Đủ tiền để ngủ với hai mươi con da trắng. Nó bay đi. Một con khác đáp xuống đúng chỗ ấy.

Hai mươi á?

Một trăm. Hai trăm. Ba trăm, một nghìn, mười nghìn con điếm tóc vàng. Mà cả như thế vẫn chưa thấm vào đâu. Như thế vẫn chưa bắt đầu gọi là đủ.

Trong hai tuần kế tiếp, tôi làm những việc mà đến nay vẫn còn xấu hổ không dám nhận. Tôi đã gian lận chủ của mình. Tôi ăn cắp xăng của ông ấy; tôi đưa xe ông ấy đến một thợ cơ khí đồng lõa để tính tiền những việc không cần làm; và ba lần, trong lúc lái xe về Buckingham B, tôi đã đón một khách hàng trả tiền.

Điều lạ lùng nhất là mỗi khi nhìn vào số tiền kiếm được nhờ gian lận chủ, thay vì thấy tội lỗi, tôi đã cảm thấy gì?

Thịnh nộ.

Càng ăn cắp của ông ấy, tôi càng nhận ra ông ấy đã ăn cắp của tôi biết bao nhiêu.

Trở lại phép loại suy mà tôi từng dùng khi mô tả chính trị Ấn Độ với ngài, cuối cùng bụng tôi cũng to dần.

Rồi một buổi chiều Chủ nhật nọ, khi ông Ashok bảo sẽ không cần đến tôi trong hôm ấy nữa, tôi nốc hai ly whisky to để lấy dũng khí, rồi đi xuống khu nhà ở của đầy tớ. Môi Bạch Biến đang ngồi dưới tấm áp phích một nữ diễn viên - mỗi lần chủ hắn “tọng” một diễn viên, hắn lại treo áp phích cô ta lên tường - đang chơi bài với các tài xế khác.

“Chà, mày muốn nói gì cũng được, nhưng tao biết mấy thằng hề này sẽ không tái thắng cử đâu.”

Hắn nhìn lên và trông thấy tôi.

“Ái chà chà, nhìn xem ai đây. Là sư phụ yoga rồng đến nhà tôm đây mà. Xin hoan nghênh, quý ngài.”

Bọn chúng cười khoe răng chào tôi. Tôi cười khoe răng chào lại.

“Bọn tao đang buôn chuyện bầu cử này, Chuột Đồng. Mày biết không, ở đây chẳng giống ở Bóng tối. Bầu cử không bị gian lận. Lần này mày có định đi bầu không?”

Tôi ngoắc ngón tay gọi hắn.

Hắn lắc đầu. “Chốc nữa, Chuột Đồng, tao đang buôn chuyện bầu cử vui quá chừng.”

Tôi vẫy chiếc phong bì màu nâu trong không trung. Hắn bỏ bài xuống ngay lập tức.

Tôi nhất định đòi đi xuống bãi đỗ xe; hắn đếm tiền ở đấy; dưới bóng chiếc Honda City.

“Tốt lắm, Chuột Đồng. Đủ cả rồi. Vậy chủ mày đâu? Mày chở ông ấy đến đó à?”

“Tao là chủ của mình.”

Hắn ngớ người mất một phút. Rồi hắn há mồm - hắn chạy đến - ôm chầm lấy tôi. “Chuột Đồng!” Hắn lại ôm tôi cái nữa. “Người hùng của tao!”

Hắn cũng đến từ Bóng tối - và ngài cảm thấy tự hào khi nhìn thấy một người thuộc chủng loại của mình tỏ chút tham vọng trong cuộc sống.

Hắn chở tôi trong chiếc Qualis - chiếc Qualis của chủ hắn - đến khách sạn, trên đường giải thích với tôi rằng hắn có dấm dúi chạy “taxi” khi chủ vắng mặt.

Khách sạn này nằm ở Nhánh phía nam, Phần Hai - một trong những khu vực mua sắm hoành tráng nhất Delhi. Môi Bạch Biến khóa chiếc Qualis, mỉm cười trấn an, rồi đi cùng tôi đến bàn tiếp tân. Một người đàn ông mặc áo sơ mi trắng thắt nơ đen đang lướt ngón tay dọc những cái tên trong quyển sổ cái dài; rời ngón tay khỏi quyển sổ, ông ta nhìn tôi trong lúc Môi Bạch Biến giải thích mọi chuyện vào tai ông ta.

Người quản lý lắc đầu. “Một cô tóc vàng - cho người này?”

Ông ta đặt tay lên quầy rồi rướn người về trước để có thể nhìn tôi từ chân lên.

“Cho người này?”

Môi Bạch Biến mỉm cười. “Nghe này, người giàu của Delhi đã có tất cả những cô tóc vàng họ muốn rồi; ai mà biết họ muốn thứ gì tiếp theo? Phụ nữ tóc xanh lục đến từ mặt trăng thì sao? Bây giờ đến lượt giai cấp lao động thưởng thức phụ nữ da trắng chứ. Anh bạn đây chính là tương lai cho công việc kinh doanh của ông đấy, tôi nói cho mà biết - đối xử anh ấy tốt vào.”

Người quản lý có vẻ ngập ngừng một lúc; rồi đóng ập quyển sổ lại và xòe bàn tay ra với tôi.

“Đưa tôi thêm năm trăm rupee.” Ông ta cười nhăn nhở. “Phụ phí giai cấp lao động.”

“Tôi không có tiền!”

“Đưa năm trăm đây, không thì quên đi.”

Tôi móc ra ba trăm rupee cuối cùng mà tôi có. Ông ta nhận tiền, vuốt thẳng chiếc nơ đeo cổ, rồi đi lên lầu.

Môi Bạch Biến vỗ vai tôi, “Chúc may mắn, Chuột Đồng - hãy làm vì tất cả chúng ta!”

Tôi chạy lên cầu thang.

Phòng 114A. Người quản lý đứng tại cửa, áp tai vào đấy. Ông ta thì thầm, “Anastasia?”

Ông ta gõ cửa, rồi lại áp tai vào và nói, “Anastasia, cô có trong đấy không?”

Ông ta đẩy cửa mở. Một chiếc đèn chùm, một cánh cửa sổ, một chiếc giường màu xanh lục - và một cô gái tóc vàng ngồi trên giường.

Tôi thở dài, vì cô này trông chẳng giống Kim Basinger tẹo nào. Một nửa cũng không đẹp bằng. Đấy là khi tôi nhận ra - theo cách mà tôi chưa từng thấy trước đây - người giàu luôn luôn có được những thứ tốt nhất trong đời, và tất cả những gì chúng tôi có chỉ là đồ thừa của họ.

Người quản lý xòe hai bàn tay trước mặt tôi; ông ta mở ra rồi đóng lại, và lặp lại như thế.

Hai mươi phút.

Sau đó ông ta làm động tác gõ cửa- rồi động tác đá chân bằng đôi bốt đen bóng lộn.

“Hiểu chưa?”

Đó là điều sẽ xảy ra với tôi sau hai mươi phút.

“Rồi.”

Ông ta đóng sầm cửa. Cô gái tóc vàng vẫn không nhìn mặt tôi.

Tôi chỉ thu đủ can đảm để ngồi xuống cạnh cô ta khi nghe thấy một tiếng đá vào cửa từ bên ngoài.

“Khi nghe tiếng này - là xong! Hiểu chưa?” Tiếng người quản lý.

“Được rồi!”

Tôi nhích lại gần hơn cô gái trên giường. Cô ta không phản kháng cũng không khích lệ. Tôi chạm vào lọn tóc cô ta và kéo nhẹ để cô ta quay mặt về phía tôi. Trông cô ta có vẻ mệt mỏi, kiệt sức, có vết bầm quanh mắt, như bị ai đấy cào phải.

Cô ta nhoẻn miệng cười với tôi - tôi biết quá rõ: đó là nụ cười mà đầy tớ dành cho chủ mình.

“Anh tên gì?” Cô ta hỏi bằng tiếng Hindi.

Cô này cũng thế! Hẳn phải có trường dạy tiếng Hindi cho con gái ở đất nước Ukraine này, tôi thề!

“Munna.”

Cô ta mỉm cười. “Đấy không phải là tên thật. Chỉ có nghĩa là “con trai”.”

“Đúng vậy. Nhưng đó là tên anh,” tôi đáp. “Gia đình anh không đặt cho anh tên nào khác.”

Cô ta bắt đầu cười - giọng cười lanh lảnh trong như bạc khiến cả cái đầu tóc màu vàng của cô ta lắc lư lên xuống. Tim tôi đập như tim ngựa. Mùi nước hoa của cô ta xộc thẳng vào não tôi.

“Anh biết không, khi em còn bé, em được đặt tên theo ngôn ngữ của em có nghĩa là “con gái”. Gia đình em cũng làm thế với em!”

“Ồ,” tôi nói, co chân lên giường.

Chúng tôi trò chuyện. Cô ta nói rất ghét muỗi trong khách sạn này và ghét người quản lý, còn tôi gật đầu. Chúng tôi nói chuyện một lúc như thế, và rồi cô ta bảo, “Trông anh đâu đến nỗi tệ - và anh còn khá dễ thương nữa,” rồi luồn ngón tay vào tóc tôi.

Đúng lúc ấy, tôi nhảy ra khỏi giường. Tôi nói, “Tại sao em lại ở đây, em gái? Nếu em muốn rời khách sạn này, sao em không đi? Đừng lo lắng gì về gã quản lý. Anh ở đây để bảo vệ em! Anh là anh trai của em,Balram Halwai!”

Đúng thế, tôi đã nói thế - trong phim Hindi đấy sẽ là lời thoại của tôi.

“Bảy nghìn rupee quý giá cho hai mươi phút! Đến lúc hành sự rồi!”

Đó mới thực là những gì tôi nói.

Tôi leo lên trên cô ta - và dùng một tay giữ tay cô ta phía sau đầu. Đã đến lúc đút cái ấy vào cô ta. Tôi để bàn tay kia rờ rẫm những lọn tóc vàng của cô ta.

Và rồi tôi rít lên. Cả khi ngài đưa ra một con thằn lằn tôi cũng không thể rít to hơn thế.

“Chuyện gì thế, Munna?” cô ta hỏi.

Tôi nhảy khỏi giường, tát vào mặt cô ả.

Trời ạ, bọn nước ngoài này có thể hét toáng lên bất cứ khi nào chúng muốn.

Ngay tức khắc - cứ như gã quản lý đã ở đấy từ đời nào, tai áp vào cửa, cười nham nhở - cánh cửa mở toang, ông ta bước vào.

“Đây,” tôi quát ông ta, nắm tóc cô ta lên, “đâu phải là màu vàng thật.”

Chân tóc màu đen! Chỉ là tóc nhuộm!

Ông ta nhún vai. “Chứ mày nghĩ là gì, chỉ với bảy nghìn? Hàng thật những bốn mươi, năm mươi cơ.”

Tôi nhảy chồm lên ông ta, nắm cằm ông ta đè vào cánh cửa. “Trả tiền lại cho tao!”

Ả đàn bà thét lên một tiếng từ sau lưng tôi. Tôi quay lại - đấy là sai lầm của tôi. Lẽ ra tôi đã kết liễu tay quản lý ngay tại đấy vào lúc đó.

Mười phút sau, với khuôn mặt bầm tím trầy xước, tôi loạng choạng rời cửa trước. Nó đóng sầm sau lưng tôi.

Môi Bạch Biến không chờ tôi. Tôi phải đón xe buýt về nhà; dọc đường đi tay không ngừng xoa đầu. Bảy nghìn rupee - tôi muốn khóc! Mày có biết ngần ấy tiền mua được bao nhiêu con trâu nước không? - tôi có thể cảm thấy ngón tay bà nội đang véo tai tôi.

Cuối cùng cũng trở về Cao ốc Buckingham - sau một giờ tắc đường trên phố - tôi lau vết thương trên đầu tại bồn rửa tập thể, sau đó nhổ ra hàng tá lần. Đi chết hết đi - tôi gãi háng sồn sột. Tôi cần làm thế. Tôi lừ đừ đi về phòng, đá cánh cửa, và chết điếng.

Có người đang ngồi trong màn. Tôi thấy một dáng người ngồi thế hoa sen.

“Đừng lo, Balram. Ta biết cậu đang làm gì.”

Giọng đàn ông. Ái chà, ít nhất thì người ấy không phải bà nội - đấy là suy nghĩ đầu tiên của tôi.

Ông Ashok vén một góc màn lên và nhìn tôi, mặt nở một nụ cười bí hiểm.

“Ta biết chính xác cậu đang làm gì.”

“Thưa, ông ạ?”

“Ta gọi tên cậu nhưng cậu không trả lời. Vì thế ta đi xuống để xem. Nhưng ta biết chính xác cậu đang làm gì... người tài xế kia, người có đôi môi hồng, cậu ta nói với ta rồi.”

Tim tôi đập thình thịch. Tôi nhìn xuống sàn nhà.

“Cậu ta nói cậu đi ra đền để cầu nguyện cho sức khỏe của ta.”

“Vâng, thưa ông,” tôi nói, mồ hôi tuôn xuống mặt nhẹ nhõm. “Đúng vậy, thưa ông.”

“Vào trong màn đi,” ông nhẹ nhàng nói. Tôi đi vào và ngồi cạnh ông bên trong chiếc màn chắn muỗi. Ông đang nhìn những con gián bò phía trên chúng tôi.

“Chỗ cậu sống tồi tàn quá, Balram. Ta chẳng hề biết. Ta xin lỗi.”

“Không sao đâu thưa ông. Con quen rồi.”

“Ta sẽ cho cậu ít tiền, Balram. Ngày mai cậu đến chỗ nào tốt hơn mà ở nhé?”

Ông ấy nắm tay tôi và lật nó lại. “Balram, những dấu đỏ này trên tay cậu là gì đây? Cậu tự cấu véo mình à?”

“Không, thưa ông... đấy là bệnh về da. Con cũng bị ở đây nữa, sau tai con - ông xem - thấy mấy đốm màu hồng không ạ?”

Ông ấy lại gần, khỏa lấp mũi tôi với mùi nước hoa của ông ấy. Dùng ngón tay gập vành tai tôi lại một cách nhẹ nhàng, ông nhìn nó.

“Trời ơi. Ta chẳng bao giờ để ý. Ngày nào ta cũng ngồi sau lưng cậu vậy mà chẳng bao giờ ta...”

“Rất nhiều người bị bệnh này ông ạ. Rất nhiều người nghèo.”

“Thật sao. Ta không để ý. Thế cậu có chữa được không?”

“Không ạ. Bệnh của người nghèo thì không bao giờ chữa được. Bố con bị bệnh lao và nó đã giết ông ấy.”

“Thế kỉ hai mươi mốt rồi, Balram ạ. Cái gì cũng chữa được tất. Cậu đi bệnh viện chữa đi. Rồi đưa ta hóa đơn, ta thanh toán cho.”

“Cám ơn ông,” tôi đáp. “Ông ơi... ông có muốn con lấy chiếc City đưa ông đi đâu không?”

Ông ấy hé môi rồi ngậm lại mà không phát ra tiếng động nào. Ông làm thế vài lần, đoạn ông bảo, “Lối sống của ta sai hết cả rồi, Balram ạ. Ta chỉ là không có... dũng khí.”

“Đừng suy nghĩ nhiều quá về chuyện ấy, thưa ông. Và, thưa ông, hãy lên lầu, con xin ông đấy. Đây không phải là nơi dành cho người đẳng cấp như ông.”

“Ta để người ta lợi dụng mình, Balram ạ. Cả cuộc đời mình ta chưa bao giờ làm điều mình muốn. Ta...”

Đầu ông chùng xuống; toàn thân trông mệt mỏi tiều tụy.

“Ông nên ăn gì đi ạ.” Tôi nói. “Trông ông bơ phờ quá.”

Ông mỉm cười - một nụ cười tươi tắn, tin cậy của đứa trẻ.

“Cậu lúc nào cũng nghĩ đến ta cả, Balram. Ừ, ta muốn ăn. Nhưng ta không muốn lại đi đến khách sạn, Balram ạ. Hãy đưa ta đến nơi nào mà cậu hay ăn ấy, Balram.”

“Thưa ông?”

“Ta chán ngấy những món mình ăn rồi, Balram. Ta chán ngấy cuộc đời mà ta đang sống. Người giàu bọn ta, chúng ta đã mất phương hướng rồi, Balram à. Ta muốn làm một người đơn giản như cậu đấy, Balram.”

“Vâng, thưa ông.”

Chúng tôi đi ra ngoài, và tôi dẫn ông băng qua đường vào một quán trà.

“Cậu gọi món đi, Balram. Gọi món của người thường ấy.”

Tôi gọi đậu bắp, súp lơ, củ cải, rau bina, và dhal. Đủ để no bụng cả một gia đình, hoặc một người giàu.

Ông ấy ăn, rồi ợ hơi, rồi lại ăn tiếp.

“Thức ăn này ngon tuyệt. Mà chỉ có hai mươi lăm rupee! Người như các cậu ăn uống tốt thật!”

Khi ông ăn xong, tôi gọi cho ông một ly lassi 1, vừa nhấp ngụm đầu tiên, ông mỉm cười. “Ta thích những món ăn của cậu!”

Tôi mỉm cười thầm nghĩ, Tôi cũng thích những món ăn của ông.

***

“Giấy tờ li dị sẽ giải quyết xong sớm. Luật sư bảo thế.”

“Được thôi.”

“Ta có nên tìm từ bây giờ?”

“Một luật sư khác à?”

“Không, một cô gái khác.”

“Còn sớm, anh Mukesh. Cô ấy mới đi được ba tháng mà.”

Tôi đã đưa ông Ashok đến ga tàu hỏa. Cầy Mangut lại lên thành phố từ Dhanbad. Bây giờ tôi đang chở cả hai trở về căn hộ.

“Được thôi. Cứ thong thả. Nhưng chú phải tái hôn. Nếu chú là người li dị thì người ta sẽ không coi trọng chú. Họ sẽ không coi trọng chúng ta. Xã hội này là thế. Nghe đây. Lần trước chú không chịu nghe, khi chú cưới một cô gái không thuộc giai cấp chúng ta, tôn giáo chúng ta - chú còn khước từ của hồi môn từ bố mẹ cô ta nữa. Lần này, chúng ta sẽ chọn người.”

Tôi không nghe thấy gì; tôi biết ông Ashok đang nghiến răng.

“Anh thấy chú đang nổi nóng đấy,” Cầy Mangut nói. “Chuyện đấy ta sẽ bàn sau. Giờ thì, cầm cái này.” Ông ta đưa em trai một chiếc túi đỏ mà ông đem từ Dhanbad lên.

Ông Ashok mở túi lách cách và liếc vào trong - ngay lập tức Cầy Mangut đóng sầm chiếc túi lại.

“Chú điên à? Đừng mở ra trong xe. Đấy là phần cho Mukeshan. Gã béo. Tay trợ lý. Chú biết gã mà, phải không?”

“Vâng, em biết.” Ông Ashok nhún vai. “Chẳng phải chúng ta đã trả hết cho lũ khốn ấy sao?”

“Bộ trưởng muốn thêm. Đang kì bầu cử. Mỗi khi có bầu cử, chúng ta tung tiền ra. Thường thì chi cho cả hai phía, nhưng lần này chính phủ sẽ thắng chắc. Phe đối lập đang rối tung cả lên. Vì thế chúng ta chỉ cần chung tiền cho chính phủ, mà như thế thì tốt cho ta. Lần đầu anh sẽ đi với chú, nhưng nhiều tiền lắm đấy, có lẽ chú còn phải đi lần hai lần ba nữa. Rồi còn cả chục quan chức ta phải bôi trơn nữa. Hiểu chưa?”

“Có vẻ như đây là toàn bộ những gì em phải làm ở Delhi. Rút tiền từ ngân hàng rồi hối lộ người khác. Em trở về Ấn Độ là vì thế này ư?”

“Đừng mỉa mai thế. Và nhớ đấy, mỗi lần xong nhớ xin túi lại. Đây là túi tốt, may ở Ý. Không cần cho bọn chúng thêm quà nữa. Hiểu chưa? Quỷ thần thiên địa ơi. Đừng có thêm một vụ tắc đường chết tiệt nữa chứ.”

“Balram, mở lại Sting đi. Đấy là loại nhạc thích hợp nhất khi tắc đường.”

“Thằng tài xế này biết Sting là ai à?”

“Dĩ nhiên, cậu ta biết đấy là CD em thích nhất. Cho chúng ta xem CD của Sting nào, Balram. Thấy chưa - thấy chưa - cậu ấy biết Sting!”

Tôi cho đĩa vào máy hát.

Mười phút trôi qua, mà những chiếc xe vẫn không nhích nổi một centimet. Tôi thay Sting bằng Enya; rồi thay Enya bằng Eminem.

Những người bán hàng rong đến bên xe với những rổ cam, dâu đựng trong hộp nhựa, hoặc báo, hoặc tiểu thuyết tiếng Anh.

Những người ăn xin cũng tổng tấn công. Một người ăn xin cõng một người khác trên vai đi từ xe này sang xe khác; người trên vai anh ta bị cụt chân từ gối trở xuống. Họ cùng nhau đi lần lượt từng xe, người cụt chân rên rỉ than van còn người kia gõ hoặc cào kính xe.

Không nghĩ ngợi nhiều, tôi tách quả trứng ra.

Kéo kính xuống, tôi thò ra một rupee - người có đôi chân tật nguyền nhận lấy và cúi chào tôi; tôi kéo cửa kính lên và đóng quả trứng lại.

Tiếng nói chuyện ở băng ghế sau dừng ngay tắp lự.

“Kẻ quái quỷ nào bảo mày làm thế?”

“Con xin lỗi ông,” tôi đáp.

“Việc quái gì mày lại cho thằng ăn xin đó một rupee? Thật trơ tráo! Tắt nhạc đi.”

Đêm hôm ấy họ thực sự không bỏ qua cho tôi. Dù trong những lần nói chuyện họ thường pha trộn tiếng Hindi và tiếng Anh, nhưng lần này hai anh em họ chuyển hẳn sang nói bằng tiếng Hindi bình dân - hoàn toàn vì tôi.

“Chẳng phải chúng tao cúng tiền mỗi khi đến đền đó sao?” ông anh nói. “Chúng tao đóng góp mỗi năm cho viện ung thư. Tao mua tấm thiếp đó khi bọn học sinh đến bán.”

“Hôm trước ta nói chuyện với kế toán của chúng ta và cậu ta bảo, “Thưa ông, ông chẳng còn tiền trong ngân hàng. Mất sạch cả rồi.” Cậu có biết ở đất nước này thuế má cao thế nào không?” ông em nói. “Nếu cho tiền thì ta sẽ ăn gì đây?”

Đó là lúc tôi nhận ra rằng thực tình chẳng có sự khác biệt gì giữa hai người ấy. Họ đều là hạt giống của bố mình.

Suốt trên đoạn đường còn lại, Cầy Mangut dán mắt vào kính chiếu hậu. Trông ông ta có vẻ như đã ngửi thấy chuyện gì hài hước lắm.

Khi về đến Buckingham B, ông ta bảo, “Đi lên lầu nào, Balram.”

“Vâng, thưa ông.”

Chúng tôi đứng cạnh nhau trong thang máy. Khi mở cửa căn hộ, ông ta chỉ xuống sàn nhà. “Tự nhiên đi.”

Tôi ngồi xổm dưới bức ảnh của Cuddles và Puddles và kẹp tay giữa hai gối. Ông ta ngồi xuống ghế, tựa mặt vào lòng bàn tay, rồi cứ thế nhìn tôi trân trối.

Lông mày ông nhíu lại. Tôi có thể thấy một suy nghĩ đang hình thành trong đầu ông ta.

Ông ta đứng dậy, đi về phía tôi đang ngồi, rồi quỳ xuống một gối. Ông ta hít không khí.

“Hơi thở mày có mùi hạt hồi.”

“Vâng, thưa ông.”

“Người ta nhai thứ đó để giấu mùi rượu trong hơi thở. Mày có uống không đấy?”

“Không ạ. Giai cấp của con không cho uống rượu.”

Ông ta tiếp tục ngửi, càng lúc càng tiến sát tôi hơn.

Tôi hít một hơi sâu; giữ nó trong bụng; rồi tôi ép nó ra, bằng một cái ợ, vào ngay mặt ông ta.

“Tởm quá, Balram,” ông ta nói với một ánh mắt kinh hãi. Ông ta đứng lên và lùi lại hai bước.

“Xin lỗi ông.”

“Cút đi!”

Tôi bước ra mà người vã mồ hôi.

Ngày hôm sau, tôi chở ông ta và ông Ashok đến nhà của một bộ trưởng hay quan chức nào đấy ở New Delhi; họ đi ra với chiếc túi đỏ. Sau cùng, tôi đưa họ đến một khách sạn để dùng cơm trưa - tôi dặn dò nhân viên khách sạn: không cho khoai tây vào thức ăn - rồi chở Cầy Mangut ra ga tàu hỏa. Tôi chịu đựng những lời đe dọa và cảnh cáo của ông ta - không máy điều hòa, không nhạc, không phí phạm nhiên liệu, blah blah blah. Tôi đứng trên sân ga nhìn ông ta ăn thức ăn nhẹ. Khi tàu rời ga, tôi nhảy nhót quanh sân ga và vỗ tay. Hai đứa trẻ vô gia cư đang nhìn tôi, chúng bật cười - chúng cũng vỗ tay theo. Một trong hai đứa cất lên một bài hát từ bộ phim Hindi mới nhất, và chúng tôi cùng nhau nhảy trên sân ga.

Sáng hôm sau, tôi đang có mặt tại căn hộ, còn ông Ashok đang nghịch chiếc túi đỏ và chuẩn bị đi, thì điện thoại reo.

Tôi nói, “Con sẽ đem túi xuống, thưa ông. Con sẽ đợi trong xe.”

Ông ấy do dự, rồi đưa chiếc túi ra về phía tôi. “Ta sẽ gặp cậu trong một phút nữa.”

Tôi đóng cửa căn hộ. Tôi đi đến thang máy, nhấn nút, rồi chờ đợi. Đấy là một chiếc túi nặng, tôi phải nhấc nó bằng lòng bàn tay.

Thang máy đến tầng thứ tư.

Tôi quay lại nhìn khung cảnh từ lan can tầng mười ba - ánh đèn đang chiếu sáng từ những khu mua sắm ở Gurgaon, ngay cả khi đang là ban ngày sáng rỡ. Một khu chung cư mới vừa khai trương tuần trước. Một cái khác đang xây. Thành phố đang phát triển.

Thang máy đang lên nhanh. Nó sắp đến tầng mười một.

Tôi quay đầu bỏ chạy.

Đá cánh cửa thoát hiểm, chạy vội xuống hai tầng thang bộ tối mù, tôi mở chiếc túi đỏ ra.

Ngay lập tức, toàn bộ cầu thang phủ đầy ánh sáng chói lòa - thứ ánh sáng chỉ có tiền mới tạo ra được.

Hai mươi lăm phút sau, ông Ashok đi xuống, tay mải mê bấm nút điện thoại di động, và nhìn thấy chiếc túi đỏ đang chờ mình trên yên xe. Tôi cầm lên một chiếc đĩa bạc lấp lánh khi ông đóng cửa.

“Con mở Sting cho ông nhé?”

Khi lái xe, tôi cố gắng hết sức không nhìn vào chiếc túi đỏ - đấy là một sự tra tấn đối với tôi, cũng như khi bà Pinky thường ngồi đó với những chiếc váy cũn cỡn.

Khi dừng đèn đỏ, tôi nhìn vào kính chiếu hậu. Tôi trông thấy hàng ria mép dày và quai hàm của mình. Tôi chạm vào kính. Góc hình thay đổi. Giờ đây tôi trông thấy đôi lông mày dài và đẹp uốn cong trên hai vùng xương mày đầy quyền lực; đôi mắt đen long lanh bên dưới vùng cơ căng thẳng ấy. Đôi mắt của con mèo theo dõi con mồi của nó.

Thôi nào, cứ nhìn chiếc túi đỏ đi, Balram - đấy đâu phải là ăn cắp, phải không?

Tôi lắc đầu.

Và ngay cả khi mày ăn cắp nó, Balram, đấy cũng đâu phải là ăn cắp.

Tại sao? Tôi nhìn vào sinh vật trong kính.

Thấy chưa - ông Ashok đang đưa tiền cho các tay chính trị gia này ở Delhi để họ châm chước khoản thuế ông ta phải trả. Và cuối cùng ai mới là chủ số tiền thuế ấy? Còn ai nữa ngoài dân thường ở đất nước này - chính mày!

“Chuyện gì thế, Balram? Cậu mới nói gì à?”

Tôi gõ vào kính. Hàng ria mép tôi lại hiện lên, và đôi mắt biến mất, bây giờ chỉ còn khuôn mặt tôi đang nhìn tôi.

“Gã phía trước con chạy ẩu quá, thưa ông. Con chỉ càu nhàu thôi.”

“Hạ nhiệt đi, Balram. Cậu là tài xế giỏi, đừng để những kẻ xấu chọc giận.”

Thành phố biết bí mật của tôi. Một buổi sáng nọ, Dinh tổng thống chìm trong khói bụi và mất hút khỏi con đường; dường như hôm ấy ở Delhi chẳng còn chính phủ. Và sự ô nhiễm mù mịt đang che khuất thủ tướng cùng toàn thể bộ trưởng quan chức của ông ta nói với tôi:

Bọn họ sẽ chả thấy mày làm gì hết. Tao cam đoan thế.

Tôi lái xe qua bức tường đỏ của Tòa nhà quốc hội. Một lính gác bồng súng dõi theo tôi từ chốt gác trên bức tường đỏ - hắn bỏ súng xuống ngay khi trông thấy tôi.

Tại sao tao phải ngăn mày? Tao cũng sẽ làm thế, nếu có thể.

Buổi tối hôm ấy một người phụ nữ đi trên đường với một chiếc túi bằng giấy bóng kính; đèn pha xe tôi chiếu vào chiếc túi làm nó trở nên trong suốt. Tôi trông thấy bốn quả to sẫm màu trong chiếc túi - và mỗi quả sẫm màu nói, Mày đã làm thế rồi. Trong lòng mày đã lấy rồi. Khi đèn pha lướt qua; giấy bóng kính bị mờ đi; bốn quả sẫm màu biến mất.

Thậm chí con đường - con đường trơn nhẵn bóng loáng của Delhi vốn là đường đẹp nhất ở Ấn Độ - cũng biết bí mật của tôi.

Một ngày nọ tại chốt đèn giao thông, tài xế chiếc xe đỗ cạnh tôi hạ cửa kính và nhổ toẹt ra: hắn đang nhai trầu, một vũng nước nhổ đỏ tươi vỗ toẹt xuống con đường nóng ran giữa trưa, thối rữa như một vật thể sống, lan ra và sôi xèo xèo. Một giây sau, hắn lại nhổ - và bây giờ có một vũng nước thứ hai trên mặt đường. Tôi nhìn hai vũng nước đỏ đang lan dần - và rồi:

Tôi quay mặt khỏi những vũng nhổ đỏ loét. Tôi nhìn vào chiếc túi đỏ nằm giữa kính chiếu hậu, như quả tim lộ ra của chiếc Honda City.

Ngày hôm ấy tôi thả ông Ashok xuống Khách sạn Imperial, và ông bảo, “Ta sẽ quay lại sau hai mươi phút, Balram.”

Thay vì đỗ xe, tôi cho xe đến nhà ga ở Pahar Ganj, không xa khách sạn là bao.

Người ta đang nằm la liệt trên sàn nhà ga. Những con chó đang sục mũi vào rác. Không khí toát lên mùi mốc meo. Vậy ra việc ấy sẽ như thế này đây, tôi nghĩ.

Đích đến của tất cả các chuyến tàu được thông báo trên một tấm bảng đen.

Benaras

Jammu

Amritsar

Mumbai

Ranchi

Đâu sẽ là đích đến của tôi, giả sử tôi đến đây với chiếc túi đỏ trong tay?

Như để trả lời, những bánh xe sáng chói và ánh đèn rực rỡ bắt đầu nhấp nháy trong bóng tối.

Thế này, nếu ngài đến thăm bất kì ga tàu hỏa nào ở Ấn Độ, ngài sẽ thấy, khi ngài đứng chờ chuyến tàu của mình, một hàng những cỗ máy kì dị có bóng đèn đỏ, bánh xe vạn hoa và những vòng tròn màu vàng quay tít. Đấy chính là những chiếc máy cân sức-khỏe-bói-vận-mệnh-giá-một-rupee đặt ở khắp nhà ga trên cả nước.

Chúng vận hành thế này. Ngài đặt túi xuống một bên. Ngài đứng lên đấy. Rồi ngài nhét đồng một rupee vào khe.

Chiếc máy lập tức sống lại; những chiếc đòn bẩy bắt đầu di chuyển bên trong, mọi thứ kêu lách ca lách cách, ánh đèn chớp tắt điên cuồng. Rồi sau đó có một tiếng ầm lớn, và một mảnh giấy bồi cứng be bé màu xanh lục hoặc màu vàng bật ra từ chiếc máy. Ánh đèn và tiếng động dịu lại. Trên mảnh giấy này sẽ ghi vận mệnh của ngài, và cân nặng của ngài bằng kilogram.

Có hai loại người sử dụng chiếc máy này: trẻ con nhà giàu, hoặc người lớn nhà nghèo, những người suốt đời sống như những đứa trẻ.

Tôi đứng nhìn trân trối vào những cỗ máy, như người vô hồn. Sáu chiếc máy sặc sỡ đang chiếu sáng vào tôi: những bóng đèn xanh xanh vàng vàng và những chiếc kính vạn hoa vàng vàng đen đen đang quay tít.

Tôi bước lên một chiếc máy. Tôi hi sinh một rupee - nó nuốt chửng đồng xu, tạo ra tiếng động, chiếu thêm nhiều đèn, rồi nhả ra một mảnh giấy.

LUNNA SCALES CO.

NEW DELHI 110 055

CÂN NẶNG CỦA BẠN

59

“Thượng tôn pháp luật là mệnh lệnh đầu tiên của đấng thần linh.”

Tôi thả mảnh giấy đoán vận mệnh xuống sàn và phá ra cười.

Ngay cả ở đây, trong chiếc máy cân sức khỏe của nhà ga tàu hỏa, họ vẫn tìm cách bịp bợm chúng tôi. Ở đây, trên ngưỡng cửa tự do của con người, chỉ ngay trước khi người ấy bước chân lên chiếc tàu đi đến cuộc sống mới, những chiếc máy đoán vận mệnh sặc sỡ này chính là chuông báo động cuối cùng của chiếc Chuồng Gà.

Tiếng còi báo động của chuồng gà đang réo inh ỏi - những bánh xe quay tít - những ánh đèn đỏ chớp nháy! Một con gà đang thoát khỏi chuồng! Một bàn tay thò ra - tôi bị túm cổ ném vào trong chuồng.

Tôi nhặt mảnh giấy lên và đọc lại nó.

Tim tôi bắt đầu vã mồ hôi. Tôi ngồi xuống sàn.

Nghĩ đi, Balram. Nghĩ đến những gì Trâu nước đã làm với gia đình người hầu của lão.

Ở phía trên tôi nghe thấy tiếng vỗ cánh. Chim bồ câu đang đậu trên thanh đà mái nhà xung quanh ga tàu; hai con vừa bay khỏi một thanh đà và bắt đầu lượn vòng ngay phía trên đầu tôi, như đang quay chậm - rút vào ức chúng, tôi thấy hai bộ móng vuốt đỏ lòm.

Cách đấy không xa tôi trông thấy một phụ nữ nằm trên sàn, bộ ngực căng tròn trong chiếc áo bó sát. Cô ả đang ngáy. Tôi có thể nhìn thấy tờ tiền một rupee nhét vào khe ngực, chữ và màu sắc của tờ bạc hiện rõ qua làn áo màu xanh lục. Cô ả không có hành lý. Đấy là tất cả những gì ả có trên đời. Một rupee. Vậy mà nhìn ả xem - ngáy sung sướng, chẳng cần đoái hoài gì đến thế gian.

Tại sao mọi thứ với tôi không thể đơn giản như thế?

Một âm thanh trầm đục gầm gừ khiến tôi quay lại. Một con chó mực đang xoay tít thành vòng tròn phía sau tôi. Một mảng da hồng - một vết thương hở - nổi bật trên mông trái của nó; và con chó đang vặn người cố liếm cho được vết thương. Vết thương nằm ngoài tầm với của hàm răng, nhưng con chó đang phát rồ vì đau đớn - cố tìm cách tấn công vết thương với cái mõm chảy nước dãi của nó, nó cứ xoay tít trong vòng tròn điên loạn, vô nghĩa không dừng.

Tôi nhìn người phụ nữ đang ngủ - nhìn bộ ngực nhô lên của cô ta. Đằng sau tôi tiếng gầm gừ cứ vang mãi không thôi.

Chủ nhật tuần ấy, tôi xin phép ông Ashok, nói rằng mình muốn đi đến đền, rồi đi vào thành phố. Tôi đón xe buýt xuống Qutub, từ đấy đón xe lam xuống Phố G.B.

Nơi đây, thưa thủ tướng, chính là “khu đèn đỏ” (như người ta vẫn gọi bằng tiếng Anh) của Delhi.

Một giờ ở đây sẽ xóa sạch mọi ý nghĩ xấu xa khỏi đầu tôi. Khi kiềm chế tinh dịch ở thân dưới, nó sẽ dẫn đến những chuyển động xấu trong chất lỏng ở thân trên. Tại Bóng tối ai cũng biết điều đó.

Lúc ấy chỉ mới năm giờ, trời vẫn còn sáng, nhưng đám đàn bà đã đợi tôi, như họ vẫn đợi những người đàn ông khác, bất kể giờ giấc nào trong ngày.

Chuyện là, trước đây tôi đã đến những con đường này - như tôi đã thú nhận với ngài - nhưng lần này thì khác. Tôi nghe tiếng họ ở phía trên tôi - những người đàn bà - giễu cợt và cười nhạo từ những khung cửa sổ lắp lưới của nhà chứa - nhưng lần này tôi không thể nhìn lên họ.

Một người têm trầu ngồi trên sạp gỗ bên ngoài cánh cửa màu xanh lòe loẹt của một nhà chứa, dùng dao phết gia vị lên những chiếc lá trầu ướt vừa lấy lên từ bát nước, đấy là bước đầu tiên trong quá trình chuẩn bị trầu; trong khoảnh vuông nhỏ bên dưới sạp của ông ta là một người đàn ông khác, đang đun sữa trong một chiếc lọ trên ngọn lửa xanh kêu xì xì của bếp gas.

“Chú mày bị làm sao thế? Nhìn vào mấy cô này đi.”

Gã dắt gái, một người đàn ông nhỏ thó có chiếc mũi to mọc chi chít mụn cóc đỏ, đã nắm lấy cổ tay tôi.

“Xem chừng chú mày đủ sức chi cho gái ngoại. Chọn một em Nepal đi. Mấy em này không đẹp sao? Nhìn lên mấy em đi, chú em!”

Gã nắm cằm tôi - có lẽ gã nghĩ tôi là trai tơ ngơ ngác lần đầu phiêu lưu đến đây - và ép tôi ngước lên.

Những cô Nepal trên đấy, sau cánh cửa sổ có song sắt, thật sự rất đẹp: da rất sáng với đôi mắt kiểu Trung Hoa khiến đàn ông Ấn Độ chúng tôi chết mê chết mệt. Tôi hất tay gã dắt gái khỏi mặt mình.

“Chọn một cô cũng được! Chọn tất cả cũng xong! Chú mày chưa đủ nam tính sao?”

Thông thường thế này thôi đã đủ khiến tôi bổ nhào vào nhà chứa, quát tháo ầm ĩ.

Nhưng đôi khi phần con nhiều nhất trong một người lại có thể là phần tốt nhất bên trong gã ấy. Từ thắt lưng tôi trở xuống, chẳng có thứ gì nhúc nhích.

Lũ này giống như vẹt trong lồng. Chẳng khác nào con thú này chơi con thú kia.

“Nhai trầu nào - sẽ có tác dụng nếu chú em không dựng nó lên được!” người bán trầu hét to từ sạp của mình. Ông ta giơ lên một lá trầu tươi còn ướt, rồi lắc tay để những giọt nước bắn vào mặt tôi.

“Uống sữa nóng nào - cũng có công dụng đấy!” gã đàn ông nhỏ thó, rúm ró đang đun sữa bên dưới ông ta hét lên.

Tôi nhìn vào lọ sữa. Nó sôi lên, trào xuống thân chiếc lọ bằng thép không gỉ; gã đàn ông nhỏ thó, rúm ró mỉm cười - y dùng thìa khuấy sữa đang sôi - nó sủi bọt càng nhiều, sôi xèo xèo giận dữ.

Tôi trút giận lên người bán trầu, đẩy ông ta khỏi chỗ ngồi, hất lá trầu văng tung tóe, làm đổ nước. Tôi đá vào mặt gã lùn. Những tiếng thét vọng ra từ phía trên. Các tay dắt gái chạy đến chỗ tôi; vừa đấm vừa đá túi bụi hòng tìm đường thoát thân, tôi chạy ra khỏi con đường ấy.

Thế này, phố G.B. nằm trong Old Delhi, một nơi mà tôi nên nói đôi điều. Nhớ đấy, thưa thủ tướng, rằng Delhi là thủ đô của không phải một mà hai đất nước - hai Ấn Độ. Ánh sáng và Bóng tối đều chảy vào Delhi. Gurgaon, nơi ông Ashok sống, là đầu hiện đại, sáng sủa của thành phố, còn nơi này, Old Delhi, là đầu kia. Đầy rẫy những thứ mà cuộc sống hiện đại quên mất - xe lôi, những tòa nhà bằng đá cổ, và người Hồi giáo. Vào ngày Chủ nhật, còn có thêm thứ khác: nếu ngài cứ chen vào đám đông lúc nào cũng có mặt ở đấy, đi qua những người đàn ông đang ngoáy tai cho những người đàn ông khác bằng cách chọc những thanh kim loại gỉ sét vào tai họ, đi qua những người bán loại cá nhỏ nhốt trong chai màu xanh ngập nước biển, đi qua khu chợ giày rẻ tiền và chợ áo rẻ tiền, ngài sẽ đến chợ sách cũ Darya Ganj vĩ đại.

Hẳn ngài đã nghe nói đến khu chợ này, thưa ngài, vì nó là một trong những kì quan của thế giới. Hàng chục nghìn quyển sách đen sì, mục nát, cáu bẩn thuộc mọi chủ đề - Công nghệ, Y học, Thỏa mãn dục vọng, Triết học, Giáo dục, và Nước ngoài - chất đống trên vỉa hè từ Cổng Delhi theo suốt con đường đến tận khu chợ trước Pháo đài đỏ. Một vài quyển sách cũ đến nỗi chỉ cần chạm vào là nát như tương; số khác bị mọt ăn - số khác trông giống như lấy ra từ một trận lũ, hay từ một đợt hỏa hoạn. Đa số cửa hiệu trên vỉa hè đã đóng cửa; nhưng các hàng ăn còn mở, và mùi thức ăn chiên xào hòa quyện với mùi giấy mục. Những cánh quạt gỉ sét kiệt quệ uể oải quay bên trong máy thông gió của hàng ăn như những cánh bướm đêm khổng lồ.

Tôi đi giữa hàng sách và hít sâu bầu không khí: giống như nạp khí oxy sau khi hít thở mùi hôi thối của nhà chứa.

Có một đám đông người mua sách đang cò kè ngã giá với người bán, và tôi giả vờ làm một người mua. Tôi nhảy vào đống sách, nhặt chúng lên, đọc chúng thế này, lật, lật, lật, cho đến khi một người bán sách quát lên, “Định mua hay đọc sách chùa đấy hử?”

“Quyển này không hay,” tôi đáp, rồi đặt quyển sách xuống và đi đến người bán kế bên, nhặt lên một quyển sách của anh ta, rồi lật lật lật. Không bao giờ trả ai một đồng rupee nào, lật sách đọc miễn phí, tôi “hôi của” hết người bán sách này đến tay bán sách nọ suốt buổi tối!

Một vài quyển sách viết bằng tiếng Urdu, ngôn ngữ của người Hồi giáo - toàn những nét nguệch ngoạc và dấu chấm, như thể một con quạ đã nhúng chân vào mực đen rồi đè lên trang sách. Tôi đang xem một quyển sách như thế thì một người bán sách lên tiếng, “Mày đọc được tiếng Urdu không?”

Ông ta là một người Hồi giáo già, khuôn mặt đen như hắc ín nhễ nhại mồ hôi, tựa chiếc lá thu hải đường sau mưa, và một bộ râu trắng dài.

Tôi nói: “Thế ông đọc được tiếng Urdu không?”

Ông ta mở quyển sách ra, hắng giọng rồi đọc, ““Người nhiều năm đi tìm chìa khóa.” Hiểu không?” Ông ta nhìn tôi, nếp nhăn lớn hằn sâu trên vầng trán đen.

“Vâng, thưa ông bác Hồi giáo.”

“Im mồm, thằng láo toét. Nghe đây.”

Ông ta lại hắng giọng.

““Người nhiều năm đi tìm chìa khóa/Cửa muôn đời vẫn mở đấy thôi!””

Ông ta gấp sách lại. “Đấy gọi là thơ. Giờ biến đi.”

“Làm ơn, ông bác Hồi giáo,” tôi van nài. “Con chỉ là con trai người phu xe ở khu Bóng tối. Hãy nói chuyện về thơ cho con nghe với. Ai viết bài thơ đấy ạ?”

Ông ta lắc đầu, nhưng tôi không ngừng tâng bốc ông, bảo ông chùm râu mới đẹp làm sao, da ông mới sáng làm sao (ha!), rằng trông mũi và trán ông thì biết ngay ông không phải một gã chăn lợn cải đạo mà là một người Hồi giáo thực thụ bay từ tận Mecca đến đây trên chiếc thảm thần, và ông ta lẩm bẩm ra chiều hài lòng. Ông ta đọc cho tôi nghe một bài thơ khác, rồi một bài khác - và ông giải thích lịch sử thật sự của thi ca, vốn là một bí mật, một phép thuật chỉ những người thông thái mới biết. Thưa Thủ tướng, tôi biết chẳng có gì mới mẻ khi nói rằng lịch sử thế giới là lịch sử của cuộc chiến trí não suốt mười nghìn năm giữa người giàu và người nghèo. Mỗi bên không ngừng tìm cách chơi xấu bên kia: và điều này đã xảy ra kể từ thuở khai thiên lập địa. Người nghèo thắng trong một vài trận (tiểu tiện lên cây trồng trong chậu, đá chó cưng, v.v.) nhưng dĩ nhiên người giàu đã thắng cuộc chiến trong suốt mười nghìn năm. Đó là lý do vì sao, đến một ngày, vài người thông thái, vì lòng trắc ẩn đối với người nghèo, đã để lại cho họ những dấu hiệu và biểu tượng trong các bài thơ, mà thoáng nghe qua ngỡ nói về hoa hồng và gái đẹp và những thứ đại loại thế, nhưng khi hiểu đúng sẽ lộ ra những bí mật cho phép kẻ nghèo nhất quả đất tổng kết được cuộc chiến trí não mười nghìn năm bằng những thuật ngữ riêng có lợi cho anh ta. Bây giờ, bốn nhà thơ vĩ đại nhất thế giới là Rumi, Iqbal, Mirza Ghalib, và một người nữa tôi đã nghe tên nhưng quên mất.

(Nhà thơ thứ tư ấy là ai? Tôi muốn phát điên khi không nhớ nổi tên ông ta. Nếu ngài biết, hãy gửi email cho tôi nhé.)

“Ông bác Hồi giáo, cháu có một câu hỏi khác cho ông.”

“Trông tao giống cái gì? Thầy giáo của mày hử? Đừng hỏi nữa.”

“Câu cuối cùng, cháu hứa đấy. Xin ông cho cháu biết, người ta có thể dùng thơ để biến mất không ạ?”

“Ý mày là sao - giống như biến mất bằng phép thuật ấy hả?”

Ông ta nhìn tôi. “Được, có thể làm được. Có sách dạy làm đấy. Mày muốn mua không?”

“Không, không phải biến mất như thế. Ý cháu là người ta có thể... có thể...”

Người bán sách nheo mắt. Giọt mồ hôi to hơn trên vầng trán rộng đen bóng của ông ta.

Tôi mỉm cười với ông ta. “Thôi quên câu hỏi của cháu đi, ông bác Hồi giáo.”

Rồi tôi tự răn mình không bao giờ nói chuyện với ông già ấy nữa. Ông ấy đã biết quá nhiều.

Mắt tôi đau hết cả vì nheo mắt đọc sách. Lẽ ra tôi nên quay lại Cổng Delhi để đón xe buýt. Mồm tôi bốc mùi sách hôi hám - như thể tôi đã hít quá nhiều hạt giấy cũ từ không khí. Những ý nghĩ kì lạ nảy sinh trong lòng ngài khi ngài dành quá nhiều thời gian cho sách cũ.

Nhưng thay vì quay lại đón xe buýt, tôi đi bộ xa hơn vào trong Old Delhi. Tôi không biết mình đang đi đâu. Mọi thứ trở nên yên lặng kể từ khoảnh khắc tôi rời khỏi đại lộ. Tôi trông thấy vài người đàn ông ngồi trên charpoy hút thuốc, những người khác nằm trên đất ngủ; chim đại bàng bay lượn trên mái nhà. Rồi cơn gió thổi một trận lớn đem theo mùi trâu bò ập vào mặt tôi.

Mọi người đều biết có một lò giết mổ đâu đấy trong Old Delhi, nhưng chưa có nhiều người trông thấy. Đó là một trong những kì quan của thành phố cổ - một dãy những chuồng để mở, và những con trâu to béo đứng trong mỗi chiếc chuồng chổng mông về phía ngài, đuôi phe phẩy đuổi ruồi như cần gạt nước trên kính xe, chân ngập trong những kim tự tháp phân khổng lồ. Tôi đứng đấy, hít sâu mùi thân thể chúng - đã lâu rồi tôi không ngửi thấy mùi trâu! Không khí kinh dị của thành thị bị tống ra khỏi phổi tôi.

Tiếng bánh xe gỗ lọc cọc vang lên. Tôi trông thấy một con trâu đi xuống đường, kéo cỗ xe to phía sau. Không có người cầm roi ngồi trên cỗ xe ấy; con trâu tự biết phải đi đâu. Và nó đang đi xuống đường. Tôi đứng tránh sang bên, khi nó đi ngang tôi, tôi thấy chiếc xe chất đầy những khuôn mặt trâu chết; nói là khuôn mặt - nhưng lẽ ra nên gọi là xương sọ, lột sạch cả da, trừ một mẩu da đen ở chóp mũi còn chĩa ra vài cọng lông mũi, như những mẩu tính cách bướng bỉnh cuối cùng của con trâu chết. Phần còn lại của khuôn mặt đã biến mất. Cả mắt cũng bị móc ra.

Và con trâu sống đi tiếp, không cần chủ, kéo đống chết chóc đến nơi mà nó biết nó phải đi.

Tôi đi theo con vật đáng thương một lúc, nhìn vào những khuôn mặt trâu bị lột trần, chết chóc. Và rồi điều kì lạ nhất xảy ra, thưa ngài - tôi thề con trâu đang kéo xe quay mặt sang tôi, và nói, bằng giọng chẳng khác nào giọng bố tôi:

“Anh Kishan của mày đã bị đánh đến chết. Vui chưa?”

Giống như trải qua cơn ác mộng vài phút trước khi tỉnh dậy; ngài biết đấy là giấc mơ, nhưng ngài chưa thể tỉnh dậy ngay.

“Cô Luttu của mày bị hiếp rồi bị đánh đến chết. Vui chưa? Bà nội Kusum của mày bị đá chết. Vui chưa?”

Con trâu trừng mắt ngó tôi.

“Nhục!” Nó nói, rồi nó sải bước tiến về phía trước và chiếc xe đi ngang qua, đầy những khuôn mặt xương xẩu chết chóc, vào giây phút ấy, với tôi, đấy chính là khuôn mặt của gia đình mình.

***

Sáng hôm sau, ông Ashok đi xuống xe, mỉm cười, cầm túi đỏ trong tay. Ông ta đóng sầm cửa.

Tôi nhìn con yêu tinh và nuốt nước miếng một cách khó nhọc.

“Thưa ông...”

“Có chuyện gì, Balram?”

“Thưa ông, có chuyện này con định nói với ông lâu rồi.” Và tôi rời tay khỏi chìa khóa. Tôi thề, tôi đã sẵn sàng thú nhận tất cả ngay lúc ấy... nếu ông ấy nói ra những lời lẽ nên nói... nếu ông ấy chạm vai tôi đúng cách. Nhưng ông ấy không nhìn tôi. Ông ấy đang bận rộn với chiếc điện thoại và bàn phím.

Bấm, bấm, bấm.

Có một thằng điên mang ý nghĩ máu me và trộm cắp trong đầu, ngồi trước mình chỉ hai mươi centimet, mà không hề hay biết. Thậm chí không cả một manh mối. Các người mù quáng kiểu gì vậy. Các người đây này, ngồi trong những tòa nhà kính và nói chuyện điện thoại hết đêm này qua đêm khác với những người Mỹ cách xa hàng nghìn dặm, nhưng lại chẳng có lấy một ý niệm mỏng manh về điều gì đang xảy ra với kẻ lái chiếc xe của mình!

Có chuyện gì, Balram?

Chỉ là, thưa ông - tôi muốn đấm vỡ sọ ông ra!

Ông ấy rướn về trước - đưa môi đến sát tai tôi - người tôi muốn chảy ra.

“Ta hiểu, Balram.”

Tôi nhắm mắt, không thốt nên lời.

“Ông hiểu ạ?”

“Cậu muốn cưới vợ.”

“...”

“Balram. Cậu sẽ cần tiền đấy, nhỉ?”

“Không, thưa ông. Không cần đâu ạ.”

“Đợi đã, Balram. Để ta lấy ví ra. Cậu là người tốt trong nhà. Cậu chẳng bao giờ vòi vĩnh tiền nong cả - ta biết các tài xế khác không ngừng vòi tiền làm ngoài giờ và tiền bảo hiểm: nhưng cậu thì không nói một lời. Cậu thật lạc hậu. Ta thích thế. Chúng ta sẽ lo liệu toàn bộ chi phí đám cưới, Balram ạ. Đây này, Balram - đây là... đây là...”

Tôi thấy ông lấy ra tờ một nghìn rupee, cất lại, rồi lấy ra tờ năm trăm, rồi cất lại, rồi lấy ra tờ một trăm.

Và đưa nó cho tôi.

“Ta đoán cậu sẽ về Laxmangarh để làm đám cưới hả, Balram?”

“...”

“Có lẽ ta sẽ đi cùng,” ông ấy nói. “Ta thực sự thích nơi ấy. Lần này ta muốn đi lên cái pháo đài đó. Lần trước ta đến đấy là bao lâu rồi ấy nhỉ, Balram? Sáu tháng trước?”

“Lâu hơn ạ, thưa ông.” Tôi đếm số tháng trên ngón tay mình. “Tám tháng trước.”

Ông ấy cũng đếm số tháng. “Ái chà, cậu nói đúng.”

Tôi gấp tờ một trăm rupee lại và nhét vào túi áo.

“Cám ơn ông vì số tiền này ạ,” tôi nói, rồi vặn chìa khóa xe.

Sáng sớm hôm sau tôi đi ra khỏi Buckingham B lên đại lộ. Dù đấy là tòa nhà mới cáu, nhưng đường ống cống vẫn bị rò rỉ, và một mảng nước cống làm đất bên ngoài bức tường khuôn viên thâm đen; ba con chó hoang đang nằm ngủ trên khoảnh đất ẩm ướt. Một cách hay để hạ nhiệt - mùa hè đến rồi, bây giờ cả ban đêm cũng khó chịu.

Ba con chó trông có vẻ thoải mái. Tôi ngồi xuống nhìn chúng.

Tôi chạm ngón tay lên vũng nước cống sậm sịt. Thật mát, thật mời gọi.

Một con chó tỉnh giấc; nó ngáp dài rồi nhe nanh nhe lợi nhìn tôi. Nó nhảy phốc và đứng lên bằng bốn chân. Các con chó kia cũng thức dậy. Tiếng gầm gừ nổi lên, chúng cào chân vào bùn ẩm, nhe răng - chúng muốn đuổi tôi đi khỏi vương quốc của chúng. Tôi chịu thua để ống cống lại cho lũ chó rồi đi đến những khu phố mua sắm. Chưa có cái nào mở cửa. Tôi ngồi xuống vệ đường.

Chẳng biết đi đâu nữa.

Chính lúc ấy tôi trong thấy những dấu nhỏ màu đen trên vỉa hè.

Dấu chân thú.

Một con vật đã bước lên tấm bê tông chưa khô. Tôi đứng dậy đi theo sau nó. Khoảng cách giữa các dấu chân ngày một rộng - con vật đã chuyển sang chạy.

Tôi đi nhanh hơn.

Những dấu chân của con vật tăng tốc vòng quanh các khu mua sắm, rồi ra phía sau khu mua sắm, và cuối cùng, nơi vỉa hè chấm dứt và đất thô bắt đầu, chúng biến mất. Đến đây tôi phải dừng lại, vì cách một mét rưỡi trước mắt tôi là một hàng người ngồi xổm trên đất thành một đường gần như thẳng tắp.

Bọn họ đang ị.

Tôi đã đến khu ổ chuột.

Môi Bạch Biến đã nói với tôi về nơi này - đám thợ xây các khu mua sắm và khu chung cư khổng lồ sống ở đây. Họ đến từ một làng trong Bóng tối; họ không thích người ngoài đến, trừ những người có việc sau khi trời tối. Những con người này đang đi ị lộ thiên như một bức tường tự vệ phía trước khu ổ chuột: tạo thành đường ranh không một người khả kính nào được phép bước qua. Gió phảng phất mùi phân mới thổi về phía tôi.

Tôi tìm thấy một lỗ hổng trên đường ranh những kẻ đang ị. Họ ngồi xổm như những bức tượng đá.

Những kẻ này đang xây nhà cho người giàu, nhưng họ lại sống trong lều phủ vải nhựa xanh, ngăn thành lô bằng những đường ống cống. Còn tệ hơn cả Laxmangarh. Tôi nhón chân đi qua những mảnh thủy tinh vỡ, dây nhợ, bóng đèn vỡ. Mùi rác thải công nghiệp nồng nặc át cả mùi phân. Khu ổ chuột chấm dứt bằng một cái cống lộ thiên - một dòng sông nước đen nhỏ lừ đừ trôi qua tôi, bong bóng nổi lên và những vòng tròn nhỏ lan tỏa trên mặt nước. Hai đứa trẻ con đang nghịch nước trong dòng sông đen.

Một tờ một trăm rupee bay xuống sông. Lũ trẻ con há hốc mồm nhìn theo, rồi chạy đến bắt lấy trước khi tờ tiền trôi đi mất. Một đứa bắt được, đứa kia đánh nó, rồi chúng ngã tòm xuống dòng nước đen trong lúc vật nhau.

Tôi quay trở lại hàng người đi ị. Một người đã ị xong và bỏ đi, nhưng chỗ của hắn đã có người lấp vào. Tôi ngồi xổm xuống với họ và nhe răng cười.

Vài người lập tức ngoảnh mặt đi chỗ khác: họ vẫn là con người. Một số nhìn tôi trơ tráo như thể chẳng còn biết đến xấu hổ là gì. Và rồi tôi trông thấy một anh bạn, một người vừa đen vừa gầy, đang nhe răng cười đáp lại tôi, như thể vô cùng tự hào về việc đang làm.

Vẫn ngồi như thế, tôi dịch đến chỗ hắn đang ngồi và nhìn vào mặt hắn. Tôi cười toe toét. Hắn cũng thế.

Hắn bắt đầu phá ra cười - tôi phá ra cười - và rồi tất cả những kẻ đi ị cùng cười với nhau.

“Bọn tao sẽ lo liệu chi phí đám cưới của mày,” tôi hét lên.

“Bọn tao sẽ lo liệu chi phí đám cưới của mày!” hắn hét to đáp lại.

“Bọn tao còn chơi con vợ giúp mày nữa, Balram!”

“Bọn tao còn chơi con vợ giúp mày nữa, Balram!”

Hắn bắt đầu cười - cười dữ dội đến mức ngã dập mặt xuống đất, vẫn còn cười, chổng đôi mông nhơ nhoét lên bầu trời nhơ nhoét của Delhi.

Khi tôi đi về, những khu mua sắm đã bắt đầu mở cửa. Tôi rửa mặt tại nhà vệ sinh tập thể rồi lau sạch tay khỏi những dơ bẩn của khu ổ chuột. Tôi đi vào bãi đỗ xe, tìm một cây cờ lê sắt, huơ vài đường tập luyện, rồi đem về phòng.

Một thằng bé đang đứng đợi tôi gần giường, lấy răng ngậm thư trong lúc cài lại nút quần. Nó quay lại khi nghe thấy tôi; lá thư rơi ra khỏi mồm nó xuống đất. Cây cờ lê sắt cùng lúc rơi khỏi tay tôi.

“Họ bảo cháu đến đây. Cháu đón xe buýt và tàu hỏa rồi hỏi mọi người và đến được đây.” Nó nheo mắt. “Họ bảo cậu phải chăm sóc cháu và làm cho cháu trở thành tài xế.”

“Mày là thằng quỷ nào?”

“Dharam,” nó đáp. “Cháu là con trai thứ tư của cô Luttu. Cậu thấy cháu khi cậu đến Laxmangarh lần trước. Cháu mặc áo màu đỏ. Cậu hôn cháu ở đây này.” Nó chỉ lên đầu.

Nó nhặt lá thư lên, chìa ra cho tôi.

Cháu trai yêu quý,

Đã lâu rồi cháu không về thăm nhà - và còn lâu hơn nữa, tổng cộng mười một tháng hai ngày kể từ khi cháu gửi tiền về lần cuối. Thành phố đã làm linh hồn cháu sa đọa và khiến cháu trở nên ích kỉ, tự phụ, tàn nhẫn. Bà biết ngay từ đầu rằng chuyện này sẽ đến, vì cháu là một đứa hằn học và láo xược. Hở ra là cháu lại thừ môi nhìn chằm chằm mình trong gương, bà phải véo tai cháu mới chịu làm việc. Cháu giống hệt mẹ cháu. Cháu có cái tính của nó chứ không phải tính tình dễ thương của bố cháu. Bấy lâu nay bọn ta đã nhẫn nhục chịu đựng, nhưng bọn ta sẽ không làm thế nữa. Cháu phải gửi tiền về nhà. Nếu không, bọn ta sẽ mách ông chủ cháu. Với lại bọn ta đã định đoạt hôn sự cho cháu rồi, nếu cháu không về đây, bọn ta sẽ đưa đứa con gái đến chỗ cháu bằng xe buýt. Bà nói những điều này với cháu không phải để dọa dẫm mà xuất phát từ tình yêu thương. Cuối cùng thì chẳng lẽ bà không phải bà nội cháu sao? Và bà đã bón cho cháu ăn tận tình đấy thôi! Còn nữa, cháu có nghĩa vụ chăm sóc Dharam, coi nó như con ruột. Giờ thì giữ sức khỏe, và nhớ là bà đang chuẩn bị món gà cho cháu, mà bà sẽ gửi cho cháu qua đường bưu điện, kèm với lá thư bà sẽ viết cho chủ cháu.

Bà nội yêu,

Kusum

Tôi gấp thư lại, cho vào túi, rồi tát đứa bé một cái trời giáng khiến nó giật lùi, đâm vào thành giường, ngã giúi, kéo ngã cả chiếc màn chắn muỗi.

“Đứng dậy,” tôi bảo. “Tao sẽ không đánh mày nữa đâu.”

Tôi nhặt cây cờ lê giơ lên đầu nó - rồi ném xuống sàn.

Mặt thằng bé bầm tím, môi nó bị rách và rướm máu, nó im thin thít.

Tôi ngồi trong màn chắn muỗi, nhấp chai whisky còn quá nửa. Tôi nhìn thằng bé.

Tôi đã đi đến bờ vực. Tôi đã sẵn sàng giết ông chủ mình - sự có mặt của thằng bé này đã ngăn tôi khỏi hành động giết người (và án tù chung thân).

Tối hôm ấy, tôi nói với ông Ashok rằng gia đình tôi đã gửi lên một người phụ việc, giúp tôi dọn dẹp xe gọn gàng, và thay vì nổi đóa vì phải nuôi thêm một miệng ăn nữa - như lẽ thường các ông chủ đều thế - thì ông ấy lại nói, “Thằng bé đáng yêu quá. Trông nó giống cậu đấy. Mặt nó bị làm sao thế?”

Tôi quay sang Dharam. “Trả lời ông đi.”

Nó chớp mắt vài lần. Nó đang suy nghĩ.

“Con ngã từ xe buýt ạ.”

Đứa thông minh.

“Mai mốt cẩn thận nhé,” ông Ashok bảo. “Hay thật đấy, Balram - từ giờ cậu có bạn đồng hành rồi.”

Dharam là một chú nhóc ít nói. Nó không đòi hỏi tôi bất cứ điều gì, nó ngủ trên sàn khi tôi bảo, nó tự lo việc của mình. Cảm thấy tội lỗi vì việc đã làm, tôi đưa nó đến quán trà.

“Bây giờ ai đang dạy ở trường, Dharam? Vẫn là ông Krishna à?”

“Vâng, thưa cậu.”

“Ông ta còn ăn cắp tiền đồng phục và thức ăn không?”

“Còn ạ.”

“Hay thật.”

“Cháu đi học được năm năm thì bà nội bảo thế đủ rồi.”

“Để xem mày học được gì trong năm năm nào. Mày biết bảng cửu chương tám không?”

“Có ạ.”

“Đọc nghe nào.”

“Tám lần một là tám.”

“Cái đấy dễ nhỉ - tiếp theo là gì?”

“Tám lần hai mười sáu.”

“Đợi đã.” Tôi đếm ngón tay để xem nó tính đúng không. “Được rồi. Tiếp đi.”

“Gọi cho tao một tách trà nhé?” Môi Bạch Biến ngồi xuống cạnh tôi. Hắn mỉm cười với Dharam.

“Đi mà gọi lấy,” tôi nói.

Hắn bĩu môi. “Đấy là cách mày nói chuyện với tao đấy à, anh hùng giai cấp lao động?”

Dharam đang nhìn chúng tôi chăm chú, vì thế tôi nói, “Thằng bé này đến từ làng tao. Từ nhà tao. Tao đang nói chuyện với nó.”

“Tám lần ba hai mươi tư.”

“Tao đếch cần biết nó là ai,” Môi Bạch Biến đáp. “Gọi tao một tách trà nào, anh hùng giai cấp lao động.”

Hắn mở lòng bàn tay gần mặt tôi - năm ngón tay. Như thế có nghĩa là, Tao muốn năm trăm rupee.

“Tao cóc có gì.”

“Tám lần bốn ba mươi hai.”

Hắn kéo một đường ngang cổ rồi mỉm cười. Ông chủ mày sẽ biết tất cả.

“Cháu bé tên gì?”

“Dharam.”

“Tên đẹp thế. Cháu biết nó có nghĩa gì không?”

“Có ạ.”

“Cậu của cháu có biết nó nghĩa là gì không?”

“Câm mồm,” tôi nói.

Đó là thời điểm quán trà được làm vệ sinh. Một người nhện thả miếng giẻ xuống sàn rồi bò cùng nó, đẩy một cái xô chứa nước đen như mực bốc mùi lăn tăn trước mặt. Cả lũ chuột cũng chạy vụt ra khỏi quán. Khách ngồi ở bàn cũng không được yên - vũng nước đen hất vào họ mỗi khi nó đi qua. Những mẩu beedi 2, giấy gói nhựa óng ánh, những mảnh vé xe buýt vò nát, những mẩu hành tây, những cọng rau mùi nổi lềnh bềnh trên mặt nước đen; chiếc bóng đèn trần trụi long lanh phản chiếu trên mặt váng như một viên ngọc vàng.

Khi xô nước đen đi ngang, một giọng nói trong tôi cất lên, “Nhưng tim mày còn đen hơn thế, Munna.”

Đêm hôm ấy Dharam thức giấc khi nghe tiếng rít.

Nó đi đến chiếc màn chống muỗi.

“Cậu ơi, có chuyện gì vậy?”

“Bật đèn lên, thằng ngốc! Bật đèn lên!”

Nó làm theo, và thấy tôi tê liệt trong màn: tôi thậm chí không thể chỉ vào vật ấy. Một con thằn lằn xám tròn lẳn vừa bò xuống từ trên tường và đang nằm trên giường tôi.

Dharam phá ra cười.

“Tao không đùa đâu, thằng đần - bắt nó ra khỏi giường mau!”

Nó thò tay vào trong màn, chộp lấy con thằn lằn, rồi lấy chân đè nát.

“Ném nó chỗ nào xa, thật xa vào - ra ngoài phòng, ra ngoài khu chung cư.”

Tôi trông thấy ánh nhìn hoang dại trong mắt nó: Một người lớn như cậu của ta - mà lại sợ một con thằn lằn!

Tốt, tôi nghĩ, ngay khi nó tắt đèn. Nó sẽ không nghi ngờ mình đang toan tính việc gì.

Một khắc sau, nụ cười tôi biến mất.

Tôi đang toan tính điều gì?

Tôi bắt đầu túa mồ hôi. Tôi nhìn trân trối vào những dấu tay vô danh ấn vào tấm thạch cao trắng trên tường.

Tiếng gậy rê vào bê tông kêu leng keng - người bảo vệ đêm của Buckingham B đang đi một vòng kiểm tra. Khi tiếng gõ gậy tắt hẳn, không còn một âm thanh nào trong phòng, trừ tiếng rì rào của lũ gián đang nhai trên tường hoặc bay lượn. Đó là một đêm nóng nực, ẩm thấp. Cả lũ gián hẳn cũng vã mồ hôi - tôi không thở nổi.

Ngay khi tôi vừa nghĩ đến việc mình sẽ không chợp mắt được, tôi bắt đầu đọc lại một cặp thơ, đọc đi đọc lại.

Ta nhiều năm đi tìm chìa khóa

Cửa muôn đời vẫn mở đấy thôi.

Rồi tôi chìm vào giấc ngủ.

***

Lẽ ra tôi nên nhận thấy dấu hiệu đúc khuôn trên tường hình đôi bàn tay phá gông cùm - lẽ ra tôi nên dừng lại và lắng nghe những thanh niên đeo dây băng đỏ gào to từ chiếc xe tải - nhưng tôi đã quá trói buộc vào những rắc rối riêng đến nỗi chẳng để ý gì đến một điều vô cùng quan trọng đang diễn ra ở đất nước mình.

Hai ngày sau, tôi chở ông Ashok xuống Vườn Lodi cùng cô Uma; dạo này ông ngày càng dành nhiều thời gian hơn cho cô ta. Tình cảm đang đơm hoa. Mũi tôi đã quen với mùi nước hoa - tôi không còn khịt mũi khi cô ta di chuyển.

“Vậy là anh vẫn chưa làm chuyện ấy à, Ashok? Sẽ lại là lần cuối cùng chứ gì?”

“Không đơn giản thế, Uma ạ. Anh Mukesh và anh đã cãi nhau vì em rồi. Anh sẽ nói rõ quan điểm của mình. Nhưng hãy cho anh ít thời gian, anh cần giải quyết xong vụ li dị - Balram, sao cậu mở nhạc to thế?”

“Em thích nghe nhạc lớn. Lãng mạn mà. Có lẽ cậu ấy cố tình làm thế.”

“Nghe này, rồi chuyện đó sẽ đến. Tin anh đi. Chỉ là... Balram, làm quái gì mà cậu không mở nhạc bé lại? Đôi khi những kẻ đến từ Bóng tối này thật ngu ngốc.”

“Em đã bảo anh rồi mà, Ashok.”

Cô ta hạ giọng.

Tôi nghe được những chữ như “thay thế”, “tài xế”, và “địa phương” bằng tiếng Anh.

Anh có nghĩ đến chuyện thay thế tài xế chưa - một tài xế địa phương?

Ông ấy lầm bầm câu trả lời.

Tôi chẳng nghe được gì. Nhưng tôi không cần phải nghe.

Tôi nhìn vào kính chiếu hậu: tôi muốn đối đầu với ông ấy, mắt nhìn mắt, đàn ông với đàn ông. Nhưng ông ấy không nhìn tôi trong kính. Không dám đối mặt với tôi.

Tôi bảo với ngài, ngài có thể nghe thấy tiếng tôi nghiến răng ngay lúc ấy. Tôi nghĩ rằng mình đang toan tính cho ông ấy ư? Ông ấy đang toan tính với tôi thì có! Người giàu lúc nào cũng nghĩ sớm hơn ta một bước, đúng không?

Chà, lần này thì không. Cứ mỗi bước ông ấy đi, tôi sẽ đi hai bước.

Ngoài đường, một người bán hàng rong đang ngồi cạnh chồng mũ bảo hiểm bọc vỏ nhựa xếp hình tháp trông giống như một đống đầu bị chặt rời.

Vừa đến gần khu vườn, chúng tôi thấy con đường đã bị chặn tứ phía: một hàng xe tải đang đỗ trước mặt, đám đông người đang hô hào: “Hoan nghênh Đảng viên Đại xã hội! Hoan nghênh tiếng nói của người nghèo Ấn Độ!”

“Chuyện quái quỷ gì thế này?”

“Anh chưa xem tin tức hôm nay à, Ashok? Họ đang công bố kết quả đấy.”

“Mẹ kiếp,” ông ấy nói. “Balram, tắt nhạc Enya đi, mở đài lên.”

Giọng Đảng viên Đại xã hội vang lên. Ông ta đang được phóng viên đài phát thanh phỏng vấn.

“Cuộc bầu cử cho thấy người nghèo sẽ không bị bỏ rơi. Bóng tối sẽ không rơi vào im lặng. Chúng tôi không có nước máy, và các người ở Delhi cho chúng tôi những gì? Các người cho chúng tôi điện thoại di động. Người khát có thể uống chiếc điện thoại được không? Mỗi buổi sáng các chị em phụ nữ phải đi bộ hàng dặm để tìm một xô nước sạch...”

“Ngài có muốn trở thành thủ tướng Ấn Độ?”

“Đừng hỏi tôi những câu hỏi đó. Tôi không có tham vọng gì cho bản thân. Tôi chỉ đơn giản là tiếng nói của người nghèo và những người bị tước đoạt quyền công dân.”

“Nhưng dĩ nhiên, thưa ngài...”

“Để tôi nói lời cuối cùng, nếu được phép. Tất cả những gì tôi hằng mong muốn là một nước Ấn Độ mà bất kì cậu bé ở bất kì ngôi làng nào cũng có thể mơ ước trở thành thủ tướng. Bây giờ, như tôi đang nói, chị em phụ nữ đi bộ hàng...”

Theo đài phát thanh, đảng cầm quyền đã bị đánh bại trong cuộc bỏ phiếu. Một loạt đảng phái mới đã lên nắm quyền.

Đảng của Đảng viên Đại xã hội là một trong số đó. Ông ta đã nhận được phiếu bầu từ một bộ phận lớn khu Bóng tối. Khi lái xe về Gurgaon, chúng tôi trông thấy những đoàn người ủng hộ ông ta đổ xô vào từ Bóng tối. Họ lái xe đi nơi họ muốn, làm việc họ muốn, huýt sáo với bất cứ cô gái nào họ thích.

Delhi đã bị xâm lăng.

Ông Ashok không gọi tôi suốt ngày hôm ấy, buổi tối ông đi xuống bảo muốn đến khách sạn Imperial. Ông ấy cầm điện thoại suốt, nhấn nút và gọi điện và gào lên: “Chúng ta chết chắc rồi, Uma. Đây là lý do vì sao anh ghét công việc mình đang làm. Chúng ta phải dựa vào lòng thương hại của những...”

“Đừng mắng em, Mukesh. Anh chính là người nói rằng cuộc bầu cử này đã được định đoạt cả rồi. Phải, anh đấy! Và bây giờ chúng ta sẽ không bao giờ thoát khỏi vụ lộn xộn thuế thu nhập.”

“Được rồi, con sẽ làm thế, bố ạ! Con sẽ gặp ông ta ngay bây giờ tại Imperial đây!”

Ông ấy vẫn còn nói chuyện điện thoại lúc tôi thả ông xuống tại khách sạn Imperial. Bốn mươi hai phút trôi qua, rồi ông ấy đi ra cùng hai người nữa. Chồm người thấp xuống cửa xe, ông ấy bảo, “Làm bất cứ chuyện gì họ muốn, Balram. Ta sẽ đón taxi từ đây về nhà. Khi họ xong đưa xe về Buckingham.”

“Vâng, thưa ông.”

Hai người đàn ông vỗ vào lưng ông ấy; ông cúi người, và đích thân mở cửa cho họ. Nếu ông ấy đang bợ đỡ thế này thì họ phải là các chính trị gia.

Hai người đàn ông bước vào. Tim tôi đập mạnh. Người ngồi bên phải chính là anh hùng thời thơ ấu của tôi - Vijay, con trai người chăn lợn thành gã soát vé xe buýt rồi thành chính trị gia đến từ Laxmangarh. Y lại đổi đồng phục rồi: giờ đây y đang mặc bộ y phục thắt cà vạt bóng bẩy của một doanh nhân Ấn Độ hiện đại.

Y ra lệnh tôi lái xe đến Phố Ashoka; y quay sang người đồng hành và nói, “Thằng chó đẻ cuối cùng cũng đưa xe cho tao.”

Gã kia làu bàu. Gã hạ kính xe rồi nhổ ra.

“Bây giờ nó biết là phải cho ta thấy chút lòng tôn trọng mà, phải không nào?”

Vijay cười như nắc nẻ. Y lên giọng. “Trong xe có gì để uống không, con trai?”

Tôi quay người lại: những thỏi vàng nạm chặt vào những chiếc răng đen xỉn mục nát của y.

“Có, thưa ông.”

“Cho chúng ta xem nào.”

Tôi mở hộc đựng găng tay rồi đưa chai rượu cho y.

“Là hàng tốt đây. Johnnie Walker Black. Con trai, có ly không?”

“Có ạ.”

“Đá?”

“Không ạ.”

“Được rồi. Uống chay thôi. Con trai, rót cho chúng ta một ly nào.”

Tôi làm thế trong lúc giữ chiếc Honda City chạy bằng tay trái. Họ đón lấy ly rồi uống rượu whisky như uống nước chanh.

“Nếu nó chưa có sẵn, hãy cho tao biết. Tao sẽ cử vài đứa đến nói chuyện với nó.”

“Không, đừng lo. Bố nó cuối cùng lúc nào cũng trả đủ mà. Mấy thằng này đến Mỹ rồi đầu óc toàn phân. Nó cuối cùng cũng sẽ phải trả đủ.”

“Bao nhiêu?”

“Bảy. Tao định lấy năm, nhưng thằng chó ấy tự đề nghị sáu - thằng này đầu hơi mềm - rồi tao nói bảy, nó nói được. Tao bảo nếu nó không trả, chúng ta sẽ quậy nó và bố nó và anh nó và toàn bộ việc ăn cắp than và trốn thuế của chúng. Vậy là nó bắt đầu vã mồ hôi, và tao biết nó sẽ trả đủ.”

“Có chắc không? Tao muốn cử vài đứa đến đấy. Tao thích nhìn một tay nhà giàu bị chọc tức. Còn sướng hơn cả lúc cương cứng nữa.”

“Còn nhiều đứa khác. Đứa này chẳng đáng bận tâm. Nó nói sẽ đem đến vào thứ hai. Chúng ta sẽ làm việc này ở Sheraton. Có một nhà hàng rất được ở dưới hầm. Chốn yên tĩnh.”

“Tốt. Vậy là nó có thể trả tiền ăn tối cho chúng ta nữa.”

“Khỏi phải nói. Ở đấy có món kebab ngon tuyệt.”

Một trong hai gã súc rượu trong mồm, nuốt đánh ực, ợ một cái, rồi mút răng.

“Mày biết phần hay ho nhất của cuộc bầu cử này là gì không?”

“Gì?”

“Là cách chúng ta nam tiến. Chúng ta cũng có một thành trì ở Bangalore nữa. Và mày biết tương lai chúng ta nằm ở đấy.”

“Miền nam á? Chó chết.”

“Sao lại không? Cứ ba cao ốc văn phòng mới đang được xây ở Ấn Độ thì có một cái tại Bangalore mà. Nơi ấy chính là tương lai.”

“Đ. mẹ hết. Tao không tin nổi một lời. Miền nam toàn bọn Tamil. Mày biết Tamil là ai không? Lũ da đen. Chúng ta là con cháu người Aryan đã đến Ấn Độ. Chúng ta biến chúng thành nô lệ. Vậy mà bây giờ chúng giảng đạo cho chúng ta. Lũ đa đen.”

“Con trai” - Vijay chồm về trước với chiếc ly - “cho ta một ly nữa.”

Tôi rót hết rượu cho chúng trong đêm hôm ấy.

Vào khoảng ba giờ sáng, tôi lái chiếc City quay về khu chung cư ở Gurgaon. Tim tôi đập thình thịch, tôi chưa muốn ra khỏi xe ngay. Tôi lau sạch sẽ và rửa xe ba lần. Cái chai nằm lăn lóc trên sàn xe. Johnnie Walker Black - ngay cả một chai rỗng cũng đáng giá trên thị trường chợ đen. Tôi nhặt nó lên đi về phía khu nhà ở của đầy tớ.

Vì một chai Johnnie Walker Black, Môi Bạch Biến sẽ không ngại bị đánh thức.

Tôi vừa đi vừa xoay chiếc chai bằng cổ tay, cảm nhận sức nặng của nó. Ngay cả khi trống rỗng, nó cũng không nhẹ lắm.

Tôi để ý thấy chân mình đang chậm lại, còn chiếc chai thì đang quay ngày càng nhanh.

Ta nhiều năm đi tìm chìa khóa...

Tiếng đập chai vang vọng khắp khoảng trống của bãi đỗ xe - âm thanh hẳn đã vọng đến sảnh đợi và bật lên qua các tầng lầu trong tòa nhà, thậm chí đến tầng thứ mười ba.

Tôi đợi vài phút, chờ ai đấy chạy xuống.

Không có ai. Tôi an toàn.

Tôi đưa phần còn lại của chiếc chai lên ánh sáng. Những mảnh chai lởm chởm dài dữ tợn như móng vuốt.

Hoàn hảo.

Tôi dùng chân gom những mảnh chai vỡ đang nằm vương vãi xung quanh, chất thành đống. Tôi lau sạch máu trên tay, tìm một cây chổi, quét sạch chỗ ấy. Rồi tôi ngồi xuống tìm những mảnh còn sót; bãi đỗ xe vang vọng câu thơ đang lặp đi lặp lại trong đầu:

Cửa muôn đời vẫn mở đấy thôi.

Dharam đang ngủ trên sàn; lũ gián bò quanh đầu nó. Tôi lay nó dậy và bảo, “Vào trong màn mà nằm.” Nó mắt nhắm mắt mở bò vào; tôi nằm trên sàn, thách thức lũ gián. Vẫn còn ít máu dính trong lòng bàn tay: ba giọt nhỏ màu đỏ dính trên da thịt tôi, như một hàng bọ rùa nằm trên lá. Mút tay như đứa trẻ, tôi ngủ thiếp đi.

Ông Ashok không muốn tôi đưa đi đâu vào sáng chủ nhật. Tôi rửa bát đĩa trong nhà bếp, lau tủ lạnh, rồi nói, “Con muốn xin nghỉ buổi sáng, thưa ông.”

“Tại sao?” ông hỏi, hạ tờ báo xuống. “Trước đây cậu chưa từng xin nghỉ cả buổi sáng. Cậu định đi đâu?”

Còn ông thì trước đây chưa từng hỏi tôi định đi đâu khi rời khỏi nhà. Cô Uma đã làm gì với ông thế này?

“Con muốn dành ít thời gian với thằng bé, thưa ông. Ở vườn thú. Con nghĩ nó muốn xem những con thú ấy.”

Ông ấy mỉm cười. “Cậu đúng là một người đàn ông lý tưởng của gia đình, Balram. Đi đi, chơi vui với cậu bé nhé.” Ông ấy lại đọc báo - nhưng tôi bắt gặp tia nhìn ranh mãnh trong mắt ông ấy khi ông đọc qua những dòng chữ in bằng tiếng Anh của tờ báo.

Khi đi ra khỏi Cao ốc Buckingham Dãy B, tôi bảo Dharam đợi mình, rồi quay trở lại nhìn lối vào tòa nhà. Nửa giờ trôi qua, sau đó ông Ashok đi xuống sảnh đợi. Một người đàn ông nhỏ thó đen đủi - thuộc giai cấp đầy tớ - đến gặp ông ấy. Ông Ashok và người đó nói chuyện một lúc, sau đó người đàn ông nhỏ thó cúi chào và ra đi. Trông họ giống như hai người vừa đạt được một thỏa thuận.

Tôi quay lại chỗ Dharam đang đợi. “Đi thôi!”

Tôi và nó đón xe buýt đến trạm Pháo đài cổ, là nơi có Vườn thú quốc gia. Tôi đặt tay lên đầu Dharam suốt - hẳn nó nghĩ đấy là cử chỉ xuất phát từ tình yêu thương, nhưng tôi làm thế chỉ để giữ cho tay khỏi run bần bật - nó đã run suốt buổi sáng như đuôi con thằn lằn rơi xuống giường tôi.

Đòn hạ thủ đầu tiên phải là của tôi. Mọi thứ đều đã đâu vào đấy cả, không thể có sai sót gì - nhưng như tôi đã bảo với ngài, tôi không phải người can đảm.

Chiếc xe buýt đông nghịt người, hai chúng tôi phải đứng suốt chặng đường. Cả hai đổ mồ hôi như lợn. Tôi đã quên mất cảm giác đi trên xe buýt trong mùa hè là như thế nào. Khi xe dừng đèn đỏ, một chiếc Mercedes-Benz trờ đến cạnh chiếc xe buýt. Đằng sau cánh cửa kéo cao, mát rượi trong quả trứng của mình, gã tài xế cười với chúng tôi, nhe hàm răng đỏ quạch.

Một hàng dài người xếp hàng trước quầy vé vào vườn thú. Nhiều gia đình muốn đến đây, chuyện ấy tôi hiểu được. Song, điều khiến tôi phân vân là cảnh tượng quá nhiều đôi trai gái đến vườn thú, tay trong tay: cười khúc khích, cấu véo nhau, và liếc mắt đưa tình, như thể vườn thú là chốn lãng mạn lắm. Điều đó khiến tôi chẳng hiểu ra làm sao.

Chuyện thế này, thưa thủ tướng, mỗi ngày hàng nghìn người nước ngoài bay đến đất nước chúng tôi để được khai sáng. Họ đi đến dãy Himalaya, hoặc đến Benaras, hoặc đến Bodh Gaya. Họ ngồi trong những tư thế yoga kì quặc, hút bồ đà, biến thành một hai sadhu, rồi nghĩ họ đã được khai sáng.

Ha!

Nếu đến Ấn Độ là để được khai sáng, thì các người, hãy quên đi Hằng Hà - quên đi những tu viện - mà đến thẳng Vườn thú quốc gia ở trung tâm New Delhi.

Dharam và tôi trông thấy những con cò mỏ vàng ngồi trên cây cọ ở giữa một cái hồ nhân tạo. Chúng vục xuống mặt nước hồ xanh, khoe những vệt màu hồng trên cánh. Ở phía sau, ngài có thể trông thấy những bức tường đổ nát của Pháo đài cổ.

Đại thi hào Iqbal đã nói rất đúng. Vào giây phút ngài nhận ra điều đẹp đẽ trong thế gian này, ngài không còn là nô lệ nữa.

Cầu cho bè lũ Naxal xuống địa ngục với súng đạn nhập từ Trung Quốc. Nếu ngài dạy vẽ cho mọi đứa bé trai nghèo, đó sẽ là lúc tận thế với người giàu ở Ấn Độ.

Tôi dạy Dharam phải biết hiểu giá trị của những dấu tích thăng trầm trong hình dáng pháo đài - giá trị của những lỗ châu mai được lấp bằng màu trời xanh biếc - giá trị của những hòn đá cũ kĩ lấp lánh trong ánh sáng. Chúng tôi đi bộ nửa giờ, từ chuồng này sang chuồng khác. Sư tử đực và sư tử cái bị nhốt riêng và không nói chuyện với nhau, như một cặp vợ chồng thành thị thực thụ. Con hà mã đang nằm trong chiếc ao khổng lồ ngập bùn; Dharam muốn làm giống những người khác - ném đá vào con hà mã để khiến nó động đậy - nhưng tôi bảo nó đấy là một việc rất tàn nhẫn. Hà mã nằm trong bùn và chẳng làm gì cả - đó là đặc tính tự nhiên của chúng.

Hãy để con vật sống như con vật; để con người sống như con người. Đấy là toàn bộ triết lý sống của tôi tóm gọn trong một câu.

Tôi bảo Dharam đã đến lúc về, nhưng nó phụng phịu van nài. “Năm phút nữa nhé, cậu.”

“Được rồi, năm phút.”

Chúng tôi đến một khu đất được rào chắn kĩ lưỡng có những thanh tre dài, và ở đấy - qua khe hở của những cây tre - là một con cọp đang rảo bước tới lui trên một đường thẳng.

Không phải loại cọp thông thường.

Loài vật mà mỗi thế hệ chỉ có một con trong rừng.

Tôi nhìn theo bước đi của nó đằng sau những thanh tre. Những sọc đen và bộ lông trắng lấp lóa dưới ánh mặt trời lóe sáng qua những khe hở của rặng tre tối; giống như xem đoạn quay chậm của bộ phim trắng đen. Nó cứ đi tới đi lui trên một cung đường - từ đầu này của các thanh tre đến đầu kia, rồi quay lại và lặp lại lần nữa, với chính xác cùng một khoảng cách, như một con vật mắc phải lời nguyền.

Nó đang thôi miên chính mình khi đi như thế - đấy là cách duy nhất giúp nó chịu đựng chiếc lồng này.

Rồi con vật sau những thanh tre ngừng chuyển động. Nó quay mặt về phía mặt tôi. Mắt nó bắt gặp mắt tôi, như mắt ông chủ từng nhiều lần bắt gặp mắt tôi trong kính xe.

Ngay lập tức, con cọp biến mất.

Cảm giác ngứa ran lan từ cuối cột sống đến háng tôi. Đầu gối tôi bắt đầu rung bần bật; tôi cảm thấy nhẹ bẫng. Một người cạnh tôi ré lên. “Mắt anh ta đang đảo tròn! Anh ta sắp ngất!” Tôi cố hét lên với bà ta. “Không đúng: tôi không ngất!” Tôi cố cho họ thấy tôi vẫn khỏe, nhưng hai chân tôi đang trượt ngã. Mặt đất dưới chân tôi đang lắc lư. Có cái gì đó đang đào đường tìm đến tôi: và rồi những móng vuốt xé toạc bùn đất, quắp vào da thịt tôi, kéo tôi xuống đất đen. Ý nghĩ cuối cùng của tôi, trước khi mọi thứ trở nên tối đen, là bây giờ tôi đã hiểu những cái cấu véo và trạng thái phấn khích ấy - bây giờ tôi đã hiểu tại sao những đôi tình nhân lại tìm đến vườn thú.

Đêm hôm ấy, Dharam và tôi ngồi trên sàn trong phòng, và tôi trải lá thư màu xanh trước mặt nó. Tôi đặt một cây bút vào tay nó.

“Tao sẽ xem mày viết thư giỏi chừng nào, Dharam. Tao muốn mày viết cho bà và kể cho bà nghe chuyện xảy ra ở vườn thú ngày hôm nay.”

Nó viết thư bằng bàn tay từ tốn xinh xắn. Nó kể cho bà về những con hà mã, con tinh tinh, và con hươu đầm lầy.

“Kể cho bà nghe về con cọp nào.”

Nó lưỡng lự, rồi viết: Chúng cháu trông thấy một con cọp trắng trong chuồng.

“Kể bà nghe hết.”

Nó nhìn tôi, rồi viết: Cậu Balram ngất xỉu trước con cọp trắng trong chuồng.

“Vẫn chưa đủ - tao sẽ đọc; viết đi nào.”

Nó viết ra tất cả trong mười phút, viết nhanh đến nỗi cây bút bị đen và lem luốc vì mực chảy quá nhiều - nó dừng tay để lau đầu bút vào tóc, rồi lại viết tiếp.

Cuối cùng nó đọc những gì vừa viết:

Cháu gọi những người xung quanh, và mọi người đưa cậu đến một cây đa. Một người đổ nước lên mặt cậu. Những người tốt bụng tát mạnh cậu để làm cậu tỉnh dậy. Họ quay sang cháu và bảo, “Cậu của mày đang mê sảng - nó đang chào từ biệt bà nội. Hẳn nó nghĩ nó sắp chết.” Giờ thì mắt cậu đã mở lại. “Cậu có sao không ạ?” cháu hỏi. Cậu nắm tay cháu và bảo, “Cháu xin lỗi, cháu xin lỗi, cháu xin lỗi.” Cháu hỏi, “Xin lỗi việc gì?” Rồi cậu nói, “Cháu không thể sống suốt đời trong chuồng được, bà ơi. Cháu xin lỗi.” Chúng cháu đón xe buýt về lại Gurgaon rồi ăn trưa tại quán trà. Trời rất nóng, chúng cháu đổ rất nhiều mồ hôi. Đó là toàn bộ chuyện xảy ra hôm nay.

“Sau đấy mày muốn viết gì cho bà thì cứ viết, rồi ngày mai gửi thư, ngay sau khi tao lái xe đi - nhưng trước đấy thì không được. Hiểu chưa?”

***

Trời mưa suốt buổi sáng, kiểu mưa dầm dai dẳng. Tôi nghe tiếng mưa, dù không nhìn thấy. Tôi đi đến chiếc Honda City, cắm hương bên trong, lau ghế, lau những miếng dán, rồi đấm vào miệng con yêu tinh. Tôi vứt một gói đồ cạnh băng ghế tài xế. Tôi đóng hết cửa rồi khóa xe lại.

Sau đó, lùi hai bước khỏi chiếc Honda City, tôi chắp hai tay cúi thấp mình.

Tôi đi xem Dharam đang làm gì. Trông nó có vẻ cô đơn, vì thế tôi xếp một con tàu giấy cho nó, rồi chúng tôi thả nó xuống rãnh nước bên ngoài khu chung cư.

Sau khi ăn trưa, tôi gọi Dharam vào phòng.

Tôi đặt tay lên vai nó; từ từ xoay người nó để nó không nhìn vào tôi. Tôi thả một đồng một rupee xuống đất.

“Cúi xuống nhặt nó lên.”

Nó làm thế, và tôi nhìn theo. Dharam chải tóc giống như ông Ashok - rẽ ngôi giữa; khi đứng từ trên nhìn xuống, có một đường màu trắng dọc theo da đầu, dẫn đến điểm trên đỉnh đầu nơi những sợi tóc mọc ra.

“Đứng thẳng dậy.”

Tôi xoay người nó một vòng tròn. Tôi lại thả đồng rupee xuống.

“Nhặt lên lần nữa xem nào.”

Tôi nhìn điểm ấy.

Bảo nó ngồi ở góc phòng và nhìn theo tôi, tôi đi vào trong chiếc màn ngăn muỗi, khoanh chân lại, nhắm mắt, chạm lòng bàn tay xuống đầu gối, và hít vào.

Tôi không biết mình ngồi như Đức Phật mất bao lâu, nhưng nó kéo dài đến khi một người hầu hét to bảo tôi bị gọi ở cửa trước. Tôi mở mắt - Dharam đang ngồi trong góc phòng, nhìn tôi.

“Lại đây,” tôi bảo - tôi ôm nó, rồi nhét mười rupee vào túi nó. Nó sẽ cần đến số tiền ấy.

“Balram, mày muộn rồi! Chuông đang réo như điên kìa!”

Tôi đi đến xe, tra chìa, rồi khởi động máy. Ông Ashok đang đứng ở cửa, cầm dù và điện thoại di động. Ông vừa nói chuyện điện thoại vừa chui vào xe và đóng sầm cửa.

“Con vẫn không tin nổi. Người dân đất nước này có cơ hội đưa một đảng cầm quyền đủ năng lực trở lại nắm quyền, ấy vậy mà họ lại bầu cho một lũ du côn tàn bạo nhất. Chúng ta không xứng đáng có...” Ông ấy đưa điện thoại ra xa một chốc và bảo, “Đi vào thành phố trước đã, Balram - ta sẽ bảo cậu đi đâu” - và rồi tiếp tục nói chuyện điện thoại.

Đường sá nhão nhoét bùn và nước. Tôi lái chậm.

“... dân chủ nghị viện, bố ạ. Chúng ta sẽ không bao giờ theo kịp Trung Quốc chỉ vì lý do này.”

Điểm dừng đầu tiên là trong thành phố - tại một trong những ngân hàng quen thuộc. Ông ấy cầm chiếc túi đỏ đi vào trong, và tôi trông thấy ông bên trong quầy lắp kính, nhấn nút chiếc máy rút tiền. Khi ông trở ra, tôi có thể cảm thấy sức nặng của chiếc túi ở băng ghế sau đã tăng lên. Chúng tôi đi từ ngân hàng này đến ngân hàng kia, và sức nặng chiếc túi đỏ tăng dần. Tôi cảm thấy áp lực tăng lên ở phần thắt lưng - như thể tôi không chở ông Ashok và chiếc túi trong xe ô tô, mà giống bố tôi chở khách hàng và túi của khách - trên một chiếc xe lôi.

Bảy trăm nghìn rupee.

Chừng ấy đủ tiền mua một căn nhà. Một chiếc xe máy. Và một cửa hiệu nhỏ.

Một cuộc sống mới.

Bảy trăm nghìn rupee của tôi.

“Bây giờ đến Sheraton, Balram.”

“Vâng, thưa ông.”

Tôi vặn chìa khóa - khởi động xe, sang số. Chúng tôi lên đường.

“Mở nhạc Sting đi, Balram. Đừng to quá.”

“Vâng, thưa ông.”

Tôi cho đĩa CD vào. Giọng Sting cất lên. Chiếc xe tăng tốc. Một lát sau, chúng tôi băng qua bức tượng đồng nổi tiếng của Gandhi lãnh đạo những người từ bóng tối đến ánh sáng.

Bây giờ con đường vắng ngắt. Mưa rơi nhẹ hạt. Nếu chúng tôi cứ đi thế này, chúng tôi sẽ đến khách sạn - khách sạn to nhất tại thủ đô đất nước chúng tôi, nơi những nguyên thủ quốc gia viếng thăm, như ngài, luôn ở đấy. Nhưng Delhi là một thành phố mà sự văn minh có thể xuất hiện rồi biến mất trong vòng năm phút. Ở hai bên chúng tôi hiện giờ chỉ là đồng không mông quạnh và rác rến.

Trong kính chiếu hậu tôi thấy ông ấy chẳng chú ý đến thứ gì khác ngoài chiếc điện thoại di động của mình. Một ánh sáng xanh từ điện thoại chiếu lên mặt ông. Không nhìn lên, ông hỏi tôi, “Có chuyện gì thế, Balram? Tại sao xe dừng lại?”

Tôi chạm vào miếng nhãn dán nữ thần Kali để lấy may, rồi mở hộc đựng găng tay. Nó nằm đấy - chiếc chai vỡ, với những móng vuốt miểng sành.

“Bánh xe bị trục trặc, thưa ông. Xin chờ con vài phút.”

Trước khi tôi chạm vào nó, tôi xin thề, cửa xe tự bật mở. Tôi ra ngoài giữa trời mưa phùn.

Khắp nơi bùn đen ướt sũng. Nhón chân tránh bùn và nước mưa, tôi ngồi xổm xuống gần bánh sau bên trái, được thân xe che chắn khuất khỏi mặt đường. Một bên là một bụi cây to - tiếp nối bằng một dải đất hoang.

Ngài chưa bao giờ trông thấy con đường vắng thế này. Ngài sẽ vã mồ hôi vì nó được sắp xếp riêng cho ngài.

Ánh sáng duy nhất trong xe là ánh đèn màu xanh chiếu từ điện thoại của ông ấy. Tôi lấy ngón tay gõ nhẹ lên cửa kính. Ông quay sang tôi mà không hạ kính xe.

Tôi nói ra những từ ấy, “Có chuyện rồi, thưa ông.”

Ông không hạ kính xe; ông không bước ra. Ông đang chơi với chiếc điện thoại: nhấn nút và cười. Hẳn ông đang gửi tin nhắn cho cô Uma.

Áp vào lớp kính ướt, đôi môi tôi nở một nụ cười.

Ông ấy rời chiếc điện thoại. Tôi nắm tay thành nắm đấm và đập vào cửa kính. Ông hạ cửa kính với nét mặt không hài lòng. Giọng hát êm ái của Sting vọng qua cửa kính.

“Chuyện gì thế, Balram?”

“Thưa ông, ông bước ra được không ạ, có chuyện rồi.”

“Chuyện gì?”

Cơ thể ông ấy chẳng thèm nhúc nhích! Nó đã biết - cơ thể ấy đã biết - dù đầu óc quá ngu ngốc không nhận ra.

“Bánh xe, thưa ông. Con cần ông giúp. Nó bị kẹt trong bùn.”

Đúng lúc ấy ánh đèn pha chiếu vào tôi: một chiếc xe trờ đến. Tim tôi đập lạc nhịp. Nhưng nó chỉ chạy ngang qua chúng tôi, bắn nước bùn lên chân tôi.

Ông đặt một tay lên cửa và chuẩn bị bước ra, nhưng bản năng tự vệ vẫn níu ông lại.

“Trời đang mưa mà, Balram. Cậu nghĩ chúng ta có nên gọi điện nhờ người giúp không?”

Ông vặn vẹo rồi dịch người ra xa cửa xe.

“Ôi, không, thưa ông. Hãy tin con. Hãy bước ra.”

Ông vẫn còn vặn vẹo - cơ thể ông đang cố dịch ra xa khỏi tôi hết mức có thể. Mình đang để mất ông ấy, tôi nghĩ, và ý nghĩ này khiến tôi làm một việc mà tôi biết mình sẽ căm ghét bản thân vì điều ấy, thậm chí nhiều năm sau này. Tôi thực sự không muốn làm thế - tôi thực sự không muốn ông ấy suy nghĩ, ngay cả trong hai, ba phút trước khi rời bỏ thế gian, rằng tôi là hạng tài xế ấy - hạng tài xế tìm cách đe dọa ông chủ mình - nhưng ông ấy không cho tôi lựa chọn:

“Nó cứ trục trặc mãi kể từ cái đêm chúng ta đi đến khách sạn ở Jangpura.”

Ông lập tức rời mắt khỏi chiếc điện thoại.

“Cái có bảng hiệu chữ T to ở trên. Ông nhớ nó mà, phải không ạ? Kể từ hôm ấy, thưa ông, mọi thứ không còn như trước với chiếc xe này nữa.”

Môi ông há ra, rồi ngậm lại. Ông ấy đang nghĩ: Đe dọa? Hay chỉ là một sự liên tưởng vô thưởng vô phạt về chuyện đã qua? Đừng để ông ta có thời gian quyết định.

“Ra khỏi xe đi, thưa ông. Hãy tin con.”

Đặt chiếc điện thoại xuống băng ghế, ông phục tùng tôi. Ánh đèn xanh của chiếc điện thoại tỏa sáng trong chiếc xe tăm tối một giây - rồi tắt ngóm.

Ông ấy mở cánh cửa ở phía xa tôi rồi bước ra gần con đường. Tôi ngồi xuống và nấp đằng sau chiếc xe.

“Qua bên này, thưa ông. Bánh hỏng nằm ở bên này.”

Ông ấy đến, vừa đi vừa tránh bùn.

“Là cái này, thưa ông - và hãy cẩn thận, có một cái chai vỡ trên đất.” Có quá nhiều rác bên đường nên việc nó nằm đấy trông hoàn toàn tự nhiên.

“Đây, để con ném nó đi. Là lốp xe này, thưa ông. Xin ông nhìn cho.”

Ông quỳ gối xuống. Tôi đứng lên khỏi người ông, cầm cái chai sau lưng với cánh tay gập lại.

Ở phía dưới tôi, đầu ông ấy trông như quả bóng đen - và giữa màu đen, tôi thấy đường thẳng màu trắng da đầu giữa mái tóc rẽ gọn gàng, dẫn đường như làn sơn trên đường cao tốc đến điểm trên đỉnh đầu - nơi tóc người mọc ra.

Quả bóng đen di chuyển; nhăn mặt để bảo vệ mắt khỏi nước mưa, ông ấy nhìn lên tôi.

“Trông ổn mà.”

Tôi đứng yên, như đứa học sinh bị thầy giáo bắt quả tang. Tôi nghĩ: Bộ não địa chủ của ông ấy đã phát hiện ra rồi. Ông ấy sẽ đứng dậy đấm vào mặt mình.

Nhưng chiến thắng một trận đấu có ý nghĩa gì khi ngài còn không biết rằng một cuộc chiến đang diễn ra?

“Chà, cậu biết nhiều về chiếc xe này hơn tôi đấy, Balram. Để tôi nhìn lần nữa xem.”

Rồi ông lại nhìn vào lốp xe. Đường cao tốc đen lại hiện lên trước tôi, với làn sơn trắng dẫn đến đỉnh đầu.

“Có chuyện mà, thưa ông. Lẽ ra ông nên thay thế từ lâu rồi.”

“Được rồi, Balram.” Ông chạm vào lốp xe. “Nhưng thực tình ta nghĩ rằng chúng ta...”

Tôi đâm cái chai xuống. Miểng sành ăn vào xương ông. Tôi đâm nó ba lần vào đỉnh xương sọ ông ấy, đâm xuyên qua não ông ấy. Đấy là một cái chai rất tốt và mạnh, Johnnie Walker Black - đáng giá bán lại của nó.

Cơ thể bị choáng váng của ông ngã xuống bùn. Một tiếng kêu xì xì vang lên từ môi ông, như tiếng gió xì ra khỏi lốp xe.

Tôi ngã xuống đất - tay tôi đang run lẩy bẩy, cái chai tuột ra, tôi phải nhặt nó lên bằng tay trái. Vật có đôi môi kêu xì xì chống tay và đầu gối xuống đất để đứng dậy; nó bắt đầu bò vòng vòng thành hình tròn, như thể tìm kiếm ai đó đứng ra bảo vệ nó.

Tại sao tôi không nhét cái gì vào mồm ông ấy rồi để ông ấy vào trong bụi cây, choáng váng và bất tỉnh, nơi ông ấy không thể làm gì trong nhiều giờ, trong lúc tôi bỏ trốn? Câu hỏi hay - và tôi đã nhiều đêm nghĩ về nó, khi tôi ngồi tại bàn làm việc của mình, nhìn vào chiếc đèn chùm.

Câu trả lời khả dĩ thứ nhất là ông ấy vẫn có thể tỉnh lại, bỏ vật nhét mồm ra, và gọi cảnh sát. Vì thế tôi phải giết ông ấy.

Câu trả lời khả dĩ thứ hai là gia đình ông ấy sẽ làm những việc kinh khủng đó đối với gia đình tôi: tôi chỉ đang trả thù trước mà thôi.

Tôi thích câu trả lời thứ hai hơn.

Đặt chân lên lưng cái vật đang bò, tôi đạp nó xuống đất. Rồi tôi ngồi trên đầu gối, vừa đủ tầm cao để làm việc tiếp theo. Tôi lật cơ thể ấy lại, để nó nhìn trực diện tôi. Tôi ấn đầu gối lên ngực nó.

Tôi cởi nút cổ áo rồi xoa tay lên xương đòn để xác định vị trí.

Khi còn là một đứa bé ở Laxmangarh, tôi thường chơi đùa với cơ thể bố tôi, điểm giao nhau giữa cổ và ngực, nơi mọi dây chằng và tĩnh mạch nổi lên cao, là điểm tôi thích nhất. Khi tôi chạm vào điểm này, chỗ lõm nơi cổ bố tôi, tôi kiểm soát được ông ấy - tôi có thể làm ông ấy ngưng thở bằng cách đè mạnh ngón tay.

Con trai lão Cò mở mắt - đúng vào lúc tôi chọc vào cổ ông ta - và máu trong người ông bắn vọt vào mắt tôi.

Tôi mù lòa. Tôi đã là một người tự do.

Khi tôi lau máu khỏi mắt mình, máu đã bắn khắp người ông Ashok. Máu chảy ra từ cổ khá nhanh - tôi tin đấy là cách người Hồi giáo mổ gà.

Nhưng chết vì bệnh lao còn tệ hơn thế này nữa cơ, tôi xin cam đoan với ngài.

Sau khi lôi cái xác vào bụi cây, tôi thọc tay và mặt vào vũng nước mưa và bùn nhớp. Tôi nhặt gói đồ cạnh chân - áo phông trắng, chiếc trắng trơn với duy nhất một từ tiếng Anh - rồi mặc nó vào. Với tay đến chiếc hộp khăn giấy mạ vàng, tôi lau mặt và tay sạch sẽ. Tôi gom các miếng dán thần thánh, ném chúng lên xác ông Ashok - biết đâu họ giúp linh hồn ông ấy lên thiên đường.

Rồi sau đó, vào trong xe, vặn chìa khóa, đặt chân lên ga, tôi lái chiếc Honda City, chiếc xe tốt nhất, đồng sự trung thành nhất, trong chuyến đi cuối cùng. Vì chẳng còn ai khác trong xe, tay trái tôi với ra tắt nhạc Sting - rồi dừng lại và thư giãn.

Kể từ giờ tôi có thể mở nhạc bao lâu tùy thích.

Ở ga tàu hỏa, ba mươi ba phút sau, những bánh xe sặc sỡ của chiếc máy xem bói sáng lấp lánh. Tôi đứng trước chúng, nhìn vào ánh đèn sáng và vòng quay, và tự hỏi, Mình có nên quay lại đón Dharam?

Nếu tôi để nó ở đấy lúc này, cảnh sát chắc chắn sẽ bắt nó như đồng phạm. Họ sẽ tống nó vào tù với một lũ người man rợ - và ngài biết chuyện gì xảy ra với mấy đứa trẻ khi bị tống vào hang thú dữ như thế, thưa ngài.

Mặt khác, nếu bây giờ tôi quay lại cả một chặng đường đến Gurgaon, có thể có người phát hiện ra cái xác... và rồi toàn bộ chuyện này (tôi siết chặt tay cầm chiếc túi) sẽ trở nên vô nghĩa.

Tôi ngồi xổm trên sàn nhà ga, bị tâm trạng do dự đè nén. Có tiếng kêu ré lên ở bên trái tôi. Một chiếc xô nhựa đang xoay tròn, như là một vật thể sống: rồi một khuôn mặt đen nhẻm tươi cười ló ra khỏi cái xô. Một sinh vật nhỏ xíu, một đứa bé trai. Một người đàn ông và một người đàn bà vô gia cư, ăn mặc tồi tàn, ngồi ở hai bên chiếc xô, nhìn vô hồn vào không gian. Giữa bố mẹ bơ phờ của mình, sinh vật nhỏ xíu đang vui vẻ, nghịch nước và té nước lên người qua lại. “Đừng làm thế, cháu bé,” tôi nói. Nó tạt thêm nhiều nước, hét lên sung sướng mỗi lần trúng tôi. Tôi giơ tay lên. Nó nấp vào chiếc xô và tiếp tục quẫy đạp bên trong.

Tôi thò tay vào túi, tìm đồng một rupee. Xem lại để đảm bảo đấy không phải đồng hai rupee, rồi lăn nó về phía chiếc xô.

Sau đó tôi thở dài, rồi đứng dậy, nguyền rủa bản thân, và bước ra khỏi nhà ga.

Ngày may mắn của mày đấy, Dharam.

« Lùi
Tiến »