Chiếc Santa Maria và hai chiếc thuyền buồm rời Palos từ năm đến sáu giờ sáng ngày thứ sáu, 3 tháng 8 năm 1492. Có khoảng chín mươi người trên thuyền: tám mươi tư người Tây Ban Nha, hầu hết là dân miền Cực Nam Tây Ban Nha, nhưng cũng gồm cả những người ở Tây-Bắc và Đông-Bắc nước này, một vài người Basque (miền Cực Bắc Tây Ban Nha), một người da đen từ quần đảo Canarie, hai người Genova (Colombo và Jacome el Rico); một người Venezia; một người ở Calabria Tây Nam nước Ý; và một người Bồ Đào Nha. Những hoa tiêu không nghi ngờ gì về hướng đi, vì lệnh của Colombo đơn giản: đi tới quần đảo Canarie.( Canarie là một trong những quần đảo của Tây Ban Nha)
Colombo đã chọn Gomera ở quần đảo Canarie làm điểm xuất phát để vượt Đại Tây Dương. Có nhiều lý do để lựa chọn nơi này. Lý do thứ nhất là lý do địa lý. Vịnh San Sebastian tuyệt vời - thủ phủ của đảo Gomera - là hải cảng tốt cuối cùng của thế giới mà người ta đã biết, trên một vĩ tuyến dù xa để lợi dụng gió xích đạo. Xa hơn nữa ở phía Nam là những đảo Cape Verde, do Bồ Đào Nha sở hửu nên không thành vấn đề. Phía Tây Gomera là hai đảo nữa, đảo La Palma và đảo Hierro (Ferro). Nhưng người Tây Ban Nha chưa chiếm được đảo Palma, và đảo Hierro không có cảng tốt và điều kiện cung cấp chắc chắn.
Nhu cầu cung cấp là lý do thứ hai khiến Colombo chọn Gomera, và nhu cầu ấy có thể tóm lược trong ba chữ: nước, thịt và gỗ. Gomera có nhiều nước, nhiều hơn ngày nay. Khe núi tận cùng trên bãi biển San Sebastian có một con sông, ngày nay thỉnh thoảng khô, nhưng lúc đó mang nước ngọt suốt năm, từ suối Bosco di Cedro (1) chảy giữa những ngôi nhà của thành phố nhỏ nhắn đó, dưới chân tường của pháo đài và đi xuống biển. Nước ngọt và trong cũng được lấy lên từ nhiều giếng; một trong những giếng mà những thủy thủ của Colombo lấy nước lên vào chiều tối ngày 5 tháng 9 trước khi bắt đầu cuộc vượt biển lớn, ngày nay vẫn cho khách du lịch đến xem.
Đồng cỏ chăn nuôi trên đảo Gomera tốt. Trước khi người Tây Ban Nha đến đảo này dê, lợn, thỏ cung cấp thịt quay hảo hạng cho thổ dân Guanche. Người bản địa còn quay cả chó, thiến và nuôi để ăn thịt. Không phải chó đã làm cho Colombo và những thủy thủ Tây Ban Nha của ông quan tâm mà là dê và lợn, những động vật này đã được đưa vào đảo với những số lượng lớn. Một số dê hoặc lợn sống, có thể đã được đưa lên thuyền để ăn trong cuộc hành trình, nhưng hầu hết đồ tiếp tế là thịt đã làm rồi, vì người ta thấy thịt chất lượng cao ở Gomera, tại đây thịt đã được muối. Những tàu từ bán đảo Ibêria đến, thường được cung cấp thực phẩm tại đây và khởi hành, từ tám đến mười ngày sau trở lại.
Về gỗ, Gomera có nhiều thông, chưa kể một số rừng nhỏ gỗ sồi tốt nhất quần đảo Canarie. Gỗ sồi là một trong những loại củi tốt nhất. Colombo đã biết rất rõ điều đó. Ông của Colombo đã dạy ông điều đó tại ngôi nhà ở Quinto. Ông của Colombo rất quen với những cây sồi ở núi Caucaso, ngay đàng sau làng Mocónesi ở Liguria. Củi tốt là điều cốt yếu cho việc vượt Đại Tây Dương, vì một khi chiếc tàu bắt đầu cuộc hành trình ra biển, nó luôn giữ một ngọn lửa cháy ở đuôi tàu để tránh phải dùng bật lửa luôn, một việc làm không dễ khi sóng quét lên boong tàu và phun bụi nước ra khắp nơi. Lửa dùng để phát ra tín hiệu khi tàu đang chạy như Colombo thường làm. Ở đuôi tàu treo một đèn hiệu, trong đó các thủy thủ đốt khói ban ngày và lửa ban đêm, dùng vải bạt ẩm và đuốc dầu nhựa thông. Những số lượng khác nhau về lửa và khói chỉ rõ những mệnh lệnh chỉ huy khác nhau: đổi hướng, hạ hoặc giảm buồm, đến gần tàu Đô đốc để nhận
lệnh bằng lời nói, vân vân... Có được nhựa thông tốt để làm đuốc và gỗ sồi để giữ lửa trong đèn hiệu là điều quan trọng. Trên đảo Gomera. Colombo thấy cả hai.
Gomera không những cho một hải cảng tuyệt nhất, có nước, gỗ và thức ăn, mà còn có cả bà Beatrice di Bobadilla xinh đẹp, vợ góa của Thống đốc Hernán de Peraza, bị những người Guanche giết năm 1488. Theo Michele da Cuneo, người bạn từ hồi còn niên thiếu của Colombo, cùng đi với ông trong chuyến du hành thứ hai, Colombo ‘‘bị khơi lên tình yêu’’ đối với bà Beatrice này. Đây là trường hợp duy nhất đề cập đến tình cảm yêu đương của con nguời Genova này trong những bài viết dài và phức tạp về những chuyến đi phát kiến. Cuneo, một nhà biên niên sử dễ thương, không viết dài về chủ đề này. Ông chỏ đơn thuần thuật lại việc đó. Có lý do gì mà ông lại phải kể những câu chuyện tán gẫu không có thực? Có lẽ người ta có thể coi câu chuyện là phóng đại và Cuneo đã giải thích sự tương đắc bình thường và trao đổi lời lẽ lịch sự kia là chuyện tán tỉnh yêu đương lãng mạn. Nhưng Beatrice không phải là người phụ nữ chỉ dừng lại ở sự tương đắc và trao đổi lịch sự. Tính tình và cuộc đời phiêu lưu của bà chỉ rõ Cuneo là một nhà biên niên sử trung thành và đáng tin cậy.
Nhà phát kiến tương lai không thể gọi là một người lăng nhăng chim chuột. Hoàn toàn ngược lại. Sự ý tứ khi ông viết thư cho Hoàng hậu Isabella ngoan đạo có thể gán cho ông chủ nghĩa cơ hội, nhưng ông đã dùng cùng một phong cách viết như thế ở bất cứ chổ nào, vì phong cách rõ ràng của Colombo đã thể hiện cả trong những bức thư khác của ông mà Colombo là một người quan sát thận trọng những hiện tượng tự nhiên và do đó cả về phụ nữ và những quan hệ giới tính. Colombo đã tỏ ra có sức quyến rũ đặc biệt khiến cho ông được cả sự tôn trọng lẫn tình yêu sâu sắc, cũng như lòng căm thù và oán hận sâu sắc. Sự hấp dẫn của ông đã gây ấn tượng cho Isabella vĩ đại mà không khơi lên tình cảm yêu đương thực sự, vì bà chỉ tha thiết, yêu chồng bà. Nhưng Beatrice di Bobadilla không chia sẻ quan hệ một vợ một chồng và đạo đức của Isabella. Lịch sử không thể chứng minh hay phủ nhận khả năng rằng tình yêu giữa Beatrice và Colombo bắt đầu sớm hơn nhiều, khi ông cố xoay chuyển giấc mộng của ông đến phương Đông bằng cách đi thuyền về hướng Tây thực sự thành một công trình.
Dù sao chăng nữa, không cần so sánh Beatrice với Didone, hoặc mụ phù thủy Circe. Sự bận tâm của Colombo về dự án của ông mạnh mẽ hơn bất cứ sự say đắm lãng mạn nào, vì Colombo thành thật một cách sâu sắc và ngoan đạo một cách thành thật, hầu như ông dốc hết lòng thành một cách thành thật, một cách sâu sắc và ngoan đạo một cách thành thật, hầu như ông dốc hết lòng thành một cách huyền bí cho Đứa Mẹ Đồng Trinh và Thánh Francesco. Ông luôn luôn tìm cách bẻ công mọi lý luận, mọi kế hoạch, dù ông không luôn luôn thành công - để thờ Chúa, phổ biến lòng tin và thắng lợi của Thiên chúa giáo. Về phía mình, Beatrice không phải là một phụ nữ yêu điên cuồng, giống như Didone, không giống Circe, bà không có ý định ngăn cản một sự nghiệp thuộc lợi ích đặc biệt đối với quê hương Tây Ban Nha của bà cũng như đối với Rivarolo, một gia đình Genova giàu có ở Seviglia và quần đảo Canarie, mà bà liên hệ chặt chẽ trong công việc kinh doanh. Ngoài ra, sau khi Colombo rời đi vẫn còn những ‘‘con người danh dự’’ - như Colombo gọi họ trong Nhật ký - để bà tự an ủi.
Những ‘‘người danh dự’’ này, sống trên đảo Hierro và gặp ông trên đảo Gomera với Dona Peraza, bảo đảm với Colombo rằng ‘‘hàng năm họ trông thấy đất liền ở phía Tây quần đảo Canarie và những người dân khác của đảo Gomera cũng thấy như vậy’’. Colombo đã nghe thấy nhiều câu chuyện như thế không những ở quần đảo Canarie mà ở cả quần đảo Madera và Porto Santo, trên quần đảo Azzorre và Ailen, đến mức ông cho câu chuyện đó là ít quan trọng. Tuy nhiên ông ghi lại những tin như thế trong Nhật ký vì ông dùng tin tức đó để cho các thủy thủ niềm hy vọng và sự đảm bảo. Điều đó càng hữu ích vì ngọn lửa bùng lên từ ngọn Teide đã làm lan tỏa nỗi sợ hãi mê tín trong số những người của ông.
Vào ngày 4 và 5 tháng 9, chiếc Santa Maria, Pinta và Nina nhận được cung cấp số lượng đáng kể thịt muối. Những đống gỗ thông và sồi được chất lên mọi xó xỉnh. Những thùng chứa đầy nước. Tất cả đã sẵn sàng. Rạng đông ngày thứ năm, 6 tháng 9 thuyền trưởng Colombo dự lễ Misa tại nhà thờ Đức Mẹ, lên tàu và ra lệnh giong buồm. Như vậy cuộc hành trình phát kiến vĩ đại bắt đầu. Gomera, hòn đảo trong quần đảo Canarie có thể tuyên bố một cách chính đáng là ‘‘Dạ con sinh ra châu Mỹ’’.
Chú thích :
(1) Bản dịch Tiếng Anh ghi địa danh này là Citron Grove (tr.87)