Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Diệu Của Colombo

Lượt đọc: 4653 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
cuba là "châu á"

Những chiếc tàu Tây Ban Nha tới San Salvador ngày thứ sáu, 12 tháng 10. Ngày hôm sau, thứ bảy, họ đi thăm đảo. Viên Đô đốc chỉ đi vài dặm rừng nhũ hương và cây dũ thì sang đến Hồ Lớn, một vùng nước có vỉa san hô bao quanh. Quá đấy là điểm cao nhất của đảo, Núi Kerr, cao 43 mét. Ngày chủ nhật, 14 tháng 10, Colombo hoàn thành cuộc thăm dò bằng thuyền tới cảng Graham’s (một cảng được bảo vệ bằng vỉa chắn san hô, có khả năng chứa "tất cả những tàu của thế giới Công giáo". Ở  sườn phía Bắc của đảo, Colombo trông thấy hai hoặc ba làng. Những làng khác ở sườn phía Đông mà Colombo đã trông thấy đầu tiên. Trên cơ sở những phát hiện khảo cổ học, người ta có thể sẵn sàng cho rằng có nhiều người hơn là bảy trăm người hiện nay đang sống tại đảo San Salvador.

Chiều tối chủ nhật Colombo ra đi, thuyền hướng về phía Tây - Nam. Tới Santa Maria de la Conception (nay là Rum Cay), Fernandina (Long Island), Isabela (Crooked Island), Colombo dừng lại tại mỗi đảo và luôn luôn hỏi người Anh-điêng cùng một câu: "Vàng ở đâu?". Colombo đã thấy những con vẹt ở đó. Hương liệu ông ta mong đợi cũng có ở đó. Nhưng còn vàng? Từ đảo này đến đảo khác những người dân đều chỉ về phương Nam. Tại đó có một đảo lớn gọi là Coba, hay Cuba - tất cả đều khẳng định như vậy bằng dấu hiệu và lời nói, mặc dù khó hiểu. Một sự yên tĩnh như chết và mưa đã cản trở việc đi biển, nhưng cuối cùng trước khi màn đêm buông xuống ngày thứ bảy, 27 tháng 10, các thủy thủ đã thấy đảo, đất liền thực sự rộng lớn. Vào buổi bình minh ngày hôm sau, đất liền đã hiện ra với những ngọn núi, những thung lũng và đồng bằng, có cây cối rậm rạp, hoa vàng trăm màu sắc, quả hàng trăm loại, và rất nhiều chim lớn, chim nhỏ, hót ngọt ngào. Colombo chưa bao giờ thấy một "cảnh đẹp hơn". Không nghi ngờ gì nữa, Cuba là Cipango (Nhật Bản). Y đồ lớn thế là đã được thực hiện: họ đã tới phương Đông bằng cách đi thuyền về phương Tây.

Khi đổ bộ lần đầu tiên Coiombo lập tức nghi rằng San Salvador là một trong nhiều hòn đảo mà theo truyền thống và theo Marco Polo thì vị trí của chúng là ở phía đông Cataio. Lòng tin cậy được khẳng định trong chuyến đi qua Bahamas. Nhưng cái gì đã làm cho San Salvador, Santa Maria de la Concepcion, Fernandina, và Isabela bị hiểu là đất châu Á? Đối với chúng ta có rất ít, quả thực không có gì, nhưng đối với Colombo? Có những cây cọ, nhưng ông đã thấy ở châu Phi, cũng như châu Á, đều có cây cọ. Có những cây cao lớn, đồ sộ và những giống cây mới. Nhưng Colombo và những thủy thủ Tây Ban Nha đã đi thuyền đến quần đảo Canarie và quần đảo Madera - và còn nhiều người khác nữa đã biết rằng hệ thực vật ở đây rất khác hệ thực vật châu Âu thì không phải là chứng cớ đủ để kết luận đó là châu Á; hệ thực vật đó chung cho tất cả mọi miền nhiệt đới và á nhiệt đới. Có những con rắn và thằn lằn to hơn những loài này ở châu Âu. Nhưng viên Đô đốc đã trông thấy những rắn và thằn lằn to như vậy ở Ghinê.

Lòng tin của Colombo dựa trên bốn chỉ dẫn: những con vẹt, hương liệu, vàng, và những đặc điểm về nhân chứng của người bản xứ. Ngay khi đổ bộ lên San Salvador, Colombo đã hết sức vui mừng gần như ông cho là một dấu hiệu từ Thượng đế khi những người Anh-điêng đầu tiên ông gặp đã cho ông những con vẹt. Và ông rất sung sướng viết trong Nhật ký vào ngày phát kiến vĩ đại: "Trên đảo này tôi không thấy những động vật thuộc bất cứ loại nào, trừ con vẹt. Trên đảo Long Island ngày 16 tháng 10, ông nhắc lại: "Trên đất liền tôi không thấy những con vật thuộc bất cứ loại nào, trừ những con vẹt và những con thằn lằn". Và ngày 21 tháng 10 "Những đàn vẹt làm tối mặt trời". Những con vẹt tượng trưng cho những đảo và lãnh thổ miền Đông Á. Marco Polo và những nhà du hành thời trung cổ khác đã miêu tả những kỳ quan của châu Á xa xôi và đã nói về những con vẹt. Colombo biết rằng vẹt không sống ở châu Âu, hoặc ở bất cứ nơi nào tại Địa Trung Hải. Một số loại thấy ở nhiều nơi thuộc Ghinê, một vùng đất người Bồ Đào Nha và Colombo đã biết. Tuy nhiên không ai nói về những con vẹt châu Phi này, có lẽ vì chúng sống trong rừng sâu, nơi những người Bồ Đào Nha cũng như Colombo đã không đi vào, hoặc có lẽ vì chúng thường là những con vẹt đuôi dài, không phô bày những màu lông rực rỡ khác nhau, tiêu biểu cho những anh em họ của chúng tại châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương. Như vậy Colombo không biết rằng vẹt có ở tất cả những miền nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới, từ Kenya đến Papua và Polynesia. Cũng như tất cả những người đương thời với ông, ông tin rằng vẹt là chứng cớ để khẳng định đấy là châu Á.

Còn vàng, tin tức của thời bấy giờ nghi ngờ về số lượng mang về nước trong chuyến đi biển đầu tiên. Người ta nói phòng ngủ của nhà vua ở Barcelona và tủ đựng bánh thánh tại nhà thờ lớn Toledo được giát bằng vàng từ Ấn Độ, nhưng điều đó chưa được chứng minh. Hình như chỉ một lượng nhỏ vàng được mang về châu Âu trong chuyến đi biển lần thứ nhất. Tuy nhiên niềm tin cho rằng kim loại quý tìm thấy ở những vùng đất mới không phải là một ảo tưởng, vì ngay từ đầu người ta đã thấy những dấu hiệu, dù khiêm tốn của kim loại quý ấy. Thật vậy nhiều năm đã trôi qua, trước  khi những mỏ vàng và bạc lớn nhất được phát hiện thì lòng tin của Colombo chỉ là ảo tưởng và là một tài năng "chói sáng", mở cho chiếc cổng đi tới những vùng có vàng.

Chứng cứ cuối cùng làm cho Colombo tin rằng ông ta đang ở châu Á là đặc tính thể chất của nhân dân. Họ không giống những người châu Âu, những người Moor (Á-Rập), và thậm chí những người châu Phi ở Ghinê. Ngày hôm sau, 13 tháng 10 Colombo cố nhấn mạnh sự khác biệt của họ: "Tóc của họ không xoắn (rõ ràng một liên hệ gián tiếp đối với người da đen) mà thẳng và thô như lông ngựa... Đầu họ to và trán rộng, to hơn bất cứ giống người nào mà tôi đã trông thấy trước, và mắt họ thì cực đẹp và không nhỏ". Ông nhấn mạnh rằng họ không phải là những người da đen: "Không một người nào trong số họ đen. Ngược lại họ có màu da của dân chúng trên đảo Canarie, hoặc những người nông dân rám nắng. Bụng họ không to và cân đối". Trong khi đó nhiều người da đen ở Ghinê có bụng to vì thiếu protein và những biến chuyển bệnh tật.

Mặc dù có những con vẹt, những đặc tính về chủng tộc, một số vàng và hy vọng về hương liệu, có những yếu tố khác hẳn báo cáo của Marco Polo. Ấn tượng tức khắc về cuộc gặp gở bất ngờ đầu tiên là "họ trông thấy những người trần truồng". Tất cả đều trần truồng trên đảo San Salvador, và tất cả đều trần truồng trên đảo Santa Maria de la Concepcion. Người bản xứ sơn đen, trắng, đỏ, hoặc nâu, những người bản xứ có những vòng trang trí và những miếng vàng trên cánh tay, chân, hoặc cổ, trong lỗ tai, hoặc lỗ mũi – và luôn luôn trần truồng. Làm sao ông có thể quên được là người châu Á mặc quần áo và mặc rất đẹp? Hơn nữa từ ngày đầu tiên Colombo ghi lại trong Nhật ký rằng những người bản xứ không biết "một loại sắt nào cả". Colombo đã đọc cuốn Milione, hoặc ít nhất bản tóm lược cuốn sách đó, ông phải biết rằng những người châu Á cũng quen với sắt như người châu Âu.

Không biết sắt, trần truồng, phong cách xây dựng nhà ở và làng mạc, tất cả đều chỉ rõ một tình trạng nguyên thủy, thấp hơn cả những điều kiện ở Ghinê. Được ăn uống tốt hơn, trông họ không khổ cực như những người ở Ghinê, nhưng sự phát triển vật chất của họ nói chung thấp hơn. Làm sao họ có thể là người châu Á? Colombo vẫn cứ giữ sai lầm của mình vì ông tin rằng ông đã đến những tiền đồn của châu Á, những đảo nhỏ xa nên văn minh Cataio và Cipango. Quả thật chính cuốn Milione đã kể lại những đảo Socotera (Socotra) và Zenzibar (Zanzibar), nơi đây người ta trần truồng, hoặc chỉ đóng khố. Có thể Colombo đã nghĩ rằng chỉ ở trên đất liền và những đảo lớn ông ta mới thấy nền văn minh giàu có và tráng lệ mà Marco Polo đã nói đến. Cipango, Cataio và Ấn Độ là những mục tiêu của ông. Những người bản xứ đã nói với ông về "một hòn đảo rất lớn". Viên Đô đốc không nghi ngờ gì: "Tôi nghĩ rằng đó phải là Cipango, xét theo thông tin mà những người Anh-điêng thu phục được, đã cung cấp cho tôi". Ông đã viết như thế ngày 21 tháng 10 và ông nhắc lại điều đó ngày 23 và 26 tháng 10, một niên tin bối rối. Viên Đô đốc cũng bị lừa dối bởi khái niệm về địa lý của ông mà ông tin tưởng một cách ương ngạnh. Ông cho rằng khoảng cách trên đất liền từ Bồ Đào Nha đến Trung Quốc lớn hơn thực tế nhiều. Không những Toscanelli mà cả cuốn Historia Rerum của Piccolomini và chuyện kể của Marco Polo đã làm ông nghĩ rằng Cataio và miền đất Khan vĩ đại kéo dài về phía Đông xa hơn là thực tế. Như vậy ông đã chấp nhận nguyên tắc quả đất tròn, do đó ông tin chắc rằng châu Á cách Lisbon ba nghìn dặm bên kia Đại Tây Dương, cách đảo Hierro hai nghìn bốn trăm dặm.

Nếu Colombo không tin chắc như vậy, ông đã không đề ra dự án của mình một cách nhiệt tình như thế, ông đã không gây sức ép với các học giả và quan chức về dự án đó một cách say sưa như thế, ông đã không thuyết phục Pinzon đi theo ông và đã không đương đầu với cuộc phiêu lưu vượt Đại Tây Dương. Bây giờ ông đã thấy đất liền, hay đúng hơn những vùng đất liền ngay tại nơi ông mong chờ được thấy đất liền đó, ngay tại nơi những tính toán của ông đã chỉ rõ, ngay tại nơi thuyết địa lý "của ông" đã nói những vùng đất ấy phải ở đó, làm sao ông có thể bỏ mục tiêu của mình, một sự ám ảnh và một ngôi sao Bắc Đẩu đối với ông trong những- năm hy vọng, sợ hãi, đối đầu và tranh cãi? Trong nhiều năm ông vẫn cho rằng vượt qua Biển Đen Tối, vượt qua Đại Tây Dương là châu Á, rằng ông có thể tới phương Đông bằng cách đi thuyền buồm về phương Tây. Bây giờ ông đã thấy nhiều đảo và cuối cùng một khối đất liền rộng lớn ở bên kia Đại Dương. Có những con vẹt, có vàng, có hương liệu, và nhân dân không giống những người châu Âu và những người châu Phi. Làm sao ông có thể không tin rằng ông đã đến châu Á?

Las Casas tìm cách giải thích sai lầm của Colombo, ông thường xuyên dẫn đến bản đồ của nhà vật lý Paolo, tức là Toscanelli và nói rằng Colombo giữ ý kiến này, tức là ý kiến cho rằng những vùng đất này thuộc Khan vĩ đại, chính là vì bản đồ và những thông tin của Paolo gửi trong những bức thư của ông cổ vũ mạnh mẽ Colombo. Nhưng nhiều lần khác nhà thám hiểm Genova buộc phải chọn giữa lý thuyết và kinh nghiệm bằng cách thay đổi và sửa chữa những điều cần thiết sau khi tới những vùng Đất Mới, Colombo tiếp tục là một người quan sát sắc bén, một nhà hàng hải hạng nhất, và một nhà địa lý giới, vì ông tin vào kinh nghiệm của mình. Nhưng trong dịp này ông đã không xem xét một chút nào những chỉ dẫn chứng tỏ ông đang ở những vùng đất rất khác với châu Á được miêu tả trong cuốn Milione.

Milione miêu tả những vương quốc hoa lệ, nhiều sùng bái và tôn giáo lớn, những ngọc trai, kim cương, ngà voi, gỗ đàn hương và long diên hương, thậm chí hàng hóa từ nước Nga và Bắc cực, một ảo cảnh có một không hai của những dân tộc và các nước văn minh. Thêm vào đó một phần lớn cuốn Milione đã dành cho hệ động vật đa dạng của châu Á: Hổ, báo, linh miêu, chó sói xám, voi, tê giác, kỳ lân, khỉ đầu chó, hoặc khỉ dữ, chó Tây Tạng "to bằng con lừa", hươu, lợn rừng, khỉ và rắn. Tất cả những thứ này đều không thấy lặp lại trong những kinh nghiệm và miêu tả của con người thành Genova: lòng tin của ông, ý nghĩ cố định của ông chiếm ưu thế, bất chấp thực tế, bất chấp thiên nhiên của những vùng Đất Mới. Tại sao? Vì có những chứng cớ mang tính lừa dối khác và nhất là vì Nhà Phát kiến bướng bỉnh và bị chi phối bởi tham vọng và lòng kiêu hãnh. Nhờ tính bướng bỉnh của mình, ông đã có sức mạnh để kiên trì trong bảy năm trời ở thời kỳ ưu việt nhất của cuộc sống con người - từ ba mươi tư đến bốn mươi mốt tuổi- chờ đợi quyết định của Vua và Hoàng hậu Tây Ban Nha. Cuối cùng ông đã tìm thấy đất liền ở bên kia Đại dương, nhưng ông không phải là Đô đốc vĩ đại của Đại dương ấy, tính cố chấp của ông trở thành ngu xuẩn đã cản trở lý trí của ông.

Tính bướng bỉnh thường là đặc tính của những con người vĩ đại. Ở Colombo tính bướng bỉnh ấy mãnh liệt và cứng nhắc đến mức, vừa là đức tính vừa là thói xấu. Trước đó nó là đức tính: tại Lisbon, trong những cuộc đi ở Địa Trung Hải và Đại Tây Dương của ông, từ Băng Đảo đến Porto Santo và tới Ghinê; sau này ở Tây Ban Nha và cuối cùng trong ba mươi ba ngày vượt Đại Tây Dương. Bây giờ, nó là thói xấu khi viên Đô đốc của Đại dương đã phát hiện ra những vùng đất kỳ diệu và saỵ mê nhất mà không nhận ra, đó không phải và không thể là châu Á.

Như ông đã bí mật nuôi dưỡng về ý đồ lớn của mình trong bảy năm, tin tưởng rằng ông sẽ hoàn thành sứ mạng thiêng liêng, bây giờ khi đã tới miền đất bên kia "Biển Đen Tối", ông càng tin tưởng hơn bao giờ hết là ông đã hoàn thành công việc mà Chúa mong muốn, đem lại vinh quang không bao giờ phai nhạt cho ông, quyền lực và của cải cho con cháu ông. Trong thực tế ông đã đạt được vinh quang nhưng không bao giờ ông nghĩ mình được niềm vinh quang đó, vì phát hiện ra những lục địa mới, rộng lớn, giàu có, gần quan trọng như châu Á, quan trọng hơn châu Âu và châu Phi nhiều.

Một lục địa mới vượt quá mọi lý thuyết khoa học, vượt quá trí tưởng tượng. Những biện hộ của La Casas không phải là không trúng. Paolo Toscanelli và những học giả khác đã nhất trí loại bỏ sự tồn tại của những lục địa ngoài châu Âu, châu Phi và châu Á. Do đó nếu những đất này không phải là châu Á thì là những đảo cách xa Cataio và Ấn Độ. Phát hiện những đảo Đại Tây Dương không phải là một sứ mệnh thần thánh, đáng khích lệ; Colombo tự cảm thấy mình đã được định sẵn cho sứ mệnh đó, sự phát hiện đó không có tác động gì đối với tiến trình lịch sử. Đã có nhiều hòn đảo, có thực, hoặc tưởng tượng, trên mọi bản đồ Biển Đen Tối; việc phát kiến, hoặc phát kiến lại lần nữa quần đảo Canarie, Madera và Azrorre đã không làm thay đổi tiến trình lịch sử.

Nhận rằng những Đất Mới không phải là

Cataio, hoặc Cipango, sẽ đòi hỏi sự khiêm nhường, một điều Colombo không thể thực hiện được. Ông quá kiêu hãnh để tự hạ mình. Chính vì bản chất kiêu hãnh và bướng bỉnh của mình, ông đã thành công trong một sự nghiệp mà đối với nhiều người hình như không thể thực hiện được, thậm chí là vô lý. Để làm chủ được Đại Tây Dương, để xây dựng ý đồ lớn của mình, Colombo dễ dàng uốn nắn lý thuyết theo kinh nghiệm riêng và trực giác về biển cả của ông, vì làm như vậy phù hợp với những mong muốn và khát vọng vinh quang của ông. Bây giờ ông lại phải đặt lý thuyết thấp hơn thực tế, thực tế của biển Caribe, một môi trường thú vị và đáng lưu ý nhưng với kiến trúc vật tư và công cụ khiêm tốn - tóm lại toàn bộ cơ cấu xã hội và trình độ văn minh thấp hơn nhiều so với điều ông mong chờ.

Đặt những lý thuyết riêng của ông dưới thực tế, hiển nhiên như thế đòi hỏi một đức tính mà Colombo không có. Nếu Colombo có tính khiêm nhường và thái độ sẵn sàng bỏ cuộc trước năm 1492 thì ông đã không đạt được cuộc phát kiến vĩ đại nhất trong lịch sử. Nếu Colombo có những lý thuyết đó sau ngày 12 tháng 10 của năm quan trọng ấy thì ông đã không phạm sai lầm lớn này; ông đã thoát khỏi sự ám ảnh đã theo ông tới lúc chết, đã cướp đi của ông cái danh dự bất tử được lấy tên ông đặt cho hai lục địa lớn nhất, giàu nhất và quan trọng nhất trên trái đất. Mặt khác điều đã ám ảnh ông tỏ ra càng ngày càng hữu ích. Colombo tin rằng mình đã tìm thấy châu Á. Ông đã trở lại ba lần, luôn luôn bướng bỉnh tìm cách đi đến những thành phố truyền thuyết bằng thuyền theo hướng Tây; hy vọng luôn luôn được khích lệ, thực ra là lòng tin sẽ tới được Ấn độ. Trong cuộc tìm đường điên cuồng tới Ấn Độ, cuộc phát kiến vĩ đại đã được mở rộng ra qua Cuba và đảo Hispaniola, tới những đảo khác trong biển Caraïbes và trước hết tới đất liền, tối những cửa sông Orinoco, nơi ông đã tìm ra Venezuela ở Nam Mỹ. Ông đã xác định đó không phải là châu Á, nhưng ông không quan tâm vì ông đang bận tâm đi tới Ấn Độ.

Cuba bây giờ nằm trước  mặt ông; Cuba quyến rũ như một nàng tiên, tỏa ra mùi thơm giống như mùi thơm ông đã bị kích thích lần đầu tiên, một luồng khí không thể quên được khi ông còn là một thanh niên trên đảo Chio, có lẽ dây là Cipango hay Cataio. Dù sao chăng nữa, đó là châu Á! Vào buổi bình minh ngày chủ nhật, 28 tháng 10, ba chiếc tầu đi vào cửa một con sông và bỏ neo. Colombo đã đặt tên con sông là San Salvador và đất mới là Juana. Nay không còn tên nào còn tồn tại. Đảo lớn ngày nay mang lên bản xứ là Cuba. Làng mang tên San Salvador đã biến mất, tuy nhiên nhiều làng ở tỉnh Oriente tuyên bố họ ở trên mãnh đất nguyên thủy.

Tuy nhiên có thể khẳng định hải cảng tự nhiên mà Colombo nói là "không có những bờ cát, hoặc cản trở gì nguy hiểm" là vịnh Baria. Về cuộc gặp bất ngờ với hòn đảo lớn đầu tiên của châu Mỹ, cũng như hòn đảo nhỏ nằm ở bên ngoài, xin nghe Nhà Phát Kiến phát biểu: "Đây là hòn đảo xinh đẹp nhất trong các đảo mà mắt người đã trông thấy. Đảo có nhiều núi non rất đẹp và rất cao, mặc dù không dài lắm, và phần đất còn lại cao như ở Sicilia". Ngày 29 tháng 10, tàu chuyển hướng về phía Tây. Chiều tối tàu tới cửa một "con sông rất lớn’’ ngày nay là Puerto Gibara, lớn hơn và dễ vào hơn bất kỳ hải cảng thiên nhiên nào gặp trước  đó.

Ngày 30 tháng 10, Colombo thấy một mũi đất bao phủ toàn cây cọ, vì vậy ông đặt tên cho mũi đất đó là "Capo delle Palme". Ngày nay mũi đất đó gọi là Punta Uvero, và ở đấy vẫn còn rất nhiều cây cọ. Rồi gió chuyển hướng Tây, trở nên mạnh đến nỗi ngày 31 tháng 10 đoàn tàu phải hạ hết buồm để đi được. Gió lại chuyển hướng về phía Bắc, nhiệt độ hạ thấp; một cơn bão hình thành, Colombo biết không thể đổi hướng tầu với gió hướng Bắc, dọc theo bờ biển chạy theo hướng bắc-tây bắc, nên ông đã ra lệnh quay ngược hướng tầu. Ông đã trở về Puerto Gibara vào buổi bình minh ngày 1 tháng 11, và lưu lại đây 11 ngày.

Họ rời Puerto Gibara ngày thứ hai, 12 tháng 11, đi đến một đảo "mà nhiều người Anh-điêng trên tàu gọi là Baneque", ngày nay là Great Inagua.

Một con bão mới đến từ phía Bắc; Colombo quyết định tìm nơi trú ẩn ở một nơi nào đó trên bờ biển Cuba. Ông chợt nhận thấy một lạch rộng khoảng hai trăm Yards (1). Giữa kênh rộng trên 40 Fathoms (2) như vậy đoàn tầu có thể đi vào. Cuối hành lang quanh co mở ra Vịnh Tanamo, được bảo vệ bởi nhiều núi cao và đảo nhỏ nổi lên nhọn như những "mũi kim cương", hoặc bằng phẳng như những "cái bàn". Đoàn tàu ở lại Tanamo bốn ngày. Ngày thứ hai, 19 tháng 11, Colombo nhổ neo vào sáng sớm theo hướng Đông bắc-Bắc, cách hướng gió sáu điểm trên la bàn. Ở đây xẩy ra một sự kiện mà các học giả nghiên cứu về Colombo đã đoán và tranh luận không dứt, sự kiện đó được gọi là sự đào ngũ của Martin Alonso Pinzón". Nhật ký cho biết như sau:

Hôm nay Martin Alonso Pinzón trên chiếc thuyền buồm Pinta đã rời tầu, không có lệnh và trái với ý của viên Đô đốc. Pinzón hành động như thế, xuất phát từ ý muốn kiếm lợi, nghĩ rằng ông ta sẽ thấy nhiều vàng hơn, theo lời khuyên của một trong những người Anh-điêng mà viên Đô đốc đã mang lên tầu. Như vậy Pinzón đã rời đoàn tàu và không đợi những chiếc khác, không thể viện lẽ vì thời tiết xấu, mà chỉ vi muốn đi và còn nhiều điều tồi tệ khác mà ông ta đã nói và làm.

Đó không phải là một cuộc bỏ ngũ theo đúng tên gọi của nó. Pinzón đã đi đến Baneque để tìm vàng, rồi đổ bộ lên bờ biển phía Bắc Haiti, ở đây ông biết viên Đô đốc là người kiên quyết. Ông không mang theo - và cũng không tìm cách mang theo- người em trai là Vicente Yanez, người này vẫn ở lại trên chiếc Nina, bên cạnh viên Đô đốc. Về sau ông đã gửi điện cho Colombo và, không thấy trả lời, ông đã đi để gặp Colombo.

 Chúng ta hãy trở lại chuyến đi của các tầu Santa Maria và Nina. Trong hai ngày và đêm - 22 và 23 tháng 11 - dòng nước biển đã đưa họ về phía Tây. Cuối cùng vào buổi sáng ngày 24 tháng 11, họ tới bờ biển Cuba, chính xác là ở Cayo Moa Grande. Nơi này làm cho họ say mê. Nhiều cây thông thẳng như những con suốt. Colombo tưởng tượng chúng như những chiếc đầm ở hai cạnh thuyền, hoặc những cột buồm của những tàu lớn nhất của Tây Ban Nha. Rừng đủ làm một đội tầu; những thân cây chưa ai đụng tới trong rừng châu Mỹ đã là nguyên liệu, hàng hóa cho thành phố Iớn, một nguồn của cải không thể tính toán được và sức mạnh của Hải quân. Hai ngày sau cảnh tượng trở nên cụ thể và chi tiết hơn: Vua và Hoàng hậu có thể dễ dàng chinh phục những đảo mới, cải đạo dân cư, xây dựng thành phố và pháo đài. Để bảo đảm đế quốc của họ tồn tại lâu dài, họ sẽ làm tốt để không cho phép bất cứ một người ngoại quốc nào buôn bán, hay đặt chân lên đó, trừ những người Công giáo. Gerbi bình luận, chỉ sáu tuần lể trước  đó, người ngoại quốc Colombo đã đặt chân lên châu Mỹ; bây giờ ông ta lại ghen tỵ với mọi người di cư khác vì lợi ích của nước Tây Ban Nha. Thiên đường phát kiến chưa bao lâu đã bị thôn tính cho nhà vua Castiglia.

Ngày 26 tháng 11, đoàn tầu rời Puerto Cayo Moa và ngày hôm sau đã đến một hải cảng làm cho người ta rất đổi ngạc nhiên, Puerto Baracoa, bao vây bởi những cánh đồng và làng mạc. Tại đây Colombo lưu lại một tuần lễ và đã có dịp khảo sát vùng xung quanh, tiếp xúc với nhiều người bản xứ Cuba, đánh giá lại những phát kiến của ông. Colombo cảm thấy rất phấn chấn và sung sướng.

Những đảo nhỏ thuộc quần đảo Bahamas đã làm cho ông thích thú, trong vùng đất vĩ đại này, sự xum xuê mới lạ và đẹp đẽ của thiên nhiên, cao hơn nhiều không những so với cảnh quan của châu Âu mà của cả Ghinê nữa, đã khuấy động và khích lệ ông. Hình như Colombo bị chìm ngập trong ba tình cảm: phấn khởi vì cái mới của hệ thực vật ở quần đảo Antilles, khâm phục vì cảnh đẹp đặc biệt và thất vọng vì không có khả năng, do thiếu thời gian và không hiểu biết về thực vật để đánh giá đầy đủ giá trị dinh dưỡng và dược liệu của nó. Trên những vùng đất được phát kiến, thiên nhiên đa dạng và làm cho người ta phải ngạc nhiên, thậm chí hiếm thấy. Trên bình diện thẩm mỹ, thiên nhiên đẹp và thú vị; trên bình diện thực tiễn, thiên nhiên phải được sử dụng và khai thác ở mức tối đa.

Chú thích :

(1)     Một Yard khoảng 0,9143, do đó bản tiếng Ý viết khoảng 200 mét.

(2)     Một Fathom là 1,829 mét. Bản tiếng Ý viết 40 Braccia, một đơn vị đo chiều dài cổ ở Ý. Độ dài không giống nhau giữa các địa phương. Ví dụ ở Genova là 0,581 mét ; ở Napoli là 0,698 … ; Tha-5m chí còn sai khác tùy theo vật dụng được đo, chẳng hạn ở Parma, khi đo gỗ thì một Braccia là 0,545 mét ; đo dạ là 0,639 mét, Đo lụa là 0,587…

« Lùi
Tiến »