Như chúng ta thấy, Colombo đã miêu tả những đặc điểm thể chất của các dân cư thuộc những vùng Đất Mới nhiều lần trong Nhật ký, bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ đầu tiên ngày 12 tháng 10. Họ là một dân tộc cao, dáng đẹp. Tóc họ không xoăn, nhưng trơn và thô như đuôi ngựa; trán và đầu rộng, rộng hơn hầu hết bất cứ một giống người nào khác; mắt họ đẹp, không nhỏ; da không có màu đen
nhưng có màu giống như những người trên đảo Canarie; chân thẳng một cách khác thường; và bụng không to mà cần đối.
Họ là những nguời Taino, những dân tộc bản xứ ở tất cả những đảo Bahamas, Haiti, và Cuba, nói tóm lại thuộc quần đảo Đại Antille. Ngôn ngữ của họ là Arauco, hay Arawak. Hiện nay họ hoàn toàn bị diệt chủng; chỉ còn lại một số đặc điểm của họ trong những người da đen mà họ đã kết hôn. Trong thế kỷ thứ XIV và XV, những người Taino đã lan tràn từ Haiti đến phần phía đông của Cuba, tới Giamaica, Puerto Rico, và quần đảo Bahamas, trục xuất, hoặc bắt làm nô lệ những cư dân sống ở các nơi này trước đó.
Những cuộc khai quật khảo cổ học tại những vùng có người Taino sống cho thấy sự phát triển có ý nghĩa văn hóa trong thuật trang trí dùng trong nghi lễ và thể thao. Họ có ba giai cấp: qúy tộc, bình dân và nô lệ. Những người đứng đầu có quyền sinh sát đối với những bề tôi của họ. Họ trông nom, hướng dẫn những ngày lễ, các công việc đồng áng, săn bắt và đánh cá. Địa vị và của cải của họ được truyền lại theo mẫu hệ.
Những người Taino có bản chất dịu dàng và mến khách. Như Colombo đã nhận xét: đàn ông trần truồng, đàn bà đôi khi mặc tạp dề nhỏ, hay váy bằng sợi bông. Họ dùng nhiều màu khác nhau – đỏ trắng, đen, và vàng - để vẽ trên mình họ. Họ có thói quen nắn xương sọ cho méo và khoét lỗ ở mũi và tai. Họ có ít đồ trang sức, đều bằng đá, xương, vỏ ốc, và đôi khi bằng vàng. Trên một số đảo thuộc quần đảo Bahamas và một lần trên đảo Cuba, những người Tây Ban Nha đã gặp những người Anh-diêng có những miếng vàng, hoặc bạc, trong lỗ mũi của họ, Khi họ nhảy múa, họ mang những đồ trang sức và mặt nạ bằng lông vũ. Trống bằng gỗ dùng trong những cuộc khiêu vũ giống trống có hai giọng của người Mêhicô.
Về tôn giáo, người Taino quan niệm có một vị thần trên trời, đó là mặt trời và mẹ của mặt trời là mặt trăng. Loài người sinh ra từ đó. Họ giữ và thờ zemi "những tượng nhỏ" tại nơi họ ở. Mỗi zemi có một tên và một lịch sử cá nhân, có liên quan đến một vị chủ soái đã chết nào đó. Mỗi tượng nhỏ làm chức năng đại loại như một người phát ngôn để đưa ra những lời tiên tri; việc sử dụng người phát ngôn đó là bí mật. Những hình vẽ thấy ở nơi này nơi khác trên các vách đá có lẽ cũng dựa trên khái niệm thôi thúc việc tạo ra zemi. Người chết được chôn ở tư thế trước khi sinh. Vợ chính của vị chủ soái bị chôn theo chồng.
Colombo và những người của ông đã không gặp những chủng tộc khác trong cuộc hành trình thứ nhất. Cuốn Nhật ký thường nói đến những người Caribo và Canibale và cho biết những người Taino rất sợ người Caribo và Canibale nhưng những giống người này chỉ xuất hiện trong cuộc hành trình thứ hai. Lần này những cư dân chỉ là người Taino. Như đã nói, họ nói cùng một thứ tiếng. Colombo nhận xét "Tại Ghi-nê, tình hình khác hẳn: họ nói một nghìn thứ tiếng; cư dân ở một nơi này không thể hiểu cư dân ở một nơi khác’’ . Ngày 11 tháng 12 viên Đô đốc đã có thể tường thuật trong Nhật ký rằng: "Hàng ngày chúng tôi hiểu nhiều hơn, mặc dù rất thường xuyên chúng tôi hiểu lầm họ, hoặc, họ hiểu lầm chúng tôi". Điều này giải thích tại sao những người phiên dịch không khó tìm. Một trong số những người đó được đưa về Tây Ban Nha và được làm lễ đặt tên tại nhà thờ Công giáo là Diego Colon. Ông này sẽ là một thông dịch viên trong chuyến du hành thứ hai.
Người Taino không có trình độ văn minh cao, nhưng họ cũng không ở trạng thái nguyên thủy. Việc họ ở trần truồng và không muốn làm việc không thể hiện những tính cách nguyên thủy mà chỉ rõ những hệ quả tự nhiên của môi trường. Không cần mặc quần áo trong thời tiết tuyệt diệu ở vùng Caribê và không cần làm việc nặng nhọc để có thức ăn. Thiên nhiên cho nhiều loại thức ăn ngon, bổ của biển cả, hiện vẫn phong phú dọc theo bờ biển của quần đảo Bahamas, Cuba và Haiti. Việc ăn cá sống đã làm cho Don Fernando phải kinh ngạc, nhưng không còn làm cho những người sành ăn hiện nay ngạc nhiên nữa. Những con nhện và những con sâu trắng, nếu Don Fernando coi là ghê tởm thì lại là những thức ăn cũng ngon lành như một loại sên ăn được mà nghệ thuật nấu ăn của Pháp và Ý đánh giá cao. Ngoài thức ăn do thiên nhiên ban cho một cách hào phóng, có một thứ người ta cần lao động thực sự mới có được: bánh làm từ khoai lang nạo, hoặc từ ngô giã, hoặc nghiền, mà người Tây Ban Nha gọi là bánh Cassava hoặc Cazzabi. Để có được yuca cần lao động khá nặng nề, nhất là loại bỏ chất độc từ sắn.
Nhà ở của người Taino làm bằng rơm rạ hoặc lá cọ. giống những ngôi nhà thường thấy ngày nay tại vùng nhiệt đới châu Mỹ, châu Phi và châu Á. Nhà thường hình chữ nhật và có mái dốc, có khi nhà tròn có mái hình nón, đôi khi nhà xây dựng trên những cột. Các khu định cư của nguời Taino đều có những bãi chơi. Trò chơi dùng những quả bóng cao su không được chạm tay vào. Phát hiện này có ý nghĩa đáng kể khi người ta xem xét tầm quan trọng của môn bóng đá trong thế kỷ này. Bóng đá là một môn chơi trong đó người ta không được chạm tay vào quả bóng.
Cao su, dưới hình thức đầu tiên là một quả
bóng, đã nảy và nhảy vào lịch sữ trên đảo Cuba và Haiti của Thế Giới Mới trước con mắt kinh sợ của những người từ Thế Giới Cũ đến. Oviedo chú ý sự khác nhau giữa những quả bóng này với những quả bóng mà người ta đã biết trong thế giới Công giáo: "Những quả bóng này nảy nhiều hơn những quả bóng khác, khi người ta ném chúng xuống đất chúng lại bật nhiều lần rồi mới giảm dần’’. Cao su cứng có nhiều loại khác nhau - loại nổi tiếng nhất là Hevea brasiliensis đã được những người Anh - diêng biết đến trước thời Colomho. Người châu Âu có kiến thức đầy đủ hơn về cao su thông qua công trình của La Condamine: năm 1839 Goodyear đã phát minh ra cách lưu hóa cao su.
Trở lại những ngôi nhà ở, chúng lớn và giống những lều trong một trại lính, "chúng không xếp theo hàng lối và do đó không làm thành những đường đi mà rải rác mọc lên tại bất cứ chỗ nào". Ngày 3 tháng 12, Colombo đã thấy trong một căn nhà những sợi cây cọ, những dây thừng, một luỡi câu làm bằng sừng, những lao móc làm bằng xương, những công cụ khác để đánh cá và nhiều bếp lửa ở phía trong. Ghế ngồi là những khúc gỗ đơn, đẽo thành những con vật có đuôi vươn cao lên làm chỗ để tựa đầu.
Vật khác thường nhất mà người châu Âu thấy trong nhà người Anh-diêng là cái võng. Ngày 18 tháng 10 lần đầu tiên Colombo thấy võng tên đảo Fernandina: "Những giường và tấm phủ để những người này ngủ là một loại lưới bông". Ngày 27 tháng 10 trên đảo Cuba, Colombo đã thăm hai ngôi nhà và ở cả hai nơi ông thấy "những lưới bằng sợi cây cọ". Ngày 3 tháng 11, ông xác định đó là những lưới họ nằm ngủ, những cái võng". Las Casas tỉ mỉ và chính xác hơn trong miêu tả của ông. Ông gắn nhận xét về tập tục ngủ võng với cấu trúc của ngôi nhà :
Võng có hình dáng một cái quai, những sợi dài của võng không dệt với nhau như lưới mà khá thưa để ngón tay có thể thò vào giữa. Những sợi này đan với những sợi khác to hơn giống như đăng ten ở Seviglia. Chúng dài và đảm bảo sự thoải mái khi nằm, đến đâu dây các sợi tách ra thành nhiều sợi. Mỗi sợi lại nối vào những sợi mịn khác bằng một chất liệu dai hơn bông giống như gai. Võng rộng 113 cm (khoảng 45 inch). Đầu võng kén thành nút to bằng nắm tay và buộc vào cột ở hai bên nhà để treo cái võng trong không khí và dùng nó ở vị trí đó. Võng dài 3-4 yard và khi dùng võng mở ra như một cái quai khổng lồ.
Những người Anh-diêng chứa nước trong những quả bí khoét rỗng. Họ quấn bông xe thành những cuộn tròn như quả bóng. Nhiều lần người Tây Ban Nha thấy trong nhà những tượng nhỏ bằng gỗ, những hình phụ nữ gọt sơ sài và những mặt nạ làm công phu. Nhưng họ không thể xác định được những tượng nhỏ đó mang tính chất tôn giáo hay nghệ thuật. Ngay từ đầu, ngày 12 tháng 10 Colombo nói về những mũi lao của họ trong Nhật ký. Ngày 15 tháng Giêng, ông lại nêu những thứ ấy trên đảo Haiti: "Những cái cung của người Anh-diêng to bằng những cái cung dùng ở Pháp và Anh, còn tên thì giống những mũi lao. Đầu mũi tên rất sắc, bằng gổ hay bằng răng cá. Tuy nhiên thường những cung tên đó không gây tác hại lớn. Cũng ngày 15 tháng Giêng Colombo nhắc lại rằng "những cư dân trên đảo này không có sắt, hoặc bất cứ kim loại nào khác mà người ta đã biết", điều ông đã nhận xét trên đảo San Salvador.
Chiếc thuyền độc mộc đã gây lên sự thích thú đặc biệt. Don Fernando so sánh nó với chiếc artesa, khoét trong đoạn thân cây ở Castiglia. Có những thuyền lớn và nhỏ dài và hẹp , tất cả đều làm từ một thân cây khoét rỗng bằng những miếng đá sắc như lưỡi dao bào. Đầu thuyền hình chữ nhật. Các mái chèo đều có cán để cầm , đầu mái chèo dài hơn đầu mái chèo của người châu Âu và người Á rập thời đó và ngày nay vẫn dùng. Colombo nói về những chiếc thuyền độc mộc trong Nhật ký, ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên. Ngày 13 tháng 10 ông viết như sau:
Họ đến tàu của tôi trong những thuyền kiểu dáng đẹp, làm từ nguyên một thân cây. Có thuyền chứa được đến bốn mươi người. Những mái chèo của họ giống như những chiếc xẻng đưa bánh vào lò của người làm bánh mì và họ có thể chèo thuyền đi nhanh đến mức diệu kỳ. Nếu thuyền bị lật, mọi người trên thuyền bắt đầu bơi, lật thuyền lại và dùng những quà bi để tát nước ra.
Ngày 30 tháng 11 ông viết: "Gần một trong những con sông này, người ta trông thấy một almadia, hay thuyền độc mộc, dài 95 cây cọ. làm từ nguyên một thân cây rất đẹp, có thể chứa ít nhất 150 người’’. Con số này chắc không đúng khi sao chép lại. Gần với sự thật hơn là mục ghi vào Nhật ký ngày 3 tháng 12: Ho gặp một nhà thuyền làm cẩn thận, có mái che nắng mưa. Dưới nhà là một ca nô, làm từ nguyên một thân cây theo hình một chiếc gale, với 17 ghế dài cho người chèo thuyền: nhìn vẻ đẹp và kỹ xảo của nó là một sự thú vị. Đấy là những công cụ của những dân tộc mới. Thực ra còn rất ít, nhưng trong điều kiện khí hậu và thiên nhiên phong phú đó cũng đủ để đạt được một cuộc sống thích hợp.
Một sự kiện sẽ minh họa bản chất dễ bảo và nhút nhát của người Taino. Ngày 3 tháng 12 Colombo đi trên một chiếc thuyền trên một con sông ở đảo Haiti. Nhiều người Anh-diêng tụ tập trên bờ sông; một người trong số họ đi xuống sông và nói một câu de dọa. Anh ta giơ chiếc nỏ đã lắp tên chĩa vào người Tây Ban Nha và nói rằng bọn họ sẽ chết hết vì chiếc nỏ có thể giết người từ xa. Người Tây Ban Nha rút gươm ra khỏi bao, vung gươm và cũng nói như thế, đến đó tất cả những người Anh-diêng đều chạy trốn. Trước khi kể lại sự kiện này Colombo đã rút ra một kết luận cay nghiệt: "Những người Anh-diêng này rất hèn nhát và sợ sệt, mười người của chúng ta có thể làm cho một vạn người của họ chạy trốn". Đây chỉ là một trong nhiều hiểu lầm giữa thế giới của những người phát kiến và thế giới của những người bị phát kiến.