Cuộc Phiêu Lưu Kỳ Diệu Của Colombo

Lượt đọc: 4671 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 28
khám phá cuba và giamaica - những rủi ro tại la isabela.

Từ 24 tháng 4 đến 29 tháng 9 năm 1494, Colombo khảo sát bờ biển miền Nam Cuba bằng ba chiếc tàu, đã phát hiện ra Giamaica và đi trở lại dọc bờ biển phía Nam của đảo Hispaniola, đi vòng đầu phía Đông của hòn đảo này. Trong quá trình cuộc thăm dò, ngày 12 tháng 6, Colombo đã gọi viên công chứng hoàng gia và ra lệnh cho ông ta hỏi các thuyền trưởng, hoa tiêu, thủy thủ của cả ba chiếc tàu, yêu cầu họ tuyên bố rằng Cuba là bắt đầu các đảo Đông Nam Á, đại lục châu Á. Nếu ai có ý kiến khác, Colombo thuyết phục người đó tin rằng mình sai lầm. Người nào ký tên vào bản tuyên bố mà sau đó phản bội lại sẽ bị phạt mười nghìn maravedis và bị cắt lưỡi. Bốn mươi hai người - thuyền trưởng, hoa tiêu và thủy thủ, trong đó có Juan de la Cosa - thề rằng họ chưa bao giờ trông thấy, hoặc nghe thấy, một hòn đảo kéo dài 335 dặm từ Đông sang Tây (Cuba thực tế dài hơn nước Anh, dù nhỏ hơn) hoặc bất cứ một đảo nào khác ở châu Âu; do đó đất này phải là một phần của đại lục. Nếu họ tiếp tục đi, chẳng bao lâu họ sẽ gặp "dân tộc văn minh và thông minh hiểu biết thế giới”. Thế là họ đã thề và ký tên.

Ngày nay việc làm trên đây có vẻ kỳ lạ và đã gây ra sự chế nhạo từ những người chê bai Colombo. Tuy nhiên, việc ấy đã được thực hiện trước bởi các nhà khảo sát khác. Bartolomeo Diaz cũng đã làm như thế, sau khi đi vòng quanh mũi Nam châu Phi và tin chắc rằng ông đang trên đường đi đến những vùng đất Ấn Độ, kết quả chỉ đưa đến việc đoàn thủy thủ buộc ông phải quay trở lại.

Colombo biết rõ sự kiện; việc ông làm không phải là trường hợp lạ kỳ đối với thời đại ông. Cách làm việc được xác nhận một cách nghiêm ngặt đã giúp giải thích một quyết định bất ngờ. Colombo đã nói dối và biết là mình nói dối. Biết rõ rằng mình đang nói dối, Colombo muốn chính thức hóa và hợp pháp hóa sự giả dối này và thỏa hiệp với những người có liên quan với ông tới một trong những sự kiện quan trọng nhất của cuộc phát kiến vĩ đại.

Cần cố gắng để hiểu đầy đủ và nếu có thể thâm nhập vào tâm trí của Colombo trong tháng 6 năm 1494 gian khổ đó: Giờ đây ông biết chắc chắn rằng những vùng Đất Mới không phải là vùng đất khác của nhiều quần đảo rải rác khắp Đại Tây Dương do trí tuởng tượng thời trung cổ của những nhà vẽ bản đồ. Colombo nói với Pietro Martire sau chuyến

đi thứ hai rằng ông đã gần đến Chersoneso tức Bán đảo Mã lai (Malacca). Nếu ông tin rằng ông đã đến Mã Lai, hoặc gần đến Mã Lai, Colombo cũng tin chắc rằng ông đang ở gần Ấn Độ. Theo địa lý thời trung cổ giữa Mã Lai, và Ấn Độ, trên thực tế là vịnh Bengal.

Colombo nói với Andrés Bernáldez rằng, với hy vọng Cuba là một bán đảo ở châu Á, đầu tháng 6 năm 1494 ông đã xem xét việc đi qua bán đảo ấy rồi vượt Ấn Độ Dương trở về Tây Ban Nha, từ Đông sang Tây, hoặc bằng cách đi vòng Hải Vọng Giác, hoặc bằng cách lên bờ ở Hồng Hải, đi trên đất liền, qua Gerusalemme và đi thuyền từ Jaffa đến Cadice. Đó là một kế hoạch đầy tham vọng, nghĩ lường trước cả Magellan. Colombo có thực sự nghĩ rằng ông có thể thực hiện được kế hoạch đó hay không? Ông có nghĩ rằng ông có thể thực hiện được việc đó trong dịp này không? Ông biết rằng ông không thể thi hành kế hoạch đó bằng ba chiếc tàu được trang bị tồi. Nhưng ông đã nghĩ đến kế hoạch đó. Và ông tin, ông hy vọng, ông đang đi dọc bờ biển bán đảo Mã Lai. Ông sẽ trở lại đó và cuối cùng thực hiện giấc mộng chưa hoàn thành được: Tới Ấn Độ và đi vòng địa cầu.

Nhưng ngày 11 tháng 6, tiền đề cơ bản của kế hoạch này đã tan biến khi Colombo được những người Anh diêng cho biết: Cuba là một hòn đảo. Ông ta phải chấp nhận thực tế đáng buồn là Cuba không phải là bán đảo Mã Lai. Ngày ấy ông đến Bahia Cortés, cách Cabo Corrientes (những dòng nước) là mũi phía Tây-nam của Cuba ngót một trăm dặm.

Các nhà sử học thích nói rằng với một chút kiên nhẫn Colombo đã có thể xác định rằng Cuba là một hòn đảo, và họ tha hồ tưởng tượng về điều gì sẽ xẩy ra tiếp theo đó. Sau một cuộc vượt biển ngắn, Colombo sẽ tới Yucatán, hay nếu ông tiếp tục đi theo bờ biển của hòn đảo dòng Golf Stream sẽ đưa những con tàu đến dãy đảo Florida Keys ở phía Nam Florida, ngay trong tầm mắt và từ đó Colombo dễ dàng tới một phần khác của đại lục: Florida.

Những kết luận dựa trên giả thiết "nếu" này rõ ràng là đa dạng. Tuy nhiên, có sự nhất trí đáng ngạc nhiên - so với những tranh luận về rất nhiều mặt khác của cuộc đời Colombo. Colombo đã có thể chứng minh Cuba là một hòn đảo. Tôi không đồng ý nói như vậy. Ông đã thôi không đi dọc bờ biển Cuba nữa, không những vì mệt mỏi, thiếu đồ tiếp tế, các đoàn thủy thủ kêu ca, và điều kiện tồi tệ của các tàu, mà trước  hết vì ông đã không muốn xác minh xem Cuba có phải là hòn đảo hay không.

Ông biết từ những người hướng dẫn Anh-diêng rằng ông đang ở gần mũi phía Tây của Cuba và ông tuyệt đối không muốn thừa nhận bằng kinh nghiệm của chính mình rằng Cuba không phải là bán đảo Mã Lai, như ông đã tin cho đến lúc đó. Ông tin rằng có đất liền, tin đến mức cho rằng dù Cuba và tất cả những đảo khác phát hiện cho tới lúc đó là những hòn đảo, thì những đảo ấy chỉ là vành đai vây quanh đại lục. Vì thế ông đã đòi phải thề. Ông đã bắt buộc những quý tộc, nhân viên và thủy thủ phải thề rằng Cuba là một bán đảo, không phải để tránh lời buộc tội ông là đã quay trở về quá sóm mà để làm dịu bứt sự nghi ngờ rằng những đảo đó là một quần đảo khổng lồ cách xa châu Á.

Giải thích này gần với giải thích của Madariaga, trừ việc Madariaga coi sự kiện đó như một chứng cứ trong nhiều chứng cứ về tính điên rồ của Colombo. Tuy vậy, không cần coi Colombo là một người điên để giải thích tâm lý của ông, trong trường hợp này cũng như trong nhiều trường hợp khác, chỉ là một sự pha trộn phức tạp, mâu thuẫn của những lòng tin cũ rích thời trung cổ và đoán trước những tư tưởng thời Phục hưng và hiện đại. Con người hiện đại biểu thị tính sắc bén và sự quan sát chính xác ở Colombo về mọi sự việc. Từ tính sắc bén và tinh thần quan sát đó, Colombo đã hình thành một ý nghĩ đứng đắn: những đảo được phát hiện đã báo hiệu một lục địa ở gần đó. Con người trung cổ thể hiện khi Colombo không dùng sự thật thực nghiệm mà dùng trực giác để chứng minh những tài liệu, khi trực giác và sự giả dối kết hợp làm một, khi những dấu hiệu biến thành chứng cứ, những giải thích sự việc biến thành bản thân sự việc có thực và trực giác biến thành thực tế. Khi Colombo trở lại Isabela ngày 29-9, ông biết rõ chưa tìm thấy đại lục, chưa nói đến Ấn Độ, bất chấp những lời thề giả dối.

Một điều thất vọng khác nữa đợi Colombo ở Isabela. Hàng trăm người, thực ra gần một nghìn người Tây Ban Nha đã định cư tại La Isabela vào đầu tháng giêng, rải rác từ La Isabela tới San Tomaro. Tất cả đều là đàn ông: thủy thủ, những người định cư, những nhà quý tộc, các cố đạo và các tu sĩ. Những người khác gồm có phụ nữ và trẻ em từ châu Âu đến trong các cuộc du hành sau này và cùng sống với họ. Những chuyến đến đầu tiên đã sống mười một tháng tại những vùng đất mới, chín tháng ở miền Bắc đảo Hispaniola, lấy La Isabela làm căn cứ. Chưa có ai hiểu biết một cách chính xác những vùng đất mới này. Những vùng đất mới ấy có phải là những tiền đồn phía Đông châu Á hay không, những vùng ấy có phải là một thế giới mới hay không, mới về khí hậu, biển cả, đất đai, hệ thực vật, hệ động vật và con người.

Trước hết nói về khí hậu, mười một tháng đủ để chứng minh rằng những vùng đất mới không có những mùa của châu Âu. Tại châu Âu, lạnh về mùa đông và nóng về mùa hè; ở vùng Ca-ri-bê suốt cả năm nhiệt độ chỉ thay đổi chút ít, giảm về mùa đông, nhưng không bao giờ xuống dưới 68°F. Nhiệt độ trung bình ở La Isabela là 73°F vào tháng Giêng và 80°F vào tháng 7. Không có mùa thu hoặc mùa đông. Cây cối nẩy mầm quanh năm, rất nhiều hoa nở, khi có những tia nắng đầu tiên sau một con mưa giông dữ dội, và những cánh đồng và đồi cỏ luôn luôn xanh. Rải rác đây đó trong những tháng không mưa có những mảng màu vàng hoặc xám, cách xa những con sông, nhưng ngay khi trời đổ mưa thì chỉ mấy ngày sau những mảng ấy lại xanh trở lại.

Tính chất màu mỡ lớn lao của những vùng đất mới phát kiến gây ấn tượng mạnh mẽ đối với những nhà sử học đương thời. Đây là bản tường trình của Don Fernando:

‘‘Khi viên Đô đốc từ đảo Cibao trở lại La Isabela vào ngày 29 tháng 3, ông thấy một số quả dưa đã chín, mặc dù chỉ mới trồng được hai tháng. Tương tự như vậy, những quả dưa hấu sau hai mươi ngày đã sẵn sàng ăn được và một cây nho dại đã sản sinh ra những quả nho tốt, tròn khi được chăm sóc. Ngày hôm sau 30 tháng 3, một nông dân đã thu hoạch lúa mì trồng từ cuối tháng giêng, và đậu hạt thu hoạch to hơn hạt giống đã gieo ban đầu. Mọi thứ đều nảy mầm trong phạm vi ba ngày sau khi trồng, và trong phạm vi mười lăm ngày, đã ăn được. Rễ cây đầy lên những chồi trong bảy ngày và cành nho mới cắt sẽ mọc lá trong bảy ngày. Mía cũng vậy’’.

Michele da Cuneo cho ta biết thêm nhiều chi tiết về những cây và quả mới phát hiện trên đảo Hispaniola, trong đó có những rễ cây rất to và thuộc nhiều loại, rất trắng, người ta làm bánh từ những rễ cây này". Ông cho biết thêm về nhiều hạt giống đã đưa từ Tây Ban Nha sang, những giống nào mọc tốt và những giống nào không tốt. Những hạt giống nẩy mầm tốt là dưa hấu và các loại dưa, bí, củ cải, những hạt giống nảy mầm không tốt là hành, các loại rau diếp, tỏi tây. Lúa mì, các loại đậu mọc nhanh, nhưng cũng héo và khô nhanh chóng, như vậy người ta phải thu hoạch nhanh để những cây ấy khỏi bị cháy khi nhiệt độ quá cao. Nói chung, độ phì nhiêu của đất và tiềm năng nông nghiệp rõ ràng là tích cực.

Nhưng còn một vấn đề khác, sức khỏe, điều kiện thể chất của những người định cư. Về mặt này bản tổng kết không chỉ là tiêu cực mà còn tai hại.

Khi từ Cibao trở về, Colombo đã thấy nhiều người ốm tại La Isabela; ngày 28 tháng 9, sau khi thăm dò Cuba và Giamaica trong năm tháng, ông đã thấy Isabela trở thành một bệnh viện, và thêm nhiều ngôi mộ tại Nghĩa trang Công giáo đầu tiên ở những vùng Đất Mới. Tại sao? Đặc biệt, tại sao cuộc hành trình thứ hai có ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe con người, khác với cuộc hành trình thứ nhất ?

Giải thích đầu tiên nằm trong lịch. Việc lưu lại lần thứ nhất tại châu Mỹ diễn ra từ 12 tháng 10 năm 1492 đến 14 tháng Giêng 1493 theo lịch Julius, hoặc từ 22 tháng 10 đến 24 tháng Giêng theo lịch Gregory dùng ngày nay.

Ngược lại, thời kỳ đầu tiên của cuộc hành trình thứ hai - lưu lại vào thời điểm chúng tôi đã nói tới trong bản tường thuật của chúng tôi - diễn ra từ 4 tháng 11 năm 1493 đến 29 tháng 9 năm 1494 (14 tháng 11 - 1493 và 9 tháng 10-1494). Mặc dù vùng Ca-ri-bê không có thay đổi thực sự về mùa, từ tháng 6 đến tháng 8 sức nóng rất ấm, ngột ngạt và căng thẳng. Thời gian ở lại châu Mỹ trong chuyến đi thứ nhất đã được hoàn thành ngoài những tháng đó, trong một mùa tốt nhất đối với những người quen với khí hậu Địa Trung Hải.

Một giải thích thứ hai về hậu quả khác nhau của hai chuyến đi, đó là trong chuyến đi thứ nhất có ít người tham gia (dưới một trăm người). Tất cả những người này là những thủy thủ (hầu hết đã quen sống trong những miền khí hậu khác nhau), Và họ đều sống toàn bộ thời gian trên tàu, trừ số người lưu lại La Navidad và một số được cử đi khảo sát sâu trên đảo Cuba để tìm đất nước "Đại Khan". Thủy thủ các tàu Santa Maria, Pinta và Nina không bao giờ ngủ trên bờ. Thức ăn trên tàu toàn những thứ họ đã quen ăn, khẩu phần tiêu chuẩn của thủy thủ Địa Trung Hải: bánh quy khô, hay bánh quy biển, dầu ô liu, dấm, rượu, tỏi và thịt muối. Họ không kiêng cá, hải sản, chim và những vật săn bắn được ở địa phương, nhưng đó là thức ăn bổ sung. Những món cơ bản trong khẩu phần của thủy thủ luôn luôn sẵn sàng trong chuyến đi thứ nhất. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ là họ đã thiếu bánh quy khô, dầu hoặc rượu.

Trong chuyến đi thứ hai, tình hình hoàn toàn khác. Không thể nào chuẩn bị đủ bánh quy khô, dầu và rượu cho một nghìn hai trăm con người trong mười một tháng, thậm chí lâu hơn nữa. Bánh quy khô, thịt muối mang theo từ Tây Ban Nha, hoặc Gomera còn lại đã bị thối rữa do ẩm và nóng, rượu thì hóa chua. Những người định cư ở La Isabela lại phải làm quen với việc ăn bánh sắn. Chúng ta biết làm bánh sắn như thế nào, phải thái mỏng, rồi xay thành bột, nhưng giờ cũng phải dùng bột nhiều thứ củ: khoai từ, khoai lang, hay yuca, không có nhiều protéine như bột mì. Ngoài biển có nhiều cá, trai sò và các loài có vỏ khác, nhưng nhiều vị quý tộc và cả nông dân không quen xài hải sản, lại không biết thêm loại gia vị nào vào các món ăn này. Ngoài việc thiếu ngũ cốc và rượu, chất béo cũng khan hiếm. Còn rau và quả thì có đủ loại mọc trên ven sông Bajabonico và sông Yaque del Norte, nhưng người Tây Ban Nha lại chưa quen ăn. Dạ dày con người thường quen theo thói cũ, thay đổi món ăn khác thì sẽ sinh phản ứng. Vì vậy nhiều người bị đói và gầy sọm đi. Năm quả trứng gà phải hạn chế để dành cho người ốm, năm cân đậu hạt chỉ đủ cho 18 người ốm.

Tuy nhiên đất đai vẫn sản xuất ra ngũ cốc loại tốt nếu thu hoạch kịp thời. Viên Đô đốc ra lệnh cho mọi người phải lao động, kể cả quý tộc. Thế là họ cằn nhằn, bực dọc. Ông còn ra lệnh cho họ xây dựng những nhà máy chạy bằng sức nước để trị thủy sông Bajabonico. Nhưng họ không muốn làm; những nhà quý tộc thấy bị xúc phạm vì buộc phải lao động chân tay. Ngay cả những nông dân dẻo dai của miền Andalusia cũng cảm thấy yếu đi vì khí hậu. Họ không những không muốn làm việc mà còn là không thể làm việc được nữa.

Nhiều năm, nhiều thập kỷ trôi qua, người da trắng thích ứng với khí hậu nóng ẩm, tìm đủ các thứ thuốc chữa bệnh, kết hợp một cách có hiệu quả trái cây, cá và những sản phẩm khác của Thế Giới Mới với những thành phần cơ bản của khẩu phần châu Âu. Họ học cách tránh bệnh nhiệt đới bằng vệ sinh, thuốc và phát triển một phong cách sống khá dễ chịu, thậm chí thích thú trong môi trường về cơ bản là lành mạnh ở Haïti và Cộng hòa Dominicana, Cuba, Giamaica, Puerto Rico và quần đảo Tiểu Antille.

Nói tóm lại, họ giải quyết được tất cả những vấn đề môi trường của người châu Âu, trừ sự thích ứng với công việc. Công việc ở ngoài đồng, trong các đồn điền, trong xây dựng, những người định cư đất mới không thể thích nghi với lao động chân tay trong một khí hậu nóng và ẩm như thế. Chẳng bao lâu người ta đã cảm thấy hậu quả tai hại của hoàn cảnh này. Ở dây tôi sẽ xin nói là, mặc dầu viên Đô đốc đã ra lệnh rõ ràng, những người ở La Isabela không muốn, hoặc không thể làm việc, vì vậy họ đã không giải quyết được vấn đề bảo đảm thực phẩm. Đã đến lúc khẩu phần hàng ngày "gồm có một đĩa hạt ngũ cốc nghiền bằng máy quay tay (nhiều người đã luộc hạt để ăn), một miếng thịt lợn muối đã ôi, hoặc một miếng phó mát mốc với một ít đậu". Las Casas nói với chúng ta như vậy, và ông thêm rằng: "Còn về rượu, cứ như là không còn giọt nào trên thế giới". Để sống còn, người Tây Ban Nha đã ăn thịt một loài chó không sủa, và một loại thỏ nhỏ hơn thỏ châu Âu. Họ đã quen ăn những con kỳ đà và những loài bò sát khác. Với những động vật này và cá họ được thỏa mãn nhu cầu về thịt, nhưng không có gì để thay thế dầu và rượu. Sắn và Yuca chỉ là một thức ăn tạm thay thế cho bánh mì. Sự gầy yếu và nạn đói của những người định cư kéo theo những bệnh nhiệt đới phổ biến trong khí hậu ấy.

Những người định cư bị thiếu ăn yếu đi, đã dễ dàng trở thành nạn nhân của nhiều bệnh. Trong thời gian này - từ tháng Giêng đến tháng 9-1494 - "mụn mủ" đã xuất hiện. Đó có phải là bệnh giang mai hay không? Theo Lás Casas và Oviedo thì đó là bệnh giang mai, cũng theo Oviedo, bệnh đó đã được đưa sang châu Âu bởi những người trở về Tây Ban Nha với thuyền trưởng Antonio de Torres vào tháng 2-1494. Bác sĩ Tây Ban Nha Ruy Diaz de Isla đã viết một cuốn sách về chủ đề này năm 1539, bệnh giang mai đã đến châu Âu sau chuyến đi thứ nhất, những người Anh-diêng truyền bệnh cho gái mãi dâm à Barcellona năm 1493. Theo những học giả khác, có một hình thức giang mai truyền nhiễm ở cả châu Âu và châu Mỹ trước  cuộc phát kiến lớn. Tuy nhiên, có vẻ chắc chắn "mụn mủ" là bệnh giang mai. Dù do nguyên nhân gì đi nữa bệnh đã lây lan theo sự tiếp xúc giới tính ở châu Âu, chắc chắn bệnh "mụn mủ" lan tràn tại La Isabela vì những người Tây Ban Nha thường xuyên cưởng hiếp phụ nữ Anh-diêng.

Điều này đưa chúng ta đến chủ đề phong tục giới tính của người Anh-điêng trước khi người châu Âu đến và ảnh hưởng của những thủy thủ và người định cư Tây Ban Nha đối với thái độ giới tính của người Taino. Ở mọi nơi, những người Taino trên quần đảo Bahamas, Cuba và ở Hispaniola có một thói quen hoàn toàn tự do. Họ quan hệ tình dục hậu môn, và phụ nữ thì quan hệ tình dục với nhiều người. Sự trụy lạc của Anacaona, vợ của Caonabó, sau khi bà ta góa chồng đã trở nên mạnh mẽ và không kiềm chế được, đến nổi có thể so sánh bà ta với Semiramide. Tuy vậy cũng có giới hạn: không ai quan hệ tình dục với mẹ, con gái, hoặc chị em gái. Tất cả mọi người đều ghê tởm sự loạn luân. Có những phụ nữ kín đáo, nhưng ngay cả những người không công khai mong muốn về tình dục cũng dễ dàng quy phục những người Công giáo, không bao giờ từ chối.

Sự quan hệ tình dục đầu tiên được biết do Michele da Cuneo tường thuật. Sự kiện này xảy ra giữa tháng 11-1493 tại Vịnh St Croix, quần đảo Tiểu Antilles.

‘‘Trên thuyền tôi đã mang theo một phụ nữ Cannibale đẹp nhất mà viên Đô đốc đã cho tôi. Khi tôi có người ấy trong phòng, người ấy trần truồng như phong tục của họ, tôi cảm thấy muốn có thú vui với người ấy và muốn thực hiện ý định. Người phụ nữ ấy không muốn quan hệ tình dục với tôi và cào cấu tôi làm tôi nghĩ đáng lẻ tôi không bao giờ nên bắt đầu như thế. Để nói cho bạn biết việc đó kết thúc như thế nào tôi lấy một đoạn dây thừng quật mạnh và người đàn bà ấy thét lên những tiếng kêu sợ hãi mà bạn không thể tin được. Cuối cùng chúng tôi đi đến thỏa thuận, theo một cách mà tôi có thể bảo đảm với bạn là người phụ nữ đó hình như đã qua một trường huấn luyện gái mãi dâm.’’

Sự kết thúc có hương vị như trong truyện của Boccacio (1). Những truyện xảy ra ở La Navidad càng có tính chất Boccaccio hơn nữa. Như đã nói ở trên sự ghen tuông của những người đàn ông vì phụ nữ là một trong những nguyên nhân của tấm thảm kịch. Trong khi chắc chắn một số người Tây Ban Nha đã cãi cọ và đánh nhau, thậm chí giết nhau về phụ nữ, rõ ràng những người Anh-diêng đã trả đũa người Tây Ban Nha về sự ngạo mạn, vì những cuộc lùng sục và cướp bóc hơn là vì những vấn đề phụ nữ. Phụ nữ Anh-diêng rõ ràng thừa thải đến nỗi nam giới không bị công phẫn. Bị nhầm lẫn vì sự tụ do đó, những người định cư đương nhiên coi như không có giới hạn nào nữa, thậm chí không tôn trọng cả vợ và con gái những tù trưởng.

Đúng như họ đã lạm dụng phụ nữ, những người định cư lạm dụng sự mến khách ngây thơ của người Anh-diêng. Người Anh-diêng đã cho người Tây Ban Nha bất cứ những gì họ có.

Diego Colombo, người mà Colombo để lại để chỉ huy La Isabela và toàn bộ hòn đảo, đã không duy trì được sự kiểm soát. Người đương thời nói ông ta phù hợp với cuộc sống ở nhà tu hơn là hoạt động chính trị. Dù nguyên nhân là gì đi nữa, khi Colombo trở lại, ông thấy một tình hình đáng sợ: nạn đói, bệnh tật, sự thái quá về giới tính và không có hy vọng gì về bất cứ loại quan hệ có ý nghĩa nào với người Anh-diêng.

Một câu hỏi tự nhiên phải nêu ra là, làm sao sự việc có thể thay đổi một cách cơ bản như thế từ cuộc gặp thứ nhất tại Bahamas đến mối quan hệ của cuộc đi thứ hai? Hình như những đảo ở biển Ca-ri-bê lúc đó cũng như bây giờ là một thiên đường trên mặt đất. Tất cả đều đẹp. Nhưng ngay cả những điều tốt cũng lâu dần quen di. Ngủ đu đưa trong một chiếc võng là hay, tuy nhiên có bao nhiêu người châu Âu công nhận hoặc các nhà chuyên nghiệp sẵn sàng đổi giường lấy võng? Mùi vị dứa, đu đủ, quả mơ là tốt, nhưng nếu bạn đem những thứ đó cho binh lính Ý, hoặc Tây Ban Nha, đã quen với táo, lê, và cam, quả lạ sẽ bị vứt đi như một thứ bẩn thỉu. Bơi trong biển ngoài khơi La Isabela là tuyệt diệu, tôi đã hưởng thú vị đó nhiều lần, nhưng những nhà quý tộc, những nông dân thời đó tuyệt đối không ham thích bơi dưới biển. Đây là ba ví dụ chỉ rõ thiên đường trên mặt đất biến thành nơi chuộc tội đối với người Tây Ban Nha như thế nào?

Cũng nhớ lại nơi chuộc tội - nếu bản thân nó không phải là địa ngục - một cơn bão đã ập đến . La Isabela vào một ngày tháng không nhớ rõ, có lẽ vào mùa thu năm 1495, Pietro Martire viết: "Một trận gió dữ dội đã xuất phát từ phía Đông bắc, người ta chưa bao giờ thấy một trận bão như thế ở châu Âu .

Không ai có thể hồi tưởng lại một sự việc nào giống như thế, vì người ta chưa biết một sự việc nào giống như thế ở châu Âu. Chữ huracán là tiếng Maya và có nghĩa "người có một bàn chân", để chỉ vị thần bão. Người Tây Ban Nha đã chấp nhận tên gọi đó cho một loại bão lớn, gây tác hại nhiều hơn một trận động đất. Mùa thu năm 1495 một cơn lốc đã làm bật gốc những cây không lồ tại thung lũng Bajabonico, làm đứt những thừng néo tàu biển, và làm đắm hai ba chiếc tàu thả neo trong vịnh La Isabela. Pietro Martyre bình luận: "Một sự kiện kỳ lạ khủng khiếp". Đó không chỉ là một sự kiện kỳ lạ mà là một sự mới lạ nữa trong số nhiều cái mới lạ của cuộc phát kiến vĩ đại, một sự kiện làm cho cuộc gặp gỡ của những người Châu Âu với Thế Giới Mới càng thêm khó khăn hơn.

Chú thích :

(1)     Giovanni Boccacio (1313 - 1375), tác giả tập truyện Decameroni, có ý vị truyện tiếu lâm, đã được dịch sang tiếng Việt, với tựa sách Mười ngày, năm 1985, tái bản năm 1994.

« Lùi
Tiến »