Từ Lagos, Colombo đã đến Lisbon một thời gian ngắn, và sau này ông lại trở về đấy. Giờ đây ông phải tiếp tục các cuộc hành trình. Tại Genova cuộc thám hiểm lần thứ hai tới nước Anh đã được chuẩn bị. Trong chuyến đi này, hoặc có thể vào một chuyến đi trước, trên, một số chiếc tàu tới Cadice và Lisbon, người thủy thủ trẻ tuổi đã đến Luân Đôn, từ đó ông đi Bristol.
Thành phố Bristol cổ kính nằm dưới chân một ngọn đồi. Cảng Bristol không hơn gì một con lạch, do dòng sông Avon tạo thành. Avon là một dòng sông trung bình chảy xuống khe núi dưới chân thành phố, rồi đổ ra cửa sông lớn của Severn, nơi thực sự là cái vịnh nước mặn nhiều hơn nước ngọt. Tại Lisbon, Colombo cũng thấy những điều tương tự, tuy ở qui mô rất khác biệt. Điều mà Colombo không thấy được ở Lisbon và cũng là lần đầu tiên ông ta mục kích, là những đợt thủy triều cực lớn. Vào tuần trăng tròn tháng giêng - có lẽ vào thời gian Colombo đang ở Anh - thủy triều ở cảng Bristol là ba mươi sáu thước (Anh), trong khi tại Avonmouth, nơi dòng sông Avon đổ ra vịnh Severn, thủy triều lên cao bốn mươi bảy thước (thước Anh). Đó là một trong những mức thủy triều cao nhất thế giới và là mức cao nhất thời Colombo, khi thủy triều cao tới sáu mươi hai thước Anh tại Vova Scozia chưa được người ta biết đến.
Hiện tượng này đã gây ra những hậu quả nặng nề cho sự an toàn của cảng Bristol, vì tàu bè không cập bẹn cảng được khi thủy triều xuống, khi sông Avon không đủ nước cho tàu đi. Những đợt thủy triều này, vốn là một điều mới lạ đối với các thủy thủ vùng Địa Trung Hải, cố nhiên đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với Colombo vì ông luôn nhạy cảm với những hiện tượng tự nhiên.
Colombo còn bị ấn tượng về những bến tàu sôi động nằm dọc con lạch. Những bến tàu đầy ắp hàng hóa, như muối, lúa mì, rượu, nhung... cập bến; hoặc len và những thùng cá khô xuất đi.
Colombo đã từng biết đến len Anh. Ông đã thấy len Anh nhập cảng đến Genova, và ông đã đi Luân Đôn để tìm mua một khối lượng lớn mặt hàng này. Mặt khác, việc xuất khẩu cá lại là công việc còn mới mẻ đối với ông. Colombo đã nghe nói đến cá trích; giờ đây ông đã trông thấy chúng rất nhiều, có đến hàng tấn. Ở Địa Trung Hải, người ta không biết đến cá trích, vì không thể nào tìm được loại cá này ở đây. Colombo, vốn chỉ quen với cá xác đin ( sardine=một loại cá mòi) và cá trổng ( anchois=loại cá cơm), đã thần người ra khi lần đầu tiên trông thấy cá trích cùng các loại cá khác. Giờ đây ông đã nhận thấy thị trường cá ở Genova là quá nhỏ bé so với những đống cá khổng lồ này và hết sức kinh ngạc, không hiểu được chúng từ đâu đến.
Cũng vậy, Colombo đã trông thấy cá thu khô ướp muối nhập khẩu tại Genova và Lisbon, nhưng ở đây thì nhiều vô kể. Còn có cả loại cá hồi mà ông chưa hề thấy ở Luguria, hoặc Corsica. Cá hồi từ đâu đến? Từ những con sông Scotland, nghĩa là từ phương Bắc. Còn cá thu? Chúng đến từ Biển Đen ở miền Bắc xa xôi. Và cá trổng? Từ cả hai nơi, từ vùng biển khơi Ireland và Scotland, cũng như từ biển Ultima Thule (miền cực Bắc của thế giới).
Đặc biệt nhạy cảm với thiên nhiên, Colombo thích thú những vùng xa xôi ấy về nhiều mặt: đất đai, tuy sản xuất thu hoạch còn ít vì thiếu ánh nắng mặt trời; khí hậu ẩm ướt và bầu trời u ám; các cửa sông mở ra những bến cảng tuyệt vời; cá vô cùng phong phú và khác với các loại cá vùng Địa Trung Hải. Colombo quan sát mọi thứ, tìm hiểu mọi mặt của thiên nhiên bằng ý thức địa lý bẩm sinh của ông. Mặc dù không được đào tạo một cách chính quy, Colombo vẫn là một nhà địa lý. Địa lý học lôi cuốn ông, những bí ẩn của nó hấp dẫn ông. Ở đây, tại Bristol, ông được biết đến sự bí ẩn của Ultima Thule, bí ẩn đơn thuần, vì không có gì ngoài Ultima Thule cả. Và vì nó bí ẩn, Colombo càng muốn đến đấy.
Colombo đã đi thuyền đến Galway, trên bờ biển phía Tây Ailen (Ireland) và từ đó ông đi thuyền buồm đến Băng Đảo, (Iceland). Vào thời Colombo, Băng Đảo, về mặt pháp lý thuộc về vua Đan Mạch, nhưng trên thực tế, người Anh giữ độc quyền buôn bán với hòn đảo này. Có thể, Colombo đã không biết Băng Đảo thuộc về Đan Mạch và có lẽ ông ta nghĩ rằng đó là hòn đảo của Anh, giống như Madera thuộc Bồ Đào Nha, Canarie thuộc Tây Ban Nha và Chio thuộc Genova, vì lẽ những hòn đảo thường thuộc về những ai nắm độc quyền thương mại với chúng.
Dẫu sao, những người Băng Đảo cũng không phải là ngưòí Anh, mà là người Scandinave cổ đại. Trong quá trình tìm kiếm những người ngoại đạo để truyền giáo, các giáo sĩ Ailen có thể đã đến Băng Đảo truớc những người Scandinave cổ, nhưng chính những người này đã phát hiện, hoặc tái phát hiện đảo này vào năm 874 và đã thông tin về hòn đảo này cho thế giới Công giáo. Những người Scandinave cổ đại đã định cư tại Băng Đảo, kết hôn với những người Celte, từ Ailen đến, sau đó thành từng đợt liên tiếp. Hòn đảo tỏ ra không mến khách đối với những người từ phương Nam đến, nhưng lại có thái độ khác đối với những người từ những vùng đất băng giá, đầy sương mù và núi đá của Na-uy. Ở đây, không có rừng, trừ một số ít cây phong thu thấp nhỏ và nhanh chóng bị đốn hạ, nhưng khắp đảo đều có nước trong lành, cả những mạch cung cấp nước sôi tự nhiên. Một vùng mênh mông rộng bằng cả nước Anh như Colombo đã viết sau này, nơi đây, mặc dù có những núi đá băng, dung nham, tro tàn và đầm lầy, vẫn có những cánh đồng đầy có về mùa hè, rất thuận lợi cho việc nuôi cừu. Và ngoài khơi thì cá nhiều vô kể.
Việc những người Scandinave cổ đại đến Băng đảo như thế nào là một trong những trang sử hấp dẫn, gần như khó tin, vì đã đạt đến giới hạn tột cùng về sự chịu đựng của con người. Nếu những người Fenici (Phê-nksi) là những thủy thủ vĩ đại nhất trong thế giới cổ đại thì những người Scandinave cổ đại là những người đi biển vô địch, duy nhất dưới thời Trung cổ. Họ thô lỗ và tàn bạo. Đi đến đâu, họ cướp bóc tàn phá và giết chóc đến đó. Sự khủng bố gắn liền với hoạt động của họ trên đất liền, nhưng biển cả không bị khống chế bởi sự tàn ác của họ. Tuy nhiên, những người Scandinave cổ đại này đã dũng cảm chống lại nỗi sợ hãi chung dưới thời Trung cổ, đối với biển Đen tối, hay biển Độc, như họ thường gọi bằng ngôn ngữ thô sơ của mình…
Hoạt động trên biển của họ có cái gì đó, thật kỳ diệu. Tàu của họ, nhẹ và nhanh, luôn gây sợ hãi khi phải đương đầu với những cơn bão tố dữ dội miền Bắc Đại Tây Dương, một đại dương chưa ai biết tới và lúc đó vẫn chưa được khám phá. Và họ đã làm như vậy mà không có dụng cụ đi biển nào. Floki, một trong những người phát hiện ra Băng Đảo, đã rời Na uy với ba con quạ. Con đầu tiên ông ta để sổ và nó lập tức bay về Na uy. Con thứ hai lượn mấy vòng trên bầu trời rồi lại hạ cánh xuống boong tàu. Mấy ngày sau, con thứ ba được thả và bay thẳng về phía trước, tới đảo lớn. Như vậy Floki đã đặt chân lên đảo và đặc biệt hiệu cho đảo là Quạ.
Những người Scandinave cổ đại là người đầu tiên - trước Colombo - giong buồm ra biển khơi. Một số người còn cho rằng; những người Ailen đã làm như vậy trước cả người Scandinave cổ đại. Chắc chắn những thủy thủ Ailen tài giỏi hơn người Anh vào thế kỷ đầu sau Công Nguyên, nhưng lòng dũng cảm và sự gân dạ của họ chỉ còn là một ký ức. Những việc làm của họ, phục vụ cho các tu sĩ muốn truyền bá Kinh Thánh trong dân chúng trên những hòn đảo Đại Tây Dương, vẫn còn là truyền thuyết, vì thiếu sử liệu lịch sử.
Những cuộc thám hiểm của những người Scandinave cổ đại không phải là những hoạt động đơn lẻ cô độc của một số ít thủy thủ dũng cảm; những cuộc thám hiểm đó đã gồm nhiều tàu và người tham gia; từng loạt của đội tàu đã được huy động vào những cuộc hành trình, mà người ta không biết mục tiêu cuối cùng. Không phải chỉ có một hay hai Ulysses, mà là cả một dân tộc Ulysses. Những người Scandinave cổ đại là một trong những dân tộc vĩ đại nhất và đáng chú ý nhất trong lịch sử nhân loại. Họ cải đạo Cơ đốc giáo, nhưng một số nghi lễ ma thuật và tà giáo vẫn tồn tại trong nhiều thế kỷ giống như sự tàn bạo của họ vậỵ; những tập tục nghiêm ngặt của họ không hề thay đổi, lòng dũng cảm ngoài biển khơi mang tính anh hùng ca của họ cũng không hề suy giảm.
Việc những người Scandinave cổ đại thay đổi đức tin đã đưa họ tới thế giới Cơ đốc, và trở thành những người đi tiên phong trong việc truyền bá đạo Cơ đốc ở vùng xung quanh Bắc cực. Vào khoảng năm 1000 sau Công nguyên. Nghị viện Băng Đào - nghị viện đầu tiên của châu Âu, họp ngoài trời, giữa những tảng đá ở hẻm núi Thingvellir - đã thông qua nghị quyết công nhận Cơ đốc giáo là quốc giáo. Trong vòng một năm, đã có hai giáo khu được thành lập trên đảo. Trong khi đó, những người Scandinave cổ đại tiếp tục những cuộc hành trình trên biển. Mùa xuân 982, Eric Đỏ, bị trục xuất vì tội giết một người đầy tớ, đã từ Băng Đảo vượt biển sang Mỹ. Như vậy biển này được gọi là eo biển Đan Mạch, nhưng đó là một đại dương thực sự, hết sức nguy hiểm vì sương mù, bão tố và những tảng băng khổng lồ.
Bjarni và những người Scandinave cổ đại khác đã theo gót Eric Đỏ. Họ vốn quá quen với núi đá, với băng và những vùng hoang vu đầy nham thạch nên đã gọi vùng đất mới là Greenland (Đất xanh) vì thấy những sườn đồi đều có rêu bao phủ. Họ định cư trên bờ biển Tây - Nam, nơi khí hậu ôn hòa nhờ có dòng Gulf Stream chạy qua, và nằm đối diện với Hoa Kỳ. Những người Scandinave cổ đại đã mang tin tức về vùng đất mới cho thế giới Cơ đốc. Dấu vết của việc này đã được tìm thấy trong các bản đồ đầu thời Trung cổ của Genova, Venezia, Đức, Á-rập và Catalan. Vào khoảng năm 1120, một giáo khu đã được thành lập tại Greenland.
Những người Scandinave cổ đại không dừng tại đó. Khoảng năm 1000 sau Công nguyên, họ tới một vùng đất không cây cỏ, nhiều đá và lạnh giá đến mức ‘‘ma chê quỷ khóc’’, mà họ đật tên là Helluland. Đây là đảo Terranova (New foundland) hay còn gọi là Labrador. Đi xa hơn nữa về phía nam, họ đến một vùng đất bằng phẳng, có rừng bao phủ, phần ven biển không có núi đá, hay vách đá và mấp mô những cồn cát trắng. Họ gọi vùng đất này là Markland (Đất của những khu rừng). Đó hầu như chắc chắn là vùng Nova Scozia, nằm ở phía Đông - Nam Canada. Ngoài Markland, truyền thuyết Băng Đảo còn nói về vùng đất Vinland (Đất của những cây nho).
Công cuộc nghiên cứu khoa học tiến hành cách đây một thế kỷ rưỡi từ Rafn tới công trình nghiên cứu gần đây nhất của Helge Ingstad – được hổ trợ bằng sự phân tích hóa học các vật chứng lịch sử - đã cho thấy sự phù họp đáng ngạc nhiên giữa các số liệu địa lý trong những truyền thuyết Bắc Âu với kết quả của những cuộc khai quật khảo cổ học. Vì vậy Vinland dường như không phải là một vùng đất tưởng tượng mà là một bộ phận nào đó của vùng ven biển Bắc Mỹ.
Cố nhiên những người Scandinave cổ đại đã biết những vùng đất khác ngoài Greenland. Sắc lệnh của Giáo hoàng bổ nhiệm Eric Gnupson làm.
Giám mục địa phận đầu tiên của Greenland đã phong ông ta là giám mục địa phận ‘‘Greenland và những vùng lân cận’’. Điều này chứng tỏ rằng những người Scandinave cổ đại đã biết đến những vùng đất như thế trên lục địa châu Mỹ, đồng thời nó cũng là một bằng chứng cho thấy rằng Vinland - chỉ một thế kỷ sau khi Leif Ericsson đặt chân lên đấy - chỉ còn là một ký ức, không còn ai biết rõ về vùng này hoặc về những đất phì nhiêu, mến khách kia nữa. Các dân tộc Cựu thế giới đều không biết gì về miền đất nói trên.
Người Scandinave cổ đại đã biết đến châu Mỹ, nhưng họ không phát kiến ra châu lục đó. Trong địa lý học, thuật ngữ phát kiến không đơn thuần chỉ việc người đầu tiên đặt chân lên một nơi nào đó, nó còn có nghĩa là đi đến đó rồi quay trở về, và nói lại việc của mình cho bất cứ ai muốn, có thể lập lại việc làm của người phát hiện. Nhưng kinh nghiệm đáng kể của người Scandinave cổ đại ở châu Mỹ đã không đưa lại kết quả. Những vùng đất Vinland, Markland, và Helluland, tức là đại lục châu Mỹ đều khác với Greenland, họa hoằn mới có người lai vãng và chưa bao giờ bị thực dân hóa.
Không rõ rệt như ở Greenland, những dấu vết mà người ta cho là của người Scandinave cổ đại ở Bắc Mỹ đều không được chứng minh một cách rõ rệt. Di vật khảo cổ gây nhiều tranh luận nhất, rõ ràng một trò đùa, là hòn đá Kensington, có khắc chữ run của người Scandinave cổ đại được phát hiện trong gia sản của một nông gia Thụy Điển ở Kesington Minnesota, vào năm 1898. Dòng chữ đó như sau: ‘‘8 người Gotland và 22 người Na Uy bắt đầu cuộc hành trình từ Vinland sang phía tây. Chúng tôi cắm trại gần hai đảo nhỏ, sau một ngày đi bộ từ hòn đá này về phía bắc, chúng tôi nghỉ lại và đi câu cá một ngày. Khi quay về, chúng tôi phát hiện mười xác chết, người đẫm máu. Lạy Đức Mẹ Đồng Trinh: Hãy giải thoát chúng con khỏi tai họa’’. Bên cạnh có chú thích sau đây: "Chúng tôi để lại mười người ngoài biển để trông nom những chiếc tàu của chúng tôi, một cuộc hành trình nửa tháng xuất phát từ đảo này, năm 1362".
Giới phê bình hiện đại nổi tiếng nhất đều phủ nhận tính xác thực của đá Kensington. Nhà nghiên cứu người Đức về tự mẫu Sacandinave cổ đại (chữ run) W.Krauss coi đó là chuyện bịa của người đương thời. Erich Moltke, một chuyên gia về chữ run nổi tiếng khác, người Đan Mạch, đã tuyên bố rằng bản khắc đó là không thật. Moltke cũng như các nhà nghiên cứu nổi tiếng khác về chữ run sau ông ta đều cho rằng không thể có chữ run trên bản Kensington vào nửa sau thế kỷ XIV vì những tự mẫu cổ đại này không còn được sử dụng ở
Scandinave từ trước năm 1300. Theo ông, bản khắc có lẽ đã phóng theo một cuốn niên lịch cổ nào đó của Thụy Điển viết bằng chữ run, vẫn tồn tại vào thế kỷ thứ XVIII. Kho lưu trữ của Hội Khoa học lịch sử Minnesota có một tư liệu có vẻ như là bản phác thảo của dòng chữ sau này được khắc trên đá. Samuel Eliot Morison nói: ‘‘Người có lương tri bình thường, phải coi đó là một sự bịa đặt. Những người Scandinave cổ đại là những nhà phát kiến biển cả, chứ không phải là những nhà thăm dò trên đất liền... Các chuyên gia hàng đầu về chữ run đã bỏ công tìm hiểu bản khắc này đều cho rằng đó là một sự bịa đặt vụng về’’.
Một di tích khác cũng gây nên tranh luận là ngọn tháp Newport, trên đảo Rhode, một cấu trúc bằng đá đồ sộ hình ống. Về một số phương diện, hình thể và những chi tiết kiến trúc của tháp này giống như các kiểu kiến trúc điển hình của Scandinave thời Trung cổ. Năm 1948-1949 tiến sĩ W.S.Godfrey đã khai quật đáy tháp và đã có cơ sở để chứng minh rằng Benedict Arnold, thống đốc đảo Rhode, đã xây tháp vào khoảng 1675, có thể là một pháo đài nhằm chống lại cuộc tấn công của người Anh-điêng (Indien= người da đỏ). Các cuộc khai quật đã phát hiện những đồng tiền, đá xây, những mảnh thùng thuốc lá... tất cả những thứ đó, không nghi ngờ gì nữa, đều có thể là vết tích thời thuộc địa. Tháp Newport chắc chắn được xây dựng khá lâu sau những phát kiến của Colombo và Caboto.
Bản đồ Vinland, còn gọi là bản đồ Yale, đáng được thảo luận riêng, vừa do việc phát hiện bản đồ đó đã gây nên những cuộc tranh cãi, vừa do dư luận gần đây đã cho rằng bản đồ đó là giả. Phần phía tây – tức Bắc Đại Tây Dương - của bản đồ thế giới này do trường đại học Yale xuất bản năm 1965, có những chi tiết địa lý không thấy trong các bản đồ xuất hiện từ giữa thế kỷ thứ XVI trở về trước, trong khi đó phần phía đông thì hoàn toàn lẫn lộn và tùy tiện. Đặc biệt Greenland đã xuất hiện với những đường nét bờ biển hoàn chỉnh.
Cuốn sách Bản đồ Vinland và quan hệ Tartar do trường đại học Yale xuất bản, khẳng định rằng bản đồ này là xác thực, có từ năm 1440, hoặc khoảng nửa thế kỷ trước cuộc phát kiến của Colombo và có thể, nó dựa trên cơ sở một bản đồ có từ thế kỷ thứ XII. Một số nhà sử học bảo vệ tính chân thật của tài liệu này và cho rằng thời gian xác định cho tài liệu đó là có thể tin được. Những người khác lập tức bác bỏ lập luận đó. Trong số này có Giuseppe C.Caraci, người có công lớn là đã lập tức tuyên bố tài liệu ấy là ‘‘sự lừa đảo của thế kỷ’’.
Tháng Giêng năm 1974, sau hai năm thận trọng và tỉ mỉ phân tích trong phòng thí nghiệm theo sự ủy nhiệm của trường đại học Yale, Walter ủy nhiệm của trường đại học Yale, Walter MacCrone, viện sĩ thông tấn Chicago, đã khẳng định bản đồ này là giả và có lẽ đã được làm ra trong thế kỷ này. Việc công bố các chi tiết công trình của họ cho thấy thành phần kết tinh của mực dùng trên bản đồ chứa bột màu có hợp chất peroxide titanium, chỉ mới được sử dụng từ năm 1920.
Năm 1903, J. Fisher đã tóm lược những việc làm của người Scandinave cổ đại ở Bắc Mỹ trong thế kỷ thứ XI. Theo Fisher, người Scandinave cổ đại đã chiếm giữ những thuộc địa thịnh vượng trên đảo Greenland trong nhiều thế kỷ. Điều đó, đã được xác định qua các bằng chứng lịch sử, địa lý và bản đồ dựa trên những chỉ dụ của Giáo hoàng và những báo cáo cửa các đại sứ của Giáo hoàng ở nước ngoài. Ngoài ra, còn nhiều tàn tích của các nhà thờ, các ngôi nhà, các cơ sở xây dựng cùng một số di vật của người Scandinave cổ đại để lại.
Mặt khác, Vinland, Markland và Helluland - tức lục địa Bắc Mỹ - đều có người lui tới nhưng không bị thực dân hóa như một số người quan niệm. Mọi luận điểm cho rằng Vinland đã trở thành thuộc địa đều không có cơ sở; điều quan trọng hơn là công cuộc nghiên cứu đã không hề cho thấy một bằng chứng thuyết phục nào về việc định cư lâu dài của người Scandinave cổ đại. Công cuộc nghiên cứu sau đó, kể cả các công trình nghiên cứu gần đây nhất của Frederick J. Pohl và đặc biệt là của Helge Ingstad, đều không có gì mâu thuẫn với nhận định của Fisher.
Điều rõ ràng kỳ lạ là dân tộc này, một dân tộc đã góp phần chủ yếu vào sự hình thành ba nền văn minh vĩ đại của thế giới hiện đại là Anh, Nga và Ý và đã lập ra bốn nước đi tiên phong trong thế giới hiện đại về tổ chức xã hội, chính trị và kinh tế, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Điển và Băng đảo (Iceland), một khi đã tiếp xúc với Eldorado, tức Bắc Mỹ, lại không có ý đồ biến nơi này thành thuộc địa của mình.
Sở dĩ như vậy, lý do thứ nhất là vì, trong chuyến viếng thăm của họ vào thế kỷ thứ XI như truyền thuyết đã nói, những vùng đất họ trông thấy chắc chắn cách khá xa Eldorado. Họ đã thăm Labrador và Terranova (Te-ra-nô-va(1) (Helluland), những vùng bờ biển và đất liền của Băng đảo và cả Greenland họ đều không thèm muốn. Họ cũng đã đến Nova Scozia (Markland) phong phú hơn Băng đảo về rừng rú và do đó là một nguồn cung cấp gỗ xẻ, ngoài ra không còn gì khác. Một số đã thấy, hoặc đến Vinland, vì điều đó đã được nói trong truyền thuyết, nhưng không hề có trong biên niên.
Lý do thứ hai là những người Scandinave cổ đại ở Băng đảo không phải là một dân tộc có học. Thậm chí những thủ lĩnh của họ cũng mù chữ. Họ không có kiến thức thực tế về địa lý và họ cũng không quan tâm gì đến quy mô và hình thù trái đất. Nếu có chăng, họ lại cho rằng trái đất là phẳng.
Lý do thứ ba là người Scandinave cổ đại đã không tìm thấy ở Bắc Mỹ một nền văn minh tiến bộ hơn nền văn minh của mình; họ không thấy ở đó những vua chúa giàu có, mà họ có thể tàn sát và chiếm đoạt tài sản, hoặc của cải trong kho, hay đang dùng, có thể cưỡng đoạt.
Ở Bắc Mỹ họ thấy có nhiều rừng thật, nhưng đưa gỗ từ Na Uy - quê hương của họ, nơi mà họ vui sướng trở về gặp ông bà, chú bác và anh em - đến Băng đảo thì dễ dàng và thuận tiện hơn. Họ cũng thấy những đồng cỏ bao la, nhưng lại phải đương đầu với một dân tộc khát máu và kém văn minh hơn mình, một dân tộc không sợ sự xâm lược của họ như người châu Âu, một dân tộc không có gì để mất và lại còn có lợi khi quấy rối và tấn công họ.
Người Scandinave cổ đại đã gây nên nỗi lo sợ cho người Frank, người Saxon, người Byzantine, người Á rập, người Slave và người La Mã, nhưng không làm cho người bản xứ ở Bắc Mỹ sợ hãi. Ở đây tình hình là không đáng bỏ công chinh phục những người bản xứ nghèo nàn mà cuộc sống quá ư đơn giản; cũng không đáng cố gắng ở lại những vùng đất đầy rẫy những kẻ đối địch như thế. Vì tất cả những lý do này, người Scandinave cổ đại đã không biến Bắc Mỹ thành thuộc địa của họ, và như vậy, cuộc phát hiện đã thất bại.
Vào khoảng năm 1477, tàu bè không còn từ các con lạch ở Băng đảo đi đến những thuộc địa ở Greenland nữa. Chiếc tàu cuối cùng từ Băng đảo đi Greenland là vào năm 1408. Tuy nhiên, chắc chắn Colombo đã nghe những thủy thủ Anh và Băng đảo nói về Greenland, các hòn đảo rộng lớn, băng giá, nằm ở phía tây Băng đảo này. Cũng không loại trừ trường hợp là có ai đó đã nói cho Colombo biết về Vinland, miền đất ở tây nam Ultima Thule tắm mình trong Biển đen tối, ở bên kia Galway, từ những người cũng như ông, đã tin rằng trái đất không dẹt mà tròn. Và như vậy, ý tưởng đầu tiên về châu Á nằm ở bên kia đại đương bắt đầu chóm nở và thường xuyên ám ảnh tâm trí ông. Vậy là kinh nghiệm kỳ diệu của người Scandinave cổ đại đã tỏ ra có ích; một phần kinh nghiệm đó là có ảnh hưởng tới người thủy thủ thành Genova đã tới bờ biển Băng đảo trên một chiếc tàu Anh.
Cũng trên những bờ biển này, sáu thế kỷ trước đó, người Scandinave cổ đại đã cập bến, phát hiện ra Ultima Thule của thế giới Cơ đốc. Từ những bờ biển này, năm thế kỷ trưóc đây, người Scandinave cổ đại đã lên đường tìm Greenland và những vùng đất khác xa hơn về phía tây. Đây là mắt xích gắn liền những phát hiện cụ thể (Băng đảo và Greenland) và cuộc phát hiện thất bại (lục địa Bắc Mỹ) của người Scandinave cổ đại với cuộc phát hiện huy hoàng của Colombo.
Cuộc hành trình tới Băng đảo đã gợi lên trong tâm trí Colombo mảng đầu tiên của bức tranh mà sau đó thành ý đồ lớn của ông. Nhưng không chỉ có thế. Giữa Anh và Băng đảo là khoảng cách hàng trăm, hàng trăm dặm biển cả; đi sang đó trên một chiếc thuyền buồm thật khó khăn và nguy hiểm. Cuộc hành trình lên phía Bắc đã luyện bản lĩnh của Colombo, và cũng là cơ bản vì cuộc hành trình đó đã dẫn đến khái niệm về một công việc đã làm cho ông nổi tiếng.
Sau khi thăm Chio và sau cuộc đổ bộ may mắn tại Lagos, cuộc đi của Colombo đến Băng đảo chỉ là một chặng dừng chân thêm nữa dọc theo con đường dài trong sự tiến triển của cuộc phát kiến lớn của ông. Đó là một chặng dừng chân đầy những phóng đoán, lý thuyết, tưởng tượng và những ý nghĩ kỳ lạ, Nếu những vùng đất khác nằm ở phía Tây Băng đảo, tại sao người ta không thể tìm thấy những đảo khác ở phía Nam ? Chiếc tàu mà Colombo đi, đã đến Băng đảo thường xuyên, xa về phía Tây và Bắc lục địa châu Âu và từ đây người ta có thể đi thuyền xa hơn nữa về phía Tây. Về phía Bắc, đất đai không biến đi trong sương mù và không khí, như nhiều người cổ đại đã tin và nhiều người ở Địa Trung Hải vẫn còn tin. Về phía Tây không có vực thẳm mà vẫn còn đất đai nữa. Tại sao những cuộc hành trình tương tự lại không thể tiến hành xa hơn về phía Nam, trong một biển khơi ít bão tố và ít sương mù hơn? Những câu hỏi như thế, chắc chắn Colombo đã có trong chuyến đi của ông đến Băng đảo.
Hoàn toàn bình thường là những người tự cảm thấy sinh ra là để làm những sự việc lớn hay bận tâm về một ý nghĩ duy nhất trong nhiều thời gian của cuộc đời họ. Mọi hành động, mọi ý nghĩ trở thành một phương tiện để đạt đến mục tiêu ấy. Như vậy Colombo, được tôi luyện bởi biển khơi miền Bắc, không ở lại trên bờ lâu dài. Chẳng bao lâu ông lại đi ra biển tại vùng biển Băng đảo - như một ngư dân chăng? - nhưng ông đã hành động như một nhà thám hiểm. Vào lúc ông trở lại Bồ Đào Nha và định cư ở đó, ông đã bước thêm một bước khổng lồ vào con đường đi đến kế hoạch lớn của ông: ông đã có được lòng tin về Đại Tây Dương.
Chú thích:
(1) Bản tiếng Anh chuyển dịch là Newfoundland.