Nói rằng Colombo là ông chủ của Đại Tây Dương thì chưa đủ để giải thích ông đã triển khai kế hoạch ban đầu và huy hoàng như thế nào để đến phương Đông bằng cách đi về hướng Tây. Trong chương X cuốn Lịch sử, Don Ferdinando nói về những gợi ý đã khích lệ viên Đô đốc đi tìm Ấn Độ và miền Đông Nam Á. Don Ferdinando xem những miền đất ấy là lý do thứ ba của cuộc phát kiến. Lý do thứ nhất liên quan đến những ý nghĩ về quả đất tròn và các kích cỡ của trái đất, được chỉ dẫn bởi Tolomeo và Marino và được khẳng định bởi những khái niệm của Strabone, Ctesia, Onesicrito, Nearco, Plinio và Alfragano. Lý do thứ hai là ‘‘nhiều học giả đã nói rằng từ ven biển phía Tây của châu Phi và Tây Ban Nha, người ta có thể đi về hướng Tây để đến Ấn Độ’’: Aristote, Averroe, Seneca, Solino, Marco Polo, Giovanni da Mandevilla, Pietro d’Ailly, và Giulio Capitolino. Thêm vào đó là ý kiến và sự cổ vũ của những bức thư của nhà học giả Firenze Paolo Toscanelli.
Trong thực tế sự việc xảy ra có phần nào khác. Khi Colombo thấy bức thư cửa Toscanelli gửi cho Giáo sĩ Martins, thuộc nhà thờ lớn Lisbon, thì ông đã có khái niệm rõ ràng về kế hoạch lớn của ông. Trong việc nghĩ ra kế hoạch đó, ông chưa có kiến thức của Strabone, Seneca, Nearco, Plinio, Averroè, hoặc Solino. Có lẽ ông đã được biết đến những báo cáo của Marco Polo, nhưng ông ít biết đến những tên tuổi Aristote, Tolomeo, hoặc Marino. Colombo đã đọc những sách của họ tại Tây Ban Nha sau khi kế hoạch lớn của ông đã hình thành trong đầu. Vậy thì những điểm chủ chót mà Don Ferdinando nói không phải là ‘‘lý do thứ ba’’ của sự gợi ý, mà là lý do đầu tiên. Đây là những gợi ý theo thứ tự Don Ferdinando trình bày trong cuốn Lịch sử.
Martin Vicente một thủy thủ của vua Bồ Đảo Nha, nói với Colombo rằng: một lần khi ông ta cách Mũi San Vincenzo 450 dặm, ông ta thấy một mẩu gỗ chạm tinh tế nhưng không khảm sắt. Vì việc đó và vì gió đã thổi từ phương Tây trong nhiều ngày, Martin Vicente biết rằng gỗ đã từ những đảo nào đó ở phương Tây đến. 2. Pedro Correa chồng của một người chị của Felipa Moniz Perestrello và như vậy là anh em đồng hao của Colombo, nói với Colombo rằng trên đảo Porto Santo ông ta đã trông thấy một mẩu gổ khác được chạm khắc tinh tế do gió Tây thổi vào; gió cũng mang đến những cây sậy to đến nổi một mẩu đơn độc có thể chứa mười bình rượu.
3. Bản thân vua Bồ Đào Nha đã nói với Colombo về những cây sậy lớn này và đã chỉ cho ông ta một số cây. Vì không nơi nào trên phần đất này của thế giới mọc những cây sậy như thế, chắc chắn gió đã đưa những cây sậy ấy đến từ những đảo gần, hoặc từ Ấn Độ, vì trong tập 1, chương 17 cuốn Vũ trụ học, Tolomeo nói rằng những cây sậy này thấy ở phía đông Ấn Độ và Đông Nam Á.
4. Một số người sống trên quần đảo Azzorre nói với Colombo rằng một lần, khi gió đã thổi từ hướng Tây một thời gian dài, biển đã ném vào những đảo đó một số cây thông, nhất là ở đảo Graciosa và đảo Fayal, trong khi đó ai cũng biết rằng bất cứ chỗ nào trên những phần đất này đều không có những cây như thế.
5. Những người sống trên quần đảo Azzorre kể lại: trên đảo Flores, một đảo ở miền Cực Tây, xác hai người đàn ông đã dạt vào bờ; mặt họ rộng và khác mặt những người Công giáo.
6. Tại Mũi Verga, ở bờ biển phía tây Ghi-nê 10° Bắc, người ta đã trông thấy một số thuyền đục từ thân cây có những phòng ngắn. Những thuyền này không phải từ Ghi-nê và người ta cho rằng trong khi đi giữa các đảo, gió và những dòng nước đã làm cho những thuyền đó đi lệch hướng.
7. Antonio Leme ở Madera nói với Colombo rằng: một lần khi đi xa về hướng Tây trên chiếc thuyền buồm nhỏ của mình ông đã trông thấy ba đảo.
8. Nhiều người ở những đảo Hierro và Gomera ở quần đảo Canarie và quần đảo Azzorre khẳng định rằng: hàng năm họ đã trông thấy một số đảo ở phía Tây. Họ chắc chắn về điều đó, và nhiều người đáng được tin cậy đã thế điều đó là có thật.
9. Năm 1484 một người từ đảo Madera đến Bồ Đào Nha để yêu cầu nhà vua cho một chiếc thuyền buồm nhỏ để đi và tìm một vùng đất nào đó mà ông ta thể đã trông thấy hàng năm ở cùng một hướng, ông đồng ý với những người khác nói rằng họ đã trông thấy vùng đất ấy từ quần đảo Azzorre.
Chín đầu mối này, Colombo đã thu thập trước khi rời Bồ Đào Nha. Nhiều chuyện và tin đồn, một số là có thật, một số là tưởng tượng, đã lưu hành trong số những thủy thủ của Lisbon và trong số những người thực dân đầu tiên của Porto Santo, Madera, Azzorre và những đảo Cape Verde. Don Ferdinando chỉ nêu một ít trong Lịch sử nhưng chắc chắn Colombo còn được nghe nhiều chuyện khác. Thí dụ, Colombo đã viết rằng ông đã trông thấy hai xác chết ở ngoài khơi Galway, do những dòng nước đưa đến từ phương Tây. Trong khi Ferdinando kể trường hợp hai xác chết không phải người châu Âu dạt vào bờ biển của Flores mà cha ông đã nghe từ những người Azzorre, Colombo không nêu trường hợp khác ở Galway (Ireland). Đây là chứng cớ cuốn Lịch sử không ghi lại tất cả những đầu mối Colombo đã tập hợp.
Quan trọng hơn những đầu mối này - mà tất cả đều phụ thuộc vào chứng cớ của những người khác - là những đầu mối do nhà phát kiến tương lai trực tiếp hồi tưởng lại: những quan sát viết ở ngôi thứ nhất, những kinh nghiệm, những phỏng đoán, những suy xét và so sánh. Những điều này đã góp phần một cách quyết định vào việc lập kế hoạch cho cuộc phát kiến lớn.
Chúng ta đã thấy những điều Colombo học tập được từ cuộc đi biển của ông tới Băng Đảo và từ những kinh nghiệm của những người Scandinave cổ đại. Điều quan trọng nhất, Colombo đã đạt được mảnh chủ chốt thứ nhất trong hình mẫu nhiều màu mà từ đó xuất hiện kế hoạch lớn: lông tin rằng ở phương Tây không phải vực thẳm mà là Băng đảo - không phải là Ultima Thule - Greenland, cũng như những vùng đất khác, mặc dù vùng đất cuối cùng được phủ trong truyền thuyết. Và nếu có đất đai ở những vĩ tuyến phía Bắc, tại sao không thể có một vùng đất nào đó ở trung tâm Đại Tây Dương, trên những vĩ tuyến của Lisbon hay Ireland.
Người ta không thể bỏ qua Ireland trong số những kinh nghiệm đầu tiên của Colombo. Mặc dù Galway nằm ở 53° Bắc, Colombo đã thấy những mảng thú vị của ánh nắng mặt trời trên những dải cỏ xanh xung quanh thành phố có nhiều màu sắc đó. Chắc chắn người ta nói cho ông biết rằng màu xanh này là màu xanh của toàn Ireland, một màu xanh dịu dàng không phân biệt các mùa, trừ những cơn mưa thoảng qua nhanh chóng, và những giây phút có mặt trời. Màu xanh này đã tượng trưng cho Ireland trong nhiều thế kỷ, sẽ còn tượng trưng trong nhiều thế kỷ tới; màu xanh ấy chắc phải tác động đến trí tưởng tượng của Colombo, một người nhạy cảm với tất cả những hiện tượng tự nhiên.
Colombo biết rằng Ireland ở xa về phía Bắc của Milano và Pavia, thành phố của vị Quận công đã là người thống trị trực tiếp, hoặc gián tiếp, nước Cộng hòa Genova. Dù gia đình Colombo có từ Piacenza đến hay không, ông không thể không biết rằng về mùa đông ở Milano, Pavia và Piacenza thường xuyên có tuyết, ở Ireland thì không có tuyết. Galway ở vào khoảng 8 độ phía Bắc Milano; tuy nhiên mùa đông ở Galvvay ít khắc nghiệt hơn và mặt đất xanh rờn khắp nơi, dù không đặc biệt phì nhiêu trong mùa trồng trọt. Galway không có tuyết nhưng mưa liên tục, mây từ phương Tây đến mang theọ nước và sự ấm áp như những dòng nước biển từ phương Tây đến tắm cho bờ biển Ireland và mang đến sự ấm áp cho xứ này. Những người thủy thủ Ireland biết tất cả những điều đó; không ai biết rõ hơn họ rằng ở phía Tây có đất liền, cũng như nước Italia nằm ở giữa phía Tây Hy - Lạp, còn Tây Ban Nha thì nằm ở phía Tây Italia.
Lòng tin cho rằng đất liền nằm ở phía Tây phổ biến trong những người Ireland đến nỗi những chuyến đi theo truyền thuyết của các tu sĩ truyền đạo đó đã xảy ra trong thực tế như những chuyến đi theo truyền thuyết của các tu sĩ truyền đạo Cơ đốc đã tăng lên gấp bội trong nhiều thế kỷ. Một số chuyến đi truyền đạo đó đã xảy ra trong thực tế như những chuyến đi tới Băng Đảo, và những chuyến đi đó đã dẫn đến việc phát hiện đảo này bởi những người Scandinave cổ đại. Hầu hết những chuyến đi khác là kết quả của tưởng tượng, dù khó nói tưởng tượng tới mức độ nào. Tôi đã nói, tại Bristol, Colombo đã biết được độ lớn của thủy triều như thế nào; ông ta lại từng trải độ lớn của thủy triều tại Galway và tại những vịnh hẹp ở Băng Đảo. Gặp phải những kinh nghiệm đó bất cứ cậu học sinh thông minh nào cũng hỏi một người lớn đứng cạnh cậu ta: ‘‘Nhưng tất cả nước này dồn về đâu khi nó hạ xuống’’. Và khi nước thủy triều lên, cậu học sinh đó sẽ hỏi: ‘‘Tất cả nước này từ đâu đến?’’
Colombo là một người quan sát cần cù, thận trọng những hiện tượng tự nhiên, ông không thể không tự đặt câu hỏi. Trả lời của ông không thể là ‘‘Vực thẳm! Nước từ vực thẳm đến và lại trở về vực thẳm’’. Nước thủy triều Bristol, Galxvay và Hvalfjordur dâng lên từ phương Tây rồi rút về phương Tây, như vậy nước thủy triều hỗ trợ cho tính liên tục của biển từ lục địa này sang lục địa khác; tính liên tục từ Đông sang Tây ở Địa Trung Hải như người ta đã biết. Và thủy triều thì lớn hơn vì Đại Dương lớn hơn Địa Trung Hải. Những giới hạn của Đại Dương, dù lớn hơn cũng phải có những hạn mức; tức là phải có những bờ biển ở cạnh bên kia, không phải một vực thẳm, hoặc bóng tối.
Tôi đã nói lên ý nghĩa của Madera và Porto Santo đối với Colombo. Tự bản thân Colombo đã thấy những dấu hiệu của sự tôn tại những vùng đất ở phía Tây, ông không cần sự giúp đở của bất cứ người nào khác: đậu biển, những khúc gổ lạ dạt vào bờ biển; những cây nhỏ không thấy ở những cánh đồng cò Châu Âu, hoặc châu Phi, những núi hoặc những lòng chảo biển; và vai trò của những dòng nước - lúc nóng, lúc lạnh - dọc theo những bờ biển, phụ thuộc vào hướng chảy của chúng.
Trên quần đảo Canarie, Colombo thấy một hiện tượng ông chưa gặp ở đảo Madera, Porto Santo, hoặc quần đảo Azzoree. Không một đảo nào trong những đảo này những người châu Âu đầu tiên thấy có người ở. Tại những đảo Cape Verde họ đã thấy một số người da đen, cùng một giống người như ở châu Phi. Tuy nhiên, tại quần đảo Canarie, họ thấy thổ dân khác với giống người ở châu Phi và Địa Trung Hải: da họ trắng, mắt xanh và rất cao. Họ không có kiến thức đi biển, hoặc làm tàu thủy; họ vẽ mình và ướp xác. Họ vẫn ở thời kỳ đồ đá. Họ thờ một vị thần duy nhất, một Vị Thần vĩ đại đáng sợ, Thượng Đế. Khi Colombo đến quần đảo Canarie lần đầu tiên - từ năm 1478 đến năm 1484 - dân tộc lạ lùng và kỳ quặc này vẫn thống trị những đảo Tenerife và La Palma và chỉ bị chinh phục trên đảo Gran Canaria. Chắc chắn Colombo ngạc nhiên về sự tồn tại của một dân tộc và ngay cả những học giả cũng không biết đến dân tộc đó, không giống bất cứ một dân tộc nào trong thế giới mà ta đã biết. Trong thời gian đó, Temisoro, vị vua hào phóng của đảo Gran Canaria, chuyển sang đạo Gia Tô. Người ta có thể thấy bao nhiêu người chín mùi để cải đạo ở bên kia đại dương, ở những vùng đất chưa ai biết đến và ở những vùng đã biết tại Châu Á!
Tại những đảo Cape Verde, Colombo đã tăng kiến thức của ông về gió xích đạo, về vai trò của những con đường người Bồ Đào Nha đã đi và do đó vai trò có thể đi được xa hơn về phía Tây của những con đường ở các vĩ tuyến đó. Những tàu Bồ Đào Nha thăm viếng những đảo Cape Verde thường xuyên trên đường trở về hơn là trên đường đi ra, không phải vì những ham muốn bất ngờ, hoặc nhu cầu hậu cận, mà vì để sử dụng tốt hơn những cơn gió. Trên đường đi ra, gió xích đạo thổi từ Đông Bắc tới Tây Nam, tạo-thuận lợi cho việc đi biển khá khó khăn dọc theo bờ biển, cho đến khi đi vòng Mũi Palmas những tàu biển đi vào vùng lặng gió của xích dạo. Tuy nhiên trên đường trở về những tàu biển phải đi khó khăn tới nơi gió thổi ngược chiều gió xích đạo sau khi rời vùng lặng gió ở xích đạo. Đó là con đường liên tục bị hiểm hóc vì đi vòng chữ chi. Trên đường trở về, đi thẳng tới những đảo Cape Verde và từ đó tới quần đảo Canarie ít nguy hiểm hơn. Từ những con đường khác nhau này Colombo đã biết nhiều ý nghĩa và tầm quan trọng của gió xích đạo.
Như tôi đã nêu, quần đảo Azzorre là một trong những điểm chủ chốt trong khái niệm về kế hoạch lớn. Quần đảo được coi là ‘‘châu Âu’’ đối với những nhà du lịch hiện đại. Nó có tính chất châu Âu ở phong tục của nhân dân - đa số là những người Bồ Đào Nha và với một qui mô nhỏ, những người Flamand. Nó có tính chất châu Âu ở khí hậu, không khác nhiều khí hậu Bồ Đào Nha, dù ẩm hơn. Nó mang tính chất châu Âu vì những người châu Âu đã mang động vật và thực vật châu Âu vào quần đảo này.
Trong thời Colombo người ta chỉ mới bắt đầu cảm thấy những ảnh hưởng thực dân hóa của người Bồ Đào Nha và của người Flamand. Hệ thực vật vẫn là bản xứ, được đặc trưng bởi những cây có tính chất điển hình Đại Tây Dương. Và sự có mặt của con người thì chưa rõ ràng, trừ trong một số ít lạch và vịnh, nơi thành lập những khu định cư đầu tiên. Quần đảo có vẻ là kết quả tự nhiên của những núi lửa đã bất ngờ phun nham thạch ở vùng này của Đại Tây Dương và đã tạo ra một số đảo và đảo nhỏ bao quanh: São Miguel và Santa Maria ở phía Đông; Terceira, Graciosa, São Jorge, Pico và Fayal ở miền trung; Flores và Corvo ở phía Tây.
Quần đảo là một đơn vị. Tất cả các đảo đã và đang thuộc Bồ Đào Nha, và ngay cả theo quan điểm địa vật lý, mới nhìn qua đã thấy sự thống nhất của nó. Nguồn gốc núi lửa rõ rệt ở các đảo: tất cả có caldeiras, những miệng núi lửa thường có hồ ở đáy, và ở mọi nơi có những dòng nham thạch ba dan, những suối nước nóng và những lỗ thoát hơi nước. Nhưng vì sự thống nhất này - trong thực tế, vì sự tương phản rõ rệt với sự đồng nhất này - những người có ý thức về biển như Colombo không thể không lưu ý đến sự khác biệt sâu sắc về tác động của gió và những dòng nước trên những đảo phía Đông và trên những đảo phía Tây. Chỉ trong mùa đông toàn bộ quần đảo mới nằm dưới gió tây và gió tây - nam. Trong những mùa khác hai đảo ở phía đông São Miguel và Santa Maria, chịu ảnh hưởng tốt của gió xích đạo Đông - Bắc, trong khi đó những đảo miền trung và miền tây vẫn chịu ảnh hưởng của gió tây và tây nam.
Hình như trong sự rối mù này, Đại Dương muốn thiết lập sự gặp lại của hai lực lượng siêu nhân, gần như một lực chia cắt, những dòng nước biển và dòng không khí từ những bờ biển châu Âu và châu Phi đến, với những dòng nước biển và không khí từ những bờ biển phương Tây đến. Ngày nay bất cứ một người nào nhìn về hướng Đông từ cạnh cuối cùng của đảo São Miguel, hoặc đảo Santa Maria, đều biết rằng anh ta đang hướng về châu Âu, như Colombo đã làm. Nếu một người nào đó nhìn về hướng Tây, từ cạnh của đảo Fayal, hoặc đảo FIores anh ta biết rằng anh ta đang hướng về châu Mỹ. Tất nhiên Colombo đã không làm như thế. Nhưng Colombo đã cảm thấy rằng ông ta không nhìn về một vực thẳm: từ đảo São Miguel, Colombo thấy mặt trời mọc từ Đại Tây Dương; từ đảo Fayal hay đảo Flores ông ta thấy mặt trời lặn vào Đại Tây Dương; đúng như mặt trời đã không mọc từ một vực thẳm ở phương Đông, mặt trời không thể chìm xuống vực thẳm ở phương Tây.
Đất - dại lục, điểm làm căn cứ - hình như ở xa cả hai bên: cách Bồ Đào Nha 875 dặm, cách Terranova 1.054 dặm, thực sự là những khoảng cách không phải là không thể vượt qua nổi. Quần đảo Azzorre, là thử thách gay go ở trung tâm Đại Tây Dương là một bãi quan sát quan trọng đối với Colombo trong cố gắng của ông làm chủ Đại Tây Dương. Tại đó ông đã thấy những mấu chốt tốt nhất trong số những mấu chốt khác, những gợi ý ông giữ kín như những cánh cửa khóa, chỉ mở ra khi ông thực hiện kế hoạch lớn của mình. Trước khi ông đã biết rằng từ quần đảo Azzorre không nên đi thuyền từ vĩ tuyến đó đến vụng chưa biết, vì ông sẽ bị gió cuốn trở lại, gió luôn luôn thổi theo hướng ngược lại từ những đảo ở phía Tây. Ông cũng biết rằng vĩ tuyến đó chỉ thích hợp với đường trở về.
Tôi đã nói về chuyên đi, hoặc những chuyến đi của ông tới Ghinê. Tuy nhiên có một điểm mấu chốt khác nữa cần nhấn mạnh. Colombo miêu tả Elmina là ‘‘nơi ánh sáng ban ngày luôn luôn kéo dài mười hai giờ’’. Tại Băng Đảo ông đã quan sát thấy ngày kéo dài bốn giờ mười lăm phút về mùa đông, mười bảy giờ về mùa xuân, và hai mươi mốt giờ vào hạ chí. Những khí hậu tương phản này hỗ trợ cuộc sống: cuộc sống của cây cỏ và động vật, và quan trọng nhất vừa hổ trợ cho cuộc sống của con người. Như vậy, những điều mê tín dị đoan đã tan dần trong tâm trí Colombo; ngoài thế giới đã biết đối với người cổ đại, có những vùng đất chưa biết, tuy nhiên có thể có được và có những biển có thể đi lại bằng tàu bè được.
Tôi đã liệt kê những điểm mấu chốt do Ferdinando nêu ra và những ấn tượng, kết luận và xem xét gọi ra đối với Colombo do những kinh nghiệm cá nhân của ông, cùng những kinh nghiệm đã cho ông được làm chủ Đại Tây Dương. Từ những điểm mấu chốt và kinh nghiệm này, Colombo đã rút ra sự gợi ý cho kế hoạch lớn của ông theo bản năng. Với trực giác của mình, giác quan thứ sáu về biển đã phần biệt ông với những người khác, ông đã lợi dụng việc nghiên cứu chi tiết về đại dương, nghiên cứu tỉ mỉ về những dòng nước, gió, bầu trời và những ngôi sao; lợi dụng những điểm mấu chốt ông đã thu thập dọc theo những bờ biển Băng Đảo, Madera, Porto Santo, và Azzorre.
Bằng trí tuệ của mình, ông đã thu thập, phân tích và thảo luận những tin đồn và những ấn tượng về Đại Tây Dương với những thủy người Genova, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Anh, nhất là những tin tức về kinh nghiệm cũ, kỳ diệu của những nhà mạo hiểm Scandinave cổ đại, thu thập từ những nguồn trực tiếp nhất, những thủy thủ Bristol, Galway và ở những hải cảng Băng Đảo. Bằng trí tưởng tượng của mình, ông đã hình thành giấc mộng để biển nó thành hiện thực. Những cảnh làm say lòng người thuộc những bờ biển Địa Trung Hải- những cảnh ở Liguria, Corsica, Sardegna, Napoli, Sicilia, Chio và Tunisi - đã thức tỉnh trí tưởng tượng của Colombo. Trí tưởng tượng ấy được giải phóng bởi sự cô độc của Đại Dương mênh mông và được hỗ trợ bởi những kỳ quan của Ultima Thule, Madera huy hoàng, quần đảo Canarie được ban phước, quần đảo Azzorre rải rác và Ghinê xanh rờn.
Kế hoạch lớn đã ra đời như thế từ một sự ngẫu hứng, hay hơn thế từ một sự kết hợp thiên tài của hàng loạt những ngẫu hứng. Bức thư của Toscanelli, những công trình nghiên cứu của các tác giả cổ đại và đương thời chỉ đến sau đó, khi kế hoạch đã trở nên sáng tỏ, chính xác và được xác định. Rồi kế hoạch này. nở trong Đại Tây Dương và Colombo mong muốn một cách chính đáng trở thành Đô Đốc của Đại Dương. Kế hoạch ra đời đúng lúc huyền thoại cho rằng những vùng nóng bỏng của xích đạo không thể ở được đang bị đập tan và lòng tin trái đất tròn đang tăng lên, không những trong các học giả mà cả trong đám thủy thủ.
Thực tế về vùng đất đối chân ở bên kia trái đất vẫn còn chưa rõ và bị mê tín dị đoan xuyên tạc. Những người bình dân đã tưởng tượng ra những hình ảnh kỳ lạ về một cái vực đáng sợ, tại đó người và tàu sẽ bị nuốt trôi. Những học giả và những thủy thủ nghiêm túc hơn nói về những giải nước vô tận mà ở đó tàu biển không thể đi lại được. Tóm lại cả hai nhóm cho rằng con người không thể đến được phần đất đối diện bên kia. Một khái niệm thời trung cổ điển hình là khái niệm của Đantê: ông xác định vị trí của Núi Chuộc tội là ở phần đất đối diện bên kia trái đất, nổi lên từ biển cả; sinh vật không thể đến được.
Ở dây là sự đổi mới phi thường trong kế hoạch của Colombo. Kế heạch đó ra đời khi Colombo khắc phục được hai nỗi sợ hãi lớn; một là di sản thời trung cổ; một nữa sinh ra từ cách chỉ đi men dọc bờ biển châu Phi và tránh xa biển cả, khi mà bất chấp những phát hiện lớn và đầy hiệu quả, người Bồ Đào Nha vẫn tiếp tục đi dọc bờ biển châu Phi và tránh biển khơi.