Cuộc Sống Bí Mật Của Các Nhà Văn

Lượt đọc: 1285 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
mỗi người là một bóng tối

Mỗi người (…) là một bóng tối nơi chúng ta không bao giờ có thể xâm nhập, (…) một bóng tối nơi chúng ta có thể lần lượt hình dung, với chừng ấy vẻ bề ngoài như thực, được tình yêu và hận thù soi sáng.

Marcel PROUST

1.

Sau cuộc thám hiểm đầy sóng gió trong ngôi nhà thôn quê của Colleen Dunbar - đã tạm kết thúc bằng thắng lợi của tôi trong cuộc đối đầu với Little Max -, tôi quay trở lại thành phố và náu mình bên một bàn của quán Fleurs du Malt. Muốn tránh không khí náo nhiệt ngoài sân hiên nên tôi lui vào bên trong, ngồi gần một khung cửa kính hướng ra biển. Trước một cốc sô cô la nóng, tôi đọc đi đọc lại những lá thư lấy cắp từ phòng của Mathilde. Tất cả đều do cùng một người viết, và tim tôi giật thót khi nhận ra nét chữ nghiêng nghiêng thon mảnh của Nathan Fawles. Không nghi ngờ gì nữa, bởi tôi từng thấy trên Internet nhiều trang scan bản thảo viết tay những cuốn tiểu thuyết của ông mà ông tặng lại cho thư viện thành phố New York.

Có chừng hai chục lá thư tình, không phong bì, được gửi từ Paris hay New York. Chỉ một vài lá có đề ngày tháng trong khoảng thời gian từ tháng Tư đến tháng Mười hai năm 1998. Chúng được ký tên “Nathan” và gửi tới một phụ nữ bí ẩn mà ta không biết tên. Phần lớn mở đầu bằng “Tình yêu của anh”, nhưng trong một bức thư, Fawles đã nêu ký tự “S.” như chữ cái đầu trong tên cô ta.

Nhiều lần, tôi dừng đọc giữa chừng. Tôi có thể được coi là vô tội không khi biết về những lá thư này rồi xâm phạm cuộc sống riêng tư của Fawles dù chưa được phép? Mọi thứ trong tôi đều hét lên rằng không, tôi không có quyền làm vậy. Nhưng nỗi băn khoăn khó xử thuộc phạm trù đạo đức này không trụ nổi trước thói hiếu kỳ của tôi và cảm giác được đọc một tài liệu vừa độc nhất vô nhị vừa mê hồn.

Vừa thấm đẫm cảm xúc và đậm chất văn chương, tập thư vẽ nên chân dung một người đàn ông yêu cuồng si và một người phụ nữ nhạy cảm, nồng cháy và tràn đầy sức sống. Rõ ràng thời bấy giờ cặp tình nhân phải chịu cảnh chia lìa nhưng trong thư không đề cập đến những trở ngại cụ thể.

Xét trên tổng thể, những lá thư này hợp thành một tác phẩm nghệ thuật lai tạp, pha trộn giữa trao đổi thư tín cổ điển, thơ ca và chuyện kể kèm minh họa là những bức tranh màu nước tuyệt đẹp được vẽ nên từ các sắc thái của màu hoàng thổ. Đây không phải một cuộc trò chuyện đúng nghĩa. Không phải thể loại thư từ trong đó người ta kể cho nhau nghe về một ngày của mình hay những thứ mình đã ăn trong bữa gần nhất. Đây là một dạng tụng ca cuộc sống và lẽ tất yếu phải yêu, bất chấp nỗi đau vì thiếu vắng, cơn điên loạn của thế giới và chiến tranh, chủ đề chiến tranh xuất hiện trong tất cả các chuyện kể: đấu tranh, nỗi đau, áp bức, nhưng không đủ rõ ràng để hiểu liệu Fawles bàn về một cuộc xung đột vũ trang cụ thể đang diễn ra hay đó chỉ là một phép ẩn dụ.

Về phong cách, văn bản đầy rẫy điểm sáng bất chợt, những lối diễn đạt táo bạo, những ám chỉ đến Kinh Thánh. Nó tiết lộ một khía cạnh mới trong tài năng của Fawles. Nhạc tính nhắc tôi nhớ tới Aragon và một số thi phẩm dành tặng Elsa Triolet, hay Apollinaire “trên chiến tuyến”. Sự mãnh liệt của một số đoạn khiến tôi nghĩ tới Những lá thư Bồ Đào Nha. Thậm chí sự hoàn hảo về mặt hình thức khiến tôi tự hỏi phải chăng những bức thư này là một bài luyện văn thuần túy. Cô S. đó thực sự tồn tại hay chỉ là một biểu tượng? Hóa thân thành đối tượng của một tình yêu. Điều gì đó phổ quát đang bộc bạch với tất cả những người đang yêu.

Lượt đọc thứ hai đã xua đi cảm tưởng này. Không, mọi thứ trong bản văn này đều toát ra sự chân thật, riêng tư, niềm say mê, hy vọng, những dự định cho tương lai. Dẫu những nồng nhiệt ấy cũng bị che giấu sau một sự đe dọa tiềm tàng phảng phất giữa một số dòng.

Đến lượt đọc thứ ba, tôi đưa ra một giả thiết khác: S. bị bệnh. Cuộc chiến này là cuộc chiến của người phụ nữ chống lại căn bệnh. Nhưng thiên nhiên và các yếu tố khí tượng cũng đóng vai trò quan trọng trong thư. Các phong cảnh đối lập, vừa chính xác và đầy chất thơ. Fawles gắn với mặt trời và ánh sáng phương Nam hoặc bầu trời ánh thép của New York. S. gắn với thứ gì đó buồn bã hơn. Những ngọn núi, bầu trời xám xịt, nhiệt độ lạnh băng, một “đêm đầu mùa ập xuống lãnh thổ của lũ sói”.

Tôi nhìn giờ trên điện thoại. Tôi đã xin Audibert nghỉ buổi sáng, nhưng 14 giờ tôi phải quay trở lại chỗ làm. Tôi đọc lướt các lá thư một lần sau cùng theo trật tự thời gian và một câu hỏi bỗng xuất hiện: còn những lá thư khác nữa hay một sự kiện đã đột ngột chấm dứt sự hấp dẫn về thể xác và tinh thần này? Nhất là, tôi thắc mắc người phụ nữ nào có thể gợi lên trong Fawles những tình cảm nồng thắm đến thế. Tôi đã đọc hầu như mọi thứ về ông, nhưng ngay cả khi Fawles còn tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng thì ông cũng chưa bao giờ thổ lộ gì nhiều về cuộc sống riêng tư. Tôi bỗng nảy ra một ý: phải chăng Fawles là người đồng tính? Và phải chăng S. - thiên thần tóc vàng mà những lá thư kia miêu tả - là một người đàn ông? Nhưng không, giả thiết này không đứng vững trước vô số những tương hợp ngữ pháp ở giống cái.

Điện thoại của tôi rung trên mặt bàn và một chấm sáng nhấp nháy trên màn hình báo hiệu một loạt dòng tweet của Lafaury. Hắn tung ra những thông tin mới do các nguồn tin cung cấp. Sau khi liên hệ giữa Apolline và Karim, phía cảnh sát đã đẩy mạnh điều tra ở Essonne nhằm chất vấn tay cựu bán lẻ ma túy. Cảnh sát tư pháp nhánh Évry đã tìm tới nhà hắn, trong khu phố Épinettes. Karim không chỉ vắng mặt tại đó, mà hàng xóm láng giềng còn cam đoan họ chẳng hay biết tin tức gì về hắn từ gần hai tháng nay. Các nhân viên làm việc cho ga ra của hắn cũng vậy, nhưng vì tất cả bọn họ đều không ưa cảnh sát cho lắm nên không ai trình báo việc hắn mất tích. Dòng tweet sau cùng của Lafaury tiết lộ rằng, trong lúc khám soát nơi ở của Karim, cơ quan điều tra đã tìm thấy nhiều vết máu. Các phân tích đang được tiến hành.

Tôi lưu thông tin đáng lo ngại này vào một góc trong đầu để quay trở lại với những lá thư của Fawles. Tỏi cất chúng cẩn thận vào túi áo khoác rồi đứng dậy dể về hiệu sách. Phi vụ đột nhập nơi ở của Mathilde Monney đã có kết quả. Từ giờ, tôi nắm trong tay một yếu tố tiểu sử mà tôi là một trong số ít người biết đến. Việc tiết lộ những tài liệu đặc biệt được viết bởi nhà văn huyền thoại này chắc chắn sẽ là một cú sấm sét trong giới xuất bản. Vào cuối thập niên 1990, ít lâu trước khi thông báo rút hẳn khỏi văn đàn, Nathan Fawles từng trải qua một mối tình nồng cháy, một tình yêu cuốn phăng và tàn phá mọi thứ trên đường nó đi. Nhưng một sự kiện chưa rõ và đáng sợ đã chấm dứt mối quan hệ này, khiến nhà văn tan nát cõi lòng. Từ đó, Fawles lui về ở ẩn, ngừng viết và chắc chắn là khép cửa trái tim mình mãi mãi.

Mọi thứ đều khiến người ta nghĩ rằng người phụ nữ này, thiên thần tóc vàng, chính là chìa khóa dẫn tới bí mật của Fawles. Khuôn mặt ẩn khuất trong bóng tối của chính nó.

Đóa hồng của ông.

Có phải Fawles yêu cầu tôi điều tra về Mathilde để lấy lại những lá thư này và giữ bí mật của ông không? Làm cách nào nữ phóng viên lại có được chỗ thư từ ấy? Và nhất là, tại sao cô lại giấu chúng đằng sau một tấm ốp gờ chân tường giống như người ta giấu tiền hay ma túy?

2.

- Nathan! Nathan! Tỉnh dậy đi nào!

Bấy giờ là 9 giờ tối. Nam Thập Tự chìm trong đêm tối mịt mùng. Sau khi bấm chuông suốt mười phút mà không nhận được hồi đáp, tôi đã quyết định trèo qua tường bao. Tôi gần như dò dẫm tiến bước trong đêm tối mà không dám bật đèn pin điện thoại. Tôi không yên tâm. Tôi nghĩ con chó giống golden retriever sắp nhảy xổ vào tôi - mà hôm nay thì tôi ngấy lũ chó đến tận cổ rồi -, nhưng Bronco già nua đã chào đón tôi như một vị cứu tinh thì đúng hơn, dẫn tôi tới tận chỗ ông chủ của nó đang nằm sóng soài trên nền sân hiên. Gục trên những tấm đá lát, nhà văn nằm co trong tư thế bào thai, một chai whisky rỗng lăn lóc bên cạnh.

Rõ ràng Fawles đã uống một chầu say bí tỉ.

- Nathan! Nathan! tôi vừa hét vừa lay ông dậy.

Tôi bật toàn bộ đèn bên ngoài. Rồi tôi quay trở lại chỗ ông nằm. Hơi thở ông nặng nề và đứt quãng. Dần dà, tôi đánh thức được ông, Bronco giúp sức bằng cách liếm mặt chủ nhân.

Rốt cuộc Fawles cũng đứng dậy.

- Ông ổn chứ?

- Ổn, nhà văn cam đoan rồi đưa cánh tay chùi mặt. Cậu làm cái quái gì ở đây thế?

- Tôi có thông tin cho ông đây.

Fawles day day hai thái dương và mí mắt.

- Cơn đau nửa đầu khốn kiếp.

Tôi nhặt cái chai rỗng lên.

- Chẳng có gì là lạ sau những gì ông nốc.

Đó là một chai Bara No Niwa, hãng rượu Nhật huyền thoại xuất hiện trong mọi cuốn tiểu thuyết của Fawles. Nhãn hiệu đã ngừng sản xuất từ thập niên 1980. Kể từ đó, độ khan hiếm của những chai còn lại đã đẩy giá của chúng lên rất cao. Thật lãng phí khi nốc say bằng thứ rượu ngon như vậy!

- Nói cho tôi biết cậu đã tìm thấy những gì ở chỗ cô ả phóng viên đó đi.

- Tốt hơn hết là ông đi tắm qua cái đã.

Fawles mở miệng toan bảo tôi xéo đi, nhưng lý trí đã ngăn ông làm vậy.

- Có lẽ cậu không nhầm đâu.

Tôi tranh thủ lúc ông sang phòng tắm để thám hiểm phòng khách. Tôi vô cùng sửng sốt khi đi sâu thêm vào đời sống riêng tư của Fawles. Như thể tất cả những gì liên quan đến ông đều mang tầm vóc trang nghiêm. Đối với tôi Nam Thập Tự luôn được bao quanh bởi một vầng hào quang huyền ảo và thần bí, vừa giống hang động của Ali Baba vừa như cái hang của Plato(16) .

Lần đầu tiên tới đây, tôi đã ấn tượng vì không thấy bất kỳ bức ảnh hay đồ lưu niệm nào, không thấy bất kỳ thứ gì giúp một nơi chốn neo đậu vào quá khứ. Ngôi nhà không lạnh lẽo, còn lâu mới vậy, nhưng có phần thiếu bản sắc. Nét độc đáo duy nhất là mô hình thu nhỏ của một chiếc ô tô thể thao. Một chiếc Porsche 911 màu xám bạc với những đường sọc màu xanh lơ và đỏ. Tôi đã đọc trong một tờ báo Mỹ rằng Fawles từng sở hữu một chiếc xe y hệt vào những năm 1990. Một bản mẫu độc nhất vô nhị mà năm 1975 nhà thiết kế người Đức sản xuất riêng cho nhạc trưởng Herbert von Karajan(17) .

Sau phòng khách, tôi tiến thẳng sang bếp và mở tung tủ lạnh cùng tủ tường. Tôi pha trà, ốp trứng, nướng bánh mì và trộn xa lát rau. Cùng lúc, tôi thử tra điện thoại để thu thập thêm tin tức về cuộc điều tra, nhưng không bắt được chút tín hiệu mạng nào.

Trên bàn bếp, cạnh những ô bếp nấu, tôi nhìn thấy một chiếc máy thu thanh bán dẫn giống như loại ông tôi từng có. Tôi bật radio, nó đang được để ở kênh nhạc cổ điển, rồi xoay núm nhựa để thử bắt một kênh tin tức. Rủi thay tôi gặp đúng phần cuối bản tin 21 giờ của đài RTL. Tôi đang vật vã tìm kênh France Info thì Fawles bước vào phòng.

Ông đã thay đồ - sơ mi trắng, quần jean, cặp kính đồi mồi nhỏ -, nom ông như trẻ ra mười tuổi và có vẻ thư thái như thể vừa ngủ tám tiếng đồng hồ.

- Đến tuổi này rồi, ông đừng nên uống cố.

- Cậu im miệng đi.

Tuy nhiên ông vẫn gật đầu cảm ơn tôi vì đã chuẩn bị bữa tối. Ông lấy ra hai chiếc đĩa cùng dao dĩa rồi đặt chúng đối diện nhau trên bàn bếp.

“Những yêu tố mới trong vụ án mạng trên đảo Beaumont…” radio thông báo.

Chúng tôi lại gần chiếc đài. Quả nhiên có hai tin mới. Và tin đầu tiên khiến người ta sửng sốt. Nhờ một lời tố giác nặc danh, cảnh sát tư pháp Évry vừa tìm ra xác Karim Amrani đâu đó trong rừng Sénart. Tình trạng phân hủy của cái xác cho thấy hắn chết đã khá lâu. Vụ giết hại Apolline Chapuis bỗng nhiên trở nên phức tạp hơn nhiều. Nhưng theo logic của truyền thông thì ngược đời thay, nó sắp mất đi tính đặc biệt và có khả năng bị sáp nhập vào một tổng thể rộng lớn hơn, không còn đậm chất ngoại lai như trước (môi trường cướp bóc, ngoại ô Paris…). Vì diễn tiến theo cách này, vụ án đảo Beaumont đã trở thành vụ án Amrani, ít nhất là tạm thời.

Thông tin thứ hai thuận theo chiều hướng này: rốt cuộc tỉnh trưởng vùng biển cũng đã quyết định dỡ bỏ lệnh phong tỏa đảo. Một quyết định mà theo France Info, sẽ có hiệu lực ngay từ 7 giờ sáng ngày hôm sau. Fawles có vẻ không đặc biệt xúc động trước những tin tức này. Cơn khủng hoảng từng dìm ông trong cơn say đã qua đi. Ông vừa ăn trứng ốp lết vừa kể cho tôi nghe cuộc trò chuyện hồi chiều với Mathilde. Tôi mê mải lắng nghe ông nói. Tôi còn quá trẻ để lưu giữ một ký ức nào đó về vụ Verneuil, nhưng có vẻ như tôi đã nghe nhắc đến nó qua một trong những chương trình phát thanh hay truyền hình chuyên lật lại những kỳ án nổi tiếng.

Hết sức ích kỷ, tôi thấy trong đó chất liệu tiểu thuyết tuyệt vời mà không hiểu điều gì có thể khiến Fawles xáo trộn đến mức ấy.

- Chính tin đó khiến ông ra nông nỗi này sao?

- Cậu nói đến nông nỗi nào thế?

- Nông nỗi của ông sau khi nốc whisky cả buổi chiều.

- Thay vì bàn đến điều vượt quá khả năng của cậu, hãy nói tôi biết cậu đã tìm hiểu được gì về Mathilde Monney.

3.

Tôi bắt đầu thận trọng kể cho ông nghe cuộc điều tra mà dường như Mathilde đang tiến hành, trước hết là về Karim Amrani rồi về chính ông. Khi tôi nhắc đến chuyện đôi giầy, ông có vẻ thực sự kinh ngạc.

- Con nhỏ này điên rồi… Đó là tất cả những gì cậu tìm thấy hả?

- Không, nhưng tôi e là phần tiếp theo không khiến ông vui đâu.

Tôi đã kích thích trí tò mò của Fawles, nhưng chuyện này không khiến tôi vui chút nào bởi lẽ tôi biết ông sắp đau khổ.

- Mathilde Monney có trong tay những lá thư.

- Những lá thư nào kia?

- Những lá thư của ông.

- Tôi chưa từng viết cho cô ta lá thư nào hết!

- Không, Nathan ạ. Những lá thư ông viết cho một phụ nữ khác cách đây đã hai chục năm.

Tôi lấy ra xấp thư từ túi áo khoác rồi đặt chúng trước mặt ông, cạnh hai cái đĩa.

Thoạt tiên, ông nhìn những trang giấy đó mà không thể hiểu toàn bộ sự thực về chúng. Mất một lúc ông mới dám giở chúng ra. Rồi thêm một lúc lâu hơn để bắt đầu đọc những dòng đầu tiên. Gương mặt ông sầu thảm. Còn hơn cả sửng sốt. Thực sự tình cảnh giống như thể Fawles vừa trông thấy một bóng ma bước vào. Dần dần, ông chặn đứng được cơn xáo trộn này và tỏ ra bình thản trở lại.

- Cậu đã đọc chúng rồi hả?

- Xin lỗi, nhưng đúng vậy. Và tôi không hối tiếc chuyện đó. Chúng thật tuyệt. Tuyệt đến mức ông nên cho phép xuất bản chúng.

- Tôi nghĩ tốt hơn hết cậu nên đi đi, Raphaël. Cảm ơn vì những gì cậu đã làm.

Giọng Fawles như vẳng lên từ dưới mồ. Ông đứng dậy tiễn tôi, nhưng thậm chí không thèm ra tới tận cửa mà đuổi tôi về bằng một cái vẩy tay mơ hồ. Từ ngưỡng cửa, tôi nhìn ông nặng nhọc tiến về phía quầy bar rồi tự rót cho mình một cốc đầy whisky trước khi bước tới ngồi xuống ghế bành. Rồi ánh mắt ông mờ đi và tâm trí vơ vẩn nơi khác, trong mê cung rối rắm của quá khứ và nỗi đau của ký ức. Tôi không thể để mặc ông làm vậy.

- Khoan đã, Nathan. Tối nay ông uống thế đủ rồi! tôi nói đoạn dợm bước quay trở lại.

Tôi đứng chắn trước mặt ông rồi giằng lấy cốc rượu.

- Để tôi yên!

- Hãy cố gắng hiểu chuyện gì đã xảy ra còn hơn là lẩn trốn vào rượu.

Chưa quen với việc bị áp đặt cách hành xử, Fawles tìm cách giằng lại cốc rượu từ tay tôi. Vì tôi chống cự nên cái cốc tuột khỏi tay chúng tôi và rơi xuống đất vỡ tan.

Chúng tôi nhìn nhau như hai thằng ngốc. Chúng tôi đâu có vẻ ngu ngốc…

Không chịu mất mặt, Fawles cầm chai whisky lên rồi tu luôn một ngụm lớn.

Ông tiến vài bước để mở cánh cửa kính khổ lớn cho Bronco rồi nhân dịp đó bước ra sân hiên, ngồi xuống một chiếc ghế bành đan bằng liễu.

- Làm cách nào Mathilde Monney có thể lấy lại chỗ thư này nhỉ? Thật khó tin, ông cao giọng thắc mắc.

Trên gương mặt ông, sững sờ đã nhường chỗ cho lo lắng.

- Người phụ nữ ông viết thư cho là ai vậy, Nathan? tôi hỏi đoạn ra bên ngoài gặp ông. S. là ai?

- Một người phụ nữ mà tôi yêu.

- Cái này thì tôi đã ngờ, nhưng bà ấy ra sao rồi?

- Cô ấy chết rồi.

- Tôi rất tiếc, thực lòng.

Toi ngồi xuống một chiếc ghế bành sát cạnh ông.

- Cách đây hai mươi năm, cô ấy bị giết hại dã man.

- Ai giết?

- Một tên khốn thuộc thể loại cặn bã nhất.

- Chính vì thế mà ông ngừng viết sao?

- Đúng thế, như tôi đã bắt đầu giải thích với cậu sáng nay. Tôi đã tan nát cả cõi lòng. Tôi dừng lại vì không còn tìm được sự nhất quán tâm trí cần thiết cho việc viết nữa.

Ông nhìn chân trời như thế đang tìm kiếm ở đó những câu trả lời. Ban đêm, khi mặt nước sáng lấp lánh dưới vầng trăng tròn vành vạnh, nơi này còn đẹp huyền ảo hơn nữa. Người ta thực sự có cảm giác đang ở một mình trên trái đất.

- Ngừng viết là một sai lầm, ông nói tiếp như thể vừa đột nhiên phát hiện ra điều gì đó. Viết lách cấu trúc nên cuộc sống và các ý tưởng của cậu, nó thường kết thúc bằng việc lập lại trật tự cho cuộc sống hỗn loạn.

Một câu hỏi khiến tôi băn khoăn nãy giờ.

- Tại sao ông không bao giờ rời khỏi ngôi nhà này?

Fawles buột ra một tiếng thở dài.

- Chính vì người phụ nữ ấy mà tôi mua Nam Thập Tự. Cô ấy phải lòng hòn đảo này cùng lúc phải lòng tôi. Ở lại đây là ở lại cùng cô ấy, hẳn là vậy.

Cả ngàn câu hỏi cứ chực vọt ra khỏi miệng tôi, nhưng Fawles không cho tôi cơ hội.

- Tôi sẽ lấy xe đưa cậu về, ông nói đoạn đứng vụt dậy.

- Không cần đâu, tôi có xe gắn máy. Ông đi nghỉ sớm thì tốt hơn.

- Cậu muốn sao cũng được. Nghe tôi nói này, Raphaël, cậu phải tiếp tục đào sâu những động cơ của Mathilde Monney. Dù không thể giải thích với cậu nguyên do, nhưng tôi cảm thấy cô ta đang nói dối. Chúng ta đang để lọt lưới thứ gì đó.

Ông chìa cho tôi chai Bara No Niwa - hẳn phải tương đương một năm tiền thuê nhà của tôi - và tôi tu một ngụm để đi đường.

- Tại sao ông không kể với tôi mọi chuyện?

- Vì tôi còn chưa biết toàn bộ sự thật. Và vì không biết chính là một dạng lá chắn.

- Ông mà cũng nói với tôi vậy sao? Rằng không biết thì tốt hơn là biết?

- Tôi không nói như vậy và cậu thừa biết điều ấy, nhưng hãy tin ở kinh nghiệm của tôi: đôi khi, tốt hơn hết là không biết.

Chú Thích

(16) “Dụ ngôn hang động” nằm trong tập 7 của Cộng hòa, tác phẩm nổi tiếng nhất của Plato.

(17) (1908-1989) Nhạc trưởng người Áo, chỉ huy chính của dàn nhạc Berlin Philharmonic trong vòng 35 năm, một trong những nhạc trưởng vĩ đại nhất thế kỷ XX.

« Lùi
Tiến »