Cuối Trời Hợp Tan

Cuối Trời Hợp Tan

Lượt đọc: 1758 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vào truyện
nguyên tác: the amateur marriage

Tất cả những người hàng xóm đều có thể miêu tả lại cảnh gặp nhau lần đầu giữa Michael và Pauline.

Đó là một buổi chiều thứ hai đầu tháng 10 năm 1941. Con đường St. Cassians vẫn nhỏ hẹp như ngày nào. Nó nằm ở phía Đông thành phố Baltimore, hai bên đường là những dãy nhà bé nhỏ chật hẹp san sát nhau, chen lẫn ở giữa là những cửa hàng rộng chỉ bằng phòng khách. Cặp song sinh nhà Golka đội khăn trùm đầu gần như giống nhau, đang đứng bàn luận về những hộp phấn hồng để trong tủ kính hiệu thuốc của nhà Sweda; bà Pozniak tay cầm gói giấy nhỏ màu nâu bước ra khỏi cửa hiệu ngũ kim; chiếc xe hơi Ford đời B của ông Kostka vừa chạy tới, tiếp đến là một chiếc Cadillac hào nhoáng cũng phóng vèo qua; một lúc sau, anh Ernie Moskowicz hàng thịt cọc cạch đạp chiếc xe cũ kỹ chạy ngang qua.

Cửa hiệu tạp hóa nhà Anton nhỏ hẹp và mờ tối chất đầy hàng hóa. Trong đó, có một quầy hàng bằng gỗ đặt theo hình chữ L, còn hàng hóa trên giá xếp cao đụng cả trần nhà thấp bé. Mẹ Michael đang gói hai hộp đậu rồi đưa cho bà Brunek với vẻ mặt lạnh như tiền, thậm chí chẳng thèm nói lấy một câu “Hẹn gặp lại quý khách”. Con bà Brunek - chẳng biết là Carl, Paul hay Peter, bởi chúng giống nhau như khuôn đúc. Một miếng ván bên cạnh chỗ để thực phẩm ngũ cốc kêu ken két, toàn bộ khung sườn của căn nhà cũ kỹ này lại vùi sâu dưới đó.

Michael đang đứng phía sau quầy hàng khá dài bên trái, bận rộn chất từng cục xà phòng hiệu Woodbury lên giá. Lúc đó anh vừa tròn 20 tuổi, dáng người cao cao, quần áo không vừa người, tóc đen nhánh và cắt hơi ngắn, khuôn mặt trông rất gầy guộc, râu ria đen sì, cho dù ngày nào anh cũng cạo nhưng chân râu vẫn lộ ra. Lúc này, anh đang chất xà phòng thành hình kim tự tháp, tầng dưới cùng xếp 5 cục, kế tiếp 4 cục, rồi 3 cục... Mặc cho mẹ anh đã nói nhiều lần rằng, bà không thích kiểu thiết kế giàu tính sáng tạo này, mà chỉ sắp xếp làm sao trông cho vững là được.

Một lát sau, ngoài cửa nghe tiếng leng keng, leng keng. Bất chợt, rầm một tiếng, bốn cô gái xộc vào, tốc độ nhanh như dòng nước xiết, mang theo mùi mồ hôi và mùi khói xe. “Giúp chúng tôi với!”, Wanda Bryk kêu lên. Cô bạn thân Katie Vilna đang khoác vai dìu một cô gái mặc áo khoác đỏ lạ mặt, đồng thời đè chặt chiếc khăn tay trên huyệt thái dương bên phải của cô ta. “Cô ấy bị thương! Cần được cấp cứu!”. Wanda gào to.

Michael dừng công việc đang làm. Bà Brunek hoảng sợ dùng một tay che mặt. Carl, Paul hay Peter “huýt” một tiếng dài. Nhưng bà Anton lại nói không chớp mắt: “Sao lại đưa cô ta đến đây?”, bà hỏi, “Phải đưa đến trạm y tế chứ”.

“Trạm y tế đóng cửa rồi”. Katie đáp. “Đóng cửa?”.

“Ngoài cửa để bảng như thế. Ông Sweda gia nhập đội cảnh vệ bờ biển rồi”.

“Ông ấy gia nhập cái gì?”.

Cô gái mặc áo khoác đỏ vẫn rất xinh đẹp, dù máu có chảy xuống một bên tai. Cô ấy cao hơn hai cô gái nhà hàng xóm, dáng người thon thả, trên mái tóc nâu sậm là chiếc mũ len có trang trí một chiếc lá, vành môi trên rất rõ nét, tựa như dùng bút vẽ vậy. Michael bước từ phía sau quầy ra. “Chuyện gì thế?”, anh vừa hỏi vừa chăm chăm nhìn cô gái.

“Lấy băng keo cá nhân cho cô ấy! Mang thuốc sát trùng ra đây!”, Wanda Bryk nói với giọng gần như ra lệnh. Cô là bạn học từ thời cấp I của Michael, nên rất thân thiết và dường như lúc nào cũng cứ tùy ý sai khiến anh vậy.

Cô gái áo đỏ nói: “Tôi nhảy xuống từ chiếc xe đang chạy”.

Giọng cô thấp trầm và hơi khàn, trái ngược hẳn với giọng điệu nghe mà nổi nóng của Wanda, làm Michael sững sờ. Mắt cô màu lam tím, Michael nhìn và gắng sức làm động tác nuốt nước bọt.

“Trên đường Dubrowski có một đoàn diễu hành”, Katie nói, “Mọi người nghe nói gì chưa? Sáu anh con trai nhà Szapp cùng với nhóm bạn của họ đều tham gia nhập ngũ rồi. Họ làm băng-rôn với dòng chữ - ‘Cẩn thận đấy, bọn Nhật! Con trai nhà Szapp đến đây!’. Khi tiễn họ lên đường, họ thu hút một đám người rất đông và làm cho giao thông bị tắc nghẽn. Khi đó, người Pauline đang trên đường tan sở về nhà, thấy đám đông, cô ấy liền nhảy từ một chiếc xe đang chạy băng băng xuống đường, tham gia vào đoàn diễu hành!”.

Nếu tắc nghẽn giao thông, xe trên đường chắc chắn không thể chạy nhanh được, nhưng chẳng ai biết rõ sự thật này. Bà Brunek lầu bầu vẻ đồng tình. Carl, Paul hay Peter hỏi: “Mẹ ơi, con đi được không? Con đi được không? Con có thể đi xem đoàn diễu hành không?”.

“Tôi thấy chúng ta nên ủng hộ thanh niên hết mình”. Pauline giải thích với Michael.

Michael lại nuốt nước bọt lần nữa, nói: “Ồ, dĩ nhiên rồi”.

“Nhưng tôi bị thương thế này, chẳng giúp được gì thanh niên đâu”. Cô gái cầm khăn tay nói. Qua giọng điệu khoan dung đó, có thể biết được cô và Pauline là bạn. Nhưng cô không gây chú ý như Pauline - mái tóc nâu, sắc mặt bình thản, đôi chân mày dài và phẳng, trông cô có vẻ thiếu lòng nhiệt tình.

“Chắc cô ấy va đầu vào cột điện”, Wanda nói, “Lúc đó hỗn loại thế, ai mà biết được chuyện gì xảy ra. Cô ấy ngã xuống ngay bên chân chúng tôi, Anna ở sau cô ấy một đoạn. Rồi tôi hét lên: ‘Trời ạ! Bạn sao thế?’, phải có ai đó giúp, không thể để cô ấy chảy máu đến chết. Ở đây cả băng keo cá nhân cũng không có sao?”.

“Đây có phải hiệu thuốc đâu”. Bà Anton nói, “Siweda nghĩ gì vậy? Chí ít ông ấy cũng 35 tuổi rồi còn bắt chước người ta đi lính!”.

Cùng lúc đó, Michael quay trở vào chỗ mẹ anh đứng phía sau quầy hàng - cuối quầy hàng là chỗ tính tiền. Anh khom lưng, sau đó biến mất một lúc, rồi lại xuất hiện trước mặt mọi người, tay cầm một hộp thuốc lá. “Bông băng”. Anh giải thích.

Trong đó, không phải băng keo cá nhân, mà là loại bông gòn cuộn, từ lâu mọi người đã không dùng nữa, gói trong tờ giấy mỏng màu xanh đậm, màu giấy gói gần giống với màu mắt của Pauline. Còn có thêm một cuộn băng keo trắng và một chai thuốc sát trùng màu nâu đỏ. Wanda chạy đến giành lấy, nhưng Michael không đưa, mà tự xé lấy một nhúm bông gòn rồi thấm nước sát trùng, sau đó tiến đến trước mặt Pauline. “Để tôi xem nào”. Anh nói.

Cửa hiệu bỗng nhiên im lặng. Dường như mọi người đều hiểu đây là khoảnh khắc quan trọng, cả cô gái cầm khăn tay cũng thế. Wanda bảo cô ấy tên Anna. Dù lúc đó, Anna vẫn chưa biết Michael Anton là chàng trai bảo thủ nhất được cả vùng công nhận. Cô lấy khăn tay ra khỏi thái dương của Pauline. Trước tiên Michael ra sức lấy cánh hoa ra khỏi tóc Pauline, sau đó bắt đầu nhẹ nhàng sát trùng vết thương. Pauline đứng yên, chẳng cử động.

Vết thương rất dài nhưng không sâu lắm, bắt đầu khép miệng rồi. “A”, bà Brunek nói, “không cần phải may”.

“Chúng ta không thể xác định được!”. Wanda nói, không lẽ nó lại đơn giản thế.

Nhưng Michael khẳng định: “Cô ấy không sao đâu”. Nói xong, anh lại xé một nhúm bông gòn đặt lên thái dương của Pauline, sau đó dán băng keo theo hình chữ thập.

Giờ trông Pauline tựa như người bị hại bởi một cuộc chiến trong truyện tranh. Dường như bản thân cô cũng ý thức được điều này và cô bật cười. Khi Pauline cười, mọi người mới phát hiện cô có lúm đồng tiền. “Cám ơn rất nhiều”, cô nói với Michael, “anh đi xem diễu hành với chúng tôi nhé”.

Anh trả lời: “Được”.

Mọi chuyện đều diễn ra rất tự nhiên.

“Con đi chung được không?”, cậu con trai nhà Brunek hỏi mẹ, “Con đi được không mẹ? Năn nỉ mẹ mà!”.

Nhưng bà Brunek lại nói: “Suỵt!”.

“Vậy ai trông chừng cửa hiệu?”, bà Anton hỏi Michael. Dường như anh không nghe bà hỏi, mà quay vào lấy áo khoác mắc trên giá trong góc phòng. Đó là áo jacket kiểu học sinh - một chiếc áo carô xám đen rộng lớn. Anh thu người mặc áo vào, nút cũng không cài. “Chuẩn bị xong chưa?”, anh hỏi mấy cô gái đứng bên cạnh.

Những người khác đều nhìn anh từ sau lưng. Mẹ anh, bà Brunek và Carl, Paul hoặc Peter gì đó và cả cô Pelowski vóc người nhỏ nhắn đã có tuổi, đến đúng lúc Michael và bốn cô gái chạy như bay ra ngoài. “Chuyện gì thế?”, cô Pelowski hỏi, “Rốt cuộc là chuyện gì?... Họ đi đâu vậy?”.

Michael chẳng thèm ngó lại, anh đã chạy ra đến ngoài đường. Ba cô gái theo sát phía sau, còn một cô ở ngay cạnh anh. Cô nắm chặt lấy cánh tay trái của Michael, mặc chiếc áo khoác đỏ rực chạy như bay bên cạnh.

Cô Pelowski nhìn theo và nghĩ rằng Michael đã hết phương cứu chữa.

Ở đường Dubrowski, đoàn người diễu hành đã đông như kiến. Có rất nhiều thanh niên đi giữa vỉa hè, nhưng họ vẫn mặc quần áo bình dân, họ diễu hành mà trông chẳng thống nhất bước chân của đoàn người. Cậu cả nhà Piazy đội chiếc mũ hải quân mà John từng đội trong một trận chiến; một anh chàng khác chẳng biết tên gì, trong lúc vội vã đã khoác lên vai một tấm chăn quân dụng tựa như chiếc áo choàng. Đây là một tốp người lên đường nhập ngũ, áo quần rách rưới, đội hình tán loạn, bước đi cũng không đồng nhất, thêm vào đó, do trời giá rét, mặt họ ửng đỏ, còn sụt sùi nước mũi.

Dù vậy, mà lòng nhiệt huyết của họ vẫn dâng trào. Họ vẫy băng-rôn tự làm, vẫy cờ Mỹ và bản tin trang đầu của tờ báo “Baltimore Sun”; họ hò reo vì bài diễn thuyết đặc sắc - bất kể là một mẩu chuyện hay một câu nói xúc động lòng người đều vang lên trên đỉnh đầu họ. “Các con sẽ về trước dịp năm mới!”, một người đàn ông đeo chụp tai, chống nạnh hô lớn, “Năm mới! Muôn năm!”. Đoàn diễu hành tiến bước xuyên qua đám đông.

Khi Michael Anton và bốn cô gái xuất hiện, mọi người cứ ngỡ anh cũng tham gia nhập ngũ. “Gia nhập vào họ đi, Michael!”, một người gào lên. Vợ John Piazy nói: “Ồ, không được! Mẹ cậu ấy sẽ chết vì sốc đó! Tội nghiệp bà ta!”.

Cô gái mặc áo khoác đỏ hỏi: “Anh có tham gia không, Michael?”. Tuy cô là người ngoài cuộc, nhưng lại rất gây chú ý, chiếc áo khoác đỏ tôn thêm làn da trắng hồng tự nhiên của cô. Chả trách trước khi nói chuyện, Michael quan sát cô rất lâu.

“Ồ”, cuối cùng anh lên tiếng, sau đó lại nhún nhún vai, “Ồ, dĩ nhiên là tôi tham gia!”, anh lại nói tiếp.

Mọi người đứng gần đó đều reo hò đến đinh tai. Wanda Bryk đẩy Michael ra ngoài, cho đến khi anh hòa vào đoàn thanh niên. Leo Kazmerow đi bên trái anh, bốn cô gái ở bên phải anh chạy như bay dọc theo vỉa hè. “Chúng tôi yêu anh, Michael!”, Wanda hô to. Katie Vilna gọi với theo: “Về sớm nhé!”, cứ như ngay lúc đó anh lên đường ra chiến trận vậy.

Một thoáng sau, Michael đã bị dòng người cuốn đi, những thanh niên khác thay vào vị trí của anh lúc nãy: có Davey Witt, Joe Dobek và Joey Serge. “Cho bọn Nhật thấy bản lĩnh thật sự của chúng ta nào!”, bố của David hô hào; một người phụ nữ trung niên đứng khóc gào; John Piazy nói với đám đông rằng các con của bà ta chẳng đứa nào biết “sợ” là gì cả; một số người bắt đầu bàn luận đề tài “nghe tin Michael ở đâu”, trong đó có người mãi đến sáng hôm đó mới hay tin, vì trước đó anh ta đưa tang mẹ; một người khác biết tin sớm nhất do nghe radio, nhưng không quan tâm, tưởng rằng lại là trò phá phách của Orson Welles; một người phụ nữ bảo khi chồng gõ cửa, cô đang ngâm mình trong bồn tắm. “Chuyện này quả thật khó tin”, lúc đó chồng cô nói thế. “Tôi nghe xong ngồi luôn trong đó”, người phụ nữ nói, “mãi đến khi nước trong bồn trở nên lạnh ngắt”.

Wanda Bryk, Katie Vilna và cô gái tóc nâu trở về, nhưng cô gái mặc áo đỏ thì không thấy, cô ấy đã biến mất. Có người nói, có thể cô ấy đã cùng Michael Anton theo đội quân ra chiến trường.

Những người quen biết Michael trong đám đông đều chú ý thấy tình cảnh lúc đó. Đây là một việc làm mọi người rất ngạc nhiên, nên họ đã chú ý và bàn luận với nhau trong suốt thời gian dài.

Hôm sau, mọi người hay tin Leo Kazmerow không được quân đội nhận vì anh bị mù màu. Mù màu! Mọi người bàn tán xôn xao, màu sắc liên quan gì đến chuyện chiến đấu bảo vệ đất nước? Trừ khi bảo anh dùng súng ngắm bắn kẻ địch, thì có lẽ anh sẽ không phân biệt được màu quân phục của người đó. Nhưng mọi người đều cho rằng, chắc chắn có cách giúp anh khắc phục khó khăn này, chẳng hạn sắp xếp cho anh lên tàu, đứng sau đại bác, rồi cho anh biết nên nã pháo về hướng nào!

Mẫu đối thoại dưới đây diễn ra trong cửa hiệu tạp hóa nhà Anton. Bà Anton đang nghe điện thoại, vừa gác máy liền có người nói: “Có tin gì về Michael không? Bà Anton?”.

“Tin?”, bà hỏi vặn.

“Cậu ấy đã đi rồi chứ?”.

“Ồ, Michael chẳng đi đâu cả”. Bà trả lời.

Họ nhìn nhau - bà Pozniak, bà Kowalski và cô con gái nhà Kowalski, nhưng chẳng ai muốn tranh biện với bà.

Năm 1935, bà Anton mất chồng, hai năm sau lại mất đứa con cả - Danny Anton khôi ngô tuấn tú. Cậu chết vì một căn bệnh hiểm nghèo. Căn bệnh đó cứ dần nuốt chửng cậu. Bà Anton là người phụ nữ chịu đủ đau thương, ai lại đành lòng trách bà?

Bà Pozniak mua bột yến mạch kem sữa, xà phòng Fels Naphtha và một hộp đậu nướng Heinz; bà Anton đặt hết hàng hóa lên mặt quầy hàng. Bà là người ít cười nói, từ đầu đến chân toàn một màu xám xịt: từ mái tóc xám trắng, làn da chảy xệ u ám trên mặt, đôi mắt vô thần đến cả chiếc áo len kiểu nam trổ lông lù xù phủ dài qua chiếc váy carô đều là một màu xám. Khi tiếp khách, bà có thói quen nhìn qua vai họ, dường như bà đang chờ sự xuất hiện của một người khác, một người nào đó không làm bà thất vọng.

Lúc này, tiếng chuông cửa kêu leng keng. Một cô gái mặc áo khoác đỏ chạy xộc vào, tay cầm một gói giấy mỏng. “Bà Anton phải không ạ?” cô hỏi, “Bà còn nhớ tôi không?”.

Bà Pozniak vẫn chưa mua hàng xong, bà tỏ ý bực mình vì bị cô gái quấy nhiễu.

“Pauline Barclay”, cô gái giải thích, “hôm nọ tôi bị thương ở đầu, con trai bà đã giúp tôi băng vết thương. Để bày tỏ lòng biết ơn, tôi đan cho anh ấy một chiếc khăn choàng cổ, mong là còn kịp”.

“Còn kịp làm gì?”, bà Anton hỏi.

“Michael lên đường ra tiền tuyến rồi sao?”. “Tiền tuyến?”.

Lúc nói hai từ này, bà Anton hơi khựng lại.

Pauline chưa kịp giải thích tường tận, cửa lại leng keng mở ra, Michael mặc chiếc áo jacket carô dạ thô bước vào. Chắc anh đã thấy Pauline trên đường. Điều này thể hiện rõ qua lời chào hỏi vờ như ngạc nhiên của anh: “A! Pauline! Là cô à!”.

“Tôi đan cho anh chiếc khăn choàng cổ”, cô nói, hai tay đưa gói giấy đến trước mặt anh, nghiêng khuôn mặt nhỏ xinh nhìn Michael. Cửa hiệu đã đầy ắp người, họ gần như đứng sát vào nhau và cùng nhìn Micheal.

Michael hỏi: “Cho tôi sao?”. “Choàng nó mà ra tiền tuyến”.

Anh đưa mắt liếc nhanh mẹ một cái, sau đó nắm tay Pauline, “Chúng con ra ngoài uống nước”. Anh nói. “Ơ, tại sao, chẳng nhẽ...”, bà Anton ngạc nhiên.

Nhưng Michael trả lời: “Con sẽ về ngay”, sau đó anh cùng Pauline ra ngoài.

Không hiểu sao, khi họ đi rồi, không gian trong cửa hiệu dường như thoáng rộng hơn lúc nãy rất nhiều.

Bà Pozniak dừng một lúc, mong bà Anton có thể kể với mình những chuyện vui thú vị. Nhưng bà không làm thế, mà chỉ đưa mắt dõi theo bóng con trai, một tay sờ tới sờ lui mép hộp sữa, như muốn làm bốn cạnh của nó càng thẳng hơn.

Bà Pozniak tằng hắng một tiếng, rồi lấy một lọ mật ong.

Tủ kính trong các cửa hiệu trên đường St. Cassians đều sặc màu quân sự. Chỉ trong một đêm, tượng Đức Mẹ Maria, con chó lông xoăn bằng sứ và hoa lụa đều được thay thế bằng cờ Mỹ và cờ ba màu xanh đỏ trắng, trên cuốn sách địa lý của học sinh tiểu học vẽ đầy bản đồ châu Âu.

Ông Kostka hỏi Michael phục vụ cho bộ phận nào trong quân đội. Họ đang trong hiệu thuốc của ông Sweda. Hiệu thuốc đang hoạt động trở lại dưới sự quản lý của anh rể ông Sweda. Michael và Pauline đang ngồi cạnh chiếc bàn đá hoa cương. Mấy ngày qua, mọi người thường thấy họ đi với nhau. Michael trả lời: “Lục quân”. Ông Kostka nói: “Thế à! Tôi còn ngỡ là hải quân chứ”.

“Vâng, nhưng tại cháu say sóng”. Michael nói.

Ông Kostka lại bảo: “Này, quân đội chẳng đưa cậu ra biển bằng xe hơi đâu, biết không nhóc?”.

Michael trông có vẻ hơi ngạc nhiên.

“Vậy khi nào cậu đến trại huấn luyện tân binh?”, ông Kostka hỏi.

Michael dừng một lúc rồi đáp: “Thứ hai”.

“Thứ hai! Giờ đã là thứ bảy rồi đấy. Mẹ cậu thuê người đến cửa hiệu giúp việc chưa?”.

Mọi người đều hiểu rõ bà Anton vẫn chưa biết Michael đã nhập ngũ. Nhưng ai đứng ra nói với bà đây? Ngay cả bà Zack nổi tiếng lắm chuyện cũng tuyên bố không đành lòng làm thế. Ai cũng chờ đích thân Michael nói với bà, nhưng anh lại ngồi đây uống nước với Pauline. Câu trả lời duy nhất của anh là: “Cháu tin chắc mẹ sẽ tìm được ai đó giúp việc trong cửa hiệu”.

Pauline vẫn mặc chiếc áo đỏ, dường như đó là màu yêu thích của cô. Một chiếc áo len dạ đỏ khoác bên ngoài một chiếc áo sơ mi cổ tròn. Cho đến giờ, mọi người chỉ biết cô đến từ phía Bắc khu phố đại lộ Eastern lân cận. Cô không phải là người Công giáo, cô làm nhân viên tiếp tân trong công ty địa ốc của bố cô. Những thông tin này đều do Wanda Bryk cung cấp. Chẳng hiểu vì sao, dạo này cô trở thành bạn thân nhất của Pauline. Theo lời Wanda, Pauline là cô gái tuyệt diệu nhất trong tưởng tượng của cô. Hơn nữa cô ấy còn rất thú vị! Rất hoạt bát! Có điều cô cứ hay giở trò trêu ai đó, nhưng người khác lại có cái nhìn khác về Pauline. Hiện những người đó đang ngồi uống nước trong quán với họ. Chẳng nhẽ bạn nghĩ họ không dỏng tai nghe xem cô nói gì với Michael sao? Họ còn quan sát cô qua tấm kính phía sau quầy hàng. Lúc này, họ thấy cô cúi đầu, nở nụ cười trên môi, cố tình ra vẻ dịu dàng, dùng ngón tay nghịch ống hút, rồi khuấy ly Coca liên hồi. Họ nghe cô thỏ thẻ với Michael rằng cô lo lắng cho sự an nguy của anh mà cả đêm hôm qua không ngủ được. Cô ấy có quyền gì mà lo cho sự an nguy của anh? Cô ấy chưa hề biết gì về anh! Michael là một trong số thanh niên đáng yêu nhất trong khu phố, dù mãi đến giờ họ mới phát hiện thấy anh cũng lãng mạn.

Cô Jabuker khoảng độ trung niên, ngồi uống nước bên quầy hàng với cô Pelowski, miệng huyên thuyên kể lại chuyện cô gặp hôm qua. Sau khi gặp Pauline ở rạp chiếu phim, cô bảo Pauline rất giống Deanna Durbin. “Cô ấy trông giống Durbin đấy chứ, ở một mức độ nào đó”, Jabuker nói, “tôi biết cô ấy là người đẹp tóc vàng, quả thật cô ấy có, ồ, có làn da mịn màng. Nhưng cô đoán xem cô ấy nói gì? ‘Deanna Durbin! Em không giống chị đâu! Em chỉ là em! Chẳng giống ai cả!’”.

“Chậc chậc”, Pelowski thông cảm nói, “cô ấy chỉ muốn bày tỏ cảm tình thôi mà”.

“Nếu ai đó bảo tôi giống Deanna Durbin, tôi sẽ rất vui”.

Cô Pelowski nhún người ngả về phía sau ghế, ngắm nhìn Jabuker thật kỹ. “Ồ, cô có vẻ giống Durbin đấy, nhất là chỗ cằm”. Cô nói.

“Bà mẹ tội nghiệp của cậu ấy, tôi chỉ nghĩ được mỗi điều này thôi. Cô gái đó chẳng có gì, cả quốc tịch cũng không, thậm chí không phải người Ukraina, cũng không phải người Ý! Nếu là người Ý, tôi còn đối phó được, nhưng cô ấy lại mang họ ‘Barclay’! Cô ấy và Michael chẳng có điểm tương đồng nào cả”.

“Giống như Romeo và Juliet”. Cô Pelowski nói.

Hai người phụ nữ suy nghĩ hồi lâu, rồi lại liếc nhìn qua tấm kính. Họ thấy Pauline đang khóc, Michael nghiêng người dựa vào quầy hàng, hai tay ôm lấy đầu Pauline.

“Trông họ rất yêu thương nhau!”, cô Jabuker nói.

Tối đó, nhà Kowalski tổ chức một bữa tiệc tiễn đưa Jerry rất long trọng. Điểm khác là, nhà Kowalski có vẻ rất tưng bừng. Trong suốt một tuần, các nhà khác khi tiễn con lên đường, phần lớn mọi người chỉ ăn một bữa thịnh soạn ở nhà. Còn gia đình Kowalski lại thuê một sảnh đường của khu Warsaw, còn mời Lenny Zee và ban nhạc Dulcetones của anh đến biểu diễn. Bà Kowalski cùng mẹ bận rộn trong bếp, những người đàn ông mặc sức thưởng thức những vại bia lớn. Mọi người ở nhà thờ St. Cassians, St. Stan đều được mời đến.

Dĩ nhiên, mọi người đều đến tham dự. Từ trẻ sơ sinh đến trẻ nhỏ, có cả ông Zynda ngồi trên chiếc xe lăn gỗ mây. Bà Anton cũng đến, mặc chiếc váy xếp ly phối dải lụa, bộ trang phục này càng làm bà trông ảm đạm hơn trước. Michael mặc bộ com lê, trông giống hệt bố anh, xương cổ tay nhô lên lộ bên ngoài tay áo, một miếng băng keo mỏng màu trắng dán vết thương trên mặt anh.

Nhưng Pauline đâu?

Chắc phải có người mời cô ấy rồi, chí ít cũng mời theo cách ám chỉ. “Tùy cậu, cậu có thể hẹn cô ấy đến”. Bà Kowalski nói thế với Michael - ngay trước mặt mẹ anh. Nhưng lúc này chỉ có mấy cô gái nhà hàng xóm ở đó thôi.

Khi vũ khúc Polka đầu tiên vang lên, Katie Vilna đến trước mặt Michael, kéo anh ra sàn nhảy. Cô là người bạo dạn nhất trong số các cô gái. Ngay cả khi Michael tỏ ý từ chối, cô vẫn nắm chặt lấy tay anh không buông. Cuối cùng, Michael đành nhượng bộ, bắt đầu nhảy những bước vụng về theo nhạc, thỉnh thoảng mắt vẫn liếc nhìn ra cửa, dường như đang chờ ai đó đến.

Sảnh hội họp trông như cửa hiệu ngũ kim. Rất nhiều chỗ trên sàn nhà đã bắt đầu rạn nứt, trên trần là rui nhà bằng kim loại và chùm đèn treo cũ kỹ. Bàn chơi bài xếp thành một hàng dọc theo tường, trên phủ vải lanh thêu thủ công. Nhóm những người phụ nữ trung niên tụ lại với nhau, vừa quan sát tỉ mỉ bà Kowalski làm món bánh nhân thịt, vừa xem bà cẩn thận sắp xếp lại mấy cành ngò tây dùng tô điểm món ăn đã bị dập nát.

Khi họ trở về chỗ cũ xem mọi người khiêu vũ - họ có thói quen đan xen các ngón tay vào nhau đặt trước người, trông như đặt dưới tấm tạp dề dù họ không mang tạp dề. Họ bàn luận bước nhảy nhanh nhẹ của ông nội Kowalski; vẻ mặt ủ rũ lộ rõ trên mặt vợ chồng Wysockis (một đôi vợ chồng mới cưới); và - dĩ nhiên - còn xì xầm cả hành vi trơ trẽn đến khó tin của Katie Vilna.

“Tôi dám chắc, cô ta chẳng biết xấu hổ là gì”, bà Golka nói, “nếu con gái tôi theo đuổi đàn ông như thế, tôi thà chết cho xong”.

“Nhưng dù sao, cô ta cũng rất thân với Pauline mà”. “Vậy, Pauline đâu? Tôi không nghĩ cô ấy có mặt ở đây?”.

“Cô ấy không đến đâu”. Wanda tuyên bố.

Chẳng ai chú ý Wanda đến từ lúc nào, bước chân của cô cuốn theo âm nhạc. Cô dùng nĩa ghim một cây xúc xích hun khói cho vào đĩa, nói: “Pauline giận rồi, vì Michael không mời cô ấy”.

“Không mời?”.

“Cô ấy đang ở nhà bố mẹ”. “Nhưng tại sao?”.

“Michael chỉ nghĩ đến cảm nhận của mẹ anh thôi. Mọi người đều biết mẹ anh ấy là người thế nào rồi! Anh bảo Pauline khi đến đây phải tỏ ra như là tình cờ gặp mặt. Lúc đầu cô ấy đồng ý, nhưng sau tôi đoán là cô ấy đã đổi ý. Vì tối hôm đó khi tôi gọi điện đến, cô ấy bảo không muốn đi. Cô ấy luôn cảm thấy tự hào khi có một người con trai ở bên cạnh mình, chứ không phải theo bám anh ta để tạo nên vẻ xấu hổ và bẽ mặt”.

Wanda đứng dậy đi về phía bàn để lấy món tráng miệng. “Ơ, cô ấy đúng đấy”, cuối cùng bà Golka nói, “con gái phải giữ một số nguyên tắc”.

“Cậu ấy chỉ nghĩ cho cảm xúc của mẹ mình thôi”.

“Vậy, cậu ấy làm thế thì được lợi gì? Dù sao Dolly Anton đã qua đời, Michael rồi cũng trở thành lão già độc thân lam lũ thôi”.

“Trời ạ!” bà Pozniak nói, “Cậu ấy mới 20 tuổi! Phải một thời gian rất dài cậu ấy mới trở thành lão già độc thân lam lũ đấy!”.

Dường như bà Golka không mấy hài lòng, bà vẫn nhìn chằm chằm bóng dáng Michael. “Nhưng thật ra, cậu ấy có biết hay không?”.

“Biết chuyện gì?”.

“Cậu ấy có biết Pauline giận không? Wanda có nói với cậu ấy không?”.

“Wanda!” một người trong số họ cất cao giọng gọi. “Wanda Bryk!”.

Wanda quay người lại với cái đĩa cầm trên tay.

“Cô có nói cho Michael biết Pauline không đến không?”. “Không, Pauline muốn anh ấy lo lắng”. Nói xong, Wanda quay đi lấy một miếng bánh ngọt.

Lại một sự trầm lắng. Sau đó, đám phụ nữ cùng đồng thanh: “Ồ”.

Ban nhạc Dulcetones dừng chơi. Ông Kowalski gõ nhẹ vào micrô, tạo một tiếng vọng rất lớn trong sảnh. “Tôi thay mặt Barbara...” ông nói, môi ông để quá gần micrô, nên lúc phát âm tựa như bom nổ, thế là có mấy người dùng tay bịt tai lại. Cùng lúc đó, bọn trẻ đang chơi trò “vịt ngỗng”, những đứa trẻ sơ sinh thì nũng nịu nằm trong áo khoác của mẹ, mấy cậu thanh niên ngồi gần vại bia đang khoe khoang luôn mồm, âm thanh ngày càng lớn.

Vì thế, khi Michael lén trốn ra ngoài mà không ai chú ý đến anh. Có thể anh không lén lút mà ngẩng cao đầu sải bước đi ra. Bởi vì ai cũng chú ý chuyện xảy ra trong sảnh, thậm chí cả mẹ anh. Mọi người đang chúc Jerry thượng lộ bình an, cha xứ đang cầu nguyện, tiếng hò reo và tiếng vỗ tay liên tiếp.

Nhưng mọi người đều chú ý khi thấy Michael thản nhiên trở về. Anh đi về hướng đám đông, dũng cảm kéo tay Pauline, bước qua từng cánh cửa gỗ to lớn. Khi anh giúp cô cởi áo khoác, mọi người thấy cô mặc một chiếc váy đen bó sát, trông cô khác hẳn với những cô gái mặc áo nịt ngực buộc dây, áo khoác dài và váy thêu sặc sỡ. Đôi mắt cô ấy cũng gây chú ý với mọi người. Đó là đôi mắt long lanh, với những sợi lông mi dài. Cô nhìn Wanda Bryk mỉm cười. Đó là nụ cười đượm buồn, dường như cô đang kiềm nén cảm xúc của mình. Có lẽ cô vừa mới khóc xong.

Ồ, rõ ràng, cô và Michael đã nói chuyện với nhau rồi. Cô quay người, nhìn Michael đầy hy vọng. Michael lấy hết can đảm, một lần nữa nắm lấy tay cô, đi sâu vào trong sảnh, ngang qua chỗ Jerry đứng - anh ta nở nụ cười bâng quơ, liếc mắt đưa tình với Katie, đến trước đám phụ nữ đang ngồi trên ghế xếp. “Mẹ”, anh nói, “mẹ còn nhớ Pauline chứ!”.

Mẹ anh hai tay bưng một cái đĩa đặt trên đùi - trên đĩa chỉ còn mỗi một miếng củ cải đường nổi lềnh bềnh trong nước sốt Horseradish, lạnh lùng nhìn anh.

“Pauline... là cô gái thích hợp với con”. Anh nói với bà. Trời đã khuya, nhưng tiếng ồn trong sảnh vẫn đinh tai nhức óc. Những đứa trẻ chạy nhảy không biết mệt mỏi.

Còn chỗ bà Anton ngồi lại bao trùm một bầu không khí trầm lắng, tựa như một hòn đá vẫn đứng im trong con sóng gợn.

Pauline tiến về phía trước, nở một nụ cười tự đáy lòng, lúm đồng tiền của cô sâu và duyên dáng. “Bác Anton”, cô nói, “chúng ta sẽ trở thành bạn thân! Chúng ta có thể bầu bạn khi Michael đi vắng”.

Bà Anton hỏi: “Cô bảo ai đi vắng?”.

Pauline vẫn tiếp tục cười với bà. Dù lông mi ươn ướt, cô vẫn mang đến niềm vui tự nhiên cho mọi người. Làn da của cô mịn màng tựa như một cánh hoa xuân.

“Mẹ ơi, con nhập ngũ rồi”. Michael nói.

Bà Anton sửng người. Sau đó bà đứng dậy, nhưng không vững. Người phụ nữ ngồi bên liền vội đứng lên, đỡ lấy cái đĩa trong tay bà. Bà Anton chẳng thèm để ý đến cái đĩa cầm trong tay. “Con không được đi”, bà nói với Michael, “giờ mẹ chỉ có con, họ không để con tham gia đâu”.

“Con đã tham gia quân đội rồi, thứ hai sẽ đến trình diện đội trưởng”.

Bà Anton ngất lịm đi.

Bà ngã xuống với tư thế thẳng đứng rất kỳ lạ, không ngã ra sau, mà từ từ ngã xuống theo nếp gấp của váy. Mọi người vốn có thể đỡ được, nhưng động tác của họ lại chậm chạp lạ lùng. Ngay cả Michael cũng chỉ biết thừ người đứng nhìn như khúc gỗ, mãi đến khi bà ngã xuống sàn. Sau đó anh gọi: “Mẹ ơi?” rồi quỳ ngay xuống đất, vỗ nhẹ lên hai má bà. “Mẹ ơi! Nói gì với con đi! Mẹ tỉnh lại đi!”.

“Bảo mọi người đứng lui ra, cho bà ấy ít không khí trong lành”, đám phụ nữ nhắc anh. Họ đứng dậy, kéo ghế ra, đồng thời “suỵt” một tiếng đuổi bọn đàn ông bên cạnh đi. “Để bà ấy nằm thẳng người”. Bà Pozniak kéo Pauline ra một bên; bà Golka bảo một đứa con song sinh của mình đi lấy nước.

“Gọi bác sĩ mau! Cấp cứu!”. Michael hét lớn, nhưng đám phụ nữ nói: “Bà ấy không sao đâu”. Một người trong số họ - bà Serge, một quả phụ - phát ra tiếng thở dài nặng nề, sau đó nói: “Để bà ấy nghỉ ngơi đi, thật tội nghiệp”.

Bà Anton mở mắt nhìn Michael, rồi lại nhắm mắt. Hai người phụ nữ đỡ bà ngồi dậy, lát sau họ dìu bà lên ghế và luôn miệng nói: “Bà không sao đâu. Đừng căng thẳng, thư giãn nào”. Nhưng vừa ngồi vào ghế, bà Anton liền khom người, hai tay ôm mặt. Bà Pozniak vỗ nhẹ lên vai bà.

Michael đứng ở một bên, tay nắm chặt nắm đấm để dưới nách. Luôn có người vỗ vai an ủi anh, nhưng chẳng có hiệu quả gì. Pauline lại biến mất, ngay cả Wanda ở bên cạnh cũng không thấy cô rời khỏi.

Ban nhạc Dulcetones vẫn tiếp tục diễn tấu, nhưng có vẻ nhạt nhẽo; mấy đứa trẻ vẫn nhốn nháo; Jerry Kowalski há hốc mồm sững sờ trước micrô. Khói thuốc lá bay quanh bên dưới rui nhà gỗ cao cao. Mùi mồ hôi xen lẫn với mùi dưa muối lan tỏa trong không khí. Thức ăn trên bàn trông như vừa bị cướp - cái đĩa lớn để cá gần như trống rỗng, vẫn còn đầy nước sốt màu nâu, thìa muỗng múc thức ăn làm ố tấm vải lanh sạch sẽ, cành ngò tây ướt dập nát, chẳng có chút hấp dẫn.

Về sau, mọi người đều cho rằng bữa tiệc lần đó là một sai lầm. Họ bảo, chẳng ai còn tâm trạng ăn mừng khi con họ rời nhà ra chiến trường, thậm chí sẽ tử trận.

Hôm sau, cửa sổ trên gác cửa hiệu Anton đóng chặt im lìm, ngay cả phía sau rèm cửa viền hoa cũng không thấy một kẽ hở. Vì là chủ nhật, Michael và mẹ đều không đi lễ nhà thờ, nhưng mọi người chẳng lấy đó làm lạ. Sau khi Danny bệnh, dường như nhà Anton đã có ý nghĩ từ bỏ tín ngưỡng.

Trong khu dân cư này, mọi người thường không ngẫu nhiên đến thăm nhau - ngoài họ hàng thân thích, chẳng có cuộc viếng thăm nào. Nhà cửa xung quanh đều quá nhỏ hẹp, khoảng cách cũng khá gần, hàng xóm láng giềng không có lấy một bụi cây để bảo vệ hàng rào nhà họ. Vì vậy, mọi người đều muốn tránh thân nhau quá. Thế nhưng, xế chiều hôm đó, bà Nowal ở đối diện gọi điện cho bà Anton để hỏi thăm tình trạng sức khỏe và động viên bà. Đồng thời, xem bà có ở nhà không để mang một ít thức ăn sấy khô sang thăm, nhưng chẳng ai nghe điện thoại cả. Lát sau, Nowal nói với bà Kostka rằng tôi dám chắc bên nhà họ có người nhưng không trả lời máy. Chúng ta biết rằng thỉnh thoảng ai cũng đều có cảm giác đó. Chuông đổ 8 - 9 tiếng... hai bên đầu dây đều thận trọng dè chừng.

Nhưng, đây chỉ là suy đoán của bà Nowal thôi, có lẽ bà Anton ra ngoài rồi. Đúng là bà Anton có một người anh rể không thích qua lại với ai cả, ông ta mở một cửa hiệu bán hàng khô gần công viên Patterson. Nhưng khả năng bà ra ngoài không nhiều lắm. Nếu sự thật là thế, chắc chắn sẽ có người thấy họ đi dạo chung.

Tối hôm đó, bà Nowal mấy lần nhìn qua bên kia đường, nhưng chỉ thấy tủ kính cửa hiệu tạp hóa tối đèn và rèm che kín cửa sổ, 15 hộp xà phòng hiệu Campbell xếp ngay ngắn theo hình kim tự tháp mà Michael yêu thích, phía trước đó treo mấy chữ vàng gợn sóng “Cửa hiệu tạp hóa Anton”.

Quân đội thuê một chiếc xe buýt chở tân binh đến Virginia. Đây là xe buýt chở học sinh, thùng xe đã được sơn lại thành màu vàng cỏ úa ảm đạm. 8 giờ sáng thứ hai, xe dừng ở điểm quy định chờ đón. Rất nhiều ông bố bà mẹ tốp năm tốp ba đi đến, lê bước chân chậm chạp, chần chừ do dự. Ít nhất mỗi nhà có một thanh niên đi trước dẫn đường. Những thanh niên này khiêng thùng giấy hoặc thùng da. Người nhà của họ tay cầm hộp cơm trưa, hộp bánh kem và bình giữ ấm. Trời hôm nay âm u và lạnh, còn có gió thổi từng cơn, nhưng dường như chẳng ai nôn nóng bảo các chàng trai lên xe. Họ tụ năm tụ bảy đứng với nhau, giữ chặt hành lý trong tay và không ngừng dậm chân giữ ấm. Trong đó có vài gia đình biết nhau, nhưng phần lớn đều xa lạ. Dù vậy, họ vẫn chào hỏi nhau. Đầu tiên, họ nhanh chóng nở nụ cười dò xét với chàng thanh niên, sau đó chuyển dời ánh mắt đi chỗ khác, để các gia đình đó có được thời gian riêng tư bên nhau.

Cả nhà Kowalski đưa tiễn Jerry, người yêu của anh cũng đến, đi cùng còn có bà Sweda, và em bà Kowalski. Một lúc sau, cả nhà Witz, bà Serge và Joey cũng đến.

Bà Anton và Michael cũng có mặt.

Bà Anton trông u buồn hơn trước nhiều. Khi hàng xóm chào hỏi, bà cũng chẳng màng bận tâm. Bà mặc áo khoác nỉ hoa màu xám, đôi vớ dài nằm trong một đôi giày da màu nâu, hai tay đút sâu vào túi. Michael tự cầm lấy hộp cơm trưa, đeo một túi du lịch màu đen đã nổi mốc, trên cổ vẫn choàng chiếc khăn do Pauline đan - xen lẫn hai màu trắng và xanh hải quân, hầu hết các cô hàng xóm đều nghĩ kiểu khăn đấy quá đơn giản.

Họ vừa đến nơi, một người đàn ông to khỏe mặc quân phục bước vụng về từ trên xe buýt xuống, tay cầm một tập hồ sơ. Trước đó, chẳng ai biết ông ở trên đấy. Họ chỉ thấy mỗi tài xế đang để xe nổ máy ngồi sau tay lái, sắc mặt lạnh lùng nhìn vào khoảng không phía trước.

“Được rồi, các anh bạn nhỏ”, người đàn ông mặc quân phục nói lớn, “hãy xếp hàng ở bên trái tôi”.

Cả tân binh và người thân của họ đều bắt đầu tán loạn dưới sự chỉ dẫn của ông. Nhưng Michael vẫn đứng yên tại chỗ, mắt nhìn chằm chằm về hướng Bắc, điểm giao nhau giữa đường Broadway và đường Eastern.

“Tiến về phía trước nào các anh bạn nhỏ và nói tạm biệt đi”.

Ông Kowalski cầm chiếc máy ảnh Kodak chụp vài tấm cho Jerry. Trong ảnh, Jerry mỉm cười cứng nhắc, chẳng chút tự nhiên. Em gái Jerry nổi lên tiếng kèn tiến quân, bạn gái dang rộng vòng tay ôm và úp mặt vào trong cổ anh.

“Chúng ta đi thôi các chàng trai, nhanh lên nào”. Nhưng ngay lúc đó, Pauline chạy đến từ hướng Đông đường St. Cassians. Cô vẫn mặc áo khoác đỏ, nên từ xa mọi người đã nhận ra. Không chờ Pauline lên tiếng, mọi người đã gọi: “Michael! Nhìn kìa!”. Michael liền quay đầu nhìn về phía Pauline. Khi cô chạy gần đến, mọi người mới biết tại sao cô không kêu lên: cô sắp hụt hơi rồi, thật tội nghiệp. Cô thở hổn hển, tóc phồng lên, mặt đỏ như gấc - giờ không phải lúc cô đẹp nhất, nhưng có ai để ý chuyện này? Cô đưa hai tay ra, Michael cũng bỏ hành lý xuống, bắt đầu chạy tới. Khi họ đến bên nhau, Michael liền ôm lấy cô, lúc này hai chân cô đã rời khỏi mặt đất.

Mọi người đứng nhìn đều thở phào nhẹ nhõm - mọi người đều thế, ngoài mẹ anh. Nhưng lúc này đây, bà cũng đứng nhìn với vẻ mặt gần như thông cảm. Sao bà không thông cảm cho được? Họ ôm chặt lấy nhau, cứ như không bao giờ muốn rời xa. Pauline hổn hển nói: “... Tưởng anh đi tàu hỏa, nhưng... đến nhà anh... đến nhà Wanda... cuối cùng hỏi một người đi đường, sau đó... Michael, xin lỗi, em xin lỗi!”.

“Tất cả lên xe!”, người mặc quân phục gào lên. Michael buông Pauline ra. Anh quay lại lấy hành lý, cúi đầu cho mẹ hôn, rồi quay nhìn Pauline một cái, sau đó liền lên xe.

Khi xe chạy, Pauline và bà Anton đứng song song nhau, hai người đều vẫy tay chào anh với tình yêu chan chứa.

Giữa các lá cờ trong tủ kính cửa hàng là hang đá bằng gỗ, ông già Noel làm bằng thạch cao và cây thông Noel cao 10 feet (đơn vị đo chiều dài Anh bằng 0,3048m) màu xanh hình chóp cao có điểm một ít hoa tuyết trắng tựa như bọt xà phòng. Thiên thần tuyết nổi tiếng của bà Szapp là tượng thủy tinh làm bằng thủ công cũng dành cho mình một chỗ dưới lá cọ. Bà Brunek đặt tám con tuần lộc bằng sứ lên tấm bản đồ nước Tiệp Khắc, để chúng đi xuyên trên đó.

Số thanh niên nhập ngũ dường như không một ai về mừng Giáng sinh. Dù sao họ cũng là lính mới, phải giữ cương vị của mình. Có lẽ, người thân của họ ai cũng đều phải chuẩn bị tâm lý cho việc này. Nhưng họ vẫn bàng hoàng khi sự thật này đến tai. Con hẻm nhỏ bỗng chốc yên tĩnh lạ thường; phòng ngủ của con họ trông rất trống trải; bàn ăn cũng tĩnh lặng và buồn tẻ - không còn thấy cảnh các cậu con trai bổ nhào trước bàn ăn tranh nhau miếng cánh gà cuối cùng, cũng chẳng còn bắt gặp cảnh tượng chúng uống ực một hơi hết cả chai sữa.

Thậm chí, thư cũng ngày càng ít đi. Lá thư cũng cứ như là cùng một người viết vậy. “Trong đội của con có mấy cậu được lắm” hoặc “Mẹ chẳng tưởng tượng nổi chúng con phải khuân hàng tấn thùng vũ khí đấy” hoặc “Nhớ những tối chủ nhật ngồi bên radio cùng gia đình quá”. Những lời này chỉ khác nhau đôi chút, nhưng vẫn được mọi người đọc to trong cửa hiệu tạp hóa. Cả bà Wittur, bà Serge, bà Kowalski, bà Dorbek... Dù con họ không có điểm tương đồng, ít nhất là cho đến lúc này.

“Con có thể bịt mắt tháo lắp súng”, Michael Anton viết trong thư - Michael - rất yên bình nhưng lại không thiếu lòng nhiệt tình! Cũng giống như Joey Serge và Davey Witt. Họ không chỉ miêu tả những trải nghiệm giống nhau, nấu bếp, tiêm thuốc thương hàn, đôi chân nổi bọng nước, mà cách dùng từ cũng rất giống - họ thích dùng những từ địa phương, cách diễn đạt sôi nổi, dùng quá nhiều dấu ngoặc kép nhưng dấu phẩy lại không có. “Hôm qua hành quân 20 dặm, mẹ biết không chân con đau nhất đó... Phải chi giờ mẹ thấy được con thu dọn giường gối gọn gàng sạch sẽ thế nào, có một ‘trung sĩ’ đứng kế bên giám sát con đấy”.

Có lẽ thư họ viết cho người yêu đặc biệt hơn chứ không như thế này, nào ai biết được? Chỉ duy mỗi ý “anh yêu em” và “anh nhớ em” cũng có rất nhiều cách diễn đạt. Nhưng người yêu của họ lại không chịu cho người khác xem thư, chỉ tiết lộ một vài câu trong đó, rồi đi kể với mấy cô bạn. Thế nên, đám phụ nữ trung niên chỉ đành ngồi đoán mò nội dung trong thư thôi.

Katie nói với Wanda, ngày nào Michael cũng viết thư cho Pauline, có khi một ngày viết hai lần, nhưng nội dung họ tiết lộ cũng chẳng có gì đặc biệt. Anh ấy không thích thức ăn ở đó; anh chàng giường bên cứ ngáy suốt, giống như tiếng còi xe; cuộc sống trong quân đội lúc này là chiến đầu bằng tính mạng, lúc khác thì nhàn rỗi ngồi chờ, rồi lại chờ, hôm sau vẫn tiếp tục chờ, chờ chiến tranh tự kết thúc. Giờ đã bước sang năm mới, năm 1942, nhưng mọi người cứ ngỡ mấy tuần trước họ đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trở về rồi.

Thông thường mỗi chiều, ba cô gái đều ghé lại cửa hiệu tạp hóa nhà Anton một lúc - Katie, Wanda và Pauline, thỉnh thoảng Anna bạn Pauline cũng đến. “Bác vẫn khỏe chứ, bác Anton?”. Pauline quan tâm hỏi han, “Michael nhờ cháu chăm sóc bác, anh ấy rất lo cho sức khỏe của bác. Dạo này bác có nhận được thư của anh ấy không?”.

Bà Anton vẫn âu sầu như mọi khi. “Nếu nó lo cho tôi như thế thì nó đã không nhập ngũ”. Bà nói ngay. Nhưng những ai quen biết bà đều phát hiện thấy bà có vẻ vui và thoải mái hơn trước. Sau đó bà hỏi: “Tôi đoán chắc cô có nhận thư của nó?”, bà thích hỏi loanh quanh như thế.

“Vâng ạ, sáng nay cháu có nhận được một bức, anh ấy nói anh ấy vẫn khỏe”.

Sau khi mấy cô gái rời khỏi, đám phụ nữ còn lại liền an ủi bà Anton rằng Pauline có ý tốt ghé thăm bà. “Cô ấy chỉ muốn thân thiện với bà thôi, bà cũng nên tốt với cô ấy chút đi”.

Nhưng bà Anton nói: “Hứ, làm việc trong công ty của bố, dĩ nhiên cô ta rảnh rỗi rồi, tôi nghĩ thế đấy”.

Bà Anton thuê một người da đen thay Michael giúp trông nom cửa hiệu tên là Eustace. Anh ta gầy gò nhỏ bé, làn da nâu tựa như miếng bánh mì nướng, không biết chính xác tuổi, mặc áo khoác to dày, thường phủ qua nửa chiếc quần yếm (quần có miếng che ngực của công nhân). Mỗi lần bà Anton sai anh làm gì, anh vừa đáp: “Vâng, thưa bà” vừa trang nghiêm đặt một tay lên mép mũ tỏ vẻ cung kính. Nhưng bà lại bảo với mọi người phải sớm cho anh ta nghỉ việc. “Đây là công việc gia đình”, bà nói, “tôi rất khó chịu khi phải thuê một người lạ! Tôi chỉ mong Michael về thôi. Mà sao mãi nó vẫn chưa về thế”.

Tháng hai, cuối cùng anh đã về nhà, nhưng chỉ ở lại một thời gian ngắn. Giờ đây mọi người đã quen với việc thấy người mặc quân phục đi lại trên phố. Con của họ lúc về thăm nhà đều để mái tóc ngắn đến bất ngờ, mặc quân phục bằng vải bố. Michael thay đổi nhiều hơn những thanh niên khác. Trông anh tiều tụy vô cùng, mặt hóp vào lộ rõ xương gò má, dưới hốc mắt hơi sưng. Rõ ràng anh không còn quan tâm mẹ như trước. Trong cửa hiệu chẳng thấy bóng dáng anh đâu. Dù có người chào hỏi trên đường, anh vẫn thơ thẩn như trên mây. Xem ra, mỗi một dây thần kinh trên người anh đều tập trung ở nơi Pauline.

Thật ra, mọi người cũng đã quen với những mối tình lãng mạn nồng cháy trong thời chiến. Ba cậu con trai nhà Szapp đều kết hôn chỉ trong một tuần! Nhưng do Pauline không ở trên con phố này, nên Michael hầu như vội vã trở về rồi biến mất trong nháy mắt. Phần lớn thời gian anh ở nhà cô ấy. Theo lời Wanda, người nhà cô ấy rất mến anh. Họ rất yêu quý và hoan nghênh anh, vì bố mẹ cô chỉ có bốn người con gái, trong đó chỉ mới có một người lấy chồng. Bất kể lúc nào, chỉ cần anh đến chơi, người nhà cô đều mời anh ở lại dùng bữa, hơn nữa họ quan tâm chăm sóc anh rất đặc biệt. Dĩ nhiên Pauline vui như đang trên thiên đường. Theo các tin đồn, với Michael đây là năm ngày tươi đẹp, không âu sầu lo lắng. Sau đó, anh lên tàu đến California học khóa huấn luyện đặc biệt. Bà Anton ở lại nhà trông càng cô đơn, lẻ loi hơn trước đây. Bà cũng không còn nhắc chuyện cho Eustace nghỉ việc nữa.

Bà Szapp dò hỏi bà Anton có phải Michael và Pauline đang tính chuyện kết hôn không. Bà làm thế rõ ràng chẳng khéo léo chút nào. Lúc đó khách trong cửa hiệu đều có vẻ căng thẳng, nhưng phản ứng của bà Anton lại làm mọi người rất ngạc nhiên. “Đúng vậy”, bà bình thản trả lời, “nó từng nói chuyện này với tôi, nó bảo hai đứa đã bàn tính rồi. Thật ra mọi người ai cũng biết một cô gái Baltimore nếu lấy người Pháp hay người Anh sẽ thích hợp hơn”.

“Ồ, dĩ nhiên rồi”. Dĩ nhiên không ai bàn cãi về vấn đề này, mọi người bên cạnh đều phụ họa nói theo, sau đó lại vội tìm lời an ủi bà.

Nằm ngoài dự liệu của mọi người, bà Anton không im lặng như mọi khi mà lại tiếp lời. Nhưng khi nói chuyện bà lại để lộ hơi thở dồn dập, gấp rút vẻ giận dữ. Hành động này chẳng hợp với tính cách kiệm lời và thái độ lạnh lùng của bà chút nào.

Katie Vilna rời khỏi xưởng làm đồ hộp, tìm một công việc chế tạo linh kiện máy bay. Cặp song sinh nhà Golka mỗi ngày đều đi làm ở xưởng gang thép ngoại ô thành phố. Wanda Bryk chỉ chờ nhận được lệnh, liền gia nhập đội quân hậu bị nữ. Có nên làm thế không? Hay không nên? Cô ngồi trên chiếc ghế trong quán nước, xoay người, không ngừng hỏi bản thân như thế. Hay đấy! Một cô gái từng nói với cô: cứ thế mà làm! Nếu được bố mẹ cho phép, họ cũng sẽ tham gia ngay.

Pauline không thường lui đến phố St. Cassians như trước nữa. Giờ cô đang bận với công tác tình nguyện. Các cô gái hàng xóm cũng đều có công tác tình nguyện riêng, cho đến giờ, chắc họ đã dùng được 1 triệu cuộn băng vết thương rồi. Trong thời gian làm việc, họ phải đội khăn trùm đầu màu trắng, trông như tượng nhân sư. Nhưng công việc của Pauline nghe ra thú vị hơn. Katie nói Pauline đang giúp cho một câu lạc bộ quân nhân do hội Hồng thập tự tổ chức, cung cấp cà phê và bánh rán cho các anh lính. Hầu như Katie đếm không hết mình đã từng gặp bao nhiêu anh chàng! Cô nói chi tiêu lớn nhất của cô trong những ngày này chính là mua giấy viết thư và bì thư.

Thế là rất nhiều cô gái hỏi lần sau họ có thể cùng cô đến đó không.

Trong cửa hiệu tạp hóa nhà Anton, bà Szapp hỏi: “Pauline đi đâu rồi? Sao dạo này không ai thấy cô ấy?”.

“Ồ, nó ở gần đây thôi”. Bà Anton đáp. “Tôi còn tưởng cô ấy đi đâu rồi chứ”.

“Nó ở gần đây thôi, tôi nói rồi mà! Hôm đó nó còn ở đây, vào cái hôm... hôm nào ấy nhỉ, tuần trước hay tuần trước nữa, cứ luôn miệng nói về Michael với tôi, bà cũng thấy cách nó nói chuyện rồi đó”.

Bà Szapp ngừng hồi lâu, sau đó hỏi mua một cân xúc xích cần bao nhiêu phiếu thực phẩm.

Con trai nhà Piazy gặp tai nạn ở biển San Hô khi đi tàu cùng quân đội. Đây là sự kiện bất hạnh đầu tiên lan đến khu phố cho đến nay.

Ông Piazy hoàn toàn trầm lặng. Suốt mấy ngày liền, cả hàng xóm của ông cũng trơ khuôn mặt trắng bệch khi đi trên đường, lặng lẽ lắc đầu, dường như họ không sao tin được điều này. Mọi chuyện đều là sự thật! Họ bàn tán với nhau: nhưng trước đó chưa một ai nói cho họ biết sự việc lại nghiêm trọng thế này!

Nhà Dorbek nhận được bức điện báo. Trên đó viết: Joe mất tích trong khi chiến đấu, Davey Witt được đưa về nhà vì vấn đề tinh thần, nhưng người nhà họ tránh không nói đến vấn đề này, Jerry Kowalski mắc bệnh sốt rét, Michael Anton bị trúng đạn sau lưng nhưng đã được đưa đến bệnh viện.

Bà Anton bảo rất vui. Bà nói: “Nó còn nằm trên giường bệnh ngày nào tức ngày đó nó sẽ không ra nước ngoài để bị người ta giết chết”. Mọi người cũng chẳng vì thế mà trách bà.

Giờ đây Pauline nhận nhiều thư hơn trước, đầy ba hộp giày rồi. Cô khăng khăng cho rằng Michael “bị thương”. Đúng là anh bị thương, nhưng chỉ bị nhẹ thôi do lỗi của một tân binh ngu ngốc. Nhưng theo lời Pauline miêu tả, bạn sẽ nghĩ Michael vì chiến đấu với kẻ địch anh dũng mới bị thương.

Ông lão người Nhật bán cá ở chợ Broadway lặng lẽ biến mất. Ông đi đâu? Ông là người rất tốt! Ôi, mọi chuyện ở đây kéo dài lâu quá rồi: chiến tranh cứ mãi tiếp diễn. Giờ đã là mùa hè. Sự kiện Trân Châu cảng dường như đã là vụ việc xảy ra hơn trăm năm trước.

Những mặt hàng vốn thường thấy giờ trở nên rất thiếu thốn. Ví dụ như kẹp tóc, còn ai nghĩ đến kẹp tóc nữa chứ?... Ngay cả đứa con trai út nhà Brunek cũng không có được chiếc xe ba bánh làm quà sinh nhật, vì việc cung ứng vỏ xe cao su rất eo hẹp.

Không lâu sau, văn phòng quân đội lại gởi hai bức điện báo cho nhà Szapp trong ba ngày. Việc này làm mọi người đều ân hận vì hành vi oán trách những chuyện nhỏ nhặt trước đây của họ.

Khi Michael Anton về nhà nghỉ dưỡng, anh viết thư cho mẹ bảo chỉ muốn mình Pauline ra ga đón. Bà Anton xem xong không hề giận. Bà cho rằng anh muốn cầu hôn Pauline. Bà nói thế với những người phụ nữ bằng thái độ rất bình thản, còn nhún nhẹ vai. Con trai về rồi, dĩ nhiên bà có thể chịu được chuyện này.

Nguyên nhân Michael giải ngũ là vì anh bị gãy chân, và giờ đây thì anh phải đi thọt chân suốt đời. Mẹ anh từng nghĩ có thể anh sẽ bị điều về làm công việc văn thư. Nhưng thật khó tin và cũng không sao giải thích, anh được đưa về nhà. Cả đời anh chưa từng tham gia chiến đấu, sau này cũng không còn cơ hội nữa. Bà Anton gọi đây là “vết thương đáng giá cả triệu đô la”. Sau đó, bà bắt đầu lắp bắp và không ngừng liếc mắt nhìn bà Szapp. Nhưng bà Szapp lại bình tĩnh nói: “Theo tôi, đáng giá cả trăm triệu đô la đấy chứ, Thượng Đế quả rất nhân từ với Michael”.

Khi dự đoán Michael và Pauline sẽ bước xuống từ xe điện chạy trên đường ray - khoảng trưa thứ tư vào cuối tháng 8 - mọi người lần lượt xuất hiện trong cửa hiệu tạp hóa, tùy ý chọn hàng, một hộp rau câu hoặc một cây vợt đập muỗi. Họ ở lại rất lâu, nói chuyện phiếm và không ngừng liếc nhìn bà Anton đứng bên cạnh. Bà mặc chiếc váy đẹp hơn bình thường, còn tô chút son, nhưng họ không còn lý do ở lại cửa hiệu nữa. Thế là họ lần lượt ra ngoài, đến vỉa hè, đứng trước tủ kính cửa hiệu nhà Serge ngay cạnh tiệm tạp hóa. Bà Serge xem ngọn cờ là bảng hiệu của tiệm, có một dãy tượng các nữ tu bằng sứ xếp thành hàng - trong số các nữ tu nhỏ xinh này, có người mở miệng hình chữ O đang hát một bài ca chúc tụng, có người tay cầm một chuỗi hạt màu vàng nhỏ quỳ xuống cầu nguyện, chuỗi hạt vẽ lên trước ngực họ. Tiết trời nóng như thiêu đốt, ánh nắng chiếu rọi làm mặt những người phụ nữ phát sáng lấp lánh. Bóng khuôn mặt lan rộng phía dưới cánh tay họ biến thành hình bán nguyệt tối mờ. Dù vậy, họ vẫn đứng nhìn chăm chú mấy bức tượng nữ tu của bà Serge.

Đoán được tàu hỏa sẽ đến trễ, họ thì thầm với nhau: tàu hỏa giờ thường đến trễ, chứa đầy binh lính trên đó, có khi còn dừng lại nửa chừng.

Bà Anton hai lần cũng gia nhập vào hàng ngũ của họ, viện cớ thấy có khách hàng bước đến trước cửa tiệm - bình thường bà không làm vậy. Bà cứ ngóng mãi về phía đường Dubrowski, sau đó lại đi vào trong tiệm. Lúc này, những người phụ nữ mới phát hiện bà vẫn mang đôi vớ thường ngày.

Khi bước ra lần thứ ba, bà gọi: “Eustace? Eustace có đứng đây với mọi người không?” dù chẳng có lý do gì để bà cho rằng anh ta đứng chung với họ. Bà lại ngóng về phía con đường, sau đó reo lên: “Nó về rồi!”.

Dĩ nhiên không phải Eustace, mà là Michael, có cả Pauline đi bên cạnh anh. Nhìn từ xa, dáng họ nhỏ bé, rất xứng đôi, hệt như đôi vợ chồng trên chiếc bánh kem ngày cưới - Pauline mặc áo màu nhạt, Michael mặc quân phục kaki mùa hè. Ồ, một bộ quân phục đủ làm lòng bạn nhói đau, hay tràn đầy yêu thương, đau buồn và khát vọng! Đúng vậy, Michael nặng nề dựa trên chiếc nạng, mỗi lần bước đi chân anh phải đều hơi nghiêng. Hai tay Pauline đặt trước người, ra sức xách túi hành lý của anh. Dù vậy, họ vẫn bước đi nhanh hơn mọi người nghĩ. Đám phụ nữ nhìn anh đi về phía họ, họ đứng ngay đó chờ, mọi sự chú ý đều hướng về anh.

Khi đến gần, họ thấy anh nhoẻn miệng cười. Nụ cười làm gương mặt anh bừng sáng rạng rỡ. Mẹ anh rên một tiếng, đó là âm thanh phát ra tận đáy lòng bà, sau đó loạng choạng chạy đến đón anh.

Rất lâu sau, khi đám phụ nữ ngồi ôn lại quá khứ chiến tranh gian nan đau khổ nhưng phần nào đó làm họ phấn khởi lạ thường, không chỉ một người nhớ đến bức tranh này: Michael Anton đứng ôm chặt mẹ trên vỉa hè, Pauline đứng cạnh nhìn, người cô hơi ngửa ra sau để cân bằng trọng lượng túi hành lý trong tay, mặt nở nụ cười hạnh phúc.

Anh bảo chỉ khi trời mưa, khớp xương chậu mới đau vì anh bị bắn trúng xương hông, chứ không phải lưng. Nói trắng ra chính là phần mông. Lúc đó anh đang diễn tập quân sự trong rừng. Anh ra sức bò qua một khúc cây, bỗng nghe bên tai một tiếng vù, sau đó là cơn đau đột ngột thấu tim, và rồi người anh đổ trên đống lá nát. May mắn, lúc đó anh đang bò dưới đất, chứ không phát đạn đó sẽ trúng lưng, biết đâu lại xuyên thẳng vào tim. Anh biết là ai bắn: chính anh chàng nằm cạnh giường cứ ngáy liên hồi lúc ở Virginia. Anh chàng vướng chân, súng cướp cò - một tai nạn bất ngờ. Nhưng nếu ngay từ đầu họ có biện pháp an toàn nghiêm ngặt, tai nạn đã không xảy ra. Thế nhưng chúng ta có thể nhìn sự việc từ góc độ này: số phận anh chàng đó giờ đây thảm hơn Michael, vì còn phải phục vụ trong quân đội.

Vào một buổi chiều thứ năm, Michael mặc quần yếm màu xám và một chiếc áo sơ mi carô xanh đã sờn vì giặt nhiều lần. Anh vừa nói chuyện vừa xếp đậu cô ve lên giá. Bà Brunek, cô Jabuker và bà Serge đều đứng trước quầy hàng, giơ phiếu mua hàng trong tay tựa như đang khoe, nhưng họ lừa được ai chứ? Giờ đây cả ngày, mọi người đều viện đủ mọi lý do đến cửa tiệm, chỉ vì muốn tỏ lời mong Michael khỏe mạnh và nghe anh nói về chuyện tình cảm của mình.

Anh bảo cần một ít thời gian nữa mới thích nghi được kiểu làm ăn tính phiếu thực phẩm. Phức tạp thế! Nhiều quy định thế! Dĩ nhiên còn rất nhiều việc khác cần phải thích ứng từ từ. Anh nói cửa sổ ở ga tàu hỏa Penn bị che lấp bởi sơn dầu, nhằm phòng tránh không kích, những tấm kính có vẻ giống hoa văn la bàn giờ không còn trong suốt nữa. Mọi người ở đây có biết chuyện này không? Không, dĩ nhiên họ không biết. Khoảng thời gian này họ chẳng còn nhiều cơ hội đi tàu hỏa.

Anh nói tiếp, tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhìn thấy mọi nhà đều treo rèm che kín cửa sổ trong thời kỳ hạn chế đèn đóm. Chà, tình hình ở đây chẳng khác gì chiến trường phía Tây! Rõ ràng, anh ngỡ quê nhà ít nhiều có thể miễn được một số tai họa chiến tranh - anh ngỡ rằng ở đây, chiến tranh sẽ là chuyện của một thế giới khác.

Chà, nhìn Davey Witt xem. Giờ Witt không chịu ngủ một mình trong phòng. Có trời mới biết những chàng trai tội nghiệp này đã chịu đựng ở nơi cách xa Baltimore vời vợi.

Bà Anton xoay chìa khóa ở ngăn kéo màu vàng đồng có khắc hoa văn trong quầy thu tiền. Ngăn kéo kêu leng keng tựa như tấu nhạc rồi mở ra. Bà lại mặc trang phục như mọi khi, nhưng tỏ ra hoạt bát hơn trước nhiều. Ba người phụ nữ trong cửa hiệu chưa từng thấy cảnh tượng này suốt nhiều năm qua. Khi nói “Hẹn gặp lại quý khách” với họ, bà Anton gần như đang hát.

Ba người phụ nữ ra khỏi cửa hiệu, nửa đường họ gặp Pauline. Cô mặc chiếc áo mouseline nền trắng hoa hồng, hệt như một khối vải the nhẹ tênh, còn dùng một tay giữ lấy vành nón rơm để gió không thổi bay nó đi. Điều thú vị là, chẳng hiểu sao bỗng nhiên cô thay đổi màu sắc trang phục, và cũng ngay lúc này, mọi người dần thay đổi cách nhìn về cô. Trang phục của cô từ màu đỏ nóng bỏng và bắt mắt biến thành màu sắc mềm mại nhẹ nhàng, có lẽ do thời tiết. Giờ mọi người rất mến cô! Cô chính là người Michael cần, cô có thể làm cuộc sống của anh ấm áp hơn. Chú ý xem cô gọi tên và chào hỏi ba người phụ nữ như thế nào: “Chào bà Brunek! Chào, cô Jabuker! Chào, bà Serge!” trông tự nhiên và thoải mái vô cùng. Nói xong, cô liền chạy như bay qua trước mặt họ, vào cửa hiệu tạp hóa. Sau khi chào mẹ Michael, cô lại nở nụ cười dễ thương với anh, làm anh cảm thấy ấm áp và ngọt ngào, nhưng cũng không kém phần ngượng ngùng, vì ba người phụ nữ đó lại theo Pauline trở vào cửa hiệu. Với họ, nếu lỡ mất màn này thì tiếc quá!

Cô nói: “Michael, đoán xem em mang tin tốt lành gì đến cho anh?”.

“Gì thế?”, mặt anh cười hớn hở, tay với lấy cái nạng móc trên mép quầy hàng.

“Anh đoán xem!”.

“Ơ, em yêu, anh đoán không ra”.

“Cha Dane bảo chúng ta có thể tổ chức hôn lễ ở nhà thờ của Cha”.

“Cha nói thế sao? Thật vậy à? Tuyệt quá!”, Michael nói.

Michael loạng choạng bước ra khỏi quầy hàng, đến bên cô, tiện thể liếc nhìn mẹ một cái. Mấy bà hàng xóm cũng để ý vẻ mặt của bà Anton. Bà phản ứng thế nào trước tin này? Con trai bà sẽ tổ chức hôn lễ trong nhà thờ đạo Tin Lành: phần lớn các bà mẹ đều không chấp nhận chuyện này.

Nhưng thái độ của bà Anton rất bình thản. Bà ngẩng đầu lên nói: “Tốt quá rồi còn gì!”.

“Dĩ nhiên, các vị đều có tên trong danh sách khách mời”. Pauline nói với ba người phụ nữ bên cạnh.

Họ đưa mắt nhìn nhau, rồi khẽ nói cám ơn.

“À, anh đoán xem còn tin gì nữa nào Michael”, Pauline nói.

Giờ đây anh đang đứng trước mặt cô, cánh tay dựa trên cây nạng, cúi đầu nhìn cô mỉm cười, hỏi: “Chuyện gì thế?”.

“Thì anh đoán xem!”.

Hành động của Michael khá chậm chạp, bước đi cũng rất vất vả; đám phụ nữ xung quanh đều không ngờ anh đi lại khó khăn thế. “Sao nào em yêu!”, anh lại hỏi.

“Bố em sẽ tìm cho chúng ta một căn hộ chung cư”. Michael chớp mắt, hỏi: “Chúng ta cần căn hộ chung cư làm gì chứ?”.

“Để ở, ngốc ạ!”.

“Nhưng chúng ta có chỗ ở rồi, ngay tầng trên cửa hiệu này”.

“Em biết, nhưng bố bảo có thể tìm cho chúng ta một chỗ ở riêng. Bố kể, có rất nhiều người bị chủ nhà đuổi đi liền vội đến chỗ ông tìm một căn nhà khác rẻ tiền hơn.

Câu đầu tiên bố hỏi họ là: ‘Cho đến giờ anh sống ở đâu?’. Hơn nữa nếu chủ nhà của họ vẫn chưa...”.

“Nhưng chúng ta chẳng trả nổi tiền nhà nếu ra ở riêng. Anh nói với em là mẹ sẽ dọn khỏi phòng của bà rồi. Chúng ta có thể trang trí lại căn phòng đó, tùy em muốn trang trí sao cũng được”.

Bà Anton dọn khỏi phòng ngủ của mình? Vậy có nghĩa là, bà chỉ có thể ngủ trong căn phòng nhỏ, nơi từng là phòng của Michael và Danny.

Quả là sự hy sinh cao cả! Ba người phụ nữ nhìn bà Anton, nhưng chẳng nhận được sự đáp lại. Bà đang nhìn Michael và Pauline.

Pauline nói: “Ơ”.

Michael nói: “Em hiểu rồi chứ?”. “Được thôi”. Pauline đáp.

Cô lui về sau một bước. Lúc này cô đang mang đôi giày sandal nhẹ xốp và tiện lợi, số nhỏ đến khó tin, những cô gái hàng xóm cao to có nằm mơ cũng không mang được. Dù đi trên sàn nhà kêu ken két này, bước chân của cô cũng trông rất nhẹ nhàng và tao nhã, thậm chí không làm phát ra bất cứ tiếng động nào. Cô quay đi và rời khỏi cửa hiệu. Cửa đóng lại, lò xo rỉ rét phía trên cửa rung oàng một tiếng.

Michael mặt đầy nỗi hoang mang quay người nhìn những người phụ nữ trong nhà, dường như anh đang tìm kiếm sự giúp đỡ. Bà Brunek thấy cần phải giải thích cho sự việc vừa mới xảy ra. Bà phát ra tiếng cười tựa như chuông bạc: “Chà, cậu biết đấy, phụ nữ thường có tâm lý hoảng sợ trước khi kết hôn”.

Michael nói: “Có lẽ tôi nên nói chuyện với cô ấy”.

Anh rời khỏi, chiếc nạng bọc cao su ở phần chóp phát ra tiếng cót két, âm thanh đó làm người ta thấy lo lắng bất an.

Cô Jabuker hiển nhiên mất tập trung, cô lại bắt đầu chọn hàng, dù tay cô đã cầm một túi đầy các hộp thức ăn.

Thi thể Joe Dobek được phát hiện, chuyển về quê hương bằng tàu. Họ tổ chức tang lễ cho anh vào ngày mát trời đầu tiên của tháng chín. Trước chiến tranh, không gian phần mộ rất eo hẹp, nhưng họ vẫn chen cho anh một chỗ nhỏ nằm giữa mộ hai người xa lạ. Chủ nhân hai phần mộ đó đều chết rất sớm. Thời đó, địa chủ đều là người Ireland. Hai bia mộ phủ đầy rêu của O’Malley và O’Leary lần lượt nằm hai bên bia mộ màu trắng bạc của Joe. Bà Dobek tập thành một thói quen, mỗi lần đến thăm Joe, đều đặt hoa tươi trước ba bia mộ. John O’Malley hưởng thọ 92 tuổi, về sau chết an nhàn; O’Leary (không có tên) đến và rời khỏi thế giới này chỉ trong một ngày ngắn ngủi. Bà Dobek nói với bạn mình: những khi cầu nguyện cho Joe, bà đều nghĩ đến mẹ của đứa bé tên O’Leary - ắt hắn đã đau nhói ruột gan khi mất đi đứa con thân yêu.

Bà kể, khi nghe tin tìm được thi thể của Joe, cảm giác lúc đó của bà là rất phẫn nộ. Bà bảo họ làm chuyện này trông hợp tình hợp lý, cứ như Joe chỉ bị sơ suất đặt nhầm chỗ, giống như một món đồ chơi con người vứt đi. Còn bà lại tận tình chăm sóc Joe suốt bao năm qua, chỉ mong Joe được sống khỏe mạnh an lành.

Dạo gần đây, rất nhiều đôi nam nữ vội vã kết hôn, nên mọi người cũng đã quen với những hôn lễ đơn giản và vội vàng. Nhưng trước đó, khi kết hôn, mọi người đều mất cả mấy tháng may áo, mấy tuần chuẩn bị thức ăn, sau đó còn phải tổ chức một bữa tiệc long trọng, khách mời phải bỏ phong thư tiền vào trong áo lót của cô dâu. Nhưng dạo gần đây, kết hôn tựa như đi xem một bộ phim, trước đó chẳng cần phải suy nghĩ gì nhiều.

Thế nên vào một ngày thứ sáu cuối tháng chín, khi bà Anton mời khách tới dự hôn lễ của Michael sẽ được tổ chức vào chiều hôm sau, họ cũng chẳng sửng sốt ngỡ ngàng. Khi báo cho họ biết, nếu bằng lòng họ đều có thể tham gia, phần lớn phụ nữ đều nhận lời. Trùng hợp thay, lúc đó không có đàn ông ở đấy. Nhưng nếu có thì đàn ông chắc chắn không chịu bước vào nhà thờ Tin Lành. Nhưng đó chỉ là cái cớ mà thôi, vì các quý ông không muốn thắt cà vạt vào ngày thứ bảy.

Ngày tổ chức hôn lễ của Michael, thời tiết rất đẹp, khí trời tươi mát tựa như tiết thu. Khi vừa rời khỏi nhà, đám phụ nữ nhìn thấy những gốc cây nhỏ được rào xung quanh, có cây lá đã thành màu đỏ tựa như son, cũng có cây lá thành màu vàng tựa những đóa hoa nở muộn. Họ bước những bước nhàn nhã trên đường, chỉ trỏ khi đi qua mỗi căn nhà. Những căn nhà đó cũng xây thành hàng, nhưng rộng hơn và trông có vẻ bừa bộn hơn. Mặt tiền mỗi nhà đều khác nhau, màu rèm cửa sổ cũng đa dạng, xung quanh cửa rào mỗi hộ đều có cây cối um tùm che phủ. Không bao lâu, nhà thờ hiện ra trước mắt. Xung quanh nhà thờ có tường rào, kính cửa sổ không mang màu sắc sặc sỡ mà chỉ là màu hồng đơn điệu, trên đó còn khắc hoa văn đá vụn. Trước tình cảnh này, đám phụ nữ chẳng bình luận gì. Họ đã quyết định hôm nay không xoi mói, bắt bẻ. Đám phụ nữ đều mặc trang phục màu đen mang đậm bản sắc của Mỹ, đội mũ đen và găng tay trắng tinh, trông rất nghiêm túc.

Người đi trước dẫn đường là Wanda Bryk - cô là người trẻ nhất trong số các cô gái, và hiển nhiên cô là người phụ trách buổi hôn lễ hôm nay. Khi mọi người lần lượt bước lên bậc thang của nhà thờ, cô hướng dẫn họ đi vào trong. “Bố mẹ Pauline dĩ nhiên sẽ đến, cả chị của cô ấy nữa. Chị cả của Pauline mắc bệnh suyễn, không thể nói chuyện. Ý tôi là đừng hỏi tại sao chị ấy không đến, vì chị ấy thấy không được khỏe... Không, không có dâu phụ, cũng chẳng có rể phụ, thậm chí không có nghi thức bước vào lễ đường thật sự! Nhưng chúng tôi đều ngồi ở dãy ghế đầu, Cha xứ sẽ... A, cô ấy đến rồi! Pauline kia kìa!”.

Quả thật Pauline đứng ngay cổng nhà thờ. Nhưng điều thất vọng là, cô mặc một bộ váy màu trắng ngà chỉ thích hợp đi dạo phố, đang nói chuyện với một người đàn ông có tuổi. Khi ông nhìn thấy đám phụ nữ, bèn nói: “A! Cám ơn mọi người đến dự hôn lễ của hai đứa! Michael, xem ai đến này!”.

Thượng đế ơi! Đúng vậy, Michael cũng ở đó, chống nạng đứng cách cô dâu chưa đến 1 yard (thước Anh bằng 0,9144m). Hiển nhiên, họ không nghĩ gặp nhau trước lễ cưới sẽ có điều chẳng lành. Michael mặc lễ phục và áo sơ mi trắng, thắt cà vạt đỏ. Trông bảnh trai vô cùng! Đám phụ nữ thấy tự hào về anh. Họ hôn anh, vỗ cánh tay anh, sửa thẳng cà vạt cho anh. “Mẹ đang trên đường đến đấy”, anh nói với họ, “mẹ đi cùng chú Bron”. Sau đó anh giới thiệu đám phụ nữ với bà Barclay mẹ của Pauline, “Mẹ ơi”. Anh gọi bà. Trời ạ, sao gọi mẹ nhanh thế! Những người phụ nữ lao nhao.

Bà Barclay dáng người thướt tha, tóc màu nâu sậm giống như Pauline. Trước mặt đám phụ nữ, bà tỏ ra thân thiện quá mức, luôn miệng khen váy áo, mũ và giấy gói quà trong tay họ. Sau khi nghe nói họ từ xa đến, bà lại thốt lên ngạc nhiên, làm đám phụ nữ trông có vẻ hơi ngại. Lúc sau, một anh lính thủy đến. Bà Barclay lại chuyển nụ cười thân thiết sang anh. Cuối cùng đám phụ nữ được tự do, tiếp tục đi vào bên trong nhà thờ.

Tường nhà thờ sơn màu xanh lam, bên trong đặt những dãy ghế dài bằng gỗ màu nhạt. Mọi thứ làm nơi đây thiếu đi sắc màu thần bí. Phía trước hàng ghế đầu, Anna bạn Pauline - cô gái cầm khăn tay hôm đầu tiên xuất hiện ở cửa hiệu tạp hóa Anton - đang chơi piano. Tuy cô quay lưng về mọi người, nhưng mái tóc nâu mượt xõa ngang vai và dáng vẻ rất nho nhã là đặc điểm giúp mọi người nhận cô ra ngay. Một số người đã vào ghế ngồi, họ chẳng quen biết nhau. Những phụ nữ cũng ngồi trên một chiếc ghế dài. Mẹ Michael khoác tay chú Bron bước dọc theo lối đi giữa hai dãy ghế. Bà mặc chiếc váy kiểu hải quân chấm hoa tròn mà đám phụ nữ chưa từng thấy, một đóa hồng bằng vải cài ở cổ áo. Sau khi bà Serge “suỵt” một tiếng với mọi người, bà Anton liếc mắt cười nhẹ với những người phụ nữ, rồi nghiêm mặt lại ngay. Dường như bà tập trung tinh thần cho mọi chuyện sắp xảy ra. Nhưng ở những chỗ khác trong nhà thờ, mọi người vẫn trò chuyện như mọi khi, thậm chí còn đứng lên tham gia vào cuộc trò chuyện của người khác. Bà Anton ngồi xuống ở dãy ghế đầu tiên và những phụ nữ ở St. Cassians cũng nghĩ bà ngồi đó là thích hợp nhất.

Cánh cửa phía sau Thánh đường mở ra, vị cha xứ trẻ tuổi mặc lễ phục màu đen, sắc mặt nhợt nhạt xuất hiện. Ông bước lên bục, đặt quyển “Thánh kinh” lên đó, rồi mỉm cười với mọi người. Một hồi lâu, cử chỉ này chẳng mang đến hiệu quả gì, nhưng những người lúc nãy đứng dậy tham gia vào cuộc trò chuyện lại trở về chỗ ngồi của mình. Sau đó, bà Barclay cùng một người đàn ông vẻ mặt tiều tụy, tóc hoa râm bước vào theo lối đi - chẳng nghi ngờ gì nữa đó chính là ông Barclay - họ ngồi ở hàng ghế đầu dãy bên kia. Anna dừng chơi đàn, cha xứ hắng giọng, lễ đường nhốn nháo dần đi vào trật tự. Mọi người đều dõi mắt nhìn về cánh cửa phía sau.

Chẳng chuyện gì xảy ra cả.

Mọi người nhìn nhau. Có lẽ đôi vợ chồng son sẽ bước vào từ chỗ khác, chắc họ đã lên kế hoạch từ đầu. Rồi họ lại quay nhìn phía trước, cha xứ bắt đầu vội vã đọc lướt qua cuốn “Thánh kinh”, nhưng dường như ông không định đọc theo những gì viết trong đó.

Tiếng huýt sáo bắt đầu truyền ra từ hàng ghế dài. Một đứa trẻ hỏi câu gì đó làm mọi người cười rộ lên. Sau đó bầu không khí trong lễ đường bắt đầu ấm lại. Một số chỗ lại bắt đầu nói chuyện phiếm. Bà Anton ngồi thẳng lưng, mắt vẫn nhìn thẳng về phía trước. Trong lúc đấy, bà Barclay không ngừng nhìn dáo dác ra sau, chứng tỏ bà cũng như khách mời chẳng biết chuyện gì đang xảy ra.

“Chuyện gì thế?”, bà Nowal hỏi Wanda.

Wanda không trả lời. Cô đứng dậy rời khỏi ghế, bước ra sau theo lối đi, gót giày cô phát ra một loạt tiếng cộc cộc khe khẽ. Đám phụ nữ lại nhìn nhau.

Bên phải bục giảng đặt một cốc nước, Cha xứ bưng lên, vờ vịt nhấp một ngụm, rồi lại đặt xuống chỗ cũ, sau đó ho một tiếng. Cha xứ trẻ quá, trẻ đến bất ngờ. “Ta mong các con không phải đang suy nghĩ lần cuối, haha!”, cha nói.

Một số người cười rộ theo.

Sau lưng đám phụ nữ, hai người đàn ông đang bàn luận về golf. Một người bảo đã từ bỏ hy vọng. Người kia nói mình còn đang cố gắng. “Đến năm 1943, mọi chuyện đều sẽ thay đổi”. Ông nói.

Wanda trở về, thở hổn hển ngồi xuống, làm trang phục kêu soàn soạt, cô ra vẻ một nhân vật quan trọng.

“Chuyện sao rồi?”, những người phụ nữ chồm lên hỏi. “Pauline đổi ý”.

Cô ấy sao thế?

Tin tức lan ra trong đám đông. Đám phụ nữ bàn tán xôn xao và nội dung tin tức cũng thay đổi dần. Dù trong tình huống huyên náo thế, họ vẫn giữ giọng trầm khẽ khi nói chuyện với nhau, cứ như sợ người khác nghe thấy.

Cô ấy bảo chẳng biết mình nghĩ thế nào... giữa họ chỉ có chút tranh cãi... anh chẳng muốn dọn đến nơi khác... sao anh lại không thạo giao thiệp... là người khác hẳn với cô, làm việc cứng nhắc, hơn nữa anh cứ quyết không nhượng bộ...

“Luôn làm gì? Chưa từng đi đâu?”, bà Serge hỏi lớn ở một chỗ xa, “Khoan đã, tôi không nghe thấy!”.

Bà Zack bảo cô dâu nào cũng suy nghĩ thế. Những hôn lễ khác luôn xảy ra chuyện tương tự! Wanda bảo Michael cũng nói vậy, anh nói: “Em yêu, chẳng qua giờ em quá căng thẳng thôi”. Nhưng Pauline nói: “Đừng nói là em đang...”.

“Suỵt!”, bà Serge nhắc nhở mọi người.

Vì ngồi gần lối đi nhất, bà là người đầu tiên chú ý thấy động tĩnh phía sau nhà thờ. Đám phụ nữ quay đầu nhìn, những khách mời khác cũng vậy. Sau một đoạn nhạc dạo, piano bắt đầu tấu lên. Cùng lúc đó, Michael và Pauline tay nắm tay bước vào thánh đường. Không phải khoác tay, họ không bước về phía thánh đường với những động tác cao ngạo và khoa trương, họ chỉ nắm chặt tay nhau, trên mặt nở nụ cười hạnh phúc.

Họ quả là một đôi trời sinh. Họ đang đi bước đầu tiên trong hành trình hôn nhân tựa như huyền thoại của mình và những câu chuyện đặc sắc về sau cũng sẽ hiện ra trước mắt họ.

« Lùi
Tiến »