Cuồng Vọng

Lượt đọc: 1857 | 2 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 2 -

Pitt quay lại lúc Giordino đóng cửa máy bay và đi về phía họ. Giordino tự giới thiệu rồi nói. “Cám ơn ông phải làm việc với chúng tôi trong một thời gian chuẩn bị rất ngắn, nhưng đây là một vấn đề hết sức khẩn cấp”.

“Tôi không có lý do gì để nghi ngờ các ông”, ông Cash nói. “Thậm chí dù tôi không được nhận bất kỳ chỉ dẫn nào từ cấp thẩm quyền cao hơn”.

Không tham gia vào lực lượng tấn công đặc biệt được thành lập để đột kích vành đai của bọn Wolf để chận đứng thảm họa chúng sẽ gây ra, Đô đốc Sandecker chỉ ra lệnh họ phải ở lại Buenos Aires để tránh nguy hiểm. Nhưng lý lẽ của Pitt là anh và Giordino phải giữ vai trò chính trong vụ đột kích, vì chính họ đã khám phá sự thật khủng khiếp đằng sau thảm họa nhân tạo, và biết rõ về bọn Wolf và chiến thuật an ninh của chúng hơn bất kỳ ai khác. Và, vì họ đã có mặt tại Buenos Aires, nghĩa là họ chỉ cách nơi sẽ xảy ra dụng độ gần hơn năm ngàn dặm so với Washington, nên họ có thể tới nơi sớm hơn lực lượng tấn công, và dò la vành đai của bọn Wolf.

Lời yêu cầu của Pitt bị bỏ ngoài tai. Cuộc tranh luận giữa cấp cao trong quân đội là Pitt và Giordino không phải là những quân nhân tác chiến chuyên nghiệp được huấn luyện và tạo điều kiện để chiến đấu trong những tình huống nghiêm trọng khác nhau. Trong trường hợp riêng của Đô đốc Sandecker, ông không muốn cho phép những người giỏi nhất của mình tự sát trong vùng hoang vu lạnh lẽo của lục địa băng giá phía nam. Tuy nhiên, Pitt và Giordino đã lấy một chiếc phản lực hành động của NUMA, và thay vì bay về phía Washington theo lệnh, họ lại đổ đầy nhiên liệu và bay tới Nam cực, với hy vọng sẽ xâm nhập vành đai của bọn Wolf bằng ngã sau, dù trong đầu họ thực sự chưa có một kế hoạch nào dù sơ sài nhất để vượt qua sáu mươi dặm băng và tuyết để tới khu vực của chúng, một khi họ đã đáp xuống trạm Little America.

“Chúng ta sẽ nghĩ ra điều gì đó khi tới nơi”, Pitt có vẻ say sưa khi nói như thế.

Và Giordino phụ họa, “Tôi sẽ bám sát cậu, vì chẳng có việc gì hay hơn để làm cả”.

“Xin mời vào trong”, ông Cash nói, “trước khi chúng ta bị biến thành những tượng băng”.

“Nhiệt độ bao nhiêu?” Giordino hỏi.

“Hôm nay khá đẹp trời, lại không có gió. Theo như lúc tôi xem lần cuối là mười lăm độ dưới số không”.

“ít nhất tôi cũng không phải bỏ đá vào những ly rượu tequila của tôi”, Pitt nói.

Tòa nhà hình vòm, tám mươi phần trăm bị phủ băng, chỉ ló ra khỏi mặt băng chừng năm bộ. Những khu sinh hoạt và làm việc là một mê cung với vô số phòng và hành lang được đục vào băng. Ông Cash dẫn họ vào phòng ăn gần gian bếp và gọi cho họ một chai vang trắng Gallo nửa ga lông, “Không ngon lắm, nhưng nó làm ấm người”, ông ta nói và phì cười.

“Cũng tiện ghi chán”, Giordino nói đùa.

“Tạm thôi”, ông Cash nói với một nụ cười. “Các ông có điên mới bằng lòng cuộc sống ở đây”.

“Vậy sao không tìm một công việc tại một nơi nào đó có khí hậu tốt hơn?” Pitt hỏi - Anh để ý thấy tất cả những người đàn ông anh đã gặp tại trạm đều để râu ria sồm soàm và phụ nữ đều không trang điểm và làm tóc.

“Đàn ông và phụ nữ tình nguyện đến làm việc tại những vùng địa cực vì ưa thích chuyện theo đuổi một công việc nguy hiểm là khám phá những điều chưa biết. Một số đến để thoát khỏi những vấn đề tại gia đình, nhưng đa số đều là các nhà khoa học theo đuổi những công trình nghiên cứu về những chuyên môn họ đã chọn mà không quan tâm đến chuyện ăn ở. Sau một năm đã có những người sẵn sàng trở về nhà. Cho tới lúc này, hoặc là họ đã trở nên chán ghét hoặc bắt đầu trải qua ảo giác”.

Pitt nhìn ông Cash. Trong mắt ông ta không có vẻ gì là bị ám ảnh bởi một chuyện gì đó, hoặc ít nhất cũng chưa. “Phải có một sức mạnh tinh thần mới có thể tồn tại lâu dài trong một môi trường buồn tẻ như nơi này”.

“Nó bắt đầu cùng với tuổi tác”, ông Cash giải thích. “Những anh chàng tuổi dưới hăm lăm thì chưa đủ tin cậy, những ông trên bốn mươi lăm lại thiếu khả năng chịu đựng”.

Sau khi kiên nhẫn chờ đợi vài phút, trong lúc Pitt và Giordino ăn gần xong bữa ăn của họ, sau cùng ông Cash hỏi. “Lúc các ông gọi điện cho tôi từ Argentina, có phải tôi đã nghe đúng khi ông nói ông muốn đi ngang qua khối băng dẫn tới Vịnh Okuma?”

Pitt gật đầu, “Điểm đến của chúng tôi là khu khai mỏ của tập đoàn Vận Hội”.

Ông Cash lắc đầu, “Những người này rất kỵ tiếp xúc người lạ. Không một nhà khoa học nào của chúng tôi có thể lọt vào trong vòng mười dặm cách địa điểm của họ trước khi bị những nhân viên an ninh dữ dằn của họ đuổi ra”.

“Chúng tôi chẳng lạ gì bọn đầu gấu ấy”, Giordino nói, có vẻ hả hê sau khi lấp đầy dạ dày.

“Các ông định tới đó bằng cách nào? Ở đây chúng tôi có trực thăng”.

“Tất cả những gì chúng tôi cần là hai chiếc xe trượt băng vận hành bằng điện”, Pitt nói và nhìn vào mắt ông Cash. Biểu lộ trong mắt người trạm trưởng chẳng khích lệ anh chút nào.

Ông Cash có vẻ không tin tưởng. “Tôi e là các ông đã bay tới đây mà chẳng được gì. Hai trong những chiếc xe trượt băng của chúng tôi đang được sửa chữa, đang đợi phụ tùng được chở tới.

Bốn chiếc còn lại đều được các nhà khoa học sử dụng để khảo sát băng quanh đảo Roosevelt nằm về hướng bắc trạm này”.

“Chừng nào các nhà khoa học của ông trở về?” Pitt hỏi.

“Không trước ba ngày nữa”.

“Ông không còn phương tiện vận chuyển nào khác sao?” Giordino hỏi.

“Một máy ủi và một xe xúc mười tấn”.

“Cái xe xúc thế nào?”

Ông Cash nhún vai. “Một loại xe bánh xích để xúc băng. Chúng tôi đang đợi một bộ phận nữa được chở tới từ Aucland”.

Giordino nhìn bạn mình qua cái bàn. “Thế thì chúng ta chẳng có chọn lựa nào khác ngoài chuyện bay tới đó và hy vọng tìm thấy một chỗ để đáp xuống”.

Pitt lắc đầu. “Chúng tôi không thể liều lĩnh hạ cánh trước họng súng của chúng. Tôi đã hy vọng với cái xe trượt băng chúng ta có thể che giấu tung tích, ta sẽ dừng lại cách khu mỏ của chúng một hoặc hai dặm, sau đó lẻn vào mà không bị phát hiện”.

“Các ông hành động như thể đây là vấn đề chẳng sống thì chết vậy”, ông Cash nói.

Pitt và Giordino trao đổi ánh mắt với nhau rồi cả hai cùng nhìn người trưởng trạm, trên nét mặt họ lộ rõ cảm giác căng thẳng trầm trọng. “Vâng”, Pitt nghiêm chỉnh nói, “đây là một công việc liên quan tới sự sống chết không riêng gì của chúng tôi mà còn của rất nhiều người, ông không hình dung nổi đâu”.

“Các ông có thể cho biết tất cả chuyện này là gì không?”

“Không thể”, Giordino bình thản trả lời. “Vả lại, ông không nên biết làm gì. Nó sẽ làm ông hỏng cả ngày hôm nay đấy”.

Ông Cash rót một tách cà phê, nhìn thứ chất lỏng màu tối đó mất một lúc. Rồi ông ta nói “Còn khả năng khác, nhưng có vẻ rất khó khăn”.

Pitt nhìn ông ta chăm chú, “Chúng tôi nghe đây”.

“Chiếc xe thám hiểm băng của Đô đốc Byrd”, ông Cash tiết lộ như thể ông ta đang đọc diễn văn. “Một vật khổng lồ bốn bánh, kềnh càng hơn bất kỳ phương tiện vận chuyển nào trong thời đại của nó”.

“Đó là lúc nào”, Giordino tò mò hỏi.

“Năm 1930”, ông ta nín thinh một lúc. “Nó là cảm hứng của Thomas Poulter, một nhà thám hiểm địa cực, đã thiết kế và chế tạo ra một cỗ máy đồ sộ mà ông ta hy vọng nó có thể mang năm người đàn ông và con chó cưng của ông ta đến Nam Cực và trở về. Tôi đoán các ông sẽ gọi nó là một phương tiện vận tải đầu tiên trên thế giới với mục đích giải trí. Chỉ riêng bốn cái vỏ bánh xe cũng đã đạt ba bộ về bề ngang và có đường kính lớn hơn mười bộ, nặng ba mươi bảy tấn khi chất đầy hàng hóa và người. Cứ tin tôi đi, nó là một chiếc xe đúng nghĩa đấy”.

“Nghe thú vị thật”, Pitt nói, “đối với một chiếc xe được thiết kế để đi loanh quanh tại Nam Cực”.

“Nó vậy đấy. Ngoài một cabin điều khiển rộng lớn nhô ra phía trước, nó còn có một phòng làm việc, khu sinh hoạt cho cả năm người và một khoang bếp vừa là phòng tối để rửa phim ảnh. Sau đuôi là một kho chứa hàng với thực phẩm đủ dùng cả năm, vỏ bánh xe dự trữ và đủ nhiên liệu để thực hiện một hành trình dài năm ngàn dặm. Không chỉ thế, nó có thể mang cả một máy bay Beechcraft với những dụng cụ trượt băng trên mui của nó.

“Một con quỉ cỡ đó chắc phải khỏe lắm?”

“Hai động cơ diesel một trăm năm mươi mã lực kết hợp với bốn môtơ kéo bảy mươi lặm mã lực vận hành bằng điện, có thể cung cấp sức mạnh cho cả bốn hoặc chỉ một bánh xe nào đó. Tất cả những bánh xe có thể được chuyển sang nhiệm cụ đeo bám và chuyển hướng đột ngột, thậm chí chúng còn thụt vào khi băng qua một kẽ nứt. Riêng mỗi bánh xe cân nặng đến sáu ngàn cân Anh. Các vỏ xe tới mười hai lớp bố do hãng Goodyear chế tạo”.

“Ông bảo con quỉ khổng lồ này không những còn tồn tại mà còn dùng được ư?” Pitt hỏi, anh có vẻ không tin.

“Ồ, nó vẫn tồn tại mà, nhưng tôi không thể nói nó còn dùng được, hoặc có thể vượt qua sáu mươi dặm trên mặt băng hay không. Sáu mươi dặm có vẻ là một khoảng cách không dài lắm, nhưng sau khi chiếc xe Snow Cruiser đó được chế tạo hoàn chỉnh, nó được đưa lên tàu tới Nam Cực và đổ bộ lên trạm Little America. Tại đây lại xảy ra sự cố. Các động cơ không có vấn đề, nhưng Poulter đã tính toán nhầm về hộp số. Vận tốc tới của chiếc xe

có thể đạt tới ba mươi dặm giờ trên một con đường phẳng nhưng không thể kéo cả cái khối khổng lồ trên băng và tuyết dày, đặc biệt là khi lên dốc. Vì vậy mà nó không dùng được. Vào những năm sau đó, nó bị băng bao phủ rồi bị quên lãng. Người ta luôn nghĩ là một khi khối băng trôi ra biển, chiếc Snow Cruiser cuối cùng sẽ bị mang đi xa và chìm xuống biển sâu khi băng tan”.

“Bây giờ nó đang ở đâu? vẫn bị chôn dưới băng?” Pitt hỏi dồn.

Ông Cash lắc đầu và mỉm cười “Chiếc Snow Cruiser đang ở cách đây chừng hai dặm. Nó nằm sát mép khối băng, hết sức nguy hiểm. Một kỹ sư mỏ, già và giàu có, chợt có ý nghĩ trong đầu là thử tìm và cứu nó xem sao, rồi sau đó đưa nó về Mỹ để triển lãm trong một bảo tàng. Ông ta và toán thủy thủ của mình tìm thấy nó dưới lớp băng dày ba chục bộ, và phải mất ba tuần lễ để đào bới nó ra. Họ làm một cái lều băng chung quanh nó, và tin tức cuối cùng tôi nghe được là nó đã thực sự hoạt động”.

“Tôi tự hỏi liệu họ có cho chúng tôi mượn nó không?”

“Đừng hỏi uổng công”, ông Cash nói. “Tôi nghĩ tốt hơn là các ông hãy bán con chó săn chân lùn của mình và chịu khó ăn cải xanh vậy”.

“Chúng tôi sẽ cố thuyết phục”, Pitt nói quả quyết.

“Ông có quần áo Bắc Cực không?”

“Trong máy bay”.

“Tốt nhất hãy mặc chúng vào. Chúng ta phải đi bộ tới nơi có chiếc Snow Cruiser”. Rồi ông Cash có vẻ như bất chợt nhớ ra điều gì. “Trước khi tôi quên, tôi sẽ phái hai nhân viên bảo quản của chúng tôi trùm kín máy bay của các ông và mang lên một máy phát nhiệt để giữ ấm động cơ, nhiên liệu và hệ thống ống nước của nó, và cho quét dọn lớp băng phủ trên thân và cánh của nó. Nếu bỏ mặc một máy bay ở đây suốt tuần, nó sẽ bắt đầu biến mất dưới một đống băng đấy”.

“Ý kiến rất tuyệt”, Giordino tỏ ra biết ơn. “Chúng tôi có thể phải dùng tới nó nếu mọi giải pháp khác đều thất bại”.

“Tôi sẽ đón các ông trở lại đây trong nửa giờ và tôi sẽ đưa các ông tới chỗ chiếc xe”.

“Ai là ông già đã chỉ huy vụ cứu chiếc xe?” Pitt hỏi.

Ông Cash có vẻ thẫn thờ mất một lúc. “Tôi thực sự cũng không biết. Ông ta là một lão già lập dị đáng nguyền rủa. Toán thủy thủ thường gọi ông ta là Bố già”.

Với ông Cash dẫn đường, họ đi bộ theo một lối đi được đánh dấu bằng những lá cờ màu cam cắm trên băng đã gần một giờ. Một lúc sau, Pitt đã có thể nhìn thấy những bóng người chuyển động quanh một cái lều màu cam nhỏ hơn dùng cho vùng địa cực. Những bông tuyết đang rơi và tạo thành một tấm chăn mỏng bằng tuyết trên nóc những căn lều. Thật lạ lùng, Nam Cực ít khi có tuyết rơi nặng. Nó là một trong những lục địa khô ráo nhất của Trái Đất và chỉ cách bề mặt chừng vài inch đã là lớp băng cũ.

Hầu như không có gió, nhưng vì không quen với khí hậu lạnh lẽo của vùng cực, Pitt và Giordino cảm thấy cái lạnh khủng khiếp đang thấm qua bộ quần áo chống lạnh của người Eskimo ở Bắc Cực. Mặt trời lấp lánh qua tầng khí ozone, và ánh sáng chói chang vẫn làm lóe mắt họ qua cặp kính râm.

“Quang cảnh thật đẹp và thanh bình”, Pitt nói, vừa đưa mắt nhìn cảnh vật chung quanh. “Không có xe cộ, không sương mù, không tiếng động”.

“Đừng để nó lừa ông”, ông Cash đã trở lại. “Thời tiết có thể thay đổi thành một trận lốc xoáy như trong địa ngục còn nhanh hơn thời gian ông phun một bãi nước bọt. Tôi không thể đếm xuể số ngón tay và ngón chân bị rụng vì tê cóng. Những cái xác đông cứng được tìm thấy trong trạng thái còn nguyên vẹn. Đó là vì bất cứ ai làm việc tại Nam Cực đều được yêu cầu phải chụp ảnh bộ răng bằng tia X và đeo hàm giả để bảo vệ răng. Các ông không bao giờ biết được lúc nào các ông sẽ bỏ xác và được nhận diện đâu”.

“Ghê vậy sao?”

“Những cơn trốt cắt da thịt là những sát thủ khủng khiếp nhất. Nhiều người đang đi bỗng bị trốt từ mọi hướng trên cao chụp xuống và họ chết cóng trước khi tìm thấy đường trở lại trạm”.

Họ im lặng đi một phần tư dặm cuối cùng, bước trên lớp băng dày. Pitt đã bắt đầu nhận thấy những cảm giác mỏi mệt hơi buồn ngủ và những áp lực của mấy ngày qua. Nhưng ý nghĩ được ngả mình lên giường không hề lảng vảng trong đầu anh. Tuy nhiên, bước chân anh không còn mạnh mẽ như chúng phải thế. Và anh nhận ra Giordino cũng chẳng hơn gì.

Họ đến nơi đóng trại và ngay tức khắc, bước vào căn lều chính. Cái nhìn đầu tiên về phía chiếc xe trượt băng Snow Cruiser làm họ bàng hoàng, chẳng khác gì lúc họ nhìn thấy những chiếc tàu siêu hạng của dòng họ Wolf lần đầu. Những bánh xe và lốp xe kếch sù khiến cho những người làm việc quanh đó trông nhỏ hẳn đi. Buồng lái nằm thẳng hàng với mặt trước bằng phẳng nhô lên chừng mười sáu bộ vào bầu không khí và đụng mái lều. Đỉnh cao nhất của chiếc xe phía sau buồng lái cao bằng chiếc máy bay Beechcraft. Nó được sơn màu đỏ sáng với một đường vạch ngang màu cam chạy quanh các mép xe.

Âm thanh vang dội họ nghe được lúc đến gần qua khối băng phát ra từ hai cái cưa kéo bằng dây xích do hai công nhân điều khiển xẻ những đường rãnh trên các vỏ bánh xe khổng lồ. Một ông già với mái tóc bạc trắng và bộ râu màu xám đang trông coi những người thợ làm việc. Ông Cash bước thẳng lại phía ông già và vỗ lên vai ông ta để gây chú ý. Ông già quay lại, nhận ra ông Cash và vẫy tay cho mọi người đi theo ông ta. Ông dẫn đường ra khỏi căn lều rồi vào một căn lều khác nhỏ hơn nằm cạnh lều chứa chiếc xe, trong lều có một bếp điện nhỏ. Ông ta mời họ ngồi vào những cái ghế chung quanh cái bàn xếp bằng kim loại.

“Ở đây yên tĩnh hơn”, ông già nói với một nụ cười ấm áp trong lúc đôi mắt màu xanh lục nhìn mọi người.

“Đây là ông Dirk Pitt và Al Giordino của Numa”, ông Cash giới thiệu. “Họ có một nhiệm vụ khẩn cấp và hy vọng ông có thể giúp họ thực hiện nhiệm vụ đó”.

Tên tôi rất kỳ cục, vì vậy, các thủy thủ của tôi-tất cả đều trẻ hơn tôi đến bốn chục tuổi- đều gọi tôi là Bố già”, ông già nói là bắt tay mọi người. “Tôi có thể làm gì cho các ông nào?”

“Chúng ta chưa gặp nhau trước đây chứ?” Pitt hỏi trong lúc quan sát bố già.

“Có thể rồi lắm chứ. Tôi đi hơi nhiều mà”.

“Chiếc xe Snow Cruiser”, Pitt nói, đi thẳng vào yêu cầu của mình, “nó có thể sử dụng trong mọi địa hình ở Nam Cực phải không?”

“Họ tạo nó ra cho mục đích đó mà, nhưng nếu ông nêu câu hỏi này vào sáu chục năm trước, hoặc thậm chí vào tuần lễ trước, tôi sẽ bảo là không. Trên đất khô, nó chứng tỏ là một cỗ máy đáng giá, nhưng trên băng thì nó lại là một thất bại thê thảm. Chỉ do một điều, đó là những lốp xe quá trơn trợt nên chúng quay không có hiệu quả vì không có sự ma sát. Và hộp số bố trí hoàn toàn sai lầm. Lúc lái nó lên một độ dốc không cao lắm cũng chẳng khác gì dùng một chiếc xe tải có rờ moóc chất đầy hàng leo lên dãy núi Rockey Mountains. Động cơ sẽ giật mạnh làm vỡ hộp số. Bằng cách thay đổi hộp số và cắt những đường rãnh trên vỏ bánh xe, chúng tôi cho rằng chúng tôi có thể chứng minh nó có thể đáp ứng sự mong đợi dành cho nó và nó thực sự chinh phục Nam Cực”.

“Chuyện gì sẽ xảy ra nếu nó gặp một kẽ nứt quá lớn để lái nó vượt qua?” Giordino hỏi.

“Thomas Poulter, người đã thiết kế và tạo ra nó, đã có một trí óc sáng tạo phi thường. Những bánh xe và vỏ xe đồ sộ được đặt gần trung tâm chiếc xe, đã tạo ra những khoảng nhô ra rộng về cả hai phía trước và sau xe khoảng mười tám bộ. Những bánh xe có thể thụt vào về phía trên cho tới lúc chúng ngang bằng với mặt dưới thân xe. Khi người lái gặp một khe nứt, anh ta nhấc những bánh xe trước lên. Lúc đó, những bánh xe sau đẩy phần trước chiếc xe vượt qua trên khe nứt. Khi những bánh xe trước đã an toàn ở phía bên kia khe, chúng sẽ được hạ thấp xuống. Cuối cùng, những bánh xe sau lại thụt vào, và những bánh xe trước kéo chiếc xe về mép bên kia. Một hệ thống chuyển động tài tình đã được thực hiện như vậy”.

“Ông tìm thấy ở đâu một hộp số vừa vặn với hộp số cũ?”

“Hộp số, hay bộ phận truyền động, không phải là một cấu trúc duy nhất. Chúng tôi đã phân tích vấn đề và cách thức để gắn nó vào chiếc xe trước khi chúng tôi tới đây. Công ty sản xuất đầu tiên vẫn còn hoạt động kinh doanh, và họ có một kho chứa những phụ tùng cũ của những chiếc tàu bị chìm. Thật may, họ có những hộp số chúng tôi cần”.

“Ông đã chạy thử chiếc xe chưa?” Giordino hỏi.

“Các ông đến vừa đúng lúc”, bố già trả lời. “Trong một giờ nữa, chúng tôi hy vọng sẽ đưa nó ra ngoài chạy thử trên băng lần đầu tiên từ khi nó nằm yên vào năm 1940 để xem nó có thể làm được chuyện gì. Và cũng thật đúng lúc vì chỉ khoảng hai tuần lễ nữa thôi, tảng băng trôi sẽ vỡ và mang nó ra biển và cuối cùng nó sẽ chìm thôi”.

“Ông dự tính đưa nó về Mỹ bằng cách nào?” Giordino hỏi.

‘Tôi đã thuê một chiếc tàu chở hàng nhỏ neo ngoài khơi khối băng. Chúng tôi sẽ lái chiếc xe qua khối băng, lên một cầu thang và lên tàu”.

“Nếu nó đáp ứng sự mong đợi”, Pỉtt nói, “liệu chúng tôi có thể mượn nó trong hai ngày không?”

Bố già có vẻ sửng sốt. Rồi ông quay lại và nhìn ông Cash, “ông ấy đùa chắc”.

Ông Cash lắc đầu. “Ông ta không đùa đâu. Những vị này đang tuyệt vọng, không biết phải tới khu mỏ của gia đình Wolf bằng cách nào”.

Bố già đưa mắt nhìn Pitt trong lúc anh lại rót đầy ly rượu vang. “Tôi phải nói không. Cho tới lúc tôi hoàn tất công việc, tôi sẽ còn mất hơn ba trăm ngàn đô la để kéo nó ra khỏi khối băng, phục hồi nó để sử dụng được và đưa nó về Viện Bảo tàng Smithsonian tại Washington. Lần đầu tiên, khi tôi nói về giấc mộng cứu chiếc xe, mọi người đều phì cười. Các thủy thủ của tôi và tôi đào bới với những điều kiện thời tiết không thể tưởng tượng được. Đây là một kỳ công, khi đưa được nó trở lại trên mặt băng, và chúng tôi hãnh diện biết chừng nào. Tôi làm sao có thể trao nó cho hai người xa lạ chỉ muốn lái nó dạo chơi trên khối băng chứ?”

“Xin hãy tin tôi”, Pitt khẩn khoản “Chúng tôi không dạo chơi đâu. Nghe có vẻ buồn cười, nhưng chúng tôi đang tìm mọi cách để ngăn chặn một thảm họa rộng khắp địa cầu”.

“Câu trả lời là không!”

Pitt và Giordino trao đổi những ánh mắt lạnh lùng. Rồi Pitt lấy ra một tấm bìa kẹp giấy nhỏ từ túi áo ngực cái áo khoác dùng cho miền Bắc Cực và đẩy nó qua mặt bàn đến chỗ Bố già. “Bên trong, ông sẽ thấy nhiều số điện thoại. Theo thứ tự, chúng kê khai từ Văn phòng Hình Bầu Dục của Nhà Trắng, các vị Chủ tịch Quốc hội và Lầu Năm Góc, Giám đốc NUMA và cả ủy ban An ninh của Quốc hội. Ngoài ra còn có những cái tên của những nhân vật quan trọng khác, đều là những người xác nhận câu chuyện của chúng tôi”.

“Và tôi có thể hỏi câu chuyện cuả các ông là gì không?”

Vì vậy, Pitt đã kể cho ông già.

Một giờ rưỡi sau, Bố già và toán thủy thủ của ông, cùng với ông Frank Cash đứng và im lặng nhìn chiếc xe khổng lồ màu đỏ phun ra một đám mây màu đen vào bầu trời trong xanh, rồi nó bò qua mặt băng cứng, hướng về phía đường chân trời.

“Tôi không bao giờ quên được tên của Bố già”, Pitt nói lúc anh ngồi cúi mình trên tay lái, nhìn qua kính chắn gió quan sát khối băng trước mặt trải rộng như một cánh đồng để phát hiện những khe nứt và chướng ngại vật.

Giordino đứng phía sau Pitt trong buồng bản đồ và kiểm soát, đang tham khảo một bản đồ địa hình của vùng băng này. “Cái tên ghi trên một phong bì rơi khỏi túi áo ông ta là <Clive Cussler>”.

“Đúng là một cái tên kỳ cục. Nhưng lại nghe có vẻ thân thiết”.

“Tôi cũng nghĩ thế”, Giordino nói, giọng vô cảm.

“Hy vọng tôi sẽ không lọt vào một bãi mìn khi tôi đã hứa sẽ mang trả Bố già chiếc xe còn nguyên tình trạng như lúc ông già cho chúng ta mượn”.

“Nếu chúng ta tạo ra một vết xước trên chiếc xe, ông ta sẽ gởi hóa đơn cho Đô đốc Sandecker”.

“Cậu tìm ra hướng đi cho tôi chưa?” Pitt hỏi.

“Cái máy định vị của cậu đâu?”

“Vì vội quá tôi quên mất.Vả lại nó cũng không có Hệ thống Đinh vị Địa cầu vào năm 1940”.

“Cứ đi thẳng theo lối này”, Giordino nói và chỉ vu vơ về phía trước mặt.

Pitt nhướng mày, “Đó là chuyện tốt nhất cậu có thể làm à?”

“Chẳng có dụng cụ định hướng nào được chế tạo lại có thể đánh bại mắt người cả”.

“Lý lẽ của cậu hay gớm”.     

“Câu nghĩ phải mất bao lâu để tới đó?” Giordino hỏi.

“Sáu mươi dặm, chúng ta chỉ đi được hai mươi dặm mỗi giờ”, Pitt lẩm bẩm. “Ba giờ, nếu chúng ta không đâm đầu vào bất kỳ rào cản nào trong băng và phải đi vòng. Tôi chỉ hy vọng chúng ta có thể tới nơi trước đội tấn công. Một vụ tấn công toàn bộ có thể buộc Karl Wolf cho tách rời khối băng trước thời biểu đã định”.

“Tôi có cảm giác dạ dày đau thắt khi nghĩ rằng chưa chắc lần này chúng ta lại may mắn như lúc xâm nhập khu đóng tàu của chúng”.

“Tôi hy vọng cảm giác của cậu sai bét, ông bạn già ơi, vì vô số con người sẽ rất bất hạnh nếu chúng ta thất bại”.

Mặt trời chói chang trên bầu trời trong xanh, cường độ của nó tăng gấp ba lần vì sự phản xạ của mặt băng lúc chiếc xe Snow Cruiser màu đỏ bò qua vùng băng khô ráo như một con bọ ngo ngoe trên một tờ giấy trắng. Bị một màn tuyết che phía trước, nó nhả ra một màn khói màu xanh nhạt từ hai ống thoát khí, uốn éo bay lên cao. Những bánh xe khổng lồ phát ra những âm thanh rào rào khi chúng nghiền nát lớp băng tuyết mỏng trên mặt khối băng, những đường rãnh trên vỏ bánh xe giữ cho nó không bị trượt. Nó di chuyển thật hiệu quả, hầu như hoàn hảo, như người ta muốn nó phải như thế. Chỉ tiếc cho những người đã tạo ra nó nay không còn sống để nhìn thấy nó làm tròn phận sự của mình.

Pitt thoải mái trên ghế ngồi dành cho người lái, bám chặt tay lái, đưa chiếc Cruiser theo một đường thẳng về phía dãy núi lờ mờ hiện ra từ xa nơi đường chân trời. Anh chăm chú nhìn qua cặp kính râm đặc biệt dành cho vùng điạ cực. Tuyết làm mờ mắt là một đe dọa đáng sợ nơi khí hậu lạnh lẽo này. Hiện tượng này xảy ra vì màng kết dưới mí mắt bị viêm vì ánh sáng mặt trời và phản ứng lại trước những tia tử ngoại. Bất hạnh cho những người không thể chịu đựng tình trạng này. Họ có cảm giác như có cát rơi vào mắt, tiếp theo là mắt bị mờ đi và kéo dài tình trạng đó từ hai đến bốn ngày.

Tuy nhiên, hiện tượng tê cóng không xảy ra. Những bộ phận sinh nhiệt trong chiếc xe giữ cho ca bin luôn ở nhiệt độ mười sáu, mười bảy độ c. Vấn đề tuy nhỏ nhưng gây bối rối cho Pitt là sương mù không ngớt dày thêm trên những tấm kính chắn gió. Những lỗ thông hơi không đẩy không khí ra ngoài đủ để giữ cho những tấm kính trong trẻo. Trong lúc lái xe, anh chỉ mặc một áo len và đặt cái áo chống lạnh bên cạnh, phòng hờ trường hợp phải đột ngột rời khỏi chiếc xe khi xảy ra tình huống khẩn cấp. Dù thời tiết có vẻ đẹp như thế, nhưng bất kỳ ai đã từng quen với vùng cực đều biết rõ nó có thể bất ngờ thay đổi, làm chết người chỉ trong chốc lát.

Khi thống kê lại, người ta mới biết đã có hơn một trăm năm mươi người chết tại Nam Cực từ khi bắt đầu có việc thám hiểm vùng này. Từ khi một thủy thủ Na Uy trên một chiếc tàu săn cá voi tên là Carstens Borchgrevink trở thành người đầu tiên đặt chân lên bờ lục địa này vào năm l896, hầu hết những người đến thám hiểm Nam Cực đều đã chết vì lạnh, như Thuyền trưởng Robert Falcon Scott và toán người của ông ta đã chết cóng trong lúc trở về sau khi đã đổ bộ Nam Cực. Những người khác bị lạc hoặc đi lung tung không mục đích trước khi chết. Nhiều người chết vì bị rơi máy bay và những tai nạn bất hạnh khác.

Pitt chưa sẵn sàng chết, chắc chắn như thế... nếu anh và Giordino chưa ngăn chận được bọn Wolf gieo kinh hoàng cho nhân loại. Trong lúc lái chiếc Snow Cruiser, trong đầu anh luôn luôn nghĩ tới chuyện phải đến khu mỏ của chúng càng sớm càng tốt. Thiết bị định vị của anh chẳng có tác dụng gì. Màu ảnh địa hình của nó không hiển thị chính xác vị trí của anh trong phạm vi một ngàn dặm trên địa cực. Vì những vệ tinh nhận và phát những tín hiệu các vị trí địa lý chỉ thuộc về quân đội. Và quân đội lại không có kế hoạch gây chiến tranh tại Nam Cực, nên các vệ tinh không bay theo quĩ đạo bên trên khu vực này của địa cầu.

Anh gọi Giordino lúc đó đang đứng bên dưới, phía sau anh, đang cúi xuống một tấm bản đồ vẽ khu vực Ross Ice Shelf. “Cậu có chỉ dẫn gì cho tôi không ?”

“Cứ đi thẳng tới và hướng về phía chóp núi cao nhất trong dãy núi trước mặt. Và phải luôn luôn nhìn thấy biển phía bên trái cậu”.

“Luôn luôn nhìn thấy biển phía bên trái tôi”, Pitt nhắc lại để chọc tức.

“Tốt, chắc chắn chúng ta không muốn chạy ra ngoài và rơi xuống biển, phải không?”

“Vậy chuyện gì sẽ xảy ra nếu sương mù dày thêm và chúng ta không thấy đường?”

“Nếu muốn giữ đúng hướng”, Giordino có vẻ bi quan, “cậu cứ việc sử dụng la bàn. Cậu có những ba trăm sáu mươi cách chọn lựa mà”.

“Tôi chấp nhận cho cậu hành hạ”, Pitt vờ mệt mỏi. “Đầu óc tôi nằm ở nơi khác. Tôi quên mất mọi la bàn đều không hoạt động tại vùng địa cực này, lạ thật”.

“Cậu sẽ không bao giờ gặp hiểm nghèo là cái chắc”.

“Một cách nào đó, hầu hết mọi loại câu hỏi đều vượt quá khả năng nghèo nàn về mặt tinh thần của tôi”. Anh quay sang Giordino và ngoác miệng cười. “Tôi cá là cậu chuyên môn kể những chuyện máu me khủng khiếp cho đám con nít lúc chúng đã lên giường”.

Giordino nhìn Pitt, cố tìm hiểu ý nghĩa câu nói, “Tôi cái gì?”

“Những vách băng dựng tại mép khối băng Ross Ice Shelf cao tới hai trăm bộ trên kia và chìm dưới nước đến chín trăm bộ so với mặt biển. Rơi từ chóp một vách băng xuống biển sẽ như thế nào nhỉ? Nếu chúng ta lái ra khỏi gờ băng, e rằng ta chẳng đi tới đâu cả”.

“Suy nghĩ hay thật!” Giordino miễn cưỡng nhượng bộ.

“Ngoài chuyện rơi xuống những khe nứt sâu không thấy đáy hoặc bị lạc và chết cóng trong những trận bão tuyết, tình trạng tiến thoái lưỡng nan duy nhất của chúng ta là băng bị vỡ và mang chúng ta ra biển. Lúc đó, tất cả những gì chúng ta có thể làm là ngồi đợi một đợt sóng thần, do địa cực bị trôi gây ra, quét chúng ta ra khơi”.

“Nói hay quá chừng”, Giordino châm biếm. “Câu chuyện rùng rợn của cậu làm tôi nhớ lại câu chuyện khoa học giả tưởng Mẹ Ngỗng quá chừng”.

“Bầu trời đang tối dần”, Pitt nói, nhìn lên trời qua tấm kính chắn gió.

“Cậu vẫn nghĩ chúng ta sẽ tới nơi đúng giờ chứ?” Giordino hỏi.

Pitt liếc nhìn đồng hồ vận tốc. “Chúng ta đi được hăm mốt dặm trong giờ vừa qua. Nếu không xảy ra chuyện gì bất thường, chúng ta sẽ tới nơi không đầy hai giờ nữa”.

Họ phải tới nơi đúng giờ. Nếu đội tấn công đặc biệt bị thất bại, thì lúc đó anh và Giordino chính là niềm hy vọng duy nhất, dù có vẻ như chỉ với hai người, họ khó có thể làm nên chuyện gì. Pitt không lạc quan thái quá. Anh biết rõ địa hình trước mặt đầy chướng ngại. Nỗi sợ hãi lớn nhất của anh là băng bị vỡ và những khe nứt bị nhận diện quá trễ. Nếu không liên tục cảnh giác, anh có thể đưa chiếc Snow Cruiser lọt vào một khe nứt sâu và nó sẽ đâm đầu hàng trăm bộ xuống biển Nam cực dưới kia. Cho tới lúc này, mặt băng đông cứng phẳng phiu và hiền lành. Trừ hàng ngàn những chỗ dợn sóng và những chỗ lõm như một cánh đồng vừa mới cày xong, thì đường đi tương đối bằng phẳng. Thỉnh thoảng anh nhận ra một khe nứt nằm ẩn dưới lớp băng trước mặt. Sau khi đột ngột dừng lại để xem xét tình huống, anh cũng tìm ra cách đi vòng để tránh nguy hiểm.

Ý nghĩ đang lái một con quỉ khổng lồ bằng thép nặng ba mươi lăm tấn qua một cánh đồng băng với những khe nứt sâu hoắm và tối tăm không nhìn thấy được từ khắp mọi hướng làm Pitt không thể nhẹ nhõm được. Chẳng có mấy từ trong một cuốn từ điển có thể diễn tả được cảm giác đó. Bất chợt, một khe nứt hiện ra đột ngột, trước khi Pitt có thể dừng chiếc xe lại. Với một cú bẻ ngoặc tay lái hết cỡ, anh đảo ngang chiếc xe và dừng lại khi hông của nó chỉ cách mép vực năm bộ. Sau khi lái chiếc xe chạy song song với khe nứt khoảng nửa dặm, cuối cùng anh nhìn thấy một mặt bằng phẳng phiu khoảng năm trăm mét phía trước, là nơi khe nứt chấm dứt.

Anh nhìn xuống đồng hồ vận tốc và nhận ra tốc độ đã dần dần tăng lên tới hăm bốn dặm giờ. Trong phòng máy lúc đó, Giordino đang bận rộn với hai động cơ diesel khổng lồ, khéo léo điều chỉnh những van trên những máy bơm để tăng độ chảy của nhiên liệu. Vì không khí trên mặt đất tại những địa cực loãng hơn các nơi khác nên người ta dễ bị chóng mặt, và vì không khí miền địa cực hoàn toàn khô và lạnh, nên nhiên liệu cần được làm ấm, một điều mà Bố già và các thủy thủ của ông chưa liệu tới. Nhiên liệu phải được bơm liên tục để giữ ấm động cơ diesel.

Quang cảnh phía trước thật hoang vắng, trơ trụi và đầy đe dọa, nhưng lại đẹp lộng lẫy. Nó có thể bình yên một lúc rồi ngay sau đó trở nên khủng khiếp. Trong óc Pitt, nó đột ngột trở nên đe dọa. Bàn chân anh đạp mạnh trên bộ phận thắng của chiếc xe khiến nó khựng lại, và Pitt như hóa đá khi nhìn thấy một khe nứt rất rộng, cách đó chừng một trăm mét và kéo dài về cả hai phía không biết kết thúc ở đâu.

Thả cái thang từ cabin kiểm soát xuống, anh mở cửa xe và leo ra khỏi chiếc xe rồi đi về phía mép khe nứt. Cảnh tượng trông thật khủng khiếp. Màu của băng hai bên mép biến mất khỏi tầm mắt, màu trắng chỗ mép vực đổi sang màu xanh lục như bạc. Khoảng cách giữa hai mép rộng khoảng hai mươi bộ. Anh quay lại khi nghe tiếng bước chân của Giordino từ sau lưng.

“Chuyện gì thế này?” Giordino hỏi. “Sao cứ luôn gặp những chuyện bực mình chứ?”

“Ông Frank Cash bảo những bánh xe có thể thụt vào để đi qua những khe nứt. Ta hãy làm theo cách ông ấy bảo xem sao”.

Như những gì Bố già nói thì người thiết kế chiếc Snow Cruiser, Thomas Poulter, đã có cách giải quyết thật tuyệt vời để khắc phục những khe nứt. Mặt dưới chiếc xe bằng phẳng như một tấm ván trượt tuyết với thân trước và thân sau lơ lửng ló ra mười tám bộ về cả hai phía, tính từ những bánh xe. Theo những hướng dẫn chép trong cuốn sổ tay, Pitt ấn những cần gạt để làm cho những bánh xe phía trước thụt vào theo chiều thẳng đứng cho tới khi chúng nằm ngang với đáy chiếc xe. Sau đó, anh cho những bánh sau đẩy chiếc xe tới. Anh lái chiếc Cruiser thật chậm về phía trước cho tới lúc thân trước của nó trượt qua khe nứt và ló ra phía bên kia tới một khoảng cách an toàn và ổn định. Tiếp theo, anh điều khiển cho những bánh trước trồi ra những bánh sau thụt vào. Bây giờ anh mới cho những bánh trước từ từ chạy tới, nửa thân sau chiếc xe được kéo qua khỏi khe nứt. Sau những bánh xe sau ló ra, và họ lại lên đường.

“Tôi thực sự tin mình có thể nói đây là một sáng kiến đáng nể”, Giordino nói với giọng khâm phục.

Pitt đổi số và quay đầu xe trở lại hướng đỉnh núi cao nhất trong dãy núi. “Thật đáng ngạc nhiên khi người thiết kế chiếc xe này tỏ ra có tầm nhìn rất xa về máy móc nhưng lại tính toán rất dở về hộp số và những vỏ bánh xe”.

“Ai mà chẳng có chỗ sơ hở chứ. Tất nhiên, trừ tôi”.

Pitt chấp nhận lời khoác lác của bạn mình với sự kiên nhẫn cố hữu, “Tất nhiên!”

Giordino vẫn giúp Pitt theo dõi trong phòng máy, bất chợt chỉ tay vào đồng hồ nhiệt độ trên bảng điều khiển. “Những động cơ đã nóng hơn bình thường. Tốt hơn, cậu hãy để mắt đến chúng”.

“Làm sao chúng có thể nóng khi nhiệt độ bên ngoài thấp hơn số không chứ?” Pitt vặn.

“Vì những bộ phận làm mát động cơ không hoạt động chứ sao. Chúng nằm ngay phíạ trước những động cơ bên trong phòng máy. Có vẻ như chúng cũng nóng lắm rồi”.

Pitt đã hy vọng bóng tối sẽ che giấu sự xâm nhập của họ vào khu khai mỏ, nhưng vào thời gian này trong năm tại Nam Cực, cảnh mặt trời lặn chỉ xảy ra một lúc ngắn trước buổi bình minh. Anh không tự gây lo lắng vì nghĩ đến chuyện họ có thể bị phát hiện lúc xâm nhập vào địa phận của chúng, càng không thể che giấu hành tung với chiếc xe khổng lồ màu đỏ này. Anh biết mình nên nghĩ đến một điều gì đó sẽ xảy ra trong khoảng một giờ rưỡi đồng hồ sắp tới. Chẳng bao lâu nữa, những tòa nhà sẽ hiện ra trên đường chân trời ngay dưới chân dãy núi.

Anh bắt đầu cảm thấy có chút hy vọng, nhưng rồi, như thể có một sức mạnh vô hình chống lại anh, bầu khí quyển trở nên nặng nề và đông cứng như một tấm màn bằng ren. Rồi gió từ trong lục địa đột ngột quét qua với sức mạnh của một đợt sóng thần. Chỉ trong một phút, Pitt có thể nhìn suốt sáu mươi dặm. Tiếp theo, như thể anh đang nhìn qua một tấm phim làm bằng nước, nó lay động như một thứ chất dịch, óng ánh như một cầu vồng rồi nhanh chóng biến mất. Chỉ trong nháy mắt, bầu trời lại trong vắt và mặt trời lộ ra rõ mồn một, trong lúc gió xát mạnh trên mặt băng như một con quỉ trong cơn cuồng nộ. Cả thế giới bỗng chốc trở nên trắng xóa.

Anh nhấn hết chân ga và ghì chặt tay lái, không xoay nó, giữ cho chiếc xe khổng lồ chạy theo một đường thẳng. Họ đang vội, và Mẹ Thiên nhiên không bạc đãi họ, không gây trở ngại làm chậm trễ công việc của họ.

Bất kỳ người đàn ông nào cũng đi khập khiễng, không phải vì anh ta muốn đi như thế, nhưng vì chẳng hiểu sao, hầu như tất cả nhân loại đều có một chân ngắn hơn chân kia một milimét. Chiếc Snow Cruiser cũng vậy. Không một vỏ bánh xe nào được đúc một cách hoàn hảo với một vỏ bánh xe khác. Nếu tay lái bị khóa cứng một chỗ trong lúc chiếc xe vẫn chạy thẳng, thì thế nào dần dà nó cũng chạy theo một đường vòng cung.

Không một vật gì đúng với thực chất của nó. Như thể thế giới không còn tồn tại nữa. Sức mạnh bùng nổ của một trận gió có vẻ sẽ làm đổi màu mọi vật. Một trận bão tuyết xoáy tít và giật từng cơn với một sức mạnh thổi tung những hạt băng như ném bom vào mặt tấm kính chắn gió chẳng khác gì những móng tay cực nhỏ cào cấu. Sự va chạm của chúng vào những tấm kính tạo ra những âm thanh rào rào mỗi lúc một lớn. Pitt vẩn vơ tự hỏi liệu sự tấn công của những hạt băng có thể làm vỡ những tấm kính lâu đời được sản xuất từ trước chiến tranh không. Anh chúi người về phía trước khi chiếc Snow Cruiser nảy lên trên một mô băng bị tuyết che lấp. Anh chờ một cú nảy tiếp theo nhưng nó không xảy ra. Mặt băng lại bằng phẳng.

Câu tục ngữ “Mưa như trút nước” thoáng qua óc Pitt khi Giordino quát lớn qua cửa hầm máy, “chỉnh bộ phận kiểm soát nhiệt độ xem. Các động cơ vẫn nóng kinh khủng. Trong phòng máy không khí như đặc lại, hơi nước từ bộ tản nhiệt bị rò rỉ ở đâu đó”.

Pitt nhìn đồng hồ đo nhiệt độ trên bảng kiểm soát. Anh đã cố tìm mọi cách giữ cho chiếc xe di chuyển an toàn nhất, nhưng lại xao lãng việc kiểm soát các đồng hồ báo hiệu. Sức ép của dầu đã xuống thấp, nhưng nhiệt độ nước làm mát động cơ lại vượt tới mức báo động. Chẳng mấy chốc nước sẽ có thể luộc chín những quả trứng, các bộ phận tản nhiệt sẽ sôi và tống nước ra ngoài. Sau đó chẳng ai biết được các động cơ sẽ tiếp tục quay bao lâu cho tới lúc những piston của chúng nóng đỏ và kẹt cứng trong những ống xi lanh. Anh đã có thể nghe các động cơ bắt đầu phát ra âm thanh lạ khi sự đốt trong xảy ra sớm hơn do nhiệt độ quá cao.

“Cho bộ phận làm lạnh bắt đầu hoạt động đi”, Pitt quát. “Khi đã sẵn sàng, hãy mở những cửa ngoài ra. Không khí lạnh bên ngoài tràn vào sẽ làm giảm nhiệt các động cơ”.

“Và chúng ta cũng đông cứng như những xác ướp phải không”.

“Chúng ta phải cố chịu đựng cho tới khi các động cơ hoạt động bình thường trở lại”.

Cả hai đều mặc áo khoác có nón trùm đầu chống lạnh của người Eskỉmo, và Pitt vừa mặc mớ quần áo dày cộm vừa cố giữ cho chiếc Cruiser di chuyển ổn định trong cơn bão tuyết. Khi họ mặc xong quần áo, Giordino mở cửa xe. Một luồng không khí lạnh buốt tràn vào phòng lái. Gió gào rít lúc quét qua cánh cửa. Pitt cúi rạp người trên tay lái và nhìn qua đôi mắt nhíu lại vì những cú quật khủng khiếp của không khí lạnh tràn vào, mang theo những âm thanh ầm ĩ át cả tiếng động cơ.

Anh không thể nhận ra cú sốc xảy ra đột ngột khi nhiệt độ trong buồng lái bỗng chốc giảm đến ba chục độ chỉ trong ba mươi giây. Khi một người được trang bị đầy đủ quần áo ấm, anh ta có thể chịu đựng được cái lạnh ở bảy mươi độ âm từ hai mươi đến ba mươi phút trong trường hợp không bị thương tích. Nhưng khi những đợt gió giá buốt kèm theo nhiệt độ ở mười độ âm thì anh ta có thể bị giết chết chỉ trong vài phút. Quần áo chống lạnh của Pitt có thể bảo vệ anh trước cái lạnh thuần túy, nhưng những cơn gió lạnh cóng lại nhanh chóng bòn rút nhiệt lượng ra khỏi cơ thể anh.

Trong phòng máy bên dưới, Giordino ngồi giữa hai động cơ và hưởng được chút ít sức nóng từ những cánh quạt tản nhiệt các động cơ. Anh tự hỏi không biết Pitt có thể sống sót cho tới lúc nhiệt độ của các động cơ giảm xuống không. Họ không thể thông tin cho nhau. Những cơn gió gào thét lấn át tất cả mọi tiếng động.

Vài phút sau đó đúng là khoảng thời gian dài nhất đối với Pitt. Anh chưa bao giờ biết đến cái lạnh khủng khiếp như thế. Nó gây cho anh cảm giác như thể nó xuyên qua cơ thể anh, cắt đứt những cơ quan nội tạng của anh khi nó tràn qua. Anh nhìn những cây kim trên dụng cụ đo nhiệt độ động cơ và thấy chúng giảm xuống từ từ. Những tinh thể băng quất vào những tấm kính chắn gió như một bầy ong chia tổ và không bao giờ dứt. Chúng gào thét lao qua cánh cửa và tràn ngập buồng lái, nhanh chóng phủ kín Pitt và bảng điều khiển dưới một màn trắng mỏng. Bộ phận sưởi ấm không đủ sức khắc phục cái lạnh khủng khiếp và bề mặt bên trong những tấm kính chắn gió nhanh chóng mờ đục, trong lúc những que gạt nước bên ngoài bất lực và bị kẹt cứng trong lớp băng dày cộm. Không thể nhìn ra ngoài qua kính chắn gió trước tay lái, Pitt ngồi như một tảng đá trong lúc dòng thác màu trắng quay cuồng chung quanh anh. Anh có cảm giác như đang bị một con quỉ với hàng ngàn chiếc răng nhỏ xíu nuốt chửng.

Anh cắn chặt hai hàm răng để ngăn chúng va nhau. Những sức mạnh chiến đấu không còn tuân theo sự kiểm soát của anh nữa, và anh nhận ra trách nhiệm phải cứu vớt hàng tỉ sinh linh quả thực chẳng thú vị chút nào, mà nó còn đẩy anh vào hoàn cảnh phải chống chọi với những cơn gió gào thét và những đợt băng châm đốt. Sự đe dọa khủng khiếp nhất đối với anh là hình ảnh anh để chiếc xe rơi xuống một khe nứt anh không thể nhìn thấy trước khi mọi sự trở nên quá trễ. Điều sáng suốt nhất nên làm là cho chiếc Snow Cruiser chạy chậm lại như một con ốc sên đang bò và nhờ Giordino đi trước quan sát mặt băng; nhưng bên cạnh chuyện liều lĩnh tính mạng của mình, điều đó còn phải trả giá bằng việc đánh mất thời gian quí giá, vì vậy anh bỏ rơi ý nghĩ đó.

Tiếp tục lái xe qua cánh đồng băng quỉ quyệt tráo trở lúc này đã bắt đầu trở thành một cơn ác mộng.

Họ không còn cơ hội rút lui nữa. Hoặc hoàn thành nhiệm vụ hoặc chết. Cơn bão tuyết cuồng nộ và gào thét này chưa để lộ một dấu hiệu nào là nó sẽ giảm bớt. Sau cùng, Pitt quét lớp băng bắt đầu dày lên khỏi mặt tấm bảng điều khiển. Những cây kim của bộ phận báo nhiệt độ hạ xuống rất chậm, nhưng đã thoát khỏi tình trạng báo động. Nhưng nếu anh và Giordino muốn đi tới đích mà không bị trục trặc nào khác thì những cây kim phải giảm thêm mười độ nữa.

Anh là một gã mù trong thế giới mù. Thậm chí anh còn mất cả cảm giác sờ mó. Hai bàn tay và cẳng chân anh đã sớm tê cứng rồi và mọi cảm giác đều không còn nữa. Một phần cơ thể anh đã từ chối không đáp ứng mệnh lệnh của anh. Anh nhận ra tiếp theo đó sẽ là tình trạng khó thở. Cái lạnh khủng khiếp sẽ làm khô hai buồng phổi. Máu sẽ đông lại. Cái lạnh sẽ xuyên qua da thịt. Những cơ đau sẽ xé toạc từng sợi cơ, bất chấp sự ngăn cách của áo quần, và làm khô cạn sức khoẻ của anh. Chưa bao giờ anh biết một người đàn ông có thể chết lạnh nhanh như vậy. Cần phải tập trung hết nỗ lực để đứng vững lúc này và nhờ Giordino đóng cửa lại. Cảm giác cay đắng trước thất bại cũng mạnh chẳng khác gì những cơn gió ghê rợn.

Bao lâu anh vẫn còn thở và còn có thể suy nghĩ đúng thì anh vẫn còn cơ hội. Chỉ cần những cơn gió tắt lịm đi. Anh biết những trận bão có thể tan biến cũng nhanh như khi chúng xuất hiện. Tại sao chúng không chịu tắt lịm chứ? Anh chẳng hỏi ai khác mà chỉ hỏi chính mình. Một cảm giác trống vắng ghê gớm tràn ngập trong anh. Tầm nhìn trở nên tối tăm chung quanh mép cặp mắt và những cây kim trêu ngươi kia vẫn chưa chịu lắc lư trong phạm vi báo hiệu nhiệt độ bình thường.

Anh không để bị chìm đắm trong ảo ảnh hy vọng phi lý. Anh chỉ tin vào bản thân, vào Giordino và vào sự may mắn. Thượng đế cũng có thể đến với anh, nếu Ngài đồng ý. Pitt không có ước muốn chào đón sự trọng đại vượt quá tầm tay mở rộng của anh.

Anh luôn tin mình có thể bị thần thánh hoặc ma quỉ lôi kéo để không kiên nhẫn tranh đấu tới cùng nên không muốn là kẻ yếu đuối. Chỉ có sự thật không thể chối bỏ lúc này là có thể chỉ trong vài phút nữa, anh sẽ bị đông cứng trong khối băng.

Đầu óc anh vẫn sáng suốt, vẫn còn khả năng cân nhắc những tình huống lợi hại và hậu quả của chúng. Anh xua đuổi cơn ác mộng tối tăm đang xâm chiếm anh. Sức chịu đựng và khả năng tiên liệu không còn dẫn dắt anh nữa. Nhưng anh từ chối không chịu chấp nhận một kết cục không thể tránh. Bất kỳ ý nghĩ chết chóc nào cũng trở nên ghê tởm, và chúng chết yểu trong đầu óc anh.

Hầu như anh có khuynh hướng tự buộc mình phải tiếp tục chịu đựng và chống chọi một lúc nữa. Và anh tin Giordino chắc chắn sẽ cùng anh vượt qua được khoảnh khắc ngắn ngủi đó, và nhất định họ sẽ không hoảng loạn. Cứu những động cơ, rồi tự cứu mình, và sau cùng là cứu cả thế giới. Đó là con đường phải đi trọn.

Anh chùi lớp sương mù trên cặp kính và trông thấy những cây kim trên dụng cụ báo nhiệt độ đang hạ nhanh hơn và mau chóng gần đạt tới nhiệt độ bình thường. Hai mươi giây nữa trôi qua, anh tự nhủ. Rồi hai mươi giây nữa. Bài hát ngắn và giản dị “Chín mươi chín chai bia trên bức tường” như thế nào nhỉ? Rồi sau đó là cảm giác thư giãn, và đắc thắng, khi những bộ phận báo nhiệt độ cho thấy những động cơ đã đạt nhiệt độ bình thường.

Không cần phải quát tháo ầm ĩ qua miệng hầm dẫn xuống phòng máy, nơi Giordino đang có mặt, vì anh chàng người Ý lùn tịt đã cảm nhận được lúc thời gian chín muồi bằng cách đặt một bàn tay lên nắp một bộ phận tản nhiệt. Anh chàng lao tới đóng cánh cửa lại, chận đứng sức mạnh kinh hoàng của gió và băng, rồi nhanh chóng bật nút khởi động máy sưởi ở mức độ cao nhất. Cuối cùng anh ta ngoi lên buồng lái và thô bạo kéo áo Pitt từ phía sau tay lái.

“Cậu đã chịu đựng quá đủ rồi”, anh chàng nói và ái ngại nhìn Pitt trông chẳng khác gì một cái xác ướp vì thân nhiệt bị hạ thấp. “Tôi sẽ giúp cậu xuống phòng máy, ở đó cậu có thể ấm lên thật nhanh”.

“Chiếc Snow Cruiser...” Pitt lắp bắp qua cặp môi đông cứng. “Đừng để nó chạy lung tung”.

“Đừng ôm đồm nữa. Tôi có thể lái con voi răng mấu này cũng bảnh như cậu mà”.

Sau khi đặt Pitt trên sàn, giữa những động cơ diesel đồ sộ, ở đây anh có thể sưởi cho ấm lại, Giordino bò lên buồng lái lạnh cóng, ngồi vào sau tay lái và cài số một. Chỉ sáu mươi giây sau, chiếc xe cồng kềnh lại lao qua trận bão với vận tốc hăm bốn dặm mỗi giờ.

Những âm thanh xình xịch kiên định của động cơ diesel lại phát ra êm ái như những nốt nhạc trong tai Pitt, và đó là biểu tượng của niềm hy vọng mới. Chưa bao giờ trong đời có bất kỳ thứ gì lại tốt đẹp như hơi ấm tỏa ra từ những động cơ này và nó đang ngấm qua thân thể đã đông cứng một nửa của anh. Máu Pitt nhanh chóng loãng ra và tuần hoàn trở lại, và anh tự cho phép mình được hoang phí nửa giờ còn lại để thư giãn trong lúc Giordino điều khiển chiếc xe.

Hầu như thật không bình thường, anh lại bắt đầu thắc mắc không hiểu liệu lực lượng quân đội đặc biệt đã đáp xuống chưa? Hoặc họ đã bị lạc và chết cóng trong trận bão tuyết quỉ quyệt này?

Với màu sơn xám đen và không dấu hiệu nhận diện nào, ngoài một lá cờ Mỹ nhỏ trên bộ phận giữ thăng bằng, chiếc máy bay vận tải Mc Donnell Douglas C-17 gầm rú trên một biển mây màu ngọc trai che phủ mặt băng sáng lòa của Nam Cực như một con thằn lằn khổng lồ trên mặt đất vào Thời kỳ Trung sinh.

Đại úy Không quân Lyle Stafford, hoàn toàn thoải mái chẳng khác gì đang ở nhà, trong buồng lái chiếc C-17 đang bay trên lục địa băng giá. Bình thường ông ta vẫn bay đi và về giữa Christchurch, New Zealand và những trạm băng của Hoa Kỳ nằm rải rác trên lục địa Nam Cực để chở những nhà khoa học, các trang thiết bị và những vật dụng tiếp liệu. Chuyến bay này ông lại được lệnh khẩn cấp chở một toán binh sĩ chiến đấu đến vùng Ross Ice Shelf và thả họ xuống khu khai mỏ của Tập đoàn Vận Hội.

Stafford trông giống một giám đốc quan hệ quần chúng hơn là một phi công. Mái tóc màu sáng được cắt tỉa gọn ghẽ, trên môi lúc nào cũng điểm sẵn một nụ cười, ông ta luôn tình nguyện phục vụ cho những công tác của Không lực và các tổ chức từ thiện. Trên hầu hết các chuyến bay, ông ta ngồi đọc một cuốn sách, trong lúc viên phi công phụ, Trung uy Robert Brannon, một anh chàng quê California cao kều, có hai đầu gối gần đụng cằm lúc anh ta ngồi, đang theo dõi bảng kiểm soát và các dụng cụ lái. Có vẻ miễn cưỡng, Staford rời mắt khỏi cuốn sách — cuốn Ghi chép về Einstein do Craiq Dirgo viết - và ngước nhìn lên ra ngoài cửa sổ bên hông và sau đó nhìn vào màn hình Hệ thống Định vị Địa cầu trên bảng điều khiển.

“Đã đến lúc trở lại công việc”, ông nói và đặt cuốn sách xuống một bên, rồi quay sang mỉm cười với Thiếu tá Tom Cleary đang ngồi vắt vẻo trên một cái ghế đẩu sau lưng các phi công, “Hầu như đã tới lúc bắt đầu thở lấy hơi rồi, Thiếu tá, để thích nghi với thứ dưỡng khí ở đây”.

Ông Cleary nhìn qua kính chắn gió trên đầu các phi công, nhưng tất cả những gì ông thấy chỉ là mây. Ông nhận ra một góc của khối băng Ross Ice Shelf lờ mờ ẩn hiện bên dưới, trước mặt chiếc máy bay, “Còn bao lâu?”

Stafford gật đầu về phía bảng điều khiển, “Chúng ta còn cách điểm thả các ông xuống khoảng một giờ nữa. Người của ông đã sẵn sàng và phấn chấn chứ?”

“Sẵn sàng, có lẽ, nhưng tôi khó có thể nói họ phấn chấn. Họ vẫn nhảy xuống từ một máy bay phản lực ở độ cao ba mươi lăm ngàn bộ lúc này lúc khác, nhưng chưa hề nhảy trong lúc đang bay với vận tốc bốn trăm dặm giờ. Chúng tôi có cảm giác như máy bay chưa xuống thấp trước khi cầu thang máy bay được hạ xuống”.

“Rất tiếc tôi không thể đưa ông đến gần hơn, chậm hơn và thấp hơn”, ông Stafford nói với giọng đầy thiện cảm. “Thủ đoạn mà ông và người của ông sẽ áp dụng để đổ bộ xuống mặt băng không có dù là làm sao không bị phát hiện từ trên không. Lệnh bảo tôi phải vờ như bay thường lệ để tiếp tế vật liệu và lương thực đến trạm băng. Tôi sẽ cố bay thật gần nhưng không để bị nghi ngờ. Vì vậy các ông phải lén lút di chuyển gần mười dặm mới tới mục tiêu nằm bên ngoài hàng rào an ninh”.

“Gió đang thổi từ biển vào, như thế rất thuận lợi cho các ông”, Brannon nhận xét.

“Cả những đám mây dày đặc nữa chứ”, Thiếu tá Cleary thong thả nói. “Và nếu chúng có một hệ thống rađa thì gã theo dõi rađa phải có bốn con mắt theo dõi mới nhận ra đúng lúc chúng tôi rời máy bay cho tới lúc chúng tôi dàn quân xong”.

Đại úy Staford đảo nhẹ máy bay rồi nói, “Tôi không ganh tị với ông đâu, Thiếu tá ạ, khi ông nhảy từ một máy bay ấm áp thế này xuống một cánh đồng băng tuyết bốn mươi độ âm”.

Thiếu tá Cleary mỉm cười, “ít nhất thì ông cũng không bảo tôi như các ông phi công già mỏi mệt thường nói ‘nhảy từ một máy bay ngon lành hết ý’. Tôi đánh giá cao điều đó”.

Cả bọn họ phì cười một lúc vì sự pha trò giữa những quân nhân chuyên nghiệp. Trong nhiều thập niên, những quân nhân nhảy dù luôn được các phi công đặt câu hỏi “ Tại sao bạn nhảy từ một chiếc máy bay hoàn hảo?” Và câu trả lời nổi tiếng của Thiếu tá Cleary là, “Khi nào một chiếc máy bay hoàn hảo ra đời, lúc đó tôi sẽ từ giã việc nhảy”.

“Để đối phó cái lạnh”, ông Cleary nói tiếp, “những bộ quần áo sưởi ấm bằng điện sẽ giữ chúng tôi không biến thành băng khi chúng tôi xuống tới một độ cao ấm hơn”.

“Những đám mây cũng trải rộng ra trong phạm vi một ngàn bộ, vì thế các ông rơi xuống nhưng chẳng nhìn thấy gì, vì những la bàn và dụng cụ định hướng không hoạt động tại vùng địa cực”, Brannon nói.

“Những quân này đã được huấn luyện kỹ về điều đó. Chìa khóa để thành công từ một độ cao nhảy xuống để lén lút xâm nhập là nhảy ra đúng hướng gió để đáp xuống đúng tọa độ và mọi người cùng dàn rộng ra như một tấm thảm và cùng độ cao”.

“Chúng tôi sẽ thả các ông xuống một khu vực an toàn, nhưng không phải để đi cắm trại dã ngoại đâu đấy”.

“Không”, ông Cleary nói nghiêm chỉnh, “ Tôi tin chắc chỉ một phút sau khi chúng tôi từ máy bay đáp xuống, tất cả chúng tôi đều muốn rơi ngay vàọ một địa ngục dữ dội nhất”.

Ông Staford lại kiểm tra bảng điều khiển, “Sau khi ông và người của ông chuẩn bị xong thể trạng, tôi sẽ làm giảm sức ép trong cabin. Và ngay sau đó, tôi sẽ thông báo cho các ông và người của tôi giờ giấc mỗi mười phút, hai lần như thế. Sau đó tôi sẽ lưu ý các ông qua hệ thống liên lạc vô tuyến khi còn cách địa điểm sáu phút. Sau đó bốn phút, tôi sẽ hạ thấp máy bay xuống”.

“Hiểu”.

“Khi còn một phút”, ông Staford nói tiếp, “tôi sẽ bấm chuông báo động một lần. Sau đó, khi chúng ta tới đúng điểm thả, tôi sẽ bật đèn xanh. Cả toán các ông sẽ nhanh chóng nhảy ra trong lúc máy bay vẫn giữ nguyên tốc độ”.

“Sẽ làm y như thế”.

“Chúc các ông may mắn”, Stafford nói, xoay người lại và bắt tay ông thiếu tá.

Ông Cleary mỉm cười yếu ớt, “Cám ơn đã đưa chúng tôi đi”.

“Vinh dự của chúng tôi mà”, Stafford trả lời. “Nhưng tôi hy vọng chúng ta sẽ không sớm diễn lại chuyện này”.

“Tôi cũng thế”.

Thiếu tá Cleary đứng lên và duỗi thẳng chân tay, rời khỏi buồng lái và đi vào khoang sau máy bay. Sáu mươi lăm quân nhân đang ngồi trong khoang, trên mặt người nào cũng lộ ra vẻ trầm trọng, lỳ lợm và điềm tĩnh, sẵn sàng đối phó những bất trắc, rủi ro họ có thể sẽ phải đương đầu. Bọn họ đều còn trẻ. Lứa tuổi của họ trong khoảng từ hai mươi đến hăm bốn. Không ai cười lớn tiếng hoặc nói năng huyên thuyên, cũng chẳng ai càu nhàu hoặc than phiền. Và tất cả đều được chọn lựa kỹ lưỡng. Họ là một tập hợp những người chiến đấu dũng cảm nhất được gom lại trong một thời gian ngắn nhất từ những đơn vị đóng gần Nam Cực nhất của quân lực Mỹ đang thi hành nhiệm vụ tại Nam phi. Đó là một toán Thủy quân Lục chiến, những thành viên tinh hoa của Lực lượng Delta và Lực lượng Trinh sát Hải quân - một kết hợp gồm những chiến binh bí mật trong một nhiệm vụ không giống bất kỳ chiến dịch nào. Sau khi Lầu Năm Góc nhận được lệnh báo động của Nhà Trắng, thì thứ họ được cung cấp ít nhất là thời gian. Một đơn vị khác của các Lực lượng Đặc biệt của Hoa Kỳ đã lên đường và lệnh cho họ phải tới Vịnh Okuma trong ba giờ sau đó, một thời hạn quá ngắn. Lời cảnh báo của Đô đốc Sandecker không được những phụ tá hàng đầu của Tổng thống đón nhận với nhiệt tình, cả những người đứng đầu các Lực lượng vũ trang cũng vậy. Lúc đầu, không ai dám tin câu chuyện có vẻ hoang đường đó. Chỉ tới khi Nữ Dân biểu Loren Smith và những nhà khoa học khác cùng lên tiếng yêu cầu hành động gấp thì Tổng thống mới ra lệnh cho Lầu Năm Góc gởi một lực lượng đặc biệt để ngăn chặn thảm họa sắp đến gần.

Một kế họach tấn công trên không với tên lửa nhanh chóng bị bác bỏ vì thiếu dữ liệu tình báo. Nhà Trắng và Lầu Năm Góc cũng không hoàn toàn tin chắc họ có thể kiểm soát hành động cho tách rời khối băng của Karl Wolf nếu áp dụng kế hoạch này. Họ cũng không biết rõ vị trí đặc biệt của trung tâm điều khiển vụ hủy diệt Trái Đất. Tất cả những gì họ biết chỉ là nơi đó được che giấu trong một hầm băng dưới đất cách khu khai mỏ vài dặm. Các tham mưu trưởng liên quân quyết định một vụ tấn công bằng sức người là dễ tạo cơ hội thành công nhất và không bị quốc tế la ó nếu họ sai lầm.

Những quân nhân trẻ ngồi trên những túi đeo lưng nặng nề của họ và đều đeo dù. Tất cả những chiếc dù đều được các chuyên viên kiểm tra kỹ. Những túi đeo lưng chứa đầy các vật dụng và đạn dược đặc biệt dùng cho súng spartan Q99 Eradicator, một loại vũ khí nặng năm cân Anh tự động với băng đạn hai mươi viên, nòng 5,56 ly bắn đạn thường và một nòng đặc biệt để phóng tên lửa cỡ nhỏ nhưng có sức công phá và sát thương dữ dội. Khi gắn cả băng đạn và tên lửa, toàn bộ khẩu súng nặng gần hai mươi cân Anh, đeo lủng lẳng ngang thắt lưng.

Đại úy Dan Sharpsburg chỉ huy Lực lượng Vũ trang Delta, trong lúc Trung úy Warren Gamet chỉ huy đội Trinh sát của Hải quân. Trung úy Mỉles Jacobs và nhóm Thủy quân Lục chiến của anh ta — đã từng trợ giúp NUMA trên đảo St Paul cũng tham gia chiến dịch tấn công này. Nhóm phối hợp này đặt dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Cleary, một chiến binh của Lực lượng Đặc biệt đang có mặt tại Nam Phi để nghỉ phép thì ông nhận được lệnh phải chỉ huy một đơn vị tấn công tạm thời gồm những phần tử tinh hoa đã được chọn. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ xảy ra sự kiện những đơn vị đặc biệt riêng lẻ cùng hợp tác chiến đấu của một sĩ quan đang nghỉ phép.

Trong nhiệm vụ này, lần đầu tiên mỗi người được trang bị một hệ thống dù nhảy mới có tên là MT-IZ hoặc Zulu. Loại dù này đáp xuống theo tỉ lệ bốn trên một , nghĩa là nó có thể bay ngang bốn mét trong lúc hạ thấp xuống một mét, một ưu thế được đánh giá rất cao trong ngành nhảy dù.

Thiếu tá Cleary nhìn khắp hai hàng những người lính. Viên sĩ quan gần nhất, Đại úy Sharpsburg, nghiêng cái đầu với mái tóc đỏ một cách hài hước và bật cười. Dan là một trong những bạn bè cũ của ông Cleary, một trong rất ít người thích tham dự những cuộc hành quân hiểm nghèo nhất. Ngoài ra, Dan còn là một phi công lái máy bay xung kích trong nhiều năm rồi rời công việc này để nắm chức vụ huấn luyện viên Nhảy dù của Lực lượng Đặc biệt trong quân lực Hoa Kỳ tại Căn cứ Yuma, bang Arizona. Khi rảnh rang nhiệm vụ huấn luyện, người ta thấy Dan tham dự trò nhảy dù chỉ mở dù vào phút chót với những bạn bè dân sự của mình.

Ông Cleary không có thì giờ để đọc những ghi chép về thành tích của Jacobs và Garnet, nhưng ông biết họ là những người xuất sắc nhất trong những người giỏi nhất của Hải quân và Thuỷ quân Lục chiến trong những chiến dịch đặc biệt. Dù là một cựu quân nhân, ông vẫn biết rõ những người của hai sĩ quan này là những chiến binh lỗi lạc nhất.

Trong lúc nhìn từng gương mặt họ, ông nghĩ nếu họ sống sót sau khi nhảy xuống và áp sát mục tiêu, lúc đó họ sẽ chạm trán những kẻ được huấn luyện cẩn thận của lực lượng an ninh của bọn Wolf và tranh giành sự sống với chúng, những tên giết mướn lạnh lùng chuyên nghiệp, nhiều tên trong bọn chúng đã từng phục vụ trong những lực lượng của những người đang có mặt trên máy bay. Ông được báo cho biết như vậy. Không, Thiếu tá Cleary tự nhủ đây không phải là một cuộc picnic.

“Còn lâu không?” Đại úy Dah Sharpsburg hỏi, vẻ căng thẳng.

“Không tới một giờ nữa”, ông Cleary trả lời rồi đi dọc theo hàng người và báo động với Jacobs và Garnet. Rồi ông đứng giữa những người sắp chiến đấu và dặn dò họ những hướng dẫn sau cùng. Những tấm không ảnh do vệ tinh cung cấp được phân phát cho mỗi người và họ cất trong túi áo, sẽ nghiên cứu lúc họ nhảy xuống. Nơi họ sẽ đổ bộ là một cánh đồng băng rộng lớn ngay bên ngoài khu khai mỏ, một nơi trống trải nhưng lồi lõm nên mức độ che chắn cho họ không nhiều lúc họ tập trung lại sau khi xuống mặt băng. Phần tiếp theo của kế hoạch là tấn công vào trung tâm căn cứ của địch, ở đó họ sẽ đụng độ lực lượng phòng vệ của chúng. Những bộ óc chuyên gia quân sự phán đoán rằng sẽ có ít thương vong xảy ra nếu họ nhảy xuống và tấn công từ bên ngoài hơn là rơi ngay vào giữa mê cung với những tòa nhà, cột ăng ten, máy móc và những thiết bị điện tử.

Sự phối hợp sẽ được thực hiện khi mỗi đơn vị đều đã xuống đất và tập trung để tấn công. Bất kỳ người nào bị thương trong lúc nhảy xuống chắc chắn sẽ chết sau đó vì không chống lại nổi cái lạnh khủng khiếp. Nếu họ thất bại hoặc thời gian chiến đấu kéo dài quá lâu trước khi họ thành công thì hậu quả cũng thế.

Hài lòng vì mọi người đều biết rõ những gì họ cần biết, Thiếu tá Cleary bước về phía đuôi máy bay, nơi khoang chứa hàng hóa, để mang dù và túi đeo lưng. Sau đó, một người của Đại úy Sharpsburg

kiểm tra toàn bộ thiết bị nhảy và đưa cho ông Cleary dụng cụ thở dưỡng khí dành cho những chuyến nhảy dù kéo dài.

Sau cùng, ông đứng dựa lưng vào vách khoang chứa hàng và vẫy tay để mọi người chú ý chuẩn bị. Từ giờ phút này trở đi, sự thông tin giữa toàn đội tấn công với nhau đều được ra dấu bằng bàn tay và cánh tay theo thủ tục chuẩn. Những thông tin duy nhất bằng âm thanh cho tới lúc nhảy chỉ xảy ra giữa Cleary, Sharpsburg, Jacobs và Garnet trong buồng lái. Một khi họ đã ra khỏi máy bay và ở dưới mái dù, mỗi người có thể thông tin với nhau bằng máy bộ đàm cá nhân Motorola với tần số an ninh.

“Phi công, đây là nhân viên hướng dẫn nhảy?”

“Tôi nghe rõ, Thiếu tá”, giọng Stafford trả lời. “Đã sẵn sàng chưa?”

“Tất cả đều sẵn sàng”.

Ông Cleary nhìn kỹ mỗi người. Cho tới lúc này, tất cả đều thuận lợi, hầu như rất thuận lợi, ông nghĩ. Đây chính là lúc bắt đầu giở trò lén lút, và ông không cho phép những hành động điên rồ xảy ra. Sau cùng, ông hài lòng khi thấy mọi người đều tỏ ra cảnh giác và sẵn sàng.

Họ đội những nón trùm đầu có gắn hệ thống phát nhiệt Gentex để tăng cường sự bảo vệ chống lại nhiệt độ âm dưới số không khắc nghiệt. Những kính râm màu vàng Galefore Adidas để cản sương mù và hơi mây bám vào nón trùm đầu. Những dụng cụ phát nhiệt trong bộ quần áo chống lạnh của họ đều hoạt động và mỗi người theo một kỹ thuật đặc biệt để phòng ngừa trường hợp quần áo bị xé toạc do không khí lùa vào khi họ lao ra khỏi máy bay.

Sau khi kiểm tra những máy bộ đàm để biết chắc chắn chúng vẫn hoạt động tốt, ông Cleary đứng thẳng lên và bước lại gần cửa máy bay. Lại đối mặt với lực lượng tấn công của mình, ông nhận ra tất cả những người đàn ông này đang cho ông sự quan tâm cá nhân của họ. Lại một lần nữa, ông bước về phía người quân nhân gần ông nhất phía bên trái, một ngón tay cái xỉa lên trời.

Trong buồng lái, Đại úy Stafford đang thận trọng nghiên cứu hướng đi và điểm thả dù đã được lập trình vào máy điện toán. Ông cố ghi vào óc điểm thả để những quân nhân đang chờ đợi đáp xuống đúng địa điểm để tạo mọi cơ hội sống sót cho họ. Quan tâm hàng đầu của ông không phải là chuyện thả họ xuống sớm hơn mười giây hoặc trễ năm giây và rải họ đều trên mặt băng, mà là việc giữ đúng hướng bay và điểm thả người. Ông Stafford bật công tắc hệ thống liên lạc với buồng lái và nói qua mặt nạ dưỡng khí cho Brannon, “Nếu lệch một độ thôi, họ sẽ phải trả giá đắt đấy”.

“Tôi sẽ thả họ xuống đúng ngay bên trên mục tiêu”, Brannon nói một cách tự tin. “Nhưng ông phải hướng dẫn họ đáp xuống ngay mục tiêu”.

“Vây cậu không tin vào khả năng xác định vị trí của tôi, phi công truởng của cậu? Xấu hổ thật”.

“Ngàn lần xin lỗi, Đại úy”.

“Như thế tốt hơn”, Stafford nói, vẻ cởi mở. Ông xoay công tắc để liên lạc với khoang hành khách. “Thiếu tá Cleary, đây là Stafford, ông sẵn sàng rồi chứ?”

“Rồi”, ông Cleary đáp gọn.

“Các quân nhân, các bạn sẵn sàng rồi chứ?”

Những quân nhân đã chuẩn bị xong, đang đứng cách cửa nhảy vài bộ bên phía đối diện.

“Trung sĩ Hendricks đã sẵn sàng, thưa đại úy”.

“Hạ sĩ Jokin đã sẵn sàng, thưa Đại úy”.

“Hai mươi phút dể chuẩn bị nhảy, thưa Thiếu tá”, Stafford thông báo. “Áp suất trong máy bay đang giảm”.

Hendricks và Jokin thận trọng đến gần cửa nhảy, giữ cho dây móc dù chạy dọc theo sợi dây mở dù khi người nhảy lao ra ngoài.

Trong lúc áp suất trong khoang máy bay giảm xuống, mọi người có thể cảm thấy nhiệt độ hạ một cách rõ rệt, thậm chí ngay cả bên trong bộ quần áo có máy sưởi chạy bằng điện để chống lạnh của họ. Không khí từ khoang chứa hàng hóa ập tới cho đến khi nó chậm chạp cân bằng với bầu khí quyển bên ngoài.

Thời gian trôi thật nhanh. Rồi giọng của Đại úy phi công Stafford vọng ra từ máy truyền tin.

“Thiếu tá, còn mười phút”.

“Đã sẵn sàng. Im lặng một luc rồi Thiếu tá Cleary hỏi với giọng châm chọc, “Cậu có thể giữ khoang máy bay ấm hơn một chút được không?”

“Tôi chưa nói với ông à?” Stafford trả lời, “Chúng tôi cần kiếm chút băng để pha rượu coktail sau khi các ông nhảy xong đấy”.

Hai phút sau, Thiếu tá Cleary đã ghi nhận xong vị trí của khu khai mỏ vào trong đầu. Tất cả những chi tiết gồm các yếu tố như độ cao, khoảng cách để mở dù, giữ hướng sau lúc mở dù, kế hoạch chung là toàn đội sẽ rơi tự do hai mươi lăm ngàn feet, sau đó mở dù, tập trung lại trên không và hướng tới khu vực đáp xuống đất.

Lực lượng Delta của Đại úy Sharpsburg nhảy ra đầu tiên, tiếp theo là Trung úy Jacobs và toán Thủy quân Lục chiến của ông ta và sau cùng là Trung úy Garnet và toán lính Hải quân. Thiếu tá Cleary là người cuối cùng rời máy bay để tiện quan sát tất cả người của ông trong điều kiện thuận lợi nhất và để kịp điều chỉnh, nếu cần.

Đại úy Sharpsburg giữ vai trò Gà Mẹ, một thuật ngữ để chỉ người đầu tiên đáp xuống đúng mục tiêu. Tất cả gà con bám theo sau đó. Ông Sharpsburg, tới đâu họ sẽ tới đó.

“Sáu phút nữa sẽ nhảy”, giọng Stafford vọng ra, cắt ngang dòng suy nghĩ của Thiếu tá Cleary.

Đôi mắt Đại úy Stafford dán chặt vào màn hình máy vi tính nối với một hệ thống hình ảnh vừa nhận được cho thấy quang cảnh dưới mặt băng với những chi tiết rõ mồn một qua những lớp mây. Phi công phụ Brannon bấu chặt cần lái như thể nó là một vật để bám. Hướng bay vốn ổn định và đích nhảy đã hiện ra trước mắt.

“Mẹ kiếp lệnh với lạc!” Stafford đột ngột bật ra. “Brannon!”

“Vâng, Đại úy?”

“Đúng một phút trước khi nhảy, cậu cho máy bay đạt vận tốc một trăm ba mươi lăm nút. Tôi sẽ tìm mọi cách thuận tiện và an toàn nhất có thể để tăng cơ hội sống sót cho họ. Lúc nào Trung sĩ Hendricks báo cáo người cuối cùng đã nhảy, hãy thả lỏng những van tiết lưu để vận tốc chỉ tăng lên hai trăm nút”.

“Liệu rada của bọn Wolf có phát hiện chúng ta giảm vận tốc?”

“Máy vô tuyến của Trạm Murdo đang hoạt động. Chúng ta liên lạc với họ và báo động cơ trục trặc nên chúng ta phải giảm tốc độ bay và đến trễ”.

“Trò lừa bịp có vẻ không tệ”, Brannon vui vẻ nói, “Nếu chúng đang theo dõi chúng ta từ mặt đất, chúng sẽ chẳng có lý do gì để không mắc bẫy chúng ta”.

Brannon cho máy truyền tin vô tuyến hoạt động và phịa câu chuyện như đã dự tính cho trạm Mc Murdo. Sau đó anh ta chỉ vào màn hình máy vi tính báo họ đang áp sát địa điểm nhảy, “chỉ còn hai phút”

Stafford gật đầu, “Bắt đầu giảm vận tốc đi, từ từ thôi. Trước lúc nhảy một phút, ngay sau khi tôi bấm chuông, đưa vận tốc vào một trăm ba mươi lăm”.

Brannon uốn các khớp ngón tay như một nghệ sĩ trình diễn piano và mỉm cười, “Tôi sẽ điều khiển những van tiết lưu như trình diễn một bài concerto”.

Stafford nhấn nút máy truyền tin để liên lạc với khoang hành khách, “Hai phút, Thiếu tá. Trung sĩ Hendricks, bắt đầu mở cửa đi”.

“Cửa đã mở”, giọng của Hendricks đáp trả.

Stafford quay sang Brannon, “Tôi sẽ đảm trách việc kiểm soát. Cậu điều khiển những van tiết lưu để tôi có thể tập trung vào việc tính toán lúc thả họ xuống”.

Sau khi theo dõi sự trao đổi của hai sĩ quan phi công, Thiếu tá Cleary đứng lên và bước lại đứng bên cánh cửa, giữ cho lưng quay sang một phía của thân máy bay để có thể nhìn rõ người của mình, việc họ nhảy, đèn tín hiệu và cả cánh cửa. Ông đưa cánh tay phải lên và vẽ thành một hình vòng cung, lòng bàn tay đối diện với một bên thân hình thành một góc vuông. Đó là lệnh đứng lên.

Mọi người đứng thẳng lên từ ghế ngồi, kiểm tra lại dây kéo để bung dù lúc nhảy và các trang bị lần cuối, chỉnh lại những túi đeo lưng nặng nề họ mang sau lưng ngay bên dưới cái túi bọc dù. Không cần phải mô tả những gì họ cần thao tác một khi cánh cửa nhảy đã mở và lúc họ rơi vào bầu không khí lạnh buốt da thịt.

Trong buồng lái, Stafford quay sang Brannon “Tôi theo dõi những thiết bị kiểm soát, như thế tôi có thể xác định thời gian. Các van tiết lưu thuộc phần cậu”.

Brannon đưa cả hai tay lên, “ông phải làm tất, Đại úy”.

“Đại úy? Đại úy?” Stafford lặp lại như thể ông ta đang bị tổn thương. “Cậu không thể cho tôi thấy sự kính trọng tối thiểu cậu dành cho tôi sao?” Rồi ông ta bật công tắc truyền tin nội bộ, “Còn đúng một phút, Thiếu tá”.

Thiếu tá Cleary không trả lời, ông không cần phải làm điều đó. Chuông báo động reo một lần. Ông phác một dấu hiệu tiếp theo, cánh tay mặt đưa thẳng về một bên hông cao ngang vai, lòng bàn tay chạm vào cái nón trùm đầu Gentex của ông, đó là lệnh di chuyển về phần thân sau máy bay. Những người đứng phía trước đã tới chỗ phải dừng lại còn cách bản lề cánh cửa khoảng ba bước chân. Ông hạ thấp cái kính bảo hộ vào đúng vị trí và lặng lẽ đếm lùi những giây cho tới lúc nhảy. Bất chợt ông nhận ra có một hiện tượng bất thường. Chiếc máy bay chậm lại thấy rõ.

“Cửa đã mở và được hãm lại, thưa Đại úy”, Trung sĩ Hendricks thông báo cho ông Stafford.

Giọng nói của viên trung sĩ làm ông Cleary ngạc nhiên. Và ngay lập tức ông nhận ra mình đã quên không nối sợi dây truyền tin với cái ổ cắm của máy bộ đàm.

Ông Cleary dùng cánh tay và bàn tay ra dấu còn mười lăm giây nữa sẽ nhảy. Cặp mắt ông dán chặt vào bóng đèn màu đỏ nhắc nhở mọi người phải thận trọng. Sáu mươi lăm người tạo thành một khối duy nhât và gắn bó, đang đứng chờ với Đại úy Sharpsburg đang vắt vẻo cách cửa nhảy chỉ vài inch.

Cùng lúc đó, khi bóng đèn màu đỏ thẫm tắt và bóng đèn màu xanh sống động nháy lên, Thiếu tá Cleary chỉ tay về phía cánh cửa.

Như bị điện giật, Đại úy Sharpsburg lao ra khỏi máy bay, xé gió rơi vào khoảng không đầy những đám mây trắng kết thành một tấm màn. Tay chân duỗi thẳng, ông ta rơi xuống và nhanh chóng thoát khỏi tầm nhìn như thể bị một sợi dây cao su khổng lồ kéo bật xuống. Toán người của ông ta nối tiếp nhau theo sau và cũng bị lớp mây nuốt chửng. Tiếp theo là Trung úy Jacobs và những lính thủy đánh bộ của mình. Sau cùng là Trung úy Garnet và những người lính hải quân. Lúc người lính cuối cùng lao qua khỏi cánh cửa máy bay, Thiếu tá Cleary nhảy ra theo họ.

Một lúc lâu sau đó, Trung sĩ Hendricks và Hạ sĩ Jokin đứng bất động nhìn vào khoảng không gian màu trắng, không thể tin những gì họ vừa chứng kiến. Như bị thôi miên, Hendricks nói vào máy bộ đàm bên trong mặt nạ dưỡng khí của mình, “Đại úy, họ đi cả rồi”.

Chẳng để mất thì giờ, Brannon đẩy vội những van tiết lưu về phía trước cho đến khi kim chỉ vận tốc máy bay chỉ con số hai trăm nút, đạt một nửa vận tốc của chiếc C-17S. Cánh cửa khoang chứa hành khách đóng lại và hệ thống dưỡng khí bên trong máy bay trở lại bình thường. Hành động tiếp theo của Stafford là bật công tắc tần số an ninh của máy vô tuyến truyền tin và gọi Tổng hành dinh chỉ huy của Hoa Kỳ tại Nam Phi để báo cáo kế hoạch nhảy dù đã đúng lịch trình. Rồi ông ta quay sang Brannon.

“Hy vọng họ gặp thuận lợi”, - ông ta điềm tĩnh nói.

“Nếu đúng như vậy là do Đại úy đã tính toán vận tốc hợp lý trong tình trạng thời tiết này, tuy có chậm hơn vận tốc bình thường của chúng ta”.

“Tôi hy vọng, nhờ ơn Chúa, họ không bị lệch địa điểm”, Staf- ford nói tiếp với vẻ an tâm. “Chỉ sợ họ phải đương đầu với một hỏa lực khủng khiếp của đối phương, nếu thế, không biết sẽ có bao nhiêu người chết”.

“Tôi cũng không thể nhận xét gì khác hơn”, Brannon buồn bã nói.

Stafford thở dài nặng nề trong lúc ông ta điều chỉnh máy bay. “Chúng ta đã hết trách nhiệm. Chúng ta đã thả họ xuống đúng lúc, đúng nơi”. Rồi ông ta dừng lại, nhìn vào những đám mây trắng đầy bất trắc đang trượt qua lớp kính chắn gió ngăn chận mọi tầm nhìn, “Tôi cầu nguyện cho họ đáp xuống bình yên”.

Brannon nhìn ông ta với anh mắt dò hỏi, “Tôi không ngờ ông là một người hay cầu nguyện”.

“Chỉ trong những lúc hiểm nghèo thôi”.

“Họ sẽ đáp xuống bình yên”, Brannon tỏ ra lạc quan. “Chỉ e sau khi chạm mặt băng, tình trạng sẽ tồi tệ”.

Stafford lắc đầu, “Tôi không muốn họ gặp chuyện chẳng lành. Tôi cá họ sẽ như đi tản bộ trong công viên thôi”.

Stafford làm sao biết được ông đã nhầm như thế nào.

Gã nhân viên theo dõi rađa trong tòa nhà an ninh nằm cạnh trung tâm kiểm soát nhấc ống liên hợp điện thoại lên khi nhận thấy những tín hiệu chung quanh màn hình rada, “Thưa ngài Wolf, ngài có thể dành chút thì giờ?”

Mấy phút sau, Hugo Wolf bước nhanh vào căn phòng nhỏ hơi tối, dày đặc những dụng cụ điện tử. “Sao, có chuyện gì thế?”

“Thưa ngài, máy bay tiếp liệu của bọn Mỹ đột ngột giảm vận tốc”.

“Đúng, tôi biết điều đó. Máy vô tuyến truyền tin của chúng ta có bắt được một thông tin của chúng thông báo động cơ máy bay bị trục trặc”.

“Ngài có nghĩ đó là một trò bịp bợm không?”.

“Nó có bay khỏi lộ trình bình thường?” Hugo hỏi.

Gã nhân viên rađa lắc đầu. “Không, thưa ngài. Máy bay vẫn cách chúng ta mười dặm”.

“Cậu không thấy có điểm gì khác trên màn hình chứ?”

“Chỉ là những dấu hiệu nhiễu sóng bình thường trong thời gian xảy ra bão tuyết và sau khi cơn bão chấm dứt đột ngột.

Hugo đặt một bàn tay lên vai gã nhân viên, “Cứ theo dõi đường bay của nó để an tâm nó không giở trò gì, và luôn luôn để mắt tới bất kỳ sự xâm nhập nào từ đường biển và hàng không”

“Còn phía sau lưng chúng ta, thưa ngài?”

“Sao. Cậu nghĩ ai có đủ khả năng vượt qua những dãy núi này hoặc băng qua cánh đồng băng trong lúc có bão tuyết chứ?”

Gã nhân viên nhún vai. “Không ai có thể làm chuyện đó. Chắc chắn không ai, nếu đó là con người”.

Hugo phì cười, “Đúng thế”.

Tướng Không lực Hoa Kỳ Jeffry Coburn đặt ống liên hợp thoại xuống giá đỡ và nhìn qua cái bàn dài trong phòng chiến tranh nằm dưới tầng hầm Lầu Năm Góc, “Thưa Tổng thống, Thiếu tá Cleary và toán quân nhân dưới quyền ông ta đã ra khỏi máy bay”.

Các Tham mưu trưởng liên quân và những phụ tá của họ đang trong một khu giống như trong rạp hát của căn phòng rộng lớn với những bức tường phủ đầy những dụng cụ điều khiển và những màn hình khổng lồ hiện ra quang cảnh những căn cứ quân sự, những tàu Hải quân và những phi trường của Không lực Hoa Kỳ trên khắp thế giới. Những hải trình của tàu quân sự trên biển và máy may quân sự trên không được liên tục theo dõi, đặc biệt là vụ vận chuyển dành cho những Lực lượng Đặc biệt của Hoa Kỳ vừa được tập trung khẩn cấp.

Một màn ảnh khổng lồ trên bức tường phía xa nhất đang dàn trải những tấm ảnh thu hình từ xa về căn cứ khai mỏ của Tập đoàn Vận Hội tại Vịnh Okuma. Những tấm ảnh không phải được thu hình từ trên cao, mà có vẻ như được thu từ những máy thu hình sau khi chúng được ném xuống từ một máy bay tại một bên hông căn cứ. Sở dĩ không có những tấm ảnh thu từ trên cao vì quân đội không có những vệ tinh tình báo bay trên bầu trời Nam Cực. Việc liên lạc bằng thông tin vô tuyến với lực lượng tấn công của Thiếu tá Cleary chỉ được thực hiện nhờ một vệ tinh thông tin dân sự được những trạm nghiên cứu của Hoa Kỳ sử dụng trên vùng băng Ross Ice Shelf nối liền với Lầu Năm Góc.

Một màn hình khác cho thấy Tổng thống Dean Cooper Wallace, sáu thành viên trong nội các và một nhóm các cố vấn thân cận của ông đang ngồi quanh một cái bàn trong phòng an ninh dưới tầng hầm của Nhà Trắng. Các ông giám đốc CIA và FBI và các ông Ron Little và Ken Helm cũng có mặt. Ngoài ra còn có Nữ Dân biểu Loren Smith cũng được mời tham dự vì sự am hiểu rộng rãi của cô về Tập đoàn Vận Hội. Trong lúc họ hành động như những cố vấn của Tổng thống về những vấn đề có mật danh là Dự án Tiên tri, thì Đô đốc Sandecker đang ngồi với những Tham mưu trưởng Liên quân tại Lầu Năm Góc và hành động như một nhà tư vấn.

“Còn bao lâu nữa, Đại tướng?” Tổng thống hỏi.

“Một giờ và bốn mươi hai phút, thưa ngài”, Đại tướng Amos South, người đứng đầu các tham mưu trưởng Liên quân, trả lời. “Đó là thời điểm các nhà khoa học cho chúng ta biết những đợt thủy triều cao nhất tách rời khối băng khỏi lục địa và đưa nó ra biển”.

“Tin tức đó chính xác thế nào?”

“Ngài có thể bảo đó là tin do miệng một con ngựa thốt ra, Loren trả lời. “Thời điểm này là do Karl Wolf loan và được xác nhận bởi những nhà băng học của chúng ta và những chuyên gia về kỹ thuật nano”.

“Nhờ người của Đô đốc Sandecker xâm nhập vào tổ chức của bọn Wolf”, ông Ron Little giải thích, “chúng ta tập hợp đáng kể thêm nhiều tin tức về sự kiện mà bọn Wolf gọi là Dự án Valhalla. Rõ ràng bọn chúng đang thực hiện những gì chúng đã dọa là cắt rời khối băng Ross Ice Shelf và làm đảo lộn sự cân bằng cố hữu của Trái Đất bằng cách tạo ra sự trôi địa cực”.

“Khởi động một thảm họa tiêu diệt không thể tưởng tượng được”, Loren nói thêm.

« Lùi
Tiến »