“Tôi thực sự ngưỡng mộ”.
“Ông và vợ ông sẽ tha hồ đi xem ca kịch, tham dự những buổi hội thảo và thuyết trình, đến thư viện và các gian hàng nghệ thuật về lịch sử và kho tàng. Chúng tôi cũng có những nhà trưng bày các tác phẩm mỹ nghệ lớn từ xưa đến nay. Bởi thế, trẻ sẽ được chăm sóc trong lúc chúng tôi chờ đợi môi trường Trái Đất tự đổi mới sau khi xảy ra thảm họa”.
“Những tác phẩm lớn ngày xưa?” Pitt hỏi, vờ như ngớ ngẩn.
“Nền văn minh mà ông bà chúng tôi đã phát hiện tại Nam Cực được gọi là nền văn minh Amenes. Đó là một chủng người ưu việt đã tuyệt chủng khi Trái Đất bị một sao chổi đâm vào chín ngàn năm trước”.
“Tôi chưa hề nghe chuyện này”, Giordino góp chuyện.
“Các nhà khoa học của chúng tôi nghiên cứu những ghi chép của người Amenes, vì vậy chúng tôi có thể biết phải chờ đợi điều gì trong thời gian sắp tới”.
“Cô nghĩ bao lâu nữa điều đó sẽ xảy ra trước khi chúng ta có thể khởi sự công việc của chúng ta trên đất liền?” Pitt hỏi.
“Năm, có lẽ mười năm trước khi chúng ta có thể ổn định và thiết lập một trật tự mới”. Rosa giải thích.
“Một trăm hai mươi lăm ngàn người có thể tiếp tục tồn tại lâu như thế không?”
“Ông quên những chiếc tàu kia rồi à?” Cô ta nói với vẻ tự hào. “Cả bốn chiếc tàu có thể hoàn toàn tự lo liệu. Chiếc Karl Wolf có năm mươi ngàn mẫu Anh đất đã được cày bừa và trồng những loại rau và cây ăn quả. Chiếc Otto Wolf sẽ chở hàng ngàn động vật để lấy thịt trong lúc chúng vẫn tiếp tục sinh đẻ. Chiếc cuối cùng Hermann Wolf, được hoàn toàn dùng để chở hàng hóa. Nó sẽ chở tất cả mọi thiết bị và máy móc để xây dựng mới những thành phố, đường xá, đồn điền và nông trại khi chúng ta đã có thể đổ bộ lên mặt đất trở lại”.
Giordino chỉ vào một ký hiệu bằng số trên những cánh cửa. “Đã tới khu K”.
“Vô cùng thú vị được gặp cô, thưa cô Wolf”, Pitt nói với giọng nịnh đầm. “Hy vọng cô sẽ nhớ đề bạt tôi với ông anh họ Karl của cô”.
Cô ta nhìn Pitt một lúc với ánh mặt dò hỏi rồi gật đầu. “Chắc chắn chúng ta sẽ lại gặp nhau”.
Tàu điện chậm dần và dừng lại, Pitt và Giordino xuống xe. Họ đi bộ từ trạm xe điện vào một tiền sảnh với những hành lang dẫn ra những lối đi hướng về các phía, như những nan hoa của bánh xe, để vào trong một mê cung bao la”.
“Theo lối nào bây giờ?” Giordino hỏi.
“Cứ đi vào khu giữa rồi theo những chỉ dẫn tới khu K”, Pitt nói, vừa bước vào hành lang trung tâm. “Chúng ta phải tránh văn phòng của bọn an ninh như tránh bệnh dịch”.
Đi dọc theo một hành lang có vẻ dài vô tận, họ vượt qua vô số cánh cửa, nhiều cửa để mở trong lúc các phòng được trang hoàng nội thất. Họ nhìn vào và thấy những khu sinh hoạt rộng rãi với những căn hộ tráng lệ. Lúc này thì Pitt đã có thể hiểu tại sao tên gác đã xem những nơi này là nơi cư trú của chúng. Kế hoạch nhằm tạo cho những công nhân sống tiện nghi tối đa trong thời gian dài chờ đợi trước khi chúng có thể thành lập cộng đồng của mình trên những gì còn lại trên mặt đất sau vụ va đụng của sao chổi.
Những bức tranh đứng cách nhau ba chục bộ dọc theo những bức tường giữa những cánh cửa dẫn vào các căn hộ. Giordino dừng lại để ngắm một quang cảnh với màu sắc sinh động. Anh nghiêng đầu gần lại để đọc tên người họa sĩ vẽ tranh.
“Không thể tin đây là tác phẩm của Van Gogh”, anh nói với giọng hoài nghi. “Có lẽ đây chỉ là đồ giả hoặc một phiên bản”.
“Tranh thật đấy”, Pitt nói một cách tin tưởng. Anh chỉ về phía những bức tranh khác trên các bức tường. “Những tác phẩm này đến từ những viện bảo tàng và những bộ sưu tập tư nhân sau những tội ác bọn Đệ Tam Quốc xã Đức đã gây ra trong suốt Thế chiến II”.
“Thật đáng thương cho bọn chúng đã cố giành lấy những kho tàng mỹ thuật để chẳng bao giờ sở hữu được”.
“Bọn Wolf có kế hoạch mang cả những tác phẩm bậc thầy đến miền đất hứa đấy”.
Bằng cách nào dòng họ Wolf có thể xác định sự trở lại của sao chổi thứ nhì sẽ đâm vào Trái Đất? Pitt tự hỏi. Tại sao nó lại không trượt qua một lần nữa như cách nó đã trượt qua chín ngàn năm trước? Không có những câu trả lời sẵn, nhưng một khi anh và Giordino có thể thoát khỏi khu đóng tàu này với Pat và con gái cô ấy, anh nhất định sẽ tìm ra cách giải quyết.
Sau khi Giordino phỏng chừng họ đã đi được một phần tư dặm, họ tới một cánh cửa lớn có ghi “An ninh- cấp độ K”. Họ vội vã đi qua và cuối cùng tới một khu lễ tân trang bị thật thanh lịch với bàn, ghế và trường kỷ trước một lò sưởi đồ sộ. Nơi này có thể qua mặt phòng khách của một khách sạn năm sao. Một người đàn ông và một phụ nữ mặc đồng phục màu xanh lục ngồi sau một quầy rượu bên dưới một bức tranh cực lớn vẽ chiếc tàu cứu nạn của ông Noah.
“Bất kỳ kẻ nào có quyền lực cũng điên cuồng với những mật mã màu mè”, Giordino nói, như một hơi thở.
“Hỏi chúng nơi giam giữ nhà nghiên cứu chữ khắc người Mỹ đang giải mã những chữ khắc cổ”, Pitt gợi ý.
“Mẹ nó chứ, tôi cóc hiểu <nhà nghiên cứu chữ khắc> trong tiếng Tây Ban Nha là cái gì cả”.
“Cứ bịa đại đi”.
Giordino đảo mắt rồi bước lại gần cái quầy trước mặt người phụ nữ, anh nghĩ cô ta có vẻ sẵn lòng giúp đỡ hơn.
“Chúng tôi được phép tới để chuyển tiến sĩ O’Connell và con gái bà ta rời khỏi chiếc tàu này”, anh nói giọng dịu dàng trong một nỗ lực giấu nhẹm giọng Mỹ của mình.
Người phụ nữ, rất hấp dẫn, với da mặt hơi tái và mái tóc bới về phía sau thành một búi nhìn lên Giordino và quan sát bộ đồng phục an ninh của anh. “Tại sao tôi không được báo trước lệnh chuyển bà ta đi?”
“Chính tôi cũng chỉ mới nhận lệnh mười phút trước”.
“Tôi phải kiểm tra yêu cầu này đã”, người phụ nữ nói, một thoáng nghi ngờ nảy ra trong đầu cô ta.
“Làm sao chúng tôi có thể chứ?” Giordino hỏi, ra vẻ ngây thơ... “ vì bà ấy dưới quyền giám sát của cô với tư cách chỉ huy khu vực này mà. Anh bạn đồng hành này và tôi chỉ xin cô vui lòng kiểm tra bằng cách đích thân cô cùng vào với chúng tôi để đưa bà ấy ra. Giờ thì hãy cho tôi biết bà ấy ở đâu, và chúng tôi sẽ đợi cho tới lúc thượng cấp của tôi báo cho vị nào có thẩm quyền, nếu điều đó làm cô dễ ngủ hơn”.
Người phụ nữ nhượng bộ. “Các ông sẽ thấy Tiến sĩ O’Connell bị nhốt trong phòng K-37. Nhưng tôi không thể đưa chìa khóa cho các ông, cho tới khi tôi được lệnh”.
“Chúng tôi cũng không vội gì”, Giordino nói với cái nhún vai dửng dưng. “Chúng tôi sẽ đứng bên ngoài và đợi”. Anh hất đầu ra hiệu cho Pitt đi theo mình, và bắt đầu đi ngược lại lối họ đã đến. Khi đã lọt khỏi tầm nghe, anh nói. “Cô ấy bị nhốt trong phòng K-37. Tôi nghĩ chúng ta đã đi qua những căn phòng trong chuỗi số 30 kể từ lúc ra khỏi thang máy”.
“Phòng giam cô ấy có người gác không nhỉ?” Pitt hỏi.
“Khi mặc bộ quần áo an ninh này, chúng ta bị xem như đã biết có người gác hay không. Không, tôi không muốn bị xem là một kẻ ngốc đáng ngờ. Nên tôi không hỏi cô ta chuyện đó”.
“Tốt hơn chúng ta hãy nhanh lên”, Pitt nói. “Chắc chắn tới lúc này, chúng đã biết sự thật và đang đuổi theo chúng ta”.
Lúc tới căn phòng K-37, họ thấy một tên gác đứng bên ngoài. Giordino bước thẳng tới và nói. “Cậu khỏe rồi nhé”.
Tên gác, một gã cao hơn anh chàng Giordino nhỏ con đến một bộ, nhìn xuống với ánh mắt dò hỏi. “Tôi còn những hai giờ trong phiên gác cơ mà”.
“May cho cậu vì họ đã gửi chúng tôi tới sớm”.
“Các anh trông có vẻ lạ”, tên gác nói với thái độ e dè.
“Cậu cũng vậy”. Rồi Giordino xoay người như muốn bỏ đi. “Quên chuyện đó đi. Anh bạn đồng hành này và tôi sẽ đợi trong phòng ăn cho tới lúc phiên gác của cậu kết thúc”.
Tên gác bất chợt đổi giọng. “Ô, không, không, tôi có thể dùng thì giờ thừa này để đánh một giấc.” Chẳng nói thêm tiếng nào, hắn đi thẳng lại phía thang máy.
“Trình diễn khéo thật”, Pitt nói.
“Tôi có khả năng thuyết phục mà”, Giordino phì cười.
Sau khi tên gác bước vào thang máy ở cuối hành lang dài, Pitt đá mạnh vào cánh cửa gần chỗ bản lề, và nó bung ra. Họ lao vào phòng hầu như trước khi cánh cửa đổ ập xuống. Một cô gái trẻ đang đứng trong gian bếp, mặc bộ áo liền quần màu xanh và đang uống một ly sữa. Trong cơn hoảng hốt, cô gái đánh rơi cái ly xuống tấm thảm. Pat từ phòng ngủ chạy ra, cũng trong bộ quần áo liền quần màu xanh, mái tóc dài màu đỏ của cô xõa ra về phía sau như một cây quạt. Cô đứng lại, đông cứng tại ngưỡng cửa, nhìn Giordino và Pitt với ánh mắt ngỡ ngàng. Miệng cô há hốc nhưng không thốt ra lời, đôi mắt lộ rõ sự bối rối cùng cực.
Pitt chộp cánh tay cô trong lúc Giordino nhấc bổng cô gái lên. ”Không có thì giờ ôm hôn đâu”, anh nói nhanh. “Chúng ta phải tới máy bay ngay”.
“Hai ông bạn đẹp trai này từ đâu đến vậy?” Cuối cùng, cô lẩm bẩm, không tin, không hiểu.
“Tôi không biết mình được xem là đẹp trai từ lúc nào”, Pitt nói trong lúc ôm quanh hông và dìu cô đến cánh cửa vỡ.
“Đợi đã!” Cô lắp bắp, vặn mình thoát khỏi cánh tay anh. Cô lao vào phòng ngủ và trở ra mấy giây sau đó, ôm trước ngực một cái va ly nhỏ loại đựng hồ sơ.
Họ không cần phải thận trọng và lén lút nữa - ý nghĩ đó đã thực sự nảy ra trong đầu những người đàn ông. Lao xuống hành lang dài, chạy qua những công nhân đang thực hiện những công đoạn cuối trên chiếc tàu. Họ bị nhìn với những ánh mắt nghi ngờ, nhưng không ai làm một cử chỉ nhằm ngăn chăn họ lại hoặc hỏi họ.
Nếu còi báo động vang lên lúc này, và Pitt biết rõ sẽ có chuyện đó, ý nghĩ về một cuộc chạm trán với những tên Wolf không hề khoan nhượng kích thích anh mãnh liệt. Rời khỏi chiếc tàu, tới điểm cuối của xưởng đóng tàu và biến mất dưới màn nước lạnh lẽo trong vịnh và phải bơi khoảng hai dặm mới chỉ là một nửa kế hoạch của anh. Dù được đẩy tới nhanh hơn họ có thể bơi với cái xe đẩy của thợ lặn, Pat và con gái cô vẫn có thể chết vì thân nhiệt bị giảm trước khi họ có thể tới hẻm núi, nơi có chiếc xe bay.
Nỗi lo sợ của anh bất chợt bùng lên khi những âm thanh gắt gỏng của hệ thống báo động bắt đầu vang lên chát chúa qua khắp khu đóng tàu lúc họ tới thang máy gần nhất.
Lần này may mắn như còn cách họ quá xa. Thang máy đã dừng sẵn ở cấp độ sáu với những cánh cửa để mở. Ba người đàn ông trong bộ đồng phục đỏ đang bốc dỡ những đồ trang trí nội thất văn phòng. Không một lời giải thích, Pitt và Giordino tông mạnh vào những công nhân đang ngạc nhiên nhìn họ, đẩy những người này vào tiền sảnh, rồi kéo Pat và con gái cô vào thang máy và bấm nút xuống, tất cả chỉ xảy ra trong mười lăm giây.
Trong lúc tạm thời lấy lại hơi thở, Pitt mỉm cười với cô con gái của Pat, một cô gái trẻ xinh đẹp với mái tóc màu vàng nhạt và đôi mắt màu xanh nước biển. “Cháu tên gì, bé cưng?”
“Megan ạ”, cô bé nói, đôi mắt vẫn mở lớn vì sợ hãi.
“Cháu hãy hít vào thật sâu và thư giãn”, anh dịu dàng nói, “Tên chú là Dirk, và anh bạn lùn xủn đầy bắp thịt này là Al. Bọn chú đến để đưa mẹ và cháu về nhà an toàn”.
Lời nói của anh có một tác dụng làm dịu, và nét mặt lo sợ của cô gái dần dần thay đổi, chỉ còn chút bối rối. Cô gái đã thực sự đặt tin tưởng vào anh, và một lần nữa Pitt lại bắt đầu lo lắng, chẳng biết anh sẽ gặp chuyện gì khi thang máy dừng lại và những cánh cửa của nó mở ra. Họ không thể nổ súng để lao ra, càng không thể khi bên cạnh họ còn có hai phụ nữ.
Sự lo sợ của Pitt không có cơ sở khi sự việc xảy ra sau đó. Không có bọn gác với những khẩu súng chĩa vào họ trong tư thế chờ đợi bên ngoài cửa thang máy. “Tôi bị lạc rồi”, anh nói vừa nhìn những hành lang chằng chịt như một mê cung.
Giordino cười thê thảm, “Thật quá tệ khi không có một bản đồ nơi này”.
Pitt chỉ vào một chiếc xe loại dùng trên sân golf phía trước cánh cửa có hàng chữ “Phòng ban quản trị”.
“Có cơ hội thoát rồi”, anh nói và nhảy vào ghế dành cho lái xe, rồi vặn chìa khóa khởi động. Moi người lên xe và Pitt nhấn hết chân ga hầu như trước khi họ ngồi vững. Không thể sử dụng thiết bị dò hướng, anh đành đoán mò, phó thác cho may rủi sau khi băng qua đường ray xe điện và trông thấy một lối đi lớn mở ra một con dốc dẫn xuống xưởng đóng tàu.
Bọn gác với vũ trang cũng vừa tới đó. Chúng từ những xe tải lao xuống và rải ra nhiều hướng trong xưởng đóng tàu. Pitt phỏng đoán có gần bốn trăm tên, không tính đến một ngàn tên đang có mặt trên chiếc tàu. Ngay lập tức, anh thấy rõ tình trạng tiến thoái lưỡng nan của họ và hét lớn. “Ngồi cho vững, tôi sẽ quay lại chỗ thang máy”. Anh đạp thắng, quành đầu xe thành một vòng chữ U trở lại lối đi lúc nãy.
Nhìn lui, Giordino chỉ có thể trông thấy những bộ đồng phục đen lăn xăng như một bầy kiến chung quanh xưởng đóng tàu. “Tôi chúa ghét khi mọi chuyện rối beng thế này”, anh chàng càu nhàu.
“Chúng ta không thoát được đâu...” Pat thều thào và ôm chặt con gái. “Không phải bây giờ”.
Pitt nhìn Giordino “Chẳng phải có một bài hát cổ tên là <Trước Kia Chúng Ta Đã Làm Điều Đó, và Chúng Ta Có Thể Làm Lại> đó sao?”
“Thế chiến Hai xảy ra trước khi tôi chào đời”, Giordino nói “Nhưng tôi hiểu ý cậu”.
Họ nhanh chóng tới thang máy, nhưng Pitt không dừng xe lại. Cửa thang máy vẫn mở và anh lái xe vào bên trong trước khi những cánh cửa khép lại. Anh bấm nút tầng sáu, rút khẩu Colt-45 ra và ra hiệu cho Giordino làm theo. Ngay khi cửa thang máy mở ra, họ đối mặt với ba gã khuân vác đồ nội thất họ đã ném ra khỏi thang máy trước đó. Vẫn còn bàng hoàng vì bị ném ra, cả ba đang quát tháo múa may với một gã khác mặc đồng phục màu vàng trông có vẻ là một chỉ huy. Lúc trông thấy Pitt và Giordino ra khỏi thang máy trên cái xe nhỏ như những gã chăn cừu đói khát được tháo củi sổ lồng với hai khẩu súng xỉa ra, cả bốn gã đàn ông đông cứng và đưa hai tay lên trời.
“Vào thang máy!” Pitt ra lệnh.
Cả bốn đứng tê liệt tỏ ra không hiểu, cho tới khi Giordino quát ra lệnh bằng tiếng Tây Ban Nha.
“Rất tiếc”, Pitt nói khi hiểu ra, “tôi cũng hoảng đến mức quên mất tình huống của mình”.
“Chấp cậu làm gì”, Giordino an ủi.
Quá trình hành động của họ trong văn phòng tòa cao ốc lại tái diễn. Sáu phút sau, cả bọn họ lại lên đường, bỏ lại bốn gã đàn ông chỉ còn quần áo lót bị trói nằm trong thang máy. Anh lái chiếc xe lên lối vào boong chính, dừng lại và chạy trở lui. Anh cho thang máy đi lên, gài bộ phận kiểm soát rồi nhảy ra trước khi cửa thang máy đóng lại. Sau đó anh theo bảng những dấu chỉ dẫn, lái về phía trạm xe điện. Ba trong bốn người bọn anh lúc này đã mặc đồng phục màu đỏ của công nhân làm việc trên tàu, trong lúc người thứ tư là anh mặc bộ đồng phục màu vàng của một đốc công.
Những gã trong bộ phận an ninh đã tập trung tại một giao lộ ngay trước trạm xe điện. Một gã trong bọn chúng bước tới và đưa bàn tay lên. Pitt cho chiếc xe chạy chậm lại và nhìn tên gác với ánh mắt dò hỏi.
Vì không biết Pat và con gái cô vừa được cứu thoát khỏi khu vực chúng, tên gác chẳng cần bận tâm nhìn kỹ hai người phụ nữ trong bộ đồng phục công nhân khuân vác hàng hóa, vì nhiều người phụ nữ vừa được tuyển dụng để điều khiển những xe nâng và xe kéo hàng. Pat chạm cánh tay con gái để ra hiệu cho cô bé chớ có nói năng hay cử động. Cô cũng xoay mặt Megan ra hướng khác, khỏi ánh mắt của tên gác để hắn không nhận ra độ tuổi quá nhỏ của cô bé.
Pitt cố hình dung bộ đồng phục màu vàng anh vừa chiếm được nói lên cấp thẩm quyền nào, rồi anh nhìn vào mặt tên gác với vẻ kính trọng.
“Ở đây xảy ra chuyện gì thế?” Giordino hỏi, vốn tiếng Tây Ban Nha của anh chàng xem ra đắc dụng.
“Hai gã xâm nhập trong đồng phục an ninh đã lọt vào khu đóng tàu và chắc chắn chúng đã lên tàu Ulrich Wolf”.
“Những kẻ xâm nhập à? Tại sao các cậu không ngăn chúng lại trước khi chúng lọt vào khu đóng tàu?”
“Tôi không biết”, tên gác trả lời. “Tất cả những gì tôi biết là chúng đã giết bốn nhân viên an ninh của chúng ta trong lúc tìm cách thoát đi”.
“Bốn người bị giết”, Giordino nói, cố tạo ra vẻ buồn bã. “Thật tôi nghiệp. Hy vọng các cậu tóm được những tên giết người gớm ghiếc đó”. Rồi Giordino quay sang nhìn Pitt và hai người phụ nữ kia, và gật đầu vồn vã, “phải không, các bạn?”
“Vâng, vâng”, Pitt nói, cố tỏ vẻ khó chịu vì chờ lâu.
“Chúng tôi phải kiểm tra mọi người đi và đến mỗi chuyến tàu”, tên gác tỏ vẻ kiên trì. “Tôi phải xem giấy thông hành của các bạn”.
“Coi bộ chúng tôi giống những gã xâm nhập trong bộ đồ đồng phục an ninh lắm à?” Giordino hỏi, cố tỏ ra vẻ giận dữ.
Tên gác lắc đầu và mỉm cười, “Không”.
“Vậy hãy để chúng tôi qua!” Giọng nói thân thiện của Giordino bất chợt trở nên lạnh lẽo và quan liêu. “Chúng tôi có một món hàng phải đưa lên tàu gấp và chúng tôi không có thì giờ đấu hót với các cậu. Tôi đã trễ cuộc họp với ngài Karl Wolf. Trừ phi cậu không muốn bị bỏ lại sau thảm họa. Đề nghị cậu tránh sang một bên”.
Hoàn toàn bị khuất phục, tên gác hạ vũ khí xuống và nói, “Tôi rất tiếc đã làm chậm trễ công việc của các ông”.
Không hiểu được họ nói gì với nhau, Pitt chỉ đạp chân ga sau khi Giordino thúc cùi chỏ vào ba sườn anh. Anh nghĩ tốt nhất cứ việc xuất hiện như những công nhân bình thường trong một nhiệm vụ đặc biệt tại khu đóng tàu, Pitt tiếp tục lái xe về phía trạm xe điện gần nhất với một tốc độ vừa phải thay vì chạy thật nhanh. Với một bàn tay đặt trên tay lái, anh bấm số máy điện thoại Globalstar với bàn tay còn lại.
Đô đốc Sandecker nhấn nút nghe của chiếc điện thoại sau hồi chuông thứ nhất, “Vâng?”
“Đây là nhà hàng Leaning Pizza Tower gọi. Thức ăn của quí ngài đang trên đường đi”.
“Anh nghĩ các anh có thể tìm đúng nhà chứ?”
“Không chắc lắm nhưng chúng tôi có thể đến nơi trước khi món Pizza nguội lạnh”.
“Tôi hy vọng các anh đến nhanh”, ông Sandecker nói, giọng ông tỏ ra khẩn trương. “Nhiều người ở đây đói lắm rồi”.
“Đường rất đông xe. Sẽ cố hết sức”.
“Tôi sẽ chờ”. Ông Sandecker đặt điện thoại xuống và nhìn ông cựu Hạm trưởng Hozafel với vẻ mặt nặng nề. “Xin lỗi vì chúng tôi phải ngụy trang câu chuyện”.
“Tôi hiểu”, ông già người Đức nhã nhặn nói.
“Tình thế của họ ra sao ạ?” Ông Little hỏi.
“Không tốt”, Đô đốc Sandecker trả lời. “Họ đã cứu được tiến sĩ O’Connell và con gái bà ấy, nhưng phải đối đầu với nhiều khó khăn lúc tìm cách thoát khỏi khu đóng tàu. “Đường rất đông xe” nghĩa là họ bị lực lượng an ninh của bọn Wolf săn đuổi”.
Ông Little nhìn thẳng Đô đôc Sandecker, “Ngài nghĩ họ có những lợi thế gì trong lúc tìm cách thoát thân?”
“Lợi thế?”. Nét mặt ông Đô đốc lộ vẻ đau đớn. Trông ông như già thêm mười tuổi trong mấy giờ qua. “Họ chẳng có lợi thế gì cả”.
***
Chiếc tàu điện chậm chạp di chuyển ra khỏi trạm, vượt qua một xe khác chạy ngược chiều. Dù chiếc xe điện trượt trên đường ray với vận tốc gần ba mươi dặm một giờ, Pitt vẫn cảm thấy như nó đang bò và anh muốn nhảy ra đẩy phụ nó. Những trạm được đánh số theo bảng mẫu tự, và tại bất kỳ trạm nào, họ cũng chờ đợi xảy ra cảnh những tên an ninh trong bộ đồng phục đen tràn lên xe và bắt giữ họ. Lúc xe điện trao đổi hành khách tại trạm W, những hy vọng của Pitt bắt đầu khởi lên, nhưng tại trạm X, sự may mắn của họ vụt mất.
Sáu tên gác trong bộ đồ màu đen tràn lên toa cuối và bắt đầu kiểm tra thẻ thông hành của hành khách. Và lúc này Pitt có cảm giác như hai cổ tay anh đã bị khóa trong chiếc còng số tám. Anh co mình lại chờ đợi. Và anh nhận ra có vẻ như chúng chỉ đặc biệt kiểm tra những công nhân mặc đồng phục đỏ hoặc vàng.
“Chúng đang đến gần hơn”, Giordino nói, chẳng tỏ ra xúc động gì, lúc bọn gác đi qua toa thứ nhì trong năm toa xe cửa tàu điện.
“Chỉ còn một toa nữa thôi”, Pitt nói. “Ta qua toa thứ nhất, cố giữ tự nhiên”.
Họ không trao đổi gì thêm, Giordino đi đầu, theo sau là Megan rồi tới Pat, cuối cùng là Pitt.
“Chúng ta có thể tới trạm tiếp theo trước khi chúng tới toa này”, Giordino nói. “Nhưng xem ra chúng đã gần lắm rồi”.
“Tôi e là chúng ta sẽ không xuống trạm dễ dàng đâu”, Pitt có vẻ u ám. “Có thể chúng cũng sẽ đợi chúng ta ở đó”.
Anh bước tới và nhìn qua kính cánh cửa dẫn tới một buồng kiểm soát nhỏ trước đầu toa xe. Trong buồng có một bảng kiểm soát với nhiều bóng đèn sáng, nhiều nút bấm và công tắc, nhưng không có người lái hoặc kỹ sư. Tàu điện hoàn toàn tự động. Anh thử mở cánh cửa và không ngạc nhiên khi nhận ra nó bị khóa.
Anh quan sát những ký hiệu và dấu chỉ dẫn trên bảng kiểm soát. Có một đặc biệt khiến anh lưu ý. Nắm chặt khẩu Colt-45, anh gõ nòng súng lên lớp kính cánh cửa và đập vỡ nó. Bất chấp ánh mắt ngạc nhiên của những hành khách trong toa xe, anh bước vào buồng kiểm soát và không đóng cửa lại. Không chậm trễ một giây, anh vặn cái công tắc đầu tiên trong năm công tắc nối liền với hệ thống nối các toa của tàu điện. Tiếp theo, anh lập trình lại máy vi tính điều khiển vận tốc con tàu.
Hiệu quả như mong đợi cho anh niềm vui chợt trào lên. Cả bốn toa xe phía sau tách rời toa đầu tiên và bắt đầu lùi lại. Do mỗi toa xe có nguồn năng lượng riêng, vận tốc được cài trước của chúng lúc này vẫn chậm hơn vận tốc toa xe dẫn đầu. Những tên anh ninh chỉ có thể tiếp xúc với những toán tìm kiếm khác và nhìn với ánh mắt thất vọng khoảng cách giữa những toa xe nhanh chóng rộng dần lên.
Bốn phút sau, toa xe có Pitt và những người kia vượt qua trạm Y mà không dừng lại trước sự thất vọng của một toán gác và vẻ mặt lầm lì của đám công nhân đứng trong sân trạm. Pitt có cảm giác như thể dạ dày anh bị một bàn tay lạnh lẽo bóp chặt và miệng anh đang ngậm đầy những chiếc lá khế. Anh đã chơi một canh bạc liều mạng với con xúc xắc do đối phương tạo ra. Anh nhìn lui vào toa xe và bắt gặp ánh mắt Pat. Cô đang ngồi với một cánh tay ôm quanh vai con gái Megan, cánh tay còn lại vẫn giữ chặt cái va ly nhỏ đựng hồ sơ. Mặt cô xanh tái, buồn bã và đau khổ lạ lùng. Anh bước lại và luồn một bàn tay vào mái tóc màu đỏ chảy xuống như một thác nước của cô.
“Chúng ta sẽ thoát khỏi nơi này”, anh nói với giọng tự tin với Megan. “Chú Pitt sẽ đưa cháu qua biển và lên núi”.
Cô gái ngước nhìn lên, cố nở một nụ cười yếu ớt, “Đó là một lời hứa chứ?”
“Một lời hứa chắc chắn như thép”, anh nói, một niềm tin chợt thành hình trong tim anh.
Nửa phút trôi qua. Pitt trở lại buồng kiểm soát và nhận ra họ đang đến gần một bãi đậu xe phía sau đuôi chiếc tàu. Nhìn về phía trước, anh có thể trông thấy những đường ray bắt đầu cong về phía bãi đậu xe. Anh biết rõ tàu điện được dự tính dừng tại đó, trạm Z, trước khi tiếp tục đi quanh chiếc tàu. Không cần phải có quyền năng cảm nhận, anh cũng biết bọn gác đã có mặt tại sân trước anh, và chúng đang đợi để đãi họ bằng một kho đạn.
“Tôi sẽ cho chiếc tàu chậm lại, khoảng mười dặm mỗi giờ”, Pitt nói. “Khi nào tôi lên tiếng thì chúng ta nhảy xuống. Hai bên mép đường sắt đều được trồng cỏ, vì vậy chúng ta sẽ không bị thương. Lúc chạm đất, cố lăn tròn tới trước. Lúc này chúng ta không thể để vỡ xương ống chân hoặc mắt cá”.
Giordino quàng một cánh tay quanh eo Megan, “Chúng ta cùng đi với nhau nhé. Làm theo cách này cháu sẽ rơi xuống trên một tấm đệm dày bằng thịt và mỡ, phải không?” Đó là một tuyên bố sai vì anh chàng Giordino chẳng hề có một lạng mỡ nào trong tấm thân đầy cơ bắp chắc nịch của anh ta.
Pitt chỉnh lại bộ phận điều khiển và toa xe đột ngột chậm lại. Trong phút chốc những chữ số màu đỏ chỉ vận tốc tụt xuống con số mười dặm-giờ. Anh hét lớn, “Tốt rồi, mọi người nhảy!”
Anh chậm lại một chút để biết chắc tất cả đã nhảy khỏi toa tàu. Rồi anh tăng tốc chiếc tàu điện cho tới lúc nó đạt con số sáu mươi dặm-giờ, trước khi chạy từ buồng kiểm soát đến cửa toa tàu và nhảy xuống lúc lực gia tốc đẩy chiếc tàu tới vận tốc tối đa của nó. Chân anh chạm mặt đất mềm trước khi anh ngã xuống và lăn tròn theo lực quán tính như một trái đạn ca nông trong một vườn cây bonsai, làm vặn vẹo những cành nhánh của chúng và đè bẹp chúng xuống mặt đất vì sức nặng cơ thể anh. Anh loạng choạng đứng lên, một đầu gối hơi đau, nhưng vẫn có thể hoạt động bình thường.
Giordino đã đứng bên cạnh anh, giúp anh lấy lại thăng bằng. Anh nhẹ nhõm khi trông thấy Pat và Megan, trên mặt họ còn lộ rõ vẻ đau đớn. Có vẻ như họ đã chạm và cày trên mặt đất khá mạnh, tóc còn bám đầy lá thông. Toa tàu điện đã khuất sau khúc quanh, nhưng cầu thang dẫn tới cầu tàu đầu tiên chỉ cách họ chưa tới năm mươi bộ, và không có tên gác nào gần đó.
“Chúng ta đi đâu?” Pat hỏi khi đã lấy lại đôi chút bình tĩnh.
“Trước khi tới chỗ cái xe bay”, Pitt trả lời, “chúng ta phải đi một quãng ngắn bằng xuồng”.
Anh nắm cánh tay cô và dẫn cô khập khiễng theo sau anh trong khi Giordino dìu Megan đi tới. Họ chạy dọc theo đường ray cho đến khi tới cầu thang dẫn xuống cầu tàu số một. Đúng như Pitt dự đoán, những tên gác đã vây kín trạm Z cách họ khoảng hai trăm mét trong bãi đậu xe. Hỗn loạn xảy ra khi toa tàu vọt qua trạm và chạy vòng ở khúc quanh tiếp theo trên đường đi của nó dọc theo mép phía bờ của chiếc tàu. Những tên gác, hoàn toàn bị lừa vì chúng nghĩ những con mồi vẫn còn nấp trong toa tàu đang lao nhanh, vội vã đuổi theo trong lúc gã chỉ huy nhóm an ninh ra lệnh bao vây hệ thống tàu điện tiếp theo.
Pitt nghĩ chúng phải mất ít nhất bảy phút nữa, trước khi bọn gác có thể dừng toa tàu điện lại và biết họ đã thoát. Nếu tới lúc đó anh và những người kia chưa thoát khỏi xưởng đóng tàu thì sự trốn thoát sẽ không bao giờ xảy ra nữa.
Không một công nhân nào trên cầu tàu chú ý đến họ lúc họ điềm tĩnh đi xuống những bậc cấp dẫn tới cầu tàu. Có ba chiếc xuồng được buộc giữa cầu tàu thứ nhất và thứ nhì. Một chiếc xuồng nhỏ hai mươi bốn bộ chạy buồm và hai chiếc lớn hơn. Pitt biết rõ loại xuồng này như một chiếc du thuyền bốn mươi hai bộ có cabin và một chiếc xuồng tuần tra hăm bốn bộ. “Chúng ta lên chiếc lớn nhất” Pitt nói và bình tĩnh băng qua cầu tàu.
“Tôi đoán chúng ta sẽ không tìm lại những dụng cụ lặn”, Giordino nói.
“Pat và Megan không thể sống sót trong thứ nước lạnh cóng này. Tốt hơn chúng ta cứ tìm cơ may trên mặt nước”.
“Chiếc xuồng tuần tra nhanh hơn”, Giordino chỉ tay ra ngoài.
“Đúng”, Pitt đồng ý, “nhưng lực lượng an ninh sẽ ngờ vực khi một xuồng cao tốc từ khu đóng tàu chạy ra biển. Chiếc xuồng giống du thuyền đi trên nước êm ái hơn, không gây chú ý”.
Một quản đốc khu cầu tàu đi về phía họ, lúc Pitt đứng lại chỗ trên ván bắc lên chiếc xuồng. “Chiếc xuồng đẹp quá”, anh nói và mỉm cười.
“Ê?” Gã quản đốc nhìn anh, hắn không hiểu tiếng Anh.
Pitt đi lên tấm ván và chỉ về phía chiếc xuồng. “Chiếc xuồng đẹp lắm”, anh lặp lại, vừa thản nhiên bước vào cabin chỉ huy.
Gã quản đốc theo sau Pitt, tỏ ra phản đối anh xâm phạm chiếc xuồng, nhưng lúc họ vừa khuất tầm nhìn của những công nhân trên cầu tàu, Pitt vung nắm đấm ra, nện cật lực vào quai hàm gã quản đốc, và hắn đổ vật xuống sàn. Sau đó, anh chồm ra cửa và gọi lớn, “Al, tháo dây buộc, quý cô, lên tàu!”
Pitt đứng yên một lúc, quan sát những thiết bị trên bảng điều khiển. Anh xoay chìa khóa và nhấn nút khởi động động cơ. Bên dưới, trong phòng máy, hai động cơ lớn chạy bằng diesel đã vận hành ổn định. Anh mở cửa sổ bên hông phía đài chỉ huy và nhìn ra ngoài. Giordino đã tháo dây buộc và đang lên xuồng.
Pitt cài số và rất thong thả, anh bắt đầu điều khiển chiếc xuồng rời cầu tàu và hướng ra ngoài. Chiếc xuồng vượt qua hai nhóm công nhân đang lắp đặt một đường ray quanh cầu tàu, và vẫy tay chào họ. Anh lái chiếc xuồng chạy dọc theo chiếc tàu Ulrich Wolf. Để ra tới vịnh và thoát khỏi khu đóng tàu, họ phải đi vòng qua chiếc tàu khổng lồ đó. Anh tiếp tục tăng tốc cho tới lúc đạt vận tốc tám nút, một tốc độ anh hy vọng không gây nghi ngờ. Cho tới lúc này vẫn không có tiếng hô hoán, tiếng chuông hoặc còi báo động, không có dấu hiệu săn đuổi hoặc ánh đèn tìm kiếm họ trên mặt nước tối tăm.
Với vận tốc này, anh phải mất mười lăm phút để vượt trọn chiều dài của chiếc tàu siêu hạng và quay mũi cho tới khi họ có thể tạo được một khoảng cách an toàn và thoát khỏi tầm những ngọn đèn chiếu từ khu đóng tàu. Mười lăm phút đau khổ này có vẻ như mười lăm năm. Và đó mới chỉ là trở ngại đầụ tiên. Họ vẫn còn phải đương đầu với những xuồng tuần tra của bọn chúng, và vẫn còn rất nhiều khả năng những đoàn thủy thủ của chúng được báo động về việc các tù nhân của chúng đã được cứu thoát trên chiếc xuồng có cabin chỉ huy.
Họ không thể làm gì hơn ngoài việc ở yên trong cabin chính để không bị nhìn thấy, và nhìn lên con quỉ kếch sù trong lúc họ đi ngang nó. Từ mũi tới đuôi tàu, những phòng kính nằm sát nhau với ánh đèn sáng trưng bên trong và bên ngoài tạo cho chiếc tàu có vẻ giống một sân bóng chày trong một đêm có trận đấu. Những chiếc tàu nổi tiếng trong thời đại của họ như Titanic, Lusitania, Nữ hoàng Mary, Nữ hoàng Elizabeth và Normandy, nếu được xếp thành một hàng, vẫn còn ngắn hơn bên cạnh chiếc tàu Ulrich Wolf.
“Tôi muốn được thưởng thức món thịt băm vào lúc này quá chừng”, Giordino nói, cố làm giảm bớt không khí căng thẳng.
“Cháu cũng vậy”, Megan nói. “Tất cả những thứ họ cho mẹ và cháu ăn thật không nuốt nổi”.
Pat mỉm cười, dù gương mặt cô trông thật ủ dột. “Không lâu nữa đâu, cưng à, con sẽ tha hồ được ăn thịt băm”.
Từ bánh lái tàu, Pitt quay đầu nhìn lui. “Chúng xử sự với hai mẹ con cô tệ lắm à?”
“Không ngược đãi hoặc mắng chửi”, Pat trả lời, “nhưng chưa bao giờ tôi bị những kẻ bẳn gắt và kiêu ngạo như thế ra lệnh này nọ. Họ bắt tôi làm việc suốt ngày đêm”.
“Giải mã những chữ khắc của người Amenes trong một phòng khác à?”
“Chẳng có phòng nào khác cả. Chỉ có những tấm ảnh chụp những chữ khắc họ phát hiện được tại một thành phố dưới băng tuyết tại Nam Cực”.
Pitt nhìn cô với ánh mắt tò mò, “Nam Cực?”
Cô nghiêm nghị gật đầu. “Bị chôn vùi dưới băng. Đệ Tam Quốc xã Đức đã phát hiện nơi này trước chiến tranh”.
“Elsie Wolf đã nói với tôi là bọn chúng có chứng cứ người Amenes đã xây dựng sáu căn hầm”.
“Tôi không biết điều đó”, Pat thừa nhận. “Tất cả những gì tôi có thể nói với ông là tôi có ấn tượng chúng đang sử dụng thành phố dưới băng này với một mục đích gì đó. Mục đích gì thì tôi chịu”.
“Cô có khám phá gì mới về chữ khắc chúng buộc cô giải mã không?”
Trong lúc trao đổi, Pat không còn vẻ buồn bực và đau khổ nữa. “Tôi chỉ mới bắt đầu làm việc thì các ông phá cửa vào. Họ đặc biệt quan tâm đến những gì tôi đã giải mã những chữ khắc trong căm hầm tại Colorado và căn hầm trên đảo St. Paul. Có vẻ dòng họ Wolf rất thất vọng khi nghiên cứu những thông điệp được người Amenes truyền lại về hậu quả của thảm họa”.
“Chúng thất vọng vì bất cứ bảng chữ khắc nào trong những căn hầm khác nhau cũng đều được phát hiện trước khi thảm họa xảy ra”. Anh dừng lại và gật đầu về phía cái va ly hồ sơ của Pat. “Tất cả đều ở đó phải không?”
Cô xách cái va ly lên. “Đây là những tấm ảnh từ căn hầm ở Nam Cực. Tôi không thể bỏ chúng lại cho bọn Wolf.
Anh nhìn cô chăm chú. “Chúng sẽ không còn cơ hội gây rắc rối cho cô nữa”.
Pitt còn muốn nói thêm, nhưng một chiếc xuồng đang băng qua trước mũi họ khoảng một trăm mét. Có vẻ như đó là một chiếc xuồng có nhiệm vụ đặc biệt đang trên đường trở về. Toán thủy thủ của nó chẳng buồn để mắt tới chiếc xuồng có đài chỉ huy của họ.
Bớt căng thẳng đôi chút khi họ không thấy dấu hiệu bám đuổi, Pitt hỏi, “Cô bảo chúng đang nghiên cứu những trường hợp sẽ xảy ra sau thảm họa?”
“Họ rất quan tâm chuyện này. Tôi thấy họ muốn có tất cả mọi dữ liệu liên quan đến vấn đề sống còn của họ”.
“Tôi vẫn không hiểu vì sao bọn Wolf tuyệt đối tin chuyện sao chổi đang trở lại và đâm vào Trái Đất vào một thời điểm đã được tiên liệu bởi người Amenes từ chín ngàn năm trước”, Pitt nói.
Pat chậm rãi lắc đầu. “Tôi không có câu trả lời về chuyện này”.
Tiếp tục duy trì vận tốc tám nút. Pitt nhẹ nhàng xoay bánh lái, đưa chiếc xuồng mở một vòng rộng trước mũi chiếc Ulrich Wolf và đi qua đoạn cuối xưởng đóng tàu, lúc này có rất đông công nhân và những gã an ninh đang kiểm tra giấy tờ từng người, đàn ông lẫn phụ nữ, trong những bộ đồng phục màu đỏ. Anh vượt qua một chiếc xuồng nhỏ không sáng đèn, và nó chợt quay đầu một trăm tám mươi độ và bám theo đường rẽ nước của anh. Anh nhìn lên màn hình máy vi tính định hướng của mình treo trên cái khung kính chắn gió trong đài chỉ huy và nhận ra chiếc xuồng của họ đang hướng về hẻm núi, nơi giấu chiếc xe bay.
Còn ba dặm nữa mới tới hẻm núi, ba dặm trên mặt nước trong một chiếc xuồng không có phương tiện tự vệ trước những ngọn đèn chiếu và những vũ khí tự động và những khẩu súng máy hạng nặng. Tất cả những gì họ có chỉ là hai khẩu súng lục. Và còn rất nhiều những chiếc xuồng tuần tra, tới lúc này chắc chắn đã được báo động về một chiếc xuồng bị đánh cắp chở những kẻ xâm nhập đang tìm cách thoát khỏi khu đóng tàu. Niềm an ủi duy nhất của anh là những chiếc xuồng tuần tra hiện đang ở cuối vịnh. Và như thế, họ còn những mười phút nữa để tẩu thoát.
Với vận tốc tối đa, những chiếc xuồng tuần tra có thể dễ dàng ngăn chặn xuồng của họ trước khi họ tới miệng hẻm núi.
“Al !”
Giordino đến bên cạnh anh ngay. “Có tôi”.
“Cậu tìm vài cái chai. Thế nào cũng có vài cái chai trên xuồng. Chai trống nhé. Rồi nhét vào bất kỳ thứ gì bén lửa cậu vớ được. Dầu diesel cháy rất chậm. Cố tìm xăng hoặc dung môi”.
“Rượu coktail Molotov”, Giordino ngoác miệng cười như một con quỉ. “Tôi chưa ném cái chai nào như thế từ lúc học mẫu giáo”. Chỉ với hai bước, anh chàng đã lọt vào trong miệng hầm dẫn xuống phòng máy..
Pitt đẩy vội những cần điều khiển van tiết lưu tới điểm dừng, phán đoán lực quán tính, còn đẩy chiếc xuồng tới một quãng nữa. Anh nhìn qua vai về phía chiếc xuồng cao tốc hai mươi lăm bộ phía sau anh. Nó đang tăng tốc lướt tới về một bên hông chiếc xuồng của họ. Những ánh đèn từ khu vực đóng tàu hắt tới cho thấy chỉ có hai gã đàn ông trong đồng phục đen, một đang lái xuồng, tên còn lại đứng phía sau đuôi, đang ôm một khẩu súng máy tự động. Gã lái xuồng chỉ lên lỗ tai hắn. Pitt hiểu, và anh bật công tắc radio, chờ đợi.
Một giọng nói bằng tiếng Tây Ban Nha rè rè vọng ra từ cái máy, Pitt đoán có lẽ đó là một yêu cầu dừng lại. Anh cầm micro lên và trả lời, “No habla espanol” (Không biết tiếng Tây Ban Nha)
“Alto, Alto!” (dừng lại, dừng lại!) giọng nói quát lớn.
“Xuống dưới ngay và nằm sát sàn tàu”, anh ra lệnh cho Pat và Megan. Họ im lặng làm theo và nhanh chóng xuống thang dẫn tới cabin chính.
Chiếc xuồng chậm lại và Pitt đứng phía trong cửa buồng lái. Khẩu Colt của anh cài bên thắt lưng. Tên gác ở đuôi xuồng bên kia đang trong tư thế nhảy qua boong chiếc xuồng của anh.
Pitt kéo lui những van tiết lưu chỉ chừa lại một khoảng nhỏ, ước tính khoảng cách giữa hai chiếc xuồng và giữ cho chúng chạy song song để điểm giữa xuồng bên kia nằm ngang với cửa buồng lái xuồng của anh. Việc tính toán của anh phải thật chính xác. Anh kiên nhẫn chờ đợi, giống như một thợ săn nhìn lên trời chờ con mồi bay qua.
Đúng lúc gã nhân viên an ninh rướn mình nhảy qua, Pitt đẩy cặp van tiết lưu thật nhanh về phía trước rồi nhanh chóng kéo chúng ngược lại về phía sau. Động tác đột ngột này làm tên gác mất thăng bằng, và hắn loạng choạng đáp xuống và ngã sóng soài trên boong tàu chật hẹp của anh.
Pitt bước nhẹ ra khỏi cửa buồng lái, đè gót giày chân phải lên cổ tên gác, cúi xuống chộp khẩu súng máy tự động của hắn, một khẩu Bushmaster M17S, rồi dùng báng súng nện vào gáy hắn. Anh chĩa mũi súng về phía tên đứng tại bánh lái chiếc xuồng bên kia rồi nhả đạn. Anh bắn trật vì tên gác đã kịp cúi xuống, quặt bánh lái một vòng, và chiếc xuồng của hắn rẽ ngoặc một góc lớn, rời khỏi chiếc xuồng của anh. Với một tiếng gầm lớn của động cơ, chiếc xuồng bên kia nẩy lên trong một xoáy nước trắng xóa. Không nhìn thêm, Pitt bước trở lại buồng lái và đẩy hết những van tiết lưu về phía trước. Đuôi chiếc xuồng hạ thấp trong nước, mũi ngóc lên và nó nhanh chóng lao tới với vận tốc gần hai chục nút.
Đến lúc này, Pitt mới có thì giờ quan sát những chiếc xuồng tuần tra của chúng từ các nơi kéo về vịnh và đang hướng về phía anh với vận tốc tối đa. Những ánh đèn pha quét trên mặt nước mỗi lúc một gần hơn. Chắc chắn tên lái chiếc xuồng bên kia đã báo động bọn chúng qua radio. Chiếc xuồng đầu tiên chỉ còn cách anh nửa dặm. Từ tầm nhìn của Pitt qua kính chắn gió, không thể tiên liệu lúc nào chiếc xuồng tuần tra gần nhất sẽ gặp xuồng của anh từ những hướng khác nhau. Chỉ có điều chắc chắn là nó sẽ lao qua mũi tàu của anh trước khi anh tới miệng hẻm núi. Chỉ còn sáu hoặc bảy phút nữa anh sẽ biết hoặc sự sống hoặc cái chết.
Chiếc xuồng tuần tra lúc nãy chỉ cách anh không đầy một trăm mét về phía sau. Lý do duy nhất khiến gã an ninh còn lại không nổ súng là vì hắn sợ bắn trúng đồng đội.
Giordino đã trở lại cabin, ôm một mớ bốn cái chai chứa đầy dung môi lấy từ một can nhựa dùng để lau sạch dầu mờ và những chất bôi trơn khác trong phòng máy. Những mảnh vải vụn được nhét đầy đến tận cổ chai. Anh cẩn thận xếp những cái chai trên tấm đệm một ghế dài. Trên trán anh chàng người Ý đô con nổi lên một vết thâm lớn.
“Chuyện gì xảy ra với cậu vậy?” Pitt hỏi.
“Tại vì có một thằng cha không biết lái tàu. Tôi bị ném lộn nhào trong phòng máy và đập đầu vào một ống dẫn dầu”. Rồi Giordino nhìn thấy cái xác bất tỉnh của tên gác nằm gần cửa buồng lái. “Lời xin lỗi chân thành nhất của tôi. Chỉ tại cậu đã đón tiếp một ông khách mà”.
“Tôi đâu có mời hắn”.
Giordino bước lại bên cạnh Pitt và nhìn qua kính chắn gió về phía chiếc xuồng tuần tra đang nhanh chóng đến gần. “Bọn này không bắn báo động trước đâu. Chúng được vũ trang tận răng và sẵn sàng xé chúng ta ra từng mảnh đấy”.
“Có thể không có chuyện đó”, Pitt nói, “Chúng vẫn còn cần khả năng chuyên môn của Pat để giải mã những chữ khắc của chúng. Chúng có thể xử sự thô bạo với cô ấy và Megan, nhưng giết họ thì không. Cậu và tôi mới là vấn đề. Tôi đã trù tính sẽ tặng chúng một mẽ ngạc nhiên. Nếu chúng ta có thể dụ chúng đến đủ gần, chúng ta sẽ cho chúng thưởng thức một đêm lửa trại”.
Giordino nhìn thẳng vào mắt Pitt. Hầu hết đàn ông đều phản ứng bằng cách lảng tránh, nhưng Giordino thì không thấy phản ứng đó ở Pitt. Những gì anh thấy là thái độ quả quyết có tính toán và một chút tự tin. “Tôi tự hỏi bằng cách nào?”
Pitt gật đầu. “Cậu sẽ bận rộn với mấy thứ đồ chơi cậu vừa tạo ra đấy. Đưa súng của cậu cho tôi. Rồi nằm thấp xuống về phía xa của buồng lái cho tới lúc cậu nghe tiếng súng”.
“Của cậu hay của bọn chúng?”
Pitt nhìn Giordino với ánh mắt nghiêm nghị, “Bất luận của ai”.
Giordino trao cho anh khẩu Para-Ordance tự động mà không hỏi han gì, trong lúc Pitt đẩy những cái van tiết lưu trong một nỗ lực vô vọng cố làm tăng thêm vòng quay của động cơ. Chiếc xuồng của họ đã phục vụ hết khả năng của nó rồi, và nó được chế tạo để du lịch, không phải để chạy nhanh.
Gã chỉ huy chiếc xuồng tuần tra không dự tính áp sát chiếc xuồng du lịch. Pitt không có lý do gì để tin có ai đó trên chiếc xuồng kia đủ điên rồ để sử dụng một chiếc xuồng được trang bị hai khẩu súng máy và những vũ khí cá nhân của những kẻ được huấn luyện để giết người chỉ với mục đích khiêu khích. Hắn quan sát chiếc xuồng du lịch qua cặp kính hồng ngoại nhìn ban đêm, và thấy chỉ có một người đứng trước bánh lái trong đài chỉ huy và đang phạm sai lầm cơ bản của một kẻ gây sự - hắn đánh giá quá thấp đối phương. Những ngọn đèn pha quét qua chiếc xuồng du lịch, làm nó hiện rõ trong ánh sáng chói mắt.
Đường rẽ nước của chiếc xuồng du lịch bị cắt đôi khi chiếc xuồng tuần tra ba mươi tám bộ đến gần và lách dần sang một bên cho tới khi nó còn cách chiếc xuồng kia không đầy hai chục bộ. Từ vị trí của anh trong buồng lái, Pitt liếc mắt về phía ánh đèn và thấy sau mỗi khẩu súng máy đều có một xạ thủ chực sẵn, đang chĩa thẳng bụng súng về phía anh. Những tên còn lại đứng sát vai nhau trên boong phía sau cabin, được trang bị những khẩu Bushmaster tự động. Pitt không thể nhìn thấy Giordino đang thu mình sau mép bên kia buồng lái, nhưng anh biết bạn mình đang chuẩn bị một que diêm hoặc một bật lửa để mồi lửa vào những cái bấc tại miệng những chai bom chứa đầy dung môi. Đây đúng là lúc các dây thần kinh căng thẳng cao độ, nhưng không ai hoàn toàn tuyệt vọng, và Pitt lại càng không.
Anh không hề có ý muốn giết người, thậm chí với cả những kẻ sát nhân lì lợm nhất trên chiếc xuồng bên kia, là đồng bọn của những kẻ đã quyết giết anh cho bằng được tại Colorado. Chẳng có gì khó hiểu khi cuộc sống của anh và của Giordino chẳng đáng giá hai xu nếu họ bị chúng tóm được. Anh nhìn tên chỉ huy chiếc xuồng tuần tra đưa cái loa khuếch âm lên miệng.
Pitt hiểu từ ngữ alto có nghĩa là “dừng lại” và anh chỉ có thể thừa nhận những lời lẽ tiếp theo sau đó chỉ là lời đe dọa nếu anh không chịu làm theo lệnh của hắn thì những gã kia sẽ nổ súng. Anh vẫy tay tỏ ra đã hiểu, nhìn một lần nữa khoảng cách giữa anh và hẻm núi, lúc này chỉ còn cách anh không đầy nửa dặm và liếc nhanh về phía chiếc xuồng tuần tra thứ nhì để ước tính lúc nào nó tới. Tiếp theo, anh kiểm tra để biết chắc hai khẩu tự động vẫn nằm ngang thắt lưng sau lưng anh. Chỉ tới lúc đó anh mới kéo những van tiết lưu về vị trí số không nhưng vẫn giữ nguyên hộp số ở vị trí truyền động, do dó, chiếc xuồng vẫn chạy rất chậm về phía trước.
Anh bước tới cánh cửa cabin rồi dừng lại, đưa hai tay lên giữa những chùm tia sáng lóe mắt. Anh chẳng buồn sử dụng vốn tiếng Tây Ban Nha ít ỏi của mình, vì vậy, anh quát trả bằng tiếng Anh, “Các ông muốn gì?”
“Không, không được phản kháng”, gã chỉ huy ra lệnh, lúc này đã đến đủ gần để không cần tới cái loa khuếch đại nữa. “Tôi sẽ cho người lên xuồng của ông”.
“Làm sao tôi có thể phản kháng chứ?” Pitt cố tạo vẻ bất lực. “Tôi đâu có súng máy như các ông”.
“Hãy bảo những người còn lại lên boong”.
Pitt vẫn đưa tay lên trời, quay đầu lại, ra tuồng như anh nhắc lại lệnh của gã chỉ huy. Rồi nói, “Họ sợ các ông sẽ nổ súng vào họ”.
“Chúng tôi sẽ không bắn ai cả”, gã chỉ huy trả lời, giọng hắn nhớt như da cá chình.
“Làm ơn tắt đèn cho”, Pitt nài. “Các ông làm tôi lóe mắt và làm phụ nữ sự hãi”.
“Đứng yên đó và chớ động đậy”, hắn quát lớn, cố ý chọc tức.
Mấy giây sau, chiếc xuồng tuần tra giảm động cơ chậm lại và bẻ góc đến gần chiếc xuồng du lịch. Lúc chỉ còn cách vài bộ, hai tên gác đặt vũ khí xuống và bắt đầu thả cầu thang qua thành chiếc xuồng tuần tra. Đó là cơ hội Pitt vẫn chờ. Lúc này, những gã xạ thủ đứng sau hai khẩu súng máy cũng đã thư giãn. Cảm thấy không còn dấu hiệu rắc rối nào, một gã đốt thuốc lá. Toán thủy thủ và chỉ huy của chúng mất hẳn cảnh giác khi thấy chẳng còn điều gì đe dọa và tin chắc chúng hoàn toàn kiểm soát tình thế.
Phản ứng của chúng hoàn toàn đúng như Pitt đã hy vọng. Lạnh lùng, chính xác, anh buông hai tay xuống, chộp hai khẩu súng tự động nhét sau lưng, chĩa khẩu trong bàn tay phải về gã xạ thủ đứng chỗ khẩu súng phía trước, và cùng lúc, khẩu súng trong bàn tay trái hướng về gã xạ thủ đứng ở đuôi chiếc xuồng.
Anh siết cò hai khẩu súng với động tác nhanh nhất của mấy ngón tay. Với khoảng cách mười lăm bộ, Pitt không thể bắn trật. Tên xạ thủ phía trước khuỵu xuống trên hai đầu gối với một viên đạn xuyên qua vai. Gã xạ thủ phía sau vung hai tay lên trời, bật ngửa về phía sau, ngã trên thành tàu rồi rơi xuống nước.
Hầu như cùng lúc, những cái chai với những ngọn lửa lóe lên rít trong không khí, vượt qua buồng lái chiếc xuồng du lịch như những vệt sao băng rồi rơi trên cabin và trên boong chiếc xuồng tuần tra, vỡ ra và bốc cháy dữ dội. Thứ chất lỏng cháy bùng đọng vũng rồi lan rộng khắp chiếc xuồng, biến nó thành một giàn hỏa thiêu xác. Toàn bộ boong sau và nửa cabin bị ngọn lửa bao trùm. Những lưỡi lửa nhanh chóng liếm tới mọi ngõ ngách. Biết mình sắp bị thiêu sống, toán thủy thủ không chút ngần ngại, lao đầu xuống làn nước lạnh buốt. Gã xạ thủ bị thương trước mũi xuồng cũng loạng choạng chạy qua boong tàu đầy lửa, nhảy qua lan can. Dù quần áo đã bén lửa, tên chỉ huy vẫn bất động, y đứng trừng mắt nhìn Pitt trước khi đưa nắm đấm lên rồi nhảy qua mép xuồng.
Một gã ngố hung hăng, Pitt nghĩ.
Anh không phí nhiều hơn một giây, chạy vội tới bảng điều khiển và một lần nữa, đẩy những van tiết lưu về phía trước, cho chiếc xuồng tiếp tục cuộc hành trình của nó, lao về phía hẻm núi. Chỉ tới lúc này anh mới có thì giờ quay lại nhìn xuống chiếc xuồng tuần tra. Toàn bộ thủy thủ đều đã nhảy xuống nước với những quần áo bén lửa như những bóng ma nhảy múa trong bầu trời đêm. Từ chiếc xuồng, những cuộn khói vặn vẹo bốc lên, bắn ra những đốm lửa như những ngôi sao. Một phút sau, bình nhiên liệu phát nổ, ném ra những mảnh kim loại và gỗ cháy rực vào không khí như một màn trình diễn pháo hoa. Chiếc xuồng bắt đầu chìm phần thân sau, nó trượt lùi lại với những tiếng “xèo, xèo” lớn khi khối nước lạnh chạm vào những chỗ cháy thành than. Sau cùng, với một tiếng thở dài thật nặng nề, như thể nó có linh hồn, chiếc xuồng tuần tra chìm mất tăm.
Giordino chạy vòng qua cabin và dừng lại chỗ cánh cửa, đứng nhìn những mảnh vụn của chiếc xuồng và dầu vẫn còn cháy trên mặt nước. “Ném giỏi thật”, anh điềm tĩnh nói.
“Những trái bom chế tạo cừ thật”.
Giordino nghiêng đầu về phía chiếc xuồng tuần tra thứ nhì đang lao nhanh qua vịnh, rồi anh quay nhìn về phía bờ. “Nó sắp đến gần”, anh nói.
“Chúng sẽ không khù khờ như đồng bọn. Chúng sẽ giữ một khoảng cách an toàn và sẽ nổ súng vào những động cơ của chúng ta”.
“Pat và Megan đang ở dưới đó”, Giordino nhắc nhở anh.
“Đưa họ lên”, Pitt nói, đôi mắt theo dõi những con số trên màn hình máy vi tính định hướng. Anh thực hiện một điều chỉnh nhỏ và chiếc xuồng lệch mũi năm độ về hướng tây nam. Còn cách hẻm núi khoảng bốn trăm mét. Khoảng cách nhanh chóng thu hẹp lại. “Báo cho họ sẵn sàng rời xuồng khi chúng ta vừa chạm bờ”.
“Xuồng sẽ đâm vào đá nếu vẫn duy trì vận tốc tối đa”.
“Chúng ta đâu có thì giờ để buộc xuồng và bước lên bờ với giấy công phét ti và băng rôn chào đón chứ”.
“Được thôi”, Giordino khoác tay với vẻ hiểu biết.
Chiếc xuồng tuần tra thứ nhì đang lao thẳng về phía họ, không biết ý định chạy vào bờ của Pitt. Ánh đèn của chúng bám sát chiếc xuồng du lịch, ổn định như ngọn đèn chiếu trên sàn khấu đeo bám một vũ công. Hai chiếc xuồng nhanh chóng gần nhau tạo thành một góc nhọn. Rồi gã chỉ huy chiếc xuồng tuần tra chợt hiểu ra ý đồ của Pitt, và hắn rẽ lệch mũi xuồng đón đầu không cho chiếc xuồng du lịch vào bờ. Với vận tốc chỉ bằng một nửa đối phương, Pitt đành phải chấp nhận tham dự một cuộc chạy đua mà anh chắc chắn sẽ nắm phần thất bại. Tuy nhiên, anh vẫn đứng bên bánh lái với cặp mắt không nhấp nháy và một quyết tâm sắt đá. Cuộc chiến rõ ràng chỉ ngã về một bên, nhưng anh không chấp nhận bỏ cuộc, ý nghĩ thất bại chưa bao giờ hiện ra trong đầu anh.
Bất chợt Pitt thấy một cơ hội anh không hề mong đợi, anh kéo mạnh cần hộp số để chiếc xuồng du lịch đổi hướng ngược lại. Nó chậm dần và ngừng lại, chân vịt khoắng nước nổi bọt trắng xóa. Rồi chiếc xuồng bắt đầu chạy giật lùi.
Giordino hiện ra với Pat và Megan. Anh sửng sốt nhìn chiếc xuồng tuần tra sắp băng qua mũi chiếc xuồng du lịch trong lúc chiếc xuồng của họ đang sủi bọt lùi lại. “Đừng nói gì. Để tôi đoán xem. Cậu lại sắp giở một trò ma mãnh mới, phải không?”
“Không ma mãnh đâu. Chỉ là một trò tuyệt vọng”.
“Cậu chuẩn bị đâm nó”.
“Nếu chúng ta ném đúng lá bài”, Pitt nói nhanh. “Tôi tin chúng ta có thể nện hắn sặc máu mũi. Nào, mọi người nằm xuống sàn. Bám chặt bất cứ đồ vật kiên cố nào các bạn tìm thấy để không bị hất văng. Vì chắc chắn sẽ có mưa lớn đấy”.
Không còn thì giờ để nói thêm. Gã chỉ huy chiếc xuồng tuần tra thứ nhì vì không hiểu ý đồ của hành động giật lùi của con mồi làm thay đổi tình huống, và lúc này xuồng của hắn lại sắp chạy qua trước mũi chiếc xuồng du lịch khoảng mười bộ. Đó là một chiến thuật trong ngành hàng hải có tên là gặp nhau kiểu chữ T. Hắn đứng chỗ bánh lái và đưa cao một bàn tay lên, ra lệnh cho những xạ thủ nổ súng.
Vậy là hai sự cố xảy ra cùng lúc. Pitt đẩy cần hộp số về hết phía trước trong lúc những khẩu súng máy trên xuồng tuần tra bắt đầu nhả đạn. Chân vịt chiếc xuồng du lịch xé nước và đẩy nó lao tới đúng lúc những đầu đạn vãi vào buồng lái. Mặt kính chắn gió vỡ vụn thành hàng ngàn mảnh văng tung tóe khắp cabin. Pitt đã văng mình xuống sàn sau bảng điều khiển, đưa một bàn tay lên chộp lấy bánh lái. Anh không chú ý tới lưng bàn tay đã bị kính vỡ cắt chảy máu. Phần trên cabin chiếc xuồng du lịch bị bắn rách lỗ chỗ. Bọn xạ thủ chỉ bắn trên cao với mục đích đe dọa những người nằm trên sàn. Bên trong buồng lái đúng là một bãi hỗn loạn những đỗ vỡ, khi những đầu đạn chín ly xé nát mọi thứ chúng chạm phải.
Gã chỉ huy chiếc xuồng tuần tra giảm tốc độ chuẩn bị dừng lại, trong lúc bọn xạ thủ tỏ ra thích thú khi tiến lại gần cái bia sống của chúng. Sự thỏa mãn của chúng đã tới độ chín muồi, trong lúc việc tính toán thời gian của Pitt không thể nào chính xác hơn nữa. Lúc gã chỉ huy đoán được ý đồ của Pitt thì đã quá trễ. Trước khi hắn có thể hướng chiếc xuồng tuần tra thoát khỏi tình huống thì chiếc xuồng du lịch đã đột ngột xé nước lao tới, những động cơ của nó hoạt động hết công suất.
Một tiếng động khủng khiếp vang lên, những mảnh kính và gỗ bay tứ tán. Mũi chiếc xuồng du lịch chẻ ngang mạn phải chiếc xuồng tuần tra và xuyên thủng tới sống tàu của nó. Chiếc xuồng tuần tra lật nghiêng về bên trái, toán thủy thủ bám chặt bất cứ thứ gì chúng vớ được để không bị ném xuống nước, và bắt đầu ổn định hầu như ngay sau đó.
Pitt nhỏm người đứng lên, kéo cần hộp số ngược lại để chiếc xuồng du lịch tách khỏi vết thương của chiếc xuồng tuần tra, để nước biển ồ ạt tràn vào. Một lúc sau, chiếc xuồng tuần tra rùng mình trở lại thế cân bằng, nhưng lúc này nước biển đen đúa đã ngập boong của nó, và nó chìm xuống. Những ngọn đèn chiếu của nó vẫn cháy sáng lúc nó chìm xuống đáy vịnh, bỏ lại toán thủy thủ của nó vùng vẫy trên mặt nước lạnh lẽo.
“Al”, Pitt nói, giọng bình thản như lúc trò chuyện. “Cậu kiểm tra lại mũi tàu xem”.
Gỉordino biến mất qua một miệng hầm và trở lại chỉ sau mấy giây. “Nước đang ùa vào như một vòi sen. Chỉ năm phút nữa chúng ta sẽ theo những ông bạn kia vào trong nước, thậm chí có thể nhanh hơn nếu cậu không dừng cái xuồng này lại”.
“Ai có thể nói về điều gì chưa xảy ra chứ?”
Pitt dán mắt vào màn hình máy vi tính định hướng. Khoảng cách tới bờ và miệng hẻm núi chỉ còn chưa tới năm chục mét. Nhưng một chiếc xuồng đang chìm nhanh thì không thể thoát khỏi đoạn đường ngắn ngủi đó. Cố tìm cách lao nhanh về phía trước chỉ làm tăng lượng nước tràn vào qua mũi xuồng bị vỡ. Đầu óc Pitt bất chợt sáng suốt lạ lùng, như thể nó luôn luôn sáng suốt mỗi khi chỉ xảy ra sự cố về mọi tình huống. Anh cho chiếc xuồng rẽ nước chạy lùi với đuôi xuồng chúi xuống và mũi ngóc lên. Vậy là tạm thời giải quyết chuyện nước tràn, và anh tính sang những chuyện khác. “Mọi người lên boong và tự giữ chặt khi chúng ta đâm vào đá”.
“Lên boong?” Pat hỏi, cô như đông cứng lại.
“Trong trường hợp chiếc xuồng bị lăn tròn khi chúng ta tiếp đất, tốt hơn là mọi người nên lao ra khoảng trống để nhảy xuống nước”.
Không chút chậm trễ, Giordino đẩy hai người phụ nữ ra ngoài và để họ ngồi xuống trên boong, lưng dựa vào cabin và hai tay giữ chặt lan can chiếc xuồng. Anh ngồi giữa, hai cánh tay khỏe mạnh quàng quanh eo họ. Pat đông cứng vì sợ hãi, nhưng Megan, khi nhìn gương mặt bình thản của Giordino, cô bé trở nên can đảm. Anh và người đàn ông đứng trước bánh lái đã đưa họ tới đây. Chẳng hiểu sao cô bé cảm thấy an tâm và tin tưởng họ không hứa liều và sẽ đưa hai mẹ con về nhà an toàn.
Chiếc xuồng du lịch thấp xuống dần vì nước tràn vào thêm. Lúc này họ đã rất gần miệng hẻm núi. Những mỏm đá đen đúa, mà Pitt và Giordino đã đi qua trước khi lặn trong đêm hôm trước, đã hiện ra trong bóng tối như những báo hiệu chẳng lành. Pitt dùng hết khả năng để luồn lách chiếc xuồng qua những mỏm đá khổng lồ, chỉ nhờ vào sự phân biệt hình thù của chúng, trong lúc những đợt sóng sủi bọt trắng xóa cao đến hai bộ từ vịnh đập vào chiếc xuồng của họ.
Rồi một trong những chân vịt va vào đá tạo ra một tiếng động lớn của kim loại bị gãy vỡ làm động cơ hoạt động không kiểm soát được. Lại tiếp tục va vào đá. Và một cú va mạnh khiến chiếc xuồng rùng mình nhưng vẫn tiếp tục lướt tới thêm một quãng trước khi mép trái của nó đập mạnh vào một tảng đá và vỡ nát. Điều tồi tệ đã xảy ra. Một khối nước khủng khiếp ùa vào, tràn ngập boong tàu phía sau và kéo đuôi tàu xuống. Cú va chạm tiếp theo làm gãy những sườn tàu và chiếc xuồng bị chẻ tới tận sống tàu. Cả mạn tàu bằng gỗ của chiếc xuồng vỡ vụn. Nhưng sau đó, những âm thanh của sự gãy vỡ chấm dứt khi chiếc xuồng cuối cùng dừng lại và phần đuôi của nó chỉ nằm cách bờ khoảng mười bộ.
Pitt chộp cái máy vi tính định hướng nhỏ rồi chạy ra khỏi buồng lái. “Mọi người lên bờ!” Anh nói lớn. Anh cắp Megan dưới nách và mỉm cưới với cô bé. “Xin lỗi về chuyện này nhé, bé cưng. Nhưng chúng ta không thể tìm ra cái thang nào cả”. Rồi anh trượt qua lan can, thả mình và thả Megan xuống nước. Bàn tay anh chạm đáy sâu khoảng bốn bộ. Anh biết Pat và Giordino bám sát phía sau trong lúc anh bước loạng choạng trên lớp cát lổn ngổn đá về phía bờ.
Ngay sau khi bàn chân ra khỏi mặt nước, anh đặt Megan đứng xuống và kiểm tra máy vi tính định hướng để xác định chắc chắn họ đã tới đúng hẻm núi phải đến. Và anh hài lòng. Cái xe bay chỉ nằm đâu đó gần đây.
“Ông bị thương”, Pat nói và nhìn lưng bàn tay Pitt, một dòng máu đen sẫm hiện rõ dưới ánh sáng những ngôi sao và mặt trăng lưỡi liềm. “Vết rách không nhỏ đâu”.
“Bị kính vỡ cắt”, anh đáp gọn.
Cô luồn một bàn tay vào dưới bộ đồng phục đỏ, xé cái áo nịt ngực và bắt đầu băng bó bàn tay Pitt để ngăn máu chảy. “Một loại vải băng tôi chưa hề thấy bao giờ”, anh nói và phì cười. “Trong những hoàn cảnh như thế này”, cô nói, vừa buộc cái nút cuối cùng”, nó là giải pháp tốt nhất tôi có thể làm”.
“Có ai than phiền gì đâu”, anh siết nhẹ bàn tay cô rồi quay về hướng bóng tối nơi Gordino đang đứng. “Mọi người an toàn cả chứ?”
Giordino đang giữ cánh tay Megan, “Máu vẫn được bơm đều”.
“Vâng, lên đường”, Pitt nói. “Chiếc máy bay tư của chúng ta đang chờ”.
Đối với các ông Sandecker và Little, sự chờ đợi để liên lạc lại với Pitt và Giordino có vẻ như dài vô tận. Trong lò sưởi chỉ còn vài mẩu than hồng cháy âm ỉ, và ông Đô đốc có vẻ như chẳng buồn gây lửa lại. Ông bập bập điếu xì gà to tướng của mình, nhả lên trần những cụm khói xanh nhạt. Cả hai người, ông Đô đốc và ông Little ngồi yên như bị mê hoặc, lắng nghe câu chuyện của cựu Hạm trưởng Hozafel, một câu chuyện ông ta chưa hề kể cho người nào khác trong hơn năm mươi năm qua.
“Ông nói, thưa ông Hozafel”, ông Sandecker nói, “rằng Đệ Tam Đức Quốc xã đã phái những đoàn thám hiểm để thăm dò Nam Cực nhiều năm trước khi xảy ra chiến tranh?”
“Vâng, Adolf Hitler có tính sáng tạo phong phú hơn người ta tưởng. Tôi không thể nói điều gì đã tạo ra hứng thú cho ông ta, nhưng ông ta bị Nam Cực quyến rũ. Đầu tiên là định cư con người và sử dụng như một đơn vị quân đội khổng lồ. Ông ta tin rằng nếu một giấc mơ như thế trở thành sự thật thì hải quân và không quân của ông ta có thể kiểm soát tất cả các biển phía nam chí tuyến. Thuyền trưởng Alfred Ritscher được giao nhiệm vụ chỉ huy một cuộc thám hiểm thăm dò tiểu lục địa đó. Chiếc máy bay chở hàng Schwabenland của Đức được dùng để tiếp tế nhiên liệu cho những chiếc thủy phi cơ bay tới Nam Cực đầu những năm 1930 được cải biến để trở thành phương tiện thám hiểm Nam Cực. Nó rời khỏi Hamburg Tháng Mười Hai năm 1938, dưới lớp ngụy trang nghiên cứu khả năng thành lập một thuộc địa chuyên săn cá voi. Sau khi tới nơi vào giữa mùa hạ miền nam, Ritscher phái một trực thăng với những máy camera đời mới nhất và tốt nhất. Những người này bay quan sát khắp một vùng rộng hai trăm năm mươi ngàn dặm vuông và chụp hơn mười một ngàn tấm không ảnh”.
“Tôi nghe có dư luận về một vụ thám hiểm như thế”, ông Sandecker nói, “nhưng cho tới nay, tôi chưa từng bao giờ nghe nói đó là sự thật”.
“Ritscher quay lại nơi đó trong một vụ thám hiểm rộng lớn hơn vào năm sau. Lần này, với một máy bay cải tiến và những bộ phận trượt tuyết, nên họ có thể đáp xuống trên mặt băng. Họ cũng mang theo một khinh khí đỉnh nhỏ. Lần này họ rải rộng ra trên một khu vực ba trăm năm mươi ngàn dặm vuông, đổ bộ xuống Nam Cực và cắm những lá cờ chữ vạn trong mỗi ba mươi dặm vuông như những dấu hiệu tuyên bố nơi đó là lãnh thổ của Đệ Tam Đức Quốc xã”.
“Họ có khám phá điều gì bất thường đáng quan tâm không?” ông Little hỏi.
“Thực sự là có”, ông Hozafel trả lời. “Đoàn quan sát chụp ảnh một số vùng băng trôi, những hồ bị đóng băng với bề dày lớp băng trên mặt gần bốn bộ, với những kẽ nứt có dấu hiệu của sự phát triển thực vật gần đó. Những tấm ảnh của họ cũng cho thấy những phần nhỏ hoặc những đoạn đường bên dưới lớp băng”.
Ông Sandecker ngồi thẳng lên và chăm chú nhìn người Hạm trưởng cũ của chiếc tàu ngầm Đức. “Người Đức đã tìm thấy bằng chứng của một nền văn minh trên lục địa Nam Cực à?”
Ông Hozafel gật đầu, “Nhiều toán người sử dụng những xe trượt tuyết đã được cơ giới hóa để tìm kiếm những động băng. Trong lúc thám hiểm những hang động đó, họ tình cờ phát hiện những di vật của một nền văn minh cổ. Sự khám phá này tạo hứng cho Đệ Tam Quốc xã áp dụng những kỹ thuật kiến trúc và kỹ thuật cơ khí của họ để xây dựng một căn cứ khổng lồ dưới đất tại Nam Cực. Đó là bí mật được giữ kín hơn cả trong chiến tranh”.
“Theo chỗ tôi biết”, ông Little nói, “những nguồn tình báo của Đồng minh đều phớt lờ những dư luận về căn cứ của Đệ Tam Quốc xã tại Nam Cực. Họ xem đó chỉ là sự tuyên truyền thái quá”.
Ông Hozafel mỉm cười, “Đúng là họ nghĩ như thế. Nhưng có một lần, Đô đốc Donitz hầu như đã xác nhận tham vọng của Đệ Tam Quốc xã. Trong một buổi nói chuyện với các Hạm trưởng tàu ngầm của mình, ông ta tuyên bố “Hạm đội tàu ngầm Đức hãnh diện vì nó được thành lập để phục vụ Fuhrer, mặt khác, nó giống những pháo đài bất khả xâm phạm trên đất liền”. May mắn cho chúng ta, không ai chú ý tới dự án đó. Những tàu ngầm tôi chỉ huy trước khi chiến tranh xảy ra không bao giờ được gởi tới Nam Cực. Vì vậy, mãi đến khi chiến tranh gần kết thúc, lúc tôi trở thành Hạm trưởng tàu ngầm U-699, tôi mới biết căn cứ bí mật đó. Nó có mật danh là Tân Berlin”.
“Nó được thành lập bằng cách nào?” ông Sandecker hỏi.
“Sau khi chiến tranh bùng nổ, bước đầu tiên Đệ Tam Quốc xã thực hiện là phái hai chiến hạm đến những vùng biển phía nam để đánh chìm tất cả thuyền bè của kẻ thù, để giấu kín quân Đồng minh mọi thông tin liên quan đến dự án. Sau cùng, cho tới khi những chiến hạm này bị tàu hải quân anh đánh đắm, thì chúng đã bắt giữ hoặc hủy diệt toàn bộ những hạm đội của phe đồng minh và những tàu đánh cá và tàu săn cá voi hoạt động trong hải phận này. Sau đó, một hạm đội Tây Ban Nha được ngụy trang thành tàu buôn, và một đoàn những tàu ngầm lớn được đóng không vì mục đích chiến tranh mà để chở những hàng hóa cồng kềnh, bắt đẩu chở người, các loại thiết bị và vật dụng đến nơi có nền văn minh cổ mà họ nghĩ có thể là Atlantis”.
“Tại sao lại xây đựng một căn cứ trên một đống đổ nát cũ?” Ông Little nói. “Nó phục vụ mục đích quân sự nào?”
“Tự thân thành phố chết và mất tích đó không quan trọng . Đó là một động băng rộng mênh mông họ đã tìm thấy dưới một cánh đồng băng bắt đầu từ thành phố này. Động băng chạy dài tới hai mươi lăm dặm trước khi chấm dứt tại một ao hồ thiên nhiên rộng tới một trăm mười dặm vuông. Các nhà khoa học, kỹ sư, các đội thợ xây và mọi đơn vị quân đội hải lục không quân và, tất nhiên, một bộ phân lớn đảng viên SS được gởi đến để giữ an ninh và quản lý chiến dịch. Họ đổ bộ và bắt đầu một dự án đào bới rộng khắp. Họ cũng gởi tới một bộ phận nô lệ lao động rất lớn hầu hết là những tù binh Nga từ Siberia, những người đã có kinh nghiệm xây dựng những công trình chống khí hậu lạnh lẽo”.
“Điều gì đã xảy ra cho các tù nhân Nga sau khi công trình hoàn tất?” Ông Little hỏi, có ý ngờ vực câu trả lời.
Nét mặt ông Hozafel trở nên u ám. “Đệ Tam Quốc xã có thể không bao giờ cho phép họ được phóng thích và tiết lộ bí mật quan trọng nhất của người Đức. Nên, hoặc họ làm việc cho tới chết hoặc bị thủ tiêu”.
Ông Sandecker nhìn theo cụm khói thuốc vốn có với ánh mắt tỉnh táo. “Vậy là hàng ngàn người Nga bị chôn vùi dưới băng không ai biết tới, và bị quên lãng”.
“Mạng sống con người rất rẻ đối với Đệ Tam Quốc xã”, ông Hozafel nói. “Hy sinh để xây dựng thành lũy bảo vệ Đệ Tứ Quốc tế là một giá trị cực lớn đối với họ”.
“Đệ Tứ Quốc tế”, ông Sandecker nói, giọng u ám, “thành lũy cuối cùng của Đệ Tam Quốc xã và cũng là nỗ lực cuối cùng để thống trị thế giới”.
“Người Đức là một chủng tộc rất bướng bỉnh”.
“Ông đã trông thấy căn cứ đó?” Ông Little hỏi.
Lại một lần nữa, ông cựu Hạm trưởng già gật đầu. “Sau khi rời Bergen, Hạm trưởng Harger và chiếc tàu ngầm U-2015, đoàn thủy thủ của tôi bám theo trong tàu ngầm U-699, đi qua Đại Tây Dương mà không nổi lên, và đến một cảng vắng vẻ tại Patagonia”.
“Ông đã đổ bộ hành khách và kho tàng ở đâu?” ông Sandecker hỏi.
“Ngài biết chiến dịch này à?”
“Chỉ biết đại khái, chi tiết thì không?”
“Vậy thì ngài không thể biết rằng chỉ những hành khách và các chuyên gia ngành y mới được lên bờ. Những kho tàng mỹ thuật, vàng và những thứ giá trị khác, kể cả những cổ vật thiêng liêng của Đệ Tam Quốc xã đều để lại trên các tàu ngầm U-2015 và U-699. Sau đó, Hạm trưởng Harger và tôi chở những thứ đó tới căn cứ tại Nam Cực. Sau khi hẹn với một tàu quân khu và được tiếp nhiên liệu, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình và tới điểm đến của chúng tôi vào đầu Tháng sáu năm 1945. Những chuyên viên người Đức thật tuyệt vời. Một người hoa tiêu đến và điều khiển tàu ngầm U-2015. Chúng tôi bám theo đường rẽ nước của nó và được dẫn vào một hang động lớn không thể phát hiện khi người ta chỉ cách nó một phần tư dặm lúc còn ở ngoài biển. Một xưởng đóng tàu khổng lồ được đào trong lớp băng, có thể chứa nhiều tàu ngầm và những tàu hàng lớn, đón tiếp chúng tôi trong lúc chúng tôi hoàn toàn bỡ ngỡ trước quang cảnh. Hạm trưởng Harger và tôi được lệnh buộc tàu sau một tàu quân sự đang dỡ hàng, là những máy bay”.
‘Máy bay có thể cất cánh tại căn cứ đó à?” Ông Little ngắt lời.
“Đó là kỹ thuật hàng không hiện đại nhất của người Đức. Những chiếc Junker 287 phản lực thả bom được cải biến để chở hàng, thích hợp trên băng và đặc biệt thích hợp các điều kiện của vùng cực. Những nô lệ lao động đục băng thành một nhà chứa máy bay rộng lớn, trong khi những trang bị dành cho kiến trúc làm láng mặt đường băng dành cho máy bay dài một dặm. Sau hơn năm năm, một núi băng đã được khoét hoàn toàn để xây dựng một thành phố nhỏ chứa tới năm ngàn công nhân và nô lệ xây dựng”.
“Vậy lớp băng bên trong hang động khổng lồ đó không tan chảy bởi nhiệt lượng do đông đảo số người và thiết bị của họ thải ra sao?” ông Little hỏi.
“Các nhà khoa học Đức đã tạo được một lớp áo hóa chất có thể phun xịt trên những vách băng để cách ly và ngăn chúng không bị tan chảy. Nhiệt độ trong toàn bộ hệ thống này luôn luôn ở vào khoảng 16°C”.
“Nếu chiến tranh kết thúc”, ông Sandecker đặt vấn đề với ông Hozafel, “căn cứ này sẽ phục vụ lợi ích gì?”
“Theo như tôi hiểu, kế họach này là nhằm duy trì những tinh hoa của Đệ Tam Quốc xã để bí mật điều hành từ căn cứ, xâm nhập từ từ vào Nam Mỹ, mua những miền đất và nhiều đoàn thể sản xuất và kỹ thuật lớn. Họ cùng đầu tư đậm vào nước Đức mới và những quốc gia tại Á châu, sử dụng số vàng từ kho tàng quốc gia cũ của họ và từ một số kho tàng đánh cướp được và số lương tiền giả lưu hành tại châu Mỹ được in bằng kỹ thuật cao tại Hoa Kỳ. Những khuôn in tiền này của người Nga bị người Đức cướp được. Tài chính không phải là một vấn đề trong việc thành lập Đệ Tứ Đế chế”.
“Ông có mặt tại căn cứ đó bao lâu?” Ông Little hỏi.
“Hai tháng. Sau đó tôi đưa chiếc tàu ngầm và đoàn thủy thủ của tôi đến sông Rio de Plata và đầu hàng những người có thẩm quyền tại địa phương. Một viên sĩ quan của hải quân Argentina lên tàu và bảo tôi tiếp tục đến căn cứ hải quân Mar de Plata. Tôi ra lệnh, và đó là lệnh cuối cùng của tôi trên cương vị sĩ quan hải quân Đức Quốc xã trước khi chuyển giao một tàu ngầm hoàn toàn trống trơn”.
“Chuyện đó xảy ra lúc nào sau khi chiến tranh kết thúc?”
“Thêm một tuần lễ nữa là trọn bốn tháng”.
“Điều gì xảy ra sau đó?”
“Đoàn thủy thủ của tôi và tôi bị giam giữ cho đến khi nhân viên tình báo Anh và Mỹ đến và thẩm vấn chúng tôi. Chúng tôi bị điều tra đúng sáu tuần lễ trước khi được phép về với gia đình”.
“Tôi nghĩ ông và đoàn thủy thủ đã chẳng khai báo gì với an ninh Đồng minh”.
Ông Hozafel mỉm cười. “Chúng tôi mất ba tuần trong chuyến đi từ Nam Cực đến Argentina để kể những câu chuyện của chúng tôi. Có lẽ những chuyện đó phần nào đã gây xúc cảm cho người nghe, nhưng không ai trong chúng tôi bị mua chuộc, và những điều tra viên của họ chẳng biết được gì. Họ rất hoài nghi. Nhưng ai có thể trách họ chứ? Một tàu hải quân Đức mất tích suốt bốn tháng rồi xuất hiện lại sau đó, Hạm trưởng của nó tuyên bố ông ta tin rằng bất cứ đài phát thanh nào cũng loan báo Đức đã đầu hàng chỉ là một mưu đồ của Đồng minh nhằm làm ông ta tiết lộ thân phận của mình. Đó không phải là một câu chuyện hợp lý, nhưng là một câu chuyện họ không thể bắt bẻ”. Ông ta dừng lại và nhìn lò sưởi đã nguội lạnh. “Chiếc U-699 sau đó được giao cho Hải quân Hoa Kỳ và được kéo tới căn cứ của họ tại Norfolk, bang Virginia. Ở đây, nó bị tháo rời tới con ốc cuối cùng và bị vứt bỏ”.
“Còn chiếc U-2015?” ông Sandecker hỏi vặn.
“Tôi không rõ. Tôi không hể nghe chuyện gì đã xảy ra với nó, cũng chẳng bao giờ gặp lại Hạm trưởng Harger”.
“Có thể ông sẽ quan tâm khi biết” ông Sandecker nói với vẻ thích thú, “Chiếc U-2015 đó bị một tàu ngầm nguyên tử của Hoa Kỳ đánh đắm chỉ mấy ngày trước đây tại Nam Cực”.
Đôi mắt ông Hozafel nheo lại. “Tôi có nghe những câu chuyện tàu ngầm Đức hoạt động tại những biển vùng địa cực phía nam sau chiến tranh rất lâu nhưng không biết thực chất thế nào”.
“Vì nhiều tàu ngầm cao cấp thuộc thế hệ XXI và XXII vẫn bị xem mất tích”, ông Little nói. “Chúng tôi rất ngờ vực về chuyện một hạm đội trong những tàu ngầm này được dành cho các lãnh tụ Đệ Tam Quốc xã dùng vào những mục đích chuyển lậu hàng hóa suốt những năm chiến tranh”.
“Tôi thừa nhận ông nhận xét đúng”.
Ông Sandecker vừa định nói thì chuông điện thoại lại reo. Ông cầm ống nghe liên hợp lên, hình như ông sợ hãi những gì sắp được nghe, “Vâng?”
“Xin xác định”, giọng Pitt vọng ra, “món Pizza của ngài đã tới và cậu bé giao hàng đang trên đường trở về dù đang trong giờ cao điểm”.
“Cám ơn đã gọi”, ông Sandecker nói. Không có chút thư giãn nào trong giọng nói của ông.
“Tôi hy vọng ngài sẽ gọi lại khi ngài thưởng thức món Pizza”.
“Tôi hứa”, và ông gác máy. “ Tốt rồi”, ông nói, giọng mỏi mệt. “Họ đã tới cái xe bay và đang ở trên bầu trời”.
“Thế là họ sẽ an toàn về nhà”, ông Little nói, bất chợt trở nên vui vẻ.
Ông Sandecker lắc đầu với vẻ ảm đạm. “Khi Dirk nói giờ cao điểm là cậu ta ngụ ý họ còn bị máy bay an ninh của chúng tấn công. Tôi sợ họ vừa thoát khỏi bầy cá mập lại đâm đầu vào đám cá nhồng”.
Dưới hệ thống hướng dẫn tự động, chiếc xe bay Moller Skycar bốc lên trong đêm và lướt trên mặt nước đen ngòm trong vịnh, dần dần tăng độ cao khi nó từ trong núi quét qua những khối băng trôi bên dưới. Nếu có ai đó trong máy bay nghĩ rằng một khi họ đã có mặt trong cái xe bay thì họ an toàn trở lại trong chiếc tàu của NUMA đang đợi họ ngoài khơi Punta Entrada, thì họ đã sai lầm trầm trọng.
Không phải chỉ một mà đến bốn chiếc trực thăng trang bị vũ khí bốc lên từ boong tàu Ulrich Wolf để săn đuổi chiếc xe bay. Chỉ một chiếc cũng quá đủ, nhưng bọn Wolf đã phái trọn phi đội an ninh của chúng để ngăn chặn những kẻ chạy trốn. Không theo một đội hình nào, chẳng cần chiến thuật giao tranh, nhưng chúng đã tới đúng lúc như được tính toán kỹ để tiêu diệt chiếc xe bay trước khi nó có thể trú ẩn trong núi.
Được Tập đoàn Vận Hội mua từ công ty Messerschmitt-Bolkow, loại trực thăng BO 105LS-7 được thiết kế và xây dựng cho quân đội Liên bang Đức trong buổi đầu để tiếp tế hàng hóa cho các đơn vị và các hoạt động bán quân sự. Chiếc trực thăng săn đuổi chiếc xe bay có hai động cơ kép với vận tốc tối đa lên tới hai trăm tám mươi dặm mỗi giờ. Hỏa lực chính của nó là một khẩu đại liên xoay gắn dưới bụng.
Trong lần bay này, Giordino lại là người ngồi ở ghế phi công, và Pitt lo việc quan sát các thiết bị, trong lúc hai người phụ nữ ép sát vào nhau trong thân sau máy bay, ngay sau lưng ghế hành khách. Trong chuyến bay trở về này, Giordino không phải làm chuyện gì khác ngoài việc tìm cách đạt vận tốc tối đa. Mọi thao tác khéo léo khác đều do máy vi tính kiểm soát và thực hiện. Bên cạnh anh, Pitt đang theo dõi những trực thăng săn đuổi trên màn hình rađa.
“Sao, tại sao những thằng khủng bố khổng lồ chuyên bắt nạt này lại không để chúng ta yên chứ?” Giordino càu nhàu.
“Có vẻ như chúng đem hết vốn ra để chơi canh bạc này với chúng ta”, Pitt nói, vừa chăm chú nhìn những chấm nhỏ trên mép ngoài của màn hình rađa và đang tiến lại gần điểm sáng chính giữa là chiếc xe bay, như thể nó là trung tâm điểm của từ trường.
“Nếu chúng có tên lửa tầm nhiệt có thể bay qua những hẻm núi”, Giordino nói, “Chúng có thể giở trò bẩn thỉu đấy”.
“Tôi không nghĩ thế. Máy bay dân sự hiếm khi có khả năng mang tên lửa quân đội”.
“Chúng ta có thể đánh lạc hướng chúng trong rặng núi không?”
“Sẽ biết ngay thôi”, Pitt trả lời. “Hy vọng duy nhất của chúng là chỉ bắn chính xác trong khoảng cách nửa dặm trước khi chúng ta thoát khỏi rặng núi. Sau đó, chúng ta thoát khỏi rặng núi. Và, cuối cùng, chúng ta có thể thoát. Vận tốc của chúng kém chúng ta ba mươi dặm-giờ”.
Giordino nhìn qua kính chắn gió. “Chúng ta đang rời xa những tảng băng trôi và vào dãy núi. Len lỏi giữa các hẻm núi sẽ khiến chúng bị khó khăn khi nhắm bắn”.
“Các ông không thể tập trung suy nghĩ trong lúc lái thứ này à?” Pat lên tiếng, cô nặng nề nhìn hình bóng mờ ảo của dãy núi dưới ánh trăng yếu ớt đang bắt đầu nhô cao hai bên hông chiếc xe bay. “Nói chuyện về các ông chẳng tốt hơn sao?”
“Sao cô và cháu bé không ngã lưng một lúc?” Pitt tỏ ra lo ngại.
“Giống như đang cỡi xe lửa trong hội chợ ấy”, Megan có vẻ hào hứng.
Pat ý thức rõ hơn về sự nguy hiểm nên không thể sôi nổi như con gái. “tôi nghĩ mình sẽ nhắm mắt một lúc. Cám ơn ông”.
“Chúng ta sẽ bị xóc dữ dội vì sự đổi hướng đột ngột lúc qua dãy núi trong khi bay với vận tốc tối đa” Pitt giải thích. “Nhưng đừng lo. Máy vi tính đang lái cái xe bay này mà”.
“Hiện đại thật”, Pat nói khẽ. Cô vẫn nặng nề.
“Bọn khốn sắp lên tới đỉnh núi”, Giordino thông báo, vừa thận trọng theo dõi những chùm ánh sáng từ những trực thăng chiếu ra làm sáng cả những sườn núi.
Những gã lái trực thăng tấn công đang chơi một canh bạc lém lỉnh. Chúng không có ý định đuổi theo chiếc xe bay với vận tốc nhanh hơn qua những mỏm đá lồi lõm trong những hẻm núi. Chúng tự biết rõ chỉ có một cơ hội và duy nhất chỉ một, là từ trên cao xả súng xuống chiếc máy bay có hình thù kỳ lạ. Chúng đạt một độ cao và từ đó bắn xuống hẻm núi. Những đầu đạn hai mươi ly lóe sáng trong bóng tối bên trên chiếc xe bay. Pitt nhanh chóng nhận ra chiến thuật, anh thúc cùi chõ lên cánh tay Giordino. “Hãy kiểm soát bằng tay”, anh lắp bắp. “Dừng lại giữa không trung rồi bay giật lùi”.
Giordino làm theo và hoàn tất các động tác trước khi các âm thanh thoát khỏi miệng Pitt. Anh tắt máy vi tính kiểm soát, điều khiển chiếc xe bay dừng lại đột ngột khiến họ bị ném mạnh vào dây đai an toàn, rồi cho máy bay giật lùi xuống hẻm núi.
“Nếu chúng ta cố bay qua đợt oanh kích này”, Pitt nói, “Chúng ta sẽ lọt vào giữa những đạn đạo”.
“Đây chỉ là vấn đề tính bằng giây trước khi chúng định hướng lại và nhắm bắn theo cách cũ”.
“Đúng thế. Chúng sẽ quay lại và nhắm vào phía sau chúng ta, chờ chúng ta bay vào vùng nhắm của chúng. Nhưng chúng ta sẽ lại lao tới, buộc chúng phải đổi hướng... đúng như trò ta đã chơi khi bửa đôi chiếc xuồng tuần tra. Nếu mọi chuyện ngã về phía chúng ta, chúng ta sẽ có đủ thời gian thoát đi trước khi chúng có thể tập trung lại hỏa lực của chúng”.
Trong lúc họ trao đổi, những chiếc trực thăng đã lập lại đội hình, để bắn tập trung. Chỉ trong vòng vài giây, chúng đã có thể bắn thẳng vào chiếc xe bay. Đó chính là dấu hiệu để Giordino lại lao chiếc xe bay tới phía trước trong hẻm núi. Chiếc Moller Skycar chỉ tránh thoát những đầu đạn trong gang tấc. Nhưng trong vài giây đó, những chiếc trực thăng lại đến gần họ hơn. Lần này chúng phản ứng thật nhanh và bắt đầu điên cuồng nhả đạn về phía chiếc xe bay đang lao nhanh.
Những đầu đạn xé toạc bộ thăng bằng thẳng đứng của bộ phận đuôi chiếc xe bay. Những bánh đáp bị rơi ra và phần trên của nóc máy bay bị phá vỡ đột ngột và bay mất vào bóng tối. Không khí lạnh buốt tràn vào buồng lái như một cơn lốc. Cơn mưa đạn khủng khiếp nhưng không hiệu quả, chỉ rời chung quanh chiếc xe bay và không ảnh hưởng tới các động cơ của nó. Không thể thoát trận mưa đạn bằng cách tránh né, vì khoảng cách giữa hai mép vách đá không rộng hơn năm mươi bộ so với sải cánh chiếc xe bay, nên Giordino chỉ điều khiển máy bay lên cao rồi xuống thấp.
Những làn đạn hai mươi ly trật mục tiêu, đâm vào vách đá dựng đứng làm bắn ra hàng ngàn mảnh đá vụn. Giống như một con mèo bị một bầy chó rượt đuổi, với những động tác khéo léo, Giordino lại lao chiếc Skycar lên hai trăm mét trong hẻm núi, rồi bốn trăm mét, và thật đột ngột, anh đâm thẳng vào một vách đá một góc chín mươi độ, ngoặc quanh một mỏm đá nhô ra, tránh được cơn bão đạn.
Cho tới lúc những chiếc trực thăng đến gần mỏm đá và đảo quanh nó thì chiếc xe bay đã biến mất vào bóng tối của những ngọn núi.