Qua giọng hát, anh nhận ra người hát
Qua nét khắc anh nhận ra người thợ bạc.
Lời ghi trên sản phẩm vùng Kubatri.
- Sao cô quát tôi thế?
- Tôi không quát, cách nói của tôi chỉ thê thôi,
Vợ chồng nói với nhau
- Thơ của anh hình như không giống thơ hay sao ấy?
- Không, cách viết của tôi như vậy.
Độc giả và nhà thơ nói chuyện với nhau
Bọn trẻ con chúng tôi không được đến đình làng, nơi những người cao tuổi thường tụ tập trò chuyện. Đứng trên một tảng đá lớn, từ xa chúng tôi nhìn xuống nơi các cụ trò chuyện.
Có lần chúng tôi thấy một vị khách từ làng Anđi đến nói chuyện cả giờ đồng hồ và mọi người trong làng tôi đều chăm chú lắng nghe và không ai dám ngắt lời. Chúng tôi đoán với nhau: chắc là vị khách ở làng Anđi kia đã đem tới nhiều tin tức quan trọng, nên mọi người mới lắng nghe ông ta lâu thế, chăm chú thế.
Về nhà, tôi hỏi bố tôi:
- Ông khách làng Anđi nói chuyện gì mới thế hả bố?
- Ôi dà, dân làng Xađa này đã nghe đến lần thứ hai mươi những điều ông ấy nói hôm nay, nhưng ông ta nói hấp dẫn lắm, không muốn nghe cũng phải nghe. Ông ta giỏi đấy, cầu trời phù hộ ông ta!
Lại nói về cách riêng. Mỗi con thú đều có cái khéo léo riêng, đều có cách riêng để thoát khỏi sự săn bắt. Mỗi người thợ săn đều có cách riêng để tìm bắt được thú. Cũng vậy, mỗi nhà văn đều có cách làm việc riêng, bút pháp riêng, cả tính riêng, dấu ấn riêng.
Khi tôi mới là một nhà thơ trẻ, tôi được theo học ở Đại học văn học. Đó là một môi trường hoàn toàn mới lạ đối với tôi. Tôi được học thêm rất nhiều điều, - học ở chính Matxcơva, học trong các buổi mạn đàm, học các nhà thơ lớn đến trò chuyện với chúng tôi, học các vị giáo sư, học bạn bè cùng khóa, cùng nhà tập thể. Các bài học tới tấp trút xuống đầu tôi từ mọi phía, và một thời gian tôi cảm thấy hoang mang, mất phương hướng; tôi quay sang viết theo một cách mới, theo một bút pháp là lạ chưa tùng thấy trong văn học Avar xưa nay.
Tôi không giấu giếm là dạo ấy tôi rất mong thấy thơ của mình được dịch sang tiếng Nga. Tôi khao khát được đến với độc giả Nga, và tôi có cảm tưởng là cách viết mới của tôi sẽ dễ hiểu hơn, gần gũi hơn với độc giả Nga. Tôi hoàn toàn không để ý đến nhạc điệu của tiếng Avar, đến nhạc điệu của bài thơ nữa. Điều đáng chú ý trước tiên là cấu trúc bài thơ, là tứ thơ trần trụi. Tôi tưởng rằng tôi đã tìm ra cách viết cần thiết, nhưng trên thực tế - bây giờ tôi hiểu rõ điều này - Tôi chỉ giở phép khôn khéo ra thôi.
Rất may, tôi đã sớm nhận ra rằng thơ ca và sự khôn khéo không thể dung hòa với nhau được. Nhưng bố tôi còn hiếu rõ điều này sớm hơn tôi. Khi ông đọc những bài thơ mới của tôi, ông dã thấy ngay rằng chỉ vỉ để ăn miếng khấu đuôi mà tôi đã giết cả con cừu, rằng tôi đã định cày bừa, gieo hạt trên một thửa đất đầy sỏi đá, một thửa đất không thể có gì mọc lên dược dù có tưới nước nhiều đến đâu, rằng tôi muốn làm ra mưa trong khi không có bầu trời.
Bố tôi đã hiểu ngay tất cả, nhưng ông luôn luôn là một người rất hay để ý và dè dặt, thận trọng. Có lần, khi nói chuyện, ông đã nhắc nhở tôi:
- Raxun, bố sợ rằng cách viết của con đã thay đổi rồi đấy.
- Bố ạ, con là người lớn rồi, mà cách viết thì chỉ trong trường phổ thông mới chú ý đến. Người ta không chỉ hỏi một người đã lớn là anh ta viết thế nào mà còn hỏi anh ta viết cái gì.
Phải, đối với anh công an hay người thư ký ủy ban xã cấp giấy chứng nhận có lẽ thế thật. Còn đối với nhà thơ thì cách viết, bút pháp của anh ta - là một nửa việc làm. Dù bài thơ thể hiện ý tứ độc đáo đến đâu, nó cũng nhất thiết phải đẹp. Không chỉ đơn giản là đẹp mà còn đẹp một cách riêng. Đối với nhà thơ, tìm cho ra bút pháp của mình và thấy được mình - nghĩa là trở thành nhà thơ.
Con chỉ vội vàng, nhưng dòng suối chảy xiết vội vàng không bao giờ đi tới biển: nó sẽ bị thu vào một dòng nước khác, bình thản hơn, êm đềm hơn.
Con chim kết nhiều tổ mà vẫn không biết nên ở tổ nào, cuối cùng lại thành chim không tổ. Nên chăng chỉ đơn giản kết cho mình một tổ riêng - lúc đó sẽ không phải lựa chọn nữa.
Giờ đây, khi tôi đã ngoài bốn mươi tuổi, tôi ngồi trước bốn mươi cuốn sách của tôi, lật lật xem qua và thấy rằng trên cánh đồng gieo lúa mì của tôi đã có những thứ cây từ cánh đồng khác lan sang, những thứ cây mà tôi không gieo.
Cứ cho đây không phải là cỏ dại, mà là những cây hữu ích - là đại mạch, yến mạch, mạch đen, - nhưng chúng vẫn là những thứ cây lạ trên cánh đồng lúa mì của tôi.
Trong đàn cừu của tôi, tôi nhìn thấy những con cừu lạ. Chúng không bao giờ quen được độ cao và không khí trên những ngọn núi.
Trong chính bản thân mình, đôi khi tôi nhận ra những người khác. Nhưng trong cuốn sách này tôi muốn được làm chính mình. Con người tôi tốt hay là đáng ghét - xin các bạn cứ đón nhận như nó tồn tại.
Người miền núi đến dự đám cưới ở vùng cao thường hỏi những người đến trước:
- Chỉ cần các anh là đủ rồi, hay nên thêm cả tôi vào nữa?
Những người dự cưới trả lời khách:
- Anh cứ vào đi, nếu quả thật anh là anh.
Và đây là cuốn sách của tôi, cuốn sách mà qua đó, tôi muốn nói: tôi - là tôi. Tôi muốn làm nhà văn, chứ không phải đóng vai nhà văn. Hãy thử nhìn xem diễn viên uống rượu cô nhắc trên sân khấu. Đấy, hơi men đã bốc, lưỡi anh ta ríu lại, đầu gục xuống.
Nhưng trong chai trên sân khấu không phải rượu cô nhắc mà là nước chè. Uống rượu bằng chè không thể say được. Tôi nghĩ rằng ai ai cũng tán đồng điều này, kề cả những người chưa từng nếm cô nhắc.
Nếu trong một vở kịch có vai nhà thơ, thì việc khó nhất với người viết kịch là làm những bài thơ cho nhân vật đó. Bởi vậy thường là nếu trong kịch có nhân vật nhà thơ thì anh ta không đọc thơ của mình. Làm nhà thơ thế nào được nếu anh ta không có thơ? Lấy cái gì phân biệt anh ta với hình nhân bằng chất dẻo đặt trong tủ kính cửa hàng?
Tôi không cần phải giống ai khác, cho dù đó là Omar, là Puskin hay Bairơn.
Có những tên trộm, khi trộm trâu đã chặt sừng hay cắt đuôi trâu đi. Có những tên ăn cắp, khi đánh cắp xe hơi, đã sơn cho xe một màu sơn khác. Tuy nhiên, dù khôn khéo đến đâu, ăn cắp vẫn là ăn cắp.
Với tôi, có lẽ sung sướng nhất là nếu như được nghe độc giả nói với nhau: Raxun đã viết một cuốn sách đúng là của Raxun.
Tôi thích chim hót hơn chim kêu. Tôi thích chim bay hơn là chim đậu. Tôi thích con tàu ngoài biển cả hơn là con tàu nằm im trong bến hẹp.
Hãy nhìn con thuyền nhỏ nhẹ bập bềnh lướt trên ngọn sóng. Hãy nhìn những con tàu to lớn không chòng chành ngay cả khi gió bão.
Bọn ngu xuẩn, ngay cả khi chưa nhấp một hớp ruợu nào, cũng đã cãi nhau ầm ĩ như những thằng say. Những người thông minh thì dù uống cả cốc rượu lớn, vẫn từ tốn trò chuyện với nhau.
Cuốn sách của Raxun hãy xử sự giữa mọi người như cuốn sách của Raxun cần phải xử sự.
Nếu có vị khách lạ vào nhà người dân miền núi thì chủ nhà sẽ không hỏi tên không hỏi gốc gác người khách, chừng nào chưa quá ba ngày.
Các bạn hãy đón nhận cuốn sách của tôi mà không cần hỏi nó là thế nào, từ đâu tới, và của ai. Hãy để cho cuốn sách tự nói về mình.
Tôi không muốn tỏ ra tốt hơn hay xấu hơn chính con người mình. Hai mươi tuổi rồi mà không có sức lực - Thì đừng chờ, không có nữa đâu. Ba mươi tuổi rồi mà không có trí thông minh - Thì đừng chờ, không có nữa đâu. Nếu đến bốn mươi tuổi, mà không có tiền - Thì đừng hy vọng, không có nữa đâu. Tục ngữ Nga đã nói thế.
Ở miền núi chúng tôi, người ta lại nói: nếu người bốn mươi tuổi rồi không phải là chim ưng thì anh ta không bao giờ bay được nữa! Hãy mặc cho cái xe bò của tôi lăn bánh trên con đường của tôi.
Ở làng tôi, khi mưa, từ trên những quả núi cao, hàng trăm con suối nhỏ đổ xuống. Chúng hòa nhập lại, làm thành một cái hồ nhất thời sau mưa. Từ cái hồ đó, nước chỉ chảy ra thành một dòng suối lớn.
Từ những triền núi bao quanh, có rất nhiều con dường nhỏ dẫn xuống làng chúng tôi. Những con đường ấy, cũng như những dòng suối, hòa nhập lại trong làng tôi. Nhưng nếu cần phải rời làng ra đi, đến huyện lỵ hay vào thành phố, vào thế giới rộng lớn, thì chỉ có một con đường lớn bằng phẳng.
Tôi không biết tôi có thể tự so sánh mình với gì - với con đường hay với dòng sông. Nhưng tôi biết rằng ý nghĩ của nhiều đồng bào tôi, lời nói của nhiều đồng bào tôi, cảm xúc của nhiều đồng bào tôi đã hòa vào trong tôi như những con suối núi hay những con đường nhỏ gập ghền dẫn xuống làng. Còn con đường của riêng tôi, con đường của tôi đã dẫn tôi từ làng dến với thơ ca.
Tôi đã đi khắp thế gian này, đã đến nhiều nước, gặp nhiều loại người khác nhau. Tôi đã từng dự nhiều cuộc chiêu đãi trọng thể - khi thì của các vị tổng thống, quốc vương, khi thì của các vị thủ tướng, hay có khi chỉ là của các vị bộ trưởng, đại sứ. Những mũi giầy đen nhánh, những cái đầu hói bóng lộn, cà vạt thắt khéo léo, nơ trắng bông nơi ve áo, những nụ cười, những cái cúi chào quá ư lịch sự, mỗi lời nói, mỗi cử chỉ đều được đắn đo định trước! Trong những cuộc chiêu đãi trọng thể ấy thì các nghệ sĩ y như các vị bộ trưởng, còn các vị bộ trưỏng thì lại y như các nghệ sĩ.
Trong những cuộc chiêu đãi đó, chưa bao giờ tôi cảm thấy mình được là mình. Tôi làm những động tác mà tôi không muốn làm, nói những lời không muốn nói. Qua vẻ hào nhoáng sang trọng của những buổi chiêu đãi ấy, tôi bỗng nhìn thấy bếp lửa của làng Xađa thân yêu mà những người ruột thịt của tôi đang quây quần ngồi quanh, hoặc nhìn thấy những bạn bè vui vẻ của tôi tụ tập lại trong một căn buồng khách sạn, và thế vào những cao lương mỹ vị, lúc ấy tôi thèm được ăn món khinkal dầm tỏi. Thật là thú vị biết bao nếu được xắn tay áo lên mà ăn khinkal dầm tỏi bên cạnh bếp lò, cùng với bạn bè, mỡ dính đầy tay.
Có một số cuốn sách mà khi đọc, tôi có cảm tưởng những cuốn sách này đang dự tiệc ngoại giao. Trong các cuốn sách đó, tôi không thấy những cử chỉ, lời nói tự nhiên.
Cuốn sách của tôi, tôi mong nó không trở thành vị khách trong buổi chiêu đãi ngoại giao. Hãy để trong đó chỉ có những lời nào thích ứng với tính cách thật của nó, chứ không là những lời cần phải nói vì phép lịch sự.
Tôi đã thấy những người bình thường như tất cả mọi người khi họ ở nhà trong khung cảnh gia đình, bên vợ, bên con hay cạnh bạn bè. Nhưng khi họ ngồi vào chiếc ghề bành bên bàn làm việc, họ thay đổi hoàn toàn. Mỗi một chức tước mới, mỗi một ghế bành mới khiến tính tình, nét mặt, cách xử thế của họ thay đổi theo.
Cuốn sách của tôi, tôi muốn nó không bao giờ thay tính đổi nết, như tôi không tự phản lại mình. Hãy yêu bè bạn của mình và làn khói bếp, chứ không phải những cuộc chiêu đãi long trọng, hãy yêu đồng ruộng chứ không phải những cuộc hòa nhạc, hãy nghe tiếng nói của đất đai, chứ không phải tiếng ồn ào trong cuộc họp. Bởi vì có khi trong cuộc họp người ta nói với nhau thế này, nhưng sau cuộc họp người ta lại nói thế khác.
Rút trong sổ tay. Có ai ở Đaghextan lại không biết chiếc mũ to tướng của Xulâyman Xtanxki, chiếc áo khoác bằng da cừu dày nặng, đôi giầy khâu bằng da bê mỏng nhẹ! Tôi nghĩ rằng không phải chỉ những người Đaghextan mới không thể hình dung Xulâyman thiếu đi cái mũ, đôi giầy ấy.
Và thế rồi Xulâyman Xtanxki được tặng huân chương, Mácxim Gorki gọi ông là Hôme của thế kỷ 20. Xulâyman được mời lên Matxcơva, và ở đây ông gặp một vị bộ trưởng người Đaghextan.
Chà, chà... ông Xulâyman thân mến, - vị bộ trưởng nói với nhà thơ. - Không thể sống ở Matxcơva như ở làng mình đâu. Ông phải thay đổi cách ăn mặc đi.
Theo chỉ thị của chính phủ Đaghextan, người ta may cho ông một bộ quần áo bôxtông, thửa giầy mới, mũ che tai và bành tô mùa đông cổ cao. Xulâyman ngắm nghĩa kỹ từng thứ một. Ông mở rộng bành tô ra, lấy tay nhấc thử xem nặng nhẹ thế nào, cầm đôi giầy đập đập đế vào nhau, rồi sau đó cho vào va li.
- Cảm ơn các bạn đã sắm toàn đồ mới, tốt. Cũng vừa vặn đến lúc con trai tôi, Muxaíp, mặc vừa. Còn tôi thì muốn mình vẫn là Xulâyman. Tôi không muốn đem tên tôi đổi lấy bất cứ thứ quần áo, giầy dép nào. Đôi giầy của tôi nó sẽ giận tôi đấy.
Bố tôi rất thích bản lĩnh rõ ràng của Xulâyman ngay ở cả những biểu hiện bên ngoài như thế.
Rút trong sổ tay. Con cái Xulâyman nhiều lần thử dạy bố học chữ. Lần nào Xulâyman cũng sốt sắng học, nhưng rồi ông lại gạt vở sang một bên và nói:
- Không, các con ạ. Khi bố vừa cầm cây bút chì thì thơ nó bố chạy đâu mất, bố không còn nghĩ đến thơ được nữa, vì phải nghĩ xem cần phải cầm cây bút chì chết tiệt này thế nào!
Rút trong sổ tay. Épfenđi Kapiép là bạn của Xulâyman Xtanxki. Chính ông đã dịch thơ của Xulâyman sang tiếng Nga. Tình bạn ấy làm cho nhiều kẻ nhỏ nhen, vô tích sự ghen tỵ. Họ ra sức dèm pha Kapiép trước mắt nhà thơ nổi tiếng, hay thậm chí còn nói xấu ông. Họ nói với Xulâyman:
- Bác không biết đọc tiếng Nga, còn chúng tôi biết khi dịch thơ bác, Kapiep đã làm hỏng hết cả. Ông ta muốn thêm đâu, muốn bớt đâu tùy thích, nhiều câu lại còn viết lại theo ý mình.
Có lần trong một cuộc nói chuyện từ tốn, Xulâyman bất đầu gợi chuyện.
- Này anh bạn, - Xulâyman nói, - Tôi nghe nói là anh đã đánh các con tôi.
Épfenđi ngay lập tức biết là bạn mình muốn nói điều gì:
- Thơ của anh không phải là con anh đâu, Xulâyman ạ. Thơ của anh - chính là anh đó.
- Nếu vậy thì một ông già như tôi lại càng đáng được tôn trọng hơn là trẻ con.
- Nhưng mà anh Xulâyman này, cái gì quan trọng hơn, số lượng câu trong bài thơ hay là bút pháp, là tinh thần của nó? Đây, trước mặt chúng ta là một chai rượu. Nếu rượu hả, thì chai rượu sẽ hầu như không cạn, nhưng nó không còn là thứ rượu chúng ta đã uống và thưởng thức vị men say. Vấn đề không phải ở số lượng rượu, mà ở hương vị của nó, ở độ nồng của nó.
- Anh nói đúng, cái đó quan trọng hơn tất cả.
Trên thực tế, quả thật là Épfenđi Kapiép đã đem Xulâyman lại cho độc giả Nga.
Rút trong sổ tay.
- Tôi không sao tìm được chìa khóa để mở các bài thơ của bố anh, - Épfenđi than phiền vói tôi. Chính ông cũng dịch thơ Gamzát Xađax sang tiếng Nga. - Thơ của bố anh như bị khóa chặt. Tưởng là ông cười cợt, nhưng thật ra, ông đang buồn. Tưởng là ông ngợi khen, nhưng thật ra, ông diễu cợt, thậm chí khinh bỉ. Tưởng là ông chửi rủa, nhưng thật ra ông khen. Tất cả những điều đó tôi đều hiểu, nhưng chưa thể chuyển sang tiếng Nga được. Tôi có thể chuyển được những thủ pháp nghệ thuật và ý tứ các bài thơ, nhưng tôi cần giới thiệu được một Gamzát sinh động như chúng ta đã biết về ông. Tất cả những người đọc ông qua tiếng Nga cần phải hình dung ông như thế. Tưởng như ông giống mọi người, nhưng tuy nhiên không thể lẫn ông với một ai khác.
Thơ của một nhà thơ phải được như vậy.
Rút trong ký ức. Bây giờ dân làng biết tôi với tư cách là nhà thơ Raxun Gamzatốp. Trước đây có lúc họ đã biết tôi là một kẻ hậu đậu, lơ đãng. Tôi làm việc này, nhưng đầu lại nghĩ đến cái khác. Có khì tôi mặc áo trái hoặc cài lệch khuy áo bành tô và cử thế đi ra đường. Dây giày quên không buộc, hay nếu buộc thì đi một chốc lại tuột ra. Dạo ấy, người ta nói về tôi thế này:
- Sao ông bố thì chỉnh tề, cẩn thận, điềm đạm thế, mà con thì lại hấp tấp, luộm thuộm như vậy? Trong hai bố con thì ai già, ai trẻ: người quên buộc dây giày hay là người không bao giờ quên cái gì cả?
- Vâng, được rồi, - Tôi đáp lại những lời bàn tán nhàn rỗi. - Tôi 1ấy tuổi già của bố tôi và trao cho ông tuổi trẻ của tôi.
Trên thực tế, cho đến tận cuối đời mình, bố tôi ăn mặc rất gọn gàng, cử chỉ nhanh nhẹn như thanh niên, cả bên trong bên ngoài ông đều tỏ ra nghiêm chỉnh, mực thước. Cả làng đều biết rõ giờ, biết rõ phút, khi bố tôi mặc áo khoác vào và trèo lên mái nhà. Cứ theo việc làm đó của bố tôi, có thể kiểm tra đồng hổ của mình. Một anh trai làng đi bộ đội đã viết thư về nhà cho bố mẹ thế này: “Chúng con dậy sớm lắm. Người ta đánh thức chúng con vào giờ ông Gamzát trèo lên mái nhà”.
Nếu ai định gặp bố tôi buổi sáng, thì đều biết phải ra đón ngoài đường đi Khunzắc vào giờ nào, phút nào. Hàng ngày ông rời khỏi nhà đi làm luôn luôn theo một giờ giấc nhất định.
Mọi người biết rõ về ông tất cả: biết rằng ông sẽ dắt ngựa đến chỗ nào thì ngồi lên yên; biết chiếc áo sơ mi màu đen giản dị của ông, những chiếc quần chặt ống, những đôi ủng ông tự khâu và tự lau chùi mỗi buổi sáng. Họ biết chiếc thắt lưng của ông, đầu không bao giờ cạo nhưng luôn được cắt tỉa cẩn thận; biết cái mũ ông đã đội một cách ngay ngắn. Lông cừu làm mũ không đến nỗi xoăn lắm nhưng cũng không dài quá.
Đã có một sự hình dung về bố tôi, và tất cả những gì ông mặc, những gì ông làm đều hết sức phù hợp với hình dung đó. Khó có thể hình dung một cái gì khác trong cách ăn mặc, cách xử sự của Gamzát.
Tự ông cũng không thích những sự thay đổi. Khi áo rách, cần phải thay, ông cũng cố tìm cái giống như cái đã rách. Mặc dù chiếc áo mới được may bằng cùng một thứ vải, cùng một kiểu như trước, thế mà những ngày đầu, khi mặc chiếc áo mới, ông vẫn cảm thấy bị bó buộc, không thoải mái.
Có lần thắt lưng ông bị đứt. Mua cái mới chẳng đáng là bao, nhưng ông đã cẩn thận khâu lại cái cũ đã quen và còn dùng được một thời gian nữa. Ông không phải người tham lam, mà tiền cũng có, nhưng ông cảm thấy tiếc khi phải bỏ vật gì ông đã quen. Cuối cùng thì thắt lưng đó lại đứt và ông đành phải mua cái mới. Tuy vậy ông vẫn tháo cái khóa ở thắt lưng cũ lắp sang cái mới.
Ông hay vuốt ve cái mũ của mình như tuồng đó là một con cừu non. Nếu ông đã quý chiếc thắt lưng bình thường đến thế thì ông còn quý cái mũ của mình đến đâu.
Mùa hè năm 1941 khi chiến tranh bùng nổ, chính phủ Đaghextan đã yêu cầu bố tôi chuyển từ vùng núi về ở Makhátkala. Đã từng quen với vùng cao mát mẻ, bố tôi cảm thấy ở thành phố rất oi bức, nóng nực. Quần áo thích hợp với vùng núi trở nên bất tiện ở thành phố nóng bức. Đặc biệt không thích hợp là cái mũ lông cừu. Bố tôi thử đội nhiều kiểu mũ, nhưng chúng đã thay hình đổi dạng ông đến mức ông phải vứt chúng vào xó, mặc dù bọn con cái chúng tôi đều ra sức thuyết phục ông đội.
Thế là ông Gamzát đã đi ngoài phố xá Makhátkala với chiếc mũ lông cầm trên tay. Đôi lúc ông đội lên đầu rồi lại bỏ ra, nhưng không một phút nào ông rời nó.
Một tai họa lớn như chiến tranh cũng có thể làm mọi người quen đi, và cuộc sống chuyển sang một nhịp điệu khác, theo kiểu thời chiến. Thỉnh thoảng bố tôi lại về vùng núi. Ở đấy ông cảm thấy khoan khoái biết bao, ở đấy ông lại được đội chiếc mũ lông cừu của mình một cách thích thú! Những ngày ấy trông ông giống như người bấy lâu khổ sở vì không có thuốc hút hay bị cấm ngặt thuốc lá, nay bất ngờ được dịp từ từ cuốn điếu thuốc sâu kèn bằng thứ sợi thơm, từ từ châm lửa rồi hít vào thật sâu, thật chậm rãi với đầy khoái cảm.
Bố tôi chưa bao giờ hút thuốc, nhưng trong nhiều điều nhỏ nhặt khác của cuộc sống, ông đã tìm thấy một khoái cảm như thế, hay hơn thế, chưa nói đến niềm vui lớn nhất của ông là niềm vui sáng tác, niềm vui của tình yêu đối với quê hương.
Rút trong sổ tay của bố tôi. “Mặc dầu Ratgiáp là bạn tôi, nhưng anh ta đã đối xử với tôi tồi hơn cả kẻ thù. Anh ta đã liên minh với dao cạo để chống tôi” - bố tôi đã có lần ghi vào sổ tay như vậy. Chuyện là thế này. Năm 1934, bố tôi đi Matxcơva họp Đại hội các nhà văn lần thứ I. Hồi đó nhà văn Avar Ratgiáp Đinmagômaép còn sống. Ông kéo bố tôi vào hiệu cắt tóc để sửa lại mái tóc và bộ râu. Không biết vì Ratgiáp đã sắp xếp trước hay là vì anh thợ cạo không hiểu yêu cầu của khách mà cả bộ râu bạc chưa từng bị cạo của bố tôi đã bị cạo nhẵn. Khi bố tôi biết thì đã muộn. Nhìn thấy trong gương một khuôn mặt hoàn toàn lạ lẫm, ông lấy hai tay che mặt và nhào ra khỏi hiệu cắt tóc. Sau đó ông không đến dự các phiên họp của Đại hội nữa, không dám xuất hiện trước mắt mọi người.
- Tôi không thể thay đổi được bộ mặt mình trong cuộc sống, - sau này bố tôi nói, - vậy thì sao lại có thể thay đổi bộ mặt mình trong thơ?
Bố tôi không thích sự kiểu cách trong cuộc đời, cũng như trong thơ, mặc dù có lần xuýt nữa ông đã quen với một dáng ngồi đầy kiểu cách, xa lạ.
Hồi ức. Một lần, có nhiều dân làng Xađa đến thăm bố tôi ở Makhátkala. Họ để ý thấy khi nói chuyện với họ, Gamzát Xađax ngồi trong một tư thế thiếu tự nhiên, không quen mắt như thế này: ông đưa ba ngón tay chống vào cằm. Một người làng hỏi ông:
- Trước đây chúng tôi không thấy ông chống ba ngón tay vào cằm. Ông quen làm thế lâu chưa và để làm gì? Thói quen này không thích hợp với ông đâu. Ông Gamzát ạ, đó không phải là điệu bộ của ông.
- Anh nói đúng đây, - bố tôi trả lời, - cần phải bỏ đi thôi. Thủ phạm trong chuyện này là họa sĩ Muetđin Đơgiêman. Số là suốt ba tháng ròng ông vẽ chân dung tôi. Ba tháng liền tôi phải ngồi không động đậy trước ông ấy, ba ngón tay tỳ dưới cằm. Ông ta bảo tôi phải làm thế và tôi phải nghe theo lời họa sĩ.
- Có khó chịu lắm không?
- Ngồi thì không sao nhưng cái điệu bộ ấy mới khổ! Đôi lúc tôi có cảm tưởng rằng ba ngón tay người khác đã tỳ vào cằm của tôi. Hoặc đôi lúc tôi có cảm tưởng rằng ba ngón tay của tôi tỳ lên cằm của ai khác. Tôi cứ ngồi như thế suốt ba tháng và dần dần quen. Chuyện vẽ vời đã kết thúc từ lâu, bức tranh đã xong và đã treo lên, còn tôi thì các anh thấy đấy, vẫn tiếp tục giữ điệu bộ tỳ ba ngón tay lên cằm. Có khi người đau tim đưa tay lên ngực cả những lúc không đau. Nhưng các bạn đừng lo, tôi sẽ cố gắng bỏ thói quen đó.
Trong sổ tay của bố tôi có đoạn ghi lại việc người ta đã trồng răng giả cho ông thế nào.
Khi sắp sửa trồng răng, bác sĩ hỏi ông thích trồng loại răng gì: răng vàng, răng bạc hay răng thép. Ông lúng túng không biết trả lời thế nào, bèn cầu cứu mấy người bạn ông có mặt bên cạnh lúc đó.
- Anh cứ nói lắp răng vàng vào, - một người bạn gợi ý, - vàng là một thứ kim loại quý.
- Cứ trồng răng thép ấy, - một người khác khuyên. - Thép rất chắc mà lại không bao giờ gỉ.
- Biết làm thế nào bây giờ, - ông Gamzát phản đối. - Nếu tôi trở về làng với những chiếc răng vàng hay răng thép, mọi người sẽ nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên rằng không phải răng trong mồm tôi mà là những cái đèn lấp lánh. Mọi người sẽ không nhìn tôi nữa mà chỉ nhìn răng tôi thôi. Răng sẽ che mất mặt. Có thể trồng cho tôi những chiếc răng bằng xương, những chiếc răng không làm ai để ý là tôi có những chiếc răng mới. Tôi thích trồng những cái răng bình thường như vậy.
Bác sĩ đã đáp ứng những yêu cầu của ông, trồng cho ông những chiếc răng giống như những chiếc răng vốn có.
Sau này khi nhận thấy trong các bài thơ của một thi sĩ nào đầy có những câu lạc lõng hay vay mượn, bố tôi liền nói:
- Trong các bài thơ này có những chiếc răng giả.
Tất nhiên là với răng vàng cũng có thể cắn táo được, nhưng không thể ngon lành như cắn bằng răng thật của chính mình.
Hồi ức. Năm 1947, ở nhà hát thành phố Makhátkala cỏ tổ chức một buổi lễ trọng thể mừng bố tôi, nhà thơ Gamzát Xađax tròn 70 tuổi. Nhiều diễn văn, nhiều lời chúc tụng, nhiều bài thơ đã được đọc, nhiều tặng phẩm đã được trao. Cuối cùng người ta dành thì giờ cho chính người được mừng là bố tôi phát biểu. Ông bước lên diễn đàn, bình thản rút từ túi áo ngực một tờ giấy chi chít những câu thơ được viết nhân ngày ấy, rồi bình thản cho tay vào túi khác lấy kính... Nhưng liền đó cử chỉ của ông đang bình thản bỗng chuyển thành vội vàng. Ông cho tay vào hết túi này đến túi khác. Mọi người hiểu rằng nhân vật chính của buổi lễ này đã quên kính ở nhà.
Người ta liền phái người đi lấy kính. Nhưng bố tôi đã đứng trên diễn đàn rồi, và không biết làm gì tiếp. Lúc đó bạn bố tôi là Abutalíp đã đưa cho ông cặp kính của mình, cặp kính hình như cũng thích hợp. Bố tôi đeo kính của Abutalíp và bắt đầu đọc. Ông đọc thơ mình, nhưng trong giọng ông, trong cả dáng đứng của ông có vé gì thiếu tự tin, e ngại, và mọi người đều cảm thấy rằng không phải ông đọc thơ mình mà đọc thứ thơ nào khác tỉnh cờ lần đầu ông trông thấy.
Khi bố tôi bắt đầu đọc bài thơ sau thì chàng trai được phái đi lấy kính đã chạy vào rạp. Ông bỏ kính của Abutalíp xuống, đeo kính mình lên, và ngay lập tức điệu bộ của ông thay đổi hẳn, giọng của ông vang lên rắn rỏi hơn, mọi người dự lễ vỗ tay hoan hô ông, như đến bấy giờ ông Gamzát Xađax thật mới bước lên diễn đàn, còn trước đó chỉ là phân thân của ông.
- Suýt nữa thì cái kính làm hỏng cả buổi lễ mừng tôi, - ông cười nói.
- Chẳng lẽ kính của tôi tồi hơn sao? - Abutalíp to tiếng hỏi.
- Kính ấy rất tốt nhưng vẫn là kính của anh. Mỗi người có riêng đôi mắt, nên kính cũng cần phải riêng.
Bố tôi không thích cái gì chói lóa, cũng không thích cái gì tối mù. Ông không thích đặc quá hay loãng quá, lạnh quá hay nóng quá, đắt quá hoặc rẻ quá, Ông không thích quá lạc hậu cũng như quá tiên phong.
Ông không thích sự dữ tợn của sói và sự yếu ớt của thỏ, sự lộng quyền và sự nô lệ. Ông nói:
- Đừng khô cứng để khỏi bị gẫy, nhưng cũng đừng ướt át quá để người ta vắt anh như cái giẻ lau.
Bố tôi không thuộc loại người ướt trụi khi mới mưa vài hạt hoặc khô khốc khi gió hanh vừa thổi tới. Bố tôi là một cán bộ bình thường, ông có mọi thói quen và phẩm chất của dân tộc chúng tôi, và ông đã mang theo trong mình những phẩm chất đó một cách xứng đáng.
Hồi ức. Có lần bố tôi cùng chúng tôi cần phải đi từ Makhátkala về làng để thăm một người họ hàng bị ốm. Đứng đầu chính phủ Đaghextan hồi đó là Apđurắcman Đanhijalốp. Biết chúng tôi sửa soạn về quê, ông cho một chiếc xe màu đen của Chính phủ đến đón chúng tôi. Hình như đó là một chiếc “Zim”.
Khi xe chạy trên đường phố, bố tôi cảm thấy rất thích thú. Khi xe vừa ra khỏi thành phố và bắt đầu vượt qua những người miền núi cưỡi lừa, cưỡi ngựa, cưỡi la hay đi bộ thì bố tôi bắt đầu ngồi không yên trên chiếc ghê đệm êm, trong khi tôi, do còn ít tuổi, cứ cố ló mặt ra ngoài cho mọi người thấy tôi được đi xe “oai” thế nào, thì bố tôi lại cố ngồi thụt vào trong, phía tối.
Trời mưa. Đến bờ sông Gôtxátlin, chúng tôi thấy một chiếc xe bò do ông già điều khiển bị sa lầy giữa dòng. Bố tôi bảo xe dừng ngay lại, rồi bước xuống sông giúp ông già. Cùng với ông già, chúng tôi vừa thúc bò kéo, vừa quay bánh xe. Một lát sau, chiếc xe đã lên được đoạn đường bằng. Chúng tôi đi tiếp. Vài cây số sau, trên đường đi, chúng tôi lại gặp một con sông nữa. Bố tôi bảo xe dừng lại để chờ ông già đánh xe bò ban nãy.
- Ông già thế nào cũng lại mắc kẹt ở đây. Còn tôi thì biết cách điều khiển bò kéo xe qua con sông này. Tôi chờ ông già ở đây để giúp ông ấy.
Chờ một lúc sau thì chiếc xe bò kia ì ạch đến bờ sông thứ hai, bố tôi liền điều khiển bò kéo xe rất thành thạo.
- Trước đây khi bố phải chở đủ thứ đồ từ Buinắcxcơ đi lên miền cao, nhiều lần bố đã rơi vào cảnh thế này, - bố tôi nói với chúng tôi khi trở về chỗ xe hơi đỗ, chùi chùi tay vào vạt áo. Ông buồn rầu nhìn theo chiếc xe bò đi, dường như nó đã kéo theo cả quá khứ của ông, cả cuộc đời ông.
Trên đường lên cao nguyên Khunzắc, chiếc xe hơi của chúng tôi bị một chiếc xe vận tải chạm phải. Một chiếc bánh bị hỏng. Có cảm tưởng như là bố tôi lại có phần thích thú với tai nạn đó; ông liền đi bộ tiếp về làng. Chúng tôi cố thuyết phục ông chờ lắp xong bánh dự trữ, nhưng ông không chịu.
Dự đám cưới mà đến bằng chiếc xe đó, bố cũng còn thấy áy náy nữa là đi thăm một người ốm thì cần gì thứ nghi thức sang trọng này. Không, xe bị hỏng thế là bố mừng, bố đi bộ thôi.
Bố tôi đi về làng bằng con đường mòn nhỏ quen thuộc từ thời thơ ấu, con đường mà bao thế hệ người dân ở đây đã đi. Chúng tôi chữa xong bánh xe và đi theo con đường lớn. Chúng tôi tới làng cùng một lúc với bố tôi.
Sau đó, ở Makhátkala, Apđurắcman Đanhijalốp lo ngại hỏi bố tôi về tai nạn dọc đường.
Bố tôi nói đùa:
- Chiếc xe tốt quá anh ạ. Nếu nó xấu hơn một chút thì đã chẳng việc gì đâu!
Hồi ức. Những năm cuối đời, bố tôi bị ốm nặng. Ông bị ốm bất ngờ trong thời gian đi các vùng cao để gặp gỡ các cử tri. Sắp đến kỳ bầu cử Xô Viết tôi cao Liên xô, và Gamzát Xađax được chọn vào danh sách ứng cử.
Đến huyện lỵ đi bằng xe hơi, nhưng từ đấy đi tiếp tới các miền núi cao thì phải đi bằng ngựa. Bố tôi thích những con ngựa hiền lành. Ông thích cưỡi ngựa đi bước một, nhưng thường thường ông hay dắt ngựa đi. Ông thích nhất là đi bộ.
Chính quyền địa phương cố tạo điều kiện thuận lợi cho ông. Họ đem tới cho vị đại biểu tương lai một con ngựa đua đầy sức lực. Không thể trách họ được, họ chỉ muốn giúp ông được tốt hơn. Họ cho rằng đối với vị khách quý như vậy phải đem tới con ngựa khá nhất huyện.
Ông già 72 tuổi không muốn làm phật ý những người đón ông. Nhớ lại thời trai trẻ, ông nhẹ nhàng nhảy lên mình ngựa. Đứng giữa đám thanh niên cưỡi ngựa, ông già râu bạc trông giống như vị thủ lĩnh Hồi giáo bên cạnh những kỵ sĩ hộ vệ của mình.
Các chàng trai trẻ quất roi phi ngựa về các làng báo tin ông Gamzát sắp đến. Thấy những con khác đã phi đi, ngựa ông ngồi cũng chồm lên. Ông già không kịp kìm nó lại và cứ thế nó vun vút lao tới. Toàn thân ông bị lắc mạnh trên yên, mỗi lúc ông thấy yếu dần và cuối cùng ông bị ốm, và bệnh này đã theo ông đến khi chết.
Với thơ cũng vậy thôi, - bố tôi vừa húng hắng ho vừa nói. - Nhà thơ cần phải cưỡi con ngựa quen thuộc của mình chứ đừng ngồi lên mình con ngựa đua xa lạ. Con ngựa đua xa lạ sẽ hất anh ra khỏi yên.
Tôi có thể kể nhiều về bố tôi, nhưng bây giờ tôi muốn kể về bạn của ông là Abutalíp. Cả ngày hôm qua tôi đã ở bên ông.
Một ngày sống gần Abutalíp. Khó nhất đối với tôi là ngồi viết tiếp bài thơ vì lẽ gì đó chưa làm xong. Người miền núi nói rằng cho đến già, ếch vẫn chưa có đuôi vì nó cứ gác việc gắn đuôi sang ngày hôm sau.
Từ sáng sớm tôi đã quyết định phải viết tiếp bài thơ dài mà tôi đã làm từ hai tuần trước. Công việc này thật khó khăn và tôi phải nói với bà giúp việc Frôxa:
- Nếu có ai đến hỏi thì bà nói dùm tôi đi vắng. Ai cần lắm thì bà báo đến sau bữa trưa.
Dặn dò xong, tôi lên gác trên và bình thản bắt tay vào việc. Nhưng những tiếng động dưới đường vẫn vọng lên và tôi bỗng nghe thấy tiếng cổng ra vào ken két mở ra. Một lát sau có tiếng chuông reo dưới nhà. Tôi không nghe thấy giọng Frôxa, nhưng giọng của Abutalíp vọng lên rất rõ. Chiếc ghế tôi ngồi bỗng biến thành một cái chảo nóng bỏng hay là thành bụi mận gai. Chưa từng bao giờ ở nhà Gamzát Xađax, và bây giờ ở nhà Raxun Gamzatốp lại có ai từ chối Abutalíp để ông phải rời khỏi ngưỡng cửa và quay về. Chưa từng có chuyện như thế và không thể có chuyện như thế. Nhưng lúc ấy tôi rơi vào một tình trạng khó xử: một mặt không thể để Abutalíp ra về, mặt khác không muốn để cho bà Frôxa khó xử vì trung thành thực hiện yêu cầu của tôi - đã nói với Abutalíp rằng tôi đi vắng và sau bữa ăn trưa mới về nhà.
Nhưng cuối cùng tôi đã hành động theo lời khuyên của trái tim chứ không phải lý trí. Tôi ló đầu ra cửa sổ và cất tiếng gọi to ông già bạn cũ của bố tôi:
- Bác vào đi, bác Abutalíp, cháu ở nhà đây mà!
- May quá, trời phù hộ! Chẳng lẽ con trai ông Gamzát ở làng Xađa đang phải trốn chủ nợ sao?
Abutalíp liền bỏ mũ ra, đi qua trước mặt Frôxa và lườm bà một cái.
- Anh Raxun này, anh hãy nói với người phụ nữ này là khi nào có Abutalíp tới nhà thì cửa tự mở và anh thì lúc đó bao giờ cũng có nhà. Mà nếu anh không có nhà thì bao giờ trong nhà này cũng có cái gì đó cho Abutalíp ăn, uống và nếu cần thì có cả chỗ ngủ nữa,
- Bà Frôxa không có lỗi đâu ạ. Patimát, vợ cháu, khi đi làm đã dặn bà ấy nói với tất cả rằng cháu không có nhà. Tự cháu lo cho cháu mà!
- Cũng hay, khi có vợ là người để đố hết tội lỗi của mình sang. Nhưng chẳng lẽ Patimát lại quên hôm nay là thứ năm sao? - Abutalíp vừa nói vừa giữ chiếc mũ lông ướt nước mưa.
- Thứ năm thì có gì đặc biệt há bác?
- Đó là ngày tắm của tôi. Chẳng lẽ anh không để ý cứ thứ năm là tôi đến nhà tắm công cộng à, mà nhà tắm lại gần nhà anh, nên bao giờ cũng có thể nghĩ rằng tôi sẽ ghé vào nhà anh ngồi chơi, nói chuyện, hút thuốc.
- Sao bác lại cần đến nhà tắm hở bác? Ở nhà riêng của bác có bồn tắm, có vòi hoa sen và cả nước nóng nữa rồi mà?
- Bồn tắm và vòi hoa sen là một mẩu bánh mì đen. Còn nhà tắm là một bữa tiệc cưới. Tôi có một vườn cây và một con suối từ ngàn năm nay chảy từ núi xuống, tôi xẻ rãnh cho con suối đi qua từng cái cây, và nó sẽ tưới nước cho cây. Chẳng lẽ tôi ngày ngày lại đem bình tưới đến từng gốc cây sao? Nhà tắm tôi ví với dòng suối núi đầy ắp nước, còn bồn tắm và vòi hoa sen của anh - là cái bình tưới, cái gáo múc nước. Không, anh Raxun ạ, anh hãy để các thứ đồ chơi ấy lại cho nhà thơ thiếu nhi Nurátđin luxupôp. Người ta nói rằng anh này bây giờ đang viết kịch bản múa rối. Những thứ đó sẽ thích hợp với các con rối của anh ta lắm đây.
- Sau khi tắm xong, uống nước chè nóng tốt lắm bác ạ, - Tôi ngỏ ý mời ông, khi chúng tôi đi từ hành lang vào phòng.
- Xoàng ra thì uống nước chè là được. Không thì ăn xúp cũng không sao, còn nếu có rượu thì càng tốt. Nhưng sau khi tắm xong tốt nhất là uống rượu vốtka nguyên chất.
- Xúp thì cháu cũng có nhưng để từ hôm qua. Bây giờ mới buổi sáng, nhà chưa nấu xúp mới.
- Chúng ta cử ăn xúp hôm qua trước đi rồi thì xúp hôm nay cũng vừa được.
Khi bà Frôxa đang tất bật dọn cái ăn ra bàn, tôi bèn khoe với cụ Abutalíp những thứ rượu mang từ nước ngoài về. Từ những nước xa xôi, tôi đã đem về những chai rượu màu sắc đủ loại, nào là rượu rum, rượu cô nhắc, rượu gin, uytki, kanvađôx, apxăng, vecmut, rượu mận, rượu unikum của Hungari... Rượu cô nhắc cũng đủ loại; loại mactini, loại kamuy, loại plixka.
- Bác thích uống thứ rượu nào?
- Anh Raxun, anh dẹp tất cả cái thứ tạp pí lù này đi. Nếu anh muốn, anh cứ đãi tôi thứ rượu trắng bình thường. Rượu trắng không chỉ hay ở chỗ là chúng ta đã biết nó mà còn hay ở chỗ là nó đã biết chúng ta. Những thứ anh vừa cho tôi xem có thể là rất ngon, nhưng tất cả các chai ấy đều từ xa đến, chúng nói thứ tiếng lạ mà tôi không hiểu, còn tôi lại nói thứ tiếng mà chúng không hiểu. Lại còn thói quen, còn tính nết nữa chứ. Không, những thứ rượu ấy và tôi hoàn toàn không biết nhau. Những chai rượu này giống như những vị khách không quen mà thoạt đầu cần bắt chuyện, cần ăn đến hết một pút muối. Tôi sợ rằng tôi không làm quen được chúng. Cứ để lại mà đãi bạn bè anh - những nhà văn ở Matxcơva. Cứ để dành mà đãi những ai đã quên mất mùi vị thức ăn mẹ nấu trên bếp lò nhà mình.
Trong số rượu của tôi, không có một chai rượu trắng nào. Tôi làm như tôi sắp sửa đi ra hiệu ngoài phố để mua với hy vọng là ông Abutalíp sẽ ngăn tôi: ngoài trời đang mưa lại thêm gió rét nữa, ở nhà thì rượu quá nhiều rồi. Tôi nghĩ rằng cuối cùng thì ông cũng phải thấy yêu cầu của ông là hơi gàn dở chứ: đòi uống rượu trắng, trong khi trên bàn đầy những rượu cô nhắc thượng hảo hạng của Pháp!
Và Abutalíp quả thật đã can ngăn tôi:
- Không, anh Raxun ạ, có thể thấy ngay là anh vẫn còn trẻ, mặc dầu tóc đã bắt đầu bạc. Chẳng lẽ anh lại phải tự mình đi mua rượu, chẳng lẽ không có ai trẻ hơn anh sao? Anh sang nhà bên cạnh nhờ cậu thanh niên bên ấy đi mua, cậu ấy sẽ đi đấy. Tôi chẳng vội đi đâu cả, tôi sẵn sàng chờ anh ta mua về.
Đành phải làm như cụ Abutalíp đã nói. Tôi đưa tiền cho anh thanh niên hàng xóm, anh ta chạy ngay ra hiệu. Còn cụ Abutalíp lúc ấy đưa mắt nhìn quanh căn buồng.
- Hình như nhà anh không có khách miền quê lên chơi phải không? Chẳng lẽ không có ai đến thật à?
- Hôm nay thì không có ai.
- Hồi bạn tôi, tức là bố anh, còn sống, trong ngôi nhà này lúc nào cũng có khách. Các vị khách ấy hay ở chỗ ai cũng mang theo thuốc lá.
- Cháu cũng có thuốc hút. - Tôi rút trong ngăn bàn ra mấy bao thuốc lá.
- Những điếu thuốc tròn trịa, trắng trẻo này không phải dành cho tôi. Đó là thứ thuốc dành cho các bạn Matxcơva của anh, tôi chỉ thích thứ thuốc nặng miền núi chúng ta thôi. Đành phải giở bao thuốc của mình vậy.
Abutalíp rút từ túi áo ngực phía trong một cái hộp, mở nắp ra lấy sợi vấn thành một điếu thuốc. Ông vấn lại rất thành thạo rồi đưa lên đầu lưỡi nhấp.
Những điếu thuốc phẳng phiu của anh liệu có thể so sánh với điếu sâu kèn này không? Điếu thuốc tự vấn này của tôi không lần nào giống lần nào đâu, còn các điếu thuốc của anh thì cả trăm điếu giống nhau như một. Bây giờ anh hãy nói cho tôi nghe đằng nào thú vị hơn, rút từ trong hộp ra một điếu thuốc có sẵn hay là tự vấn cho mình một cái sâu kèn tuyệt vời như thế này? Ngay từ lúc đang vấn tôi đã thấy thú rồi, vậy thì việc gì tôi lại phải tự tước đi cái thú đó?
Tôi bật chiếc bật lửa gaz của Thụy Sỹ hay Bỉ gì đó, nhưng Abutalíp đã gạt tay cầm bật lửa đang cháy của tôi. Ông rút trong túi áo một thỏi thép, cục đá và một túm bùi nhùi. Ông đặt túm bùi nhùi sát hòn đá để lấy lửa. Lửa bén vào túm bùi nhùi, ông cầm nó khoa khoa tay lên cho lửa cháy thành ngọn, rồi châm thuốc hút. Ông đưa túm bùi nhùi đang cháy lên sát mũi tôi và nói:
- Thử ngửi xem mùi lửa thế nào? Thơm không? Thơm quá đi chứ? Còn bật lửa của anh có mùi gỉ?
Abutalíp biến đi một lát trong làn khói thuốc. Sau đó, khi khói thuốc tan ra, ông lại hỏi tiếp:
- Này, anh Raxun, anh hãy nói cho tôi biết vì sao đầu anh đã bạc?
- Cháu không biết, bác Abutalíp ạ.
- Thế mà tôi lại biết vì sao đầu tôi bạc.
- Bác kể cho cháu nghe đi,
- Đầu tôi bạc vì bao giờ tôi cũng phải chờ quá lâu những thẳng bé mạt hạng kề cà đến hiệu mua rượu trắng. Phải rồi, anh Raxun ạ, bọn trẻ không hiểu được những ý nghĩ của bố mẹ khi chúng chưa có con. Cũng vậy, ai không uống rượu, không thể hiểu được chúng ta. Cần phải nhờ người thích uống rượu đi mua rượu thì mới khỏi phải chờ lâu thế này.
Lúc ấy, bà Frôxa đã dọn các thứ ra bàn. Một lúc sau nữa chai rượu trắng cũng được đặt lên giữa bàn.
- Chà, - Abutalíp nói. - Hệt như là vị chủ tịch vùng Xurkhin xuất hiện giữa những nông trang viên. - Ông cầm chai rượu rồi đung đưa nó như nựng một đứa bé, - Chà, chà, chai rượu hay thật! Cậu nào vừa đem nó về chắc là một chàng trai khá lắm!
Khi ấy, Abutalíp mới để ý đến những chiếc ly nhỏ đặt trên bàn. Trán ông nhăn lại hệt như nếm phải cái gì rất đắng hay bị đau răng, Ông xoay xoay chiếc ly đựng rượu, nhìn vào ly - Theo tôi, ông rất muốn ném vào đầy mẩu thuốc lá đã hút xong để bày tỏ sự khinh bỉ của mình.
Tôi cầm một chiếc sừng lớn mà mấy người bạn Gruzia đã tặng tôi và đưa cho Abutalíp.
Nhà thơ già ngắm nghĩa chiếc sừng kỹ lưỡng rồi đánh giá; - Một cái sừng hay đấy, nhưng nếu không bị chạm bạc vào thì còn hay hơn nữa. Thứ bạc chạm vào đây khác nào cái dây da quấn quanh bụng chàng rể. Để làm gì mới được chứ? Chăng nhẽ nhờ thứ bạc đó mà rượu sẽ trở nên ngon hơn, nồng hơn sao? Không, anh Raxun ạ, anh làm ơn đưa cho tôi cái cốc bình thường mà suốt đời tay tôi đã cầm. Tôi biết rằng uống mấy hớp thì hết cốc, biết uống đến đâu thì dừng lại nghỉ một lúc rồi uống tiếp.
Tôi thực hiện cả ý muốn này của Abutalíp. Ông rót rượu, ném vào cốc một mẩu bánh mì và nói bằng tiếng Đarghin:
- Đêrơkháp! - Ông uống một hơi cạn cốc, ngừng lại thở rồi nói tiếp: - “Đêrơkháp” là tiếng bao giờ cũng phải nói trước khi uống rượu, tất nhiên giải thích rõ ràng nghĩa của nó cũng khó, mà cũng có thể là nó chẳng có nghĩa gì đặc biệt, nhưng lẽ nào lại không hiểu được khi thốt ra tiếng “Đêrơkháp”!?
Uống xong, Abutalíp kéo đĩa xúp lại gần, gắp miếng thịt sang một đĩa khác rồi bẻ bánh mì vào đĩa xúp. Ông ăn chầm chậm với đẩy vẻ thích thú, như cảm thấy rõ vị ngon lành của từng thìa canh nóng. Chốc chốc ông lại xẻo một miếng thịt nhỏ cho vào miệng. Tôi nghĩ rằng miếng thịt đối với ông sẽ không ngon lành thế, nếu ông không ăn theo kiểu như vậy hay thậm chí không xẻo bằng con dao nhỏ bỏ túi của ông.
Ăn xong đĩa xúp và miếng thịt, ông nhặt hết những mẩu bánh mì còn trên bàn cho vào mồm. Sau đó ông uống thêm ít rượu nữa rồi vuốt bộ ria mép.
- Chắc bây giờ bác muốn uống chè chứ ạ?
- Bây giờ nước chè của tôi lại là thuốc lá. Này, anh Raxun, anh hãy nói cho tôi biết điếu thuốc lá khác với mọi thứ khác thế nào?
- Cháu không biết.
- Mọi thứ khác khi ta kéo một hơi thì nó dài ra, cỏn điếu thuốc lá thì lại ngắn lại. - Rồi ông cười hà hà ra chiều thú vị với câu nói chẳng 1ấy gì làm sâu xa của mình.
- Bác hút nhiều lắm phải không, như thế có hại cho sức khỏe đấy bác ạ.
- Người ta nói, sau bữa ăn no thì đến đức Allah cũng hút thuốc.
Hút xong, ông bất ngờ hòi:
- Bao giờ thì họp Ban chấp hành?
- Ngày mai ạ.
- Anh biết lần này Ban chấp hành có bàn đến cái đơn của Zainútđin gủi tới Quỹ văn học không nhỉ?
- Cháu không biết, nhưng bác hỏi làm gì ạ?
- Tôi sẽ kể cho anh một câu chuyện. Hồi còn bé, tôi đi chăn bò, lũ bò của tôi rất lành. Tôi nằm thoải mái trên bãi cỏ xanh, dưới ánh mặt trời, còn chúng thì gặm cỏ chung quanh; tất cả đều vừa lòng: cả tôi, cả lũ bò và cả bà chủ những con bò tôi chăn. Nhưng sau đó bỗng xảy ra tai họa - một chú bò lanh lợi tìm được đường dẫn đến ruộng yến mạch. Những con khác liền đi theo. Cuộc sống thư thả của tôi đến đó là chấm dứt. Tôi không thể làm cho lũ bò quên được ruộng lúa đó, và tôi đành phải theo sát chúng từng bước. Đồi với nhiều nhà thơ chúng ta, Quỹ văn học cũng na ná như vậy. Họ vẫn sống bình thản, vẫn viết sách chừng nào chưa đánh hơi được Quỹ văn học. Tôi không biết ai là người đầu tiên ngửi thấy cái Quỹ đó, nhưng bây giờ thì tất cả đều bị hút cả về đây như lũ bò của tôi bị hút về ruộng lúa. Họ nghĩ đến thơ ít hơn là nghĩ đến Quỹ văn học. Sáng sớm dậy, họ không làm thơ mà viết đủ thứ đơn yêu cầu gửi tới đó. Đến lượt tôi cũng muốn viết một cái đơn, rồi ở Hội nghị chấp hành các anh sẽ bàn xem.
- Bác cần gì cơ ạ, bác Abutalíp?
- Anh biết đấy, tôi từ bé đến giờ chưa hề biết đến bác sĩ là gì. Tuy vậy bây giờ tôi vẫn quyết định xin một cái giấy đi an dưỡng.
- Bác có thể coi rằng trong túi bác đã có sẵn một chiếc giấy đi nghỉ. Nhưng có lẽ bác gửi đơn lên Xô Viết tối cao Đaghextan thì tốt hơn là gửi tới Hội nhà văn chăng? Vì bác là ủy viên Chủ tịch đoàn Xô Viết tối cao mà an dưỡng đường của Chính phủ tốt hơn an dưỡng đường của Hội.
Ông lắc đầu và chặc lưỡi. Chặc lưỡi của ông có thể biếu hiện những tình cảm khác nhau - Thán phục, giận dỗi, ngạc nhiên và bây giờ là phản đối.
-Không, anh Raxun ạ, thứ nhất, tôi chi được bầu vào Xô Viết tối cao một thời gian nhất định là 4 năm thôi, còn nhà văn thì cả đời. Thứ hai, ở an dưỡng đường nào cũng có điều chưa vừa ý. Bây giờ anh hãy nói, lúc đi tôi sẽ trách ai tiện hơn - Trách anh và Khappalaép hay là Xô Viết tối cao?
- Thế thì bác viết đơn đi, ngày mai Ban chấp hành sẽ làm việc.
- Mirza sẽ viết đơn hộ tôi, tự tôi không bao giờ viết cái gì cả, còn các anh chuẩn bị sẵn giấy đi nghỉ nhé. - Cụ nói xong câu ấy thì đứng dậy sửa soạn ra về.
- Bác đi đâu bây giờ?
- Tôi muốn đến nhà xuất bản. Người ta nói là một cuốn sách mới của tôi vừa in xong. Cần xem xem “con trai” hay là “con gái”.
- Tối nay bác cố đến trường Đại học Sư phạm một lúc nhé. Sẽ có cuộc gặp gỡ giữa nhà văn với sinh viên đấy.
- Được rồi, tôi sẽ đến. Mang theo kèn zurna chứ?
- Không cần bác ạ, bác là nhà thơ chứ. Có phải người thổi kèn zurna đâu. Tốt hơn hết là mang theo một tập thơ.
- Tối sẽ gặp nhau! - Abutalíp nói, rồi ra về.
Buổi dạ hội văn học tổ chức ở trường Đại học Nữ sư phạm dự định bắt đầu vào 7 giờ tối. Các nhà thơ của nhiều dân tộc ở miền Đaghextan đã đến dự đầy đủ. Đúng 7 giờ tối. Tôi nhìn quanh mà không thấy Abutalíp đâu. Đành phải tiến hành trước mà không cần chờ ông. Lần lượt các nhà thơ bước lên diễn đàn. Họ đều đọc thơ bằng tiếng dân tộc. Người đọc tiếng Lắc, người đọc tiếng Kumức, tiếng Lêzghin, tiếng Avar. Trong khi một nhà thơ trẻ đang đọc bài thơ dài của mình thì bỗng nổi lên những tiếng vỗ tay không hợp thời lắm. Hóa ra là từ sau cánh gà Abutalíp Gafurốp đã bước ra sân khấu. Các cô gái đã vỗ tay hoan hô ông.
Nghe xong hai nhà thơ nữa, tôi ra hiệu cho Abutalíp chuẩn bị phát biểu, Abutalíp liền làm ra vẻ nghiêm nghị, sửa lại tư thế ngồi như trước mặt ông là ống kính chụp ảnh rồi bắt đầu mân mê bộ ria mép. “Anh thấy đấy, tôi đã sẵn sàng rồi”, - nhà thơ già muốn nói với tôi như vậy.
Khi phát biểu, Abutalíp nói với các cô sinh viên Trường sư phạm khi thì bằng tiếng Nga, lúc thì bằng tiếng Avar, bằng tiếng Lắc, bởi vì mỗi thứ tiếng dân tộc ở miền Đaghextan ông đều biết ít nhiều. Ông đọc hai bài thơ bằng tiếng Lắc.
Nhưng tất cả “phần văn học” này ông tiến hành với vẻ vội vàng, như đó chỉ là phần mào đầu, để dành thời giờ cho phẩn chính sau. Ra hiệu cho thính giả ngừng vỗ tay, Abutalíp hỏi tất cả:
- Các bạn có muốn tôi thổi kèn zurna không?
- Muốn ạ, muốn ạ. Bác thổi đi! - các cô gái nhao nhao nói.
Abutalíp vào sau cánh gà lấy ra một cái kèn zurna và một cây sáo rồi lần lượt khẽ thổi hai thứ nhạc cụ đó. Nhưng tất cả đều hiểu rằng đây chỉ mới là lúc thử nhạc cụ thôi. Biết chắc là kèn sáo đều tốt, Abutalíp bất ngờ lấy cốc nước đặt trên bàn và đổ vào kèn.
- Trước khi rót nước cho mình, hãy cho ngựa uống, - người miền núi nói thế, - Trước khi uống, hãy cho kèn uống trước, - những người thổi kèn zurna ở miền núi đã nói như vậy.
Abutalíp bắt đầu thổi kèn, tay đung đưa cây kèn lúc về phía này, lúc về phía kia. Trước cả một hội trường toàn các cô gái trẻ, Abutalíp tỏ ra rất hãng hái. Chắc là tối hôm ấy cả thành phố Makhátkala đã nghe thấy tiếng kèn của Abutalíp.
Ngồi xuống ghế của mình trên chủ tịch đoàn, Abutalíp thật thà hỏi tôi:
- Thế nào, tôi thổi kèn nghe có được không?
- Được lắm ạ.
- Thế thì tại sao anh lại vỗ tay uể oải thế. Vỗ thêm ngay bây giờ đi xem nào?
Lời nói này của Abutalíp đã được cả hội trường cười tán thưởng.
Với tư cách là người chủ trì buổi dạ hội, quả thật tôi không thích lắm khi thấy một nhà thơ nổi tiếng như Abutalíp lại đóng vai người thổi kèn zurna. Chuyện này cũng giống như là nhà thơ Nga Êxênhin đáng lẽ phải đọc thơ của mình thì lại bước ra sân khấu mà nhảy. Chắc là Êxênhin cũng biết nhảy. Nhưng việc nào cũng có lúc của nó. Chắc khi ngồi trên chủ tịch đoàn, tôi đã cau mày và ít vỗ tay, nên Abutalíp mới phải hỏi đùa câu buồn cười lúc nảy.
Đi giữa một đoàn các cô gái ồn ào theo tiễn, chúng tôi bước xuống mây bậc tam cấp rộng dẫn tới chỗ gửi áo khoác. Dạo ấy, áo bành tô mốt nhất là loại áo độn vai giả vuông, cao. Tôi cũng mặc một chiếc bành tô như vậy. Abutalíp nhìn thấy tôi và lắc đầu:
- Trước kia vai người ta to là do ăn khấu đuôi cừu, còn bây giờ thì do được nhồi bông. Trước kia người ta vừa ngâm các bài thơ vừa đệm đàn kumuz, còn bây giờ thì rút giấy ra đọc thơ. Nhiều sự đổi thay đã diễn ra. Tôi không thích chúng.
- Sao bác lại tới chậm, bác Abutalíp?
- Tôi đã sửa soạn xong hoàn toàn và sắp bước ra khỏi nhà thì bỗng có một diễn viên nhà hát Avar chạy đến.
- Nhà hát ấy cần đến bác làm gì vậy?
- Họ đang diễn một vở kịch có đám cưới trong đó. Bây giờ chẳng có vở kịch nào không có đoạn đám cưới. Mà người thổi kèn zurna lại bị ốm. Không có kèn zurna thì còn là đám cưới thế nào được nữa! Và thế là họ phải chạy tới mời tôi đến thổi kèn giúp. Chỉ mười phút thôi.
Chúng tôi tới nhà hát thì cũng vừa vặn đến chỗ đám cưới. Tôi thổi cho họ nghe hai bài hát làm khán giả quên luôn cả vở kịch, chi còn nghe mỗi tôi, Ví thử tôi có thổi cho họ nghe suốt buổi thì chắc là họ cũng sẵn sàng ngồi nghe tôi.
- Với cương vị nhà thơ nổi tiếng Abutalíp Gafurôp, ủy viên Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao nước cộng hòa, cháu nghĩ là bác không nên đóng vai người thổi kèn trên sân khấu.
- Abutalíp biết rõ hơn anh là điều gì Abutalíp nên làm, điều gì không nên.
- Bác đã đến nhà xuất bản chưa? Cuốn sách của bác thế nào?
- Nhờ trời, cuốn sách ra rồi. Nhờ trời, tôi đã lĩnh được ít tiền. Nhờ trời, đã giả được nợ. Nhờ trời, đã mua được con ngỗng.
- Cụ sẽ tổ chức một bữa magarứt [8] chứ?
- Mời ai?
- Biên tập, họa sĩ, kế toán. Tất cả những ai tham gia vào việc xuất bản cuốn sách.
- Mời biên tập viên dự magarứt ư?! - Abutalíp dừng lại vì nổi giận. - Không phải cho anh ta ăn magarứt mà là xơi môgôrốt!
Môgôrốt theo tiếng Avar nghĩa là “mấy quả thụi”. Abutalíp cười rất lâu, lấy làm khoái trá với cách chơi chữ khá đạt của mình. Tiếp đó ông nói:
- Này anh Raxun, tôi nghe nói là người Đaghextan nào làm lễ ôbrêzanhiê [9] cho con trai mình thì có thể bị đình chỉ công tác, thậm chí bị khai trừ ra khỏi Đảng. Vậy, thì sao lại không sa thải những nhà biên tập cắt xén tùy tiện thơ tôi? Theo cách biên tập cuốn sách, tôi có thể nói ngay cho anh biết nhà biên tập quê ở làng nào. Những người Lắc chúng tôi mỗi làng đều có thổ ngữ riêng. Thế là nhà biên tập cố công dịch thơ tôi sang thổ ngữ làng mình, - Abutalíp dừng lại và mỉm cười. - Nhưng mà cái chị đưa hợp đồng cho tôi ký thì đẹp lắm. Chà, chị ta đẹp thật! Tôi đã nói lời cảm ơn với chị ta.
- Bác còn nói gì với chị ấy nữa? Có thể tặng quà chị ấy nữa chứ?
- Tôi nói với chị ấy là nếu ở nhà chị có thứ bình hay chậu nào bị hỏng thì chị cứ mang đến cho tôi, tôi sẽ chữa lại, hàn lại, tráng men tử tế, trông như mới cho mà xem.
Hành động này của ông còn làm tôi không thích nhiều hơn cả việc ông thổi kèn zurna ở rạp hát Avar. Trông thấy một đống đồng nát vứt bên bờ rào, tôi cố ý hỏi ông già như để chọc tức:
- Ngày trước, khi bác còn làm thợ tráng men, chắc các đồ hỏng này đã chẳng bị vứt ở đây. Chắc bác đã nhặt chúng mang về nhà chứ?
- Không, tôi không nhặt được chúng đâu, anh Raxun ạ, - Abutalíp thật thà đáp. - Người ta đã nhặt trước tôi rồi.
Có một người bộ hành muộn màng đi ngược về phía chúng tôi. Abutalíp ngăn người đó lại, xin thuốc lá, mượn bao diêm rồi châm thuốc hút.
Biết nói thế nào, cách xử sự của ông, tôi không thích. Nhà thơ nhân dân Đaghextan, một người nổi tiếng khắp miền này, một thành viên chính phủ như ông khi thì đóng vai người thổi kèn trên sân khấu, khi thì định sửa bình, lọ cho cô thư ký nhà xuất bản, khi thì xin thuốc lá một người tình cờ gặp ở ngoài đường phố Makhátkala ban đêm. Nhưng tôi không muốn can ông già. Tôi sợ làm ông phật ý. Tôi chỉ nói với ông:
- Bác đã già rồi, bác Abutalíp ạ. Nếu bác bỏ thuốc đi có phải lợi cho sức khỏe của bác hơn không?
- Cứ thế, hôm nay anh bảo bỏ thuốc, mai anh bảo đừng tráng men nữa, ngày kia thì lại nói đừng thổi kèn nữa. Trong trường hợp đó thì cũng không cần phải thôi làm thơ nữa, thơ nó sẽ tự bỏ tôi mà đi. Thơ nó biết, nó yêu Abutalíp hút thuốc, thổi kèn, tráng men. Nếu tôi không phải là Abutalíp nữa, thì tôi còn cần thiết gì cho thơ của tôi nữa? Tôi - là Abutalíp Gafurốp, chứ không phải là Raxun Gamzatốp, người không muốn hút thuốc, không biết tráng men nhưng lại biết lãnh đạo Hội nhà văn. Tôi cũng không phải là Iuxúp Khappalaép, không phải là Nurátđin Iuxupốp, là Mácxim Gorki và thậm chí không phải là Zôsenkô...
(Hồi ấy người ta đang phê phán Zôsenkô, nên Abutalíp mới nhớ đến tên nhà văn này.)
- Dê rừng biết trú ở đâu, nếu không ở núi? Suối chảy ở đâu nếu không đi qua các hẻm núi? Anh đừng đội mũ lạ lên đầu tôi. Sao anh cứ có vẻ khó chịu với quá khứ của tôi như vậy? Phải rồi, trước kia tôi là người thổi kèn, người chăn bò, thợ tráng men. Nhưng chẳng lẽ tôi tự thấy xấu hổ với những năm tháng đã qua của mình sao? Đó cũng là tôi, là Abutalíp cơ mà. Anh Raxun, anh hãy nhớ điều bây giờ tôi nói với anh: Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn vào anh bằng đại bác. Tôi đã bỏ vợ nhiều lần, các bà vợ cũng đã bỏ tôi. Nhưng công việc mà tôi biết làm, không thể rời bỏ tôi, và tôi cũng không thể rời bỏ nó.
Phải rồi, đó là nhà thơ già Abutalíp, người bạn của bố tôi! Ông là như vậy và cần phải tiếp nhận ông như thế. Nếu ông khác đi, ông sẽ không còn là Abutalíp, là nhà thơ nữa.
Tôi xin kể thêm một chuyện có thể đặt đầu đề là: Căn nhà mới của Abutalíp. Chuyện này xảy ra vào hồi tôi mới được bầu làm chủ tịch Ban chấp hành Hội nhà văn Đaghextan. Chức vụ này có nhiều quyền hơn là trách nhiệm, và nếu tự mình không tìm ra công việc thì có thể ngồi yên ở nhà mà làm việc riêng, tức là làm thơ. Nhưng dạo đó tôi còn là một người trẻ trung, hăng hái. Tôi bắt đầu biểu lộ sự tích cực. Tôi tìm cho mình đủ thứ việc gắn liền với cương vị mới của tôi.
Tôi nghĩ rằng nếu người ta định đánh giá độ chắc chắn của ngôi nhà mình thì thoạt tiên họ phải xem xét dầm cột, vì kèo. Tôi chú ý xem xét và thấy rằng “tứ trụ” của Hội nhà văn Đaghextan là bốn nhà thơ thuộc bốn dân tộc khác nhau ở vùng này; Taghia Khrucxki người Lêzghin, Ali Kaziáp người Kumức, Zaghít Gatgiép người Avar, và Abutalíp Gafurốp người Lắc. Phát hiện ra điều này, tôi liền tìm biện pháp để tranh thủ họ. Tôi nghĩ rằng cũng hay nếu tổ chức được cho bốn ông già đó gặp đại diện Chính phủ Đaghextan. Các nhà thơ sẽ nếu ra những khó khăn của mình và đại diện Chính phủ sẽ nói vói các nhà thơ lòng mong muốn của Chính phủ.
Và thế là ít ngày sau chúng tôi đã ngồi nói chuyện vói bí thư khu ủy Đaghextan là Apđurắcman Đanhijalốp.
Cuộc gặp gỡ đã diễn ra rất tự nhiên, đầy vẻ tâm tình. Các nhà thơ của tôi đều sung sướng như được bay lên mây xanh và đều đồng thanh nói rằng chủ tịch mới của Hội, Raxun Gamzatốp, là người rất tốt. Đồng chí Đanhijalốp cảm thấy rất vui khi trò chuyện với các nhà thơ nhân dân, và ông thành tâm khen ngợi Raxun, còn tôi im lặng ngồi nghe như không có chuyện gì xảy ra.
Chúng tôi nói chuyện với nhau về Đaghextan, về cuộc sống, về thơ. Cuối cùng, đồng chí bí thư khu ủy đề nghị mỗi nhà thơ phát biểu yêu cầu, nguyện vọng từng người. Người nói đầu là Taghia Khrucxki:
- Tôi thấy tiếc lắm đồng chí Đanhijalốp ạ. Khi mùa đông lạnh lẽo đến, cừu trong chuồng bị chết khá nhiều. Chẳng lẽ mùa hè, chúng ta không thể cử đến miền núi thật nhiều người để họ có thể chuẩn bị đủ thức ăn dự trữ cho suốt mùa đông sao?
Đồng chí Đanhijalốp ghi lại lời của nhà thơ và nói:
- Đồng chí còn yêu cầu gì nữa không?
- Không biết có thể cấp cho nông trang làng Khrúc chúng tôi một chiếc ôtô không?
Đến lượt Kaziáp Ali phát biểu. Kaziáp há mồm và chi cho chúng tôi xem, cho cả đồng chí bí thư nữa, những cái răng già nua, lung lay của mình.
- Có thể trồng cho tôi những chiếc răng mới chắc chắn được không, chứ thế này khó nhai quá. Người móm ngâm thơ cũng khó hay lắm. Khi ngâm thơ giọng nó cứ thều thào.
Ngay lúc đó Kaziáp “thị phạm” luôn cho chúng tôi thấy không có răng thì đọc thơ bất tiện như thế nào. Ông đọc bài thơ “Thư gửi đồng chí chủ tịch ủy ban thành phố Khaxavuy”. Bức thư bày tỏ yêu cầu cung cấp cho nhà thơ già ít than để sưởi ấm mùa đông.
- Thế họ đã cấp than cho đồng chí chưa? - Đanhijalốp hỏi.
- Chưa, chuyện này kéo dài từ năm ngoái đến nay rồi.
Đồng chí bí thư lại ghi vào sổ tay, và chúng tôi chuẩn bị nghe Zaghít Gatgiép.
- Ở các buổi ca nhạc, đáng lẽ phải hát thì các diễn viên trẻ bây giờ lại gào rống lên. Cách hát đó đã làm hỏng các bài dân ca hay. Còn các bài hát mới không biết được sáng tác thế nào, mà khi hát, các diễn viên vô tình cứ phải gào lên. Điều này nên chấm dứt ngay. Đài truyền đi quá nhiều bài hát về tình yêu. Có người lại còn hát những bài ca ngợi các nàng tiên trong truyện hoang đường. Đồng chí Đanhijalốp ạ, đồng chí hãy nói cho họ đừng ca ngợi các nàng tiên nữa, mà là ca ngợi những người lao động tiên tiến trên mặt trận sản xuất nông nghiệp.
Nói xong, Gatgiep quay về phía tôi và nói nhỏ:
- Này, hóa ra hôm qua Sắctamanôp và Xulâymanốp đã uống rượu trong cửa hàng ăn uống đấy. Cần phải cấm các nhà văn uống rượu. Về chuyện này, tôi sẽ gặp riêng anh để bàn.
Đến lượt Abutalíp.
- Anh Apđurắcman thân mến, - Abutalíp nói với đồng chí Bí thư thứ nhất khu ủy. - Bà vợ cuối của tôi mới sinh cho tôi một đứa con trai.
- “Cuối” nghĩa là thế nào?
- Tôi đã có nhiều đời vợ. Biết làm thế nào được - vì ảnh tôi cứ được in lên báo, tên tôi cứ được nhắc trên đài, ai cũng nghe thấy, người ta gọi tôi là nhà thơ nhân dân của miền Đaghextan, là đại biểu Xô Viết tôi cao, là người được thưởng huân chương. Các bà phụ nữ nhẹ dạ nghe thế mắc mồi, tưởng rằng nếu tôi nổi tiếng như vậy chắc là tôi có cả một lâu đài, hàng chục rương hòm của cải, tiền đựng vào bao tải. Và thế là họ lấy tôi. Nhưng sau đó họ thấy Abutalíp nghèo túng, ở trong nhà hầm, điều này làm họ chẳng thích thú gì và thế là họ bỏ tôi. Đấy là lý do vì sao tôi phải lấy vợ nhiều lần. Phải rồi, đồng chí Apđurắcman ạ, thơ của tôi thì vút lên trời như những chim sơn ca, mà tôi thì vẫn tiếp tục ngồi trong nhà hầm. Từ căn nhà hầm thảm hại đó tôi đã thả bay lên trời những bài ca vàng ngọc của mình. Bây giờ, bà vợ mới của tôi vừa sinh con trai và đe rằng sẽ bỏ tôi, nếu tôi không được một căn nhà mới, đẹp hơn. Bà sẽ bỏ đi, ôm đứa bé vào ngực... Anh Apđurắcman ạ, bây giờ thì bà ấy chưa đi, nhưng tôi thương bà ấy lắm, đừng làm gia đình tôi tan vỡ, cho tôi một cái bếp để tôi đặt nồi. Tôi đã ngoài 70, cỗ xe của tôi không lên núi nữa mà đã xuống đèo. Ngoài ra, nếu anh cấp nhà cho tôi, tôi sẽ mời anh đến chơi.
Chưa đầy một tuần sau, Abutalíp nhận được giấy phân phối nhà. Vĩnh biệt căn nhà hầm vui vẻ! Abutalíp của chúng ta dọn đến căn nhà ba buồng ở gác ba một nhà mới xây trên đường phố Puskin.
Có lần tôi gặp ông ngoài phố. Trông thấy tôi, ông làm ra vẻ như đang tìm vật gì trong đống sắt vụn.
- Chào bác Abutalíp, bác ở nhà mới thế nào, có thích không?
- Đã mấy ngày rồi tôi phải đi tìm một cái chuông để treo cạnh nhà, rung lên mà gọi anh đến chơi đấy, anh con trai của ông Gamzát làng Xađa ạ! Đã ba lần tôi mở cửa sổ trông ra biển và thổi kèn zurna để mong anh nghe thấy tiếng kèn của tôi và đến chơi. Nhưng rõ ra là không ăn thua. Nếu không có cái chuông thật to. Đành phải đi tìm.
Ngay lúc đó, chúng tôi đi xem căn nhà mới của Abutalíp. Trong căn nhà mới ấy hầu như chỉ có tường. Dưới sàn nhà, chỗ này chỗ kia thấy chỏng trơ mấy thứ đồ đạc cũ mang từ căn nhà hầm tới: cây kèn zurna cũ kỹ, đàn kumuz, vài ống thổi bễ lò rèn cổ lỗ (trời mà biết được trong căn nhà mới, những thứ này dùng để làm gì), cây đèn dầu cũ, sô, chậu, bình đất nung, giày ủng. Các vị khách già từ trên núi xuống thăm Abutalíp. Họ đem theo những chiếc bị cũ kỹ. Những người miền núi không chỉ xuống chơi mà họ còn phải chạy chọt công việc gì đó nữa. Nắm chiếc bị rỗng của một vị khách như thế Abutalíp nói:
- Vì sao mà mi lại rỗng tuếch thế này hỡi chiếc bị đáng nguyền rủa? Ví thử mi chứa đầy thịt cừu thì công việc của ông bạn ta hẳn phải xuôn xẻ và chóng vánh hơn nhiều. Chỉ tại mi rỗng tuếch, mà biết bao nhiều lần người ta đã phải vượt qua dãy núi Trankho một cách uổng công vô ích!
Abutalíp đã “xỉ vả” chiếc bị rỗng như thế rồi đưa mắt tìm chỗ để mời tôi ngồi. Cuối cùng không tìm được chỗ nào thích hợp, ông đưa vào tay tôi một con dao to; rồi bước lại gần cửa sổ, ông chỉ xuống nhà kho nhỏ trong sân và nói:
- Con ngỗng của tôi ở dưới đó, anh xuống mà cắt tiết nó đi. Đó là bữa ăn của chúng ta đấy.
Tôi mở hé cánh cửa nhà kho, tóm lấy con ngỗng. Con ngỗng tuyệt vọng dẫy dụa trong tay tôi, khi tôi bắt tay vào việc kết liễu nó. Từ trên cao vọng xuống giọng nói của Abutalíp:
- Ai lại cắt thế? Quặt đầu ngỗng vào phia khác. Sao, anh không biết Mécka ở phía nào à?
Nhưng kết quả là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ không tồi lắm, thậm chí cuối cùng lại được Abutalíp tán thưởng nữa.
Abutalíp bắc nồi lên bếp và nấu nướng rất lâu. Lúc này tôi quan sát kỹ hơn căn nhà của ông. Tuy nhà thơ già đã chuyển từ căn nhà hầm lên đây, nhưng tất cả lối sống dưới nhà hầm, kể từ cái nồi cũ kỹ đến những thói quen, ông đã mang theo lên đây. Trong nhà không có một cái ghế, cái bàn nào, không có tủ, giường, không có một thứ đồ gỗ nào.
- Bác làm thơ ở chỗ nào hả bác?
- Trong căn nhà này tôi chưa viết được bài thơ nào ra hồn cả. Hồi mới đầu, tôi phải đến căn nhà hầm cũ mà viết, nhưng bây giờ người ta đã cho một họa sĩ lấy làm xưởng vẽ. Nói có trời chứng giám, thậm chí ở đây tôi kém ngủ hơn ở chỗ nhà hầm. Ở đấy tiền tôi phải tiêu ít hơn, thời giờ lại có nhiều hơn. Người ta cũng không đến nỗi làm tôi phát ngấy nhiều như ở đây. Ở đấy ít ai ghé đến thăm tôi. Nói cho đúng thì ở đấy không được trông thấy biển. Còn bây giờ thì biển lúc nào cũng hiện ra trước mặt ông già Abutalíp.
Ông nhìn rất lâu ra biển Caxpie lúc này đang cuồn cuộn những con sóng mầu xanh tung bọt trắng. Tôi không muốn cắt ngang dòng suy nghĩ của ông, và chúng tôi cùng im lặng. Sau đó Abutalíp lại nói:
- Tôi sẽ kể cho anh nghe, anh Raxun ạ, về hai ngày trong đời tôi: ngày vui nhất và ngày buồn nhất.
Bác kể đi.
- Anh Raxun, anh thấy đấy, ngày vui trong đời tôi tất nhiên là không ít. Được tặng huân chương Tôi cũng vui; được cấp giấy phân phối nhà - Tôi cũng vui; hồi năm 20, Hồng quân cấp cho tôi một con ngựa chiến - Tôi cũng vui. Tôi đã cùng đi với Hồng quân, là người thổi kèn của đơn vị, và trên đường chiến đấu, con ngựa của tôi đi sát bên ngựa của người chỉ huy. Đó cũng là một niềm vui của tôi. Mặc dầu vậy, niềm vui đầu tiên nhất, lớn nhất không phải là những cái đó. Dạo ấy tôi mới 11 tuổi và đi chăn bò, Và thế rồi lần đầu tiên trong đời, bố tôi cho tôi một đôi giày. Không thể tìm được chữ để nói lên sự hãnh diện của tôi khi có đôi giày mới ấy. Tôi tha hồ đi qua những hẻm núi, qua những con đường mòn mà mới ngày hôm qua còn bị tóe máu chân vì dẫm lên những hòn đá sắc lạnh. Bây giờ tôi có thể đạp bừa lên những hòn đá đó mà không hề thấy đau, thấy lạnh. Niềm vui của tôi kéo dài đúng ba ngày, tiếp đó là những phút buồn tủi nhất trong đời tôi. Đến ngày thứ tư, bố tôi nói: “Này Abutalíp, con đã có giày mới bền chắc, con đã có chiếc gậy, đã sống 11 năm trên đời này rồi. Bây giờ thì đi đi thôi, tự mình kiếm lấy cơm ăn, áo mặc”. Bố tôi bảo tôi đi khắp các làng để xin của bố thí. Vào giờ phút đó tôi cảm thấy đau đớn trong lòng nhiều hơn tất cả những nỗi đau suốt cuộc đời sau này cộng lại. Sau này tôi cũng còn nhiều lần rơi nước mắt, nhưng đó không phải là những giọt nước mắt cay đắng đến thế. Một nhà văn nói về tôi: “Abutalíp đã được nhận nhà mới. Thử chờ xem ông sẽ viết được những bài thơ gì ở đây”. Cứ làm như thể tôi không biết rằng thơ ca không phải phụ thuộc gì vào nhà ở cả. Nhà thơ tự mình là căn nhà cho những bài thơ của mình. Trái tim nhà thơ - đó chính là chỗ ở của các bài thơ của anh. Trong tôi chứa đựng tất cả - những giây phút sung sướng và đau buồn của đời tôi. Còn tôi sống ở đâu, không có nghĩa gì hết.
Căn nhà của Abutalíp đã gây một ấn tượng mạnh cho tôi. Tôi kể lại điều đó cho các đồng chí lãnh đạo nước cộng hòa Đaghextan. Mọi người đi đến quyết định là sử dụng một phần nhuận bút cuốn sách của Abutalíp “Nhạn bay về Nam” để mua sắm một số đồ gỗ mới cho nhà thơ. Một “bộ ba chấp hành” được thành lập gồm: giám đốc nhà xuất bản Đaghextan, bộ trưởng thương nghiệp và tôi. Chúng tôi cần tìm đủ số đồ gỗ cần thiết, mua và chở đến nhà Abutalíp. Mọi thương lượng có thể nảy sinh với nhà thơ trong quá trình mua sắm được giao cho tôi đảm nhiệm.
Ba chúng tôi đi khắp các kho ở Makhátkala và lựa chọn những thứ cần thiết: giường ngủ - để cho nhà thơ nhân dân của chúng ta nghỉ ngơi thoải mái, bàn làm việc - để ông viết những bài thơ xuất sắc của mình, bàn ăn - để ông ăn uống ngon lành.
Chúng tôi tưởng rằng, sau khi nhận được đồ gỗ của chúng tôi và bày biện ra, Abutalíp sẽ chạy đến cảm ơn tới tấp. Nhưng chúng tôi không hề nghe thấy một lời cảm ơn dù là qua loa của ông hay ít ra là lời xác nhận rằng đồ gỗ đã được chuyến tới nơi. Lúc đó, chúng tôi bèn quyết định đến thăm Abutalíp và thứ xem ông đã bày biện những thứ chúng tôi mua thế nào.
Chúng tôi khỏi phải gõ cửa vì cánh cửa căn phòng mở toang. Chúng tôi bước vào nhà. Bên cạnh bàn ăn cơm, ngay dưới sàn, trên tấm thảm, là Abutalíp cùng với gia đình ông. Tất cả ngồi quỳ chân quanh “mâm” cơm đặt trên một tờ báo. Abutalíp đang xúc sữa chua đựng trong đĩa mà ăn, Abutalíp nhìn lên chiếc bàn ăn đánh vécni bóng lộn như nhìn một cô gái đang chờ được ôm ấp, nhưng ông lại không hề muốn ôm cô ta.
Ở một căn buồng khác, chúng tôi thấy một cái bàn viết tuyệt đẹp. Trên bàn đặt giấy, bút, mực chưa ai mó tay vào. Những đồ vật đó, và cả cái bàn nữa, trông giống hiện vật bảo tàng hơn là những thứ để dùng hàng ngày. Đối diện với chiếc bàn, ở dưới sàn, có mấy tờ giấy viết chi chít những hàng chữ theo mẫu tự Ả Rập.
- Bác Abutalíp, chằng lẽ bác không biết sử dụng mẫu tự hiện đại sao?
- Biết chứ, nhưng tôi quen viết theo lối cũ. Mới đầu viết bằng mẫu tự Ả Rập, sau đó chuyển sang lối viết mới để đưa cho các nhà biên tập, đại khái như là tôi tự dịch cho mình ấy mà.
- Ông ấy chưa ngủ một lần nào trên chiếc giường đó cả, - bà vợ ông cho biết, - Các anh mua các thứ đồ đắt tiền này phí quá.
- Giường để làm gì kia chứ? Dạo đầu năm tôi mới về ở thành phố, tôi dùng một hòn đá mang từ núi xuống để thay gối thế rồi tôi đã ngủ say hơn cả lúc kê đầu lên gối. Tôi đã quen gối đầu lên đá để ngủ như vậy từ hồi đi chăn bò.
- Có nghĩa là bác không thích các thứ chúng tôi đã chọn cho bác chứ gì? Không thích các thứ bàn, ghế, giường, tủ này phải không?
- Các thứ đồ này rất đẹp. Nhưng có lẽ những thứ này thích hợp với ông hàng xóm Gốtfrit Gaxanốp hơn.
- Ông hàng xóm này tốt không?
- Có thể ông ấy là người tốt, nhưng chúng tôi bất hòa với ông ấy.
- Vì sao hở bác?
- Ông ấy sống văn minh quá. Ngoài ra, tôi thì quá quê mùa mà ông ấy lại quá thị thành. Tôi thì quá “rừng núi”, còn ông ấy thì quá “đồng bằng”. Mũ chúng tôi đội cũng khác nhau. Chắc là đầu cũng không giống nhau. Tôi là con của đất, còn ông ấy là con của nghề nghiệp. Ông không thể chịu được tiếng kèn zurna và những bài hát nó thổi, còn tôi thì không thể chịu nổi đàn pianô và các thứ nhạc giao hưởng của ông ta. Tôi cố thưởng thức âm nhạc của ông ta và không thể thưởng thức được. Ông ta cũng vậy - Tôi chỉ vừa cầm cái kèn lên là ông ta đã gõ cửa: “Này ông Abutalíp, ông ngăn trở tôi làm việc”, tôi cố ý nói với ông ấy là đây không phải tôi thổi mà là trên đài họ phát đấy. Quả thật đã có lần ông gõ cửa nhà tôi khi trên đài đang có người biểu diễn kèn zurna. Hóa ra là ông ta không những đã cấm tôi thổi kèn zurna mà còn cấm nghe thứ kèn đó qua rađiô nữa. Nói tóm lại là chúng tôi không giống nhau chút gì. Khách đến nhà tôi là khách miền núi cầm túi, còn khách của ông ấy là khách từ Matxcơva tới và xách cặp da. Tôi đãi khách bằng rượu buza và món khinkal dầm tỏi, còn ông thì đãi khách bằng rượu cô nhắc và cà phê. Tôi đi mua thức ăn ở ngoài chợ, còn ông ấy thì vào cửa hàng. Khi tôi ngủ thì ông viết, khi ông ấy ngủ thì tôi viết. Ông thích hoa trồng trong chậu cảnh ở thành phố, còn tôi lại yêu những loài hoa đồng nội mọc trên núi cao. Anh nghe xem, bây giờ ông sắp đánh một bản giao hưởng nào đó của mình đấy.
Ông hàng xóm của Abutalíp, chúng tôi biết rất rõ. Đó là nhà hoạt động nghệ thuật công huân của Đaghextan và nước Cộng hòa liên bang Nga Gốtfrit Aliêvích Gaxanốp. Vào thời gian đó, ông đang viết bản hòa tấu cho pianô và dàn nhạc. Tôi rất thích thú khi được nghe âm nhạc sôi nổi, tinh tế của ông. Tôi nghĩ rằng: “Một bản giao hưởng tuyệt diệu thế nào sẽ ra đời nếu kết hợp được hai tài năng lớn, mãnh liệt đó: tải năng nhân dân mộc mạc của Abutalíp và tài năng đào luyện chính quy của Gaxanốp”.
Tôi còn nghĩ thêm rằng sẽ là một thành công lớn nếu trong những bài thơ của tôi, trong những cuốn sách của tôi, tôi có thể hòa hợp được hai dòng: tính chất mộc mạc đơn sơ của nhân dân tôi, tấm lòng cởi mở hồn nhiên của họ và nghệ thuật hoàn chỉnh của một người viết chuyên nghiệp. Tôi muốn sao cho Abutalíp và Gốtfrit hòa hợp với nhau trong thơ tôi. Tôi muốn rằng trong sáng tác của tôi, hai cá tính đó sẽ thuận hòa bên cạnh nhau chứ không như khi ở cạnh nhà nhau.
Phải rồi, tôi hy vọng vào sự phối hợp giữa hai yếu tố ban đầu đó. Tuy nhiên, nếu sự phối hợp đó không có được và nếu tôi buộc phải chọn lựa... Có lẽ, cuối cùng, tôi sẽ chọn mạch nước nguồn mát lạnh, trong vắt trên núi hơn là một thứ nước giải khát văn minh tinh chế nhất. Nói gì thì nói, trình độ văn hóa, văn minh, sự tinh thông nghề nghiệp - đều là những cải có thể tạo ra được. Nếu chưa có những phẩm chất đó, có thể đạt tới được thông qua đào luyện, trong khi những tình cảm dân tộc gắn liền, thấm sâu vào máu thịt con người từ lúc mới sinh. Nhà thơ nhân dân và người thổi kèn zurna Abutalíp nếu rơi vào những hoàn cảnh khác có thể trở thành nhạc công chuyên nghiệp, thậm chí thành nhà soạn nhạc nữa, nhưng nhạc sĩ chuyên nghiệp Gôtfrit thì không bao giờ có thể trở thành ca sĩ nhân dân chất phác được.
Khi chúng tôi chia tay, Abutalíp chợt hỏi:
- Anh Raxun này, có thể cho mắc têlêphôn đến nhà tôi được không?
- Bác cần têlêphôn làm gì, nếu bác từ chối không sử dụng ngay cả bàn viết và giường ngủ?
- Tôi sẽ thổi kèn zurna vào têlêphôn. Khi thì thổi cho Nhikôlai Chikhônôp ở Matxcơva nghe, khi thì thổi cho ông chủ tịch nông trang chúng tôi. Cần phải để cho ông ấy biết là tôi vẫn còn sống và cây kèn zurna của tôi vẫn thổi những bài hát ấy. Nghe tiếng kèn của tôi qua têlêphôn, ông chủ tịch sẽ hiểu là trong căn nhà thành phố của tôi, vẫn cỏ những âm thanh, những mùi hương của núi rừng chúng ta.
- Thôi bác Abutalíp ạ, những bài ca đầy hương vị núi rừng của bác không cần têlêphôn cũng vang đến tận Matxcơva, tận làng quê của bác và tất cả làng quê miền Đaghextan, tận bốn phương trời trên thế gian này. Chúng bay cao hơn núi.
Bây giờ tôi tạm biệt Abutalíp và kể cho các bạn nghe một chuyện xảy ra với tôi và bố tôi.
Hồi ức. Không hiểu tại sao tôi và bố tôi có cái lệ là không bao giờ đọc thơ cho nhau nghe hay nói chuyện về chúng. Tôi biết những bài thơ mới của bố tôi khi chúng đã được đăng hoặc đọc qua rađiô. Hoặc là khi bạn bè nghe được các bài thơ đó nói lại với tôi. Cũng vậy, bố tôi không biết đến những bài thơ mới của tôi, chừng nào chúng chưa được in.
Năm 1949, báo Avaria đăng trường ca của tôi “Năm tôi ra đời”. Tất nhiên là tờ báo đó đã đến tay bố tôi, và tôi đã thấy tờ báo đó với những chỗ chữa bằng bút chì. Hóa ra là bố tôi đã đọc rất kỹ bài thơ dài đó và rất nhiều câu ông đã chữa lại theo cách của mình. Có thể thấy ngay rằng bố tôi đã chữa những câu trúc trắc, khó hiểu, ông không thích những ví von rắc rối của tôi, những so sánh quá sặc sỡ của tôi. Bên trên câu thơ của tôi, ông viết lại những câu mà ông cỗ gắng diễn đạt giản dị hơn, sáng rõ hơn, dễ hiểu hơn.
Đến bây giờ tôi còn tiếc là đã không giữ được tờ báo đăng bài thơ có những chỗ chữa của bố tôi. Tôi có thói quen một khi bài thơ đã được đăng, tôi đốt hết bản chép tay và những bản thảo các dạng khác nhau của bài thơ.
Phần lớn những chỗ chữa tôi đều vừa ý. Tôi nhận thấy rằng bài thơ dễ đọc hơn, nhưng cũng có một số chỗ chữa tôi không đồng ý. Tôi nói với bố:
- Tất nhiên bố thâm thúy hơn, có tài hơn, lớn hơn con. Nhưng con là nhà thơ của thời đại khác. Con theo trường phái khác, con có những thiên hướng văn học khác, bút pháp khác - Tất cả đều khác. Trong những chỗ chữa ấy có thể thấy ngay thủ pháp nghệ thuật của nhà thơ Gamzát Xađax. Nhưng con không phải là Gamzát mà chỉ là Raxun Gamzatốp. Cho phép con có riêng bút pháp, có riêng cách viết của mình.
- Con không hoàn toàn đúng đâu. Bút pháp của con, cách viết của con, tức là cá tính, bản lĩnh của con, phải đứng hàng thứ hai trong thơ. Phải đặt lên hàng đầu cá tính, bản lĩnh của dân tộc mình. Trước hết con hãy là một người dân miền núi, một người Avar đã, rồi hãy là Raxun Gamzatốp. Con người trong thơ con nhiều chỗ không giống người miền núi một chút nào. Còn nếu những bài thơ của con trở nên xa lạ với đồng bào miền núi, với tính chất của họ thì cuối cùng cách viết của con chỉ là kiểu cách, những bài thơ của con sẽ biến thành những đồ chơi đẹp, cho dù có thể là lý thú. Nếu không có mây đen làm sao có mưa? Nếu không có bầu trời sao có tuyết rơi? Nếu không có Avaria và dân tộc Avar làm sao có Raxun Gamzatốp được? Nếu không có những quy luật chung từ ngàn đời nay của nhân dân thì làm sao có những quy luật riêng của con được?
Đấy, một lần hai bố con chúng tôi đã nói chuyện với nhau như vậy. Những năm tháng sau này của tôi, những con đường sau này của tôi đã chứng minh rằng bố tôi hoàn toàn đúng.
Câu chuyện về người vợ thứ ba. Một nhà thơ trẻ Đaghextan lên Matxcơva theo học ở Đại học văn học. Một năm trôi qua, và bỗng có tin anh sinh viên xứ Đaghextan kia đã nộp đơn xin ly dị vợ, một phụ nữ ở làng núi xa xôi.
- Sao anh lại bỏ vợ? - chúng tôi hỏi anh ta. - Anh mới lấy vợ thôi, mà hình như anh yêu cô ta rồi 1ấy chứ phải ép uống gì đâu, vậy thì sao lại có chuyện như thế?
- Chúng tôi không tìm được tiếng nói chung. Cô ta không biết đến Sếchxpia, không đọc “Épghênhi Ônhêghin”, cô ta không biết “Trường phái hồ nước” là gì, chưa bao giờ nghe đến tên Mêrimê.
Ít lâu sau, nhà thơ trẻ trở về Makhátkala với một cô vợ người Matxcơva chắc là đã nghe tới tên Mêrimê, tới Sếchxpia. Cô ta chỉ sống ở thành phố chúng tôi một năm, rồi lại phải trở về Matxcơva vì chồng đòi ly dị.
- Sao anh lại nộp đơn ly dị? - Chúng tôi hỏi anh. - Anh mới lấy vợ thôi, mà hình như anh yêu cô ta rồi lấy đấy chứ, sao lại có chuyện như vậy?
- Hóa ra là chúng tôi không tìm được tiếng nói chung. Cô ta không biết một tiếng Avar nào, không biết phong tục, tập quán Avar, không hiểu tính tình người miền núi, đồng bào tôi, không muốn họ làm khách ở nhà mình. Cô ta không biết một câu tục ngữ Avar nào, không biết một câu đố, một bài hát nào.
- Thế rồi anh sẽ phải làm thế nào?
- Chắc là phải lấy vợ lần thứ ba.
Tôi có cảm tưởng rằng, trước khi tìm cho mình người vợ thứ ba, nhà thơ trẻ kia phải tìm được con người mình cái đã.
Tôi muốn cuốn sách của tôi gần gũi với núi rừng Avaria và gần gũi với cả các bài xonnê của Sếchxpia. Tôi muốn cuốn sách của tôi chính là người vợ thứ ba mà cho đến nay nhà thơ trẻ Đaghextan kia vẫn đang tìm kiếm.
Rút trong sổ tay, ở Makhátkala người ta đã xây xong ngôi nhà của Hội nhà văn gồm 40 căn. Bắt đầu tiến hành phân chia. Một số thì yêu cầu phải phân phối nhà tương xứng với tài năng, một số khác thì yêu cầu phải tính đến số con cái.
Cần phải nói rằng phân phối nhà giữa các nhà văn là một việc đầy khó khăn. Nhưng rồi đâu cũng vào đầy. Bốn mươi gia đình nhà văn đã dọn đến, ăn mừng nhà mới, và ngày hôm sau thì hai mươi bà vợ nhà văn cũng lên đường đi Matxcơva. Vài ngày sau họ trở về trông gầy gò, mệt mỏi như vừa qua một cuộc chiến tranh. Ít lâu sau, đồ gỗ Matxcơva gửi theo tàu hỏa cũng về đến nơi.
Mới đầu họ tìm kiếm, chọn lựa rất lâu. Nhưng sau, có một bà đánh bạo mua trước. Những bà kia không muốn đồ gỗ của mình lại xấu hơn. Thật không may là bà mua đầu tiên lại mua thứ đồ gỗ đắt tiền nhất, và cũng khó mà có thể vượt được bà ta. Kết quả là cả hai mươi căn buồng đều giống nhau như đúc, giống nhau như những cái răng của một chiếc lược. Vào những căn buồng như thế, không thể nói được đây là nhà ở của người Avar.
Trong những căn buồng khác, chỉ vừa bước qua ngưỡng cửa, anh đã thấy xộc vào mũi mùi thịt phơi khô, mùi giò chả nhà tự làm, mùi rượu buza, thịt cừu, mỡ cừu rán. Ở đấy thì rõ là nhà người Avar đang ở, nhưng không thấy rõ là nơi ở của các nhà văn, những người có khái niệm về tinh thần và phong cách của thời đại.
Tôi mong sao cho những ai đọc cuốn sách này của tôi sẽ hiểu ngay rằng trong cuốn sách này có những người Avar đang sống, nhưng đồng thời cũng sẽ hiểu ngay rằng ở đây còn có người cùng thời đại, người của thế kỷ 20 đang cảm, đang nghĩ.
Tôi không muốn chỉ có bóng mát hay chỉ có mặt trời. Hãy để cho căn nhà của tôi có những cửa sổ rộng mở đón ánh mặt trời và cũng có những góc nhỏ kín đáo, khuất bóng mặt trời. Tôi muốn mỗi vị khách đến nhà tôi đều cảm thấy dễ chịu, thoải mái, tự nhiên, muốn sao cho họ không thích ra về, nói đúng hơn (nếu nói đến các vị khách) là muốn sao cho họ ra khỏi nhà với cảm giác luyến tiếc và mong trở lại.
Có lần ở Nhật Bản, chúng tôi, đại diện nhiều nước khác nhau, chia sẻ với nhau ấn tượng của mình. Chúng tôi đứng bên cạnh vòi phun nước có lẽ đã được xây bằng đá của miền Đaghextan chúng tôi, thứ đá mà đồng bào của tôi đã dùng để xây nơi họp làng.
- Thật là một đất nước lạ lùng, - một nhạc sĩ Mỹ nói đầu tiên. - Tôi có cảm giác ở Nhật Bản tôi gặp lại bộ mặt công nghiệp của nước Mỹ.
- Sao anh lại nói thế, - một nhà báo Haiti phản đối, - Tôi vừa thăm một làng Nhật Bản - đúng hơn hết là Nhật Bản giống hòn đảo nhỏ của chúng tôi.
- Các ngài đừng tranh cãi nhau nữa, tất cả cái vui, tất cả cái buồn của Pari đã chung đúc lại ở đây, - một kiến trúc sư người Pháp đã chống lại cả hai người.
Còn tôi nhìn lên những hòn đá nơi vòi phun nước ấy, những hòn đá tưởng như được mang từ một làng Avar nào, và nghĩ rằng: “Nước Nhật thật lạ lùng. Ở đây có tất cả những gì ở các nước khác, nhưng đồng thời nó không giống một nước nào cả. Đó là nước Nhật Bản”.
Hãy để cho mỗi độc giả tự tìm thấy một chút của mình trong cuốn sách này, nhưng đây vẫn là cuốn sách của tôi, không giống một cuốn sách nào khác. Cuốn sách này là ngôi nhà Avar, ngôi nhà Đaghextan của tôi, Hãy để cho ngôi nhà này có những cái đã từng có ở đây hàng bao thế kỷ, và cũng có những cái chưa từng có.
Bố tôi nói: tác phẩm văn học mà trong đó không thấy rõ tác giả thì chẳng khác gì con ngựa chạy trên đường không có người cưỡi.
Người ta nói: Một người dân miền núi sinh toàn con gái, ông ta ước ao có một đứa con trai. Ai ai cũng thấy có trách nhiệm phải bảo ban, khuyên nhủ ông bố không may kia. Mọi người khuyên can ông nhiều đến mức, cuối cùng ông phát cáu lên và nói:
- Thôi thôi, đừng nói nữa, nghe xong đủ thử lời khuyên của các người, tôi cũng đến quên luôn cả những gì đã muốn.
Chú Thích:
([8]) Magarứt: thết đãi. (ND.)
([9]) Lễ Ôbrêzanhiê: tục cắt bao quy đầu cho con trai nhỏ ở những người Do Thái và một số dân tộc theo đạo Hồi. (ND.)