Công văn bãi miễn Triệu Nguyên Giai là tin chấn động với các châu huyện trên đường. Lý Thế Dân nhiều lần nhấn mạnh phải tiết kiệm, không được nhiễu dân, khiến một số quan chức có ý đồ nịnh bợ đều sợ hãi toát mồ hôi lạnh khắp người. Có kẻ vì vậy sầu thảm, cũng có kẻ vì thế mà lấy làm vui mừng, huyện lệnh Hoắc Ấp Quách Tể lại mặt mày hớn hở, hôm đó vừa về đến hậu trạch đã ồn ào: “Phu nhân à, phu nhân, ý tưởng của phu nhân đúng là rất tốt!”
Lý Ưu Nương đang ngồi thêu mới ngẩng đầu hỏi: “Sao tướng công lại vui vẻ như vậy?”
“Có thể không vui được sao?” Quách Tể cười nói: “Nếu nghe theo chủ ý của các đồng liêu và thân sĩ cường hào trong huyện, chức quan này của ta cũng không cần làm nữa rồi. Bệ hạ chú trọng tiết kiệm, ta lại gióng trống khua chiêng mở phố dọn nhà thì khác nào tự mình rước xui xẻo vào người! Ý kiến của nàng thật tốt, mời bệ hạ đến ở tại chùa Hưng Đường, hê hê, phong thủy tốt, môi trường tốt, địa điểm rộng rãi.”
Lý Ưu Nương mỉm cười nhìn ông ta, trong lòng lại cảm thấy đau nhói. Mình và Thôi Giác đúng là nghiệt duyên trời định, hắn tự tay phá hủy mái ấm đầu tiên của mình, bây giờ lại muốn phá nơi chốn dung thân hiện tại của mình, còn mình chẳng khác nào tự tay đẩy người đàn ông thành thật đôn hậu này xuống vực sâu muôn đời muôn kiếp không thoát ra được.
“Vậy thì tốt quá rồi, tướng công cũng không phải lo nghĩ nhiều nữa.” Bà miễn cưỡng cười nói.
“À, phu nhân này, ta nói với phu nhân một việc.” Quách Tể ngồi lên giường, hạ thấp giọng nói: “Nghe nói lần này bệ hạ gặp quỷ ở quan ải Thái Bình.”
“Quỷ?” Lý Ưu Nương kinh ngạc.
“Đúng, cụ thể ta cũng không rõ, chỉ nghe các đồng liêu ở Triệu Thành và Hồng Động nói. Bọn họ đã đón thánh giá, bệ hạ cả ngày mặt mày âm trầm. Huyện lệnh Hồng Động cùng ta có quan hệ thân thiết, dặn dò ta nhất định phải cẩn thận. Lần này ta bố trí cho hoàng đế ở chùa Hưng Đường chắc chắn có thể khiến long nhan vui vẻ.” Quách Tể đắc ý vô cùng, lại không để ý sắc mặt của phu nhân hắn càng thêm trắng bệch, hưng phấn nói: “Thánh giá đã đến chỉ cách chỗ ta ngoài ba mươi dặm, bây giờ ta phải đi tiếp giá. Hôm nay sợ rằng sẽ rất bận, chắc là mấy ngày tới không về nhà được, phu nhân và Lục La phải ăn ngon ngủ kỹ, ngàn vạn lần đừng để ta phải lo lắng.”
Lý Ưu Nương ngơ ngác gật đầu, Quách Tể vui sướng đi ra ngoài.
Quách Tể vừa đi, huyện nha dường như trống vắng hẳn. Còn chưa đến giờ ngọ, hậu nha đã yên tĩnh không một tiếng động, bầu không khí tĩnh lặng giống như một phiến băng mỏng lạnh buốt. Trong lòng Lý Ưu Nương như đang có một đàn ngựa hoang phi nhanh, lại giống như có hai sợi dây quấn chặt vào nhau, không ngừng giằng co. Mình đã tự tay phá hủy mái ấm này rồi sao?
Quách Tể mặc dù không giỏi văn thơ, tướng mạo thô kệch, nhưng tính tình chất phác thành khẩn, quả thực còn trân trọng mẫu tử hai người bọn họ hơn cả tính mạng của mình. Một người phụ nữ tái giá có được hạnh phúc như bây giờ cũng xem như không dễ dàng gì. Vậy mà giờ đây chính mình lại hủy hoại cái nhà này, phá hủy tiền đồ, tính mạng của Quách Tể sao? Nhưng nghĩ đến Thôi lang, con người tài hoa xuất chúng, đường làm quan lại gập ghềnh, vì nghĩ đến công danh sau này, hắn giả vờ tự vẫn, vứt bỏ mẫu tử bọn họ, đến trốn ở chùa Hưng Đường sáu năm chưa từng về thăm, bình thường bà chỉ hận không thể xé xác hắn, nhưng vừa nhìn thấy người này, vì sao lại vẫn sẵn sàng bất chấp tất cả như lúc còn là thiếu nữ?
Lý Ưu Nương vô cùng đau lòng, ôm mặt khóc nức nở. Đang khóc, đột nhiên bà ngửi thấy một mùi thơm ngọt, kinh hãi lẩm bẩm nói: “Chàng lại đến rồi ư?”
Sau đó trước mắt bà tối sầm, lập tức chìm vào giấc mộng.
Trong sương phòng bên cạnh, Lục La đang xem xét một cây cung. Đó là loại cung sừng trâu lắp ghép được chế tạo cực kỳ phức tạp, cánh cung làm bằng gỗ chá[*] loại thượng hạng, bên trong cánh cung khảm sừng trâu màu xanh, bên ngoài dán gân trâu bằng keo, sau đó dùng tơ quấn quanh, dày đến mức mũi đao cũng không đâm vào được, cuối cùng mới quét sơn lên. Chế tạo một cây cung như thế này thường cần đến ba năm mới cho ra thành phẩm. Cây cung này được chế tạo vào khoảng những năm Đại Nghiệp nhà Tiền Tùy, quốc lực hưng thịnh, tay nghề hoàn mỹ, tốt hơn hẳn loại cung chế tạo thời Vũ Đức, là thứ vũ khí được Quách Tể rất yêu thích.
[*] 59 Một loại cây giống như cây dâu, lá có thể nuôi tằm, gỗ vàng, mịn, là loại gỗ quý.
Lực kéo của cây cung này có thể đạt tới một trăm hai mươi cân. Lục La đeo bao ngón tay vào, đặt một mũi tên lên cung, giương được một nửa thì cánh tay đã hết lực, đầu mũi tên lạnh lẽo rung rung, có điều không hề có đích ngắm, cũng không biết nên bắn về phía nào.
Đúng lúc này cửa phòng két một tiếng mở ra. Lục La xoay người lại, mũi tên ngắm thẳng vào giữa cửa, lại không khỏi sửng sốt. Ngoài cửa là một lão hòa thượng mặc tăng bào màu xám.
Lão hòa thượng này dáng người gầy gò khô quắt, vẻ mặt tươi cười nhìn cung tên trong tay nàng: “Không biết tiểu thư định bắn về phương nào?”
“Ngươi là ai?” Lục La lạnh lùng hỏi.
“A Di Đà Phật!” Lão hòa thượng cười nói: “Một người đến chỉ đường cho tiểu thư.”
“Ta cần gì phải chỉ đường?” Lục La cười lạnh, cánh tay giương cung đã hơi mỏi, chỉ cần sơ ý không giữ được nữa, một mũi tên sẽ bắn xuyên qua cổ họng lão hòa thượng này.
Lão hòa thượng không hề để ý, hướng mũi tên đi tới: “Tiểu thư đang cần tìm hai con đường. Một là nên đối mặt Ưu Nương phu nhân thế nào, hai là nên đối mặt với đại sư Huyền Trang thế nào. Lão nạp nói đúng chứ?”
“Ngươi…” Lục La khẽ run lên, hỏi: “Tại sao ngươi biết?”
“Phàm là những chuyện trong nhân gian, sao có thể qua nổi mắt lão nạp. Tiểu thư sinh vào giờ tuất ngày mùng chín tháng sáu năm Quý Dậu, dưới bàn chân trái có một nốt ruồi đỏ. Khi sinh nặng sáu cân sáu lạng, vì vậy nhũ danh của tiểu thư gọi là Lục Niếp.” Lão hòa thượng mỉm cười, trong mắt lóe lên ánh sáng kỳ lạ.
Lục La càng nghe càng kinh hãi. Ở thời đại này, ngày sinh của phụ nữ tuyệt đối là bí mật, khi thành hôn người ta mới đưa ngày sinh của hai bên ra so. Càng khỏi phải nói nốt ruồi đỏ dưới lòng bàn chân, ngoài Lý Ưu Nương chỉ sợ trên đời này không một người nào biết được.
“Lão nạp còn biết, trong lòng tiểu thư đang thầm thương trộm nhớ một người đàn ông. Người đó tài hoa hơn người, nổi danh khắp thiên hạ. Người đó tính cách nhân hậu, đối với tất cả mọi người đều tràn ngập yêu quý và thương xót. Vô số người kỳ vọng vào người đó, mong chờ người đó trở thành một nhân vật vĩ đại. Tiểu thư yêu thương người đó như si như cuồng, trong mơ thường cùng người đó nắm tay chung sống. Chỉ tiếc người đó là một hòa thượng.” Trong mắt lão hòa thượng tràn ngập thương xót, giọng nói đầy sức dụ hoặc, dường như có một sức mạnh mê hoặc lòng người.
Lục La càng thêm kinh hãi, bàn tay hơi run, mũi tên rời cung bay ra. Lão hòa thượng không hề né tránh, chỉ mỉm cười nhìn. May mà Lục La kịp thời lắc tay cầm cung, mũi tên bay qua sát vai lão hòa thượng, cắm sâu vào khung cửa.
“Ngươi… Ngươi rốt cuộc là ai?” Nỗi sợ hãi dâng tràn trong lòng Lục La.
“Một người không gì không biết, không gì không làm được.” Lão hòa thượng nói chậm rãi: “Ta có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề khó khăn của tiểu thư, thỏa mãn tất cả mọi nguyện vọng của tiểu thư.”
Lục La lẩm bẩm: “Nguyện vọng của ta… là cái gì…?”
“Tiểu thư muốn cùng chung sống với hòa thượng đó, tiểu thư muốn xóa hết tội nghiệt tư thông của mẫu thân mình.” Lão hòa thượng nói từng câu từng chữ rành mạch.
“Ngươi im mồm!” Lục La đỏ mặt, lớn tiếng hét lên, tay phải run rẩy rút một mũi tên khác đặt lên cung.
“Tiểu thư không thể giết ta.” Lão hòa thượng không thèm để ý: “Cục diện bế tắc trong lòng tiểu thư không người nào có thể hóa giải được, chỉ mình ta có thể giúp tiểu thư đạt được tất cả mọi tâm nguyện. Tiểu thư có muốn thử một lần hay không?”
Ngực Lục La không ngừng phập phồng, đôi mắt tràn ngập sát khí dần trở nên hoang mang. Đúng vậy, sự rối rắm trong lòng mình chính là một cục diện bế tắc, không thể giải thoát. Nàng suy nghĩ một hồi, rồi hỏi: “Ngươi thật sự có biện pháp? Nói ta nghe xem!”
“Không thể nói.” Lão hòa thượng lắc đầu bật cười: “Tiểu thư cùng ta đến chùa Hưng Đường, ta dẫn tiểu thư đi gặp một người, hóa giải vấn đề khó khăn đầu tiên trong lòng tiểu thư.”
“Chùa Hưng Đường?” Lục La trầm ngâm: “Ngươi định dẫn ta đi gặp Huyền Trang?”
“Cũng không phải!” Lão hòa thượng lắc đầu: “Nếu như tiểu thư đồng ý thì hãy nhắm mắt lại. Khi tiểu thư mở mắt ra thì đã đến chùa Hưng Đường.”
Lục La rõ ràng không tin, hai mắt sáng rực nhìn ông ta chằm chằm. Lão hòa thượng cười nói: “Có tin hay không tùy tiểu thư. Có điều nếu chậm một chút, xa giá của Hoàng đế đến cửa chùa Hưng Đường, tiểu thư sẽ không thể đi vào nữa.”
“Thôi được!” Lục La cam chịu: “Ta tin ngươi!”
Nói xong nhắm mắt lại, đột nhiên ngửi thấy một mùi thơm ngọt, đầu óc mê muội, bỗng chốc không còn tri giác.
☆ ☆ ☆
Giấc mơ này không biết kéo dài bao lâu. Lục La quay về thời thơ ấu, Long Sơn, Tấn Dương cảnh sắc tuyệt mỹ, ngôi nhà tranh thân yêu của gia đình nàng, cây tùng già trước cửa vẫn khoác một lớp vỏ nhăn nheo loang lổ. Phụ thân và mẫu thân mỉm cười ngồi trên cỏ nhìn nàng chơi đùa dưới bóng tùng. Nhưng rất kỳ lạ, nàng lại đang nắm tay một cậu bé thanh mai trúc mã. Cậu bé đó khoảng chừng bằng tuổi nàng, cực kỳ đáng yêu, trên đầu đội một chiếc mũ da hươu nho nhỏ của người Hồ.
Lục La tinh nghịch đưa tay giật chiếc mũ trên đầu cậu bé xuống, lại hoảng sợ phát hiện đầu cậu bé hoàn toàn trọc lốc, trên đỉnh đầu điểm chín vòng tấn hương.
“Á…!” Lục La kêu một tiếng sợ hãi, đột nhiên mở mắt ra, lại phát hiện mình đang nằm trên giường, ngửi thấy mùi hương phật nồng đậm, trong tay còn cầm cây cung sừng trâu đó và vài ba mũi tên. Nàng thở ra một hơi, ngồi dậy, mình vẫn mặc bộ váy áo đó, lại không phải đang nằm trên giường phòng mình… Màn trướng màu vàng, cửa sổ cổ kính, giá sách bên tường xếp vài cuốn kinh Phật, phía trong phòng còn có một chiếc cửa nhỏ, bên trong có tiếng nước ùng ục, tỏa ra mùi lưu huỳnh nồng nặc… Tại sao lại quen thuộc như vậy?
Nàng nhảy xuống giường nhìn quanh, không khỏi ngây người. Bên ngoài là một tòa Phật đường quen thuộc thờ tượng Phật A Di Đà, rõ ràng đây là viện Bồ Đề ở chùa Hưng Đường! Là thiền phòng mà mình đã từng ở!
Lúc này thời gian như quay ngược, trở lại ngày nàng theo Huyền Trang đến viện Bồ Đề, đuổi Ba La Diệp ra khỏi sương phòng.
“Huyền Trang…” Nàng kêu một tiếng sợ hãi, vội vã chạy sang thiền phòng phía tây nơi Huyền Trang ở. Nàng lao tới đẩy cửa phòng ra, bên trong thiền phòng sạch sẽ, cả chiếc hòm đựng đầy kinh thư vẫn đặt ở góc tường cũng không thấy đâu nữa.
“Không ngờ lão hòa thượng đó lại thần thông quảng đại như vậy, Hoàng đế đến Hoắc Ấp, mười sáu vệ cấm quân tiếp quản việc phòng thủ, hắn lại có thể mang mình đến chùa Hưng Đường?” Lục La đột nhiên động tâm: “Hắn nói có thể hóa giải bế tắc trong lòng mình, có lẽ hắn làm được thật. Mình nhất định phải tìm được lão hòa thượng đó!”
Nàng vội vã chạy ra ngoài cửa, suối nước nóng trong viện vẫn sủi bong bóng ùng ục, hơi nước mang đầy mùi lưu huỳnh lơ lửng trên dòng suối nhỏ. Bên ngoài viện có tiếng bước chân lộn xộn vang lên rầm rầm, dường như có một đám người đang đồng thời chạy. Lục La thậm chí nghe thấy tiếng giáp sắt va đập vào nhau.
“Đây là tiếng binh giáp à?” Lục La đột nhiên kinh hãi. Những người từng trải qua loạn thế đương nhiên không lạ lẫm gì tiếng va chạm của những phiến áo giáp quân lính này. Đây rõ ràng là âm thanh diễu binh của một đội quân được trang bị hoàn mỹ.
“Mau! Đại tướng quân có lệnh, trong thời gian nửa nén hương phải chạy tới đỉnh núi bố trí canh phòng! Đỉnh núi tổng cộng hạ bảy trại, luân phiên phòng thủ!”
Xa xa vọng tới tiếng quát, âm thanh áo giáp va chạm càng trở nên mãnh liệt, tiếng bước chân nặng nề rầm rầm tựa như sấm rền bên cạnh viện Bồ Đề.
“Cuối cùng Hoàng đế đã đến chùa Hưng Đường…” Lục La ngơ ngác nghĩ: “Nhưng Huyền Trang ca ca đi nơi nào rồi?”
Cùng lúc đó, trong chùa Hưng Đường cũng có một đám người đang truy tìm tung tích của đại sư Huyền Trang.
Thiền viện Ma Cật tọa lạc tại vị trí có phong cảnh đẹp nhất trong chùa Hưng Đường, ngay sát Thập Phương Đài nơi Lý Thế Dân ở. Thiền viện Ma Cật chính là nơi ở của Bí thư giám Ngụy Trưng. Hoàng đế đang hào hứng đi tham quan chùa Hưng Đường cùng đám người Không Thừa, Quách Tể, nhưng trọng thần tâm phúc Ngụy Trưng lại ở lì trong thiền phòng, mặt mũi nhăn nhó xem xét vài món đồ rách nát đặt dưới đất: hai nan tre cháy đen, ba mảnh giấy khô vàng to bằng bàn tay, một mớ dây thép nhỏ bé, hai tấm da dê rách nát.
“Đại nhân!” Nguyên thứ sử Bồ Châu Đỗ Sở Khách, người vừa đến Tấn Châu nhậm chức đi vào, nhìn thấy dáng vẻ của Ngụy Trưng, không khỏi lắc đầu: “Còn chưa tra ra manh mối sao?”
“Đúng vậy!” Ngụy Trưng day huyệt thái dương, phiền muộn nói: “Hai quỷ sai đó sau khi cháy rụi chỉ để lại những thứ này, ta thực sự không nghĩ ra, nếu là người làm, chúng làm sao có thể đi lại trên trời, rồi hạ xuống đúng vị trí được chỉ định?”
Đỗ Sở Khách cười: “Ngài không nghĩ chúng thật sự là quỷ sai dưới âm ti sao?”
Ngụy Trưng nhìn hắn một cái: “Lão đạo ta làm đạo sĩ mười mấy năm, đương nhiên biết rất nhiều chuyện ma quỷ. Nhưng một khi ta đã tra thì luôn coi đó như chuyện con người làm ra.”
“Ha ha!” Đỗ Sở Khách là em ruột của Đỗ Như Hối, qua lại thân thiết với Ngụy Trưng. Hai người có thể nói chuyện rất thoải mái: “Có phải nhiều năm làm đạo sĩ, ngài cũng biết thứ gọi là âm ti đều là lừa đảo không?”
Ngụy Trưng hừ một tiếng: “Lão đạo sao có thể tự đập bát cơm của chính mình, chưa biết có khi mấy năm nữa ta về nghỉ còn phải hành nghề cũ, xem bói đoán mệnh cho nhiều người. Ta nghĩ như này, chuyện âm tào địa phủ bất kể có thực hay không, sức người cũng không có khả năng can thiệp. Còn ta đã can thiệp thì phải suy nghĩ từ góc độ do người làm ra. Nếu loại trừ khả năng do con người làm ra, thì chuyện này không còn nằm trong tầm khống chế của chúng ta nữa.”
“Lời này không sai, dù thế nào cũng phải bảo đảm an toàn cho bệ hạ”, vẻ mặt của Đỗ Sở Khách trở nên nghiêm túc: “Ngài đã nhìn ra được gì chưa?”
“Ngươi xem mấy mảnh giấy này, bên trên có chữ viết.” Ngụy Trưng nhặt một mảnh giấy đưa cho ông ta.
“Ví như bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, mè, tre, lau, đá, núi, bụi bặm trong cõi tam thiên đại thiên, cứ một vật làm một sông Hằng, rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, một hột cát làm một cõi nước, rồi trong một cõi nước cứ một hột bụi nhỏ làm một kiếp, rồi bao nhiêu số bụi nhỏ chứa trong một kiếp đều đem làm kiếp cả…” Đỗ Sở Khách đọc từng chữ, cau mày nói: “Đây giống như là kinh Phật.”
“Không sai. Ngươi học Nho gia, không nghiên cứu nhiều về Phật giáo, đây là một câu kinh văn trong ‘Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện kinh’. Kinh Phật nói Địa Tạng Vương Bồ Tát vốn là một người phụ nữ Bà La Môn vô lượng kiếp trước, sinh mẫu của bà tin tà ma, coi khinh tam bảo, vì vậy sau khi chết rơi xuống ngục Nê Lê chịu khổ. Nữ Bà La Môn này liền thề trước tượng Như Lai, nguyện từ nay cho đến đời đời, bao nhiêu chúng sinh mắc phải tội khổ, thì con sẽ tìm muôn ngàn cách giúp họ được giải thoát, sống trong an vui, thân tâm thư thái. Sau khi chuyển thế trở thành Bồ Tát, Địa Tạng Vương lại thề sẽ độ hết chúng sinh mới chứng bồ đề, địa ngục chưa trống, thề không thành Phật. Từ đó ở trong ngục Nê Lê độ hóa chúng sinh.”
“Ngài là đạo sĩ mà lại hiểu rất rõ về Phật gia…” Đỗ Sở Khách lẩm bẩm nói: “Nhưng mảnh giấy này thì có huyền cơ gì?”
Ngụy Trưng khổ não nói: “Lão đạo cũng không lý giải được! Xâu chuỗi lại một lượt, hai quỷ sai này có vẻ giống như đồ vàng mã, nhưng có mấy vấn đề. Đồ vàng mã làm sao có thể bay được? Làm thế nào để chúng hạ xuống đúng vị trí được chỉ định? Nếu như trong bụng chúng có đèn đuốc giống như đèn Khổng Minh, vì sao sau khi bị tên bắn thủng lại không bốc cháy hoặc rơi vỡ?”
“… Và còn một điểm nữa, chúng còn có thể nói được!” Đỗ Sở Khách bổ sung một điều.
Ngụy Trưng nhìn ông ta một cái: “Điều này thì lão đạo lý giải được rồi.”
“Ồ…” Đỗ Sở Khách chớp chớp mắt: “Như thế nào?”
“Phúc ngữ[*].” Ngụy Trưng cười lạnh: “Đồ vàng mã không có khả năng nói chuyện. Trong hoàn cảnh đó, khả năng duy nhất chính là người nói chuyện ẩn nấp giữa chúng ta, dùng phúc ngữ để nói. Phúc ngữ cao siêu hoàn toàn có thể khiến mọi người không xác định được vị trí người nói, mà nhầm tưởng rằng hai quỷ sai đó đang nói.”
[*] 60 Thuật phát âm bằng tiếng bụng.
Đỗ Sở Khách hoảng sợ: “Ngài cho rằng là…”
“Pháp Nhã!” Ngụy Trưng nói không hề do dự: “Lão hòa thượng này là nhân vật trăm ngàn năm khó có một người. Hắn học rộng tài cao, trí tuệ uyên thâm, không gì không biết, việc dùng phúc ngữ là chuyện hoàn toàn có khả năng. Làn ánh sáng màu vàng cuối cùng hắn bắn ra chính là một loại thuật che mắt để thiêu hủy vàng mã.”
Ông ta nhìn Đỗ Sở Khách như cười như không: “Nếu giải thích từ góc độ người làm thì chỉ có biện pháp này.”
Đỗ Sở Khách yên lặng một hồi, nói: “Nếu đúng là âm mưu của con người thì kế hoạch này quả thực kinh thiên động địa, quỷ thần cũng phải khiếp sợ. Một kế hoạch chu đáo tỉ mỉ như vậy, xem ra là muốn chúng ta từng bước rơi vào bẫy!”
Ngụy Trưng cười nhẹ: “Chúng ta đã rơi vào từ lâu rồi. Nếu như lão đạo đoán không sai, chùa Hưng Đường này chính là đầm rồng hang hổ cuối cùng. Tên huyện lệnh Quách Tể đó cũng rất khả nghi, nói là đang mùa xuân bận việc đồng áng, sức dân không đủ, huyện thành nhỏ hẹp chật chội, dâng biểu thỉnh cầu bệ hạ đến ở chùa Hưng Đường. Xem ra phía sau tấu biểu này có cao nhân chỉ điểm, hơn nữa Bùi Tịch ở bên cạnh té nước theo mưa, nói có thể mượn Phật khí của chùa Hưng Đường áp chế quỷ khí, bệ hạ liền vui vẻ lao đầu vào bẫy của chúng.”
“Ta hiểu rồi.” Đỗ Sở Khách nghiêm túc gật đầu: “Thì ra ngài và gia huynh khiến cho bệ hạ điều ta đến Tấn Châu là có dụng ý này.”
“Không sai.” Ngụy Trưng gật đầu: “Theo ta điều tra, đối phương đã lên kế hoạch này từ rất nhiều năm, chỉ sợ Hoắc Ấp, Tấn Châu đã thành tường đồng vách sắt. Vị trí thứ sử Tấn Châu nằm trong tay hiền tế của Bùi Tịch, ta thật sự không yên tâm, vì thế mới thừa dịp bệ hạ phát hỏa liền điều ngươi tới đây. Nhiệm vụ của ngươi chính là tọa trấn Hoắc Ấp. Việc phòng thủ Hoắc Ấp ta đã để Uất Trì Kính Đức cử hai hiệu úy tiếp nhận, nhưng về mặt dân sự bọn chúng không tiện can thiệp. Mấy ngày nay ngươi cứ ở trong huyện, tất cả việc điều động phải đích thân khống chế.”
“Đã rõ!” Đỗ Sở Khách gật đầu.
“Tìm được Huyền Trang chưa?” Ngụy Trưng hỏi.
Sắc mặt Đỗ Sở Khách hơi khó coi: “Ta sai người tìm trong chùa rất lâu mà không hề có bất kỳ tin tức nào, ngay cả ‘Người bất lương’ Ba La Diệp mà ngài bí mật bố trí cũng mất tích luôn. Ta đã đích thân hỏi Không Thừa, lão hòa thượng này nói đại sư Huyền Trang đã rời đi từ mấy ngày trước rồi. Viện Bồ Đề hiện giờ đang là nơi ở của Bùi Tịch. Trước khi Bùi Tịch chuyển vào, ta đã tự mình đến đó một chuyến, không phát hiện được bất kỳ điều gì.”
“Bùi Tịch…” Ngụy Trưng nheo mắt lại, lẩm bẩm nói: “Thật thú vị!”
Ông ta đột nhiên đứng lên: “Việc này không nên chậm trễ, chúng ta đã không nhìn thấu cách bố trí của đối phương thì tuyệt đối không thể để bọn chúng thảnh thơi phát động kế hoạch như vậy. Lão đạo đến tán gẫu với Pháp Nhã hòa thượng, kích thích hắn vài câu.”
Hai người lại bàn bạc một hồi, rồi cùng sánh vai rời khỏi thiền viện Ma Cật. Lúc này Pháp Nhã có lẽ đã cùng đi với hoàng đế lên đỉnh núi, hai người theo bậc thang đi lên. Qua Đại Hùng Bảo Điện không xa bỗng nhìn thấy Pháp Nhã từ đó đi ra.
“A Di Đà Phật, thì ra là Ngụy đại nhân.” Lão hòa thượng Pháp Nhã tươi cười, đứng xa xa thi lễ với hai người.
“Đại sư…! Ngài không đi cùng bệ hạ lên đỉnh núi sao?” Ngụy Trưng có chút ngạc nhiên.
Pháp Nhã cười khổ: “Lão nạp lớn tuổi rồi, đi đứng không tiện. Đi đến đây cũng đã eo mỏi lưng đau, đành phải rời khỏi thánh giá đến đây bái Phật, tiện thể nghỉ ngơi.”
Ngụy Trưng thấy lão hòa thượng này mặc dù da mặt nhăn nheo nhưng sắc mặt vẫn hồng, tinh thần quắc thước, trong lòng thầm mắng: “Lão quái vật nhà ngươi đi đứng không tiện? Có quỷ mới tin.” Nhưng ngoài mặt lại lộ vẻ thương xót: “Ôi, vậy thì đại sư phải hết sức chú ý. Chùa Hưng Đường mấp mô không bằng phẳng, chớ bất cẩn mà để vấp ngã. Thân thể của ngài sợ không chịu nổi.”
Pháp Nhã cười tủm tỉm: “Lão nạp sáu bảy mươi tuổi rồi, đời này lễ kính Đức Phật, chưa hề làm ác. Trong chùa này phật quang trăm trượng, làm sao có tiểu quỷ cản đường khiến lão hòa thượng vấp ngã chứ? Hơn nữa, chùa trong thiên hạ, mỗi khe mỗi hốc, mỗi gạch mỗi ngói đều nằm trong đầu lão nạp, cho dù nhắm mắt vẫn có thể đi.”
Đỗ Sở Khách rất hứng thú nhìn hai người này đấu võ mồm với nhau. Nếu Ngụy Trưng mưu lược thâm trầm, thì Pháp Nhã cũng được gọi là mưu tăng, từng tham dự chuyện quân chính cơ yếu của Lý Uyên, hai người này đấu đá nhau, sao còn chỗ cho mình nói chen vào.
“Ôi, đại sư này, chỉ lễ kính Đức Phật thì không được, còn phải lễ kính bệ hạ nữa!” Ngụy Trưng mơ hồ cười nói: “Nhân gian vạn thế, toàn bộ nằm trong bàn tay của bệ hạ. Hưng suy của mỗi môn mỗi giáo cũng phải xem hỉ nộ thiên tử. Người xuất gia mặc dù không có thân phụ, nhưng nhất thiết không thể không có vua.”
Pháp Nhã nheo đôi mắt già nua, chắp tay nói: “A Di Đà Phật, Ngụy đại nhân, kỳ thực theo lão nạp thấy thì đại nhân ngài và lão nạp lại là người cùng đường.”
“Sao lại nói như vậy?” Ngụy Trưng hỏi.
“Vô quân vô phụ, đối với lão nạp chẳng qua chỉ là giới hạn ở túi da trên người, còn đối với đại nhân ngài lại là khắc vào cốt tủy.” Pháp Nhã cười nói.
Nụ cười này ít nhiều có chút gai mắt, sắc mặt Ngụy Trưng sa sầm: “Đại sư, lời này từ đâu mà có? Tại sao ta lại không có vua, không có thân phụ?”
“Đại nhân trước kia xuất gia theo đạo, cũng giống như lão nạp, là bỏ trần duyên, nói không có thân phụ cũng không quá đáng chứ?” Pháp Nhã nói.
Ngụy Trưng im lặng. Khi ông còn nhỏ gia cảnh bần hàn, phụ mẫu cùng mất, sau đó dứt khoát làm đạo sĩ. Mặc dù do cuộc sống ép buộc, nhưng từ góc độ luân lý mà nói, ông quả thật đã từ bỏ trách nhiệm đối với phụ mẫu và gia tộc.
“Những năm Đại Nghiệp thời Tiền Tùy, đại nhân vốn là tiểu lại nhà Tùy, Tùy Dạng Đế đương nhiên là quân chủ của ngài. Đại nhân lại hàng Lý Mật, có thể nói là bỏ vua. Sau đó lại hàng Đường, bỏ vua lần nữa. Đại nhân được thái tử Kiến Thành hậu đãi, sau khi thái tử chết lại hàng Tần Vương, bỏ vua ba bận. Lão nạp nói đại nhân ngài là người không có vua, đại nhân có cho là đúng không?”
Lời này quả thực rất độc ác, Ngụy Trưng cực kỳ tức giận, lạnh lùng nói: “Trong mắt đại sư, Ngụy Trưng lại là loại người này sao?”
“Cũng không phải.” Pháp Nhã nghiêm mặt nói: “Đại nhân từ đạo vào nho, coi dân quan trọng, xã tắc thứ hai, vua xếp cuối. Vua là người đứng đầu tứ phương, bề tôi là nô bộc của thiên hạ, lại không phải nô bộc của vua. Đại nhân làm quan, vì bách tính thiên hạ, vua có quyền lựa chọn bề tôi, bề tôi cũng có quyền lựa chọn vua. Trong mắt đại nhân, không có vua, chỉ có thiên hạ, đúng chứ?”
Ngụy Trưng sững sờ, vẻ mặt phức tạp nhìn lão hòa thượng này, trong lòng giống như có sóng to gió lớn cuồn cuộn dâng trào. Không ngờ lão hòa thượng này lại là người thật sự hiểu được mình!
Chỉ sợ đến bây giờ, tất cả mọi người vẫn còn không hiểu. Năm đó Ngụy Trưng khuyên Lý Kiến Thành nhanh chóng trừ khử Lý Thế Dân, sau khi Kiến Thành thất bại, vì sao Lý Thế Dân lại dễ dàng tha cho Ngụy Trưng, thậm chí còn hết sức tiến cử. Bởi, chỉ có những người trong cuộc như Lý Thế Dân, Ngụy Trưng, Bùi Tịch, Phòng Huyền Linh mới thực sự hiểu cuộc tranh đấu huynh đệ năm ấy có ý nghĩa như thế nào đối với triều đình Đại Đường vừa thành lập.
Đó là một đại nạn!
Triều Đường vừa lập, dân sinh khó khăn, trước binh biến Huyền Vũ Môn lại ba năm hạn hán liên tục, triều đình rơi vào tình cảnh cùng quẫn. Mà các đại sự quốc gia như khuyến khích nông nghiệp, khôi phục sản xuất lại vẫn chưa thể nào thực hiện có hiệu quả, không có nguyên nhân khác, tất cả mọi tinh lực và sức chú ý của triều đình đều bị hút vào một đại sự là huynh đệ đoạt vị.
Trong lúc Ngụy Trưng cực kỳ lo lắng, đề nghị Kiến Thành giải quyết Lý Thế Dân càng nhanh càng tốt để ổn định dân sinh, đám người Phòng Huyền Linh chẳng lẽ lại không lo lắng như vậy? Trong triều đình khi đó, những đại thần nhìn xa trông rộng đều nghiêng theo hướng giải quyết tranh chấp huynh đệ nhanh nhất có thể, dù phải dùng đến thủ đoạn cực đoan cũng không hề tiếc, Lý Thế Dân đương nhiên hiểu rõ việc này.
Hắn hiểu Ngụy Trưng, trong lòng Ngụy Trưng không có vua, chỉ có thiên hạ. Ngụy Trưng có thể nhiều lần phản bội vua, bởi vì chủ nhân duy nhất trong lòng ông ta là thiên hạ. Ngụy Trưng có thể khuyên chủ nhân của mình giết chết huynh đệ, bởi đó là việc có lợi cho thiên hạ. Sau khi chủ nhân của mình chết, ông ta có thể lập tức phò tá người khác, cũng bởi mặc dù chủ nhân đã mất, thiên hạ vẫn còn.
Chính vì vậy, Lý Thế Dân đề bạt Ngụy Trưng không hề do dự, hắn biết đây là một bề tôi giỏi, một vị học giả thấm nhuần thế sự nhân tâm, cương thường luân lý. Chỉ cần mình làm đúng, ông ta sẽ trung thành với mình. Cho dù mình làm không đúng, ông ta cũng vẫn trung thành với thiên hạ Đại Đường và con cháu đời sau của mình!
Ngụy Trưng lẳng lặng nhìn lão hòa thượng trước mắt, ánh mắt hai người bình tĩnh chạm nhau, ánh lên ý vị sâu xa.
“Lão nạp giống như đại nhân, không vua không phụ, lại mang thiên hạ.” Pháp Nhã thở dài: “Chỉ có điều đại nhân là Nho gia, coi trọng tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, lão nạp lại là Phật gia, coi trọng giáo hóa lòng người, khiến lòng người hướng thiện, dân không sát sinh, không trộm cắp, không dâm tà, không ác khẩu, không báng bổ, không sân hận, không ăn uống vô độ, không làm trái phụ mẫu, hướng đến thế sự hài hòa.”
“Thế còn vua?” Ngụy Trưng trầm giọng hỏi.
“Vua, trong mắt ngài là cái gì, trong mắt lão hòa thượng là cái đó.” Pháp Nhã nói.
Trong lúc hai người nói chuyện, dưới chân họ là hang động tối tăm, sâu ba mươi trượng, dòng chảy ngầm đang cuồn cuộn, gió lạnh thổi từng trận, Huyền Trang và Ba La Diệp không biết đã bò bao lâu trong mật đạo chằng chịt. Hai người vốn bị mắc trong một chiếc túi lưới đan bằng dây thừng to lớn, có điều túi lưới này không làm khó được Ba La Diệp. Trên người hắn có mang theo đoản đao, cắt đứt dây thừng, cùng Huyền Trang bò ra. Sau đó hai người bám dây thừng leo lên, chui vào một mật thất bịt kín.
Mật thất này không lớn, bên trên có cửa bị khóa lại. Từ đó hai người liền bị kẹt ở nơi này. May là Thôi Giác không định để họ chết đói, ngày nào cũng có người đưa cơm, cũng không biết ở trong đó bao nhiêu ngày. Cuối cùng vẫn là Ba La Diệp thừa dịp người đưa cơm sơ sẩy, bí mật thắt đầu dây thừng mọi ngày dùng đưa cơm thành thòng lọng, ném lên thắt ngang thân người đó, rồi bám dây thừng leo lên cửa.
Sau khi đánh ngất người đưa cơm, Ba La Diệp kéo Huyền Trang đi lên. Hai người bắt đầu bò trong hang động chằng chịt. Hôm đó đột nhiên cảm thấy một cửa động phía trước có tiếng gió thổi, hai người vội vàng chui ra xem, lập tức kinh ngạc.
Trước mặt bọn họ là một hang động to lớn cao bốn năm mươi trượng, rộng tới một hai dặm. Bốn phía hang động có mười mấy dòng chảy ngầm mãnh liệt, chảy vào đầm nước ở chính giữa, bên trên đặt vô số máy móc. Có dòng chảy ngầm đổ thẳng vào một bánh xe có cánh quạt, cánh quạt quay tròn kéo theo một bánh răng to như cánh cửa, bánh răng lại ăn vào một xích sắt to bằng cánh tay chuyển động không ngừng. Số xích sắt này lên tới hàng trăm, dài đến mấy trăm trượng, đan xen chằng chịt, chạy xuống sâu dưới lòng đất tối tăm.
Hai người còn nhìn thấy một guồng nước to lớn lắp giữa những dòng nước xiết. Guồng nước này có sáu tầng trên dưới, mỗi một tầng đều có mười mấy bộ cánh quạt, tốc độ quay theo sức nước không giống nhau. Còn ở giữa guồng nước là một cột thép to lớn, cao vài chục trượng, người đứng bên cạnh nhìn như con kiến. Cột thép đó xuyên qua vòm đá trên đỉnh, cũng không biết đâm lên tới đâu, nhìn như lên đến tận trời.
Từ quãng đường hai người vừa bò có thể nhận định, toàn bộ phần bên dưới chùa Hưng Đường đã bị đào rỗng, đặc biệt là hang động có mười mấy dòng chảy ngầm hội tụ này dường như chính là trung khu động lực cơ giới khổng lồ. Những kết cấu to lớn này có thể nói xưa nay chưa từng thấy.
Trong lòng Huyền Trang và Ba La Diệp hết sức nặng nề, thảo nào Thôi Giác nói mình và Không Thừa mỗi người phụ trách một mảng. Chỉ riêng công trình dưới đất này đã khó xây dựng hơn chùa Hưng Đường bên trên cả trăm ngàn lần. Từ công trình khổng lồ này có thể thấy mưu đồ của bọn họ lớn thế nào.
Xem ra công trình trong hang động này đã hoàn thiện, không cần sức người cũng có thể tự động vận hành. Hai người ở đây rất lâu mà không thấy một bóng người. Trên thành hang xung quanh đục nhiều lỗ, có thanh gỗ bắt ngang to bằng cánh tay, tạo thành bậc thang chạy vài vòng quanh vách núi. Bên trên thành hang có hàng trăm hốc đá, trong mỗi hốc đá đặt một bình sứ, có lẽ là đựng dầu đèn. Bên trên có bấc đèn to bằng cánh tay trẻ con, hàng trăm ngọn đèn chiếu sáng rực cả hang động ngầm dưới đất.
Hai người từ cửa hang nhảy sang những bậc thang gỗ, theo bậc thang đi lên trên. Đi được một vòng rưỡi, còn cách đỉnh hang không đến mười trượng, đột nhiên nghe thấy có tiếng người huyên náo vọng đến. Ba La Diệp tìm kiếm một hồi, mới phát hiện phía trên bậc thang có một hang động, âm thanh từ hang động này vọng ra.
“Đại sư, làm thế nào bây giờ?” Ba La Diệp hỏi.
“Vậy thì ta có thể làm rõ bí mật của thế giới ngầm này. Đi xem một chút!” Huyền Trang nói. Ngài quan sát xung quanh, miệng hang này cao hơn bậc thang tám thước, hai người ai cũng với không tới. Cuối cùng Ba La Diệp ngồi xuống để Huyền Trang đứng lên vai mình trèo lên miệng hang trước. Huyền Trang nằm bò trên miệng hang, vặn tăng bào thành dây ném xuống, Ba La Diệp nắm lấy tăng bào trèo lên.
Trong hang rất tối, tiếng người dường như rất xa, lại dường như rất gần, chỉ thấy ù ù không thể nghe được là đang nói gì. Hai người không dám đánh lửa, chỉ lần mò bò theo hang vào bên trong. Ba La Diệp tay cầm đoản đao bò ở phía trước, hai người mệt đến mức thở hồng hộc. Bò nửa canh giờ, trước mắt đột nhiên có ánh sáng, tiếng người trở nên rõ ràng hơn. Dường như có vô số người đang nói chuyện rì rầm.
“Đại sư, có lẽ là đến sào huyệt của bọn chúng rồi.” Ba La Diệp hưng phấn vô cùng.
“Im lặng!” Huyền Trang thấp giọng quát. Cái hang này rất hẹp, âm thanh nhỏ đến mấy cũng sẽ bị phóng đại, nếu bị người bên trong phát hiện thực sự rất thảm.
Hai người hết sức thận trọng bò về phía trước năm sáu trượng, đột nhiên thấy có một cửa mái. Cửa mái này rộng ba bốn thước, nhìn xuống bên dưới dường như thấy một căn phòng rộng lớn, có ánh đèn sáng từ bên dưới hắt lên, in thành một quầng sáng trên đỉnh hang. Hai người lặng lẽ bò đến mép cửa, thò đầu nhìn xuống, lập tức sững sờ.
Bên dưới không ngờ là một đại lao!
Đại lao này rộng khoảng nửa mẫu, dùng song gỗ thô chia làm mười mấy ngăn nhỏ. Trong mỗi ngăn đều có bảy tám người, tổng cộng lên đến hơn trăm người. Hơn nữa còn được phân loại, có ngăn nhốt đàn ông, có ngăn nhốt phụ nữ, có ngăn nhốt người già, thậm chí còn có ngăn nhốt trẻ em!
Trong ngăn bên dưới đối diện “cửa mái” này có mười mấy người đàn ông hoặc nằm hoặc đứng, ánh mắt đờ đẫn, cả người uể oải, trong đó vài người đang ngồi nói chuyện với nhau, nghe giọng thì có vẻ là vùng Sóc Châu, Đại Châu ở phía Bắc đạo Hà Đông. Cửa mái cách mặt đất gần hai trượng, lớn hơn độ cao của hai người trưởng thành, vì vậy trên đỉnh lồng giam không hề có rào chắn, từ cửa mái có thể trực tiếp nhảy thẳng xuống.
Hai người thò đầu ra nhìn một lát, chưa hiểu tình hình, muốn nói nhưng lại không dám. Do dự một hồi, Huyền Trang nhẹ nhàng gõ vách đá. Âm thanh vừa vang lên, những người trong lồng giam kinh ngạc ngẩng đầu, nhìn thấy phía trên có hai người, lập tức ồn ào náo động.
“Hảo hán, hảo hán, mau cứu chúng tôi!” Một người đàn ông trung niên mừng rỡ, vẫy tay kêu cứu với họ.
“Suỵt!” Huyền Trang nói nhỏ: “Đừng nói nữa, nhỏ giọng một chút! Nơi này là nơi nào? Vì sao các vị lại ở đây?”
“Chúng tôi cũng không biết đây là đâu, quê nhà tôi ở huyện Đường Lâm, Đại Châu, đến đạo Kinh Kỳ buôn bán, trên đường gặp cướp, bị đánh một gậy hôn mê, lúc tỉnh lại đã đến chỗ này.” Người trung niên nọ hạ giọng nói.
“Tôi cũng vậy!” Một người đàn ông khoảng ba mươi tuổi nói: “Tôi là người Tĩnh Lạc, Lam Châu, một lần đang ngủ trong kho lúa ở nhà, không biết tại sao lúc tỉnh dậy lại đến chỗ này.”
Huyền Trang và Ba La Diệp đưa mắt nhìn nhau, đúng là quá tà môn. Chẳng lẽ là Thôi Giác bắt những người này đến đây sao? Hắn bắt nhiều dân thường như vậy làm gì?
“Các ngươi có ai biết đây là chỗ nào không?” Ba La Diệp cũng hỏi.
Một người đàn ông quần áo tả tơi trong đó nói: “Hai vị đừng hỏi nữa, tôi đoán nơi này là hang núi dưới đất. Tôi bị giam cầm thời gian dài nhất, đã một năm rồi vẫn không biết thực hư, người khác lại càng không biết.”
“Ngươi là ai?” Huyền Trang hỏi.
Người đàn ông kia cười hề hề: “Ta là Hiệu úy thủ hạ của Định Dương thiên tử.”
“Định Dương thiên tử?” Huyền Trang nhất thời không nhớ ra.
“Chính là Lưu Vũ Chu!” Người kia thấp giọng cười nói.
Lúc này Huyền Trang mới vỡ lẽ. Lưu Vũ Chu từng được Đột Quyết phong làm Định Dương thiên tử, có lẽ thủ hạ của hắn cũng xưng hô với hắn như vậy. Có điều ngoài bản thân Lưu Vũ Chu, các phản vương thời Tùy mạt ai cũng không coi thiên tử hắn ra gì. Bởi vì Đột Quyết phong quá nhiều thiên tử. Khi đó Hiệt Lợi Khả Hãn còn tưởng thiên tử là một chức quan to của người Hán, chỉ cần có thế lực người Hán cát cứ đến nương tựa là hắn đều phong cho làm thiên tử. Lương Sư Đô, Quách Tử Hòa cũng từng làm thiên tử Đột Quyết, ngay cả Lý Uyên suýt chút nữa cũng được hưởng đãi ngộ này.
“Mười năm trước ta theo Lưu Vũ Chu và Tống Kim Cương tấn công đạo Hà Đông, chẳng bao lâu đã bị Lý Thế Dân đánh bại ở Bách Bích, quân đội tan tác, hai vương gia trốn, mấy trăm huynh đệ bọn ta không trốn được liền vào núi làm sơn tặc, nhiều năm đánh người cướp của, cũng xem như sung sướng. Không ngờ ba năm trước phủ Thái Nguyên phát binh vây quét, bị bắt làm tù binh. Sau đó có một đại nhân vật bỏ tiền mua bọn ta, nhưng bọn ta vẫn bị trói và bị bịt mắt bằng khăn đen mang đến đây thi công công trình dưới hang ngầm.” Tên cựu hiệu úy của Định Dương thiên tử này từng làm tướng cướp, sau đó làm nô lệ, bây giờ lại làm kẻ tù tội, vẻ mặt bất cần đời: “Các huynh đệ bị mệt chết, bị thương chết hơn trăm người. Còn lại sau khi làm xong công trình liền bị giam tại nơi này.”
“Những người khác đâu? Ở đây còn có các huynh đệ của ngươi không?” Huyền Trang hỏi.
“Không còn, thỉnh thoảng có người đến chọn mấy người đưa đi.” Người kia ngẩng đầu lên thấy tấn hương trên đỉnh đầu Huyền Trang, đột nhiên cười: “Thì ra là một hòa thượng… Ờ… Hòa thượng này, ta cũng không biết ngươi làm sao lại đến nơi này, có điều nếu ngươi không phải người của bọn chúng vậy thì coi như xui tận mạng rồi. Cai ngục ở đây, mẹ kiếp, bọn chúng không phải người, thường xuyên hành hạ người đang sống sờ sờ đến chết. Hơn nữa nơi này ở dưới đất, xung quanh phong tỏa chu đáo, mật đạo đan xen, ngươi không thể nào trốn thoát được đâu.”
Huyền Trang nhíu mày, đang định hỏi tiếp, đột nhiên phía sau vang lên một tiếng cười lạnh, có người quát: “Xuống…”
Hai người hồn vía lên mây, còn chưa kịp quay lại đã cảm thấy hai chân bị người khác nhấc lên, người bị đẩy ngã cắm đầu xuống đại lao. Hai người kêu lên, liều mạng bám lấy khung cửa mái, người treo lơ lửng giữa không trung, thấy trong hang phía sau xuất hiện hai người áo đen đeo mặt nạ.
Hai người áo đen đó ngẩn ra, có thể là không ngờ hai người này lại có thân thủ linh hoạt như thế, lập tức co chân đá vào tay bọn họ. Hai người đau tay kêu lên một tiếng, cùng ngã xuống dưới. Các tù nhân bên dưới kêu lên né tránh, hai người ngã thẳng xuống đất, cảm thấy ngũ tạng lệch vị trí, khó chịu suýt nữa hộc máu.
Hai người áo đen đeo mặt nạ nhìn xuống dưới, đột nhiên kinh ngạc kêu một tiếng: “Tại sao lại có một hòa thượng? Ơ, còn có cả một người Hồ nữa! Lạ thật, chẳng lẽ có người ngoài lẻn vào? Mau đi bẩm báo đại tổng quản!”
Hai người quay đầu bò theo hang đá ra bên ngoài.
Huyền Trang và Ba La Diệp nằm một hồi lâu mới thấy đỡ. Hai người đưa mắt nhìn nhau, đều cảm giác trong miệng đắng ngắt. Tại sao lại không chú ý phía sau chứ? Thực ra cũng không trách bọn họ được, hai người đã đi khắp trung khu động lực và các hang động ngầm mà không hề thấy bóng người nên mới cho rằng không có đội tuần tra.
“Hai vị này, chúc mừng chúng ta trở thành đồng liêu.” Vị cựu hiệu úy lười nhác cười nói.
Hai người bò dậy, đều không biết nói sao.
Huyền Trang nhìn quanh, mấy lồng giam bên cạnh cả nam lẫn nữ đều hờ hững nhìn họ, ánh mắt ngơ ngẩn, tê liệt, không hề có một chút cảm xúc nào. Ngài không khỏi thắc mắc: “Bọn chúng bắt nhốt bao nhiêu người ở đây làm gì?”
“Đàn ông đương nhiên là làm khổ sai.” Cựu Hiệu úy hừ một tiếng: “Các ngươi chắc hẳn cũng đã nhìn thấy những cơ quan ở Cửu Long Khẩu rồi, công trình khổng lồ đó là dựa vào xương máu của bọn ta chồng chất lên mà thành đấy.”
“Thì ra cái hang đó gọi là Cửu Long Khẩu.” Huyền Trang gật đầu: “Thế còn những phụ nữ và trẻ em này?”
Cựu hiệu úy lắc đầu: “Lão tử cũng không biết. Chỉ biết cứ một thời gian bọn chúng lại mang đi vài người, từ đó không quay về nữa. Hôm nay hình như là cũng đến thời gian rồi.”
Còn chưa nói xong đã nghe thấy phía xa xa có tiếng mở khóa rầm rầm, sau đó có tiếng ken két vang lên. Huyền Trang và Ba La Diệp từ trong song sắt lộ ra nửa khuôn mặt ngó nhìn, có thể lờ mờ thấy cách mấy trăm bước có một cánh cửa sắt vừa được mở, từ đó vọng tới tiếng nói: “Đại tổng quản có lệnh, mang hai nam giới khỏe mạnh đi.”
Một người có vẻ là lính cai ngục nói: “Đúng là lệnh của đại tổng quản. Lão Hoàng, lúc về nói tốt vài câu với đại tổng quản, lão tử đã bảy tám ngày không được ra ngoài rồi, dù sao cũng nên cho lão tử ra ngoài hít thở một chút chứ!”
“Được thôi. Chỉ cần ngươi thua ta ba mươi quan trên chiếu bạc, ta sẽ nói khó giúp ngươi.” Người đó cười nói.
“Có cái rắm ấy. Tiền lương tháng này của lão tử đã thua mất bốn quan rồi. Có để cho người ta sống nữa không?” Lính coi ngục cực kỳ tức giận.
Ngoài cửa có tiếng cười vang lên: “Ai bảo ngươi mang lịch canh gác ra làm tiền đặt cược? Ngươi cứ ngoan ngoãn canh gác nốt nửa tháng nữa đi!”
Ba La Diệp lẩm bẩm nói: “Không ngờ lương của bọn chúng lại cao như vậy, một tên lính cai ngục mà lương còn cao hơn cả quan chính tứ phẩm.”
“Quan chính tứ phẩm lương tháng bao nhiêu?” Huyền Trang hỏi.
“Bốn quan hai trăm tiền.” Ba La Diệp trả lời. Ngày trước Thôi Giác xây dựng chùa Hưng Đường tốn kém quá nhiều khiến triều đình chú ý, lúc Ba La Diệp được Ngụy Trưng phái tới đã tìm hiểu kỹ bổng lộc của các quan chức phẩm bậc khác nhau.
Huyền Trang không nói gì, trong lòng cũng kinh ngạc. Gã Thôi Giác này rốt cuộc có bao nhiêu tiền của? Ngay cả một lính cai ngục bình thường mà thu nhập đã ngang với quan tứ phẩm, sợ là hắn còn giàu hơn cả triều đình thật.
Đúng lúc này bốn gã giáp sĩ đeo mặt nạ có răng nanh đã đứng trước lồng giam của bọn họ. Chúng mở cửa lồng giam ra. Hai người trong đó tay cầm trường đao canh gác coi chừng xung quanh, hai người còn lại tay cầm sào dài, đầu sào có một vòng thòng lọng. Ánh mắt lạnh như băng của bọn chúng nhìn một lượt bên trong, mọi người hoảng sợ dạt vào trong góc, rụt cổ ngồi xuống.
Huyền Trang và Ba La Diệp vẫn đứng ngẩn ra ở giữa, giống như hạc giữa bầy gà.
Hai tên giáp sĩ đeo mặt nạ liếc nhau, gật đầu. Cây sào trong tay vung lên, thòng lọng lồng vào cổ Huyền Trang và Ba La Diệp. Bọn chúng kéo mạnh một cái, cổ hai người bị siết lại, chân đứng không vững, bị kéo ra ngoài cửa lao. Hai người canh gác khóa cửa lao lại. Hai cây sào dài đến một trượng, hai người duỗi tay duỗi chân hết cỡ cũng không đấm đá được đối phương. Nhưng trong người Ba La Diệp có giấu đoản đao, hắn đang định thò tay vào ngực áo rút đao ra, Huyền Trang liền đá hắn một cái, không ngừng nháy mắt.
Ba La Diệp lập tức hiểu ý: Hai người sắp được dẫn tới gặp đại tổng quản ở đây.
Thế là hắn không còn vùng vẫy nữa, cùng Huyền Trang ngoan ngoãn để bốn người đó dùng sào kéo ra ngoài. Trên đường nhìn thấy trong các lồng giam hai bên có đến hai ba trăm tù nhân, ánh mắt Huyền Trang liếc thấy một đám trẻ con quần áo tả tơi, thân hình ốm yếu. Ngài chắp tay, trong lòng thầm niệm Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện kinh.
Trong lòng núi không có ngày tháng, không biết nhân gian đổi dời, không biết nhật nguyệt luân chuyển, tất cả ánh sáng đều đến từ những ngọn đuốc và đèn dầu trên thành hang. Ngọn lửa to lớn cháy bập bùng, bóng người kéo dài trên mặt đất không ngừng uốn éo giống như âm ti địa ngục.
Huyền Trang và Ba La Diệp bị bốn giáp sĩ đeo mặt nạ áp giải ra khỏi nhà tù này. Bên ngoài là một đường hầm rộng rãi, mặt đất và hai bên tường rất bằng phẳng. Đi khoảng hai dặm trong đường hầm quanh co khúc khuỷu đến bên cạnh một vách đá, hai người nhìn thấy bên cạnh vách đá có một chiếc lồng ngồi giống như trong thiền viện của Không Thừa, trên đỉnh có dây cáp to bằng cánh tay.
Bốn gã giáp sĩ cầm sào đẩy hai người vào trong lồng, sau đó nới thòng lọng ra, rút sào về, đóng cửa sắt lại. Một người nắm một sợi dây từ trên vách đá buông xuống rồi kéo mạnh, không biết từ chỗ cao bao nhiêu trên đầu có tiếng lục lạc vang lên, sau đó là tiếng dây xích chuyển động ken két.
Hai người đã từng ngồi lồng ngồi, nên tay vội vàng nắm chặt song sắt xung quanh, ngồi vững lại. Quả nhiên chiếc lồng ngồi lay động mạnh rồi bắt đầu từ từ chạy lên cao. Ba La Diệp lẩm bẩm nói: “Ta thề đời này không ăn thịt gà nữa.”
“Vì sao?” Huyền Trang tò mò hỏi.
“Chẳng lẽ ngài không cảm thấy bây giờ chúng ta rất giống những con gà trong lồng sao?” Ba La Diệp cười khổ: “Liên tục ngồi trong lồng hai lần, trong lòng ta bị ám ảnh.”
Huyền Trang yên lặng, cúi đầu nhìn xuống dưới, bỗng thấy chóng mặt, sợ là chiếc lồng đã lên cao vài chục trượng rồi. Ngài vội vàng nhắm mắt lại, lẩm bẩm niệm kinh. Ba La Diệp nhìn mà bội phục, hòa thượng này thật là bình tĩnh, trong hoàn cảnh này rồi vẫn còn có thể nhớ được kinh văn.
Sau thời gian cháy hết một nén hương, chiếc lồng ngồi chạy lên đến một cửa hang giữa vách núi, kêu két một tiếng thì dừng lại. Cửa hang có hai giáp sĩ đeo mặt nạ. Bọn chúng không nói một lời kéo chiếc lồng tới, mở cửa sắt ra hiệu cho hai người đi ra. Huyền Trang chui ra khỏi lồng trước, lập tức tên giáp sĩ đưa tay trùm một chiếc túi lên đầu ngài.
Trước mắt tối sầm không nhìn thấy gì.
Trên cổ lại bị thắt bằng thòng lọng một lần nữa, sau đó bị bọn chúng cầm sào kéo đi. Hai người đều không nói gì, im lặng đi theo. Không biết đi bao xa, rẽ trái rẽ phải bao nhiêu lần, hai người bỗng cảm thấy một luồng ánh sáng rất mạnh, dù bị trùm trong túi cũng có thể cảm nhận được sự mãnh liệt đó.
“Ha ha, đại sư Huyền Trang dạo này vẫn khỏe chứ?” Bên tai đột nhiên vang lên một giọng nói già nua. Huyền Trang lắng tai nghe, cảm thấy giọng nói này rất quen.
“Sao dám đối xử với đại sư như thế?” Người đó quát lớn: “Mau bỏ túi trùm đầu ra.”
“Vâng!” Giáp sĩ bên cạnh cung kính đáp, hắn bỏ chiếc túi trùm đầu của hai người ra. Trước mắt sáng bừng, Huyền Trang bất ngờ phát hiện mình đang ở trong một căn phòng sạch sẽ. Căn phòng này còn có cửa sổ, ánh sáng chói mắt từ bên ngoài chiếu vào, xem ra họ đang ở trên mặt đất.
Giữa căn phòng có đặt một chiếc sập, trên sập còn đặt đệm mềm. Giữa sập là bộ kỷ trà bằng lim đen, một ấm trà xanh đang bốc hơi nghi ngút. Dưới đất bên cạnh còn đặt một chiếc bếp lò nhỏ, bên trên có ấm nước đang sôi sùng sục. Bên cạnh bếp lò là một chiếc bàn ăn nho nhỏ, phía trên bày các loại điểm tâm đẹp mắt.
Mà trên chiếc giường có một lão hòa thượng ngồi xếp bằng, khuôn mặt gầy gò đầy những nếp nhăn. Huyền Trang sau khi thích ứng được với ánh sáng trong phòng mới thấy rõ hình dáng lão hòa thượng đó, ngài không khỏi kinh ngạc: “Thiền sư Pháp Nhã!”