Đại Đường Nê Lê Ngục

Lượt đọc: 5448 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VĨ THANH

Lý Thế Dân như người mất hồn, thất thểu trở lại Hoắc Ấp, đập vào mắt hắn là một ngôi nhà đang cháy hừng hực, vừa hỏi ra thì kinh ngạc không thôi, không ngờ đó là nơi Pháp Nhã bị giam cầm.

“Ai phóng hỏa?” Lý Thế Dân nổi giận. Thôi Giác đã chết, nếu Pháp Nhã cũng chết, mình làm sao có thể chứng minh giới âm ti là chân thật hay là hư ảo?

Hiệu úy trông coi cười khổ: “Khởi bẩm bệ hạ, người phóng hỏa chính là Pháp Nhã.”

Lý Thế Dân không nén nổi cơn giận, quay về phía đám cháy hét lên: “Pháp Nhã, ngươi là đồ hèn nhát, không dám đối mặt với Trẫm!”

Trong đám cháy vang lên một câu Phật kệ: “Phật pháp tại thế gian, không ngoài thế gian mà giác ngộ. Muốn lìa bỏ thế gian kiếm Bồ Đề, khác chi kẻ tìm lông rùa sừng thỏ. A Di Đà Phật!”

Ngay sau đó cả tòa nhà đổ sụp xuống, âm thanh ầm ầm át hết tất cả. Lý Thế Dân ngơ ngẩn như người mất hồn. Hắn biết mình không còn cơ hội chứng minh giới âm ti là thật hay ảo nữa rồi. Tất cả những dấu vết mà các bậc trí giả này để lại trên thế gian đều đã bị họ thẳng tay xóa sạch, kể cả tính mạng của bọn họ cũng không màng tới.

Lý Thế Dân chẳng còn lòng dạ nào tiếp tục tuần thú Hà Đông, vội vã trở lại Trường An, lập tức bãi miễn Bùi Tịch, cắt một nửa thực ấp, thả cho về quê Bồ Châu. Trải qua nhiều năm vất vả, cuối cùng Bùi Tịch coi như áo gấm về quê. Tuy nhiên hành động phản bội của Bùi Tịch trong kế hoạch này lại đắc tội với các tín đồ của Pháp Nhã, một vị tăng nhân tên gọi Tín Hành thường xuyên nói với thư đồng nhà Bùi Tịch: “Bùi công có phận trời, chính là tướng đế vương.”

Quản gia Cung Mệnh đem lời của Tín Hành nói với Bùi Tịch, Bùi Tịch vô cùng hoảng sợ, bí mật lệnh cho Cung Mệnh giết thư đồng đó diệt khẩu. Cung Mệnh không dám giết người, chỉ đem giấu thư đồng ấy đi. Sau đó, Cung Mệnh đắc tội với Bùi Tịch, liền đến tố giác với Lý Thế Dân.

Lý Thế Dân giận dữ, nợ mới nợ cũ cùng tính, hạ chiếu viết: “Tịch có bốn tội chết. Là tam công mà thân mật với yêu nhân Pháp Nhã, đó là tội thứ nhất. Sau khi xảy ra chuyện, cả giận tự xưng thiên hạ này có được do công mình, đó là tội thứ hai. Yêu nhân nói Tịch có phận trời, giấu mà không báo, đó là tội thứ ba. Bí mật giết người diệt khẩu, đó là tội thứ tư. Trẫm giết cũng không phải vô cớ, nhưng có nhiều người khuyên can nên cho lưu đày, Trẫm liền nghe lời can gián.”

Câu này sau đó được ghi lại trong “Cựu Đường thư - Bùi Tịch truyện”, trở thành kết luận về con người Bùi Tịch. Nhưng trong bốn tội trạng Lý Thế Dân đưa ra không có chuyện Bùi Tịch giết chết Lưu Văn Tĩnh, coi như nể tình hiến hết gia tài ở miếu phán quan mà giữ lại một mạng cho Bùi Tịch. Bùi Tịch bị lưu đày đến Tịnh Châu, Quảng Tây. Mấy năm sau Lý Thế Dân nhớ tình cũ gọi Bùi Tịch về Trường An, không lâu sau ốm chết, hưởng thọ sáu mươi hai tuổi.

Cùng lúc đó, chuyến dạo chơi âm ti hoàn hồn lần này ảnh hưởng sâu sắc đến Lý Thế Dân. Mặc dù hắn vẫn cố chấp cho rằng đó là âm mưu, nhưng lại không kìm được sự sợ hãi trong lòng, một đời tích cực xây dựng chùa chiền, siêu độ các vong hồn chết trong tay mình, còn đích thân hạ chiếu hối lỗi: “Giáo pháp của họ Thích, tôn sùng nhân từ, trong các cấm giới, sát sinh nặng nhất, có lời răn này, người đời hối lỗi. Nay Trẫm nghĩ lại, từ khi chinh phạt, tự tay giết chết, tính hết trước sau, có gần một ngàn, vì những người này, bố thí chúng sinh, thành tâm sám hối… Bao nhiêu kiếp nạn, vì đây giải thoát, nỗi khổ vạn kiếp, dứt tại kiếp này. Diệt tâm oán chướng, theo đạo Bồ đề.”

Năm Trinh Quán thứ hai mươi hai, Đường Thái Tông trong lòng sợ hãi vì trước kia đã giết huynh diệt đệ, liền hỏi vị tăng sư mà mình tôn trọng nhất trong đời là Huyền Trang: “Muốn trồng công đức, làm sao nhanh nhất?”

Năm Trinh Quán thứ hai mươi ba, lúc gần chết, Lý Thế Dân vẫn không yên tâm hỏi Huyền Trang chuyện nhân quả báo ứng. Hắn không tin mình sẽ chết trong năm nay, dù thân thể đã suy yếu vẫn kiên quyết phải dùng đan dược do phù thủy người Thiên Trúc là Sa Bà Mị luyện chế. Đối mặt với sự phản đối của triều thần, hắn nói: “Trẫm sớm đã nhận được thiên dụ, còn có mười năm tuổi thọ, sao lại chết vì thuốc của Hồ tăng được?”

Sau khi uống thuốc không lâu, thân thể hắn không chống đỡ được nữa, đột ngột băng hà.

Mùa hè năm Trinh Quán thứ ba, Huyền Trang trở lại Trường An, tá túc tại chùa Hồng Phúc, sau đó một lần nữa dâng biểu tới Lý Thế Dân xin cho mình tây du Thiên Trúc. Lần dâng biểu năm Trinh Quán nguyên niên không tính, lần này Lý Thế Dân đích thân triệu kiến Huyền Trang, hỏi rõ mục đích tây du của ngài, Huyền Trang nhất nhất trả lời.

Lý Thế Dân hết sức khâm phục, cảm khái: “So với Pháp Nhã, đường cầu Phật này của đại sư mới là Như Lai chính đạo! Đại sư sẵn sàng vượt qua Hạn Hải[*], đi qua mấy trăm nước, cầu được Như Lai chân pháp cho Đại Đường ta, Trẫm há có thể không thành toàn? Có điều đại sư cũng biết, giờ đây Tây Vực bất ổn, Đông Đột Quyết hùng cứ đại mạc, vó ngựa thường xuyên xâm lấn. Từ những năm Vũ Đức, để nghiêm phòng gián điệp mượn danh nghĩa khách buôn, triều đình đã hạ lệnh phong tỏa quan ải, tất cả mọi người và đồ muối sắt vải vóc đều không được phép xuất quan.”

[*] 66 Ám chỉ sa mạc Gobi.

Huyền Trang cười khổ: “Lai lịch của bần tăng bệ hạ biết rõ, không phải gián điệp, cũng sẽ không mang theo vải vóc muối sắt.”

“Trẫm đương nhiên biết.” Lý Thế Dân cũng cười, nhưng khuôn mặt nghiêm nghị: “Tuy vậy đại sư chu du cả nước, hiểu rất rõ hư thực các nơi của Đại Đường. Trẫm sợ vạn nhất đại sư bị dị tộc bắt giữ thì bản thân ngài sẽ là một tấm bản đồ sống! Huống hồ đại sư là danh tăng Đại Đường, nếu rơi vào tay địch, Trẫm biết phải trả lời người trong thiên hạ thế nào? Trẫm đã biết tâm nguyện to lớn của đại sư, mời đại sư đợi vài năm, đến lúc Trẫm thu hồi Hà Tây, đánh bại Đông Đột Quyết, nhất định sẽ để đại sư tây du.”

Huyền Trang không nói gì nữa. Đợi hắn thu hồi Hà Tây, đánh bại Đông Đột Quyết? Vậy thì phải đợi tới khi nào? Không biết chừng đến lúc đó râu mình đã bạc, thậm chí không xuống nổi giường nữa. Ngài nhiều lần khẩn cầu nhưng Lý Thế Dân vẫn không đồng ý, cuối cùng Huyền Trang đành phải bất mãn trở lại chùa Hồng Phúc.

Đến một sơn môn, đột nhiên sau lưng có một giọng nói nhỏ vang lên: “Huyền Trang ca ca…”

Huyền Trang run lên, vội vàng quay lại, thấy một thiếu nữ xinh đẹp đứng trong đám khách dâng hương, quả nhiên lại là Lục La!

“Lục La tiểu thư.” Huyền Trang vừa mừng vừa sợ: “Tại sao tiểu thư lại ở đây? Hôm đó từ biệt ở mật thất dưới chùa Hưng Đường, ngay sau đó cả chùa sụp xuống, bần tăng còn tưởng tiểu thư đã gặp bất trắc.”

“Ta gặp bất trắc thì chàng vui lắm sao?” Lục La lạnh mặt nói: “Từ nay không còn bám lấy chàng nữa, chàng thoải mái lắm đúng không?”

Huyền Trang lặng lẽ cười khổ.

Lục La lộ vẻ đau buồn, lẩm bẩm nói: “Hôm đó sau khi chàng kéo bệ hạ nhảy xuống Hoàn Dương Trì, ta đã gặp mặt phụ thân, và lập tức ta được bố trí đưa tới Tấn Châu ngay trong đêm đó. Đến tận ba ngày sau ta mới biết Hoắc Ấp xảy ra biến cố, chùa Hưng Đường sụp đổ, phụ thân chết rồi, mẫu thân chết rồi, ngay cả kế phụ cũng chết rồi… Trên đời này chỉ còn một mình ta lẻ loi, không còn chốn nương thân nào nữa. May mà được Mã điển lại giúp đỡ, ta mới có thể an táng song thân và kế phụ ở phía sau miếu phán quan trên núi Hoắc. Sau đó nghe nói chàng đến Trường An, ta liền vượt đường sá xa xôi tới tìm chàng, khó khăn lắm mới hỏi thăm được là chàng ở chùa Hồng Phúc này.”

Huyền Trang rất thương xót, thân thế của thiếu nữ này đúng là thê thảm. Ngài thở dài: “Sau này Lục La tiểu thư định làm thế nào?”

Lục La lắc đầu, vẻ mặt ngỡ ngàng: “Đã tìm được chàng rồi, ta lại đi theo chàng thôi!”

Huyền Trang ngớ ra, nhưng Lục La nói được thì làm được, từ đó liền đi theo Huyền Trang. Nàng không thể ở trong chùa Hồng Phúc nên xin ở trọ một ngôi nhà đối diện. Thôi Giác đã lo liệu tương lai cho nàng rất thoả đáng, chi phí sinh hoạt căn bản không cần suy nghĩ. Tiểu cô nương này liền ngày ngày chạy đến chùa Hồng Phúc, nói là dâng hương, kỳ thực là đến nhìn Huyền Trang.

Đến tháng tám mùa thu, vùng Trường An, các châu Quan Đông, Hà Nam, Lũng Hữu gặp nạn mưa đá và sương giá, hoa màu hỏng hết, dân đói khắp nơi, triều đình không có sức cứu tế, đành phái hạ lệnh có thể đi khắp nơi kiếm ăn, ở đâu có ăn cứ việc đến đó.

Hôm ấy, Huyền Trang nghe nói có rất nhiều nạn dân đi theo hướng tây đến Lũng Hữu, trong lòng chợt nghĩ: “Trà trộn vào trong nạn dân, chẳng phải có thể ra khỏi biên quan, đi đến Thiên Trúc hay sao?”

Ngài đã nghĩ là làm, chuẩn bị hành lý, làm thủ tục rời chùa Hồng Phúc. Không ngờ còn chưa ra tới cổng chùa, Lục La đã cầm hộp cơm chay đi đến trước mặt. Thấy ngài lưng đeo bọc hành lý như sắp đi xa, Lục La không khỏi kinh ngạc: “Huyền Trang ca ca, chàng định đi đâu?”

Huyền Trang không còn cách nào khác, đành phải nói với nàng kế hoạch trà trộn vào nạn dân trốn ra khỏi quan ải để đi đến Thiên Trúc của mình. Lục La nước mắt như mưa, đau khổ ngã khụy trên mặt đất khóc lóc: “Huyền Trang ca ca, chàng nói với ta, trên nhân thế này tìm một người có thể dựa dẫm tại sao lại gian nan như vậy?”

Huyền Trang thở dài một tiếng: “Tiểu thư quá cố chấp. Những điểm đặc sắc trên nhân thế, tiểu thư còn chưa từng trải nghiệm, lại ký thác hy vọng xa vời trên người một hòa thượng, rõ ràng là đom đóm trên ngọn tre, bắt thỏ để tìm sừng. Lục La tiểu thư, tiểu thư nhìn đằng sau bần tăng xem, thế gian rực rỡ, tiểu thư căn bản chưa hề nhìn thấy!”

“Ta không nhìn!” Lục La nổi giận nhảy dựng lên, giậm chân nói: “Ta vẫn phải đợi đến ngày chàng hồi tâm chuyển ý!”

Nàng ngẩng đầu nhìn Huyền Trang, đột nhiên rút ra một thanh đoản đao màu băng lam, lạnh lùng nói: “Đây là đao cong của Ba La Diệp, ta vẫn luôn mang theo bên người. Nếu không có được chàng, ta sẽ dùng thanh đao này kết thúc tính mạng của chính mình. Ta giết Ba La Diệp, sẽ dùng đao của hắn để đền mạng cho hắn!”

Huyền Trang toát mồ hôi, lại không biết hóa giải thế nào, vội nói: “Nhưng lần này bần tăng đi, mười phần thì có tám chín phần là sẽ bị Hạn Hải mênh mông nuốt chửng, khả năng không về được nắm chắc đến chín phần mười!”

“Ta mặc kệ!” Lục La nói kiên quyết: “Chàng quyết ý phải đi, ta cũng không có cách gì ngăn cản, nhưng chàng hãy nói với ta lúc nào chàng về, ta sẽ đợi chàng đến lúc đó! Nếu đến lúc đó chàng vẫn không về, ta sẽ dùng thanh đao này cắt đứt cổ mình!”

Huyền Trang thật sự không biết làm thế nào, đột nhiên nhìn thấy một cây tùng to lớn trước mặt, cành lá chỉ về phía tây. Ngài chỉ cây tùng quả quyết nói: “Bần tăng đi chuyến này, hoặc vài ba năm, hoặc dăm bảy năm, nhưng thấy cành tùng ở cổng chùa kia chỉ về hướng đông là lúc bần tăng trở về. Nếu không, bần tăng không về được nữa.”

Lục La nhìn cây tùng đó một lát, bình tĩnh gật đầu: “Huyền Trang ca ca, ta nhớ rồi. Ta sẽ luôn đợi ở đây, chờ đến ngày cành cây chỉ về phía đông…”

Huyền Trang không nói nữa, đeo bọc hành lý thẫn thờ bước đi. Đến khi bóng dáng ngài biến mất, Lục La vẫn si ngốc đứng dưới gốc cây, ngẩng đầu nhìn lên.

Huyền Trang mang hành lý một mình đi về phía tây, cũng không biết đã đi bao nhiêu ngày. Ngày nọ đi qua một thôn nhỏ ở Tấn Châu đột nhiên thấy dưới gốc cây liễu già bên giếng nước đầu thôn, một đám thôn dân tụ tập nghe một người đàn ông kể biến văn. Biến văn vừa phát triển mấy năm nay, chính là một dạng kể chuyện, có thể nói, có thể hát, nội dung phần lớn là chuyện trong kinh Phật, rất được bách tính ở tầng lớp thấp hoan nghênh. Một đám thôn dân vòng trong vòng ngoài vây kín người đàn ông đó, người mặc dù nhiều, nhưng tất cả đều nín thở tập trung nghe người kia kể.

Câu chuyện của người này, Huyền Trang lại chưa bao giờ nghe. Hắn kể bằng một giọng khàn khàn: “Hoàng đế kinh hãi nói, còn nhớ năm Vũ Đức thứ ba đến thứ năm, xảy ra sáu mươi tư trận chiến, Trẫm tự mình thân chinh, không trận nào không đi, không trận nào không đánh, giết người nhiều vô số. Ngày xưa tội nghiệt sâu, nay chịu tội chưa hết, Trẫm làm sao mới tìm về được sinh lộ? Lo lắng nếu không về…”

Huyền Trang đột nhiên ngẩn ra, năm Vũ Đức thứ ba, sáu mươi tư trận chiến, đây chẳng phải nói về thiên tử đương triều hay sao? Ngài dừng chân yên lặng nghe, người đàn ông kia kể tiếp: “Hoàng đế đến trước Tiêu Môn thì đứng lại, có người thông dịch cao giọng nói, ‘nay câu được sinh hồn của Lý mỗ, thiên tử Đại Đường’, có quỷ sai dẫn hoàng đế đến cửa đại điện thiết bái. Hoàng đế không bái lễ, trên điện có một người quát, ‘thiên tử Đại Đường Lý mỗ, sao không bái?’ Hoàng đế cao giọng mà nói, ‘kẻ bắt Trẫm bái là người nào? Trẫm tại Trường An chỉ nhận người khác bái, không quen bái người khác. Trẫm là thiên tử Đại Đường, Diêm La Vương là người quản ma quỷ, vì sao bắt Trẫm phải bái?’ Diêm La Vương bị mắng, lộ vẻ giận dữ. Hoàng đế hỏi, ‘Phán quan kia tên gì? Tới nói cho Trẫm hay’. Phán quan nói, ‘Thần họ Thôi, tên Giác’…*[*]”

[*] 67 Trích đoạn trong hồi thứ mười của Tây Du Ký.

Huyền Trang nghe đến đó cực kỳ kinh ngạc, không ngờ người đàn ông này lại kể chuyện Lý Thế Dân xuống chơi âm ti, ngay cả Thôi Giác cũng xuất hiện trong đó. Ngài vội vàng kéo áo một người đang nghe mê mẩn, hỏi: “Xin hỏi thí chủ, các vị đang nghe cái gì?”

Người kia không quay đầu lại, vội vàng nói: “Đường Vương nhập minh ký. Đây là biến văn mới nhất, kể về chính đương kim thiên tử!”

Huyền Trang ngơ ngác. Đúng lúc này đột nhiên có một thiếu phụ dung mạo đoan trang dắt một cậu bé hai ba tuổi khỏe mạnh kháu khỉnh từ trong thôn đi tới, đến bên ngoài đám người cười nói: “Trần lang, về nhà ăn cơm thôi!”

“Ai da, nương tử Trần gia tới rồi!” Những người xung quanh cười nói, nhanh chóng tránh đường. Người kể biến văn đi ra, dắt tay thê tử và tiểu hài tử, cười to: “Hôm nay dừng ở đây, về nhà ăn cơm thôi!”

Ba người dắt tay nhau cười đùa vui vẻ đi về trong thôn.

Huyền Trang nhìn rõ khuôn mặt người đó, như vừa bị sét đánh trúng, cả người ngơ ngẩn. Dù là mười năm, trăm năm, dù cả thế giới có thay đổi thế nào, ngài cũng sẽ không quên khuôn mặt ấy. Bởi vì khuôn mặt đó là ký ức tốt đẹp nhất của ngài sau tuổi lên mười, cùng ngài đi qua quãng thời gian khốn khó nhất trong cuộc đời, dẫn ngài đi theo con đường của Phật gia, trong thân thể cũng chảy dòng máu giống như ngài.

Đó chính là nhị ca mà ngài tìm kiếm bấy lâu, Trường Tiệp!

“Thiếu phụ kia chính là tam tiểu thư nhà họ Bùi, đứa bé kia chính là cháu của mình…” Nước mắt Huyền Trang bỗng chảy như suối tràn, sự cảm kích và vui sướng khiến ngài không thể khống chế được tâm tình của mình.

Lúc này ngài nhớ tới lời của Thôi Giác trước khi chết: “Nếu sau này gặp Trường Tiệp, nói với hắn, ta cảm ơn hắn, từ nay không còn hận hắn nữa.” Đột nhiên ngài hiểu được ý của Thôi Giác. Chính vì Trường Tiệp và Bùi Tương bỏ trốn làm triều đình chú ý mới khiến tình cảnh của Thôi Giác trở nên nguy hiểm. Để giữ bí mật không cho triều đình nhìn thấy dung mạo, Thôi Giác đành phải lột toàn bộ da mặt xuống, sau đó chế tạo thành mặt nạ da người rồi mới lại đeo lên mặt.

Chính là nỗi đau khổ bị ép hủy dung này mới khiến Thôi Giác căm hận Trường Tiệp. Nhưng cũng vì mấy năm trước hắn đã hủy dung, nên lúc Lý Thế Dân bắt được hắn cũng không có cách nào xác định thân phận. Âm ti hoàn hồn trở thành ác mộng vĩnh viễn không thể nào xóa mờ trong lòng đế vương, kế hoạch của Pháp Nhã và Thôi Giác mới may mắn đạt được thành công trong nguy hiểm trùng trùng!

Cũng chính vì thế, nỗi căm hận của Thôi Giác đối với Trường Tiệp cuối cùng mới tiêu tan, trước khi chết đã tha thứ cho Trường Tiệp.

Những lời đe dọa của Lý Thế Dân lại vang lên bên tai Huyền Trang: “Còn nhị ca của đại sư, thứ nhất đã rút lui giữa chừng, coi như biết điều, thứ hai Trẫm cũng không tìm được hắn. Đại sư hãy cầu mong cho hắn vĩnh viễn đừng để Trẫm tìm được đi!”

“Nhị ca!” Huyền Trang chăm chú nhìn theo bóng dáng Trường Tiệp đang đi xa, qua làn nước mắt nhạt nhòa, lẩm bẩm nói: “Chúc nhị ca vĩnh viễn không bị hoàng đế tìm ra được!”

Ngài cười dài một tiếng, lau khô nước mắt. Trong gió bụi, bóng dáng cô đơn chậm rãi bước lên con đường tây du.

Cũng không biết đã qua bao nhiêu năm, Đại Đường trở nên cường thịnh, thành Trường An trở thành kinh đô vĩ đại nhất trên thế giới này. Thiếu nữ xinh xắn năm xưa giờ đây đã trở nên tiều tụy, tóc bạc từ sớm, lại vẫn ở bên chùa Hồng Phúc, trông coi cây tùng cổ thụ già nua trong chùa. Ngày nào nàng cũng đi tới dưới gốc tùng, đau đáu nhìn cành tùng chĩa về hướng tây, không ngừng thì thầm: “Huyền Trang ca ca, chàng đã hứa với ta, hoặc vài ba năm, hoặc dăm bảy năm, cứ hễ thấy cành tùng ở cổng chùa quay về hướng đông là chàng trở về. Bây giờ đã qua hai lần dăm bảy năm rồi, vì sao chàng còn không về…”

Người đi đường và khách dâng hương sợ hãi nhìn người phụ nữ điên khùng này, tất cả đều đi vòng để tránh cho xa, tiếng xì xào bàn tán không ngừng truyền đến: “Bà điên này lại đến rồi!”

“Vì sao ngày nào cũng đến đi quanh dưới gốc cây tùng này?”

“Ông không biết à? Nghe nói người phụ nữ này đã quanh quẩn dưới gốc cây này mười sáu năm rồi. Các tăng nhân trong chùa nói, từ năm Trinh Quán thứ ba, bà ta ngày ngày đến gốc cây này quanh quẩn, bây giờ đã là năm Trinh Quán thứ mười chín, chẳng phải cũng mười sáu năm rồi hay sao?”

“Không biết bà ta bị điên hay là ngớ ngẩn? Chuyện này rốt cuộc là thế nào?”

“Không ai biết, bà ta không bao giờ nói chuyện với ai, chỉ ngày ngày đi vòng vòng dưới gốc cây, lẩm bẩm tự nói. Ai cũng nghe không hiểu bà ta nói cái gì.”

Đột nhiên đám người trở nên ồn ào, mọi người tới tấp ngẩng đầu lên: “Nhìn kìa, bà ta trèo lên cây rồi!”

Mọi người trợn mắt há mồm nhìn, thấy người phụ nữ đó trèo lên cây, trong tay cầm một thanh đao cong, mặt đao lóe lên ánh sáng lạnh lẽo, ra sức chặt cành tùng chĩa về phía tây. Trên lưỡi đao cong có hoa văn kỳ lạ, thoạt nhìn cực kỳ sắc bén, một đao chém xuống, một nhánh tùng to bằng cánh tay lập tức rơi xuống. Người phụ nữ đó dường như đang lên cơn điên, không ngừng gào thét điên cuồng: “Chàng lừa ta! Chàng lừa ta! Vì sao chàng còn không về…”

Nàng vừa khóc vừa chặt, cành cây đó đã bị chặt tan tành. Nàng nhảy từ trên cây xuống, si ngốc nhìn cây tùng cổ thụ: “Huyền Trang ca ca, chàng đã nói, thấy cành tùng trong sơn môn chỉ về hướng đông là chàng trở về. Chàng xem, cành tùng quay về hướng đông rồi…”

Mọi người kinh ngạc nhìn lại, quả nhiên sau khi cành tùng to nhất bị chặt xuống, chỉ còn lại một cành chĩa về phía đông.

Người phụ nữ ôm gốc cây từ từ trượt xuống ngồi dưới đất, nhìn lên cành tùng, si ngốc cười nói: “Huyền Trang ca ca, cuối cùng chàng đã về rồi…”

« Lùi
Tiến »