Đại Đường Nê Lê Ngục

Lượt đọc: 5419 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
cần sa và mạn đà la

Một câu nói này đã khiến cho lòng dạ Huyền Trang rối bời.

Cố phu của Lý phu nhân là Thôi Giác? Sau khi Thôi Giác chết, bà ta lại tái giá với huyện lệnh kế nhiệm? Cũng có nghĩa là, vị huyện lệnh Quách Tể này không chỉ tiếp nhận chức quan của Thôi Giác, tiếp nhận viện trạch của Thôi Giác, mà còn nhận luôn cả thê tử và nữ nhi của Thôi Giác hay sao? Cũng có nghĩa là, vị Lý phu nhân này, cố phu của bà ta từng treo cổ tự sát tại tòa viện này, sau khi tái giá bà ta lại vẫn ở đây, thậm chí còn ngủ trên chính chiếc giường mình từng ngủ cùng với chồng cũ, dùng những đồ chồng cũ từng dùng, mỗi ngày đều đi qua gốc cây mà chồng cũ đã treo cổ…

Huyền Trang bất chợt cảm thấy sởn gai ốc.

Thảo nào hôm đó nhắc tới Thôi Giác, vẻ mặt Quách Tể lại khó coi, khó xử đến như vậy. Thảo nào ông ta lại điều tra tỉ mỉ về những chuyện thần bí của Thôi Giác, xem hết từng chồng văn án. Quách Tể khi đó có nói rằng ông ta không biết nhiều về tình hình của Thôi Giác, chỉ sợ là vì ông ta không muốn nói. Có điều nghĩ lại thì như vậy cũng là lẽ thường, chẳng lẽ ngài đến điều tra về chồng cũ của phu nhân nhà người ta, người ta còn gọi phu nhân ra cho ngài vặn hỏi?

Nếu như lúc trước chuyện giữa nhị ca và Thôi Giác khiến Huyền Trang cảm thấy thật mơ hồ và nan giải thì từ thời khắc này trở đi ngài lại như người đang đi lạc giữa màn sương mù dày trăm trượng, bỗng dưng mất hết cảm nhận về phương hướng.

Ngài khẽ nhắm hai mắt lại, cẩn thận suy nghĩ về chuyện này, bất chợt hiểu được lý do Lý phu nhân lại có thái độ hờ hững, lạnh nhạt đối với mình như thế. Căn bản trông ngài và nhị ca có nhiều nét giống nhau, Lý phu nhân vừa thấy mặt ngài đã lộ rõ vẻ kinh ngạc và có điểm quái dị, chưa gì đã gặng hỏi tỉ mỉ về lai lịch của mình. Như vậy thì có khả năng là năm xưa bà ấy đã nhìn thấy nhị ca Trường Tiệp của ngài.

Trường Tiệp bức tử chồng bà ấy, bảy năm sau một hòa thượng tướng mạo hao hao Trường Tiệp lại xuất hiện trước mặt mình, chỉ e là không chỉ mình bà ấy, mà bất kỳ ai liên quan cũng đều sẽ phải vặn hỏi, chất vấn ngài một chặp mới chịu được. Vậy thì bà ấy lạnh nhạt với ngài cũng không lấy gì làm lạ. Dù sao thì nhị ca nhà mình đã bức tử phu quân người ta, người ta không trút giận lên người mình đã là chuyện hiếm thấy rồi.

“Ba La Diệp.” Huyền Trang mở mắt ra, trầm giọng nói: “Ngươi đi bẩm báo với Lý phu nhân, nói là Huyền Trang cầu kiến.”

“Sao, ngài phải, gặp bà ta?” Ba La Diệp chợt hiểu ra ý định, hắn ngây ra một lát, rồi vội vàng nghe lời sai bảo, nhảy xuống giường chạy ra ngoài.

Huyền Trang chậm rãi đặt cuốn “Thành Thực Luận” xuống, âm thầm sắp xếp lại các suy nghĩ trong lòng, nhất thời rơi vào trạng thái trầm mặc.

Sau một lúc lâu, Ba La Diệp chạy tới nói: “Đại sư, Lý phu nhân, đợi ngài, ở tiền sảnh.”

Từ sương phòng đến tiền sảnh chỉ có vài bước đường, vừa ra cửa đã nhìn thấy Lý Ưu Nương đứng trên bậc thềm. Khuôn mặt bà bình thản, thân hình mảnh dẻ như một đóa hoa sen cô độc. Thấy Huyền Trang đi tới, bà gật đầu: “Mời đại sư đi cùng thiếp thân.”

Hai người một trước một sau chậm rãi đi qua cửa tròn ở phía tây đến hậu hoa viên của huyện nha. Vườn hoa rộng chừng năm mẫu, ở giữa là một hồ nước áng chừng khoảng hai mẫu, hoa súng nở đầy trên mặt hồ, một con ếch nhỏ mới từ dưới bùn chui lên, hưởng thụ không khí sau một mùa đông dài, nó ngồi yên trên lá súng, không hề nhúc nhích. Giữa hồ có đảo, trên đảo có đình, cùng một cây cầu đá bắc từ bờ hồ ra đảo.

Lý Ưu Nương vừa bước lên cầu đá, đột nhiên dừng lại, nhìn khung cảnh xanh biếc xung quanh, lẩm bẩm nói: “Thiếp thân ở tòa huyện nha này đã được mười hai năm. Mỗi một gốc cây một ngọn cỏ nơi đây đều giống như một phần thân thể của thiếp thân. Đại sư, ngài nói xem, giờ khắc này thiếp thân bước lên cầu đá sẽ cảm thấy thân thuộc hay là xa lạ?”

“A Di Đà Phật!” Huyền Trang nhất thời không biết nên trả lời thế nào.

“Tay trái ngài sờ tay phải của ngài sẽ có cảm giác gì?” Lý Ưu Nương cười buồn bã: “Không có cảm giác. Không có gì lạ cả, cũng chẳng thấy vui vẻ gì, ngài chỉ biết được là chúng đang tồn tại vậy thôi. Nơi này giống như tay trái của thiếp thân, là một bộ phận trên người thiếp thân. Ngài cắt một nhát dao, thiếp thân sẽ thấy đau. Ngài chặt đứt nó, thiếp thân sẽ đau đến ngất đi. Nhưng bình thường khi nhìn bằng mắt, sờ bằng tay, thiếp thân lại chẳng cảm thấy gì hết.”

Huyền Trang thở dài nói: “Phàm là người càng để tâm suy nghĩ, càng nghĩ càng thấy loạn. Nói vòng vo thì mệt, nói thẳng mới nhẹ lòng. Phu nhân đây vốn là để tâm quá nhiều, nên mới chẳng thể nghĩ thông. Một chuyện thật, mọi chuyện tất thảy đều là thật; một chuyện giả, tất thảy đều là giả. Thứ ám ảnh phu nhân là hư hay là thực, đến tự bản thân người còn chẳng phân biệt nổi, vậy sao có thể cảm nhận được gì đây?”

“Đại sư quả nhiên thiên lý thâm hậu, khó trách sao danh tiếng lại vang dội như thế.” Lý Ưu Nương ngạc nhiên nhìn ngài, rồi lại trầm giọng nói: “Thiếp thân biết rõ mục đích đại sư tìm mình. Từ hôm nhìn thấy đại sư, thiếp thân đã biết một ngày nào đó đại sư sẽ đến tìm mình.”

“Có nhân ắt có quả. Bần tăng cũng như phu nhân, dù là ai cũng không trốn tránh được nhân quả tuần hoàn.” Huyền Trang nói.

“Đúng vậy!” Lý Ưu Nương thở dài: “Đại sư có nghi hoặc gì cứ việc hỏi.”

“Bần tăng chỉ muốn biết nhị ca Trường Tiệp của mình và Thôi huyện lệnh rốt cuộc có quan hệ thế nào? Bây giờ nhị ca của bần tăng đang ở đâu?”

Đã trút bỏ gánh nặng tâm lý, Lý Ưu Nương cũng không giấu giếm nữa, thản nhiên nói: “Hai người họ chẳng có quan hệ gì cả. Năm xưa khi Thôi lang ẩn cư trong núi, thiếp thân và Thôi lang đã thành hôn. Khi đó thiên hạ đại loạn, cuộc sống trong núi cô quạnh, gần như không qua lại với người khác. Sau đó đến huyện Hoắc Ấp này, Thôi lang hầu như chỉ kết giao với người của triều đình. Khi đó Thôi lang chuẩn bị xây dựng chùa Hưng Đường, chuyện tiếp xúc với các tăng lữ Phật gia cũng không có gì lạ, nhưng đại đa số đều là hòa thượng của chùa Hưng Đường, rất hiếm thấy các tăng lữ từ nơi xa đến. Nhị ca Trường Tiệp của đại sư cũng coi như là tăng sĩ có danh vọng, nếu họ có kết tình giao hảo, thiếp thân nhất định phải biết. Chỉ có đêm hôm đó, Trường Tiệp đi tới huyện nha, đến vội vàng, đi cũng vội vàng, mang theo tính mạng của phu quân thiếp thân. Khi đó thiếp thân nghe nói có một hòa thượng đến đàm thiền với phu quân mình, liền mang theo nữ nhi đến phía sau bình phong nhìn lén. Hình dáng tướng mạo của người đó…” Lý Ưu Nương cắn cắn môi: “Thiếp thân vẫn khắc cốt ghi tâm. Mấy ngày trước nhìn thấy đại sư mới phát hiện hai người rất giống nhau.”

Huyền Trang im lặng một lát rồi hỏi: “Phu nhân có biết những chuyện lạ sau khi Thôi huyện lệnh qua đời không?”

“Sao có thể không biết được.” Lý Ưu Nương nói nhỏ: “Thiếp thân cũng không đến nỗi ngu ngốc. Từ khi tình cờ gặp nhau tại Ích Châu, thiếp thân đã quyết định đi theo Thôi lang tới Hà Đông. Thành hôn mười năm, trừ thời gian chung sống sớm chiều ở trong núi, sau khi trở thành huyện lệnh, Thôi lang thức khuya dậy sớm, vất vả việc công, thời gian ở cùng đồng liêu còn nhiều hơn thời gian ở bên thiếp thân, lo lắng cho bách tính trong huyện còn nhiều hơn lo lắng cho thiếp thân và nữ nhi. Ngài có thể tưởng tượng được không? Từ nội trạch đến nha môn chỉ có vài bước chân, vậy mà Thôi lang có lúc ba ngày ba đêm không về nhà, ở công đường phê duyệt công văn. Thậm chí sau khi qua đời, Thôi lang cũng vẫn lo cho cuộc sống của bách tính. Chàng có thể xuất hiện trong giấc mơ của rất nhiều bách tính, nhưng lại chưa từng xuất hiện trong giấc mơ của thiếp thân…”

Huyền Trang đương nhiên không thể hiểu được những lời oán thán chốn khuê phòng này. Ngài nhíu mày: “Phu nhân đã từng đến miếu phán quan trên núi Hoắc chưa?”

“Thiếp thân đến chỗ đó làm gì?” Lý Ưu Nương lạnh lùng đáp: “Chàng không tự tìm đến trong giấc mơ của thiếp thân, thiếp thân lại phải đến thăm chàng hay sao?”

Huyền Trang hoàn toàn không hiểu gì về tâm sự của phụ nữ, lòng bỗng dấy lên cảm giác nghi hoặc: “Phu nhân đã oán hận Thôi huyện lệnh như vậy, tại sao vẫn còn ở lại trong ngôi nhà này?”

Lý Ưu Nương yên lặng một hồi lâu, đi tới ngồi xuống bên cạnh chiếc trống đá trong đình nghỉ mát, dựa người vào lan can, buồn bã nói: “Người hỏi trong núi có gì đây? Đáp rằng đỉnh núi nhiều mây trắng. Chỉ có thể tự mình vui ngắm. Chẳng thể gom tặng được cho người*[*].”

[*] 31 Tên bài thơ “Chiếu vấn sơn trung hà sở hữu phú thi dĩ đáp” (tạm dịch: Làm thơ hồi đáp việc chiếu vua ban xuống hỏi trong núi có gì) của Đào Hoằng Cảnh.

Đây là thơ của Đào Hoằng Cảnh thời Nam Triều, người được dân gian gọi là “Tể tướng trong núi”. Tề Cao Đế hạ chiếu chỉ mời ngài rời núi, hỏi ngài trong núi có gì đáng lưu luyến. Ngài đã trả lời lại bằng bài thơ này. Ý của Lý Ưu Nương muốn nói, chính là cảm giác ở đây tự ta nhìn rõ, tự ta thấy thích, lại không có cách nào để cho người khác hiểu được.

Thấy Huyền Trang im lặng, Lý Ưu Nương lắc đầu, thở dài nói: “Thôi lang vẫn mang chí hướng vì thiên hạ, tiền bạc vốn chẳng dư dả gì. Sau khi làm huyện lệnh Hoắc Ấp, lương tháng hai quan một trăm tiền cũng chỉ đủ sống qua ngày, sau khi chàng mất, cuộc sống lại càng khó khăn, may mà quan phủ phân cho ba mươi mẫu ruộng vĩnh nghiệp nên hai mẹ con thiếp thân mới có thể qua ngày. Quách tướng công thấy thiếp thân đáng thương, không chê thiếp thân là quả phụ mà vẫn lấy làm vợ, nên thiếp thân lại ở trong hậu trạch của tòa huyện nha này. Bình thường nhìn cảnh nhớ người, lẽ nào lại không thương cảm. Có điều mỗi một tấc ở đây đều lưu giữ bóng dáng Thôi lang, có lúc thiếp thân đi trong vườn vẫn cảm thấy dường như Thôi lang vẫn như đang ở bên cạnh mình…”

Nói tới đây, trên mặt Lý Ưu Nương lại thoáng lộ vẻ hạnh phúc, khiến Huyền Trang nhìn thấy mà lòng thầm kinh hãi. Nghe bà gọi người chồng hiện tại là Quách tướng công*[*], chỉ sợ trong lòng cũng chẳng có mấy phần tình nghĩa phu thê sâu đậm với Quách Tể. Huyền Trang không khỏi cảm thấy xót xa thay cho Quách Tể. Quách Tể là người cao lớn dũng mãnh như vậy, luôn chiều chuộng vị phu nhân này hết mực, nói gì nghe nấy, thậm chí đối với con gái riêng của phu nhân cùng chồng cũ cũng cực kỳ nuông chiều. Ông ta làm sao biết thân hình to cao bảy thước của mình, kỳ thực trong mắt vị phu nhân này cũng chẳng khác gì không khí, còn bóng hình người chồng đã chết kia lại vẫn quanh quẩn trước mắt bà ấy mãi không tiêu tan.

[*] 32 Nếu từ “lang - 郞” là cách người phụ nữ gọi chồng hoặc tình nhân một cách tình cảm, thì từ “tướng công - 相公” mang hàm ý kính trọng, có phần xa cách hơn, bản thân danh từ “tướng công” còn thường được hiểu theo nghĩa là tiếng tôn xưng với bậc niên trưởng hoặc người có địa vị.

“Phu nhân treo bức cung nữ đồ đó trên tường, không sợ Quách đại nhân khó chịu trong lòng hay sao?” Huyền Trang hỏi nhỏ. Học vấn của ngài thâm sâu, đương nhiên biết bài thơ đi cùng bức cung nữ đồ này không chỉ khen ngợi sắc đẹp của Lý Ưu Nương. “Tâm mê hiểu mộng song do ám, phấn lạc hương cơ hãn vị can”, câu này rõ ràng là tả cảnh sau trận hoan ái. Còn câu “Tự ta thử địa phi ngô thổ, bất đắc như hoa tuế tuế khán” rõ ràng là viết cho một mối tình vụng trộm.

Lý Ưu Nương đỏ mặt, trong mắt lộ vẻ ngỡ ngàng: “Tướng công của thiếp thân bây giờ là một người thành thật, lại không được học hành nhiều, ngày ngày chém giết với người Đột Quyết ở biên cương phía bắc, sau khi làm huyện lệnh mới bắt đầu học phong nhã. Tướng công là người rất tốt, lòng dạ rộng rãi, đối xử rất tốt với mẹ con thiếp thân, cũng tán thưởng tài học của Thôi lang, bình thường thiếp thân cũng không cần kiêng kị. Thực ra tướng công cũng hiểu được, ở trong lòng thiếp thân, tướng công không so được với Thôi lang.”

Thấy Lý phu nhân nói như vậy, Huyền Trang cũng khó mà nói được gì nữa. Ngài khẽ lắc đầu, thầm nghĩ: “Biết rõ Quách Tể là người tốt, vậy mà phu nhân còn tư thông người khác, làm nhục Quách Tể! Xem ra không thể nói lí lẽ với con người này được rồi.”

Nhưng mà lời này không tiện nói ra, một hồi lâu sau ngài mới hỏi: “Trong lòng phu nhân không oán hận bần tăng sao?”

Lý Ưu Nương nhìn ngài, hờ hững đáp: “Mọi việc trên đời đều có thiên mệnh. Nếu như Thôi lang không muốn chết thì ai có thể ép chàng chết được? Chính chàng muốn chết, bỏ lại hai mẹ con thiếp thân, thiếp thân sao có thể trách cứ người khác? Huống hồ ngài chỉ là đệ đệ của Trường Tiệp.”

“A Di Đà Phật, đa tạ phu nhân khoan hồng độ lượng.” Huyền Trang chắp tay cảm ơn.

Chính vào lúc này đột nhiên nghe thấy một tiếng động lạ. Hai người ngẩng đầu lên nhìn, trước mắt chợt có ánh sáng lóe lên. Một mũi tên lao vút qua hồ nước, bắn thẳng về phía Huyền Trang với uy thế như sấm sét.

“Đại sư cẩn thận!” Lý Ưu Nương sợ đến tái mặt.

Mũi tên này bay tới quá nhanh, Huyền Trang chỉ kịp nghiêng người đã nghe thấy bên tai có tiếng gió rít. “Phập” một tiếng, đầu mũi tên bay sượt qua tai ngài, cắm thẳng vào cây cột gỗ của đình nghỉ mát. Cán tên rung lên một hồi lâu mới dừng lại, có thể dễ dàng thấy mũi tên này được bắn ra với lực lớn thế nào.

Trên trán Huyền Trang rịn đẫm mồ hôi lạnh. Hai người ngây ra một hồi lâu mới nhận thức được chuyện vừa xảy ra, vội quay đầu nhìn về phía mũi tên vừa bay tới. Bên kia hồ thông ra con phố nằm ngoài cổng hậu trạch, trên phố có một hàng cây hòe cành lá rậm rạp, một cành cây còn đang rung lắc không ngừng. Xem ra vừa rồi có người trốn ở trên cây này bắn tên vào trong hậu hoa viên.

Hai người không dám ở lại vườn hoa nữa, vội vàng quay trở vào trong viện. Lý Ưu Nương lập tức sai Cầu Nhi đi mời Quách Tể tới. Ba La Diệp nghe nói Huyền Trang bị ám sát cũng rất kinh hãi, lập tức chạy đến hậu hoa viên rút mũi tên ra, lật qua lật lại xem xét.

Quách Tể vừa nghe thấy tin tức lập tức gác lại công việc đang dang dở, dẫn hai vị huyện úy*[*] vội vàng chạy tới, thấy Huyền Trang bình yên vô sự mới thở phào một hơi, rồi lại nhanh chóng phát giận, lệnh cho một huyện úy họ Chu lập tức truy tìm hung thủ.

[*] 33 Hoắc Ấp là thượng huyện, theo lệ có hai vị huyện úy theo phò tá quan huyện lệnh.

“Đại nhân!” Huyện úy họ Lưu bên cạnh nói với giọng run run, cầm mũi tên đó đi tới, sắc mặt rất khó coi: “Đại nhân, mũi tên này… là binh tiễn!”

Huyền Trang và Lý Ưu Nương không có phản ứng gì lạ, nhưng sắc mặt Quách Tể lập tức thay đổi: “Binh tiễn?”

Ông ta đưa tay cầm lấy, lật qua lật lại xem xét. Mũi tên này dài hai thước, thân tên làm bằng gỗ bạch lạp, đuôi tên là ba cánh lông ngỗng màu trắng, đầu mũi tên vừa dài vừa dày, không nghĩ nó lại được làm bằng thép, lực đâm xuyên rất mạnh, có thể bắn thủng áo giáp. Quách Tể chinh chiến trong quân đội rất nhiều năm nên đã quá quen với loại mũi tên này. Đây là binh tiễn, mũi tên tiêu chuẩn dùng trong quân đội Đại Đường!

Ông ta không nói một lời, chạy vào đình nghỉ mát trong hậu hoa viên quan sát kỹ lưỡng dấu vết trên cây cột, lại ước lượng khoảng cách đến cây hòe ngoài tường bao, nói nhỏ: “Nếu bản quan đoán không sai thì mũi tên này được bắn ra từ một cây cung sừng trâu.”

“Không sai!” Lưu huyện úy cũng hạ thấp giọng nói: “Từ chiếc cột này đến cây hòe kia là khoảng một trăm hai mươi bộ[*]. Khoảng cách xa như vậy chỉ có trường cung bộ binh và cung sừng của kỵ binh trong quân đội mới có thể bắn tới, hơn nữa còn cắm vào cột sâu một tấc.”

[*] 34 Một bộ đời Đường là 1,514 m, tục truyền là đơn vị độ dài do Lý Thế Dân định ra, đúng bằng hai bước chân của chính mình. Ba trăm bộ là một dặm, tương đương với 454,2 m hiện nay.

Quách Tể lắc đầu: “Cây hòe đó cành lá rậm rạp, trường cung rất lớn, mang lên cây cũng không thể kéo ra hết tầm được. Cung sừng trâu nhỏ mới có thể sử dụng linh hoạt, hơn nữa nhất định là cung sừng trâu loại lắp ghép. Có điều binh tiễn bắn ra từ cung sừng trâu lắp ghép có thể bắn xuyên áo giáp từ khoảng cách một trăm năm mươi bộ, nhưng lực độ của mũi tên này không hề mạnh. Xem ra nếu không phải vì vướng cành cây không thể kéo hết tầm được thì chính là do lực cánh tay của người bắn không đủ.”

Sắc mặt Lưu huyện úy vẫn tái nhợt như cũ, vội nói: “Đại nhân, ý của ti chức không phải thảo luận về người bắn cung… Đây là cung tên tiêu chuẩn trong quân đội! Nếu sát thủ này dính dáng đến quân đội thì…”

Quách Tể trừng mắt: “Ngươi phải nhớ, thứ nhất là sau nhiều năm loạn lạc, trong dân gian không biết tàng trữ bao nhiêu cung tên tiêu chuẩn như thế này, trong nhà bản quan cũng có, vì thế chưa chắc đã dính dáng đến quân đội. Thứ hai, dù có dính dáng đến quân đội, bản quan cũng phải tra xét đến cùng. Đại sư Huyền Trang chính là một vị cao tăng, bản quan tuyệt đối không cho phép ngài bị ám sát ngay trước mắt mình! Hiểu chưa?”

Thân hình Quách Tể giống như người khổng lồ, trước mặt phu nhân và con gái thì vâng vâng dạ dạ, trước mặt Huyền Trang thì khúm na khúm núm, nhưng trước mặt thuộc hạ lại oai nghiêm lừng lững. Ông chinh chiến sa trường nhiều năm, chỉ cần thẳng lưng nghiêm mặt, uy thế dũng mãnh lập tức khiến huyện úy cảm nhận được áp lực to lớn, đành phải cúi đầu vâng dạ.

“Ngươi nhớ cho rõ, chuyện cung tên và đại sư Huyền Trang bị ám sát không cho phép truyền ra ngoài.” Quách Tể căn dặn lại.

“Tuân lệnh!”, Lưu huyện úy lần này đáp lại rất nhanh và rõ. Thầm nghĩ ngài có cho ta cũng không dám nói, ai biết sẽ chọc phải họa lớn đến mức nào? Dù không phải người trong quân đội phái tới ám sát nhưng đó là cung tên tiêu chuẩn của quân đội, ngài cho rằng nhà nào cũng có chắc? Nếu có thì cũng chỉ những nhà quyền quý mới có thôi.

Lúc này Chu huyện úy được phái ra ngoài truy tìm thích khách đã quay về. Hắn đã xem xét tỉ mỉ, thích khách đó quả thực đã bắn tên từ trên cây hòe ngoài tường bao, nhưng không để lại bất cứ dấu vết nào. Chỗ đó ở ngay bên hè phố, chỉ trong nháy mắt thích khách đã có thể chạy xuống phố, biến mất trong dòng người tấp nập.

Quách Tể sai hai người này điều động sáu nhân lực thân thủ tốt trong số các sai dịch của huyện nha đến chia ra canh gác cổng chính, cổng sau. Hai người còn lại thì thay thường phục ra phố theo dõi, bảo vệ cả tòa nhà rất chu đáo.

Nhưng Lý Ưu Nương vẫn không yên tâm: “Tướng công, thích khách này có cung tên, có thể giết người từ xa. Tướng công sắp xếp như vậy có ổn không? Ngộ nhỡ đại sư xảy ra chuyện gì không hay thì…”

“Phu nhân yên tâm!” Quách Tể biết hôm nay Lý Ưu Nương bị kinh động nên rất thương thê tử, dịu dàng nhìn bà: “Ta tự có tính toán. Tất cả những nơi cao ráo, thuận tiện cho việc bắn tên ở phía ngoài nhà đều đã được ta phái người giám sát chặt chẽ, hễ có động tĩnh gì thì cung thủ bên ta sẽ lập tức bắn chết hắn.”

Thấy Lý Ưu Nương vẫn không tin, ông ta giải thích: “Hoắc Ấp chúng ta là một thành trì trọng yếu, trong nha môn có năm mươi chiếc nỏ bắn tầm xa, trong vòng ba trăm bộ có thể bắn thủng hai lớp da trâu dày. Ta đã bố trí bốn chiếc nỏ trên tháp canh ở nha môn, thích khách dám liều xông vào đây, đảm bảo không còn sống trở ra.”

Lý Ưu Nương biết phu quân tinh thông chiến trận, nghe vậy cũng yên tâm phần nào, hạ giọng nói nhỏ: “Tuyệt đối không thể để đại sư Huyền Trang chết trong nhà chúng ta, nếu không Phật Tổ trách tội, đó sẽ là một tai họa cực lớn. Tướng công vẫn nên khuyên nhủ đại sư, cố gắng đưa đại sư rời khỏi Hoắc Ấp sớm một chút!”

“Đại sư Huyền Trang có chuyện quan trọng cần làm ở Hoắc Ấp, ngài ấy sẽ không đi. Không sao, ta sẽ bảo vệ ngài ấy cẩn thận.”

Quách Tể thở dài, ông ta cho rằng Lý Ưu Nương không biết mục đích Huyền Trang đến đây nên cũng không nói rõ hơn. Ngoài miệng dù cứng nhưng trong lòng ông ta vẫn rất lo lắng. Tại sao lại có người ám sát đại sư Huyền Trang? Vị hòa thượng này vân du khắp thiên hạ, không thù không oán với ai, tại sao lại có người dùng thủ đoạn ám sát cực đoan này để đối phó ngài chứ?

Đêm hôm đó ánh trăng vẫn in rõ bóng cây ngô đồng trên cửa sổ, Huyền Trang cũng không ngừng suy nghĩ về vấn đề này.

Cuộc đời ngài bình lặng không có tranh chấp gì, về cơ bản ngài không ở lại nơi nào lâu quá một năm trừ Ích Châu và Trường An, đi qua nơi đâu cũng chỉ giống như khách lạ tiện đường nghỉ chân. Tại sao mới đi tới Hoắc Ấp vài ngày đã có người muốn giết mình rồi?

Huyền Trang cũng không sợ chết, vụ ám sát hụt ban ngày không khiến ngài cảm thấy hoang mang lo sợ, tinh thần hoảng loạn. Nhưng ngài có một tật xấu là không giữ được những mối nghi hoặc ở trong lòng, gặp vấn đề gì không hiểu sẽ luôn tìm cách tra hỏi tường tận gốc rễ, nhất định phải nghiên cứu đến cùng mới thôi. Đối với Phật pháp ra sao thì đối với chuyện hàng ngày cũng như vậy. Cũng chính vì ngài có quá nhiều chỗ không hiểu khi nghiên cứu thiền lý nên mới làm một tham học tăng ngao du thiên hạ, tới thăm hỏi các vị danh sư. Danh sư cũng không giải được nhiều chỗ nghi hoặc, ngài lại phát nguyện đến Thiên Trúc cầu pháp. Có lẽ trong lòng ngài, vạn sự vạn vật đều ẩn chứa thiền lý, từng li từng tí một đều chẳng nằm ngoài giáo pháp, Phật pháp thật sự không nằm ở việc cần mẫn nghiên cứu kinh phật, mà bản thân người tu hành phải nắm được cái gọi là quy luật vận hành của đạo trời, đạo đời và đạo người.

“Giết ta, chỉ có một nguyên nhân.” Huyền Trang thầm nghĩ: “Tung tích của Trường Tiệp. Tung tích của Trường Tiệp hẳn phải có mối liên hệ chặt chẽ với chuyện này, ta tới tìm Trường Tiệp sẽ khiến một số người lo lắng. Để xảy ra chuyện như bây giờ, hẳn là do ta đã đánh động đến bọn chúng, vì e sợ ta sẽ tiếp tục điều tra ra chuyện nên mới phải ám sát ta. Vậy rốt cuộc thì ta đã đánh động đến bọn chúng ở điểm nào?”

Huyền Trang dùng đến tư duy của một vị cao tăng nghiên cứu kinh luận, nhanh chóng tìm được điểm đáng ngờ xuất phát từ đâu, hay nói cho đúng ra là từ ai: Lý phu nhân!

Ngài đến huyện Hoắc Ấp chưa được vài ngày, ngoài Mã điển lại ở huyện nha và người nhà Quách Tể, gần như không có ai biết ngài đã đến Hoắc Ấp. Mà ngài cũng mới chỉ hỏi Quách Tể và Lý phu nhân về tung tích của Trường Tiệp, còn Mã điển lại thì rõ ràng là không hề hay biết gì. Quách Tể tính tình chất phác, nếu đã có ý muốn ngăn cản thì tội gì phải rước mình về nhà, cho mình cơ hội tiếp xúc với Lý Ưu Nương, người có liên quan mật thiết đến Trường Tiệp? Ông ta càng không cần phải đến nha môn giữa đêm hôm khuya khoắt để tìm lại tranh truy nã Trường Tiệp bảy năm trước.

Người khả nghi chỉ có Lý Ưu Nương. Trường Tiệp bức tử Thôi Giác, Thôi Giác là chồng cũ của bà ta. Nếu Trường Tiệp dính líu tới bí mật nào đó, rất có khả năng Lý Ưu Nương cũng là một trong những người biết chuyện. Vì thế nếu thật có người theo dõi khi mình nói chuyện với bà ta ở hậu hoa viên, người này có thể sẽ cho rằng hai người đang bí mật bàn chuyện, Lý Ưu Nương đã tiết lộ chuyện cơ mật, vì thế mới không từ thủ đoạn tìm cách giết chết mình.

Người phụ nữ này nắm giữ vô số bí mật. Bà ta tư thông với người khác, vậy người này là ai? Rốt cuộc có có quan hệ gì với cái chết của Thôi Giác và sự mất tích của Trường Tiệp?

Huyền Trang ngồi trên giường suy nghĩ rất lâu, đầu óc trở nên nặng nề. Ba La Diệp thì đang ngủ say ở gian ngoài, tiếng ngáy làm đất rung núi chuyển. Trong không khí có mùi thơm thoang thoảng, không biết là của loài hoa nào nở về đêm, có cảm giác xa xăm vô cùng. Lúc này Huyền Trang đột nhiên cảm thấy cả người tê dại, thân thể rã rời không còn chút sức lực nào. Ngài giật mình kinh hãi, muốn mở mắt ra nhưng mí mắt lúc này dường như nặng đến ngàn vạn cân. Vừa gắng gượng hé mắt ra, đầu óc ngài như muốn nổ tung, những suy tính trong đầu tan ra như sao trời, mọi thứ đều trở nên trống rỗng.

Tiếng ngáy của Ba La Diệp ngủ bên ngoài cũng đột ngột chấm dứt.

Tám trăm dặm cát lún, ba ngàn dặm tuyết sơn đều đã lùi lại phía sau. Cảnh trí trước mắt biến đổi, một ngọn Thánh Sơn hùng vĩ nguy nga đứng sừng sững phía trước. Đó chính là chùa Cổ Lôi Âm, bảo điện Linh Sơn!

Chỉ thấy tòa chùa cổ Lôi Âm đó: Đỉnh hòa giữa trời mây, chân sát núi Tu Di. Đỉnh non xếp tầng tầng, đá lạ xen loạn tạp. Kỳ hoa dị thảo chen vách núi, sắc tím hương huệ ngát đường quanh. Điện Thiên Vương tỏa rạng hào quang, trước điện hộ pháp phun lửa tím. Tháp phù đồ hiển hiện, hoa ưu bát tỏa hương, ngờ chi nữa đất chánh riêng một cõi, mây đà nương giấc thưởng ngày dài. Duyên cõi trần đến nay chừng đã tận, vạn kiếp chẳng đi chệch khỏi đường tu.

Huyền Trang kích động trong lòng, đi đến trước Đại Hùng bảo điện, quỳ xuống vái lạy Như Lai, bẩm: “Đệ tử Huyền Trang, phụng ý chỉ của hoàng đế Đông Thổ Đại Đường, đi tới bảo sơn bái cầu chân kinh, một lòng mong mỏi tế độ chúng sinh. Xin Phật Tổ ban ân, ban phát chân kinh, cho đệ tử sớm ngày mang về nước.”

Như Lai mở miệng nói: “Đông Thổ đó của ngươi là Nam Thiệm Bộ Châu, trời cao đất dày, đất chật người đông, sinh nhiều tham nhiều sát, nhiều dâm nhiều dối, nhiều gian nhiều trá, không tuân Phật giáo, không hướng thiện duyên, không kính tam quang[*], không trọng ngũ cốc, bất trung bất hiếu, bất nghĩa bất nhân, lừa người dối mình, đong to cân nhỏ, giết hại sinh linh. Tạo ra vô vàn tội nghiệt, tội ác ngập tràn, nên mới gặp tai họa bị đọa đày nơi địa ngục, bởi lẽ ấy mà vĩnh viễn rơi vào cõi u minh. Ta nay có ba tạng kinh, có thể siêu thoát khổ não, giải trừ tai ương. Ba tạng kinh ấy gồm một tạng Pháp giảng về trời, một tạng Luận giảng về đất, một tạng Kinh dẫn độ sinh linh. Tổng cộng ba mươi lăm bộ, gần một vạn năm ngàn một trăm bốn mươi tư quyển. Đó mới thực là con đường tu chân, cánh cửa hướng thiện, phàm là chuyện trên khắp bốn đại bộ châu này, từ thiên văn, địa lí, người và vật, chim thú, hoa cỏ cây cối, đồ vật, việc đời việc người… đều được ghi chép đủ đầy trong đó, không gì không có.”*[*]

[*] 36 Đoạn văn này được tác giả trích dẫn từ chương hồi thứ chín mươi tám: “Vượn ngựa thục thuần nay thoát xác - Công quả viên mãn gặp Như Lai” của cuốn tiểu thuyết trăm hồi “Tây Du Ký”.

[*] 35 Gọi chung mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao là tam quang. Trời có ba đạo ánh sáng: mặt trời, mặt trăng và sao, đất có ba hình: cao, thấp và bằng.

Huyền Trang thực hiện được chí hướng cả đời, hài lòng thoả dạ, đang chuẩn bị tạ ơn Như Lai thì đột nhiên thấy cả người lạnh toát, một mùi chua cay xộc vào mũi, sau đó thì nhịp thở bị chặn lại đột ngột, khó thở tưởng chết.

Ngài bỗng dưng bị dọa sợ, mở choàng mắt tỉnh dậy, bỗng nhận thấy người mình lạnh toát, không nghĩ tới lúc này ngài đang hòa mình nơi đáy nước, vẫn đang từ từ chìm xuống.

Mượn ánh trăng trên mặt nước, ngài nhìn thấy hoa cỏ, đình nghỉ mát, cây cầu… Thì ra ngài đang ở dưới đáy hồ nước trong hậu hoa viên của huyện nha.

Bên trên mặt nước, một bóng người màu trắng đang đứng trên bờ như ẩn như hiện, dường như đang cười lạnh nhìn ngài. Huyền Trang hoảng hốt, muốn kêu gào cứu mạng, nhưng không tài nào mở miệng ra được, muốn quẫy nước, vùng vẫy hòng nổi lên, nhưng cả người bải hoải, chỉ có thể để mặc nước hồ xộc qua mũi, qua miệng tràn vào trong ruột, trong phổi. Ngài ho sặc sụa vì sặc nước, nhưng cũng chỉ có những bọt bong bóng từ từ nổi lên trên mặt hồ.

Trong những suy nghĩ cuối cùng trước khi chết, Huyền Trang đột nhiên hiểu được chuyện gì đang xảy ra, ngài ấy vậy mà lại bị ám sát lần thứ hai!

Tên thích khách này không biết làm thế nào lại lẻn được vào hậu trạch, có lẽ hắn đã dùng một loại mê hương nào đó làm ngài ngất đi, sau đó kéo ngài từ trên giường ra hậu hoa viên rồi ném xuống dưới hồ.

Theo lý thuyết, khi gặp nước lạnh, thần trí của ngài phải tỉnh táo lại, nhưng kỳ lạ là thân thể vẫn mềm nhũn không thể động đậy như cũ, mắt có thể mở ra, đáng lý ra khi mắt tiếp xúc với nước hồ phải thấy cay xót, đằng này ngài lại chẳng cảm thấy gì. Giống như thân thể này căn bản không thuộc về ngài nữa, ngài liên tục sặc nước, lại không thể động đậy!

Thuốc mê thật là lợi hại!

Ngài mở to mắt, xuyên qua mặt nước, ngài nhìn bóng dáng người đó, trong lòng đoán biết lần này mình chết chắc rồi!

Đúng lúc này, đột nhiên Huyền Trang nhìn thấy một bóng người lảo đảo chạy tới qua chiếc cổng tròn. Bóng người này đã quá quen thuộc đối với Huyền Trang, rõ ràng là Ba La Diệp!

Ba La Diệp dường như đã dùng hết sức lực trong người, nhìn dáng chạy rất khó khăn. Người kia nghe thấy tiếng bước chân, vừa quay đầu lại đã bị Ba La Diệp lao tới đè ngã xuống đất. Hai người vừa đánh nhau vừa lăn lộn trên mặt đất. Ba La Diệp không còn nhiều sức lực, bèn dồn sức dùng răng cắn khiến người kia gân cổ lên kêu gào thảm thiết, tiếng kêu rất lớn, vang vọng giữa trời đêm yên tĩnh.

Người đó đau quá bèn đè Ba La Diệp nằm sấp xuống đất đấm không dừng tay. Ba La Diệp bị dồn vào đường cùng, người ưỡn về sau, mông lại cong lên trên, hai chân vòng ngược lên vai một cách kỳ lạ, mũi chân móc vào ngực vào hai cánh tay người đó, hai tay lại vòng lên tóm lấy hông hắn. Hai người họ giờ đã biến thành một quả cầu thịt cỡ lớn.

Bờ hồ nước là dốc thoải, hai người mất thăng bằng nên bị trượt xuống, ùm một tiếng rơi thẳng xuống hồ. Xuống dưới nước, đầu óc Ba La Diệp tỉnh táo hơn, tứ chi uốn éo kỳ lạ như một con bạch tuộc khổng lồ với bốn cái xúc tu cuốn chặt lấy người kia. Hai người không ngừng chìm xuống đáy hồ.

Lúc này Huyền Trang đã chìm dưới nước quá lâu, cuối cùng đầu óc mơ hồ, không còn ý thức.

Tiếng đánh lộn và tiếng kêu thảm thiết của Ba La Diệp và người kia sớm đã đánh động đến mọi người trong nhà. Quách Tể chỉ mặc áo trong, cầm một thanh kiếm chạy ra. Nô bộc Cầu Nhi và tì nữ Mạc Lan cũng chạy ra, quần áo cũng không chỉnh tề.

“Chuyện gì thế?” Quách Tể quát.

“Con không biết!” Cầu Nhi lộ vẻ hoang mang: “Con đang ngủ ngon thì chợt nghe thấy có tiếng người kêu, sau đó lại nghe thấy ùm một tiếng…”

Quách Tể nhìn về phía sương phòng của Huyền Trang, thấy cửa phòng mở rộng, chạy vào trong phòng thấy không có người mới tái mặt, thân thể to lớn ấy lao như một cơn gió về phía hậu hoa viên. Đêm nay trăng rất sáng, có thể nhìn thấy rõ ràng dưới hồ nước có một người, tăng bào trải rộng, nổi lên trên mặt nước.

“Đại sư!” Quách Tể gọi to một tiếng, ném kiếm nhảy thẳng xuống nước.

Hồ nước này chỗ gần bờ cũng đào sâu ngập đầu người như ở giữa hồ, nhưng Quách Tể to lớn, nhảy xuống vẫn lộ cả hai vai trên mặt nước. Hắn đứng dưới hồ, vươn hai tay bắt được Huyền Trang, dùng sức nâng lên, cơ bắp cuồn cuộn, nhấc bổng Huyền Trang lên khỏi mặt nước.

Sau đó bước nhanh lên trên bờ. Lúc này Lý phu nhân cũng đã sửa sang y phục chỉnh tề, chạy tới bên hồ nước, vừa thấy Huyền Trang được đưa lên khỏi hồ thì mặt mũi lập tức xám ngoét lại. Quách Tể mặt mày xanh mét, đưa tay kiểm tra hơi thở của Huyền Trang, phát hiện hô hấp đã dừng. May mà ông ta cẩn thận bắt mạch thì vẫn còn thấy mạch đập yếu ớt.

“Mau!” Quách Tể quát: “Dắt ngựa của ta đến!”

“Ngựa của ngài…” Cầu Nhi mặt như đưa đám: “Ngựa của ngài ở trong chuồng ngựa của huyện nha. Bây giờ chạy tới dắt ngựa quay về thì đại sư đã chết từ lâu rồi.”

Quách Tể lo lắng toát mồ hôi, đưa mắt nhìn xung quanh, rồi đột ngột bế Huyền Trang chạy đến đình nghỉ mát, bản thân thì nằm ngửa trên lan can rộng rãi, sai Cầu Nhi và Mạc Lan khiêng Huyền Trang đặt nằm úp sấp lên phía trên, bụng dán vào bụng mình, chậm rãi ép người Huyền Trang xuống.

Có rất nhiều cách cấp cứu người bị đuối nước. Một trong những cách tương đối có hiệu quả chính là đặt người đuối nước nằm úp mặt vắt ngang trên lưng trâu, cho người đỡ hai bên, sau đó dắt trâu đi chậm rãi để dồn nước trong bụng ra ngoài. Lúc này không có trâu cũng không có ngựa, Quách Tể liền đem thân mình làm trâu, may mà bụng ông ta to, còn dày và rắn chắc hơn cả lưng trâu. Cầu Nhi và Mạc Lan ép người Huyền Trang một lát, Huyền Trang ộc một tiếng phun ra rất nhiều nước, cuối cùng cũng thở bình thường trở lại.

Quách Tể thấy vậy mới ngồi lên, đặt Huyền Trang nằm ngửa xuống đất. Lý Ưu Nương vội vàng chạy vào bếp lấy một củ gừng ra chậm rãi cọ vào răng Huyền Trang để kích thích thần trí của ngài. Sau một lúc lâu, Huyền Trang mới tỉnh lại.

“Mau…” Huyền Trang gắng gượng giơ tay lên chỉ về phía hồ nước, sắc mặt trắng nhợt: “Ba La Diệp…”

Mọi người kinh hãi, ai cũng không nghĩ tới chuyện dưới hồ nước còn có người. Nô bộc Cầu Nhi tinh mắt nhìn thấy dưới hồ có một khối màu trắng lóa, cả kinh kêu lên: “Bên kia!”

Quách Tể vô cùng sợ hãi. Ông ta nhảy xuống nước một lần nữa, từng bước đi tới. Tới gần hình khối màu trắng dưới nước, Quách Tể đưa tay nắm lấy, sau đó giơ lên trên mặt nước.

“Ha!” Hai tay dùng sức, Quách Tể lập tức ngẩn ra. Người này tại sao lại nặng như vậy? Với sức lực của ông ta thì nhấc ba bốn trăm cân lên cũng không phải việc khó, tại sao lại không nhấc nổi người này lên?

Ông ta đưa tay sờ, lại sờ thấy hai cái đầu, lập tức kêu to lên: “Là hai người!”

Mọi người trên bờ còn kinh hãi hơn, cảm thấy đêm nay thật sự quá mức kỳ quái. Quách Tể thấy hai người này dính chặt vào nhau, không có cách gì để tách ra, đành phải kéo hai người vào gần bờ, nhờ có ba người trên bờ hỗ trợ mới kéo được lên. Mọi người vừa nhìn, lập tức trợn tròn mắt.

Một trong hai người đó đương nhiên là Ba La Diệp. Tứ chi của Ba La Diệp uốn éo đến lạ, khóa chặt tứ chi của người còn lại, cơ thể hắn uốn cong tới một mức độ khó tin. Cả hai người bị hắn ghìm chặt thành một quả cầu đường kính không quá hai thước. Chìm dưới nước lâu như vậy, chắc chắn đã chết hẳn rồi, hoàn toàn không có khả năng cứu sống. Trên thực tế, thi thể người bị Ba La Diệp khóa chặt lúc này đã hơi trương lên. Nhưng kiểu gì cũng phải tách ra, Quách Tể dùng sức gỡ tay chân Ba La Diệp nhưng Ba La Diệp khóa quá chặt. Quách Tể sốt ruột, dùng sức bẻ mạnh, không ngờ Ba La Diệp đột nhiên mở mắt, cả giận nói: “Ngươi làm, cái gì, thế? Định, bẻ gãy, cánh tay ta, à?”

“Á…” Quách Tể dù gan lớn nhưng cũng chưa từng thấy xác chết sống dậy, hoảng hốt thét lên một tiếng, ngã ngồi bệt xuống đất.

Lý Ưu Nương, Mạc Lan và Cầu Nhi không ngừng la hét, Huyền Trang cũng kinh hãi trợn to mắt.

Ba La Diệp phun ra một ngụm nước, buông lỏng tứ chi, khôi phục hình dạng của một người bình thường. Hắn hoạt động chân tay, chậm rãi đứng lên, còn lẩm bẩm nói: “Ngươi bẻ ta, đau chết mất!”

Lúc này Huyền Trang cũng đã bình tĩnh lại, bám cột đình đi tới, hỏi: “Chuyện này là thế nào? Ngươi chìm dưới nước lâu như vậy mà vẫn không làm sao cả ư?”

“Đây là, thuật Du Già, của Thiên Trúc.” Ba La Diệp giải thích: “Ta, luyện tập từ nhỏ. Có thể, ngưng thở, chôn xuống dưới đất, mấy canh giờ, không chết.”

“À.” Huyền Trang lập tức hiểu ra. Ngài nghiên cứu, tu tập kinh Phật và phong tình thế thái, thủy thổ nơi Thiên Trúc, đương nhiên biết thuật lạ của Thiên Trúc. Thực ra đó chính là một pháp môn tu hành, rất nhiều tăng sĩ từ Thiên Trúc đến Đông Thổ đều tu luyện Du Già, thậm chí có một số khổ hạnh tăng còn có thể xoay ngược đầu lại nhìn thấy cột sống của mình, một số người khác có thể vòng chân về phía sau đặt lên trên vai. Có điều lúc này Đông Thổ không có nhiều người am hiểu thuật Du Già, Huyền Trang cũng coi đó như một loại dị thuật, không ngờ gã Ba La Diệp này lại biết thuật Du Già.

Quách Tể và đám người Lý Ưu Nương càng lấy làm lạ nhưng cũng không quá bất ngờ, bởi vì trong cảm nhận của người Trung Nguyên thì người dị quốc hầu như được đánh đồng là những người biết trò dị thuật. Những người từ Tây Vực đến, ít nhiều đều am hiểu một số thứ rất huyền diệu. Đặc biệt là tăng sĩ Tây Vực đến nơi đây thường thích dùng dị thuật khiến đế vương hứng thú, từ đó đạt được sự thừa nhận của triều đình.

“Đại sư, rốt cuộc chuyện này là thế nào?” Quách Tể không cần nhìn người áo trắng cũng biết người này tuyệt đối không hiểu thuật Du Già, chắc chắn đã chết rồi. Xảy ra án mạng chính là một chuyện lớn.

Huyền Trang cũng biết mạng người lớn như trời, sắc mặt nghiêm trọng, kể lại mọi chuyện xảy ra vừa rồi. Vừa nghe thấy Huyền Trang lại bị ám sát, sắc mặt Quách Tể càng khó coi hơn, trong lòng bừng bừng lửa giận: “Tặc tử! Lần này may mà có Ba La Diệp, nếu không… Đúng là không thể tưởng tượng nổi rồi.”

“Ta cũng, suýt nữa, bị, ngất đi.” Ba La Diệp nói xen vào: “Đang ngủ rõ, ngon, đột nhiên, ta ngột ngạt, khó chịu…” Thì ra lúc trước hắn đang nằm ngủ, mê hương bay vào phòng lập tức khiến hắn thấy ngột ngạt không ngáy được nữa. Cảm giác như ngạt thở đó không ngờ lại át được tác dụng của mê hương, thế là hắn bỗng dưng tỉnh táo lại.

“Vừa tỉnh dậy, ta cảm thấy, tinh thần lâng lâng, như trên đám mây…” Ba La Diệp vẫn còn chưa hết sợ: “Cả người không, cử động được, liền biết, có chuyện không ổn.”

Đối với gã quản tượng khi thì vụng về, khi thì khôn khéo này, Huyền Trang đã không còn thấy ngạc nhiên nữa: “Rốt cuộc là ngươi phát hiện cái gì?”

“Là…” Ba La Diệp buột miệng nói ra một từ tiếng Phạn, suy nghĩ một hồi lâu mới nói tiếp: “Đây là một loại, thực vật, đáng sợ. Dịch ra, ngôn ngữ người Hán, có thể gọi là, cần sa.”

Huyền Trang lần đầu tiên nghe nói đến cái tên này, vì thế liền vặn hỏi cặn kẽ.

Ba La Diệp miêu tả tỉ mỉ. Thì ra thứ cần sa này là một loại cỏ thường gặp ở Thiên Trúc, vỏ của nó có thể dùng để làm dây thừng, vải buồm, quần áo. Nhưng người Thiên Trúc lại tinh luyện được một loại thuốc từ nhựa của loại cần sa này. Khi uống hoặc hút loại thuốc này sẽ sinh ra ảo giác mãnh liệt, cả người lâng lâng giống như linh hồn đang rời khỏi cơ thể.

Vì vậy lúc các tăng sĩ Thiên Trúc và giáo đồ Bà La Môn làm nghi thức tế lễ, họ thường xuyên phải dùng đến cần sa để tăng khả năng kết nối với thần linh. Sau khi dùng cần sa, người ta sẽ cảm thấy cực kỳ yên bình, sung sướng, thoải mái vui vẻ, cảm thấy mọi sự đều rất tốt đẹp, tràn ngập hạnh phúc và thỏa mãn. Người Thiên Trúc cho rằng đây là bảo vật được thần linh ban cho, nên rất sùng bái cây cần sa.

Trước kia Ba La Diệp cũng đã từng hút cần sa, đã rất quen với cảm giác này, vì vậy hắn lập tức cảnh giác.

“Đại sư!” Ba La Diệp nói nhỏ: “Cần sa sẽ không, làm người ta, bủn rủn chân tay, thân thể cứng đờ. Trong mê hương này, có lẽ, còn trộn, cả thứ khác nữa.”

“Sao? Trộn thêm thứ gì?” Nỗi sợ hãi đêm nay đồng thời cũng khiến Quách Tể được mở rộng tầm mắt, thế là hắn vội vàng hỏi.

“Mạn đà la!” Ba La Diệp trầm giọng nói, vẻ mặt vô cùng ngưng trọng.

“Mạn đà la?” Huyền Trang kinh ngạc. Ngài không lạ gì mạn đà la, đây là một loại thực vật, cũng là một danh từ của Phật giáo. Trong “Pháp Hoa Kinh” có ghi lại, khi Đức Phật thuyết pháp, hoa mạn đà la từ trên trời rơi xuống như mưa. Đối với chúng tăng sư mà nói, linh vật thánh khiết trong Phật giáo này không chỉ là một loài hoa mà còn tượng trưng cho Phật lý vô thượng.

“Đúng.” Ba La Diệp nói: “Hoa mạn đà la, Thiên Trúc, mọc khắp nơi. Hạt, quả, lá, hoa đều có, kịch độc. Người Thiên Trúc, bọn ta, dùng để giảm đau, gây tê, có thể làm người ta, hôn mê, không thở được. Ta cũng, đã dùng rồi. Cảm giác, không thể nhúc nhích, rất giống.”

“A, thì ra là mông hãn dược!” Quách Tể nhìn nhận vấn đề bằng cách hiểu của mình.

Huyền Trang lắc đầu. Bản thân ngài đã nếm trải cảm giác trúng loại thuốc mê này, mặc dù chưa từng thấy mông hãn dược, nhưng mười năm đi khắp đó đây, kiến thức uyên bác, tất nhiên đã từng nghe nói qua, nếu bị trúng mông hãn dược chỉ cần dùng nước dội vào là có thể tỉnh lại. Chính mình ngã xuống hồ nước, mặc dù thần trí tỉnh táo nhưng cơ thể lại không tài nào nhúc nhích nổi. Uy lực của loại thuốc này mạnh hơn mông hãn dược rất nhiều. Nhưng người mưu sát mình tại sao lại có loại thuốc lạ đặc thù của dị vực Thiên Trúc này?

Ngài không sửa lại lời Quách Tể nói, cũng không hỏi tiếp về vấn đề này, chỉ hỏi: “Đại nhân, người này làm thế nào đi vào trong viện được? Bần tăng nhớ ngài đã sai người canh gác ngoài cửa mà! Chỉ mong những người canh gác đó không bị bần tăng làm liên lụy mà gặp tai họa gì.”

Quách Tể nghe vậy cũng có chút lo lắng, đích thân cầm kiếm đi ra ngoài đường xem xét, lại thấy hai sai dịch vẫn đang ngồi canh gác rất nghiêm túc phía sau gốc cây. Cả hai người đều thề thốt rằng không thấy bất kỳ ai nhảy qua tường lẻn vào bên trong. Quách Tể còn chưa nghĩ ra vấn đề ở đâu, đột nhiên nghe thấy trong nhà lại vang lên một tiếng kêu sợ hãi, rõ ràng là giọng của phu nhân.

Ông ta tái mặt, rảo bước chạy vội vào trong, lại gặp Lý Ưu Nương đang vội vã đi ra tìm mình, xem ra không giống như là bị kẻ gian tấn công.

“Phu nhân, có chuyện gì thế?” Quách Tể không muốn nhìn thấy phu nhân sợ hãi. Ông là người từng trải sa trường, gặp thi thể xếp thành núi cũng không hề nhíu mày, nhưng chỉ cần thấy phu nhân nhà mình sợ hãi là trong lòng cũng run theo, mồ hôi lạnh nhanh chóng rịn ra đầy mặt.

“Tướng công, tướng công…” Lý Ưu Nương vẻ mặt kinh hãi, ôm chặt lấy Quách Tể, người không ngừng run rẩy.

Quách Tể quá cao lớn, phu nhân chỉ cao ngang ngực ông. Ông vòng tay ôm Lý Ưu Nương vào lòng, trầm giọng nói: “Rốt cuộc xảy ra chuyện gì?”

“Kẻ gian đó… Thiếp thân nhận ra nó!” Lý Ưu Nương nói kinh hãi, thân thể vẫn không ngừng run lên như một con thỏ con.

Quách Tể nghe vậy kinh ngạc, ôm Lý Ưu Nương, gần như khiến hai chân bà rời khỏi mặt đất, đi mấy bước đến cổng tròn mới nhẹ nhàng đặt xuống, nói dịu dàng: “Ta đi xem xem. Yên tâm, mọi chuyện đã có ta lo.”

Lúc này Huyền Trang và mọi người đang đứng bên cạnh xác chết, vẻ mặt ai cũng ngơ ngác.

Xác chết vốn nằm sấp, lúc này đã được lật lên. Ánh trăng nhợt nhạt chiếu vào khuôn mặt trắng bệch, hai mắt lồi ra như cá chết trông cực kỳ đáng sợ. Người này thoạt nhìn rất trẻ, nhiều nhất cũng không quá hai mươi tuổi, lông mày rất nhạt, khuôn mặt cũng khá sáng sủa. Bộ áo gấm màu trắng thêu chỉ vàng, chất liệu rất tốt hắn mặc trên người lúc này đã ướt sũng, thân thể trải dài trên mặt đất.

“Là… là nó!” Quách Tể cảm thấy đầu óc quay cuồng, thân hình to lớn chao đảo.

Đúng là ông ta cũng nhận ra kẻ gian ám sát Huyền Trang, hắn chính là nhị công tử nhà phú hào họ Chu trong huyện! Quách Tể ở Hoắc Ấp sáu năm, đương nhiên biết phú hào địa chủ họ Chu này thế lực mạnh mẽ thế nào. Từ thời Bắc Ngụy của họ Thác Bạt, bọn họ đã là danh môn vọng tộc, đời đời làm quan, đến thời Tiền Tùy thậm chí còn có người làm đến chức Thượng thư Bộc xạ. Mặc dù trải qua loạn thế cuối đời Tùy thực lực suy giảm rất nhiều nhưng vẫn là vọng tộc hàng đầu ở đạo Hà Đông, so với đệ nhất phú hào Hà Đông là nhà họ Thôi cũng không kém bao nhiêu.

Nhưng bây giờ nhị công tử nhà họ Chu lại tìm đến mưu sát Huyền Trang và chết đuối dưới hồ nước!

Đây là việc lớn, Quách Tể không dám thờ ơ, trước dặn phu nhân quay về nội trạch với tiểu thư, sau đó bắt đầu bận rộn xử lý chuyện. Hai sai dịch canh gác ngoài đường đã theo ông ta đi vào từ lúc nãy, ông ta lập tức lệnh cho bọn chúng đi tìm chủ bộ, huyện thừa và hai huyện úy, ngoài ra cũng gọi ngỗ tác[*] đến khám nghiệm tử thi.

[*] 37 Tên một chức lại để khám xét những người tử thương.

Đêm đó cả tòa nhà đều rất hỗn loạn. Quách Tể đưa Huyền Trang và Ba La Diệp về phòng trước, còn phái sai dịch đến gác ngoài cửa. Ông ta nhiều lần xin lỗi, nói là để bảo vệ an toàn cho đại sư, có điều Huyền Trang cũng biết mình đã vướng vào một vụ án mạng, sợ rằng khó mà thoát ra được.

Đầu tiên là Mã điển lại và chủ bộ tới lấy khẩu cung. Huyền Trang và Ba La Diệp kể lại từ đầu chí cuối rồi điểm chỉ lên tờ khai. Chủ bộ cáo từ, Mã điển lại định đi, Huyền Trang bỗng gọi hắn lại: “Mã đại nhân chờ một chút, bần tăng có chuyện muốn thỉnh giáo.”

Mã điển lại lộ vẻ khó xử, chần chừ một lát, cuối cùng thở dài quay lại, ngồi xuống chiếc giường ở gian ngoài: “Đại sư, thật sự ta không nghĩ tới lại xảy ra chuyện thế này.”

“Đúng vậy.” Huyền Trang cũng thở dài: “Bần tăng cũng không nghĩ tới. Người chết đó rốt cuộc là ai?”

“Nhị công tử nhà họ Chu.” Mã điển lại nói nhỏ, lại kể sơ qua về gia thế nhà họ Chu.

Tâm tình Huyền Trang cũng trở nên nặng nề: “Mã đại nhân, bây giờ đã điều tra ra Chu công tử đột nhập vào bằng cách nào chưa? Bần tăng nhớ ban ngày lúc ta bị ám sát, Quách đại nhân đã bố trí người canh gác xung quanh nhà rồi, muốn lẻn vào có lẽ cũng rất khó khăn.”

“Đại nhân đã hỏi sáu tên sai dịch rất kỹ, không có người nào tự bỏ vị trí, cũng không phát hiện dấu vết Chu công tử lẻn vào nhà, việc này bây giờ vẫn chưa rõ chân tướng.” Mã điển lại cảm thấy rất áy náy với Huyền Trang, nếu lúc đầu hắn không kéo Huyền Trang đến trừ tà cho Lý phu nhân thì đã không xảy ra đủ loại rắc rối thế này.

Huyền Trang trầm ngâm một lát. Ngài vẫn lo lắng cho Ba La Diệp, dính dáng đến mạng người không phải chuyện đùa, liền hỏi: “Vậy hai chủ tớ bọn ta sẽ gặp phải phiền phức gì?”

“Đại sư yên tâm, mặc dù là án mạng nhưng sự thật đã rất rõ ràng. Ngài là khổ chủ, dù nhà họ Chu thế lực lớn mấy cũng không dám làm gì ngài. Còn Ba La Diệp…” Hắn thoáng nhìn Ba La Diệp ủ rũ ngồi dưới đất: “Theo luật pháp Đại Đường ta, ban đêm vô cớ đột nhập vào nhà người ta, đánh bốn mươi roi. Nếu chủ nhà có lỡ tay giết kẻ đột nhập cũng không bị khép tội.”

Mã điển lại tiếp tục giải thích: “Luật pháp Đại Đường quy định rất rõ về điều này, chỉ cần là ban đêm xông vào nhà của người khác thì có bị chủ nhân giết chết cũng không định tội. Huống hồ Chu nhị công tử xông vào Quách phủ là để hành thích giết người, nhân chứng vật chứng đều có, dù quyền thế nhà họ Chu có lớn hơn nữa cũng không thể lật trời được.”

Huyền Trang nghe vậy mới tạm yên lòng, suy nghĩ một lát lại hỏi: “Mã đại nhân, Chu công tử và Quách đại nhân, Lý phu nhân rất thường xuyên qua lại à?”

Mã điển lại không biết nói gì, vẻ mặt rất nặng nề. Sau khi trầm tư một lúc lâu, hắn mới thành khẩn nói: “Đại sư, lời này vốn không nên do tại hạ nói, chỉ có điều… ngài chịu tai họa này đều là do tại hạ… ôi.”

Hắn thở dài khổ não: “Nhà Quách đại nhân và nhà họ Chu có quan hệ không hề tầm thường, nói chính xác là Lý phu nhân có quan hệ mật thiết với họ Chu. Chắc hẳn đại sư cũng biết, Lý phu nhân có một nữ nhi tên gọi Lục La, vừa tròn đôi tám. Chu phu nhân rất thích tiểu thư Lục La, đặc biệt là vị nhị công tử này lại càng si mê tiểu thư Lục La, đã cho người tới dạm hỏi. Quách đại nhân và Lý phu nhân đều có ý đó, nhưng tiểu thư Lục La lại từ chối. Dù vậy Chu nhị công tử vẫn chưa từ bỏ ý định. Vừa hay Chu phu nhân tinh thông cầm kĩ, vì thế Chu nhị công tử liền nghĩ cách dụ tiểu thư Lục La tới nhà học đàn để có nhiều cơ hội tiếp xúc hơn. Nghe nói thời gian này tiểu thư Lục La càng học càng thích, hai nhà đều cho rằng sẽ có hỉ sự, không ngờ…”

Trái tim Huyền Trang từ từ chùng xuống, không ngờ người chết lại là con rể nhắm sẵn của Quách Tể, thảo nào vừa rồi Quách Tể và Lý Ưu Nương lại có phản ứng mạnh như vậy, chuyện này cũng thật sự là quá kinh người.

Huyền Trang nhất thời lòng như tơ vò, lại đột nhiên nhớ tới một chuyện: “Mã đại nhân, vừa rồi thấy rõ mặt mũi người chết, Lý phu nhân suýt nữa ngất đi, Quách đại nhân cũng hết sức kinh hãi, vậy mà vị tiểu thư này thậm chí còn không hề lộ diện. Chuyện này có nội tình gì, Mã đại nhân có biết hay không?”

“Có việc này sao?” Mã điển lại cũng kinh ngạc, trầm ngâm nói: “Tại hạ cũng không hiểu tiểu thư Lục La lắm, thường ngày cũng ít khi gặp. Có lẽ đại sư đã biết Lý phu nhân là góa phụ tái giá chứ?”

Huyền Trang gật đầu: “Biết. Còn biết chồng cũ của Lý phu nhân chính là Thôi Giác đại nhân.”

Mã điển lại lộ ra nụ cười đắng chát: “Không sai. Tại hạ từng nghe nói hai tin đồn về tiểu thư Lục La. Một là sau khi Lý phu nhân tái giá với Quách đại nhân, tiểu thư quyết chí thề không thay đổi họ của mình, kiên quyết vẫn giữ họ Thôi. Một tin khác là nghe nói cho tới bây giờ tiểu thư vẫn không gọi Quách đại nhân là phụ thân, gặp mặt chỉ gọi đại nhân. Ha ha, chuyện trước thì Quách đại nhân cũng không làm gì được, còn chuyện sau Quách đại nhân lại nhất quyết không chịu thừa nhận, nói rằng ở quê Lục La đều gọi phụ thân là đại nhân. Khụ khụ, vài năm trước đã làm các đồng liêu cười vỡ bụng. Có điều Quách đại nhân vẫn hết mực thương yêu đứa con gái này, quả thực coi như hòn ngọc quý nâng niu trên tay, thậm chí lời của tiểu thư còn có trọng lượng hơn cả phu nhân. Chỉ cần Lục La tiểu thư yêu cầu, Quách đại nhân sẽ tìm cách làm cho bằng được.”

Hai người nói chuyện thêm một lát nữa thì trời đã sáng rõ, Mã điển lại ngáp dài cáo từ.

Đám Quách Tể đã bận rộn cả đêm, đến lúc trời sáng lại còn bận hơn nữa. Chu lão gia biết con trai mình đã chết, còn mang tội danh giết người, lập tức nộ hỏa công tâm, suýt nữa ngất xỉu, dẫn người xông vào huyện nha làm ầm ĩ lên. Nhưng Đại Đường mới lập quốc, luật pháp nghiêm minh, bất kể Chu lão gia lắm tiền nhiều của thế nào, đối mặt nhân chứng vật chứng hoàn toàn kín kẽ cũng không thể làm gì được.

Bây giờ có ba điểm đáng ngờ. Một là Chu công tử làm thế nào lẻn vào Quách phủ? Hai là vì sao hắn phải ám sát Huyền Trang? Ba là hắn lấy đâu ra loại mê hương đáng sợ như vậy?

Điểm thứ nhất, đám Quách Tể cũng nghi hoặc không hiểu. Chu công tử không phải dạng trói gà không chặt, người từng trải qua thời loạn thế dù gì cũng có thể cưỡi ngựa khỏe, giương cung cứng. Vấn đề là việc hắn thực sự vượt qua tường huyện nha cao đến hai trượng năm thước mà không bị phát hiện là chuyện không thể xảy ra được.

Điểm thứ hai, đừng nói là đám Quách Tể không hiểu mà chính Huyền Trang cũng mù mờ không rõ. Ngài và một công tử phú hào không hề quen biết, sao có thể có thù hận gì với nhau đây? Cứ cho là có thù với vị Chu công tử này thật, thì chẳng phải với tiền tài và quyền thế của hắn, bỏ ra mấy chục quan tiền thuê người ám sát không tiện hơn nhiều hay sao? Cần gì phải nửa đêm xông vào huyện nha, đích thân động thủ giết người?

Điểm thứ ba lại càng không có biện pháp truy tra. Người đã chết, lại ngâm ở dưới nước rất lâu, dù có đem theo dư dả thì mê hương cũng tan hết ra rồi, hoàn toàn không còn vật chứng gì cả.

Vụ án còn chưa điều tra đã trở thành một vụ án không phá được. Quả đúng như Mã điển lại nói, Huyền Trang không hề bị ảnh hưởng gì, Ba La Diệp cũng chỉ bị lấy khẩu cung rồi được phóng thích. Huyện nha yêu cầu họ không được tự tiện rời khỏi huyện Hoắc Ấp khi vụ án này chưa điều tra xong, khi cần đi phải báo cho nha môn trước.

« Lùi
Tiến »