Dấn Thân

Lượt đọc: 2750 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 28

“Anh nghĩ là mình biết thứ gì ở trong cái thùng còn lại rồi,” William nói.

“Nhưng anh sẽ không kể cho em biết phải không?” Beth hỏi.

“Không. Phòng khi anh sai, lúc ấy em lại thất vọng.”

“Anh có nhận ra bức tranh ấy phải có xuất xứ Hà Lan hay Flander và từ những năm trước 1800 thì mới được hội đồng đánh giá của bên em cân nhắc treo không?”

“Nếu anh đúng,” William nói, “thì việc ấy không thành vấn đề. Và lai lịch của nó cũng ấn tượng chẳng kém gì bức Rembrandt đâu. Dù sao đi nữa, nhờ có em, anh đã được mời đến dự buổi lễ khai mạc.”

“Không phải em,” Beth nói. “Mà là giám đốc viện bảo tàng, Tim Knox, mới là người mời anh tới buổi lễ ‘khai thùng’. Em có thể nói ngay, anh sẽ không phải là lựa chọn đầu tiên của em đâu.”

“Anh có được hỏi là ai không?”

“Christina Faulkner, người phụ nữ đã làm nên mọi chuyện, và là người em không thể chờ để được gặp và cảm ơn trực tiếp.”

William không cần sự gợi nhắc nào đến dịp cuối cùng anh còn gặp Christina, và tự hỏi liệu có cơ hội nào thích hợp để cho anh kể Beth nghe chính xác việc gì đã xảy ra trong cái đêm ở Monte Carlo đó không.

“Có khi thứ Bảy này em còn vô tình gặp bà ấy,” Beth nói tiếp, “nếu bà ấy muốn ghé thăm Pentonville để an ủi chồng.”

“Anh không nghĩ vậy,” William nói. “Nhưng cha anh và Grace sáng nay sẽ đến nhà tù để báo cho cha em vài tin tức quan trọng.

“Tin tốt hay tin xấu?” Beth hỏi, giọng lo lắng.

“Anh không biết. Thậm chí ông ấy còn không kể với mẹ anh.”

“Em ước gì mình có thể đến đó để nghe tin,” Beth nói, “nhưng tốt hơn ta nên đi thôi nếu không muốn đến muộn buổi lễ khai thùng. Đây là một trong những ngày em mong mình có thể ở hai nơi chốn cùng một lúc biết bao.”

“Chào buổi sáng, Sir Julian. Tù nhân đang chờ ông trong phòng thẩm vấn.”

“Cảm ơn ông Rose.” Vị luật sư hoàng gia hàng đầu cùng trợ lí của ông đi theo viên quản giáo xuống một hành lang giờ đã trở nên quá quen thuộc.

Khi họ tới phòng thẩm vấn, Sir Julian bắt tay thân chủ của mình. “Chào buổi sáng, Arthur.”

“Chào buổi sáng, Sir Julian,” Arthur đáp lời rồi hôn vào cả hai má Grace.

“Để tôi bắt đầu bằng vài tin tốt nhé,” Sir Julian nói trong lúc ngồi xuống và đặt chiếc cặp Gladstone bên cạnh mình. Arthur trông có vẻ e dè. “Nhờ chuyên môn của Giáo sư Leonard Abrahams, một nhà phân tích giám định tài liệu ở trường Đại học Columbia, New York, ngài Viện trưởng Viện kiểm soát đã đồng ý ủng hộ đơn xin kháng án của chúng tôi, nói nôm na là một phiên xử lại.”

“Đó là một tin tuyệt vời,” Arthur nói.

“Và còn tốt hơn nữa là,” Grace nói, “chúng tôi đã được phân một xuất sớm trong lịch toà án, nên đơn kháng án của ông sẽ được xem xét trong vài tuần nữa thôi.”

“Làm sao ông làm được vậy?”

“Đôi khi người ta cũng gặp may,” Sir Julian nói.

“Đặc biệt là nếu ông và ngài Viện trưởng từng học cùng Oxf…”

“Ngoan nào, Grace,” cha cô bảo. “Mặc dù ta phải thừa nhận ta đã dùng hết tất cả đặc ân của mình rồi.”

“Tôi hết sức biết ơn,” Arthur nói.

“Cũng đáng để chờ đợi lâu như vậy,” Sir Julian nói mà không giải thích gì thêm. “Tuy nhiên, vì chúng ta chỉ có một tiếng thôi, Arthur, chúng ta phải dùng khoảng thời gian ấy thật khéo léo. Đầu tiên, tôi nên nói cho ông biết là tôi định chỉ gọi ba nhân chứng thôi.”

“Tôi có phải là một trong số đó không?” Arthur hỏi.

“Không ích gì,” Sir Julian nói. “Các phiên xử đơn kháng án được tổ chức trước ba thẩm phán, chứ không phải một bồi thẩm đoàn, và ông chẳng còn gì mới để kể cho họ. Họ sẽ chỉ quan tâm tới bằng chứng mới thôi.”

“Vậy ông sẽ gọi những ai?”

“Hai cảnh sát đã làm chứng từ phiên toà đầu tiên.”

“Nhưng khó có chuyện họ sẽ thay đổi lời khai của mình.”

“Có thể ông nói đúng. Tuy nhiên, William đã nhận được vài thông tin từ một nguồn chắc chắn, những thông tin ấy có thể khiến lời khai ban đầu của họ bớt đáng tin cậy hơn chút ít. Tuy nhiên, nhân chứng chính của chúng ta sẽ là Giáo sư Abrahams. Grace đang làm việc trực tiếp với ông ta, và con bé sẽ kể cho anh bằng chứng mà ông ta đã thu thập được, và quan trọng hơn cả là kết luận của ông ta nữa.”

Grace lôi một tập hồ sơ dày ra khỏi cặp táp và đặt nó lên bàn.

“Vậy để tôi bắt đầu…”

“Xin cho phép tôi được bắt đầu,” Tim Knox, giám đốc Viện Bảo tàng Fitzmolean nói, khi ông đứng đối diện với bạn bè và nhân viên, “bằng cách chào mừng tất cả các bạn tới với buổi lễ mà đồng nghiệp Beth Rainsford của tôi đã gọi là ‘lễ khai thùng’. Một khi bức tranh Rembrandt đã được lấy ra khỏi thùng của nó và trả về đúng vị trí, chúng ta sẽ mở chiếc thùng thứ hai và khám phá xem kho báu giấu trong đó là gì.”

Cứ làm luôn đi, William muốn nói thế.

Beth thì hài lòng với câu, “Em không chờ nổi.”

“Khi nào anh sẵn sàng, Mark,” vị giám đốc nói.

Mark Cranston, người phụ trách quản lý tranh, bước tới và từ từ mở nắp chiếc thùng thứ nhất ra như thể ông ta là một ảo thuật gia, để hé lộ một đống hạt nhựa xốp mà đội của ông phải mất một lúc mới dọn sạch được, nhưng sau đó lại phát hiện ra bức tranh được gói trong vài lớp vải mút-xơ-lin. Cranston nhẹ nhàng tháo từng lớp vải đi cho đến khi kiệt tác đã mất tích từ lâu lại xuất hiện.

Các khán giả há hốc miệng, và một giây sau thì tràng pháo tay đồng loạt nổ ra. Trưởng phòng thi công và đội của ông ta cẩn thận nhấc tấm vải lên và khẽ hạ nó vào khung, cố định bằng những cái nẹp tí hon. Tràng pháo tay thứ hai nổ ra khi bức tranh được treo lên những cái móc chờ sẵn của nó, để một lần nữa chiếm trọn khoảng không gian đã để trống suốt bảy năm nay.

“Chào mừng trở về nhà,” vị giám đốc nói.

Đám đông tụ lại ngắm nghía sáu vị Quan của Hiệp hội Thợ vải trong kinh ngạc, nhưng họ chỉ đáp lại sự ngưỡng mộ ấy với vẻ bất cần. Một lúc sau người quản lý tranh mới gợi ý là giờ họ nên mở tới cái thùng kia, dù rõ ràng vài nhà bảo trợ rất miễn cưỡng khi bị kéo ra khỏi những người bạn đồng hành đã bị mất từ lâu của họ.

Dần dà tất cả đều tụ lại chỗ giám đốc viện bảo tàng quanh chiếc thùng thứ hai, có những người không quá trông đợi một thứ gì to lớn. Họ im lặng chờ đợi buổi lễ được lặp lại. Đầu tiên người quản lý tranh nhấc nắp thùng lên, sau đó là dọn mớ hạt xốp, trước khi từng lớp vải mút-xơ-lin cuối cùng cũng được tháo ra để hé lộ một đối thủ xứng tầm thật sự với Rembrandt.

Cả đám đông cùng thảng thốt khi bức tranh tuyệt đẹp mô tả Chúa Jesus giáng thế từ trên thánh giá của Peter Paul Rubens được hé lộ.

“Ông Faulkner mới rộng lượng làm sao,” một nhà bảo trợ nói, trong khi một người khác mạo muội đoán, “Mua một được hai. Chúng ta quả thực là may mắn.”

“Tôi có nên treo nó bên cạnh bức Rembrandt không?” người quản lý tranh hỏi.

“Tôi e là không,” giám đốc bảo tàng nói. “Thực ra tôi sẽ phải yêu cầu anh đặt nó lại thùng và đóng lại nắp.”

“Tại sao?” Một người bảo trợ khác hỏi. “Cái nhãn trên thùng rõ ràng đã nói rằng bức tranh này là tài sản của Fitzmolean.”

“Quả là vậy,” ngài giám đốc nói. “Và tôi không thể phủ nhận rằng bức tranh xuất sắc này sẽ làm đẹp bộ sưu tập của chúng ta, và thu hút những người yêu nghệ thuật từ khắp nơi trên thế giới. Nhưng không may, sáng nay tôi đã nhận được một bức thư từ Luật sư tư vấn Hoàng gia Booth Watson, ông ta chỉ ra rằng cái nhãn của hai chiếc thùng đựng tranh rõ ràng đã bị ai đó tráo đổi nhưng chắc chắn không phải là khách hàng của ông ta. Ông Faulkner đã luôn muốn trả lại bức Rembrandt, và rất vui khi được biết nó đã trở về vị trí của mình một cách an toàn. Tuy nhiên, bức Ruben này, vốn đã nằm trong bộ sưu tập cá nhân của ông Faulkner suốt hai mươi năm vừa qua, và phải được trao trả về cho ông ta ngay lập tức.”

Giờ thì William đã hiểu tại sao Faulkner lại cười khi bị bắt, nhưng vẫn không thể không hỏi, “Hắn định treo nó ở đâu kia chứ? Trong buồng giam chắc?”

“Tất nhiên, tôi đã lập tức tìm kiếm lời khuyên pháp lý,” giám đốc bảo tàng nói, lờ đi câu hỏi chen ngang, “và các luật sư của chúng ta đã khẳng định chúng ta không có cách nào khác ngoài chấp thuận yêu cầu của ông Booth Watson.”

“Họ có đưa ra lí do không?” Người quản lý tranh hỏi.

“Theo ý kiến của họ nếu tranh chấp về quyền sở hữu mà phải đưa ra toà, thì không những chúng ta sẽ thua, mà còn cực kì tốn kém nữa. Trong lúc này, bức tranh sẽ được đặt vào một phòng chứa an toàn cho đến khi ban giám đốc đưa ra quyết định cuối cùng, mặc dù tôi không có lí do gì để tin rằng họ sẽ không đồng ý với quan điểm của các cố vấn pháp lý và lệnh cho tôi trả bức Rubens về cho ông Faulkner ngay.”

Một vài nhà bảo trợ và khách tiếp tục ngưỡng mộ bức tranh của Rubens, ý thức rõ rằng họ sẽ không bao giờ thấy lại nó nữa. William chỉ quay mặt đi khi cái nắp thùng cuối cùng cũng được đóng lại. Một cơn rùng mình ớn lạnh chạy dọc sống lưng anh khi anh quay ra và thấy Beth đang say sưa thảo luận với Christina Faulkner. Anh tự hỏi liệu Christina có kể cho cô ấy nghe sự thật về những gì đã xảy ra trong đêm ở Monte Carlo đó không.

Luật sư Booth Watson không chào Sir Julian khi họ đi ngang qua nhau trong hành lang.

“Không có phần thưởng nào cho ai đoán được ông ta sắp sửa tư vấn ai,” Grace nói. “Lời đồn đoán trong phòng thay đồ là gì ạ?”

“Faulkner đang phải đối mặt với ít nhất là sáu, có khi là tám năm tù, nhưng việc các tờ báo lá cải không ngừng gọi hắn như một kiểu Raffles thời hiện đại, thay vì vạch trần hắn như một tên tội phạm thông thường.”

“Nhưng chính thẩm phán mới là người quyết định độ dài của bản án, chứ không phải giới báo chí,” Grace nói.

“Ấy là trong trường hợp bồi thẩm đoàn không tha bổng cho hắn. Con có thể chắc chắn rằng hắn sẽ có cả một câu chuyện chau chuốt khi đến ngày xuất hiện trên bục nhân chứng, và sẽ kể lại nó chắc như đinh đóng cột.”

Họ rời nhà tù cùng thời điểm Booth Watson bước vào phòng thẩm vấn.

“Chào buổi sáng, Miles,” ông ta nói và ngồi xuống chiếc ghế đối diện với thân chủ mình. “Tôi ước gì ông đã ở yên tại Melbourne và xem nốt trận Test, như tôi đã gợi ý.”

“Nhưng nếu thế,” Faulkner bảo, “thì cả bộ sưu tập nghệ thuật của tôi giờ đã đang ở phía bên kia địa cầu rồi.”

“Không đến nỗi thế nếu ông để tôi xử lý Warwick ở Southampton trước khi cậu ta xuống khỏi tàu Christina .”

“Ai là Warwick?”

“Cậu thanh tra trẻ đã ghé thăm vợ ông ở Monte Carlo ấy, đã đạt được thoả thuận với bà ta, rồi đóng dấu nó trên giường vào đêm đó.”

“Vậy chắc anh sẽ làm được vài vòng quanh Warwick khi bắt gã lên bục nhân chứng nhỉ.”

“Ấy là nếu cậu ta lên được bục nhân chứng. Chắc chắn cậu ta sẽ không lên nếu tôi mà là người tư vấn cho bên kia. Tôi sẽ để một dân chuyên già đời như Hawksby lên bục, chứ không phải Warwick. Vậy nên lúc này chúng ta sẽ quên cậu ta và tập trung vào việc biện hộ cho anh, nói thật thì việc đó có vẻ hơi te tua một chút.”

“Bọn họ cáo buộc tôi những gì?”

Booth Watson lấy ra một tờ giấy từ trong cặp. “Rằng ông ‘cố ý và tìm mọi cách đánh cắp một báu vật quốc gia mà không hề có ý định trả lại nó cho chủ nhân hợp pháp.’ Và trước khi ông nói gì, tôi khuyên ông không nên nói rằng mình chưa từng trông thấy bức Rembrandt trước đó, vì vợ ông chắc chắn sẽ làm chứng rằng nó đã ở trong nhà ông tại Monte Carlo suốt bảy năm qua. Và bên Công tố cũng chắc chắn sẽ hỏi, nếu ông không đổi hai cái nhãn trên thùng cho nhau, thì ai là người đã làm?”

“Chốt lại là gì?” Faulkner hỏi.

“Nhiều lắm là tám năm, nhưng có khả năng là sáu, tuỳ vào việc chúng ta có thẩm phán nào.”

“Anh thay đổi được không, BW?”

“Ở Anh thì không, Miles ạ. Nhưng tôi đang cho đội quan hệ công chúng làm việc với hình ảnh của ông rồi, và hiện nay trên báo chí người ta đang nhìn vào ông như một phiên bản trộn lẫn giữa Scarlet Pimpernel và Raffles. Nhưng không may, quan điểm của bồi thẩm đoàn, chứ không phải của công chúng, mới là thứ quyết định số mệnh của ông.”

“Anh đã có tấm thẻ bài miễn tử giấu sẵn đó chưa, BW?”

Booth Watson nhìn thẳng vào mắt thân chủ của mình trước khi nói, “Chỉ khi ông dám chấp nhận một sự hi sinh.”

« Lùi
Tiến »