Nguyễn Hữu Chỉnh về làm môn hạ quận Huy mười năm và rất được quận Huy tin dùng. Khi mới vào phủ của Huy quận, Hữu Chỉnh được giao làm quản lĩnh đội Thiện tiểu. Có kẻ ác ý, hỏi giễu:
- Ông thường tự hào về chí làm trai, sao lại là Thiện tiểu - nhỏ thế?
Hữu Chỉnh lập tức đáp lại:
- Xưa có câu rằng, quân tử chớ cho điều thiện nhỏ mà không làm.
Câu trả lời của Hữu Chỉnh khiến kẻ kia đớ người còn đám người trong phủ cười vang. Dần dần, quận Huy ngày càng yêu mến Hữu Chỉnh chẳng kém gì quận Việp và đã tin tưởng giao cho Hữu Chỉnh huấn luyện thủy quân.
Năm 1788, quận Huy được giao trấn thủ Nghệ An, liền cho Nguyễn Hữu Chỉnh giữ chức Hữu Tham quân, giúp đánh dẹp giặc biển. Nguyễn Hữu Chỉnh luôn luôn thắng trận, nghề thủy vào bậc vô địch bấy giờ nên người vùng biển gọi Hữu Chỉnh là “con cắt biển” (hải điêu).
Quận Huy đi trấn thủ Sơn Nam, Nguyễn Hữu Chỉnh đổi sang đội Tiền trung rồi Tiền cơ, đóng ở Nghệ An. Vốn là người thông minh, hiểu rõ thời cuộc nhưng chưa thể làm gì để thi thố tài năng, khiến tâm trạng của ông không yên. Cách suy nghĩ vượt lên trên sự hiểu biết thông thường khiến ông bị nhiều kẻ ghen ghét. Bài thơ làm thời kỳ này của ông thể hiện trạng thái bất đắc chí và đẫm nỗi buồn thế sự:
Kẻ yêu nên ít bề cao hạ
Người ghét, càng nhiều tiếng thị phi
Và
Ai có hay chăng là chẳng hay?
Lòng này vốn đã dậy thân này.
Kẻo lầm, kẻo lỡ, người yêu ghét,
Đà tỏ, đà tường, kẻ thảo ngay
Xem nỗi thế-thời, xem đã nhạt,
Bén mùi đạo lý, bén càng say.
Phải cơ mới biết cơ Trời nhiệm (mầu nhiệm),
Có rủi bằng dường lại có may.
Dẫu sao tâm trạng dằn vặt ấy chỉ là nhất thời bởi Nguyễn Hữu Chính vốn dĩ là một con người hành động. Ông luôn luôn tính toán, phân tích lợi hại và khi cần, ông thường tỏ ra quyết đoán. Ông hiểu rõ thời thế rối ren và theo ông, ai phân tích, hiểu rõ được đại cục sẽ là người chiến thắng. Vì thế, ngay cả thời kỳ trấn ở đất Nghệ An, ông vẫn luôn theo dõi mọi diễn biến ở kinh thành để khi cần, sẽ lập tức hành động.
Và mọi điều ông toan tính quả là không vô ích. Một lần, khi Nguyễn Hữu Chỉnh đang ở trấn Nghệ An, chợt có người hớt hải vào dinh bẩm báo:
- Chủ tướng, có tin gấp từ kinh đô. Người phụ trách đạo Hậu Kiên xin gặp.
Nguyễn Hữu Chỉnh giật mình:
- Tên hắn là gì?
- Dạ, hắn xưng tên là Nguyễn Viết Tuyển.
Nguyễn Hữu Chỉnh vội nói:
- Cho hắn vào ngay!
Nghe nhắc đến tên Tuyển, Nguyễn Hữu Chỉnh lo ngại không biết ở kinh đô đã xảy ra chuyện gì. Vốn Tuyển là người cùng làng với Hữu Chỉnh, thi võ đỗ biền sinh, nổi tiếng là người can đảm, mưu lược. Nhờ Nguyễn Hữu Chỉnh tiến cử với quận Việp, Tuyển được quận Việp trọng dụng. Khi đóng ở Trấn Ninh, Nghệ An, Nguyễn Hữu Chỉnh đã giao hẹn, nếu có việc gì xảy ra ở kinh thành, Tuyển cần báo ngay cho ông rõ. Vì thế, nghe nói Nguyễn Viết Tuyển xin gặp, Nguyễn Hữu Chỉnh cảm thấy đã có chuyện chẳng lành xảy ra.
Một lát sau, Nguyễn Viết Tuyển bước vào. Trông thấy Tuyển, Nguyễn Hữu Chỉnh cố giữ vẻ bình thản, bảo:
- Ngươi vào đi, đã lâu không gặp.
Tuyển cúi đầu chào, khẽ nói:
- Hữu tham quân, mọi việc diễn biến quá nhanh, đến ngài cũng không ngờ tới.
Rồi Tuyển đem hết những chuyện nhốn nháo suốt dọc đường kể lại cho Nguyễn Hữu Chỉnh rõ. Nghe xong câu chuyện, Nguyễn Hữu Chỉnh cảm thấy bối rối, thật sự hoang mang. Song vốn là người cơ mưu, ông cố trấn tĩnh, không để lộ cho Viết Tuyển biết. Đầu óc ông tính toán rất nhanh xem nên hành động thế nào trong tình huống này. Cần phải quyết định đi ngay vào Nam, nhưng trước hết phải bàn với Dao trung hầu ở trấn sở doanh để liệu thời cơ hành động.
Vốn là người thức thời nên ngay từ khi Hoàng Ngũ Phúc sai ông mang sắc ấn, cờ kiếm phong tước cho Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hữu Chỉnh đã thấy rõ, anh em Tây Sơn là những người có nhiều tham vọng, chẳng thể chịu ở dưới quyền lực của ai lâu. Việc họ sai sứ giả đến trại Hoàng Ngũ Phúc chỉ là một sách lược nhất thời. Tuy nhiên, Nguyễn Hữu Chỉnh nhận thấy đây là một lực lượng đáng kể, không thể coi thường nên khi tiếp xúc với Nguyễn Nhạc, ông đã tỏ ra là người hiểu biết và đáng tin. Giờ đây, những toan tính đầy tính thực tiễn của ông đã có tác dụng. Ông có thể hướng về Tây Sơn mà phò tá.
Ông còn cho rằng, nhà Tây Sơn từ lúc dấy nghiệp, thuộc hạ chủ yếu là những tay võ biền. Nay tuy đã dựng được một triều đình riêng ở Quy Nhơn nhưng thiếu người có thể sắp đặt triều chính, kinh bang tế thế. Nếu ông theo vào phò tá, chắc sẽ được trọng dụng và ông có thể thi thố tài năng. Như vậy, việc ông rời Bắc Hà dù là thế cùng nhưng không phải vì sự thất thế đó mà ông trở nên vô dụng.
Sau khi tính toán rất nhanh, Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức đến dinh của Vũ Tá Dao. Vốn trung hầu Vũ Tá Dao là em rể quận Việp, lại đang làm trấn thủ Nghệ An, nắm trong tay một số lớn binh lính. Nếu Vũ Tá Dao nghe theo, đem quân vào Nam thì mọi việc đối với ông sẽ dễ dàng hơn. Còn ông dù thế nào cũng phải đi ngay, không thể ở đây chờ chết vì Trịnh Tông đã lên ngôi chúa, mà Trịnh Tông và quận Huy vốn là kẻ thù không đội trời chung. Ông lại là vây cánh đắc lực của quận Huy, không cao chạy xa bay thì không những hại đến gia đình mà ngay cả bản thân cũng không toàn tính mạng.
Lập tức, Nguyễn Hữu Chỉnh rẽ qua nhà, dặn dò vợ chuẩn bị hành lý, mang những thứ thật cần thiết để gấp rút lên đường, lại sai mấy gia nhân trung thành đi thuê thuyền lớn, chất của cải lên thuyền, chuẩn bị nhổ neo. Cắt đặt xong mọi việc, ông vội vã đến dinh của trung hầu Vũ Tá Dao.
Nghe nói Nguyễn Hữu Chỉnh xin vào gặp, Vũ Tá Dao lật đật bước ra. Trung hầu cũng đã nghe phong thanh mọi việc xảy ra ở kinh thành, phấp phỏng không rõ thực hư thế nào, trong bụng rất lo lắng bởi vốn là người nhà quận Huy, trước sau gì cũng bị dính líu, nhưng chưa biết phải quyết thế nào. Vì thế, nghe nói Nguyễn Hữu Chỉnh đến, Vũ Tá Dao đoán mười mươi lý do Nguyễn Hữu Chỉnh đến là về việc này. Hãy thử xem ý kiến của ông ta ra sao rồi sẽ tính. Vì thế, Dao trung hầu mời Nguyễn Hữu Chỉnh vào dinh, sau khi bảo hết thủ hạ lui ra, khẽ nói:
- Chắc Hữu tham quân đến về việc có biến ở kinh thành.
Nguyễn Hữu Chỉnh gật đầu:
- Ngài đoán không sai. Nhưng mọi việc diễn biến quá nhanh, loạn lắm, không như ngài tưởng đâu. Tôi có một người thân cùng làng, hắn chạy từ kinh đô về đây báo tin cho tôi biết. Phải quyết rất nhanh, lửa đã cháy bén đáy nồi rồi.
Dao trung hầu tái mặt, khẽ hỏi:
- Theo ý Hữu tham quân, nên như thế nào?
Nguyễn Hữu Chỉnh hạ giọng:
- Trấn này giáp liền Thuận Hóa, hiện quận công Hoàng Đình Thể - phó tướng Phú Xuân, Khôi Thọ hầu, lưu thủ đồn Động Hải đều vốn là quân dưới trướng của Việp quận công, như vậy là dễ cho tôi và ngài rồi. Ngài nên viết mật thư cho Hoàng Đình Thể, khuyên quận công tìm cách giết đại tướng Phú Xuân, chiếm lấy thành rồi kêu gọi Khôi Thọ đem đồn Động Hải liên kết lại. Như thế, ngài ở đây cứ việc giữ trấn này làm thế môi răng, nương tựa vào nhau. Tiếp đó ngài nên chiêu mộ hào kiệt, thổ binh, chặn đường Hoàng Mai, đóng đồn lớn ở Quỳnh Lưu làm kế cố thủ. Như vậy, trấn này có thể giữ yên, có thể lấy đó làm chỗ dựa. Còn về việc phòng thủ trên biển, ngài hãy để tôi đảm nhiệm, như thế mới có thể chống lại được nhà chúa mà thoát khỏi tai nạn. Vậy cũng có nghĩa là lấy được nửa thiên hạ rồi. Ngài chẳng những không bị triều đình hỏi tội, còn có thể ung dung ngồi đó nhìn thiên hạ thay đổi, lại không hay ư? Ngài còn nhớ quận Siêu thời chúa Trịnh Giang, đã từng giữ trấn này để chống lại nhà chúa không? Sự thể bây giờ còn lợi hơn thời quận Siêu mang quân đến đây đấy.
Dao Trung hầu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi bảo:
- Kế của Hữu tham quân không chê vào đâu được, nhưng e rằng sức tôi không đảm đương nổi. Liệu còn có cách gì khác không?
Nguyễn Hữu Chỉnh lắc đầu:
- Chả còn kế gì khác, chỉ có mỗi cách là bỏ nước mà đi.
Dao Trung hầu ngạc nhiên:
- Đi ư, ông bảo đi đâu?
- Thiên hạ vạn nước, lo gì không có chỗ đi. - Nguyễn Hữu Chỉnh ung dung đáp - Ngài hãy cân nhắc lời của tôi xem sao.
Vũ Tá Dao cũng toan theo Hữu Chỉnh vào với Tây Sơn nhưng rồi lại ngần ngại, bảo:
- Đây là việc lớn, để tôi nghĩ kỹ lại xem.
Nguyễn Hữu Chỉnh bực mình bảo:
- Việc kíp đến nơi rồi. Đợi ngài nghĩ xong thì còn gì là đời. Thôi, ngài cứ ở lại mà nghĩ.
Sau đó Nguyễn Hữu Chỉnh đưa tất cả gia đình và tài sản xuống thuyền. Trước khi nhổ neo, Nguyễn Hữu Chỉnh nói rõ mọi chuyện cho hơn 300 lính cơ dưới quyền, lại cho mỗi người một quan tiền rồi hạ lệnh nhổ neo, giong thuyền ra biển. Lúc đó, mọi người mới biết Nguyễn Hữu Chỉnh sẽ đi vào Quảng Nam.
Giong buồm ra biển về dưới trướng của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hữu Chỉnh hồi tưởng lại thời gian khi làm nhiệm vụ sứ giả đưa tin. Đã có lần, ông còn mang cờ, kiếm thay mặt Việp quận công vào phong cho Nguyễn Nhạc là Duy quốc công, Tây Sơn Duyên úy đại sứ. Những lần tiếp xúc như vậy, do ăn nói rất khéo léo nên Nguyễn Nhạc rất có cảm tình với ông. Đây cũng là lợi thế của ông khi rời đất Bắc theo Tây Sơn .
Biết tin Nguyễn Hữu Chỉnh quay về Quảng Nam, xin vào ra mắt, Nguyễn Nhạc vừa mừng vừa có ý phân vân. Mừng vì có một thuộc hạ giỏi như Nguyễn Hữu Chỉnh, nhưng băn khoăn không rõ mục đích của Nguyễn Hữu Chỉnh thế nào, có tin được hay không?
Bước vào dinh của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hữu Chỉnh nhận thấy cách trưng bày bàn ghế, màn trướng, hình khắc trên cột kèo vẫn như khi ông đến đây với tư cách là sứ giả của họ Trịnh.. Là một người từng trải và giàu có, lần này lại đến đây không phải với tư cách sứ giả, Nguyễn Hữu Chỉnh tự nhủ, phải cố quan sát thật kỹ nơi này để hiểu thêm về những con người từ nay sẽ gắn bó với ông. Ông nhận thấy cách bày biện ở phủ Quy Nhơn có vẻ thô kệch, quê mùa, chắc hẳn các vị chủ nhân của nó không am hiểu gì nhiều về nghệ thuật. Sự so sánh này khiến Nguyễn Hữu Chỉnh cảm thấy có phần chua chát. Họ là như thế nhưng hiện tại họ mạnh hơn ông. Ông phải làm thế nào để họ tin ông, lấy đó làm chỗ dựa mà thực hiện hoài bão của mình.
Nghĩ vậy, ông cố giữ vẻ trầm tĩnh tự tin, bước vào nơi Nguyễn Nhạc đang ngồi. Cùng ngồi với Nguyễn Nhạc là một người đàn ông mắt sáng, tóc quăn, dáng nhanh nhẹn. Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức đoán ra, người ấy chính là Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ. Với đôi mắt sành sỏi của một người mấy đời giàu có nhờ buôn bán, Nguyễn Hữu Chỉnh biết ngay lúc này, Nguyễn Huệ là nhân vật đang lên của Tây Sơn.
Qua vài câu thăm hỏi xã giao, chỉ thoáng qua, Nguyễn Hữu Chỉnh đã hiểu Nguyễn Nhạc chưa thực sự tin mình. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh liền đem mọi chuyện diễn ra ở Bắc Hà kể tường tận với Nguyễn Nhạc. Nghe Nguyễn Hữu Chỉnh kể, khuôn mặt của Nguyễn Nhạc như giãn ra, riêng Nguyễn Huệ không tỏ thái độ gì, đôi mắt sáng quắc chỉ nhìn Nguyễn Hữu Chỉnh chăm chú, dường như Nguyễn Huệ đã nhìn ra thâm tâm Nguyễn Hữu Chỉnh muốn gì. Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức cũng nhận thấy, ông chưa thể lấy được lòng tin của Nguyễn Huệ. Nhưng ở vào hoàn cảnh của ông lúc này, điều đó là không tránh khỏi. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh cố tỏ ra bình thản, chậm rãi nói:
- Cũng chả giấu gì ngài, hiện tại hạ đang lâm vào tình cảnh bi đát. Tại hạ những muốn thi thố tài năng nhưng không được chúa Trịnh dung, cực chẳng đã phải bỏ nước mà đi. Suy tính chán, thấy Quảng Nam có thể là nơi cho tại hạ được chốn dung thân, có thể tỏ rõ ý chí của mình nên đánh liều đưa gia quyến vào đây.
Nguyễn Nhạc nghe Hữu Chỉnh nói xong, sự nghi ngờ đã tan biến, cười bảo:
- Là chỗ quen biết cũ, cũng đã rõ về nhau. Người xưa bảo, hùm thiêng có lúc cũng sa cơ, chả cần phải nói đã rõ cả. Nay đã vào đây, nếu tận tình trung thành giúp ta, sợ gì không có ngày lại được nổi danh.
- Cảm ơn ngài đã cho nương náu. Tôi xin đem cả gia đình vợ con ra để làm tin. Sau này mọi việc sẽ chứng tỏ cho ngài rõ, tôi hết lòng với ngài thế nào.
Nguyễn Nhạc hể hả:
- Được một người như Nguyễn Hữu Chỉnh làm môn khách thì còn gì bằng. Hãy yên tâm ở đây với ta.
Đêm ấy, khi chỉ một mình một bóng, Nguyễn Hữu Chỉnh ngồi bên án suy nghĩ: “Ta năm nay đã ngoài 30, ở cái tuổi tam thập nhi lập, thế mà công danh lại lận đận thế này. Việc phải bỏ nước mà đi đâu phải là điêu ta mong muốn. Nhưng cái thế bắt buộc phải làm vậy. Trời mà chưa mở cửa cho ta thì đâu dễ gì có thể thi thố tài năng? Muốn được Nguyễn Nhạc tin dùng, có lẽ phải đi tiên phong xông pha tên đạn. Dầu sao, đây sẽ là nơi đầu tiên để thiên hạ biết đến Hữu Chỉnh này”.
Sau đó, Hữu Chỉnh cầm bút viết mấy dòng thơ tự thuật:
Lửa thành từ thuở dẹp Nam đô
Tế tát nhiều phen trận được thua
Xanh biếc cảnh xôn người ẩn dật
Bạc đen đường rộn khách bôn xu
Suy cơ khăn khán đau lòng trí
Toan chước dần dần nát dạ ngu
Muốn tới Vị Tân mà hỏi Lã
Rằng Chu xưa cũng thế này ru ?
Từ khi vào nương nhờ Nguyễn Nhạc, Hữu Chỉnh ra sức chứng tỏ cho Nguyễn Nhạc thấy tài năng của mình. Dần dần, Nguyễn Nhạc ngày càng thêm yêu mến Nguyễn Hữu Chỉnh. Hữu Chỉnh đã bầy nhiều mưu mẹo giúp Tây Sơn, nào bổ các chức, nào bầy ra văn học. Có thể nói, cái khuôn mẫu chính trị của Bắc Hà đã được đem áp dụng ở Quảng Nam. Hơn thế, Nguyễn Hữu Chỉnh còn tỏ ra là một người dũng cảm, luôn đi tiên phong trong những trận đánh nhau với Xiêm La và Bồn Man khiến đất đai của Tây Sơn ngày thêm mở rộng, hùng cường.
Từ khi Nguyễn Hữu Chỉnh vào Quảng Nam, chúa Trịnh lấy làm lo ngại nên đã có lời truyền, ai gọi được Nguyễn Hữu Chỉnh về sẽ được trọng thưởng.
Biết việc này, một người em rể của Nguyễn Hữu Chỉnh tình nguyện xin đi, nhận chỉ dụ của phủ chúa và lên đường. Người này vào Quảng Nam tìm đến gặp Nguyễn Hữu Chỉnh. Vừa gặp lại người quen cũ, Nguyễn Hữu Chỉnh đã rõ mười mươi lý do người này đến nên hỏi ngay:
- Chú lận đận vượt đường xa tới đây làm gì? Định làm thuyết khách cho nhà Trịnh chắc. Chú nghĩ lại xem, ta đã từng nghe ai xui khôn xui dại chưa mà dám cả gan như vậy?
Thấy người em rể lúng túng vì bị phủ đầu, Nguyễn Hữu Chỉnh nghĩ: “Phải hỏi cặn kẽ xem hắn vào đây ngoài việc dụ dỗ ta còn có ý gì khác rồi sẽ liệu bề tính sau”. Nghĩ vậy, Nguyễn Hữu Chỉnh hạ giọng:
- Thôi được, từ Bắc Hà vào đây, chú biết những chuyện gì, kể ta nghe xem? Từ khi quận Huy gặp nạn, những người trong gia đình thế nào?
Người em rể vội vàng trả lời:
- Công chúa (vợ quận Huy) bị giam vào hậu cung. Hai công tử bỏ chạy về huyện Yên Dũng, dấy binh trả thù, sau bị Mãn trung hầu bắt sống, giải về kinh. Triều đình bàn luận, hai công tử đáng tội chết nhưng chúa nghĩ tình anh em con cô con cậu, ra ơn tha cho tội chết song lại bị thái phi ngầm sai người đánh thuốc độc, công tử trưởng trúng độc chết, công tử thứ hai hiện đang bị giam. Còn công chúa, là cô ruột của chúa nên chúa không nỡ hành hạ song bị thái phi làm cho khổ cực đủ đường, uất giận mà chết.
Nghe xong, Nguyễn Hữu Chỉnh than:
- Hai công tử bồng bột, sao mà không hỏng việc. Còn công chúa chết cũng phải, sống mà làm gì cho nhục...
Nguyễn Hữu Chỉnh hỏi tiếp:
- Còn việc báo ân báo oán gì nữa?
Người em rể đáp:
- Đặng Thị bị Thái phi làm tình làm tội, sau giáng làm cung tần vào hầu hạ lăng tẩm của chúa. Đúng ngày giỗ của Thịnh Vương, đã uống thuốc độc tự tử. Ngoài ra, chúa ban ý chỉ khoan dung với mọi người, chỉ riêng những kẻ tố giác việc chúa có ý định phế lập (xóa bỏ ngôi chúa của Trịnh Cán) là không được tha mà thôi.
Nguyễn Hữu Chỉnh im lặng một lát rồi hỏi tiếp:
- Thế có điềm lành điềm gở gì không?
Người em rể cứ thực tình kể, điềm lành không thấy, điềm gở thì nhiều, nào là núi vua Hùng sụt hơn hai chục thước, nào là sông Thiên Đức cạn hẳn một ngày một đêm, rồi tiếng quạ đêm ngày lao xao, quang quác.
Đã hiểu rõ mọi chuyện, những gì cần biết đã biết cả, Nguyễn Hữu Chỉnh nghĩ, việc người em rể đến đây, chắc mọi tin tức đều đến tai Nguyễn Nhạc. Biện minh với Nguyễn Nhạc là rất khó, chỉ có một cách duy nhất chứng tỏ lòng trung với vua Tây Sơn là giết người em rể này. Đây là việc làm cực chẳng đã, nhưng biết làm sao được? Ai bảo người em rể hám lợi, không biết tính toán, đâm đầu vào làm cái việc thuyết khách ngu ngốc này?
Ngay sau đó, Nguyễn Hữu Chỉnh sai người nhà làm cơm thết đãi, rồi căn vặn:
- Nói thực đi, ai sai chú vào đây?
Người em rể đáp:
- Thấy tôi với quan lớn có tình bà con nên Lân trung hầu xin chúa giáng chỉ sai tôi vào khuyên quan lớn về triều cho khỏi mất công danh phú quý.
- Thật ngu ngốc, còn cả cái kẻ dám sai chú đến đây dụ ta về nữa, dám khinh nhờn ta quá lắm. Hôm nay là ngày giỗ của chú đấy, nếu oan ức thì xuống âm phủ mà kiện đứa đã sai chú làm việc này.
Rồi hạ lệnh đem người em rể ra chém. Chuyện đến tai Nguyễn Nhạc, Nguyễn Nhạc càng thêm tin Nguyễn Hữu Chỉnh hơn.
Đã mấy năm ở với Nguyễn Nhạc nhưng lòng Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn nhớ về cố hương. Mặc dầu được Nguyễn Nhạc hậu đãi song với một người không tầm thường như Nguyễn Hữu Chỉnh, nếu nương náu chỉ vì no ấm thì đâu có phải ước muốn của ông. Ông đến nương náu dưới trướng Nguyễn Nhạc một phần vì thế cùng, phần khác, thâm tâm ông đã tính đến việc tận dụng lực lượng của Nguyễn Nhạc để thay đổi số phận của mình. Một người có ý chí muốn vẫy vùng ngang dọc như ông luôn có khát vọng được thi thố tài năng trong cảnh xã hội biến động đều muốn tận dụng hoàn cảnh để thay đổi thời cuộc, giành lợi thế trên một bàn cờ mà giờ đây, hai đối thủ tương đối ngang tài ngang sức là chúa Trịnh và anh em Tây Sơn đang đấu trí đấu lực.
Vì thế, năm 1786, nghe tin Trấn tướng Thuận Hóa Phạm Ngô Cầu sai Dương lĩnh bá Nguyễn Phu Như vào Quy Nhơn để điều đình với Nguyễn Nhạc về địa giới, Nguyễn Hữu Chỉnh rất mừng. Ông liền mời Nguyễn Phu Như về nhà, thết đãi cơm rượu, nhân tiện hỏi dò tình hình Thuận Hóa - vùng đất giờ đây đã thuộc về chúa Trịnh.
Vốn Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Phu Như trước đã kết tâm giao nên Nguyễn Hữu Chỉnh hỏi điều gì, Như cũng thực tình nói hết, không giấu diếm. Qua câu chuyện của Như, Nguyễn Hữu Chỉnh biết vùng Thuận Hóa là vùng đất mới, quân Trịnh chưa thể kiểm soát triệt để, hơn nữa, Trấn tướng vùng đất này lại ham mê săn bắn, việc trị an có phần chểnh mảng, vì thế ông cho rằng, nếu có thể thuyết phục Nguyễn Nhạc đưa quân đi đánh thì việc thành công gần như nắm trong tay. Quân Tây Sơn mà giành được Thuận Hóa thì việc trở về Bắc Hà của ông sẽ trở nên dễ dàng bởi theo như lời Nguyễn Phu Như, hai xứ Thanh Nghệ và cả bốn trấn hiện đang đói lớn, dân chúng ca thán, lại chẳng ưa gì binh lính Trịnh nên tình thế nắm giữ đất của quân Trịnh ở đây không thể lâu bền. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh nghĩ, phải chớp thời cơ, hành động ngay. Chiếm được Thuận Hóa rồi, chắc chắn ông sẽ có cơ hội trở về vùng đất quen thuộc, lúc ấy cuộc đời của ông sẽ đổi khác.
Sau khi nghiền ngẫm hết mọi tình huống, Nguyễn Hữu Chỉnh xin vào gặp Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc nghe nói Nguyễn Hữu Chỉnh xin vào gặp thì mừng rỡ cho truyền ngay vào. Vốn Nguyễn Nhạc phục tài ăn nói của Nguyễn Hữu Chỉnh, lại thêm việc Nguyễn Hữu Chỉnh mấy năm ở với Tây Sơn, đã tỏ ra rất mẫn cán, làm được nhiều điều cho triều đình nên dần dần chiếm được lòng tin của Nguyễn Nhạc, vì thế, việc Nguyễn Hữu Chỉnh đột ngột xin vào gặp ngay sau khi Nguyễn Phu Như xuất hiện khiến Nguyễn Nhạc biết chắc có việc gì hệ trọng lắm.
Khi Nguyễn Hữu Chỉnh bước vào thi lễ, Nguyễn Nhạc gật đầu ra hiệu cho Nguyễn Hữu Chỉnh ngồi gần mình và ra lệnh cho các thủ hạ ra ngoài, không ai được vào khi hai người đang nói chuyện.
Chờ cho mọi người ra hết, Nguyễn Hữu Chỉnh khẽ nói:
- Tại hạ có việc nên xin diện kiến. Hôm trước, tại hạ đã dò hỏi rất nhiều Dương lĩnh bá Nguyễn Phu Như và thấy đây là thời cơ quân Tây Sơn có thể tiến công quân Trịnh. Thành Phú Xuân là chỗ đầu cùng của miền biên giới, một nơi rất xung yếu. Vì thế, chúa Trịnh đã để ba ngàn quân đóng đồn và ba vạn quân thay phiên canh phòng, lại cử một đại tướng, một phó tướng, một đốc thị, một phó đốc thị trông nom công việc này. Các nơi trọng yếu từ đèo Ải Vân trở ra đều lập đồn đóng quân, còn bổ sung thêm lính là dân địa phương nữa. Vùng này chúa Trịnh cho khai khẩn đất đai, mở mang lưu thông hàng hóa, còn lấy việc thi cử chọn người tài để ra làm việc cho triều đình...
Nguyễn Nhạc cau mày hỏi:
- Quân Trịnh thực lực như thế, ngươi nói với ta việc này để làm gì?
Nguyễn Hữu Chỉnh hạ giọng:
- Nhưng đáng tiếc thực lực thì như thế song tại hạ biết rõ, Tạo quận công Phạm Ngô Cầu, người đứng đầu xứ đó lại là một người nhu nhược, không có khả năng ứng biến khi tình thế thay đổi. Đốc thị Nguyễn Lệnh Tân là kẻ đã nhận rõ điều này, lại biết quân Tây Sơn đang mạnh lên, có ngày sẽ thôn tính vùng Thuận Hóa nên đã đề đạt ý phải tấn công Tây Sơn song Phạm Ngô Cầu gạt đi. Đốc thị Nguyễn Lệnh Tân đã làm sớ đưa về triều đình, chê trách quận Tạo nhút nhát, còn xin bãi chức quận Tạo nhưng chúa Trịnh không những không nghe, lại còn bãi chức kẻ nói thẳng này nữa.
Mấy năm qua, vùng đất ấy yên ổn, thái bình, vì thế chúa càng tin Phạm Ngô Cầu. Tuy nhiên, theo như ý tại hạ, qua câu chuyện dò hỏi được từ Nguyễn Phu Như thì việc canh gác, trị an ở trấn này đã ngày càng chểnh mảng. Đây là lúc cần tấn công để đoạt lấy Thuận Hóa.
Vốn là người cơ mưu, Nguyễn Nhạc ngay lập tức nhận ra ý đồ táo bạo và sự phân tích rõ ràng của Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Nhạc ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi:
- Vậy ngươi có cao kiến gì không?
Nguyễn Hữu Chỉnh biết Nguyễn Nhạc đã chấp nhận ý kiến của mình nhưng vẫn tỏ ra thận trọng, cân nhắc từng lời rồi nói:
- Tại hạ có ý thế này, trước hết phải sai một kẻ đóng giả thầy tướng số bởi Phạm Ngô Cầu rất tin tướng số. Người này phải làm thế nào thuyết phục được viên Trấn tướng lập đàn giải hạn, cúng bảy ngày bảy đêm liền. Như thế, quân lính liên tục phục dịch, sẽ vô cùng mệt mỏi. Lúc đó, cần đem quân tấn công để giành lại vùng Thuận Hóa. Theo thiển ý của tại hạ, quân của hoàng thượng đi lần này sẽ cầm chắc thành công.
Nguyễn Nhạc gật đầu, sau đó hỏi:
- Liệu lời hắn có đáng tin không ?
Nguyễn Hữu Chỉnh quả quyết:
- Nếu Thánh thượng tin thần, thì cũng có thể tin được Nguyễn Phu Như.
Vua Tây Sơn chăm chú nhìn Nguyễn Hữu Chỉnh rồi hỏi:
- Hình như cái xứ này quê mùa không có gì quyến rũ được ông? Ông chỉ ngong ngóng trông về Bắc. Ông muốn dựa vào ta chăng?
Nghe Nguyễn Nhạc hỏi, Nguyễn Hữu Chỉnh lo ngại nhưng khi thấy Nguyễn Nhạc tỏ ra vui vẻ, Nguyễn Hữu Chỉnh mới cảm thấy yên tâm. Ông nói:
- Mấy năm nay được nhà vua bao dung, không biết lấy gì để đền công ơn trời bể, đâu dám chê đây là chốn quê mùa. Chỉ có điều thù nhà nợ nước chưa trả cứ canh cánh bên lòng khôn nguôi...
Vua Tây Sơn an ủi:
- Lòng ngươi thế nào mấy năm nay ta đã rõ. Vậy ngươi định thế nào, đến Thuận Hóa hay Lũy Thầy? Rồi sau đó sẽ đi đâu?
Nguyễn Hữu Chỉnh thận trọng đáp:
- Muôn tâu, Bắc Hà đã xử bạc với thần, thần tự thấy đâu còn nợ nần gì với Bắc Hà nữa. Thần chỉ mong luôn là tướng tiên phong mở đất cho Tây Sơn. Thần vốn am hiểu Đàng Ngoài, nên xin nhà vua cho được cùng đi với đoàn quân Tây Sơn ra Bắc. Thêm nữa, đã lâu rồi thần chưa trở về Bắc, về cố hương. Nay nếu quân Tây Sơn ra Bắc, thu lấy cương vực, làm một việc thuận lòng trời, thần lại được về mảnh đất của tổ tiên, thử hỏi còn mong gì hơn?
Nguyễn Nhạc cười lớn, vui vẻ bảo:
- Thực không hổ là người từng trải. Ngươi đã làm ta xiêu lòng. Nhưng chuyện này liên quan đến sự thịnh suy của xã tắc, ta cần bàn bạc với Long Nhương tướng quân đã.
Nhìn vẻ mặt của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Hữu Chỉnh tin mười mươi Nguyễn Nhạc đã nghe theo đề nghị của ông. Không hiểu sao, ông tin chắc chắn rằng Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ cũng sẽ chấp nhận. Nguyễn Hữu Chỉnh mừng rỡ, cảm thấy ông như được chắp thêm đôi cánh. Tuy nhiên, khi suy xét cẩn thận, ông lại có ý lo ngại, không rõ Nguyễn Huệ có tin vào sự phán đoán về tình hình Bắc Hà của ông không. Ông cần phải cân nhắc mọi điều để khi tiếp xúc với Nguyễn Huệ, sẽ liệu lời đưa đẩy.
Ý định Bắc tiến của Nguyễn Hữu Chỉnh khiến Nguyễn Nhạc hết sức quan tâm. Tuy nhiên, khi Nguyễn Nhạc đưa việc này ra bàn với Nguyễn Huệ, Nguyễn Huệ không tỏ ra vồ vập, ông đang cân nhắc lợi hại xem nên hành động thế nào cho có lợi nhất. Và ông quyết định tiếp xúc với Nguyễn Hữu Chỉnh, một phần muốn nghe trực tiếp sự phân tích tình hình Bắc Hà của Nguyễn Hữu Chỉnh, mặt khác nhân đó mà hiểu rõ thêm con người này. Bởi thế, khi trò chuyện với Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ nói:
- Sau khi ông trình bày ý định tiến ra Bắc Hà, hoàng thượng đã cho gọi tôi tới để bàn bạc. Chắc lần này, hoàng thượng sẽ đích thân cầm quân. Có ông đi tiên phong, hẳn mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió.
Nguyễn Hữu Chỉnh ngớ người:
- Tôi những tưởng người cầm quân là Long Nhương tướng quân?
Nguyễn Huệ vặn hỏi:
- Sao lại là tôi?
Nguyễn Hữu Chỉnh lựa lời:
- Theo thiển ý của tôi thì việc này không ai có thể thay vị trí của tướng quân bởi tướng quân là người từng trải, mưu lược, dũng cảm, kiên quyết, hơn nữa, nội sự có mặt của tướng quân đã khiến binh lính tin tưởng và hăng hái. Chỉ ngần ấy cũng đủ để quân Tây Sơn chiến thắng rồi. Đó là chưa kể thời cuộc hiện đang rất có lợi cho quân Tây Sơn. Thêm nữa, còn điều này ...
Thấy Nguyễn Hữu Chỉnh ngập ngừng, Nguyễn Huệ khuyến khích:
- Ông thấy có điều gì thì nên nói ra, tôi sẵn sàng nghe.
Nguyễn Hữu Chỉnh hạ giọng:
- Có điều này tôi đã nhận thấy từ lâu, không rõ nhận xét này của tôi có chủ quan không nhưng về lâu dài, nếu tướng quân đem quân ra Bắc Hà, sẽ có nhiều cái lợi. Thứ nhất, tài cầm quân của ngài sẽ khiến quân Tây Sơn chiến thắng, như vậy lãnh thổ của vương triều Tây Sơn sẽ ngày một rộng mở. Thứ hai, nếu tướng quân cứ đóng ở phía Nam, nội bộ sẽ có nhiều điều đổ vỡ lớn bởi ngài quá tài năng. Nếu ngài nhân cơ hội này, vừa mở rộng lãnh thổ cho hoàng thượng, vừa được quyền tự quyết ở nơi biên viễn thì có phải công tư vẹn toàn không?
Nghe Nguyễn Hữu Chỉnh phân tích thiệt hơn, Nguyễn Huệ hơi giật mình. Quả thực, Nguyễn Hữu Chỉnh không phải nhân vật tầm thường. Ý tưởng của ông ta về việc tiến ra Bắc Hà là muốn mượn tay Tây Sơn để trở về đất cũ, nhưng sự phân tích của ông ta về tình hình nội bộ Tây Sơn, ông không thể xem thường. Vì thế, Nguyễn Huệ tỏ ra đồng ý với nhận xét của Nguyễn Hữu Chỉnh.
Trước khi kết thúc cuộc nói chuyện, Nguyễn Huệ thăm dò:
- Vậy nếu tôi đem binh ra Bắc Hà, ông có theo giúp tôi không?
Nguyễn Hữu Chỉnh chân thành:
- Xưa có câu, người khôn ngoan phải chọn minh chủ mà thờ.
Nguyễn Huệ cười:
- Tôi nghe nói ông có tài thủy chiến, nay lại biết thêm một điều, trên đất liền, ông còn thông thạo hơn.
Nguyễn Hữu Chỉnh im lặng, lòng tự nhủ, không rõ đây là lời khen hay là Nguyễn Huệ đã nhìn nhận ông theo một hướng khác?
Theo mệnh lệnh của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, ngay sau đó, Nguyễn Huệ đốc suất quân thủy bộ, Võ Văn Nhậm làm Tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm Hữu quân đô đốc mang quân đánh Thuận Hóa.
Quân Tây Sơn đánh chiếm đồn Ải Vân. Tướng giữ đồn Quyền trung hầu Hoàng Nghĩa Hồ chết tại trận. Phạm Ngô Cầu hốt hoảng đem quân vào thành cố thủ.
Nghe tin quận Tạo đem quân cố thủ, Nguyễn Hữu Chỉnh bàn Nguyễn Huệ và Võ Văn Nhậm:
- Tôi biết quận Tạo là một kẻ đa nghi, hèn nhát. Nếu dụ hàng chưa chắc hắn đã tin, mà đem quân đánh thành này sẽ bị tổn thất nhiều bởi đây là cái thành tương đối kiên cố. Chi bằng để tôi tìm cách ly gián Phó tướng quận Thể và Trấn tướng quận Tạo, viết một bức thư chiêu hàng quận Thể nhưng gửi cho quận Tạo, có thế hắn mới tin và ra hàng.
Nguyễn Huệ gật đầu đồng ý. Nguyễn Hữu Chỉnh liền lập tức lấy giấy bút viết một bức thư, đại ý nói quận Thể và Nguyễn Hữu Chỉnh xưa đều là thuộc hạ của quận Huy, nếu quận Thể chịu đem quân ra hàng, sẽ được Nguyễn Hữu Chỉnh đứng ra đảm bảo cho được giàu sang, chớ nên đem quân chống lại vì quân Tây Sơn tinh nhuệ lắm, không thể địch nổi. Viết xong thư, Hữu Chỉnh lấy sáp bọc kín rồi sai người bí mật đưa đến dinh quận Tạo. Quận Tạo vốn đa nghi, nhận được thư có ý nghi ngờ quận Thể, bụng muốn hàng Tây Sơn nên đã cố ý giấu bức thư đó đi, toan tính nếu quận Thể có ý khác, sẽ liệu bề hành động.
Đoàn thuyền của quân Tây Sơn tiến đánh thành Phú Xuân. Trong thành, Trấn tướng Phạm Ngô Cầu cho đóng chặt các cửa rồi hạ lệnh cho quân lính ở trên thành bắn xuống. Thuyền của quân Tây Sơn bị chìm một chiếc, bộ binh phải lui cả vào trong thuyền. Mặc dầu pháo ở thuyền của Tây Sơn bắn lên thành dồn dập nhưng do thành cao so với mặt sông hơn hai trượng nên đạn không thể với tới mặt thành. Tuy nhiên, theo tính toán của Nguyễn Huệ, đêm ấy thủy triều lên to, nước tràn ngập khắp chân thành Vì thế, thuyền của Tây Sơn tiến sát được vào chân thành, bộ binh của Tây Sơn dàn ra vây chặt cửa thành.
Phạm Ngô Cầu sai quận Thể đem quân ra ngoài đón đánh. Hết đạn, quận Thể cho lính vào thành xin thêm nhưng quận Tạo vốn nghi ngờ quận Thể, nhất quyết không cho, lại còn sai người đóng chặt cửa thành. Quận Thể tức giận, quyết định đem quân quay lại đánh quận Tạo Phạm Ngô Cầu.
Đúng như phán đoán của Nguyễn Hữu Chỉnh, ngay khi quận Thể quay đầu voi thì thế trận của quân Trịnh rối loạn. Hai con trai của quận Thể hợp sức cùng đánh quân Tây Sơn nhưng thế cùng, định rút quân vào thành cố thủ thì quận Tạo đã kéo cờ trắng xin hàng. Phú Xuân thất thủ. Đất Thuận Hóa trở thành vùng đất của quân Tây Sơn.
Sau khi Thuận Hóa trở thành vùng đất của Tây Sơn, các tướng lĩnh Tây Sơn vui vẻ họp bàn việc sửa lại địa giới La Hà. Thấy khí thế ngùn ngụt của quân Tây Sơn như vậy, Nguyễn Hữu Chỉnh ao ước có được một đội quân hùng hậu như thế. Ông suy nghĩ cân nhắc và quyết định lựa lúc thuận lợi sẽ cố thuyết phục Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc.
Trong thâm tâm, Nguyễn Hữu Chỉnh đã tính toán rất kỹ các bước đi cần thiết để có thể trở về Bắc Hà trong tư thế của một người chiến thắng. Biết đâu, sau này ông lại chẳng có trong tay một đội quân hùng mạnh như đội quân Tây Sơn và sẽ giành được lợi thế trong hoàn cảnh loạn lạc này. Ông tin vào sự suy tính khôn ngoan của mình, chỉ hiềm một nỗi, trời chưa cho ông có cơ hội tung hoành ngang dọc để tỏ chí nam nhi. Trong hoàn cảnh hiện thời, chỉ có thể dựa vào lực lượng của Tây Sơn mới có thể thực hiện được ý đồ sâu xa ấy. Vì thế, sau khi cân nhắc kỹ, Nguyễn Hữu Chỉnh quyết định vào gặp Nguyễn Huệ.
Nhìn thấy Nguyễn Hữu Chỉnh bước vào, Nguyễn Huệ tươi cười:
- Hữu quân đô đốc, ngài đến có việc gì vậy? Ta đã sai người làm tờ lộ bố cáo tin thắng trận cho anh ta. Ngài xem thử có được không?
Nguyễn Hữu Chỉnh đọc tờ lộ bố, cảm thấy rất khâm phục Nguyễn Huệ. Con người này không chỉ giỏi về võ công mà còn rất tài trí, uyên thâm và quyền biến. Quả thực, quân Tây Sơn có một chủ tướng như thế này, chắc chắn thực lực sẽ ngày càng mạnh. Ông mơ hồ cảm thấy, có thể Nguyễn Huệ sẽ là đối thủ của ông trong tương lai. Lúc này, ông chi có vũ khí duy nhất là sự phán đoán chính xác thời cuộc. Và ông hiểu, Nguyễn Huệ tuy không nói ra nhưng có lẽ cũng cảm nhận được ông là một người đầy mưu lược, đặc biệt qua sự phân tích nhạy bén và đánh giá chính xác thực lực của quân Trịnh ở Thuận Hóa, giúp quân Tây Sơn chiếm được vùng đất này. Vì thế, thái độ của Nguyễn Huệ đối với Hữu Chỉnh có vẻ vị nể đôi phần.
Thấy Hữu Chỉnh có vẻ suy tư khi đọc tờ lộ bố, Nguyễn Huệ hỏi, có ý thăm dò:
- Không rõ ý Hữu quân đô đốc thế nào, hình như ngài có điều gì cần nói?
- Ô, không, đọc lộ bố, tôi chợt nảy ra một ý này, không biết có nên nói lúc này không?
Nguyễn Huệ cảm thấy điều mà Nguyễn Hữu Chỉnh sắp nói rất quan trọng nên đưa mắt nhìn, lập tức các thuộc hạ đều cáo từ, bước ra ngoài để hai người nói chuyện. Nguyễn Huệ tươi cười:
- Ngài có cao kiến gì, xin cứ nói.
Nguyễn Hữu Chỉnh im lặng giây lát rồi cất giọng:
- Tôi có ý thế này, tướng quân đánh một trận đã lấy được Thuận Hóa, mà trong phép dùng binh, ngài đang nắm trong tay ba điều cốt yếu, đó là thời, thế và cơ, có ba điều ấy thì đánh đâu thắng đó. Uy danh của ngài sau trận Thuận Hóa đang lừng lẫy, chi bằng thừa thắng mà đánh lấy Bắc Hà, chắc chắn ngài sẽ thành công, bởi ở Bắc Hà, tướng lười, binh kiêu, triều đình không có kỷ cương gì cả. Cổ nhân đã dạy, chiếm nước yếu, đánh nước ngu, lấy nước loạn, lấn nước suy vong, đây là lúc không nên bỏ lỡ thời cơ.
Nguyễn Huệ suy nghĩ một lát, lắc đầu bảo:
- Không dễ gì, Bắc Hà là nước lớn, nhiều người tài, ta coi thường sao được.
Nguyễn Hữu Chỉnh cao giọng:
- Nhân tài Bắc Hà, ngoài tôi ra, không còn ai khác. Việc đời, thành bại nhiều khi do quả quyết hay do dự, tướng quân đừng ngại.
Nghe câu trả lời có vẻ tự đắc của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ cười, nửa đùa nửa thật:
- Bắc Hà tôi chẳng ngại ai hết, chỉ ngại mình ông thôi.
Nguyễn Hữu Chỉnh tái mặt, có vẻ ngượng, nói chữa:
- Tôi tự biết mình bất tài. Tôi nói như vậy chỉ muốn để cho tướng quân biết, hiện thời ở Bắc Hà không có nhân tài nào cả mà thôi.
Nguyễn Huệ nhận biết Nguyễn Hữu Chỉnh không phải kẻ tầm thường, trong lòng có ý nể phục, lại thấy câu nói vừa rồi của mình có vẻ hơi ác ý, vội an ủi:
- Tôi nói đùa vậy thôi, ngài đừng để bụng. Tuy nhiên, Bắc Hà là nước mấy trăm năm, các vua Lê nối nhau làm vua, rất được lòng dân chúng. Nhân tình cố kết như vậy, chắc gì đã đánh được? Hơn thế, một nước như thế, bỗng dưng ta mang quân ra cướp lấy, thử hỏi có mang tiếng trong thiên hạ không? Người ta sẽ gọi đạo quân của ta là đạo quân gì?
Hữu Chỉnh đáp:
- Về điều này lại chẳng đáng ngại. Bắc Hà vừa có vua vừa có chúa, đó là việc trái đạo chưa từng thấy bao giờ. Ai cũng biết, chúa Trịnh mang tiếng phò vua Lê nhưng thực chất là chèn ép thiên tử. Nếu tướng quân lấy danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh mà kéo quân ra, thử hỏi còn gì hơn, thiên hạ chắc sẽ hưởng ứng, có gì mà không thành công?
Nguyễn Huệ nhận ra ngay ý đồ chiến lược sâu sắc của Nguyễn Hữu Chỉnh, ý đồ của Nguyễn Hữu Chỉnh rất hợp ý ông. Vốn là người quyết đoán, thông minh, Nguyễn Huệ nhận thấy đây là thời cơ có một không hai để Tây Sơn mở rộng vùng đất, phát huy thanh thế. Tuy nhiên, Nguyễn Huệ nhận thấy cần cân nhắc kỹ càng hơn. Vì thế ông im lặng suy nghĩ cân nhắc rồi đột ngột hỏi:
- Ý ngài ta cho là rất hay. Nhưng ta chỉ phụng mệnh cầm quân đánh Thuận Hóa, sao dám tự tiện đem quân ra Bắc Hà?
Nguyễn Hữu Chính khẳng định:
- Cổ nhân có câu, tướng ở ngoài, tiền trảm hậu tấu, có thể tự ý hành động, đâu phải chờ ý chỉ của vua. Hơn thế, nếu tướng quân thắng trận, ắt có công to. Xin tướng quân hãy cân nhắc.
Lời bàn của Nguyễn Hữu Chỉnh rất hợp với suy nghĩ mang tính chiến lược của Nguyễn Huệ, vì thế Nguyễn Huệ lập tức cho gọi các tướng vào và ra mệnh lệnh. Đồng thời, Nguyễn Hữu Chỉnh được giao nhiệm vụ viết một bức thư cho vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc, nhằm giải quyết mọi mắc mớ tế nhị trước khi xuất binh ra Bắc Hà. Bức thư đại ý:
“Lũ thần vâng theo mưu mô của miếu đường, lại kính nhờ về oai trời thiêng liêng, Thuận Hóa đã dẹp yên, thiên hạ đều rung động. Nay ở Bắc Hà quân kiêu tướng lười, thế có thể lấy được. Thần cúi xin mạn phép tùy tiện, đã ủy cho Hữu quân Nguyễn Hữu Chỉnh đem tiền bộ thủy binh đi trước, thẳng tới Sơn Nam. Riêng thần hiện đang chiêu mộ nhân dân các vùng ven biển, chọn lấy đinh tráng để tăng thêm thế lực cho quân ta. Hẹn trong ít ngày sẽ dẹp yên xứ Bắc Hà. Còn quan ải, thành quách xứ Thuận Hóa hiện đã giao cho Đông định công Nguyễn Lữ coi giữ, xin bề trên ban chiếu chỉ để thần tuân theo”.
Trước khi bức thư được gửi đi, Nguyễn Hữu Chỉnh đã đưa cho Nguyễn Huệ xem. Đọc xong thư, Nguyễn Huệ cảm thấy khâm phục Nguyễn Hữu Chỉnh, ông ta quả là người khôn ngoan, biết cách lựa lời. Nguyễn Huệ gật đầu bảo:
- Hữu tướng quân thực là người tài, đã giải quyết cho tôi mối lo canh cánh về việc phải tâu trình lên hoàng thượng thế nào cho phải đạo.
Nguyễn Hữu Chỉnh nhũn nhặn:
- Tướng quân quá khen, đây cũng là công việc tôi phải làm.
Theo sự sắp đặt của Nguyễn Huệ, Nguyễn Hữu Chỉnh sẽ đem một đội thủy quân đi trước, đánh kho lương ở Vị Hoàng còn Nguyễn Huệ cùng các tướng sẽ cấp tốc theo sau.
Là một người đầy mưu lược, Nguyễn Hữu Chỉnh liền phân quân làm mấy toán, mỗi toán khoảng vài trăm người, chia nhau đi đánh các đồn để phô trương thanh thế, đồng thời ông theo sự ủy thác của Nguyễn Huệ, thay mặt quân Tây Sơn viết lời hịch đánh Trịnh để lôi kéo những người vốn nuôi chí phục thù cho nhà Lê. Bài hịch đánh Trịnh có đoạn:
Sinh dân phải nuôi dân làm trước, vậy hoàng thiên dựng đất quân sư,
Gặp loạn đành dẹp loạn mới xong, ấy vương giả có phen binh cách,
Hội thuận ứng thế đừng được chửa
Việc chinh tru lòng há muốn ru
Ta đây: Bẩm khí trời Nam
Vốn dòng họ Nguyễn
Nhờ lộc nước phải lo việc nước, đòi phen Trương tử giả ơn Hàn
Ăn cơm vua nên nhớ nghĩa vua, chi để Tào man nhòm vạc Hán
Giận quốc phó ra lòng bội thượng
Nên Tây Sơn xướng nghĩa cần vương
Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấp nghé
Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kéo cùng nhân sa chốn lầm than
Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân
Ắt đấu cũ lại cơ đồ Hoa Hạ
Nào biết ngôi trời có bảy, giặc họ Trương toan biến phiếm mười phần
Bỗng xui thế nước tranh ba, tôi nhà Hạ phải thu hồi hai nước
Thế bạng duật đương còn đối mặt
Thói kình lang sao khéo lắng tai
Ngoài mượn lời cứu viện làm danh, dân kinh loạn cử binh điếu phạt
Trong mấy chữ thừa nguy để dạ, chốn thừa bình nên nỗi lưu ly
Cung đền thành quách phá lâng lâng
Súng ống thuyền bề thu thảy thảy
Cơn gấp khúc chẳng thương dòng ngoại tộc, đã cùng đường đuổi thú thời thôi
Dấu cưỡi rồng còn nhớ đấng tiên quân, lại khoét lỗ bừa sâu sao nỡ
So chữ bạo lửa nồng quá Hạng
Dò lòng người nước chảy về Lưu
Chúng cùng đường cờ nghĩa đem về đầu, nên quân số mỗi ngày một thịnh
Dân cơ cận cảm lòng nhân ngóng cổ, khiến binh uy càng thấm càng thêm
Quảng Nam đà quét sạch bụi trần
Thuận Hóa lại đem về bờ cõi
Nam một dải tăm kình phẳng lặng, cơ thái bình đứng đợi đã gần
Bắc mấy thành tin nhạn chưa yên, bề cứu viện ngồi trông sao tiện
Cảm công đức vua Lê dám phụ
Lộng quyền hành họ Trịnh khó nghe.
Hịch đánh Trịnh được ban bố, ngay sau đó tướng giữ Thanh Hoa bỏ thành mà chạy. Nguyễn Hữu Chỉnh chiếm được kho lương Vị Hoàng, liền đốt lửa làm hiệu như đã định sẵn. Nguyễn Huệ thấy hiệu lửa liền dẫn hơn một ngàn chiếc thuyền giong buồm đi ra.
Trong phủ chúa Trịnh, tin tức liên tục đưa về cấp cáo: quân Tây Sơn chiếm kho lương Vị Hoàng, chiếm trấn Thanh Hoa, sau đó là trấn Nghệ An. Chúa Trịnh hốt hoảng phái Trịnh Tự Quyền phối hợp với Đinh Tích Nhưỡng đem 27 cơ lính giữ vùng Sơn Nam, Hải Dương. Kết quả, quân triều đình thất bại. Tin dữ đưa về kinh, các quan trong triều vô cùng hốt hoảng, không lo chống giữ mà chỉ nghĩ tới việc thu xếp của cải và đưa gia đình đi lánh nạn, vì thế mọi việc càng ngày càng không thể kiểm soát nổi. Chúa tức giận, bãi chức tể tướng của Bùi Huy Bích rồi cho người triệu Trần Công Xán vào bàn bạc. Trần Công Xán tâu:
- Khải chúa thượng, kinh sư là gốc của thiên hạ, chúa không thể rời bỏ nơi này. Phải dử cho quân Tây Sơn tới gần để đánh một trận quyết chiến. Xin chúa hãy triệu quận Thạc đang đóng ở trấn Sơn Tây về rồi đóng binh ở hồ Vạn Xuân để chặn giặc.
Theo lời bàn của Trần Công Xán, chúa cho truyền ý chỉ tới quận Thạc và cảm thấy yên tâm hơn. Nhưng chúa không mừng được lâu trước thế tiến công áp đảo của quân Tây Sơn. Kết cục, quận Thạc không dám giao tranh với quân Tây Sơn, cùng hai người con bỏ chạy tháo thân.
Chúa đành ra ngự trên lầu Ngũ Long bày trận rồi tư thân đốc thúc quân lính phản công nhưng không thể thắng nổi sức tiến công như vũ bão của quân Tây Sơn. Kết cục, chúa đành bỏ trốn theo cửa ô Yên Hoa.
Quân Tây Sơn vào thành, Nguyễn Huệ vào phủ chúa nghỉ ngơi và ban lệnh cấm binh lính cướp bóc của dân. Mệnh lệnh được ban ra, kinh thành dần dần trở nên ổn định hơn.
Nghe tin chúa Trịnh phải bỏ phủ chạy trốn, Đỗ Thế Long, một người quen cũ của Hữu Chỉnh tới thăm ông và nói:
- Ngài đưa quân Tây Sơn ra Bắc Hà, thiên hạ nói đấy là một việc làm tàn hại.
Nghe Đỗ Thế Long nói vậy, Nguyễn Hữu Chỉnh tái mặt, cố ghìm cơn tức giận hỏi:
- Ông nói vậy là nghĩa thế nào?
Long đáp:
- Quả thật, mới nhìn bên ngoài, ngài giúp quân Tây Sơn, đưa ra cái chiêu phù Lê diệt Trịnh, đuổi chúa ra khỏi phủ, khiến nhà vua được trở về chính ngôi thiên tử, có vẻ như một việc làm nhân nghĩa nhưng thực chất, tôi là người hiểu rõ ngài hơn ai hết, chẳng qua là ngài muốn dựa vào Tây Sơn để có cái thế nghiêng non, lấp biển. Nhưng thử hỏi, có thực nhà chúa chỉ hiếp chế vua không? Cái công tôn phò của nhà chúa hai trăm năm trời, chẳng lẽ ngài không rõ hay sao?
Nguyễn Hữu Chỉnh gằn giọng:
- Tôi làm cái việc tôn phò thiên tử, cốt để chống đỡ cho nền cương thường, đấy là việc làm nhân nghĩa mà ông lại cho rằng đó là tàn hại hay sao?
Thế Long cười mai mỉa:
- Nhà vua vốn đã tôn quý rồi, cần gì ngài tôn phò? Chẳng qua vì chuyện liên quan đến quận Huy khi trước mà ngài theo Tây Sơn để trả thù thôi. Sao ngài không nghĩ đến chức tước, phong hầu trước đây ngài đã được hưởng từ nhà chúa? Hơn thế, Bắc Hà như cái âu lành lặn, bỗng dưng ngài đưa quân Tây Sơn đến, thế chẳng phải thiên hạ nói không ngoa, ngài giống như cáo mượn oai hùm, hệt như beo như sói, phá hoại Bắc Hà hay sao?
Nguyễn Hữu Chỉnh cố nén giận hỏi:
- Vậy ông khuyên tôi nên làm thế nào?
Long không hiểu rõ thâm ý của Nguyễn Hữu Chỉnh, vội đáp:
- Ngài có ý định mượn quân trả thù, mọi việc đã thỏa. Nay ngài nên nghĩ lại, khéo tìm cách điều đình để quân Tây Sơn rút về, thế chẳng hay ư? Rồi ngài tìm một người trong tông thất nhà Trịnh, lập lên ngôi chúa, như thế cái công tôn phù mới là không sao kể xiết.
Nguyễn Hữu Chỉnh đáp:
- Tôi đã rõ hết ý của ông, ông về đi.
Sau khi Thế Long đi khỏi, Nguyễn Hữu Chỉnh bực bội suy nghĩ, hắn là cái thá gì mà dám khinh nhờn ta, lại còn già mồm nói ta như beo như sói. Thử nghĩ lại xem, ai là người nâng đỡ đám kiêu binh, gây nên loạn lạc ở kinh thành? Ai đời, cái đám lính Thanh Nghệ ấy dám làm loạn mà triều đình không dám ra tay trừng phạt? Ta đưa quân Tây Sơn ra Bắc, bên cạnh cái riêng cũng có cái chung là chính ngôi thiên tử, ổn định tình hình Bắc Hà, há chẳng hay ư? Sao dám ví ta như hùm như sói? Đã thế, kẻ này không nên để cho sống mà có ngày ta sẽ mang họa vào thân.
Tuy nhiên, lời hắn nói không hẳn không có chỗ có lý. Giờ muốn bịt miệng thiên hạ, chỉ có cách gắn kết chủ tướng Tây Sơn với triều đình. Những kẻ chinh chiến xa nhà đều muốn có một nơi yên ổn để làm chỗ dựa. Hoàng thượng có nhiều công chúa, chi bằng phải xin hoàng thượng gả một công chúa cho Nguyễn Huệ, như thế mối quan hệ giữa quân Tây Sơn với triều đình sẽ mật thiết mà ta cũng có cái thế với thiên hạ là tôn phò nhà Lê và có thể tung hoành giữa cái xã hội điên đảo này. Chẳng gì thì Nguyễn Huệ cũng là người trí cao, ông ta đã ra mắt nhà vua và tỏ thái độ rất đúng mực. Ông ta biết rất rõ sau này vua Lê sẽ chỉ là bù nhìn nhưng trước mắt, cần phải tỏ ra thần phục nhà Lê. Như thế, việc mở mang đất đai của nhà Tây Sơn sẽ hợp pháp chỉ một sớm một chiều. Còn ta, ông ta biết ta đang dựa vào ông ta để có thể trụ lại ở Bắc Hà. Hai bên dựa vào nhau để sống, thế chẳng hơn ư?
Nghĩ sao làm vậy, Nguyễn Hữu Chỉnh sai người chặn bắt Đỗ Thế Long rồi đem dìm xuống sông Nhĩ Hà. Tiếp đó, Nguyễn Hữu Chỉnh đến gặp Nguyễn Huệ để cùng vào cung ra mắt hoàng thượng. Cách cư xử của Nguyễn Huệ khi vào ra mắt vua Lê khiến Nguyễn Hữu Chỉnh vô cùng khâm phục.
Ngay khi vừa vào cung, Nguyễn Huệ đã tỏ ra khôn khéo, chờ nhà vua dụ hai ba lần mới ngồi ghé vào sập ngự mặc dầu ông tới đây với tư cách một người chiến thắng. Khi hoàng thượng nói: “Quả nhân có nước mà không được tham dự, khoanh tay rủ áo đã hơn bốn mươi năm. Đa tạ ông có lòng quá hậu đối với quả nhân, vất vả trèo đèo lội suối đến đây, không có gì để biếu tặng cả”. Nguyễn Huệ đáp: “Thần vì nghĩ tôn phò mà đến, đâu dám kể công lao. Hơn thế, việc thần đem quân ra đây là mệnh trời muốn bệ hạ thống nhất bờ cõi. Xin bệ hạ sắp đặt giường mối, đưa thiên hạ trở về cảnh thái bình, ấy là thần được ban tặng nhiều lắm”.
Rồi quay sang Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ nói:
- Thần ra đây được phần lớn là nhờ vào công giúp đỡ của ông đây.
Hoàng thượng gật đầu:
- Quả nhân đã rõ tấm lòng trung của ông ấy.
Sau buổi diện kiến nhà vua, Nguyễn Hữu Chỉnh hiểu rõ hơn bao giờ hết số phận của mình gắn rất chặt với quân Tây Sơn. Nhờ sự thuyết phục của ông, sự quyết đoán của Nguyễn Huệ và sức mạnh của quân Tây Sơn, ông mới có cơ hội trở thành người quan trọng trong triều đình nhà Lê sau này.
Về phần Nguyễn Huệ, chủ tướng Tây Sơn cũng hiểu phải dựa vào Nguyễn Hữu Chỉnh để giao thiệp với các quan trong triều tại một nơi hoàn toàn xa lạ. Vì thế, mọi việc Nguyễn Huệ đều nghe theo Nguyễn Hữu Chỉnh. Vì thế, khi Nguyễn Hữu Chỉnh bàn: Danh phải đi đôi với thực, chủ tướng nên tỏ rõ cho thiên hạ biết, nên chọn ngày lành, cử hành lễ chầu yết để tỏ rõ việc làm của chủ tướng là quang minh chính đại thì lời bàn này được Nguyễn Huệ xem là rất xác đáng. Vì thế, Nguyễn Huệ đã chọn ngày chính thức ra mắt nhà vua với sự tham dự của tất cả quan lại trong triều. Sau đó nhà vua chính thức phong cho Nguyễn Huệ làm Nguyên soái phù chính dực vũ Uy quốc công.
Sau khi Nguyễn Huệ nhận chức phong, Nguyễn Hữu Chỉnh còn tiến thêm một bước xa hơn là đứng ra làm mai mối cho Nguyễn Huệ kết duyên với Ngọc Hân công chúa Theo toan tính của Nguyễn Hữu Chỉnh, mối nhân duyên này sẽ là một sự liên kết chính trị vững chắc giữa triều đình nhà Lê với quân Tây Sơn. Điều đó cũng có nghĩa là, vị thế của Nguyễn Hữu Chỉnh, cầu nối cho mối quan hệ này sẽ vững bền hơn. Tuy nhiên, các toan tính của ông sau này đã được thực tế chứng minh là không hoàn toàn như vậy.
Tuy nhiên, khách quan mà nói, tất cả những việc làm này của Nguyễn Hữu Chỉnh đã phần nào giúp Nguyễn Huệ có một thế đứng ổn định trong triều đình nhà Lê và chính thức hợp pháp hóa cuộc tiến công của ông ra Bắc Hà. Có thể nói, Nguyễn Huệ là người có công mở đầu cho sự thống nhất Bắc Nam, trong đó có một phần đóng góp công sức của Nguyễn Hữu Chỉnh.
Nguyễn Nhạc tức tốc đem quân ra Bắc khi nhận được thư của Nguyễn Huệ báo tin đã vào được kinh đô. Bức thư của Nguyễn Huệ đại ý, nhà Trịnh bị diệt, thiên hạ thu về một mối, nên thể theo lòng mong muốn của bàn dân thiên hạ, Nguyễn Huệ đã phò lập nhà Lê cho dân chúng yên lòng. Hiện ở Bắc Hà đã tạm yên nhưng Nguyễn Huệ vẫn phái đóng quân tại đây để xếp đặt mọi việc và vỗ yên dân chúng.
Đọc xong thư, lại nghe theo lời bàn của mấy thuộc hạ thân tín, Nguyễn Nhạc cảm thấy lo ngại, sợ người em nắm giữ một đội quân lớn, dễ sinh lòng kêu căng, tự ý chuyên quyền, hơn nữa dưới trướng của Nguyễn Huệ còn có Nguyễn Hữu Chỉnh, một kẻ cơ mưu, dễ phát sinh những chuyện không hay nên lập tức lên đường ra Bắc.
Nghe tin Nguyễn Nhạc đến kinh đô, Nguyễn Huệ ra tận ngoại ô đón, nhân thể tạ tội tự chuyên của mình nhưng Nguyễn Nhạc lại tỏ ra độ lượng, khen Nguyễn Huệ biết dùng binh rồi hai anh em sóng ngựa vào thành. Một thời gian sau, Nguyễn Nhạc họp với các tướng bàn việc rút về Nam. Các tướng đều được tham dự chỉ trừ Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyên nhân của việc giấu kín chuyện này với Nguyễn Hữu Chỉnh bởi anh em Tây Sơn đã nghe lời bàn của Võ Văn Nhậm. Võ Văn Nhậm đã có những nhận xét về con người Nguyễn Hữu Chỉnh, cho Nguyễn Hữu Chỉnh là người cơ trí, giảo hoạt, biết lời dụng sức mạnh của đội quân Tây Sơn cho mục đích trở về Bắc Hà của mình, là con người không đáng tin, sau này sẽ liên kết với những người ở Bắc Hà gây nguy hiểm cho nhà Tây Sơn, vì thế phải tìm cách triệt đi để trừ mối họa về sau.
Võ Văn Nhậm đã nói với Nguyễn Huệ :
- Chỉnh là một kẻ bầy tôi đi trốn, mượn sức của Tây Sơn để trả thù. Quân Tây Sơn rong ruổi vạn dặm đưa Chỉnh về nước, vẽ mày vẽ mặt cho. Thế mà khi đạt được ý đồ đã có ý lôi kéo những người trong nước. Nếu không tại sao trong thiên hạ lại lưu truyền câu: “Hổ tự Tây Sơn xuất, long tòng Đông Hải lai”, tức là hổ lìa khỏi núi thì thất thế, rồng ra khỏi biển vẫn vẫy vùng, ý câu này chỉ chủ tướng chỉ là hổ, còn hắn là rồng. Thế có khác gì cho thấy Chỉnh có chí ngang tàng, không muốn để Tây Sơn dùng sao? Tây Sơn có mấy vạn người ở đây để giúp Chính gây thanh thế là một việc làm khờ dại. Chi bằng bỏ Chỉnh mà về, Chỉnh sẽ chết bởi người ở Bắc Hà vốn cho là Chỉnh cõng rắn cắn gà nhà, như thế một mũi tên mà trúng hai đích, vừa tiêu diệt được con người trí trá, giảo hoạt này, vừa dễ lấy Bắc Hà sau này hơn.
Nguyễn Huệ nghe lời bàn của Võ Văn Nhậm, thấy cũng hợp lý nên từ đó trong lòng tỏ ra ngờ vực. Về phía Nguyễn Hữu Chỉnh, vốn là một người nhạy cảm, thấy thái độ của Nguyễn Huệ có ý khác, thêm nữa quân Tây Sơn bỗng nhiên tỏ ý coi thường ông nên Nguyễn Hữu Chỉnh biết sắp tới ông sẽ gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên có một điều ông không lường được, đó là quân Tây Sơn đột ngột bí mật bỏ Bắc Hà rút về Nam.
Lại nói, khi nghe tin Nguyễn Nhạc ra Bắc, Nguyễn Hữu Chỉnh không lấy đó làm ngạc nhiên. Mối quan hệ bằng mặt nhưng không bằng lòng của hai anh em Tây Sơn mà Nguyễn Hữu Chỉnh nhận thấy từ lâu nay đã được xác nhận. Vì thế, ông tính toán rằng, chẳng bao lâu nữa, Nguyễn Nhạc vì nghi ngờ Nguyễn Huệ sẽ buộc Nguyễn Huệ đem quân về Nam để dễ bề chế ngự. Như vậy, ông không thể trụ lại ở kinh đô nên chỉ còn cách duy nhất là chiếm cứ một vùng đất riêng, sau đó sẽ tùy cơ hành động. Nhưng về đâu được? Và ông đã nghĩ tới đất Nghệ An. Nghệ An vốn là vùng xa kinh đô, triều đình khó với tay tới, hơn nữa nếu trấn ở vùng đất này có thể từ đó làm bàn đạp để tiến ra Bắc Hà hoặc vào Nam Hà. Hơn thế, đây là vùng đất phên giậu của triều đình, các quan chả mấy ai muốn về trị nhậm ở đây, vì thế việc xin với hoàng thượng về Nghệ An đỡ bị mọi người nhòm ngó, và không để lộ ý đồ sâu xa khi thời cơ đến.
Cân nhắc suy tính mãi, Nguyễn Hữu Chỉnh mới xin vào cung kiến giá. Nguyễn Hữu Chỉnh lựa lời:
- Thần có một việc muốn tâu bày với hoàng thượng. Hiện nay ở Bắc Hà, nhìn bên ngoài mọi việc có vẻ tạm yên nhưng thần nghe nói, vua Tây Sơn đang trên đường ra kinh đô. Chắc chắn vua Tây Sơn có ý nghi kỵ Nguyễn Huệ tự chuyên, có thể ngày một ngày hai nắm lấy Bắc Hà nên sớm hay muộn cũng buộc Nguyễn Huệ phải quay về Nam để dễ bề kiểm soát. Việc thần đem hắn ra đây là nhằm tôn phù nhà Lê, thế là đã hoàn tất. Từ đây, thần sẽ không theo hắn nữa, sẽ chỉ một lòng trung với bệ hạ. Trấn Nghệ An là phên giậu của triều đình sát bên cạnh giống sài lang. Vậy nên thần xin bệ hạ cho thần vào đấy trấn thủ, một mặt Nam Hà thần xin đảm đương.
Hoàng thượng nghe Nguyễn Hữu Chỉnh nói xong liền bảo:
- Được, khanh hãy lui ra để trẫm suy tính xem nên làm thế nào đã.
Nguyễn Hữu Chỉnh liền lạy tạ rồi lui ra. Về phủ, ông đi đi lại lại trong thư phòng, linh cảm thấy cần phải gấp rút hành động. Ông suy nghĩ cân nhắc hết mọi tình huống, lòng cảm thấy nặng trĩu ưu phiền. Ông là người giỏi toan tính nhưng cơ trời khó lường. Dầu sao chăng nữa, ông vẫn cố tin rằng rồi thời thế sẽ thay đổi, và vận hội sẽ đến với ông.
Nguyễn Nhạc cho vời Nguyễn Hữu Chỉnh vào chầu, rồi giữ ông lại trò chuyện suốt ngày. Nguyễn Nhạc tỏ ý muốn có một người vợ Bắc Hà thông minh, đoan trang, kiều diễm như công chúa Ngọc Hân khiến Nguyễn Hữu Chỉnh cảm thấy an lòng. Chắc chắn phỏng đoán của ông về vua Tây Sơn sẽ trở về Nam là điều sắp xảy ra nhưng chưa thực hiện vào lúc này. Ông đâu có ngờ, mọi sự đã được sắp đặt hết và việc vua Tây Sơn giữ ông bên mình là nhằm bịt mắt ông để ra khỏi Bắc Hà một cách nhanh chóng.
Trước đó, đêm nào bên trại của quân Tây Sơn cũng nổi chiêng trống vang trời, nhưng đến đầu canh hai thì chỉ cầm canh thưa thớt, đến canh ba thì lặng ngắt như tờ khiến dân chúng tưởng quân Tây Sơn đã rút hết, tuy nhiên đến sáng hôm sau, bên trại Tây Sơn, mọi việc lại diễn ra bình thường. Dần dần việc đó không được ai để ý nữa. Vì thế, khi quân Tây Sơn bí mật rời khỏi kinh thành, Nguyễn Hữu Chỉnh mới không hay biết gì.
Thực tế Nguyễn Nhạc đã bí mật hạ lệnh cho tất cả quân thủy bộ sửa soạn hành trang và sẵn sàng xuất phát. Sợ Nguyễn Hữu Chỉnh ở ngoài thấy rõ tình hình thì sinh nghi nên mới có việc nhà vua giữ Nguyễn Hữu Chỉnh lại trò chuyện từ sáng đến tối; vì thế mọi việc diễn ra ở bên ngoài thế nào, Nguyễn Hữu Chỉnh không hề hay biết.
Đến khuya, nhà vua mới cho phép Nguyễn Hữu Chỉnh ra khỏi cung. Nguyễn Hữu Chỉnh vừa về đến nhà, đã có thám báo đến báo tin quân Tây Sơn đã rời khỏi kinh thành. Tin này khiến ông thật sự sửng sốt, nửa tin nửa ngờ. Lập tức ông cho xác nhận ngay. Quả thực vào đầu canh năm, quân Tây Sơn đã bí mật rút đi. Đáng ngạc nhiên nhất là hàng trăm lâu thuyền đỗ san sát ở bến sông mà giờ vắng ngắt, không biết đi đâu.
Tin này đưa về khiến Nguyễn Hữu Chỉnh cực kỳ hoang mang, lòng rối như tơ vò. Ông là người dự đoán được nhiều chuyện, đã tính hết mọi nước cờ thế mà vẫn bị rơi vào tình cảnh bi đát này. Hoàn cảnh của ông đúng là đi thì cũng dở mà ở thì không xong. Muốn nương thân nhưng không biết nương thân nơi nào, muốn trốn cũng không có chỗ trốn. Ngay cả việc ông đã lường trước, mật tâu với hoàng thượng xin vào trấn đất Nghệ An cũng đã chậm một bước. Ông không thể hiểu nổi tại sao mọi việc lại diễn biến nhanh đến thế. Tuy nhiên thấy người nhà sợ hãi, ông vẫn cố gượng cười khôi hài để mọi người vững dạ:
- Đi cùng bốn biển chín châu, trở về xó bếp chuột chù gặm chân. Không sợ, ta cứ ở đây xem đứa nào làm gì được ta.
Tuy miệng nói cứng như vậy nhưng trong đầu Nguyễn Hữu Chỉnh đã tính toán rất nhanh, phải tìm thuyền buôn ở bến Cơ Xá ngay. Sau đó, ông cùng các thuộc hạ và gia nhân giong buồm chạy khỏi kinh đô.
Một tuần sau, thuyền của Nguyễn Hữu Chỉnh chạy vào cửa biển Hội Thống, đúng lúc đám quân bộ của Tây Sơn cũng vừa tới nơi. Biết Nguyễn Huệ không dung mình nhưng do thời thế bắt buộc, Nguyễn Hữu Chỉnh cho rằng ông không có con đường nào khác, vẫn phải liên kết với quân Tây Sơn dù ông biết, trên bàn cờ thời cuộc, lúc này ông chỉ là một con cờ chẳng mấy quan trọng nữa. Tuy nhiên ý chí bền bỉ và nhẫn nại đã khiến Nguyễn Hữu Chỉnh đi đến quyết định, xin vào gặp Nguyễn Huệ để nối lại sự liên kết mong manh vốn đã đứt đoạn bởi ông nghĩ trong tình huống này, nếu ông không nhẫn nại cúi đầu thì sẽ không bao giờ có cơ hội đảo ngược thế cờ nữa. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh vào gặp Nguyễn Huệ, xin theo Nguyễn Huệ vào Nam, Nguyễn Huệ an ủi ông rồi bảo:
- Bắc Hà, quận Thạc, quận Liễn chưa trừ xong, phi ông không ai trị nổi, ông hãy tạm ở đây đã.
Nói xong, Nguyễn Huệ truyền lệnh cấp cho Nguyễn Hữu Chỉnh các thứ súng ống, khí giới thu được ở Bắc Hà, còn cho ông một trăm lính hộ vệ, hai mươi lạng vàng, hai trăm lạng bạc nhưng ông chỉ nhận vàng bạc và nói:
- Tôi dùng số vàng bạc này để mộ quân địa phương. Nếu sức tôi không đủ, xin ngài hãy giúp tôi.
Nguyễn Huệ gật đầu chấp nhận và ngay sau đó đem quân vào Phú Xuân.
Lúc này tình thế của Nguyễn Hữu Chỉnh không dễ dàng gì. Ông không dám bỏ thuyền lên bờ, sợ bị bắt trả thù. Suy tính mãi, Nguyễn Hữu Chỉnh nghĩ ra còn một người có thể cậy nhờ, đó là người anh rể Nguyễn Kim Khuê, nổi tiếng đa mưu. Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức tới gặp người anh rể, cho Nguyễn Kim Khuê biết, ông có ý định mộ quân chiếm cứ trấn này. Nguyễn Kim Khuê nghe xong gật đầu tán thưởng, nói:
- Tên tuổi của ông, thiên hạ không ai là không sợ. Ông lấy Nghệ An dễ như trở bàn tay. Tuy người trong trấn biết ông lúc này đang thân cô thế cô, nhưng mọi việc vẫn là chuyện đồn thổi, chưa rõ thực hư. Nếu ông quyết định nhanh chóng ra tay, chiêu binh được khoảng nghìn thủ hạ thì lo gì không có chỗ đứng, có thể dọc ngang trong thiên hạ.
Nguyễn Hữu Chỉnh gật đầu nói:
- Quả thực, lời của anh rất hợp ý tôi.
Sau đó, Nguyễn Hữu Chỉnh ban hịch chiêu mộ quân, ra lệnh các làng hễ chậm trễ sẽ bị xử lý. Chỉ trong vài ngày, bằng cách chém hai kẻ dám ngáng đường, ông đã mộ được hơn nghìn quân.
Tuy nhiên, tình thế của ông không êm xuôi như Nguyễn Kim Khuê phán đoán. Tại kinh đô, chúa Trịnh nghe tin Nguyễn Hữu Chỉnh đang ở Nghệ An liền quyết định cử Phan Huy Ích cầm quân vào bắt. Tương truyền, trước khi lên đường, không đánh giá được thực lực của Nguyễn Hữu Chỉnh, Phan Huy Ích sai làm chiếc trống trận thật lớn và dặn thủ hạ, khi bắt được Nguyễn Hữu Chỉnh sẽ nhét vào đó, đem về dưới cửa khuyết.
Không may, trong trận chiến với Nguyễn Hữu Chỉnh, Phan Huy ích thua, bị giải đến trước mặt Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Hữu Chỉnh mắng:
- Ngươi đâu có lòng trung, dám vào bè với với Nhưỡng, hùa với chúa để chống lại hoàng thượng. Ta còn nghe nói, ngươi đã sai người làm cái trống lớn lắm, định thắng được ta thì nhét ta vào cái trống đó, đúng không?
Phan Huy Ích sợ tái mặt, luôn miệng lắp bắp xin lỗi. Nguyễn Hữu Chỉnh dằn giọng:
- Hừ, cái bộ thầy đồ nói khoác, ta giết ngươi cũng vô ích thôi.
Nói xong liền tha cho Phan Huy Ích.
Lúc này thanh thế của Nguyễn Hữu Chỉnh rất lớn khiến trong phủ chúa, các thuộc hạ của chúa Trịnh đều bàn: Tây Sơn mới đi, bờ cõi còn chưa yên ổn, thế mà Nguyễn Hữu Chỉnh đã chiêu mộ quân làm loạn ở Nghệ An. Chúa hãy ra tay diệt trừ Chỉnh, lấy lại đất Nghệ An thì mọi quyền ở kinh đô lại sẽ thuộc về tay chúa. Nếu không diệt trừ Chỉnh ngay, để cho sự phản loạn ấy càng phát triển, sau này Chỉnh đem quân ra kinh đô, chúa làm sao có thể chống giữ.
Tuy nhiên, lời bàn đó chỉ dừng ở đấy vì người chúa Trịnh dựa vào là Đinh Tích Nhưỡng. Đinh Tích Nhưỡng nghe nói quân Tây Sơn đã cử một đội quân ra chỗ Nguyễn Hữu Chỉnh khi nghe tin chúa Trịnh đã phục hồi vương vị. Thêm nữa, trước đó Nguyễn Hữu Chỉnh đã cao tay viết cho Đinh Tích Nhưỡng một lá thư, trong thư nhắc tới tình xưa nghĩa cũ giữa hai người và xin Đinh Tích Nhưỡng có lời để Nguyễn Hữu Chỉnh được ở lại trấn Nghệ An. Sau này khi yên hàn, nếu có sự bảo đảm của Đinh Tích Nhưỡng, Nguyễn Hữu Chỉnh sẽ quay về triều.
Xem xong thư, Đinh Tích Nhưỡng suy nghĩ cần nhắc cẩn thận và nhận thấy, dù Nguyễn Hữu Chỉnh lúc này đang gặp khó khăn nhưng uy thế vẫn rất lớn, vì thế không nên đối đầu với ông ta. Do đó, lời tâu bày của các quan về việc đem quân đánh Nguyễn Hữu Chỉnh không thực hiện được.
Biết rõ mọi chuyện, Nguyễn Hữu Chỉnh tiến thêm một bước, đó là xin vua Lê ban ý chỉ cho ông làm trấn tướng ở Nghệ An để hợp pháp hóa việc điều động binh Ông liền phái anh ruột là Nguyễn Ban lẻn về kinh yết kiến hoàng thượng, xin mệnh làm trấn thủ Nghệ An. Vua Lê do luôn bị chúa Trịnh đè nén, rất muốn có người thay mặt mình lật đổ nhà chúa nên đã hỏi kỹ Nguyễn Ban về thực lực của Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Ban được thể, ra sức tô vẽ cho Nguyên Hữu Chỉnh khiến nhà vua mừng rỡ, xem Nguyễn Hữu Chỉnh như cứu cánh. Nhà vua nói với Ban:
- Việc này, Hữu tướng quân trước đã có lời với trẫm, nay sẽ cho tờ sắc ban xuống.
Các quan biết tin này đều can ngăn, họ lo sợ nếu chúa Trịnh biết chuyện, nhà vua sẽ ở vào thế khó xử. Vì thế, không có sắc ban cho Nguyễn Hữu Chỉnh làm trấn tướng Nghệ An. Tuy nhiên, khi về Nghệ An, nghe Nguyễn Ban kể lại mọi chuyện, Nguyễn Hữu Chỉnh đã giả làm lễ bái mệnh rồi truyền hịch kêu gọi chiêu mộ quân. Các hào mục trong vùng tưởng ông đã có sắc mệnh của vua, không nghe theo Nguyễn Hữu Chỉnh tức là chống lại mệnh vua, khó tránh khỏi tội nên đã đem quân theo Nguyễn Hữu Chỉnh. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh đã có một đội quân đông đảo, đội ngũ chỉnh tề. Như vậy, một lần nữa, nhờ sự ứng phó nhanh nhẹn và nắm bắt rõ thời cuộc, Nguyễn Hữu Chỉnh đã thoát ra khỏi tình thế nguy nan.
Nhận được chiếu chỉ mật của hoàng thượng phải đem quân về kinh ngay, Nguyễn Hữu Chỉnh mừng rỡ truyền lệnh lên đường. Thời khắc của ông bắt đầu đến, ông phải tận dụng cơ hội này để nắm lấy thiên hạ. Quân đội của ông lập tức lên đường, quân của chúa Trịnh chặn đánh Nguyễn Hữu Chỉnh ở Hoàng Mai thất bại. Tin thắng trận loan đi rất nhanh, thanh thế của Nguyễn Hữu Chỉnh ngày một lừng lẫy.
Cũng thời gian này, nhà vua ban mật chỉ sai các hào kiệt ở Hải Dương đem quân diệt trừ Đinh Tích Nhưỡng.
Đinh Tích Nhưỡng không gượng nổi, phải đem bộ hạ kéo về miền Đông nhưng tại đây, bị dân chúng nổi dậy phản ứng, Đinh Tích Nhưỡng đành bó tay thúc thủ, rút quân về cố thủ Hàm Giang.
Bấy giờ, chúa Trịnh chủ yếu dựa vào quận Thạc (Hoàng Phùng Cơ) và quận Liễn (Đinh Tích Nhưỡng), nên khi nghe tin quận Liễn đem quân cố thủ vùng Hàm Giang, quận Thạc bảo các thuộc hạ:
- Hiện Bắc Hà là đất không có chủ, vua chúa thù ghét nhau. Quận Liễn, một cánh tay đắc lực của chúa đã đi mất rồi mà giặc Chỉnh thì sắp đem quân tới đây. Ta tội gì mà gắng sức vô ích. Ta cũng nên rút về Sơn Tây để bảo tồn lực lượng rồi ngồi đó mà xem việc thiên hạ, như thế mới là đắc sách, sau này sẽ chờ thời cơ nổi lên, các ngươi thấy thế nào?
Đám thuộc hạ đều tán thành. Ngay sau đó, quận Thạc đem quân về Sơn Tây khiến kinh đô trở nên trống rỗng. Thậm chí, người của phủ chúa tới các phủ huyện thu lương còn bị dân chúng đánh đập, lột quần áo, chỉ mình trần chạy về. Chúa Trịnh lo lắng, bèn gọi Bồi tụng Dương Trọng Tế đến truyền:
- Việc lớn hỏng rồi, ta không tự lượng sức mình, đã trót làm chúa. Nhà ngươi là bầy tôi trung thành, nay giặc Chỉnh thế lực rất mạnh, sắp kéo ra, ta nghĩ, phi nhà ngươi thì không còn kẻ nào có thể ngăn được hắn. Ta sẽ cho ngươi làm Trấn thủ Thanh Hoa, đem quân chống nhau với Chỉnh.
Dương Trọng Tế bất đắc dĩ phải vâng mệnh nhưng lo sợ kéo quân ra ô Cầu Dền, còn trùng trình mãi không chịu lên đường. Chúa phải cho người đến giục mới chịu đi, nhưng khi nghe tin báo quân đội của Nguyễn Hữu Chỉnh đã vượt sông Thanh Quyết, Tế sợ hãi than:
- Ta là kẻ đọc nhiều sách mà không biết thời cơ như quận Thạc, quận Liễn, hai kẻ đó đã rút quân cố thủ một nơi, đâu dám đối đầu với Nguyễn Hữu Chỉnh. Thật là lắm chữ nghĩa mà không bằng bọn võ biền. Giờ thì đã muộn rồi, trong ba mươi sáu kế, chỉ có kế chuồn là hay hơn cả.
Ngay sau đó, Dương Trọng Tế đưa quân một mạch về Kinh Bắc rồi mới sai người dâng khải cho chúa, đại ý xin chúa cho lĩnh chức Trấn thủ Kinh Bắc để chiêu mộ thêm binh, mưu đồ khôi phục.
Chúa xem xong tờ khải, sợ cuống cuồng, gọi đến những kẻ bầy tôi thân tín như Bùi Nhuận thì mới hay, Bùi Nhuận đã đem cả gia đình chuồn mất. Chúa vội vời Triệu Sỹ vào than thở:
- Ta chẳng may đẻ ra ở nhà chúa, lại bị một lũ tiểu nhân làm cho lỡ lầm. Biết thế này cứ làm sư nương náu dưới cửa thiền lại hóa hay. Theo ngươi, bây giờ nên đi đâu?
Một thuộc hạ bàn chúa nên về Quế Dương để hiệu triệu cần vương rồi dựa vào thế hiểm của sông Nhị Hà mà cố thủ, Nguyễn Hữu Chỉnh đâu dám vượt sông sang đánh nhà chúa. Chúa mừng rỡ nghe theo, đêm đó cùng vài chục quan quân bỏ kinh thành ra đi.
Sớm hôm sau, nhà vua mới biết chúa đã chạy khỏi kinh thành liền ngầm sai người đốt phủ chúa, lâu đài cung khuyết bỗng chốc cháy thành than.
Trong khi đó, Nguyễn Hữu Chỉnh ngay khi vượt sông Thanh Quyết đã cho Lê Giốc đem biểu dâng tới nhà vua, đại ý: “Thần vâng chỉ kéo quân vào bảo vệ kinh sư, đã kính cẩn xuất quân từ tháng trước. Khi tới huyện Ngọc Sơn, Lê Trung Nghĩa và Phan Huy Ích dám ra chống cự, thần đã chém chết Trung Nghĩa, bắt sống Huy Ích. Nhờ về oai trời, lòng hăng hái của quân sĩ tăng lên gấp bội. Từ Thanh Hóa trở ra Bắc, thần đi tới đâu, dân chúng vui mừng đón rước tới đó. Đến chỗ nào thần cũng kính cẩn tuyên bố oai đức của nhà vua, khiến cho đâu đấy đều yên nghiệp làm ăn. Thần nay thân mang giáp trụ, hồn mơ tưởng quân thiều, tấc lòng khôn xiết nhớ mong cửa khuyết”.
Nhà vua xem xong tờ biểu, tỏ ra rất vui mừng, liền khen ngợi Nguyễn Hữu Chỉnh là người quyền biến. Nghe tin Nguyễn Hữu Chỉnh tới làng Thịnh Liệt, nhà vua còn sai các quan ra cửa ô đón tiếp và cho vời vào điện. Giáp mặt nhà vua, Nguyễn Hữu Chỉnh tâu:
- Do kiêu binh làm loạn, chúa Trịnh không dung nên thần khi ấy đang cầm quân ở ngoài đành bỏ nước mà đi. Sự rối loạn ấy là do cương thường đảo lộn mà nên. Vì thế nhiều kẻ trung nghĩa trong nước đã mộ quân nổi dậy, tuy công việc không thành nhưng cái tiếng nghĩa khí đã lan rộng. Như thế đủ biết, ai cũng chung một bụng, chứ không phải thần vì mưu riêng mà gây nên hiềm khích. Thần lấy điều nghĩa để cảm động lòng người, cốt chấn chỉnh lại cơ đồ nhà vua, để đạo quân thần sáng tỏ chứ với chúa Trịnh, thần đâu có thù oán gì. Thế mà nhiều kẻ lại buộc tội cho thần là có mưu đồ theo vết xe đổ, rắp tâm giết chết thần nhằm quấy rối chính sự buổi đầu của bệ hạ. Thần cúi xin bệ hạ soi xét.
Nhà vua lắc đầu, nói:
- Mọi việc trầm đã rõ. Giúp cho đất nước thái bình, công ấy là do nhà ngươi cả.
Ngay sau đó, Nguyễn Hữu Chỉnh được phong Bình chương quân quốc trọng sự, tước Bằng trung công. Nguyễn Hữu Du, con trai Nguyễn Hữu Chỉnh cũng được phong tước hầu.
Mọi việc đã tạm yên. Cứ năm ngày Nguyễn Hữu Chỉnh mới vào chầu một lần để bàn những việc chính sự, còn những ngày khác, các quan đều phải tới dinh của Nguyễn Hữu Chỉnh để xin ý kiến quyết định của ông. Thời gian này, quyền lực của Nguyễn Hữu Chỉnh thực chất ngang với nhà vua, thế của ông rất lớn mà theo như lời bàn của các thức giả, có thể lật nghiêng cả nước.
Tuy ngôi vị cao, Nguyễn Hữu Chỉnh vẫn thể hiện sự tôn trọng các viên quan trung trực, thẳng thắn, không sợ hãi quyền lực. Chuyện kể rằng, trong triều Lê khi đó có viên quan Nguyễn Đình Giản, nổi tiếng thẳng thắn, luôn vạch ra lỗi lầm của kẻ khác, bất kể người đó có địa vị tôn quý đến đâu. Chính Nguyễn Đình Giản là người hạch tội Nguyễn Hữu Chỉnh, cho ông là người cõng rắn cắn gà nhà, đưa quân nước ngoài về phá hoại Bắc Hà và xin cầm quân đánh dẹp. Tuy nhiên lời đề nghị của Nguyễn Đình Giản không được triều đình chấp nhận. Thời gian Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân vào kinh thì Nguyễn Đình Giản đang vâng mệnh đi chiêu dụ ở trấn Sơn Tây. Các quan đều biết sự ngay thẳng của Nguyễn Đình Giản, cho rằng nếu ông về triều, chắc chắn sẽ bị Nguyễn Hữu Chỉnh trả thù hoặc ngầm kiếm cớ giết đi.
Nguyễn Kim Khuê, một người thân cận với Nguyễn Hữu Chỉnh đã đem việc các quan bàn tán ra hỏi Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Kim Khuê hỏi:
- Ông cho Nguyễn Đình Giản là hạng người thế nào?
Nguyễn Hữu Chỉnh nhận xét:
- Đó là kẻ cuồng trực.
- Vậy ông có dùng hắn không? Nguyễn Kim Khuê tò mò hỏi.
Nguyễn Hữu Chỉnh lập tức trả lời:
- Chẳng những dùng được mà con người ấy còn đáng nể nữa.
Nguyễn Kim Khuê lại hỏi tiếp:
- Quả thật ông nghĩ như vậy chứ?
Nguyễn Hữu Chỉnh cười, thành thật bảo:
- Đến quận Hoàn là bố vợ hắn vậy mà hắn còn ngồi tại giữa triều kể tội ông ta là quỳ gối theo giặc, huống chi là với người khác? Hắn đã từng chỉ tay vào bố vợ nói: “Ông chịu ơn nước, quan đến cực phẩm, bổng lộc chất lên thành núi. Đến nay đã bảy mươi còn tiếc một cái chết đến nỗi phải khom lưng ở thềm giặc, thật là để xấu lại muôn đời”. Thế đấy - Nguyễn Hữu Chỉnh nhấn giọng - Nếu có lỗi hắn nói là đúng. Còn không có lỗi mà hắn nói thì cũng không hại gì cho mình. Con người như hắn thật không nên giận.
Rồi Nguyễn Hữu Chỉnh trầm ngâm một lúc và thủng thẳng:
- Mà có giận hắn thì cũng không làm gì hắn tốt. Chẳng qua chỉ tổ để người ta thấy chỗ nông sâu của mình mà thôi.
Sau đó, chính Nguyễn Hữu Chỉnh đã viết một lá thư nhằm thu phục Nguyễn Đình Giản, lời lẽ trong thư rất mềm mỏng và tâm huyết. Kết cục, Nguyễn Đình Giản đã vui vẻ hợp tác với ông để chấn chỉnh lại Bắc Hà đang mục nát.
Câu chuyện trên cho thấy, dù uy thế lẫy lừng, quyền nghiêng cả nước nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh nhiều khi vẫn tìm ra cách ứng xử thích hợp nhất với địa vị mà ông đang nắm giữ.
Sử sách còn ghi lại một câu chuyện nữa, đó là quan hệ của Nguyễn Hữu Chỉnh với Hoàng Phùng Cơ, một viên quan rất trung thành với triều đình nhà Lê.
Khi Nguyễn Hữu Chỉnh mang quân về Thăng Long đuổi Trịnh Bồng thì Hoàng Phùng Cơ đang đóng ở Sơn Tây. Hoàng Phùng Cơ cho rằng Nguyễn Hữu Chỉnh là kẻ táng tận lương tâm, mang quân Tây Sơn về giày xéo Bắc Hà nên quyết định mang quân Mường Mán ở Hưng Hóa và Sơn Tây về, định một trận thư hùng với Nguyễn Hữu Chỉnh. Vua Lê nghe tin, sai sứ đi triệu Hoàng Phùng Cơ về chầu. Nhà vua truyền bảo sứ giả:
- Ngươi là người giỏi thuyết phục về họa phúc mà Hoàng Phùng Cơ - vốn là người tính khí trung trực, lại một lòng trung với triều đình, vì lòng tôn quân, Cơ chắc sẽ dẹp mối thù với Chỉnh để Bắc Hà yên. Do đó, ngươi nên tìm cách khéo léo nói cho hắn rõ ý chỉ của trẫm.
Tuy nhiên, mọi việc không diễn ra như nhà vua nghĩ. Khi sứ giả vừa xuất hiện, con gái lớn của Hoàng Phùng Cơ đã tức giận lôi ngay sứ giả ra chém.
Việc trót lỡ, Hoàng Phùng Cơ không còn cách nào khác đành mang quân tiến về kinh đô, truyền hịch đi các phủ Quốc Oai và Quảng Oai, kêu gọi dân chúng giết Nguyễn Hữu Chỉnh để trừ nạn nước.
Vua Lê cũng bất đắc dĩ phải xuống chiếu sai Nguyễn Duật làm tiên phong, Nguyễn Hữu Chỉnh làm thống lĩnh đại binh đi dẹp Hoàng Phùng Cơ.
Trước đó, Nguyễn Hữu Chỉnh đã nhận thấy cần lôi kéo Hoàng Phùng Cơ để làm hậu thuẫn cho Bắc Hà yên Nên đã sai người đưa thư tới tay Hoàng Phùng Cơ, lời lẽ dầy mềm mỏng. Bức thư có đoạn:
“Trước đây tướng quân lên miền thượng du, xếp đặt công việc ngoài bờ cõi, trèo đèo lội suối, thật là vất vả. Nếu tướng quân có ý muốn chuyên giữ một phương để che chở cho miền Tây thì tôi xin đề đạt ý ấy lên nhà vua, cho phép tướng quân tùy ý mà làm. Nếu tướng quân cho rằng ở trong quân ngũ đã lâu, sức lực suy yếu, muốn nghỉ việc quân cơ thì tôi dám đâu không giúp đỡ tướng quân chọn một địa vị tốt đẹp để cho tướng quân giữ trọn công danh, làm bậc túc tướng của tiên triều. Kẻ đại trượng phu ở đời chỉ có hai con đường là “hành” và “chỉ”, cần phải sơm sớm chọn lấy một. Mong tướng quân tính liệu lấy”.
Tuy nhiên Hoàng Phùng Cơ nhất mực không nghe, quyết tâm đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Vì thế, Nguyễn Hữu Chỉnh quyết định giao chiến. Quân của Nguyễn Duật và của Hoàng Phùng Cơ giáp chiến tại bến đò Đại Phùng. Nguyễn Duật thua phải bỏ cả khí giới mà chạy. Con trai Hoàng Phùng Cơ là Gia Võ khuyên cha nên thừa thắng xốc tới bắt Nguyễn Hữu Chỉnh nhưng Hoàng Phùng Cơ nói:
- Ta bắt Chỉnh như bắt đứa trẻ con, hãy cho quân sĩ tạm nghỉ rồi đuổi cũng chưa muộn.
Nguyễn Duật thấy quân của Hoàng Phùng Cơ không đuổi theo liền thu quân dàn trận trở lại để đánh. Lính của Hoàng Phùng Cơ đang ăn, kinh sợ thua chạy. Hoàng Phùng Cơ cùng con chơ vơ trên mình voi, cố sức đánh. Ngay khi ấy, quân của Nguyễn Hữu Chỉnh kéo đến, Hoàng Phùng Cơ vội bỏ voi, cưỡi ngựa xông vào quân của Nguyễn Hữu Chỉnh. Gia Võ liều chết theo cha, tỳ tướng là Đặng Tập thu được vài trăm lính cũng cố giúp sức chống đỡ cho Hoàng Phùng Cơ.
Tuy nhiên, thế cùng lực kiệt, Hoàng Phùng Cơ bỏ chạy. Nguyễn Hữu Chỉnh liền sai cung nỏ bắn vào ngựa của Hoàng Phùng Cơ. Hoàng Phùng Cơ bị bắt sống, bị giải vào điện, tới trước mặt nhà vua. Vua Lê Chiêu Thống nhớ lại tờ biểu Hoàng Phùng Cơ viết: “Trước đây thần vâng mệnh ra trấn Sơn Tây, vừa lúc ấy Nguyễn Hữu Chỉnh từ nghệ An vào chầu. Bệ hạ cho là Chỉnh có công tôn phò nên giao việc chính trị trong nước cho hắn. Đứa tiểu nhân đắc chí, dần dà mưu đồ làm việc không hay. Cứ như ngu ý của thần thì Chỉnh không phải là người bề tôi thuần thục mà là một đứa tự mưu lợi riêng. Xem việc hắn làm giống như ma quỷ, xét bụng hắn nghĩ, độc hơn hùm beo. Cúi xin bệ hạ xét rõ, cho phép thần được trị hắn ngay từ lúc đầu để hắn không thể rông rỡ làm ác về sau, thì thật là phúc cho xã tắc...”.
Nhà vua nhìn Hoàng Phùng Cơ, lòng bối rối. Đây là viên tướng có lòng trung với triều đình, chính hắn đã cứu ta, cực chẳng đã ta phải theo Nguyễn Hữu Chỉnh mà dụ hắn, tuy nhiên không thể để Nguyễn Hữu Chỉnh xử tội hắn mà không cứu. Vì thế, nhà vua liền hỏi lý do Hoàng Phùng Cơ không vâng theo ý chỉ của triều đình, làm tình hình thêm rối, Hoàng Phùng Cơ tâu:
- Thần đã có lần tâu với bệ hạ, thần là con nhà võ biền, không biết che đậy, việc gì cũng thẳng băng mà làm. Nguyễn Hữu Chỉnh là con người trí trá, trước đưa Tây Sơn ra xâm lược Bắc Hà, sau lại hai lòng với Tây Sơn ra chiếm đất Nghệ An. Đến khi Tây Sơn không dung mới quay về với bệ hạ. Các quan văn bị hắn lừa dối, để cho hắn có thể mượn mệnh của nhà vua. Dương Trọng Tế thì không đủ khả năng chống chọi với hắn, còn quận Liễn lại là bè đảng với hắn trước đây nên không dám kéo quân về kinh đô hỏi tội hắn. Vì thế, hiện nay chỉ có thần dám gánh lấy trách nhiệm đánh Chỉnh. Nay vì lòng trời không thuận mà bị thua, tùy bệ hạ xử trí.
Vua Chiêu Thống nghĩ tới cái ơn Hoàng Phùng Cơ đã từng cứu mình liền xuống dụ:
- Hoàng Phùng Cơ tuy phải nhưng lý thì trái, danh và thực không đi đôi với nhau. Nay bị bắt, phải chịu tử hình là đáng lắm. Nhưng khi xưa ta bị quân vây bức hoàng thành, tình thế vô cùng nguy ngập. May nhờ Hoàng Phùng Cơ cứu gỡ nên ta mới được an toàn. Cứ theo nhu cách luận tội từ xưa tới nay, Hoàng Phùng Cơ phải chịu tội chém nhưng lòng ta không nỡ. Vậy đình thần nên xử lại để lý và nghĩa được vẹn toàn.
Nguyễn Hữu Chỉnh vốn thâm tâm có phần vì nể Hoàng Phùng Cơ nên xin đem Phùng Cơ về phủ của mình, cởi trói, mời ngồi và hỏi:
- Ông là bậc nguyên thần của nước, cớ sao lại làm giặc?
Hoàng Phùng cơ thản nhiên đáp:
- Ta là kẻ võ biền dốt nát, không biết làm giặc là ai?
Nguyễn Hữu Chỉnh tái mặt vì bị Hoàng Phùng Cơ nói mỉa, biết Hoàng Phùng Cơ chẳng khi nào chịu hợp tác với mình nên sau đó đã đưa Hoàng Phùng Cơ ra cho đình thần nghị tội. Hoàng Phùng Cơ bị luận tội là bề tôi mà chống lại triều đình nên phải chịu hình phạt chém đầu.
Nguyễn Hữu Chỉnh vốn không thù oán gì Hoàng Phùng Cơ nên bảo Ngô Trọng Khuê nghị tội lại. Khuê nói:
- Mang quân cự vua, tội đáng chém đầu, nhưng xét trước kia đã có công nên nay giảm xuống, xử cho tự tận.
Kết cục Hoàng Phùng Cơ phải uống thuốc độc tự tử.