Kindaichi Kosuke. Quý vị độc giả nếu đã đọc qua Cung đàn báo oán, hẳn đều biết anh ta.
Năm 1937, một án mạng ly kì xảy ra tại một vùng nông thôn tỉnh Okayama. Người phá án là Kindaichi, năm đó chỉ là một thanh niên hăm lăm hăm sáu tuổi. Sau đó anh ta làm gì? Cũng như những thanh niên Nhật Bản khác, khi chiến tranh nổ ra, theo lời tổ quốc kêu gọi, anh ta nhập ngũ và cống hiến cho quân đội những tháng năm quý giá nhất đời.
Hai năm đầu anh ta ở Trung Quốc, sau đó được phái tới quần đảo Indonesia, cứ thế điều qua chuyển lại giữa các đảo.
Khi chiến tranh kết thúc, anh ta đang ở Wewak, New Guinea.
Trong trận chiến này, đơn vị của họ bị tiêu diệt gần như toàn bộ, số còn lại rút lui, rồi sáp nhập với đơn vị khác. Kito Chima được phân về cùng đội với Kindaichi. Kito ít hơn Kindaichi bốn tuổi, năm 1936 vừa ra trường đã bị đẩy đến Trung Quốc, rồi điều chuyển lòng vòng, tương tự Kindaichi, cuối cùng được đưa tới New Guinea.
Kindaichi là người vùng Đông Bắc, Chima đến từ vùng biển Seto, không hiểu sao lại tâm đầu ý hợp đến lạ.
Họ sát cánh bên nhau. Chima từng mắc sốt rét, không ngờ đến đây lại tái phát. Kindaichi đã kề cận bện cạnh chăm sóc không rời nửa bước.
Năm 1943, Wewak đã dứt khói lửa chiến tranh, đám tàn quân ở đây không bị coi là mối nguy nên được phe Đồng minh bỏ qua, nhưng họ cũng không thể liên lạc với cấp trên hay các cánh quân khác, viện trợ gián đoạn, đành sống trong ảm đạm vô vọng, ngày ngày cầm hơi bằng rau rừng cỏ dại. Binh lính lần lượt ngã xuống vì sốt cao hoặc suy dinh dưỡng. Quân số càng lúc càng ít, tâm trạng càng lúc càng suy sụp. Quần áo, giày dép đều tả tơi, ai nấy trông như quỷ đói.
Đúng lúc ấy, chiến tranh kết thúc. Đến giờ Kindaichi vẫn thắc mắc trước phản ứng mừng rỡ như điên của Chima. Cậu ta cuống cuồng hú hét, “Cuối cùng cũng sống sót trở về rồi!” Như vừa trút được gánh nặng ngàn cân, hay như vừa được thả ra khỏi nhà lao tăm tối, quả là quá cực đoan, quá quái dị. Dĩ nhiên ai cũng phấn khởi vì đạn bom chấm dứt, chẳng ai muốn mình chết đi như dòi bọ, nhưng cũng không ai sợ hãi cái chết một cách thấm thía sâu sắc đến ám ảnh như Chima. Những cơn sốt rét trở đi trở lại khiến cậu ta thành ra khiếp đảm bóng đen tử vọng, hệt như trẻ con sợ bóng tối. Cậu thanh niên vóc dáng cao to, tính tình bướng bỉnh, can đảm hơn người lại mừng rỡ như vậy kể cũng lạ. Lòng ham sống của cậu ta quá mạnh, quá lộ liễu, đến nỗi thành cực đoan. Thế mà cậu ta vẫn chết. Hơn nữa lại chết khi chỉ còn năm sáu ngày là về đến tổ quốc. Để báo tin dữ cho người nhà cậu ta, Kindaichi Kousuke mới đáp tàu ra đảo Ngục Môn.
Trước khi ra đảo, Kindaichi có tiện đườn ghé qua thăm Kubo Ginzo[1].
Vốn đi guốc trong bụng Kindaichi, Ginzo lo lắng quan sát anh, rồi hỏi, “Kindaichi, anh đến đảo Ngục Môn đưa tin báo tử hộ đồng đội còn đỡ, nhưng nếu có mục đích hay ý đồ gì khác thì tôi khuyên anh đừng đi. Đó là một hòn đảo kinh khủng, rất đáng sợ! Rốt cuộc anh muốn đến đó làm gì thế hả?”
“Cỏ hè mơn man, còn lưu, dấu chân khải hoàn[2]. Phải không?”
“Gì cơ? Thầy nói gì vậy?” Kindaichi đang thẫn thờ hồi tưởng, chợt sực tỉnh vì câu nói của nhà sư, vội hỏi.
Nhà sư tựa vào cửa sổ nhìn ra mặt biển xanh biếc phẳng lặng đáp, “Không có gì, là âm thanh đó thôi.”
“Âm thanh nào?” Kindaichi lắng tai nghe, có tiếng nổ “ầm ầm” từ xa truyền đến.
“Ồ, là tiếng mìn cá, phải không?”
“Đằng xa là mìn cá, còn ở gần, cậu xem, chính trên hòn đảo thấp thoáng kia kìa, họ đang phá các căn cứ quân sự. Đều là dấu chân khải hoàn. Giá mà Basho thấy cảnh này.”
Giữa bầu không khí lạ lùng đột nhiên lại đọc thơ Basho, Kindaichi ngạc nhiên nhìn nhà sư. Nhà sư cũng quay lại đối diện với anh, “Ở đây còn đỡ, nếu đi thêm một quãng về phía Tây, sẽ thấy các đảo gần Kure lỗ chỗ như tổ ong, nghe nói trên hòn đảo nào đó còn bí mật chế tạo khí độc, hiện giờ chính phủ đang đau đầu không biết xử lý ra sao. Trên đảo chúng tôi cũng đặt trạm giám sát phòng không và trận địa cao xạ pháo, còn có năm mươi quân đồn trú. Bọn họ đào ruỗng cả núi ra, sau chiến tranh lại chẳng buồn dọn dẹp, cứ thế rút quân, để lại một đống ngổn ngang. Người xưa nói nước mất núi sông còn, nhưng thế này chẳng phải là nước mất núi sông đổi à? Nhìn kìa, đó là đảo Ngục Môn!”
Rất lâu về sau, Kindaichi cũng không sao quên được khung cảnh đảo Ngục Môn nhìn từ cửa sổ tàu Bạch Long khi ấy, Biển Seto bên nắng gắt, bên âm u, nhìn về phía Tây là trời thu vòi vọi trong veo dưới ánh tà dương, nhưng nhìn về phía Đông chỉ thấy mây đen nặng như chỉ chực đổ ập xuống. Đảo Ngục Môn sừng sững nổi lên giữa vùng trời biển ấy, phản chiếu bóng chiều rực rỡ. Xét tổng thể, trước khi vùng Seto sập xuống thành biển nội địa, có lẽ nơi đây từng là đỉnh núi chót vót, vì vậy trên các đảo rất hiếm đất bằng, nhiều nơi ngay từ đường bờ biển đã bắt đầu dựng đứng như vách đá, đặc biệt là đảo Ngục Môn. Thật ra thì không có núi cao, nhưng bản thân hòn đảo đã như vút lên từ đáy biển, vách đá mấy chục trượng bao bọc xung quanh. Trên vách gồ lên những ngọn đồi lè tè như bát úp, phủ đầy thông đỏ. Sườn đồi thấp thoáng những ngôi nhà trắng nho nhỏ, nhuộm đẫm tà dương sáng lấp lánh dưới nền trời u ám chỉ chực đổ sập xuống. Chẳng hiểu sao, Kindaichi bất giác rùng mình, cảm thấy cảnh tượng ấy như ám chỉ vận mệnh hòn đảo.
“Cậu xem, cao cao đằng kia là ngôi chùa tôi trụ trì. Phía dưới có tòa dinh thự tường trắng đúng không? Đó là dinh thự chi chính Kito mà cậu đang muốn tìm đấy.”
Nhà sư trỏ qua cửa sổ giới thiệu với anh, nhưng con tàu đang vòng qua một vách đá cao ngất, nên chỉ trong thoáng chốc, ngôi chùa và ngôi nhà đã khuất tầm mắt. Sau khi vòng qua vách đá, một bến tàu thiên nhiên khá bằng phẳng hiện ra, giữa dải đất mấp mô, những ngôi nhà tranh của ngư dân nằm rải rác khắp nơi, một chiếc xuồng từ trạm chuyển sâu trong bến chầm chậm tiến ra. Như đã nói ở trên, nơi đây ít chỗ bằng phẳng, tàu thủy hơi nước cỡ nhỏ ba mươi lăm tấn muốn cập bờ cũng khó. Vì vậy trên mỗi đảo đều có trạm chuyển xuồng, cho xuồng ra chỗ nước cạn gần bờ đón khách vào.
Chiếc xuồng nhanh chóng lại gần con tàu đang đậu giữa vũng nước cạn.
“Sư thầy về rồi đấy ạ! Ồ, Takezo, anh cũng về cùng à? Ông Yoshimoto, phiền ông đưa kiện hàng này tới chỗ ông Shimura ở đảo Shiraishi, tiện thể hỏi thăm Miyoko dùm tôi được không? Ha ha!”
Ba người vừa lên thuyền, con tàu hơi nước đã chuyển hướng, vừa phụt ra từng cuộn khói vừa vững vàng rẽ sóng lướt đi. Chiếc xuồng chòng chành vì sóng từ tàu lớn đánh sang, song vẫn thong dong trở về.
“Anh khách quý đây đến chỗ thầy ư?”
“Cậu này à? Đây là khách của nhà chính Kito, cậu ấy sẽ ở lại đảo ít lâu, đừng bận tâm.”
“Thế ạ? À phải, thưa thầy, việc cái chuông sao rồi?”
“Chuông đã được hoàn trả cho chúng ta. Độ hai ba ngày nữa tôi sẽ nhờ mấy cậu trẻ khỏe tới lấy về. Nó nặng quá, đành phiền mọi người vậy.”
“Đáng gì đâu, thầy đừng lo. Có điều đã thế thì ngay từ đầu đừng đòi chúng ta giao ra mới phải!”
“Không thể nói như vậy được, khi thua trận, tình hình sẽ thay đổi mà.”
“Cũng đúng nhỉ. A, đến rồi.”
Xuồng vừa đến cầu tàu thì cả hòn đảo đã bị mây đen bao phủ, ngay sau đó, vài hạt mưa to bằng hạt đậu lộp độp rơi xuống.
“Thầy may thật đấy, vừa kịp nhé! Chậm chút nữa là thành chuột lột rồi.”
“Đúng thế, xem ra sắp mưa to.”
Rời khởi cầu tàu, họ đặt chân lên một con dốc.
“Anh Takezo!”
“Dạ?”
“Phiền anh ghé chi chính báo một tiếng, nói rằng sư thầy sắp đưa khách tới nhà họ được không?”
“Vâng, không vấn đề.”
“Sau đó phiền anh tới nhà trưởng làng và bác sĩ Murase, mời họ tới chỗ chi chính, nói là sư thầy gửi lời mời.”
“Vâng vâng, tôi hiểu.”
Takezo đi rồi, hai người cũng rao bước thật nhanh. Bất kể ngoài bờ biển hay dọc đường đi, hễ thấy nhà sư là mọi người cung kính cúi đầu chào, rồi ngạc nhiên nhìn theo Kindaichi mãi.
Nếu quý vị độc giả đến đảo, biết được thế lực tăng lữ ở đây lớn mạnh chừng nào, e rằng sẽ phát hoảng. Với những ngư dân sống bấp bênh trên bờ địa ngục, tín ngưỡng là nhu cầu thiết yếu, các tăng lữ chi phối tín ngưỡng có thể nói là nắm quyền sinh quyền sát, mặc sức hoành hành. Trưởng làng gặp trụ trì còn phải cúi đầu, thậm chí việc bổ nhiệm và bãi nhiệm giáo viên tiểu học cũng do nhà sư thao túng.
Rời làng chài, đường bắt đầu gập ghềnh khó đi. Leo lên con dốc ruột dê khúc khuỷu, sẽ thấy một dinh thự lớn, từ dưới nhìn lên trông như một tòa thành nhỏ, từ sườn dốc đến thung lững rải đầy đá hoa cương, nối liền với tường nhà trắng xóa. Sừng sững bên trong tường là mấy mái nhà dài lợp ngói lộn xộn, đây chính là dinh thự của chủ tàu nắm quyền trên đảo Ngục Môn, chi chính Kito.
Khi nhà sư và Kindaichi đến cổng, một người đàn ông vội vã ra đón, ông ta đội một chiếc mũ cao đã ngả màu, tay áo khoác bay phấp phới như cánh dơi, đôi chân xỏ bao tất trắng hối hả chạy tới như muốn đá văng sỏi đá dọc đường.
“A, chào thầy. Vừa nãy nghe Takezo báo tôi mới tới!”
“Bác sĩ Murase, ta vào trong rồi nói nhé.”
Người nọ đeo kính gọng vàng, bộ râu dê vểnh lên, xem chừng vừa vội vã thay đồ, chiếc quần lễ phục kiểu Nhật in gia huy lộ ra dưới vạt áo khoác, tuổi chừng năm lăm năm sáu. Nghe nhà sư chào, Kindaichi đoán đây là Murase Koan, bác sĩ Đông y trên đảo.
Bước vào nhà, đi qua hành lang dài như đường hầm, được một lúc thì thấy phía trước sáng bừng, ra là một tiền sảnh rộng rãi để khách khứa nghỉ chân. Ba người cùng bước lên. Nghe tiếng họ, một cô gái vộ vã bước ra, quỳ trước tấm bình phong cao ngất làm lễ lạy chào.
Kindaichi tròn mắt ngạc nhiên, không ngờ trên hòn đảo mang cái tên quái gở, giữa ngôi nhà cũ kĩ của chủ tàu lại xuất hiện người con gái xinh đẹp nhường này.
Cô gái chừng hăm hai hăm ba tuổi, mái tóc dày uốn xoăn thả xõa trên vai, vận bộ đồ thùng thình màu cà phê, món trang sức duy nhất là chiếc nơ bướm hồng xinh xinh cài trên cổ áo trắng.
“Chào các ông.”
“Chào cô Sanae, tôi dẫn khách đến rồi đây. Các cô ấy ở nhà cả chứ?”
“Thưa vâng, họ ở cả bên trong.”
“Vậy chúng tôi vào đây. Cậu Kindaichi, xin mời. Bác sĩ Murase, trưởng làng chắc cũng sắp đến thôi, chúng ta vào trước đợi nhé.”
Nhà sư tự nhiên như ở nhà, đứng dậy bước vào phòng khách. Cô gái tò mò nhìn Kindaichi, nhưng mắt vừa chạm mắt, cô đã đỏ bừng mặt, bối rối tiếp bước nhà sư, dẫn đường cho khách.
“Thầy có việc gì gấp mà phải gọi tôi tới nhà chính ngay thế? Làm tôi hớt hải chạy ngay đến. Cậu này là khách quý từ đâu tới vậy?”
“Bác sĩ Murase, anh chưa hỏi Takezo à?”
“Không, tôi chẳng hỏi già cả, tại vội q…”
“Được rồi, vào trong hẵng nói. À quên, cô Sanae, lúc trước tôi nghe Takezo kể cậu Hitoshi vẫn bình yên vô sự phải không?”
“Vâng, nhờ phúc của thầy.”
“Tốt quá rồi, ít ra sau này… A! Hình như ông trưởng làng đến rồi.”
Trưởng làng Araki Makihei cũng cao ngang Murase Koan, nhưng không gầy gò như ông bác sĩ, mà cũng không hẳn là béo, chỉ có cảm giác thân hình bè bè to ngang. Ông ta vận bộ vest đen bạc màu, xem ra cũng vừa vội vã thay đồ để chạy sang đây.
“Nghe nói có chuyện quan trọng gì phải không thầy?” Ông hỏi.
“Vâng, chúng tôi đang đợi ông đây. Đi nào, ta vào trong rồi nói.”
Trưởng làng vừa cởi giày vước vào thì cơn mưa xối xả ập xuống, nước hắt rào rào vào tiền sảnh.
“Ồ, mưa to thật đấy.” Bác sĩ Murase vân vê mấy cọng râu lưa thưa lẩm bẩm.
Mảnh sân thênh thang nháy mắt đã trắng xóa như có muôn vàn trụ băng rải rác khắp nơi. Những người khách vội vã bước vào gian phòng mười chiếu bên trong.
“Cô Sanae, chúng tôi chuyện trò ở đây được rồi. Phiền cô vào mời các cô ấy ra. Mỗi trang điểm mà cũng tốn bao nhiêu thời gian. Ha ha ha, mời các vị ngồi. Tối quá đi mất, bác sĩ Murase, anh bật đèn lên giùm với.”
Đèn bật sáng, Kindaichi lập tức chú ý đến hai bức ảnh đặt trong góc toko[3], chụp hai thanh niên mặc quân phục, một người là Kito Chima đã từ trần trên tàu hồi hương, còn kia hẳn là người thuộc chi thứ Kito mà người ta vừa gọi là Hitoshi, mặt mũi nhang nhác Sanae, có lẽ là anh em gì đó.
Đợi mọi người ngồi xuống cả, nhà sư nhìn trưởng làng và bác sĩ, “Giới thiệu với hai anh, cậu Kindaichi đây là đồng đội của cậu Chima.”
Râu dê “ồ” lên, săm soi Kindaichi bằng ánh mắt sắc lẹm, còn trưởng làng chỉ lặng thinh, môi dẩu ra.
“Cậu Chima nhờ tôi đưa phong thư này đến.”
Trưởng làng và bác sĩ thay nhau xem qua thư giới thiệu rồi hỏi, “Vậy cậu ấy đâu?”
“Cậu ấy chết rồi, chết trên tàu hồi hương…”
Đột nhiên, hai vai bác sĩ rũ xuống, bộ râu dê cũng run rẩy. Trưởng làng hừ khẽ, cặp mội mím chặt càng trễ hơn. Phải rất lâu sau Kindaichi mới quên được bầu không khí chết lặng giữa ba người khi ấy, nó lởn vởn một nỗi đe dọa và kinh hoàng như khoan vào xương tủy.
Mưa vẫn đổ xuống rào rào ngoài hành lang, đúng lúc ấy…
“Sanae, khách ở đây à?”
Một giọng õng ẹo từ xa vọng lại, sau đó là tiếng mở cửa.
“Ôi chao, không phải bên này à?”
“Bên kia cơ. Chắc là trong gian phòng mười chiếu kia kìa.”
“Yukie à, khách là ai thế ?"
"Không phải anh Ukai ư ?"
"Ngốc ạ, anh Ukai đời nào lại đi từ tiền sảnh vào. Anh ấy chẳng phải đều luồn cửa sau vào tìm người à ?"
"Tìm ai ?"
"Tìm ai hả ? Còn phải hỏi nữa à? Dĩ nhiên là tìm em rồi."
"Ạ em rồi đồ ngốc, rõ ràng là tìm chị mà."
"Đợi đã! Chị xem obi em thắt được chưa?"
"Được rồi ! Thắt nút bươm bướm thế này đẹp."
"Em cứ thấy kì kì làm sao ấy. Tsukiyo, thắt lại cho em đi."
"Hanae, em còn nũng nịu nữa à! Rề rà là khách về mất đấy. Ôi chao, Yukie, em ranh vừa thôi, đi nhanh thế à."
Tiếng guốc gỗ lộc cộc và tiếng cười đùa ầm ĩ càng lúc càng gần, cuối cùng dừng lại bên kia cửa giấy. Loáng thoáng vọng vào mấy câu xì xầm, "Không thấy người ấy đâu", "Xem ra chẳng phải hạng tử tế gì", còn cả tiếng cười hinh hích cố nén khiến Kindaichi phải đỏ mặt.
Nhà sư gượng cười, "Nào các cô còn thì thào gì ngoài ấy thế. Mau vào chào khách đi."
"Thôi chết, lộ rồi."
Bên kia cửa giấy vang lên tràng cười khanh khách, ngay sau đó họ lần lượt nén cười bước vào. Đó là ba cô gái mặc kimono tay rộng như áo múa, thắt obi. Họ rón rén ngồi xuống mép chiếu cúi đầu chào hỏi, mấy cây trâm hoa cài trên tóc cũng lấp lánh như mộng ảo.
Kindaichi nín thở trợn tròn mắt.
"Cậu Kindaichi, đây là ba em gái của Chima, Tsukiyo, Yukie, Hanae. Cô lớn nhất mới mười tám, giữa các cô chênh nhau một tuổi."
Cả ba kiều diễm khác thường, như ba đóa hoa nở trái mùa, khiến Kindaichi không nén nổi rùng mình. Bởi giờ anh đã biết, sứ mệnh của mình ở đây rất khó khăn.
Trên con tàu về quê ngột ngạt oi bức, Chima đã chết như một con cá ươn.
Trong lúc giãy giụa cố níu chút hơi tàn, cậu thoi thóp lặp đi lặp lại, "Tôi không muốn chết ! Tôi… Tôi… Tôi không muốn chết ! Nếu tôi không về, các em tôi sẽ bị giết mất… nhưng… nhưng… tôi không xong rồi. Kindaichi… phiền anh… đến đảo Ngục Môn một chuyến giúp tôi. Thư giới thiệu lần trước tôi viết cho anh… Kindaichi… tuy trước giờ không hề nhắc tới, nhưng tôi biết anh là ai từ lâu rồi… tôi đọc báo… án mạng ở Okayama… Nhờ anh… đến đảo Ngục Môn… một chuyến… ba đứa em tôi… ôi… em họ tôi… em họ…"
Nói đến đó, Kito Chima tắt hơi.
Lìa trần giữa hơi nóng hầm hập trên con tàu ngột ngạt hôi thối.
“Vậy giờ cậu ở chùa Senko à? Trong chùa thong dong nhàn nhã, nhưng chắc cũng hơi gò bó nhỉ?”
“Không đến nỗi, tôi quen rồi, giờ cũng chưa muốn đi đâu cả.”
“Ha ha! Cũng phải. Dạo trước tôi từng đến Osaka, thành phố lớn đúng là phiền hà. Giờ tôi vẫn nghĩ, nói gì thì nói, quyết không ở thành phố lớn.”
“Quê bác ở đâu? Nghe nói bác không phải dân bản địa?”
“Tôi ư? Tôi là người nơi khác đến. Tôi đã đi khắp Nhật Bản, ở lại Yokohama lâu nhất, nên hễ gặp người Kanto lại chạnh lòng hoài niệm. Cậu cũng là người Kanto à?"
"Tôi ấy à ? Tôi cũng giống bác, đều là người bên ngoài đến. Tôi từng đến tận New Guinea cơ đấy."
"Không đùa đấy chứ? Ha ha ha! Nhưng đó cũng là chuyện bất đắc dĩ, do chiến tranh cả thôi. Tóm lại cậu là người Tokyo đúng không nhỉ?"
"Vâng, trước khi nhập ngũ tôi sống ở Tokyo, nhưng trở về mới biết tất cả đã bị đốt trụi, nên định tạm thời đi thăm thú các đảo một lượt."
"Đời cậu nghe đặc biệt nhỉ, cậu thấy trong người khỏe không? Trông bề ngoài vẫn bình thường mà."
"Cũng chẳng phải bệnh gì nặng, chẳng qua là quá chán nản thôi."
"Vậy cứ sống cho phè phỡn thoải mái vào. Ăn sạt chùa Senko đi ! Gì cơ? Cậu không dám á? Cậu là khách của chủ tàu hàng đầu đảo chúng tôi đấy. Muốn rẽ ngôi không?"
"Thôi thôi, được rồi. Bên kia cắt ngắn giùm tôi chút đi?"
"Khách mỗi người một ý, nhưng tóc tai cậu đúng là lược cũng phải chào thua! Thật đáng sợ."
"Đừng nói thế mà. Tôi mất bao công mới nuôi dài được như thế đấy. Lúc nhập ngũ phải cạo trọc khổ lắm. Cứ như cừu cạo lông, xấu chết đi được!"
"Ha ha! Để thế này được rồi! Khỏi sợ gió thốc cảm mạo."
Bác Oshichi là chủ hiệu cắt tóc duy nhất trên đảo Ngục Môn, từng sống ở Yokohama một thời gian dài nên lấy làm tự hào về giọng Edo của mình, nhưng giọng bác ta cũng như giong Tokyo của Kindaichi, đều hơi lơ lớ vì pha tiếng địa phương. Có điều… Kindaichi ngắm tấm gương lốm đốm bong tróc thủy ngân, bụng bảo dạ, hôm nay mình đến để dò hỏi bác ta về tình hình trên đảo cơ mà. Anh đến đảo đã hơn mười ngày, cảm giác vô cùng kì lạ. Nhờ lá thư giới thiệu nên đi đến đâu cũng được chào đón, nhưng chỉ là ngoài mặt mà thôi, đằng sau vẻ lịch sự vồn vã của họ hình như đều có bộ giáp bảo hộ kiên cố. Dĩ nhiên người từ nơi khác đến đảo đều sẽ có cảm giác lạc lõng, nhưng Kindaichi cảm thấy dưới bộ giáp kia hình như còn có gì đó vượt qua cả sự cảnh giác với người ngoài.
Tin Kito Chima qua đời như dòng điện lan ra toàn đảo, khiến ai nấy kinh sợ.
Lạ một điều là, họ đều thấp thỏm ra mặt. Giống như ngư dân lão luyện nhìn mây đen đùn lên đường chân trời là đã ngửi thấy bão táp sắp ập xuống, họ chỉ biết run rẩy bó tay trước bóng đen vận mệnh.
Nhưng tại sao nhỉ? Sao cái chết của Chima lại khơi gợi nỗi kinh hoàng tột độ như vậy? Họ đang nơm nớp điều gì? Kindaichi thử lắp ghép những lời trăng trối của Chima. Tôi không muốn chết! Nếu tôi không về, các em tôi sẽ bị giết mất… Nhờ anh… đến đảo Ngục Môn… một chuyến… ba đứa em tôi… ôi… em họ tôi… em họ…
Cắt tóc xong, chuyển sang cạo râu. Ngón tay bác Oshichi bôi xà phòng lên cằm khiến Kindaichi khó chịu nhăn mặt. Dù vậy, anh vẫn mau miệng hỏi, "Nhà Kito giàu nứt đố đổ vách ấy nhỉ?"
"Họ là chủ tàu lớn nhất trên đảo. Không, không chỉ riêng đảo này, nghe nói các đảo quanh đây cũng không ai có nhiều tàu hơn dâu."
"Thu nhập của chủ tàu chắc là khá lắm?"
"Dĩ nhiên là nhiều khủng khiếp rồi."
Theo lời bác Oshichi, ngư dân cũng chia làm ba loại. Mạt hạng nhất là thuyền chẳng có lưới cũng không, khố rách áo ôm, hai bàn tay trắng, giống như tá điền ở nông thôn. Khỏi nói cũng biết hạng này là đông nhất. Trên một bậc là có thuyền có lưới, nhưng cũng chỉ là loại thuyền câu chở được hai ba người, còn bé hơn cả thuyền đánh cá. Hạng này tương đường với tiểu nông. Cao nhất là chủ tàu, ngang với địa chủ, nhưng họ còn quyền hành hơn cả địa chủ.
"Trước kia tôi từng sống ở nông thôn, địa chủ đều ngồi không hưởng lợi. Địa chủ và tá điền mỗi nơi lại ăn chia mỗi kiểu. Đại khái lấy sản lượng gạo chia ra, địa chủ chỉ cần chống nạnh ngậm tẩu thuốc đã được chia bốn phần, còn tá điền lấy sáu phần cùng chỗ thóc lúa tự trồng cấy lấy đắp điếm thêm vào. Nhưng quan hệ ăn chia giữa chủ tàu và ngư dân lại khác."
Chủ có thuyền, có lưới, có quyền nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, họ chẳng phải làm gì cũng được hưởng tất cả tôm cá đánh bắt, còn ngư dân chỉ được lĩnh tiền công nhật.
"Ra vậy, cũng giống quan hệ giữa ông chủ và người làm thuê ở thành phố nhỉ."
"Na ná thế. Chỉ khác khi sản lượng cao, chủ tàu sẽ bày tiệc đãi khách, phát thưởng, còn sản lượng thấp cũng vẫn phải trả lương đầy đủ. Nhưng tất cả sản lượng đánh bắt đều đổ vào túi, ắt là nhiều kinh khủng. Ngư dân dù có ấm ức cũng không làm gì hơn được, vì muốn ra biển đánh cá phải trông vào thuyền vào lưới của chủ tàu. Lưới có nhiều loại lắm nhé. Lưới cá mui, lưới cá mòi… Lưới cá mòi ở đây không giống loại người Kanto chuyên dùng bắt cá mòi đâu, mà dùng để bắt hải sâm. Tóm lại trong tay chủ tàu có cả loại lưới quy mô lớn đến thế kia đấy. Ngoài ra còn sở hữu hai ba con tàu lớn. Hừm, suy cho cùng cũng phải bỏ vốn nhiều."
Ngư dân quan nhiệm "dưới ván thuyền là địa ngục", chỉ biết hưởng lạc thú trước mắt, ăn nhậu gái gú cờ bạc, dần dà thành thói ứng lương, cứ thế quan hệ giữa chủ tàu và ngư dân ở làng chài còn khắc nghiệt hơn cả tá điền và địa chủ ở thôn quê.
"Bản thân chủ tàu cũng phải nỗ lực buôn bán, bởi nói gì thì nói, đối tượng không phải dân thường mà là ngư dân lỗ mãng, phải chăm sóc họ nhưng không được nuông hư, nghĩa là nhất định phải có quyền uy. Thật ra cụ Kaemon, gia chủ nhà Kito đời trước mới gọi là giỏi."
Câu chyện rốt cuộc đã dẫn tới nhà Kito, nên Kindaichi hơi căng thẳng. Nhưng anh vẫn cố giữ vẻ bình thản, "Cụ Kaemon là cha Chima ư?"
"Không, là ông nội. Cụ mới qua đời năm ngoái, hưởng thọ bảy mươi tám tuổi, sinh thời cụ khỏe mạnh lắm đấy. Tuy vóc dáng thấp bé nhưng cụ có kiến thức và can đảm hơn người, là một gia chủ cực giỏi giang. Dân đảo đều xưng tụng cụ là Ngài Taiko, theo tước hiệu của Toyotomi Hideyoshi[4]. Xưa nay cụ vẫn khỏe khoắn không bệnh tật gì, có lẽ buồn bã vì Nhật Bản thua trận nên mới qua đời."
"Sau chiến tranh cụ mới qua đời ư? Thế cha mẹ Chima đâu?" Đây là điểm khiến Kindaichi thấy khó hiểu nhất. Hôm trước, khi anh tới báo tin dữ của Chima, chỉ có ba chị em Tsukiyo, Yukie, Hanae và cô Sanae ra tiếp, đến giờ cơm thì có thêm một bà bác xấu xí tuổi ngoại ngũ tuần. Ngoài ra, cả gian nhà rộng thênh thang hoàn toàn không có bóng đàn ông, thật là kì lạ. Sư thầy chùa Senko cũng nói, "Vốn định để cậu nghỉ lại đây, hiềm nhà toàn đàn bà con gái, nên…" rồi dẫn anh về chùa.
"Mẹ ruột Chima qua đời ít lâu sau khi sinh cậu ta, về sau cha cậu ta tục huyền, nhưng bà vợ kế cũng qua đời nhiều năm rồi."
"Vậy ba cô tiểu thư kia là em gái cùng cha khác mẹ với Chima à?"
"Phải."
"Cha cậu ta thì sao?"
"Ông Yosamatsu ấy à? Ầy, ông vẫn còn sống, nhưng mắc bệnh nặng, chẳng ló mặt ra bao giờ."
"Bệnh à? Bệnh gì thế?"
"Chuyện đó à… ừm… be bé cái miệng nhé, chính là… bị điên ấy."
Kindaichi trợn tòn mắt, "Điên ư? Vậy ông ta ở bệnh viện à?"
"Không, không ở viện, ông ở nhà. Nghe nói họ sửa phòng ở thành một phòng giam, nhốt ông ta vào. Ừm, cũng lâu lắm rồi, phải mười năm nay tôi không thấy mặt nữa. E rằng chẳng nhận ra nổi ông ta đâu."
Nghe vậy, Kindaichi mới nhớ ra một chuyện. Lần trước ngồi trong phòng khách nhà Kito, anh nghe thấy một tiếng gào kì lạ, hệt như tiếng gầm của dã thú, vừa điên cuồng vừa tàn bạo.
"Ô? Vậy là ông ta hay đập phá làm loạn à?"
"Không, nghe nói hằng ngày ông ta khá yên lặng, chỉ thỉnh thoảng mới lên cơn. Lạ một nỗi, cô Sanae cháu ông ấy chỉ cần nói mấy câu là ông ta sẽ bình tĩnh lại, nhưng đổi thành một trong ba cô con gái, ông ta sẽ càng điên dai hơn."
"Đúng là kì quặc."
"Chưa hết đâu, ba chị em nhà kia mới quái lạ. Họ thả sức hành hạ cha mình để tiêu khiển, như hành hạ động vật trong sở thú vậy. Lúc ông ta ngủ thì họ ở ngoài song sắt dùng thước chọc, lấy giấy vụn ném rồi cười khanh khách. Mọi người nghe kể đều lấy làm kinh sợ, ba cô gái đó đúng là chập mạch!"
Kindaichi cũng đã để ý đến thái độ quái dị của ba chị em kia, đối với họ, dường như cái chết của anh trai còn chẳng quan trọng bằng mái tóc hay nút thắt obi của họ. Lúc nhà sư nói chuyện nghiêm túc, họ cứ cúi đầu cười rúc rích, giũ áo, lấy khuỷu tay huých nhau. Cả ba đều đẹp, nên trông càng bất thường và bệnh hoạn.
Đúng là những cô gái quái gở! Kindaichi không khỏi liên tưởng tới ba chị em Gorgon, Gorgon là quái vật trong thần thoại Hy Lạp, vốn là thiếu nữ xinh đẹp, nhưng lại huênh hoang tự cho mình đẹp hơn cả nữ thần Athena, nên cả ba đều bị trừng phạt, biến thành quái vật có cánh đại bàng, tóc rắn và móng vuốt đồng thau. Ba chị em nhà Kito cũng toát lên vẻ ma mị tương tự.
"Vậy ra cô Sanae là em họ cậu Chima?"
"Đúng thế, cô ấy còn một người anh tên Hitoshi, nghe nói đã đến Myanmar, may mà bình yên vô sự, ít lâu nữa sẽ về."
"À, nghe nói là đồng đội cậu ta tới báo tin. Cha mẹ họ đâu?"
"Cha mẹ cô Sanae ấy à?" Bác Oshichi tỏ vẻ khinh khỉnh, "Qua đời lâu rồi. Mười hai mười ba năm trước, khi tôi đến đảo, anh em họ đã được đón về nhà chính. Nghe nói cha cô ấy mất ngoài biển."
"Ồ? Vậy nhà đó giờ còn những ai? Một ông chủ điên, ba cô con gái chập mạch, cô em họ Sanae và một bà bác ngoại ngũ tuần. Bà ta là ai thế?"
"Hả?" Bà Katsu ấy à? Đó là bạn trà của cụ Kaemon quá cố, nói trắng ra là vợ bé. Đừng thấy bà ta xấu xí mà lầm, lúc tôi mới tới, bà ta khoảng băm lăm băm sáu, vẫn còn tao nhã xinh đẹp lắm."
"Ra thế, vậy là nhà đó hiện có một ông chủ điên, ba cô con chập mạch, cô em họ Sanae và bà Katsu. À, bà Katsu chăm sóc cho cả nhà ư?"
"Uầy, bà ta thì chăm sóc được ai. Bà ta được cái tốt tính thôi, chứ vô dụng lắm. Năm xưa cụ Kaemon ưng bà ta cũng còn vì thế, vợ bé tháo vát sắc sảo quá là trong nhà sẽ xào xáo không yên. Chi tiết nhỏ nhặt mà cụ Kaemon vẫn suy xét đến, thật là chu đáo."
"Vậy nhà đó do ai cai quản?"
"Cô Sanae chứ ai."
"Sanae ư? Nhưng cô ấy…"
"Mọi người đều phục cô sát đất. Cô Sanae cừ lắm. Mới hăm hai hăm ba mà cứng cỏi tháo vát, chẳng coi mấy gã thô lỗ kia vào đâu. Chỉ hiềm vẫn cần Takezo làm nhà triều."
"Takezo? Tôi biết sơ sơ, vì đi cùng một chuyến tàu với anh ta hôm lên đảo. Nhà triều là gì vậy?"
"Nhà triều là người phụ trách quan sát thủy triều lên xuống, chức vụ ngang với đại đội trưởng trong quân đội." Bác Oshichi nói, "Tàu thuyền chỉ hoạt động theo cờ của nhà triều, nếu vẫy cờ không đúng sẽ khó giăng lưới, bởi vậy đây là việc khó, cũng là nghề bí truyền. Nghe nói giá của chủ tàu cao hay thấp chủ yếu là do thuê được nhà triều ưu tú hay không, bởi vậy chủ tàu coi trọng nhà triều. Takezo là nhà triều thượng hạng trong vùng, ai cũng phải công nhận, nhưng từ đời cha cậu ta đã chỉ làm ăn với chi chính nhà Kito, điểm này thì chi thứ thua đứt."
"Hóa ra còn có chi thứ nhà Kito nữa à?"
"Phải rồi, chi chính Kito và chi thứ Kito. Hiện giờ trên đảo chỉ có hai chủ tàu, trước đây còn một nhà nữa gọi là Tomoeya, nhưng sạt nghiệp phải bốn năm năm rồi. Kito chi chính và chi thứ tiếng là họ hàng nhưng cũng xích mích mấy đời nay. Nghe nói cũng vì thế mà cụ Kaemon chết không nắm mắt."
"Ra vậy."
"Bởi con trai cưng của cụ loạn óc, hai đứa cháu trai tòng quân, sống chết không rõ. Nghe đâu đến lúc xuôi tay Ngài Taiko vẫn canh cánh chuyện ấy."
"Ha ha ha! Bác nắm rõ quá nhỉ? Nói vậy là hiện giờ gia chủ chi thứ Kito là ông Ieyasu[5] à?"
"Phải, phải. Tiếc rằng bên cạnh ông Ieyasu này còn có một Yodo Gimi[6] ghê gớm nữa, phu nhân Shiho ghê gớm gấp mấy lần ông chồng Gihee kia."
"Ồ, phu nhân Shiho?"
"Cậu biết cô ta?"
"Buổi sáng hôm tôi đến đảo, cô ấy có tới chùa Senko dâng hương."
"Hạng người như cô ta đâu phải thiện nam tín nữ đến chùa bái Phật. Nhất định là nghe ngóng được tin cậu Chima qua đời, nên mới định lân la tới chỗ cậu dò hỏi."
"Bác nói vậy tôi mới nhớ ra, quả thật cô ấy hỏi han kỹ càng về tình hình Chima lúc lâm chung."
"Bởi mới nói cô ta là Yodo Gimi. Cô ả là con gái chủ tàu Tomoeya mà tôi kể hồi nãy, phải lòng cậu Chima, chỉ muốn lấy cậu ấy. Cũng có người nói cô ta yêu cậu Hitoshi. Nhưng ai cũng thế thôi, cụ Kaemon đời nào chịu cho con gái một gia đình phá sản bước vào nhà? Cô ả nham hiểm kia thấy không có hi vọng, bèn lấy ngay chi thứ, kẻ thù không đội trời chung với chi chính. Gia chủ chi thứ, ông Gihee năm nay ngoài sáu mươi rồi, Shiho mới hăm bảy hăm tám, mà đã làm vợ kế ông ta. Ông Gihee vốn không có con nên đã nhận nuôi một đứa cháu đằng ngoại của bà vợ quá cố. Nhưng năm ngoái Shiho sinh được đứa con trai, bèn đuổi thẳng cổ đứa cháu kia đi. Đúng là miệng nam mô bụng bồ dao găm! Ông Gihee trông có đến nỗi nào mà lại bị đàn bà dắt mũi. Còn nữa…"
"Được rồi, được rồi, mạnh quá, phiền bác nhẹ chút được không? Cạo thế này đau chết được."
"Ây, đau à? Mới thế mà đã…"
"Đau thật mà. Bác cho thêm ít xà phòng đi. À phải, Ukai là ai vậy bác?"
"Ukai à?" Bác Oshichi khựng lại, liếc xuống Kindaichi, "Cậu biết nhiều nhỉ."
"Đâu, đâu có." Kin Daichi thầm cuống, nhưng bác Oshichi có vẻ không nghi ngờ gì cả.
"Gã Ukai cũng chẳng ra gì. A! Xin chào quý khách!"
Giọng bác ta bỗng cao hẳn lên, Kindaichi hé mắt nhìn, thấy có người đứng cạnh cửa ra vào.
"Xong ngay đây, không còn khách nào chờ nữa đâu. Nào! Mời vào đây hút điếu thuốc đã." Đoạn bác Oshichi gượng gạo tiếp, "Lâu lắm không gặp, cậu Ukai không được khỏe hay sao thế? Mặt mày sa sầm vậy? Có phải bị bà chủ chi thứ Kito nựng yêu không? Ha ha ha! Cái cậu này, tôi đùa thôi!"
Kindaichi kinh ngạc nhỏm dậy, thình lình bắt gặp ánh mắt của một thanh niên trong gương.
Ukai Shozo… Như Kindaichi về sau được biết, quả là một cậu chàng đẹp trai hiếm có, hệt như từng tả trong tiểu thuyết của Izumi Kyoka[7].
Từng bước trèo lên sườn dốc, mặt biển dần trải ra trước mắt. Đã sang tháng Mười, ngay Kindaichi cũng phát hiện ra nước biển đã đổi màu. Năm nay không có bão, lượng mưa lại ít, nên nước biển Seto trong xanh lạ thường, tựa như pha lẫn sắc lam trong tranh Hiroshige Ando, có lẽ nhờ thủy triều lên xuống, nên những gợn sóng lăn tăn cứ đan vào nhau như hoa văn trên thân rắn, sắp hàng ở giữa là quần đảo Shiwaku. Thời đi học, Kindaichi đã đọc Người ứng khẩu thành thơ của Mori Ogai[8] và mê mệt cảnh biển tại Ý, giờ lại được ở bên bờ biển Seto, anh không khỏi cho rằng cảnh sắc nơi đây còn đẹp hơn cả áng văn như châu ngọc của Mori Ogai. Tiếc rằng chẳng có cô gái nào như Annunziata, cũng chẳng có bà ăn mày đáng thương nào như Maria, ngay trai đẹp như Antonio cũng…
Kindaichi sực nhớ tới cậu chàng Ukai vừa gặp khi nãy. Gương mặt đẹp ma mị in trong tấm gương loang lổ thủy ngân chợt hiện lên trong tâm trí anh.
Cậu ta cắt tóc ngắn, mái tóc đẹp đẽ bóng mượt như đứa bé thoa phấn trong tranh, làn da trắng trẻo sáng lên như tơ lụa thượng hạng, cặp mắt đen láy trong trẻo, nhưng đáy mắt luôn thấp thoáng vẻ yếu đuối, tựa hồ tần ngần muốn nói lại thôi. Chạm phải tia nhìn của anh trong gương, theo phản xạ, cậu ta định nhìn lảng đi, nhưng ánh mắt lại thoáng vẻ dao động. Chính là ánh mắt ấy! Chính ánh mắt ấy đã khơi dậy bản năng bao bọc của người phụ nữ.
Kindaichi không nén nổi tiếng thở dài, rồi như muốn cảm nhận thật kỹ, anh lạch bạch trèo từng bước lên dốc núi, vừa đi vừa nghĩ tới thiếu niên mới gặp. Cậu ta mặc áo kép và áo khoác ngắn kẻ đối xứng, dây lưng màu tía kiểu nam thắt lỏng, trông từa tựa diễn viên kịch Kabuki, nhưng không lơi lả như đám con hát, có lẽ bởi cậu ta cũng thấy ngại ngùng về cách ăn vận ấy chăng?
Kindaichi đã chằm chằm nhìn Ukai, song anh không có ác ý, cũng không phải khinh miệt cậu ta, vậy mà cậu ta lại đỏ bừng mặt, đầy vẻ ngại ngùng. Kindaichi thầm nghĩ, có lẽ cậu ta cũng không thích ăn mặc theo lối ấy. Nếu không phải ý muốn của cậu ta, thì… Chợt nhớ tới câu cuối cùng của bác thợ cạo, Kindaichi lại thở dài.
Từ khi đến đảo hình như mình luôn sống trong bất ngờ thì phải, Kindaichi tự nhủ. Thoạt tiên là cô Sanae, anh gập ngón tay nhẩm tính; rồi ba chị em Gorgon, anh gập thêm một ngón tay nữa; sau đó là phu nhân Shiho với nhan sắc thanh tao quyến rũ đến chùa dâng hương, Kindaichi gập ngón tay thứ ba; tiếp đến là cậu chàng đẹp trai hôm nay… gập đến ngón thứ tư, anh thầm nghĩ, chẳng biết sự việc thứ năm còn choáng váng nhường nào? Chợt nhớ tới lời trăng trối của Chima, cơn rùng mình lại theo sống lưng anh chạy dọc lên đầu.
Nhờ anh… đến đảo Ngục Môn… một chuyến… ba đứa em tôi… ôi… em họ tôi… em họ…
Trong khoang tàu ngột ngạt hôi thối nồng nặc, Chima gầy như que củi đang thoi thóp vẫn cố giãy giụa, lẩm bẩm ước nguyện đáng sợ cuối cùng…
Kindaichi lảo đảo như sắp rơi vào ác mộng, rồi lo lắng ngước lên. Phạch… phạch… phạch… Lại có tàu vào bến dưới chân anh, chính là tàu Bạch Long lần trước đưa anh đến. Bên bờ có ba bốn chiếc xuồng nhỏ lướt ra, chẳng mấy chốc đã cập vào mạn tàu Bạch Long, loáng thoáng nghe tiếng đôi bên đối đáp. Nhìn dòng người lũ lượt trên tàu trèo xuống, Kindaichi bất giác trố mắt.
Bởi anh đã thấy quả chuông.
"A, chuông về rồi!"
Kindaichi nhìn quanh bến tàu nhưng không thấy nhà sư đâu cả. Anh tiếp tục leo dốc.
Nếu muốn về thẳng chùa thì sau khi rời hiệu cắt tóc, anh phải rẽ trái. Song anh lại rẽ phải, bởi chi thứ Kito ở bên này. Dinh thự chi chính và chi thứ nằm ở hai bên thung lũng, đối diện nhau. Nếu coi chùa Senko là quân mã trong cờ tướng Nhật Bản thì dinh thự của chi thứ và chi chính nằm ở hai góc của quân xe. Hai ngả đường dẫn tới hai nhà, sau mấy khúc quanh thì hợp làm một ở sâu trong thung lũng, từ đó leo qua sườn dốc khúc khuỷu sẽ tới thềm đá vừa cao vừa dốc của chùa Senko.
Phu nhân Shiho có nhà không nhỉ? Đến gần cổng dinh thự chi thứ, Kindaichi cố ý bước chậm lại, song chẳng ai để ý đến anh. Nhờ vậy anh lại có cơ hội quan sát kĩ ngôi nhà.
Vách núi đá hoa cương cao chót vót, tường nhà trắng xóa xây dựa vào núi và cửa nhà dài, không khác gì dinh thự chi chính, nhưng kém bề thế hơn hẳn. Mái nhà dốc cao ngất phía trong tường không được nguy nga bằng chi chính, nhà kho xem chừng cũng nhỏ hơn.
Qua khỏi dinh thự chi thứ, con đường đột nhiên quẹo về bên trái. Ở chỗ ngoặt có một sân trời nhỏ, đứng trên đó có thể nhìn bao quát cả mặt biển bên dưới, dân bản địa gọi là "Mũi Tengo". Một cảnh sát đang đứng trên sân trời, chĩa kính viễn vọng ngắm xuống biển. Nghe tiếng chân Kindaichi, anh ta thu kính lại, quay sang mỉm cười nhìn anh.
Trên đảo không có đồn cảnh sát, chỉ có văn phòng quản lý hộ khẩu, cảnh sát cũng chỉ có một người, phải kiêm nhiệm cả cảnh sát biển lẫn cảnh sát đảo, có một chiếc cano, công việc là giám sát khu vực đánh bắt cá, chú ý vụ cá, kiểm tra giấy tờ của ngư dân… đa phần là công việc của cảnh sát biển.
Viên cảnh sát trên đảo Ngục Môn là một người tử tế, họ Shimizu, chừng bốn lăm bốn sáu tuổi, râu ria xồm xoàm, khá thân thiện với Kindaichi.
"Trên biển có động tĩnh gì không?"
"Bọn cướp biển lại xuất hiện rồi. Cấp trên điện xuống, bảo tôi phải tăng cường cảnh giác." Shimizu mỉm cười, hàm răng trắng bóng lộ ra sau hàm râu quai nón bờm xờm trên má.
"Cướp biển ấy à!" Kindaichi trợn tròn mắt, nhưng ngay sau đó lại phì cười. Lúc còn ở chỗ Kubo Ginzo, Kindaichi đã thấy báo chí đưa tin cướp biển hoành hành trên vùng biển Seto.
"Thời gian như đang từ từ quay ngược ấy nhỉ."
"Lịch sử tái diễn à? Ha ha ha! Nhưng lần này hình như quy mô khá lớn đấy. Nghe nói chúng có mười mấy người, tên nào cũng mang súng. Đều là lính giải ngũ…"
"Ầy, động chạm rồi đấy. Ở đây cũng có một quân nhân giải ngũ này."
"Ôi chao, tôi thật là… Thế nào? Làm một điếu không?"
Xem chừng chẳng coi đám hải tặc vào đâu, Shimizu ngồi bệt ngay xuống, móc trong túi một điếu thuốc cuốn đưa cho Kindaichi.
"Thôi khỏi, tôi cũng có đây… Thế à? Vậy tôi không khách sáo nữa nhé." Kindaichi ngồi xuống bên cạnh Shimizu.
"Cậu vừa đi dạo à? Ủa, đi cắt tóc ư? Đằng đó có đông không? Nếu không đông tôi cũng định chạy đến cắt."
"Anh đi đi. Giờ cậu Ukai đang cắt, nhưng chắc sắp xong rồi."
"Cậu Ukai ư?" Shimizu kinh ngạc nhìn Kindaichi, "Cậu quen à?"
"Không, tôi mới gặp lần đầu. Thấy bác thợ cạo gọi như vậy, nên tôi gọi theo thôi."
Shimizu im lặng rít thuốc rồi nhăn mặt, có lẽ không phải vì khói thuốc.
"Cậu ta đẹp thật, y như "đóa hoa mới hé" vậy." Mặt Shimizu càng lúc càng sa sầm.
"Cậu ta là người vùng này à?"
Shimizu làm thinh, hút hết điếu thuốc còn cẩn thận dùng mũi chân di tắt đót rồi mới quay sang bảo Kindaichi, "Nói ra chắc cậu sẽ cười, nhưng tôi linh cảm sắp xảy ra bất trắc! Một bất trắc khủng khiếp ở đảo Ngục Môn. Quay lại Ukai đã, cậu chàng quả thật điển trai. Cậu ta đã hăm ba hăm tư, dĩ nhiên không phải dân ở đây, nghe đâu quê gốc vốn ở Tajima, cha là giáo viên tiểu học, nhưng chẳng ai kiểm chứng được, cậu ta cũng vì chiến tranh nên mới dạt tới đây."
Đoạn Shimizu quay người trỏ ngọn núi sừng sững phía sau chùa Senko, "Cậu đã leo lên ngọn núi kia bao giờ chưa? Nếu chưa, cậu thử leo lên mà xem. Nghe nói trước đây đỉnh núi là sào huyệt của cướp biển, có cả đài quan sát, giờ vẫn còn di tích. Vào thời chiến, người ta lại dựng sào huyệt và đài quan sát ở đó lần nữa, nhưng gọi là trạm giám sát phòng không và trận địa pháo cao xạ. Đỉnh núi lỗ chỗ sứt mẻ, đều do quân lính đào xới cả, Ukai Shozo là một trong số đó."
Kindaichi mê mải nghe, chăm chú nhìn Shimizu như nuốt từng lời. Shimizu hắng giọng kể tiếp, "Phải, cậu ta cũng là lính. Trẻ măng, nhưng yếu đuối nên không bị điều ra tiền tuyến. Tuy mặc quân phục kaki song bộ dáng mong manh. À, lính ở trạm giám sát hoặc trận địa pháo cao xạ thường xuống núi vào làng để trưng mua nhu yếu phẩm, dân làng nể họ là lính nên cố sức cung cấp, yêu cầu khó khăn đến đâu cũng gắng đáp ứng, quân đội thời gian đầu được hoan nghênh. Nhưng đến cuối cuộc chiến, lính lác ngày càng trơ tráo, cũng một phần do chiến sự bất lợi. Tiếng là trưng mua, thật ra là cướp, dân làng cũng chẳng mặn mà với họ nữa, vài ngư dân nóng tính còn hậm hực tức tối. Tin ấy truyền lên núi, họ đành thay đổi sách lược, mỗi khi trưng mua đều cử Ukai Shozo ra mặt."
"Ra vậy." Kindaichi gãi đầu sồn sột. Mái tóc bác Oshichi tỉ mẩn chải cho anh chẳng mấy chốc đã lại xù lên như tổ quạ, "Nói thẳng ra là định dùng mỹ nam kế lấy lòng các bà các chị chứ gì?"
"Đúng rồi. Chưa kể đối tượng trưng mua của quân đội thể nào chẳng có chi chính và chi thứ Kito, nên cậu ta lui tới hai nhà này nhiều nhất. Bấy giờ cụ Kaemon chi chính vẫn còn tại thế, nhưng tính tình cứng rắn nên nếu quân đội đưa ra yêu cầu bất hợp lý, cụ đều cương quyết khước từ. Ai ngờ ba cô cháu gái lại lén lút giúp người ngoài."
"Ra thế, sách lược của quân đội đúng là đánh trúng tâm lý họ."
"Trúng phóc ấy chứ! Có lần chờ mãi chưa thấy Ukai đến, họ còn tự dẫn xác lên tận núi tìm! Dân làng đồn đại nhiều lắm, nói rằng cả ba cô đều bị.. ừm, bị… Uakai xơi tái rồi! Dĩ nhiên, trong quân đội cũng có kẻ tuân thủ kỉ luật kiên quyết phản đối, cho rằng không nên quan hệ bừa bãi như vậy. Nhưng đó là lệnh của đội trưởng! Ukai vâng lệnh đội trưởng nên mới làm vậy với ba chị em họ… Dù sao cũng là việc chẳng ra gì! Lúc chiến tranh sắp kết thúc, ba chị em mang lên núi không chỉ nhu yếu phẩm mà còn vô vàn tiền bạc. Đội trưởng đứng giữa kiếm lợi, vơ đầy túi riêng rồi đột ngột giải ngũ về quê… Đều là tin đồn, nhưng không có lửa làm sao có khói."
"Nghĩa là cậu Ukai luôn bị lợi dụng à? Sao cậu ta không về quê?"
"Dĩ nhiên là có chứ, cậu ta về Tajima, cụ Kaemon nhẹ cả người. Nào ngờ chưa đầy một tháng cậu ta đã quay lại, kể lể mẹ kế ở quê nghiệt ngã, không sống nổi, và xin nương nhờ chi thứ Kito. Không lâu sau, cụ Kaemon tai biến mạch máu não, ngã bệnh rồi qua đời.
Câu chuyện của Shimizu ngừng ở đây. Kindaichi im lặng nhìn xuống mặt biển bên dưới, cảm thấy lồng ngực nặng trĩu như có đá tảng nghìn cân đè nặng, đến mở miệng cũng khó khăn. Lát sau, Shimizu kể tiếp.
"Cụ Kaemon quá cố được dân đảo tôn xưng là Ngài Tako, không ai dám trái lời. Chỉ trừ phu nhân Shiho. Ukai nói cậu ta bị mẹ kế ngược đãi, có lẽ là thật. Nhưng kể cả thế, cậu ta cũng không nên ăn nhờ ở đậu, không nên mặt dày đến vậy. Nhất định là trước khi cậu ta về quê, phu nhân Shiho đã hứa hẹn điều gì, hoặc sau này lại viết thư gọi cậu ta đến, tóm lại mọi chuyện đều do cô ta bày ra. Hiện giờ cậu ta bị bắt mặc trang phục như diễn viên kịch Kabuki, cả ngày lang thang lêu lổng, thoạt trông đã biết là ý của cô ta. Bởi cô ta muốn dùng lại mánh cũ của đội trưởng, xúi giục cậu ta thao túng ba chị em nhà Kito. Hẳn cô ta muốn xới tung cả nhà chính lên đấy. Cụ Kaemon cũng biết, nhưng chẳng thể tới tìm người ta vặn hỏi được. Có là Ngài Tako thực sự cũng không thể can thiệp vào việc người ta quan tâm tới nhau, chưa kể cụ ấy có ra mặt ngăn cản, phu nhân Shiho cũng chẳng nghe nào. Ngài Taiko Toyotomi Hideyoshi kiêu ngạo tự phụ đến đại chiến Hàn-Nhật mới biết trên đời có cuộc chiến mình không thắng được, cụ Kaemon cũng phải gặp phu nhân Shiho mới biết ngoài nước sông Kamo, điểm xúc xắc và tăng binh ra[9], trên đời còn nhiều việc không thể theo ý mình. Đây chính là nguyên nhân khiến cụ ngã bệnh, đủ thấy trong lòng đau đớn nhường nào."
Biển cả mênh mông bắt đầu nhuốm màu chiều, gió cũng se sắt hẳn. Shimizu và Kindaichi bỗng rùng mình, nhưng có lẽ không phải vì lạnh. Kindaichi dần dần trông rõ quầng mây đen quái dị đang trùm lên cả hòn đảo. Tai anh ong ong vang vọng tiếng chân đến gần, khiến người ta sởn tóc gáy, hệt như tiếng sóng vỗ bờ đá dốc, lại như tiếng sấm ì ùng đằng xa. Kindaichi từ biệt Shimizu rồi về chùa. Trong phòng trụ trì, sư thầy, trưởng làng và bác sĩ đang ngồi trò chuyện, không khí có vẻ nặng nề.
"A, cậu Kindaichi." Nghe tiếng chân, sư thầy ló ra gọi, "Hôm nay giấy báo tử gửi về rồi." Đạon hất hàm về phía trưởng làng.
Trưởng làng vội thanh minh, "Không phải chúng tôi nghi ngờ cậu, chỉ là ngày nào còn chưa nhận giấy báo tử thì vẫn còn ôm hi vọng mong manh."
"Giờ mọi chuyện đã sáng tỏ, bề trên nghiêm cấm tổ chức lễ truy điệu nhưng tang lễ thì phải cử hành cho sớm.
Bác sĩ sầm mặt, chòm râu dê rung rung. Kindaichi chợt nghe tiếng chân rờn rợn ong ong bên tai lần trước lan đến gần.
Chùa Senko nằm ở lưng chừng núi. Mà chính xác hơn là gần về phía đỉnh núi. Ngọn núi bao quanh đột nhiên cao vót lên từ phía sau chùa, rồi chạy dài về phía Đông nối thành một dải với dãy Suribachi. Nói cách khác, chùa Senko nằm ở phía Tây đảo, đứng trong sân chùa sẽ bao quát được cả thôn làng, cũng có nghĩa là tất cả nhà dân trên đảo đều tập trung ở phía Tây.
Từ xưa đến nay, những hòn đảo nhỏ hẻo lánh luôn bị cướp biển quấy nhiễu nên thôn làng cứ túm tụm lại một chỗ, như thế chỉ hô một tiếng là cả làng sẽ kéo đến ngay, đảo Ngục Môn cũng không ngoại lệ.
Đứng trên thềm chùa Senko nhìn xuống, đập vào mắt là dinh thự chi chính Kito ở bên phải. Nhìn từ phía trên, ngôi nhà hệt như mê cung, mái ngói san sát khiến người ta không khỏi nghĩ đến kết cấu phức tạp bên trong, tuy vậy vẻ nguy nga lộng lẫy lại làm người ta phải trầm trồ ngưỡng mộ.
"Cụ Kaemon quá cố là người thích xây cất nhà cửa, xây hết phòng này đến phòng khác, cuối cùng mới thành ra nhiều phòng như vậy." Sư thầy có lần kể, rồi lại trỏ xuống dưới giới thiệu, "Kia là nhà chính. Kia là nhà ngang, kia là kho đồ, kia là kho thóc, kia là kho cá, kia là kho lưới, kia là…"
Mấy gian nhà nọ xếp thành vài tầng chạy dọc theo triền dốc sau nhà, trùng trùng điệp điệp, lớp lớp lang lang.
"Ngôi nhà mái gỗ cao nhất nằm ở rìa trái là gì thế ạ?"
"Chỗ đó ấy hả, phòng cầu nguyện."
"Phòng cầu nguyện ư? Phòng cầu nguyện là gì?"
"Phòng cầu nguyện là phòng cầu nguyện thôi, hôm khác tôi sẽ nói rõ hơn nhé."
Kindaichi quay sang nhìn nhà sư, ngạc nhiên vì giọng điệu chua chát của ông.
Phòng cầu nguyện nọ nằm ở góc cao nhất của dinh thự, cách xa các phòng khác, khuất sau một cây tùng khổng lồ. Ván gỗ lợp mái đã đen sì vì mưa gió, nhìn có vẻ cũ kĩ. Kindaichi thầm nghĩ, chắc là một ngôi đền nhỏ tại gia.
Cách một thung lũng, nằm về bên trái, đối diện với chi chính là dinh thự của chi thứ, cũng dựa lưng vào sườn núi. Nhìn từ trên xuống, dinh thự này thua xa chi chính, cả về ngoại cảnh hùng vĩ lẫn mức độ bề thế nguy nga. Hai tòa nhà cách nhau một thung lũng, đấu lưng vào nhau, nhìn từ trên xuống cảm thấy như có ám hiệu gì đó.
"Cứ như được đấu lưng với cụ Minamoto[10] ấy nhỉ."
Có lần sư thầy đã trỏ hai nhà mà nói vậy. Sư Ryozen có tật xuất khẩu thành thi, động một tí là đọc haiku[11].
Như lúc trước đã nói, hai con đường dẫn tới dinh thự chi chính và chi thứ Kito cuối cùng sẽ hợp làm một ở đáy thung lũng, sau đó lại tiếp tục uốn lượn lên, ngoặt thêm vài khúc sẽ thấy một ngôi miếu nhỏ nằm ở chỗ rẽ. Nhìn qua cửa sổ, có thể thấy sàn gỗ bên trong rộng chừng hai chiếu. Trên bàn thờ bằng gỗ trắng đặt một pho tượng thờ không rõ tên, ăn mặc theo lối thời Đường, xem biển treo trên cửa sẽ biết đây là miếu thờ Thổ địa.
Ngoài ngư dân, trên đảo cũng có nông dân, không trồng lúa mà trồng vài loại khoai hoặc rau cải. Tuy các ngư dân không hề biết cày cuốc, nhưng các bà vợ lại có người biết, nên việc thờ phụng thần Thổ địa cũng là tất yếu. Đi qua gian miếu, ngoặt thêm vài chỗ, con đường mòn ruột dê sẽ dốc đứng lên, sừng sững trước mắt là hàng thềm đá dài của chùa Senko núi Iozen. Dưới thềm theo thông lệ dựng một tấm bia đá viết mấy chữ "Say rượu cấm vào chùa". Thềm đá có khoảng năm mươi bậc, chùa Senko xây dựa vào triền núi tọa lạc phía trên. Bước qua cửa chùa treo tấm biển Iozen, sẽ thấy nhà cửa sân vườn còn rộng hơn tưởng tượng, nhìn từ bên phải, đầu tiên là phòng trụ trì, trước hiên treo vân bản[12] để khách đến thăm gõ, mé trái chùa, đối diện cửa vào là chính điện, bên trái chính điện là một hàng dài các trai phòng. Chùa Senko thuộc phái Tào Động[13], trước đây thường có những nhà tu hành vân du ngang qua ghé vào tĩnh tọa, gần đây có lẽ vì cuộc sống khốn khó nên không thấy họ tới nữa, trai phòng cũng bỏ trống.
Trước hành lang nối liền trai phòng với chính điện có một cội mai già tuyệt đẹp, là niềm tự hào của chùa. Cội mai cao quá mái hiên che hành lang, cành lá vươn về phía Nam buông rủ xuống, dài đến năm gian, gốc to hai vòng ôm. Xung quanh có rào chắn, cạnh gốc dựng một tấm bảng chép lại điển cố gì đó, nhưng nhiều năm dãi nắng dầm mưa, mực đã nhòe nhoẹt cả, Kindaichi không nhận ra nổi chữ nào nữa.
Trong chùa có ba người đàn ông, trừ Kindaichi, hai người còn lại là sư Ryozen, và chú tiểu Ryotaku lo việc bếp núc nhà tắm và tiếp đãi khách khứa.
Chú tiểu Ryotaku chừng hăm tư hăm lăm tuổi, gầy gò đen đúa, kiệm lời. Gương mặt ngăm ngăm và đôi mắt sắc lẻm khiến Kindaichi thấy gò bó ngay từ lần đầu giáp mặt, cứ băn khoăn mãi chẳng biết có phải chú ta ghét cay ghét đắng kẻ trên trời rơi xuống như mình hay không. Lâu ngày sống chung, anh mới dần dà nhận ra chú tiểu vô cùng thân thiện, còn hết sức tỉ mỉ chu đáo, chẳng qua vốn tính chất phát nên không khéo giao iếp. Ryotaku hầu hạ trụ trì ân cần cẩn thận như hầu hạ cha mình vậy.
Sư Ryozen định để Ryotaku kế nghiệp mình, hiện đang xin phép tổng trụ trì Tsurumi, nghe nói đợi chùa chính gửi giấy chứng nhận xuống là sẽ cử hành nghi thức ngay. Phái Tào Động chủ trương truyền chức trực tiếp, sư phụ còn tại thế đã phải bàn giao lại cho đệ tử. Nhưng gần đây chú tiểu lại than thở, "Tôi tu hành nông cạn, đâu đủ tư cách làm trụ trì. Thầy vẫn còn khỏe mạnh, sao lại nghĩ đến việc này cơ chứ?"
"Anh Kindaichi! Anh Kindaichi!" Ryotaku trong phòng trụ trì gọi với ra.
"Chuẩn bị xong cả chưa?" Kindaichi hỏi rồi thong thả đứng dậy rời phòng đọc sách.
Đến phòng trụ trì, anh thấy chú tiểu đã chuẩn bị xong xuôi, cà sa đen vàng đan xen khoác ngoài bộ đồ đỏ thẫm. Sư thầy vẫn mặc áo trắng, vừa thắt một cái móc to bằng cẳng chân vừa nói, "Xin lỗi, phiền cậu đi hộ tôi một chuyến được không?"
"Vâng, tôi sẵn lòng. Thầy muốn nhờ tôi đi đâu?"
"Suy đến cùng vẫn phải báo cho chi thứ một tiếng, kẻo họ giận thì phiền. Cậu đi chuyển lời giùm tôi, mời họ tối nay tới dự lễ canh linh cữu được không? Nghe nói ông Gihee phát bệnh thống phong đang nghỉ ngơi, mời phu nhân Shiho thôi cũng được."
"Tôi biết rồi, cứ để tôi."
"Xong xuôi phiền cậu tới dinh thự chi chính. Tôi và Ryotaku cũng phải đi đây, Ryotaku, đưa đèn lồng cho anh Kindaichi."
"Không cần đâu, chưa đến 6 giờ rưỡi mà, bên ngoài còn sáng chán."
"Đừng chủ quan, cậu từ chỗ chi thứ trở về thì trời sập tối mất rồi, đi đường núi nguy hiểm lắm."
"Cũng phải, phiền thầy cho mượn một ngọn đèn vậy."
Đã nhiều năm không soi đèn lồng đi đường, Kindaichi thấy hơi buồn cười, nhưng nhà sư đã có lòng, anh cũng không tiện từ chối. Xách cây đèn của chú tiểu và rời khỏi chùa, quả nhiên trời đã sập tối.
Hôm nay là mùng 5 tháng Mười, đã ba ngày sau khi xảy ra những chuyện trên đây. Chi chính nhận được thông báo Chima ốm chết trong chiến tranh, vội tiến hành tang ma, tối nay là lễ canh linh cữu. Mọi sự vụ rườm rà rắc rối đều do sư thầy chùa Senko, trưởng làng và bác sĩ bàn bạc rồi quyết định. Giờ Kindaichi mới biết vì sao Chima lại gửi thư giới thiệu cho ba người này. Họ chính là ba vị nguyên lão của đảo Ngục Môn, cũng là ba kẻ nắm quyền sinh sát ở chi chính. Sau khi cụ Kaemon qua đời, việc lớn trong nhà đều do họ bàn bạc và quyết định.
Xuống khỏi thềm đá, đi được chừng nửa con đường mòn ruột dê, Kindaichi thình lình gặp một người từ dưới núi đi lên.
"A, anh là khách trong chùa phải không? Sư thầy đâu rồi?"
Đó là một người đàn ông chừng bốn lăm bốn sáu tuổi, tuy thấp bé nhưng khỏe khoắn. Y mặc bộ lễ phục kiểu Nhật có in gia huy, nhưng không đi kèm quần đồng bộ., thấy quen quen mà Kindaichi không nhớ nổi là ai. Nhìn lối ăn mặc, có lẽ là người nhà Kito phái đến đón nhà sư.
"Anh đến đón sư thầy đấy ư? Vất vả quá, thầy đang chuẩn bị, chắc sắp xong rồi."
"Vậy còn anh?"
"Tôi phải tới đằng chi thứ."
"Chi thứ Kito tư?" Người nọ ngạc nhiên nhíu mày, "Có việc gì à?"
"Sư thầy nhờ tôi nhắn họ tối nay đến dự lễ canh linh cữu."
"Sư thầy nhờ anh đi à?" Người nọ càng nhíu chặt mày vẻ kinh ngạc, nhưng rồi lại như nghĩ ra chuyện gì đó, bèn nói, "Vậy vất vả cho anh rồi. Lát nữa gặp sau nhé."
Dứt lời, y tiếp tục đi lên. Kindaichi nhìn theo, sực nhớ đó là người mình đã gặp trên tàu hôm ra đảo. Theo lời bác thợ cạo Oshichi thì Takezo là nhà triều giỏi nhất ở đây.
Giá nhận ra sớm thì đã hỏi han thăm dò nhiều hơn. Chỉ tại y đổi hẳn cách ăn mặc nên anh không nhớ.
Đi hết con đường ruột dê, Kindaichi rẽ trái. Anh hơi bồn chồn, đến đảo đã hai tuần, anh thường xuyên ra vào dinh thự chi chính, đây là lần đầu đến chi thứ. Hôm qua, cảnh sát Shimizu đã nhắc anh, "Lúc trò chuyện với ngư dân trên đảo phải hết sức chú ý. Làng chài nào cũng vậy, nếu có hai nhà chủ tàu, ắt sẽ chia thành hai phe, có ba nhà thì chia thành ba phe đối địch nhau. Quan hệ giữa các nhà chủ tàu trên đảo rất xấu, ngư dân hai phe cũng như nước với lửa. Thiên vị nhà nào cũng có thể vạ lây, nên tôi luôn giữ thế trung lập. Trưởng làng và bác sĩ Murase đều than thở về việc cậu Chima chi chính Kito bất hạnh qua đời. Nếu cậu Hitoshi gặp bất trắc nữa thì cả hòn đảo sẽ thuộc về chi thứ, hai người bọn họ cũng đừng hòng sống yên ổn. Nhắc lại nhớ, họ thân với cụ Kaemon lắm đấy! Nghe nói hiện giờ ông Gihee đang âm thầm mua chuộc cấp dưới của trưởng làng, lăm le đuổi ông ta đi, còn định mời một bác sĩ tốt nghiệp trường huyện đến. Ở thành phố lớn, bác sĩ giỏi mới về nước hoặc về quê đông như kiến ấy mà."
Kindaichi lại hỏi, "Còn sư thầy thì sao?'
Shimizu đáp "Chẳng sao cả", và nhấn mạnh lần nữa, "Sư thầy không có vấn đề gì đâu, địa vị của ông ta trên cả chủ tàu, dù có bao nhiêu nhà chủ tàu hay họ xích mích với nhau ra sao thì sư thầy nắm giữ tín ngưỡng toàn đảo vẫn chễm chệ ngồi trên. Sở dĩ trưởng làng và bác sĩ còn vững chỗ chắn chắn cũng là nhờ được lòng ông ta. Sư thầy là vị thần toàn trí toàn năng trên đảo, nhưng những người khác mà không ngoan ngoãn nghe lời ông Gihee và phu nhân Shiho, e rằng khó sống."
Thế nên, Kindaichi đến chi thứ Kito mà như vào trại giặc vậy. Trại giặc ấy à? Không, nào phải thế, anh đâu có quan hệ gì đặc biệt với cả hai nhà này. Có điều, Kindaichi chợt chạnh lòng nhớ tới tình cảnh lúc Chima lâm chung. Đột nhiên, lời trăng trối rùng rợn ấy lại vang vọng bên tai anh như thủy triều, như sấm xa, như gió lùa rặng thông trên núi.
"Chà… ông lớn đã về phòng nghỉ ngơi rồi. Xin hỏi ông là ai vậy?"
"Tôi họ Kindaichi, tới chuyển lời giúp sư thầy chùa Senko."
"Phiền ông đợi một chút, tôi vào báo với bà lớn."
Lạ thật. Nhớ lại hôm mới đến đảo Ngục Môn, vừa đặt chân lên hiên nhà chi chính, trông thấy Sanae tao nhã hành lễ với khách khứa, Kindaichi đã hết sức ngạc nhiên. Tuy vậy, phong thái ứng xử của Sanae trôi chảy tự nhiên, không có cảm giác phải gồng mình như thiếu nữ trước mặt, giọng còn nặng tiếng địa phương. Gọi phu nhân Shiho là "bà lớn" nghe cũng hơi nực cười, gọi bà chủ không phải là được rồi ư?
"Ôi chao, chào anh!"
Thình lình nghe tiếng chào, Kindaichi giật nảy mình. Người đâu mà đi lại nhẹ như mèo, không hề phát ra tiếng động. Anh ngoái lại nhìn, thấy phu nhân Shiho đang tao nhã đứng sau bức bình phong, đẹp lộng lẫy, khiến người ta bất giác say mê. Không chỉ gương mặt đẹp, dáng dấp của cô ta cũng quyến rũ vô cùng. Thân hình mềm mại thướt tha, yểu điệu mà linh hoạt. Kindaichi thấy rõ cô ta không phải người phương Nam, mà mang vẻ đẹp điển hình của người phương Bắc, có lẽ là xứ Akita hoặc Echigo gì đó. Lần đầu tiên gặp cô ta ở chùa Senko, anh đã tròn mắt kinh ngạc, giờ thấy cô ta tao nhã đứng cạnh tấm bình phong trước tiền sảnh cũ kĩ tối tăm, lòng anh lại không khỏi thấp thỏm.
Shiho chải một kiểu tóc Kindaichi không rõ tên, không búi thành búi, cũng không buông xõa hai bên thái dương. Kimono và obi đều là loại anh chưa thấy bao giờ, nhưng có vẻ cầu kì. Trông cô như người mẫu trang bìa tạp chí kimono thịnh hành sau Thế chiến vậy.
"Mừng anh tới chơi." Phu nhân Shiho lại cúi chào, rồi tha thướt bước từ sau bình phong ra, tay vuốt nhẹ mái tóc, khéo léo uốn tấm lưng ong uyển chuyển ngồi xuống, lặp lại lần nữa, "Mừng anh tới chơi."
Cô ả hơi nghiêng đầu, cười bằng mắt, "Nghe nói anh tới chuyển lời của trụ trì Ryozen?" Phu nhân Shiho nhình như hơi ngà ngà say.
Kindaichi căng thẳng nuốt nước bọt, rồi lắp bắp nhắc lại lời sư thầy. Càng nói lắp anh càng căng thẳng hơn, bất giác lại giơ tay gãi đầu sồn sột. Xem ra chiến tranh cũng không sửa nổi cái tật này của anh.
"Ồ?" Phu nhân Shiho mở to mắt, cười nói, "Hôm qua chi chính đã báo cho chúng tôi rồi. Nhưng chồng tôi thấy hơi khó ở, đang nghỉ ngơi, tôi không thể để mặc ông ấy một mình được."
Ấy thế mà cô ả vẫn uống say.
"Hôm qua đã nói rồi, để ngày khác chồng tôi đỡ hơn sẽ sang thăm hỏi. Lẽ nào trụ trì chưa biết tin sao?"
"Thế… thế ư? Vậy chắc là trụ trì quên mất. Xin… xin thứ lỗi."
"Đâu có, là lỗi của chúng tôi mà. Nhưng trụ trì cũng hơi quá đáng đấy."
"Dạ?"
"Còn bắt anh đi chuyển lời nữa."
"Không, tại tôi rảnh nên nhận đi ấy mà."
"Anh Kindaichi."
"Dạ?"
"Bây giờ anh sang chi chính ư?"
"Vâng. Nếu cô có việc gì cần…"
"Ây, không có. Vậy tôi không dám làm phiền nữa, hôm khác mời anh lại tới chơi. Anh hay tới chi chính lắm ư?"
"À vâng, cũng thường xuyên. Cậu Chima có nhiều sách nên tôi hay tới mượn đọc."
"Chỗ tôi không có sách vở gì, nhưng sẽ có người bầu bạn với anh, thỉnh thoảng anh ghé qua chơi nhé. Chi thứ Kito cũng không có yêu ma quỷ quái gì đâu."
"Hả? Tôi… đâu dám nghĩ thế. Thôi, xin phép cô."
"Anh đi luôn à? Nhờ anh cho tôi gửi lời hỏi thăm trụ trì nhé."
Kindaichi thấy nách mình đầm đìa mồ hôi. Đúng lúc ra cửa, chợt nghe bên trong vang lên tiếng cười của đàn ông, anh chợt nóng bừng mặt, lòng đầy tự ái. Chắc chỉ là trùng hợp thôi, không phải họ cười cợt anh. Nhưng Kindaichi vẫn không thể gạt bỏ ác cảm. Đó là tiếng cười khi đã ngà ngà say, thế nên bất kể ông Gihee có bị khó ở hay không, ít nhất ông ta vẫn có thể ngồi cùng Shiho uống rượu. Nói không chừng chính ông ta cũng đang uống.
Trên đường về, Kindaichi tình cờ chạm mặt ba người từ trên núi đi xuống. Dẫn đầu là chú tiểu Ryotaku cầm đèn lồng soi đường, theo sau là sư Ryozen và Takezo vừa đi vừa tán gẫu.
"A, cậu Kindaichi, xin lỗi nhé, nghe nói chi chính đã báo cho chi thứ rồi."
"À vâng, họ nói rằng ông chủ đang ốm, không đi được."
"Chà, thôi, không sao."
Đến cổng dinh thự chi chính, họ gặp vợ bé của cụ Kaemon quá cố, bà Katsu, đang quanh quẩn trước cửa.
"Chào bà Katsu. Sao bà cứ đi đi lại lại ở đây thế?"
"Ôi, chào cậu Takezo, cậu có thấy Hanae không?"
"Hanae à? Vừa rồi cô ấy còn ở gần đây mà."
"Thoắt cái đã không thấy nó đâu nữa. Ồ xin chào trụ trì, mừng thầy lại chơi. Mời vào, mời vào."
"Chào bà Katsu, không thấy cô Hanae đâu ư?"
"Không, thưa trụ trì, vừa rồi nó còn quanh quẩn gần đây mà. Mời thầy vào."
Ba người bước vào tiền sảnh, để lại bà Katsu và Takezo bên ngoài. Trong phòng vang lên tiếng radio, Sanae đang nghe bản tin Giải ngũ, ngóng anh trai trở về.
[1] Nhân vật trong Cung đàn báo oán, đã giúp Kindaichi Kosuke mở văn phòng thám tử.
[2] Bài haiku của Matsuo Basho (1644-1694), nhà thơ haiku trứ danh thời Edo, người đưa nghệ thuật thơ haiku lên đỉnh cao.
[3]. Không gian lùi sâu vào so với tường phòng trong nhà Nhật, nơi để bày thư pháp, thư họa, thưởng trà hoặc đặt đồ trang trí.
[4]. Samurai, lãnh chúa thời Sengoku (Chiến Quốc, người đã thống nhất Nhật Bản).
[5] Tokugawa Ieyasu (1543-1616), người sáng lập và là shogun đầu tiên của Mạc phủ Tokugawa. Ở đây dẫn tên để ngụ ý người đàn ông có quyền thế.
[6] Vợ lẽ của Toyotomi Hideyoshi. Ở đây ám chỉ người phụ nữ lộng quyền.
[7]. (1873-1939), là một trong những cây bút tiêu biểu của chủ nghĩa lãng mạn vào giai đoạn chót của văn học thời Meiji. Ông viết trên 300 tác phẩm dài có ngắn có, gồm đủ thể loại từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến kịch. Đặc biệt trên phân nửa số đó liên quan tới những hiện tượng siêu nhiên.
[8]. Mori Ogai (1862-1922) là một bác sĩ, dịch giả, nhà viết tiểu thuyết và nhà thơ Nhật Bản. Người ứng khẩu thành thơ được ông dịch từ tiểu thuyết Improvisatoren của văn hào Đan Mạch H. C. Andersen. Antonio là nhân vật chính trong truyện, cậu yêu Annunziata, một ca sĩ.
[9]. Một câu tục ngữ Nhật Bản, thể hiện thái độ bất lực. Bắt nguồn từ lời cảm thán của thiên hoàng Shirakawa thời Heian, "Chỉ có nước sông Kamo, điểm xúc xắc và tăng binh trên núi Hiei là trẫm không làm gì được."
[10]. Minamoto Yoshinaka là võ tướng anh dũng cuối thời Heian. Basho vô cùng ngưỡng mộ ông, mong sau khi chết được chôn cạnh ông. Hiện nay mộ của hai người nằm cạnh nhau tại một ngôi chùa ở thành phố Otsu, tỉnh Shiga
[11]. Một thể thơ ngắn, ba câu, 17 âm tiết (5-7-5), trong bài luôn có từ tả thiên nhiên và đặc trưng mùa.
[12]. Tấm bảng mỏng bằng kim loại, thường được gõ mỗi khi có việc cần thông báo hoặc triệu tập tăng nhân trong chùa, vì hình dạng giống mây nên gọi là "vân bản (bảng mây)."
[13]. Một tông phái Thiền quan trọng bắt nguồn từ Trung Quốc, được thiền sư Dogen Kigen đưa vào Nhật vào thế kỉ 13 và trở thành môn phái Thiền quan trọng đến tận ngày nay.