Dẫu sư thầy luôn thích trích dẫn haiku, nhưng giữa tình cảnh này đọc ra câu thơ như vậy, nghe chừng không thỏa đáng.
Bi thương làm sao
Dưới chiếc mũ trụ
Xào xạc ý thu.
Bài haiku này rõ ràng là một ví dụ sát thực, nhưng không thể phủ nhận, vì quá sát thực nên khi nghe nhà sư đọc lên, mọi người thấy cực kì phản cảm.
Lẽ nào ông ta chỉ coi án mạng thảm khốc này như một trò đùa, nên mới vô tình để lộ thói quen kì quái hằng ngày? Nghĩ đi nghĩ lại mãi, Kindaichi vẫn không sao xua tan nổi cảm giác khó chịu. Dù trong tình cảnh nào, tử vong cũng là một chuyện nghiêm túc. Lấy một chủ đề nghiêm túc như vậy ra đùa cợt không thể coi là sở thích lành mạnh được, nên cảm giác khó chịu trong lòng anh càng lúc càng bùng phát thành giận dữ và ghê tởm.
Thấy mọi người đổ dồn mắt vào mình, nhà sư sực nhận ra đã lỡ lời, bèn giơ bàn tay to bè lên xoa mặt, làm bộ nghiêm trang lẩm nhẩm, “Nam mô A Di Đà Phật, nam mô A Di Đà Phật…”
Kindaichi mãi mới lấy lại được bình tĩnh, quay sang bảo Shimizu, “Nếu Yukie ở bên dưới thì phải mau bẫy quả chuông lên…”
“Không được…” Shimizu gục đầu ủ rũ, chẳng còn sức nói chuyện nữa. “Vừa, vừa rồi tôi đã dặn mấy cậu thanh niên trong làng chuẩn bị sẵn sàng rồi. Takezo, vẫn chưa xong à?”
“Tôi nghĩ chắc là sắp.” Nãy giờ Takezo vẫn giơ tay che nắng, phóng mắt nhìn xuống dưới núi.
“Anh định nâng chuông lên thế nào đây?”
“Chỉ có một cách là bắt giá gỗ xung quanh rồi dùng ròng rọc kéo lên thôi.”
Làng chài thường xuyên có vật nặng cần kéo lên cao, vì vậy các công cụ đều đầy đủ cả.
“Ra vậy…” Kindaichi hơi nghiêng đầu đi một vòng xung quanh quan sát kĩ. Quả chuông như dán chặt xuống nền đất.
Shimizu cũng theo sau anh, vừa đi vừa hỏi, “Làm sao hung thủ nâng được cái chuông nặng như thế lên nhỉ? Không biết bắt giá gỗ rồi dùng ròng rọc kéo được. Vả lại cũng chẳng có nhiều thời gian đến thế…”
Đi hết một vòng, Kindaichi mới lên tiếng, "Khoan đã. Phiền các vị lùi lại một chút. Đúng, đúng rồi, dừng lại ở đó thôi, đừng bước lên nữa.” Hệt người chạy việc của một gánh xiếc rong, sau khi yêu cầu mọi người lùi lại, Kindaichi kiểm tra xung quanh lần nữa, cuối cùng gãi đầu sồn sột như sực vỡ lẽ.
“Chà, vừa rồi anh hỏi quả chuông nặng như vậy làm sao nâng lên được phải không. Đây là vấn đề về cơ học. Cơ học của quả chuông… Anh Shimizu xem kìa, cạnh mép chuông có kẻ đào một cái hố, đúng chưa? Còn nữa, đằng kia hẳn là bệ pho tượng Phật nào đó như Địa Tạng Vương Bồ Tát, cách cái hố khoảng một thước, không, phải một thước rưỡi, ngay cạnh quả chuông…” Kindaichi lại trỏ phía bên kia bê Phật, “Anh xem, vách núi đằng ấy có một gốc tùng to. Cây tùng, bệ Phật và cái hố dưới quả chuông gần như tạo thành một đường thẳng, hơn nữa cây tùng lại có một cành to đâm ra vừa tầm, còn vươn dài xuống dưới nữa chứ. Vậy là có thể vận dụng nguyên tắc đòn bẩy bẩy mép chuông lên.”
Shimizu nghe như vịt nghe sấm, nhưng vẫn gật đầu lia lịa phụ họa.
Đúng như lời Kindaichi, nền đất ở mép chuông có một cái hố đường kính chừng năm thước, một bệ đá, trước đây từng đặt tượng Địa Tạng vương Bồ Tát, nhưng chẳng biết pho tượng đã thất lạc từ khi nào, hiện giờ chỉ còn lại bệ. Bệ đá đã cũ kĩ, mòn vẹt cả đi, nhưng vẫn lờ mờ thấy được hình hoa sen khắc chìm. Hố đất dưới chuông và bệ đá nối thành một đường thẳng, kéo dài ra sẽ chạm đến gốc tùng to bên kia vách núi. Cành tùng đâm ngang ra cũng đã to, vươn dài xuống dưới, tới chỗ chỉ còn cách vách núi chừng hai ba thước, từ bờ biển nhìn vào vẫn thấy rõ mồn một.
“Sao nữa?” Shimizu giục Kindaichi nói tiếp.
“Cũng có nghĩa là,” Kindaichi đi từ bệ đá chỗ gốc tùng, ước lượng, “gấp năm, áng chừng phải gấp năm lần. Khoảng cách từ hố đến bệ đá bằng 1/5 từ bệ đá đến gốc tùng. Gọi trọng lượng chuông là Q, lực cần để nâng chuông lên là P, áp dụng nguyên tắc đòn bẩy, ta có phương trình P= Q/5. Có nghĩa là tỷ lệ nghịch với khoảng cách từ hố đến bệ đá và từ bệ đá đến gốc tùng. Sư thầy có biết quả chuông này nặng bao nhiêu không?”
“Ừm,” gương mặt phì phị của nhà sư hơi nhăn lại, khẽ nghiêng đầu, “hồi trước trưng thu cũng đã cân chuông. Ryotaku, con có nhớ khoảng bao nhiêu không?”
“Bạch thầy, bấy giờ con không có mặt ở chùa.”
Trong chiến tranh, chú tiểu cũng bị gọi nhập ngũ, làm việc tại xưởng quân nhu Mizushima.
“Tôi nhớ là khoảng bốn mươi lăm quan[1],” trưởng làng Araki xen vào, nhưng chỉ nói đúng một câu lại mím chặt môi, khóe miệng trễ xuống như cũ. Bác sĩ Murase một cánh tay vị treo lủng lẳng, mặt dài thượt đứng cạnh trưởng làng.
“Bốn mươi lăm quan ư? Hóa ra nhẹ thế à? Vậy chỉ cần nâng được một phần năm số đó, tức chín quan, là đủ nhấc chuông lên rồi. Nếu có một cây gậy chắc chắn, tôi có thể biểu diễn cho mọi người xem luôn,,,”
“Anh xem cái này được không?” Takezo nhặt một cây gậy gỗ cao su vừa to vừa dài dưới chân lên.
Kindaichi ngạc nhiên nhìn Takezo rồi giật lấy cây gậy ngắm nghía, hối hả gặng, “Gậy này ban đầu ở đâu thế?”
“Ừm, bị ném trong bụi cỏ đằng kia… Vốn là cắm bên bến tàu để thuyền cập bờ neo vào, chẳng biết kẻ nào đem tới đây, nên tôi mới nhặt lên.”
“Cắm bên bến tàu ư…? Nghĩa là ai cũng có thể lấy à? Vậy mà nó lại bị vứt trong bụi cỏ đằng kia…” Đoạn anh quay sang Shimizu, “Với hung thủ, lực bẩy chuông không phải vấn đề, dù không biết cách bẩy lên, hắn cũng không thấy vướng tay, nên mới tiện thể vứt cây gậy ở gần hiện trường.”
“Nói vậy là hung thủ dùng chính cây gậy này ư?”
“Đúng thế, anh xem, đầu này có một vết nứt, đây là do mép chuông tì vào. Còn nữa, vết nứt bên này là do tì vào bệ đá. Nói suông thì không có bằng chứng, chúng ta kiểm nghiệm một chút nhé.”
Mưòi mấy người quây lại thành hình vòng cung trên vách núi. Thầy trò nhà sư, trưởng làng Araki và bác sĩ Murase, cạnh Takezo là Sanae và bà Katsu, đến giờ trông bà ta có vẻ vẫn chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao, xa xa còn có phu nhân Shiho, ông Gihee và Ukai. Nắng chói chang rọi xuống, gió biển hây hẩy phớt qua mặt mọi người. Dù vậy ánh mắt tất cả vẫn thẩn thờ, ngay cả phu nhân Shiho xưa nay luôn thanh tao kiêu hãnh cũng kinh hoàng ra mặt, cứ vuốt mãi chiếc kimono trên người. Kindaichi cũng vô cùng hồi hộp. Vừa cắm cây gậy vào bên dưới quả chuông, đầu gậy còn hơi rung rinh, anh bèn gác ngay đầu kia vào bệ đá bên phải, để cây gậy nằm hơi ghếch lên.
Anh nhình quanh, hỏi, “Ai ra giúp tôi đè đầu gậy xuống được không? Anh Takezo, anh lên thử đi.”
Takezo thoáng do dự, nhưng vẫn đánh bạo bước lên, “Đè đầu này xuống à?”
“Đúng rồi, đè hẳn đầu gậy xuống, dùng sức là được mà, anh nhớ đu cả người lên nhé.”
Takezo nhổ nước bọt vào hai tay, nắm lấy đầu gậy, đu người lên. Thế là lấy bệ đá làm điểm tựa, đầu gậy từ từ hạ xuống, đồng thời quả chuông cũng hơi nghiêng đi, chỗ cây gậy cắm vào bị bẩy lên một, hai tấc.
Chẳng biết bắt đầu từ ai, tiếng trầm trồ bắt đầu rộ lên, Kindaichi vội đưa hai tay chắn trước chuông.
“Mọi người đừng lại gần vội. Anh Takezo, thêm chút nữa. Một chút nữa thôi… đúng rồi, đúng là thế đấy!”
Takezo mặt đỏ gay, vận hết sức đè đầu gậy xuống, gân xanh nổi gồ lên như giun đất, mồ hôi đầm đìa. Y tuy nhỏ con nhưng trui rèn nhiều năm qua thủy triều, cơ bắp vạm vỡ gồng cứng, cuối cùng cũng đè được đầu gậy xuống.
“Đúng đúng, thế là được rồi. Anh thấy cành tùng phía sau không. Phiền anh cài đầu gậy xuống phía dưới cành cây, chú ý đừng để nó bật trở lại đấy. Phải phải, được rồi. Anh buông tay ra đi.”
Takezo y lời cài đầu gậy vào bên dưới cành tùng, điều hòa hơi thở rồi buông tay ra. Cành tùng run bần bật hai ba lượt, nhưng không gãy, cứ thế đè nghiến đầu gậy xuống.
Nguyên tắt đòn bẩy thật kì diệu, quả chuông giờ đã nghiêng đi chừng hai mươi độ. Mép chuông bị bẩy lên khoảng một thước bảy, tám tấc, chông chênh song vẫn giữ được thăng bằng. Mọi người lại ồ lên thán phục, lần này còn to hơn lần trước. Cũng dễ hiểu, bởi khi chuông vừa được bẩy lên, bên dưới liền lộ ra vạt áo kimono yuzen[2] lộng lẫy, từ chỗ mọi người chỉ thấy được từ đầu gối trở xuống, nhưng như vậy đã đủ lắm rồi, bởi Yukie đang ngồi ngay ngắn trong lòng chuông.
“Ha ha ha ha!” Phu nhân Shiho chợt phá lên cười khanh khách. Tất cả kinh ngạc quay sang, thấy cô ta vừa cười vừa nói, “Thật không ngờ, hóa ra lại là Truyền thuyết chùa Dojo[3], chẳng qua đảo ngược lại thôi. Ukai à, lẽ ra anh phải ở trong lòng chuông đấy nhé, bởi Anchin mới là người trốn trong chuông mà… Sao…” Phu nhân Shiho sực vỡ lẽ, lại tiếp, “A, phải rồi, nghe nói mẹ Yukie là diễn viên kịch kabuki, phân đoạn sở trường chính là ‘trốn vào chuông’ trong vở Truyền thuyết chùa Dojo… Về sau lọt mắt xanh ông Yosamatsu nên được đem về làm nàng hầu, rồi đôn lên thành vợ kế. Đây chẳng phải đời cha ăn mặn đời con khát nước à? Chưa hết…”
“Shiho, câm đi!” Ông Gihee quát nhưng phu nhân Shiho vẫn lải nhải, “Ông định cứ im lặng đứng ngoài mãi thế à? Tóm lại là vì sao? Nếu muốn giết Yukie thì cứ chén phắt một dao cho xong, cần gì phải mô phỏng theo tình tiết trong Truyền thuyết chùa Dojo như thế? Ông Yosamatsu điên dại đến đâu chăng nữa cũng không nên… dọa người ta như thế! Các người điên cả rồi! Đúng vậy, các người đều điên rồi!”
“Shiho, còn chưa chịu câm à!” Ông Gihee lại quát vợ rồi tạ lỗi, “xin lỗi các ông bà. Shiho nhà tôi lại lên cơn điên rồi, đây là bệnh cũ của bà ấy, ngoài miệng nói oang oang như thế nhưng trong lòng lại hoảng sợ, từ đầu đã run bần bật, đến giờ không nén nổi mới phát bệnh. Shiho, về nhà thôi!”
“Không, không, em vẫn muốn xem tiếp. Em phải nhìn cho kĩ nét mặt Yukie lúc chết!”
Phu nhân Shiho quả là đang phát bệnh, cặp mắt trợn ngược lên trông vô cùng đáng sợ. Cô ta làm nũng như một bé gái, giằng tay chồng ra, giậm chân bình bịch, chẳng khác gì trẻ con ăn vạ. Kindaichi mới chỉ thấy cô ta ra bộ thanh tao, giờ chứng kiến cảnh này, đúng là quái dị không sao tả xiết. Dường như nó phản ánh một sự thật bẩn thỉu và bệnh hoạn, rằng dân đảo đều là những kẻ thần kinh không bình thường… Kindaichi bất giác nhớ tới lời Shimizu.
“Shiho! Còn ra thể thống gì nữa! Ukai, cậu giữ chặt tay bà ấy giúp tôi. Anh Shimizu, nếu có việc gì cứ đến tìm tôi, Gihee tôi luôn sẵn sàng. Ukai, giữ chặt tay bà ấy, sống thế này có khác gì heo chờ mổ thịt đâu, chẳng ra gì cả!”
“Khốn kiếp, khốn kiếp, tôi… Đồ ngu Ukai kia! Bỏ tôi ra! Ông… Ông…”
Phu nhân Shiho giận dữ giậm chân bình bịch, kéo lệch cả vạt kimono, rũ tóc ra, trông rõ là một người điên. Ông Gihee và Ukai chia nhau tóm chặt hai tay cô ta, kéo xuống núi.
“Khốn kiếp, khốn kiếp, tôi… Đồ ngu Ukai kia! Bỏ tôi ra! Ông… Ông…” Tiếng phu nhân Shiho xa dần rồi bặt hẳn. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, đưa mắt nhìn nhau.
“Ừm hừm!” Sư thầy mím môi cười không ra tiếng, rồi nói như muốn ọe, “Đúng là tiết mục góp vui bất ngờ, ông Gihee chắc cũng bó tay với phu nhân.”
“Thôi quay lại với chuyện chính,” Shimizu hắng giọng quay sang Kindaichi. “Nghĩa là hung thủ đã dùng cách này bẩy chuông lên, rồi đưa thi thể cô Yukie qua khe hở vào trong?”
“Hở? À, đúng, đúng…” Đang ngẩn ra suy ngẫm, Kindaichi lật đật đáp. Anh còn mãi nghĩ đến câu phu nhân Shiho buột miệng nói khi nãy.
Mẹ Yukie là diễn viên, phân đoạn sở trường là “trốn vào chuông” trong vở Truyền thuyết chùa Dojo, sau đó lọt mắt xanh ông Yosamatsu nên được lấy về làm nàng hầu, rồi được đôn lên làm vợ kế… Đây là lần đầu tiên Kindaichi nghe tới việc này, anh chưa từng nghĩ đến việc dò hỏi về mẹ cùa ba chị em gái chi chính, bởi vừa nghe nói bà ta đã chết từ lâu, anh liền cho rằng người này không liên quan gì nữa. Nhưng giờ thì khó mà kết luận như thế được. Chỉ hiềm đành tạm gác lại để suy xét sau, hiện giờ đang lúc cấp bách, phải phân tâm nhiều việc, chưa tiện phân tích.
“Vâng đúng. Gài cây gậy vào cành tùng kia thì chẳng cần người giúp cũng bẩy được chuông lên, vì vậy hung thủ chỉ có một người... Không cần tòng phạm vẫn thực hiện được.”
Mọi người im phăng phắc, nhìn vạt áo kimono yuzen hoa lệ lộ ra dưới mép chuông. Ánh nắng chói chang rọi xuồng, gió biển hây hẩy phớt qua mặt mọi người. Dù vậy, tình cảnh thảm khốc như địa ngục trước mắt vẫn khiến người ta sởn tóc gáy.
“Yukie… Yukie bị… bị nhét sống vào chuông phải không?” Người lên tiếng là Sanae, xem ra cô còn cứng cỏi hơn phu nhân Shiho. Hẳn là cô vô cùng đau đớn, nhưng cô không hề suy sụp đến phát cuồng như cô ta. Có chăng trên đôi má tái ngắt của cô, lông tơ vẫn dựng đứng lên vì lạnh, trông nhợt nhạt như xác chết.
“Cô yên tâm,” Kindaichi xót xa nhìn Sanae, “cô Yukie không bị chết ngạt trong chuông đâu, trên cổ cô ấy có vết dây siết…”
“Tại sao hung thủ phải nhét thi thể Yukie vào lòng chuông?” Takezo hỏi, “Giết cũng giết rồi, sao không bỏ đấy cho xong mà phải bày ra tình trạng thảm khốc này?”
Kindaichi không biết trả lời thế nào, bóng đen thắc mắc cũng đang lạnh lùng chụp xuống đầu anh, anh chỉ còn cách lắc đầu, nói bằng giọng đều đều cứng nhắc, “Vì sao hung thủ phải treo Hanae lên cây và nhét Yukie vào lòng chuông, đến giờ tôi chưa phán đoán được. Nếu hung thủ không phải kẻ điên thì nhất định còn có ý khác, chỉ cần lý giải được mục đích của hắn, ta sẽ vén được bức màn che phủ vụ án. Nhưng đến giờ tôi cũng không lý giải đươc, tôi cũng nghĩ hung thủ là một kẻ điên.”
Nói đoạn anh lại gãi đầu, thở hắt ra.
Lúc này, một đám thanh niên khiêng gỗ, ròng rọc và dây đến.
Bắt giá xong, cả đám dùng ròng rọc kéo chuông lên, khiêng thi thể Yukie ra để bác sĩ Murase khám nghiệm. Ông ta kết luận, Yukie bị siết cổ chết vào khoảng 6 đến 7 giờ tối qua, hung khí là khăn mặt hoặc một thứ tương tự.
Takezo và đám thanh niên nhanh chóng khiêng thi thể đến nhà chi chính. Thầy trò nhà sư, trưởng làng Araki và bác sĩ Murase cũng đi cùng. Xong xuôi đám thanh niên giải tán, chỉ còn lại hai người, Kindaichi và Shimizu.
“Hôm qua tôi quả là không phải với cậu, song có lẽ cậu cũng không phải người bình thường, mà là phù thủy cải trang. Nhưng… nhưng rõ ràng tôi đã nhốt cậu lại, giắt chìa khóa bên người nên dám chắc cậu không liên quan tới vụ án. Có điều tôi vẫn không tin cậu được, tôi bị cậu xoay mòng mòng rồi. Nói thế nào nhỉ? Một phần là vì vụ án này quá quái dị, nhưng một phần cũng vì thân thế cậu không rõ ràng. Cậu là người ở đâu? Tại sao lại biết cả nguyên tắc đòn bẩy? Cậu chỉ phẩy tay là tái hiện được quá trình gây án ngay trước mặt chúng tôi. Làm sao cậu biết? Kindaichi, cậu là kẻ chủ mưu à? Hay là đồng phạm? Phiền cậu giải thích rõ ràng, giải thích tại sao cậu tuyệt đối không phải hung thủ, cậu không hề liên quan tới vụ án này đi… Như vậy tôi mới tin được cậu, và mới yên tâm.”
Shimizu ngồi bên vách núi, cắm cúi cắn móng tay. Anh ta đã thức trắng hai đêm, hốc hác hẳn đi, lại băn khoăn mãi lai lịch bí ẩn của Kindaichi nên cứ canh cánh không yên. Kindai chỉ khẽ đặt tay lên vai Shimizu gọi nhỏ, “Anh…” Shimizu ngơ ngác mở mắt ra.
“Nhìn vào mắt tôi đi.”
Shimizu nhìn vào mắt Kindaichi.
“Sau đó phiền anh nhìn qua quả chuông.”
Shimizu lại nhìn sang quả chuông đang được ròng rọc kéo lơ lửng trên cao. Quả chuông sẽ được giữ nguyên trạng chờ sở cảnh sát phái người tới.
Vách núi bắt giàn giáo, phía trên còn lủng lẳng một quả chuông, lại thêm hung thủ vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, khiến Shimizu cảm thấy vô cùng quái dị, bất giác run bắn lên.
“Tôi xin thề với quả chuông, tôi không liên quan gì tới vụ án của Hanae và Yukie. Anh nhìn vào mắt tôi xem, tôi có giống như đang dối trá không.”
Shimizu lặng thinh một hồi, nhìn trừng trừng vào mắt Kindaichi, cuối cùng thở hắt ra, “Tôi tin, trong mắt anh không giống nói dối. Có điều… Có điều… Cậu là ai? Tôi nghĩ mãi không hiểu vì sao cậu lại đến cái xứ chó ăn đá gà ăn sỏi này? Tại sao phải đến hòn đảo vừa hẻo lánh vừa rùng rợn này chứ… A ha!”
Shimizu thình lình đứng phắt dậy, chạy vè phía vách núi, khum tay che mắt nhìn ra bờ biển. Từ bóng mờ của đảo Manabe, một chiếc cano vừa nhả khói phè phè vừa rẽ mặt biển phẳng lặng tiến về phía này. Đó không phải tàu Bạch Long chở khách bình thường.
Nhác thấy nó, mặt Shimizu tươi hẳn lên, hàm răng trắng bóng lộ ra sau bộ râu xồm xoàm, anh ta tươi cười quay sang Kindaichi, còn ranh mãnh chớp mắt, “Cậu biết kia là gì không? Cano của cảnh sát biển đấy, Isokawa có lẽ cũng ở trên đó. Cậu xem, họ tới bắt cậu đấy. Cậu không sợ à? Mau chạy đi chứ! Không, cậu có muốn chạy cũng chẳng thoát nổi đâu. Nếu cậu từng phạm pháp, thì hôm nay là ngày tra tay vào còng rồi. Ha ha ha!”
Shimizu ngoác miệng cười sảng khoái.
Cano cảnh sát dừng bên bờ, xuồng từ bến tàu tức thì lao ra đón. Dân đảo lác đác tụ tập quanh bến tàu. Shimizu và Kindaichi cũng hối hả chạy xuống. Đứng đợi xuồng, Shimizu bồn chồn ra mặt, bởi biểu hiện của Kindaichi có vẻ quá bình thản.
“Kindaichi…” Shimizu xoa hàm râu quai nón, bất an liếc Kindaichi, “Cậu có quan hệ thế nào với Isokawa vậy? Cậu không sợ anh ta à?”
“Ừm, tôi nghĩ là chẳng có quan hệ gì, nhưng hôm nay ông ta sẽ đến thật chứ?”
“Tôi nghĩ vậy, có điều lúc tôi gọi điện, nghe nói ông ấy còn đang ở Kasaoka. Ồ, chẳng phải kia sao?”
Mấy cảnh sát từ cano đi xuống rồi lần lượt lên xuồng, người thứ ba trong bọn hình như là chỉ huy Isokawa.
“Hở, phải rồi. Đúng là Isokawa, ông ta già sọm đi nhỉ.” Kindaichi cảm khái lẩm bẩm.
Chỉ huy Isokawa và Kindaichi phối hợp phá án ở một vùng quê tỉnh Okayama vào mùa thu năm 1937, đến giờ đã chín năm. Đáng lẽ ông ta đã được thăng chức, nhưng lại bị gọi nhập ngũ, đến giờ vẫn dừng ở vị trí chỉ huy còm. May thay sau khi được điều đến ban hình sự cảnh sát tỉnh, kinh nghiệm của ông ta rất được trân trọng. Sở dĩ ông ta ghé đảo Ngục Môn là do lệnh điều chuyển đến Kasaoka bắt cướp biển.
“Anh Shimizu, sao họ lại lăm lăm vũ khí thế? Chẳng lẽ hễ xảy ra chuyện, họ sẽ vũ trang nai nịt như thế ư?”
“Tôi cũng thấy lạ, họ đến đông quá, hay là để bắt cậu…”
“Ha ha ha, nếu muốn bắt tôi thì chỉ mình anh là dư sức rồi. Tôi sao đọ nổi anh.”
“Thế ư?”
Thấy các cảnh sát trên xuồng ai nấy đều đội nón, thắt xà cạp, vũ trang tận răng, Shimizu và Kindaichi cau mày nghi hoặc. Không lâu sau chiếc xuồng tách khỏi cano, rì rì chạy về phía bờ. Trông thấy Kindaichi, chỉ huy Isokawa mỉm cười, để lộ hàm răng trắng trên gương mặt ngăm đen, vẫy tay chào anh.
Shimizu kinh ngạc quay sang hỏi, “Chỉ huy vừa vẫy tay với cậu đấy à?”
Thấy Shimizu bàng hoàng vì tình thân Isokawa dành cho mình, Kindaichi cười nói, “A ha, không sao, không sao mà, ai chẳng có lúc hiểu lầm chứ. Có điều việc tối qua… việc anh nhốt tôi lại tối qua ấy, tốt nhất đừng cho Isokawa biết thì hơn.”
Đoạn anh vỗ nhẹ vai Shimizu, rẽ đám đông đi ra cầu tàu, xuồng vừa cập bờ, Isokawa là người đầu tiên nhảy lên.
“Ê!”
“Hê! Khỏe chứ?”
“Cảm ơn, anh vẫn khỏe. Chú mày vẫn thế, không khác gì nhỉ?”
“Đâu có. Từ đó đến nay thằng em vất vả lắm. Ông anh già hẳn đi đấy.”
“Ừ, trước đây không có tóc bạc.”
“Nhưng lại béo ra đấy, chắc là thăng chức rồi.”
“Ha ha, lương lậu may mà cũng khá. Nhưng mười năm nay anh mày vẫn giậm chân tại chỗ, trong khi đám cùng thời đều leo đến tư lệnh rồi.”
“Thôi thôi, chẳng phải đều tại chiến tranh ư, có nói mãi cũng chẳng ích gì.”
“Ha ha, anh đúng là sống hoài sống phí, vừa gặp mặt đã nói mấy lời nhảm nhí, xấu hổ thật. Phải rồi, Shimizu à…”
Shimizu kinh hãi hết nhìn người này lại nhìn người kia, nghe Isokawa gọi mới bừng tỉnh, run bắn lên. Anh ta căng thẳng nuốt nước bọt rồi cao giọng đáp kiểu quân nhân, “Có!”
“Làm ăn thế nào mà liên tục để hai cô gái bị giết vậy?”
Shimizu ngập ngừng, ấp úng mãi không trả lời nổi. Dù sao Shimizu cũng là người thành thật, thấy mình đã trách lầm Kindaichi, bèn áy náy không thôi. Kindaichi đành dàn hòa, “Để lát nữa nói sau nhé? À, sao bọn họ vũ trang đầy người vậy?”
Trừ Isokawa còn có sáu cảnh sát, ai nấy đều giắt súng bên hông, trông cực kì đáng sợ. Ngoài ra lại có một người mặc Âu phục, hẳn là pháp y.
“À, bọn họ… Nói thật nhé, anh cũng có vụ án phải xử lý. Dù Shimizu không gọi điện báo, bọn anh cũng phải tới đây một chuyến, chưa chừng hai án mạng này cũng do tên đó gây ra đấy.”
“Tên đó ư?” Kindaichi ngạc nhiên nhìn Isokawa.
“Cướp biển ấy mà. Chắc Shimizu kể với chú mày rồi nhỉ? Hôm trước bọn anh truy bắt cướp biển gần đây, nào ngờ chúng thừa cơ trốn mất. Nhưng hôm qua tóm được một tên trong bọn họ ở Uno, hắn khai rằng một đồng đảng thấy tình hình không ổn đã nhảy xuống biển bỏ trốn. Từ vị trí hắn nhảy xuống, bọn anh đoán có lẽ hắn đã bơi đến đảo Manabe hoặc đảo Ngục Môn rồi, cậu có tin gì không?”
Kindaichi ngẩn ra, thấy lòng quặn lên vì bồn chồn bất an, nghe Isokawa kể, anh sực nhớ tới tên trộm tham ăn đã đột nhập vào nhà bếp chùa Senko, xơi sạch phần cơm cho ba người.
“Kindaichi, chú mày nghĩ ra chuyện gì rồi ư? ” Isokawa gặng hỏi.
“Đúng rồi cậu Kindaichi ơi, tên trộm tham ăn…” Xem ra Shimizu đã định thần lại.
“Phải phải, xin, xin các anh trật tự cho một lát, tôi, tôi, tôi, hóa ra từ đầu đến giờ tôi đoán sai rồi. Nếu là vậy…” Kindaichi nghiên răng nghiêm mặt lại, gãi đầu ngẫm nghĩ.
Hóa ra… Hóa ra là vậy! Nếu vậy thì tất cả đều hợp lý! Tên đó thoạt tiên lẻn vào dinh thự chi chính, sau đó đến phòng giam, dùng sào tre lấy hộp thuốc như Sanae làm hôm qua. Với kẻ nghiện thuốc cũng như đói cơm, bứt rứt không chịu nổi. Tiếp đó hắn chạy đến chùa Senko, vừa quan sát dưới núi vừa hút một mạch năm, sáu điếu cho đỡ ghiền. Xong xuôi mới chui xuống bếp chén sạch thùng cơm.
Song tới đây, suy luận của Kindaichi lại gặp vướng mắc. Chỉ thế thôi thì kẻ này có lên quan gì đến án mạng? Lẽ nào trong lúc đến chùa, bắt gặp Hanae ở đó, hắn đột nhiên nổi hứng giết cô? Không đúng, thời gian không khớp. Như anh suy đoán, khi sư thầy trở về chùa, không, không chỉ sư thầy, còn cả chú tiểu, Takezo và anh nữa, khi mọi người về đến chùa, tên trộm vẫn còn chưa đi mới phải. Qua hành động của sư thầy tối hôm đó, Kindaichi đã suy luận như vậy, và thời gian Hanae bị giết sẽ phải sớm hơn. Dù tên trộm táo tợn tới đâu chăng nữa, sau khi gây ra tội ác tàn khốc như vậy, cũng không lý nào lân la nấn ná ở lại hiện trường. Hẳn hắn đã lẻn vào chùa từ trước rồi. Nếu thế thì hành động của trụ trì tối hôm đó chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả, và suy đoán hắn còn ở trong chùa tới tận lúc họ về là suy đoán nhầm lẫn. Đúng đúng, giả sử hắn là hung thủ, sư thầy lại chẳng có quan hệ gì với hắn, dĩ nhiên sẽ không bao che.
Có điều… có điều… sư thầy nhất định biết ít nhiều nội tình, bởi bấy giờ ông ta cứ lẩm bẩm nói, “Tuy là người điên, nhưng cũng chẳng biết làm sao được…” Còn nữa, hành động của sư thầy… Chết tiệt! Chết tiệt! Đầu đuôi mọi chuyện càng lúc càng rối loạn, dù tên đột nhập có phải hung thủ hay không, thì hắn lẻn vào chùa từ khi nào nhỉ? Nếu biết được thời điểm này, nhất định sẽ tính ra thời điểm hắn luồn vào dinh thự chi chính… Nắm được hai mốc này thì dễ rồi.
Vậy hắn vào dinh thự chi chính khi nào nhỉ…?
Nghĩ tới đây, Kindaichi bất giác hít sâu một hơi. Trong đêm canh linh cữu Chima, mọi người phát hiện Hanae mất tích, bà Katsu và Sanae tìm lại một lượt trong nhà, tiếp đó xảy ra một việc đáng ngờ, trong nhà vang lên tiếng hét kinh hoàng, là tiếng của Sanae, nhưng ngay sau đó người điên gào lên nên mọi người cứ ngỡ là bệnh nhân lại lên cơn, không ai nghi ngờ nữa. Giờ nghĩ lại, Kindaichi mới lấy làm lạ. Kẻ điên kia luôn ngoan ngoãn nghe lời Sanae, dù kích động đến đâu chăng nữa, hễ nghe giọng Sanae, ông ta sẽ bình tĩnh lại ngay. Bởi vậy cô ấy không cần phải la thất thanh như thế, vậy mà cô ấy vẫn hét toáng lên, không chỉ hét, khi quay lại phòng khách, mặt cô còn trắng nhợt, cắt không ra giọt máu, cặp mắt to tròn trợn trừng vì quá kinh hãi. Sanae đã trông thấy cái gì? Một kẻ lạ mặt cạnh phòng giam? Đúng lúc hắn thò tay qua chấn song lấy cắp thuốc?
Nếu thế tại sao cô ta không kêu cứu? Sao lại để hắn trốn thoát? Không chỉ có vậy, khi quay lại phòng khách, cô ta cũng chẳng đá động đến nửa chữ. Tại sao nhỉ? Còn chống chế nói là bị ông bác làm giật mình nên mới thét lên.
Còn một điểm đáng ngờ nữa, là những dấu giày. Bên dưới hành lang chỉ tìm thấy một dấu chân có vết hình dơi, những nơi ẩm thấp hoặc thiếu ánh sáng khác đáng lẽ phải có thì đều không thấy. Lẽ nào có kẻ đã cố tình lau sạch dấu chân, song lại vô tình bỏ sót phía dưới hành lang?
Đó là Sanae ư? Nói cách khác, Sanae biết tên đàn ông đột nhập? Hắn là ai?
“Ông anh này,” Kindaichi thình lình quay sang Isokawa, “tên đó, tên nhảy xuống biển trốn ấy. Ông anh có biết hắn là người thế nào không?
“Chậc… đáng tiếc là không. Ngay tên bị bắt ở Uno cũng không rõ lắm, có lẽ gần đây kẻ kia mới nhập bọn. Nghe nói hắn tên là Yamada Taro, cũng chẳng biết có phải tên thật không nữa, khoảng ba mươi tuổi, là một kẻ cứng đầu, da đen cháy, có thể mới từ Indonesia giải ngũ trở về. Dĩ nhiên hắn mặc quân phục, đi giày lính, có súng, còn có nhiều đạn. Lúc nhảy xuống biển, sợ nước vào, hắn còn nhét cả súng lẫn đạn vào túi da đội lên đầu. Hừm, đúng là một kẻ khó xơi. Sao vậy? Cậu nghi ngờ hắn đã lên đảo à?”
“Vâng, hơn nữa mọi chứng cứ đều thể hiện tên này nhất định có liên quan mật thiết đến vụ án. Phải rồi, anh Shimizu, nếu hắn lên bờ thì sẽ lên từ chỗ nào?”
“Ừm… tôi nghĩ có lẽ là từ núi Suribachi. Chính là ngọn núi đối diện với chùa Senko, bên trên còn có sào huyệt cướp biển ngày xưa để lại. Trong thời chiến, trên đó có đặt trạm giám sát phòng không và trận địa cao xạ pháo, đào nhiều hang hốc thông nhau như mê cung, là nơi tuyệt vời để lẩn trốn. A phải,” Shimizu làm bộ làm tịch hắng giọng rồi tiếp, “nghe chỉ huy Isokawa kể, tôi mới sực nhớ ra một chuyện, hôm qua trên đảo có người đã bắt gặp tên đó. Trước đây tôi vốn không tin, nhưng giờ nghĩ lại, nhất định là hắn.”
“Ai, ai? Ai đã gặp hắn?” Kindaichi ngạc nhiên nhìn Shimizu.
“Bác sĩ Murase. Không chỉ gặp, ông ta còn đánh nhau với hắn.”
“A! Thế ra… Tôi hiểu rồi, thế nên tay ông ta mới bị thương phải băng bó buộc lên cổ.”
“Đúng vậy, trong lúc quần nhau, ông ấy bị đẩy xuống vách núi, ngã gãy tay trái. Tôi cứ ngỡ là ông ta say khướt, tự ngã từ vách núi xuống, xấu hổ nên mới bịa ra chuyện đó để lừa mọi người. Hóa ra tên hung đồ ấy đã lên đảo thật…”
Lúc này cả nhóm đã đến văn phòng cảnh sát. Định thần lại mới nhận ra, phía sau họ còn một đám đông dân đảo, xếp hàng dài như đi viếng tang.
Kindaichi hỏi Isokawa, “Giờ ông anh có muốn đi kiểm tra thi thể ngay không? Em nghĩ trước khi đi, nên nghe anh Shimizu thuật lại đầu đuôi mọi chuyện tối qua đã.”
“Ừm, thế à,” Isokawa nghiêng đầu. “Không, anh cũng muốn nghe Shimizu kể đã. Nhưng thi thể để ở đâu vậy?”
“Cho người nhà đưa về rồi. Xem kìa, trên vách núi đằng kia có một ngôi nhà nguy nga như lâu đài, đó là dinh thự của chi chính Kito.”
“À ra vậy. Này,” Isokawa gọi một cảnh sát lại, “cậu dẫn bác sĩ pháp y qua bên kia kiểm tra trước đi. Phiền bác sĩ nhé.”
Pháp y cùng viên cảnh sát kia chuyển hướng sang con dốc dẫn tới chi chính. Đưa mắt nhìn theo họ một hồi, rồi mọi người hối hả bước vào phòng cảnh sát. Hóa ra người ở đâu cũng thích hóng hớt, quanh phòng cảnh sát hiện giờ đông nghịt già trẻ gái trai, chật như nêm.
Đã đến giờ cơm trưa, các cảnh sát bắt đầu lấy hộp cơm ra ăn, còn Kindaichi được Shimizu mời cơm nhà. Dựa vào trực giác phụ nữ, Otane nhận ra ngay chồng mình đã phạm sai lầm, bèn vồn vã gắp thức ăn cho Kindaichi. Anh thấy tức cười, nhưng nghĩ kĩ lại thì từ sáng mình chưa được miếng gì vào bụng nên cũng chẳng khách sáo nữa.
“Ra thế. Đầu đuôi câu chuyện tối hôm kia, khi nạn nhân đầu tiên bị giết là vậy à. Thế án mạng tối qua thì sao?”
Kindaichi hễ căng thẳng là lắp bắp, nhưng lúc bình tĩnh lại trình bày rõ ràng rành mạch đâu ra đó. Anh tường thuật vắn tắt với Isokawa mọi điều tai nghe mắt thấy từ khi đặt chân lên đảo tới tối qua, chỉ lược bỏ lời trăn trối của Chima vì cảm thấy chưa đến lúc, giờ nói ra e rằng lại gây phiền phức cho ai. Vì vậy, tuy Isokawa vẫn còn muốn hỏi kĩ, nhưng Kindaichi kể xong là chuyển chủ đề ngay. “Em không thể báo cáo với anh sự việc tối qua, vì đêm trước mệt quá nên chập tối qua đã lăn ra ngủ đến tận sáng nay rồi.”
“Chú mày á? Ngủ ấy à?” Isokawa nghi ngờ nhìn Kindaichi.
Shimizu vội chen vào, vẻ vô cùng thân mật, “Không, ừm, thật ra là tôi lầm. Xin hỏi chỉ huy, cậu Kindaichi đây rốt cuộc là người thế nào vậy?”
“Cậu hỏi tôi Kindaichi là người thế nào ấy à? Chẳng phải hôm trước tôi đã kể với cậu rồi sao?”
“Vâng, tôi biết, hình như là nghi phạm trong một vụ án lớn…”
“Nghi phạm trong một vụ án lớn á? Kindaichi ấy à?”
Isokawa trợn tròn mắt cơ hồ sắp rớt cả tròng ra ngoài rồi ôm bụng lăn ra cười ngặt nghẽo, “Ha ha, Shimizu, cậu nói gì thế? Kindaichi đây là…” Đoạn ông giới thiệu ngắn gọn quan hệ hợp tác của họ khi trước. “Chứ cậu nghĩ Kindaichi là ai?”
“Cậu, cậu ta… lúc nghe chỉ huy nói, tôi cho rằng cậu ta là người quan trọng. Rồi tôi quay về đảo, lại gặp đúng lúc xảy ra án mạng. Để đề phòng, tôi bèn… nói thật, tối qua tôi đã giam cậu ta lại.”
“Giam… Kindaichi á?”
“Quả là một trải nghiệm thú vị, ha ha!” Kindaichi phá lên cười rồi nghiêm mặt nói, “Không, cũng là tại chúng tôi nói không rõ ràng. Chỉ huy Isokawa thì không chịu nói rõ lai lịch của tôi, bản thân tôi cũng đáng đời lắm, ban đầu thấy anh Shimizu nghi ngờ còn cố tình đùa dai, nói những lời khiến anh càng thêm mù mờ, đúng là tự làm tự chịu. Song tôi quả thật chẳng có mặt mũi nào giới thiệu mình là thám tử lừng danh cả, ha ha!” Kindaichi lại không nhịn được cười.
Isokawa vốn đang cau có, nghe anh cười sảng khoái như vậy cũng bật cười theo, “Ha ha, cậu Shimizu này vốn thật thà thế đấy. Được rồi, được rồi, Kindaichi không để bụng đâu, cậu Shimizu cũng đừng áy náy mãi, chúng tôi đang đợi nghe cậu kể đây.”
Shimizu lại “Dạ!” một tiếng thật to như quân nhân rồi lo lắng giơ tay quệt mồ hôi trán, bắt đầu ấp úng thuật lại chuyện tối qua, có điều anh ta kể quá lắt nhắt, nếu Isokawa và Kindaichi không xác nhận lại hoặc gặng hỏi đúng lúc, e rằng khó mà hiểu được. Shimizu đã mụ mị cả đầu óc, dĩ nhiên một phần do sai lầm tối qua, nhưng phần lớn là thấp thỏm bởi đang nói chuyện với một chỉ huy hình sự lão luyện có tiếng trên tỉnh cùng một thám tử lừng danh mà ngay cả viên chỉ huy kia cũng phải thú nhận không bằng.
Híc, hóa ra hắn ta là thám tử. Tên đàn ông đầu tổ quạ, bộ dạng lôi thôi lếch thếch này, hóa ra lại là… Shimizu nhân lúc nghỉ lấy hơi, mấy lần lén đưa mắt quan sát Kindaichi.
Sắp xếp lại những lời tự thuật lắt nhắt rời rạc của Shimizu, đại khái có mấy điểm mấu chốt sau.
Một, sau khi giam Kindaichi lại, Shimizu lập tức tới dinh thự chi chính. Bấy giờ ngoài bà Katsu, Sanae, Tsukiyo, Yukie, còn có cả hai thầy trò sư Ryozen. Yukie vẫn đang ngoan ngoãn ở trong nhà. Shimizu không chỉ gặp Yukie mà còn trò chuyện với cô ta. Lúc anh đến là đúng 6 rưỡi.
Hai, chừng 7 rưỡi thì bác sĩ Murase và trưởng làng Araki và Takezo cũng lục đục kéo đến. Mọi người chợt phát hiện Yukie đã biến đi đâu không rõ, bà Katsu và Sanae tìm khắp nhà cũng chẳng thấy. Ai nấy đều hốt hoảng, bèn chia nhau đi tìm, lúc ấy khoảng 8 rưỡi.
Ba, họ chia thành mấy tốp như sau, Shimizu và trưởng làng Araki, Takezo và chú tiểu, bác sĩ Murase như thường lệ đã say mèm, nhưng khăng khăng đòi đi, không chịu ở nhà đợi. Sư thầy tuổi tác đã cao, lại đang tái phát chứng thấp khớp vì trận mưa rào tối qua, chưa kể nếu mọi người kéo đi cả thì ở đây chỉ còn một người điên và mấy phụ nữ chân yếu tay mềm, bởi thế họ quyết định để ông ở lại. Tsukiyo cũng sợ, không muốn sư thầy đi.
Bốn, tất cả đồng loạt xuất phát từ chỗ chi chính, đến triền dốc vẫn chưa mưa, nhưng mây đen giăng kín trời, bốn bề tối om. Bốn người chật vật mãi mới đến được cuối đường mòn dẫn tới chùa Senko, Takezo và chú tiểu nói muốn về chùa xem thử, nên họ chia ngã ở đó. Shimizu và trưởng làng Araki tiếp tục đi đến gần Mũi Tengo, trên Mũi Tengo đang đặt quả chuông. Khi Shimizu soi đèn pin quanh chuông xem xét, không thấy vạt kimono nào cả.
“Khoan đã, anh đến cạnh chuông xem xét ư?” Kindaichi cắt lời.
“Không, không đi đến tận nơi, chỉ đứng trên đường soi đèn pin lên mỏm đá, tiện thể nhìn qua quả chuông thôi. Tôi đã quét đèn pin từ trên xuống dưới chuông, nhưng không có gì giống vạt kimono hết. Vừa rồi cậu quan sát hiện trường, hẳn cũng thấy vạt kimono còn trải rộng ra đến tận đường, nếu lúc ấy nó lộ ra, ắt tôi phải nhìn thấy chứ. Chưa kể, không chỉ có mình tôi mà còn có cả trưởng làng nữa, dù kẻ nào nhét thi thể vào lòng chuông, thì cũng ra tay sau khi chúng tôi đi khỏi thôi. Chắc chắn thế.”
“Cám ơn, mời anh kể tiếp.”
Năm, thấy trên mỏm đá không có gì lạ, Shimizu và trưởng làng lại tiếp tục men theo triền dốc đi đến chỗ chi thứ. Lúc đó mưa đã rơi lác đác, gió cũng mạnh lên, tiếng sóng ồ ạt vọng vào. Họ gặp ông Gihee, phu nhân Shiho và Ukai. Hình như vợ chồng ông Gihee vừa uống rượu, cả ba đều nói không biết gì về Yukie, cũng chẳng gặp cô. Ukai cũng nói từ lúc ở chùa Senko về, không hề ra khỏi cửa.
“Nhưng khi chúng tôi đứng ở tiền sảnh chi thứ thảo luận về chuyện này, bỗng nghe thấy một âm thanh lạ lùng… đằng xa hình như có người kêu cứu… Vì tối qua nổi gió Tây nên nghe rõ. Tôi và trưởng làng giật bắn mình, vội xông ra khỏi tiền sảnh, vợ chồng ông Gihee và Ukai cũng hớt hải xỏ guốc gỗ chạy theo sau. Cả năm người nín thở đứng giữa gió lộng như năm pho tượng đá, không dám nhúc nhích, sau đó còn nghe thấy hai ba tiếng kêu cứu nữa. Tôi hỏi, ‘Hình như là bác sĩ Murase?’ Mọi người đều đồng tình. Bác sĩ Murase đã say mèm, chúng tôi vốn muốn để ông ấy lại chỗ chi chính, ai ngờ ông ta đi còn không vững lại đòi chạy ra ngoài. Chẳng ai nghe ra được ông ta lè nhè kêu cái gì, song giọng điệu có vẻ khẩn thiết nên tôi và trưởng làng lao ngay đi cứu. Người chi thứ cho rằng chuyện này có lẽ liên quan tới Yukie, không thể khoanh tay đứng nhìn nên cũng theo sau.”
“Khoan, khoan đã, ông Gihee, phu nhân Shiho và Ukai đều chạy ra?”
“Đúng thế, mọi người đều chạy theo. Chúng tôi đứng trước cửa dỏng tai nghe ngóng, thấy âm thanh từ cuối đường mòn vọng lại, vội vã chạy đến ngay.”
“Vậy là các vị lại chạy qua chỗ đặt quả chuông kia lần nữa?”
“Dĩ nhiên, không chạy qua làm sao đến được đường mòn.”
“Các vị có kiểm tra lại quả chuông không?”
“Không, làm gì có thời gian, chúng tôi chỉ biết cắm đầu chạy thôi.”
“Anh vừa nói lúc ấy trời đã bắt đầu đổ mưa đúng không nào? Vậy quanh đó nhất định tối như hũ nút. Nếu không soi đèn pin, chắc không trông rõ được quả chuông đâu nhỉ?”
“Đúng vậy. Vì lúc trước đã kiểm tra, thấy không có gì lạ nên chúng tôi cũng chẳng chú ý lắm, hối hả chạy về phía tiếng kêu cứu.”
“Khoan, khoan, đợi đã… anh kiểm tra quả chuông lần đầu vào khoảng mấy giờ, có biết không?”
“Ừm… mọi người từ dinh thự chi chính xuất phát đi tìm Yukie là khoảng 8 rưỡi, nên có lẽ lúc ấy là 8 giờ 40 phút.”
“Sau đó anh đến chỗ chi thứ, anh ở đấy bao lâu?”
“Hừm, tôi nghĩ tối đa là mười phút thôi.”
“Từ mỏm đá đến chi thứ mất chừng hai phút, đi về tổng cộng mất bốn phút. Nói vậy giữa lần đầu và lần thứ hai anh đi qua chỗ quả chuông, cách nhau khoảng mười bốn phút. Nhưng lúc ấy còn mưa, phải không nào? Trời mưa từ lúc nào nhỉ? Vừa rồi hình như anh nói là khi các vị từ mỏm đá đi xuống, đang trên đường tới chỗ chi thứ thì bắt đầu mưa…”
“Đúng, đúng, à không, sớm hơn một chút. Lúc chúng tôi kiểm tra quả chuông, trời đã bắt đầu mưa lất phất rồi, nên mới vội vã tụt xuống.”
“Mưa có lớn không?”
“Không lớn lắm, à phải, tôi nhớ ra rồi, lần thứ hai chạy ngang qua chỗ quả chuông, tự dưng mưa nặng hạt hẳn lên.”
“Mưa đến lúc nào? Tối qua tôi ngủ say quá…”
“Mưa tầm tã đến sáng cũng không ngớt. Phải rồi, mãi đến lúc ông Gihee, phu nhân Shiho và Ukai phát hiện thấy vạt kimono thò ra dưới mép chuông, vội chạy ngược trở lại báo với tôi, mưa vẫn còn lất phất.”
“Ồ? Ba người của chi thứ phát hiện vạt áo kimono đầu tiên ư? À thôi, việc này khoan hẵng nói. Bấy giờ vẫn mưa thật chứ?”
“Vâng, vẫn mưa mà. Họ vừa báo, chúng tôi lập tức đội mưa tới ngay.”
“Kindaichi,” Isokawa vẫn im lặng lắng nghe chợt chen vào thắc mắc, “Hình như chú mày quan tâm đến cơn mưa thì phải, suy cho cùng…”
“Đúng, đúng đấy.” Kindaichi lại lắp ba lắp bắp, vò đầu nói, “Vừa rồi nghe anh Shimizu thuật lại, em bỗng phát hiện ra một chuyện lạ, liên quan đến thi thể Yukie. Thi thể trong lòng chuông gần như không bị ướt, dĩ nhiên ngoại trừ vạt kimono lộ ra ngoài. Hôm trước trời cũng đổ mưa, suốt ngày hôm qua có lẽ mỏm đá vẫn ướt sũng. Trong khi hung thủ bẩy chuông, nhất định đã đặt thi thể Yukie lên mỏm đá, vì vậy phần lưng áo kimono ướt đẫm, nhưng các chỗ khác lại khô. Kimono và đầu tóc đều khô ráo… Rốt cuộc là vì sao nhỉ?”
Isokawa và Shimizu ngạc nhiên nhìn Kindaichi, hồi lâu không thốt nên lời, cuối cùng Shimizu lắp bắp, “Ừ nhỉ… liệu có phải hung thủ đã dùng thứ gì đó như áo mưa bọc thi thể lại không?”
“Nhưng lưng áo thi thể lại ướt sũng, không, không chỉ ướt mà còn dính đầy bùn. Vả lại, dẫu nhanh nhẹn đến đâu chăng nữa, nếu muốn nhét thi thể vào lòng chuông qua khe hở hẹp đó, cũng mất kha khá thời gian. Trong thời gian đó, tại sao thi thể không bị ướt? Anh Shimizu, có đúng là mưa khá lớn không?”
Shimizu uể oải gật đầu, vẻ mặt càng lúc càng bất lực, “Đúng vậy, quả là kì lạ. Cậu nghĩ sao?”
“Tôi nghĩ có một khả năng, đó là khi anh và trưởng làng xem xét xong, rời khỏi mỏm đá đi đến nhà chi thứ, như anh vừa nói là chừng mười bốn phút, có lẽ bằng ấy thời gian đã đủ để hung thủ hoàn thành công việc rồi. Lúc đó mưa vẫn chưa nặng hạt, đúng không?”
“Vâng, chỉ lất phất thôi… Tôi vừa nói rồi đấy, khi chạy qua chỗ quả chuông lần thứ hai, mưa mới trở nặng. Nhưng nếu đúng là như vậy, chẳng phải hung thủ đã phục sẵn gần đó đợi chúng tôi đi khỏi ư?”
“Chính thế, hơn nữa còn vác cả thi thể…” Kindaichi lộ vẻ đau xót, “Quan trọng nhất là, theo kết quả khám nghiệm của bác sĩ Murase, Yukie bị hại sớm hơn nhiều, vào khoảng 6 đến 7 giờ tối. Dù 7 giờ hung thủ mới ra tay thì cũng phải đợi đến 8 giờ 40 phút mới bẩy được quả chuông. Việc gì hắn phải làm cái việc vừa nguy hiểm vừa bất tiện như thế, lẽ nào nhất định phải nhét xác Yukie vào lòng chuông ư?”
“Hừm,” Isokawa hừ mũi, “án mạng quái dị thật đấy. Vụ đầu tiên đã vậy, vụ thứ hai cũng thế, rõ ràng đều là hành vi của kẻ điên.”
“Điên thật! Mà, xin lỗi đã ngắt lời nhé, anh Shimizu, phiền anh kể tiếp đi.”
“Hở? Vâng, như tôi vừa kể, lúc chạy ngang qua chỗ quả chuông, mưa bỗng nặng hạt hẳn lên. Chúng tôi đội mưa chạy về hướng tiếng kêu, đến cuối đường mòn lại gặp chú tiểu và Takezo từ trên đỉnh núi xuống. Họ cũng nghe thấy tiếng bác sĩ Murase nên mới chạy đến. Thế là năm người thành bảy người, tiếp tục lần theo hướng âm thanh, phát hiện bác sĩ Murase ngã xuống vực. Tôi và Takezo tụt xuống đưa người lên, tay trái ông ấy lủng lẳng, miệng kêu gào không ngớt, làm mọi người sợ chết khiếp.”
“Chính là tại bác sĩ Murase bắt gặp tên đàn ông khả nghi phải không? Trước khi kể tiếp, phiền anh cho biết tại sao bác sĩ lại chạy ra khỏi dinh thự chi chính.”
“Ông ta nói là vì Hoa trong bão.”
“Hoa trong bão?” Kindaichi và Isokawa trợn tròn mắt nhìn Shimizu.
“Đúng thế. Tối hôm trước, Hanae bắt gặp Ukai giấu thư vào gốc cây Hoa trong bão nên mới lẻn ra ngoài, phải không nào? Bác sĩ Murase nhớ đến chuyện đó, thầm nghĩ tối nay Yukie biến mất liệu có phải cũng liên quan tới Hoa trong bão không, nên mặc cho sư thầy và Sanae ngăn cản, loạng choạng rời khỏi dinh thự.”
“Sau đó thì sao?”
"Cậu cũng biết rồi đấy, cây Hoa trong bão nọ ở dưới khe núi, bác sĩ Murase tụt xuống kiểm tra, không thấy gì lạ, cũng chẳng có thư trong hốc cây. Song trong lúc xem xét, ông ta chợt nghe có tiếng hước chân lại gần, hơn nữa còn từ chi chính đi tới. Bác sĩ Murase bực bội.”
“Khoan đã, tiếng chân từ dinh thự chi chính vọng đến thật ư?”
“Thật đấy, bác sĩ Murase khẳng định như thế. Ông ta còn nói, ‘Nghĩ kĩ lại thì tiếng chân đí lẻn ra từ cửa gỗ đằng sau dinh thự.’ Tối qua nổi gió Tây dinh thự chi chính lại nằm về phía Tây khe núi, nên động tĩnh nhỏ cũng nghe mồn một.”
“Cửa gỗ phía sau dinh thự ư?” Kindaichi giật mình, chợt nghĩ đến người điên trong phòng giam.
“Đúng vậy, thế nên bác sĩ Murase càng thấy lạ hơn. Chi chính khi ấy trừ sư thầy, Sanae, Tsukiyo và bà Katsu ra thì chỉ có một người điên, nhưng ông ta làm sao lẻn ra ngoài một mình được. Nghe tiếng chân dường như có đi giày, bác sĩ Murase càng nghi ngờ, bèn nấp vào khe núi để rình. Khi hắn tới gần, bác sĩ Murase liền la lên. Tên kia giật mình toan chạy, bác sĩ Murase liền tức tốc đuổi theo.”
“Rồi họ ẩu đả?”
“Đúng, và bác sĩ Murase bắt đầu kêu cứu. Đôi bên quần nhau một lúc, nhưng bác sĩ đã đứng tuổi, sức lực cũng chẳng thấm vào đâu, lại đang say mèm, làm sao đọ nổi tên kia, bị bẻ quặt tay đẩy xuống khe núi, ngã gãy tay trái.” Kể tới đây, Shimizu dừng lại, nhìn hai người kia.
Kindaichi lặng thinh ngẫm nghĩ, chỉ huy Isokawa cũng không nói gì.
Bầu không khí im lặng dị thường lan tỏa giữa cả ba một lúc lâu, cuối cùng Kindaichi mới cất tiếng, “Bác sĩ Murase có nhìn thấy mặt hắn ta không?”
“Không, trời tối quá. Có điều trong lúc vật lộn, ông ta có cảm giác thân thể đối phương khá cường tráng, mặc đồ Tây…”
“Sau đó hắn chạy về hướng nào?”
“Bác sĩ cũng không rõ, bị đẩy xuống khe núi, tay gãy gập, đau đến ngất xỉu, tâm trí đâu mà để ý chuyện đó.”
“Vậy kẻ khả nghi nọ có vác theo thi thể không?” Isokawa hỏi.
“Tôi cũng thắc mắc điểm này nhưng bác sĩ Murase nói đối phương không hề khiêng vác thứ gì giống như vậy cả. Có điều…”
“Sao cơ?”
“Ông ta kể rằng trong lúc giằng co chạm phải nách đối phương, cảm giác như hắn ta đang kẹp một cái bọc.”
“Bọc ư…” Kindaichi nhíu mày khó hiểu.
“Bác sĩ Murase nói vậy đấy. Sau khi tìm hiểu tình hình, chúng tôi quyết định quay về chỗ chi chính. Tới nơi, sư thầy và Sanae cũng đã nghe tiếng huyên náo nên lo lắng đứng đợi ngoài tiền sảnh. Giao bác sĩ Murase cho họ, tôi và Takezo lại lao ra ngoài.”
“Anh đợi cho một chút, thế ba người của chi thứ đâu?”
“Họ cũng theo đến chi chính. Không chỉ vậy, họ còn nán lại đến tận khi trời sáng, đúng là chuyện hiếm. Dù sao cà ba cũng đã ướt sũng người, lại lo lắng cho Yukie, nếu không thì chắc là còn nguyên nhân khác.”
“Ồ?” Kindaichi kinh ngạc trợn mắt, nhưng sau đó lại mừng rỡ gãi đầu sồn sột, “Vậy, vậy là tối qua tất cả những người có liên quan đều tập trung tại dinh thự chi chính. Trừ người của chi chính, còn có thầy trò nhà sư, trưởng làng Araki, bác sĩ Murase, Takezo và Shimizu, thêm ba người của chi thứ. Tất cả đều ở đó đến sáng phải không?”
“Phải, tất cả. Như vừa nói, sau khi giao bác sĩ Murase lại cho họ, tôi và Takezo lại lao ra ngoài, toan tìm kẻ khả nghi mà ông bác sĩ kể, nhưng về sau đành từ bỏ ý định. Bởi trời tối như hủ nút, mưa càng lúc càng dữ dội, không tài nào tìm nổi.”
“Sau đó anh cũng ở lại dinh thự đến sáng ư?”
“Vâng.”
“Tình hình tiếp theo thế nào? Trong thời gian này có ai rời phòng khách không? À nhầm, nhất định là có rồi, nhưng ý tôi là có ai rời dinh thự không?”
“Không hề. Toàn bộ đều tập trung trong gian phòng khách rộng mười chiếu. Thi thoảng cũng có người đi nhà xí, các bà các cô thì nào dọn bữa khuya, nào pha trà, ra vào phòng khách suốt, nhưng không một ai rời dinh thự cả.”
“Trong lúc anh và Takezo chạy ra ngoài tìm kẻ khả nghi… họ cũng ở yên trong dinh thự sao?”
“Chắc vậy. Nếu có người chạy ra, hẳn tôi sẽ biết. Với cả chúng tôi chỉ chạy đi một lát là đổi ý trở về ngay, thời gian vắng mặt ngắn mà!”
“Để tôi tiện thể xác minh lại một chút. Khi các vị chia nhau đi tìm, ở dinh thự chỉ còn sư thầy, bà Katsu, Sanae và Tsukiyo. Có ai trong số đó rời khỏi nhà không?”
“Tuyệt đối không, tôi bảo đảm.”
“Được rồi, cảm ơn anh.” Kindaichi cười cười quay sang Isokawa, “Tất cả những người có liên quan đều đầy đủ chứng cứ ngoại phạm.”
Isokawa nhún vai, vẻ bực dọc.
Kindaichi liền an ủi, “Không, cũng không hẳn vậy, vẫn còn một người hoàn toàn không có.”
“Ai vậy?”
“Người điên trong phòng giam. Chắc mọi người đều không chú ý đến ông ta nhỉ? Anh đâu có quan sát ông ta từ đầu đến cuối, phải không?”
“Kindaichi,” Shimizu hít mạnh một hơi, “ý cậu là người điên…”
“Không, tôi không nói vậy, ý tôi là có khả năng đó mà thôi. Dù ông ta bị điên, ta cũng không thể loại trừ khả năng gây án.”
Kindaichi dứt lời, không khí lặng phắc nặng nề lại lan tỏa giữa ba người, đó là một sự câm nín đáng sợ không tả được.
Shimizu hình dung ra một cảnh kinh hoàng, kẻ điên lẻn ra khỏi phòng giam, quẩn quanh trên con đường tối om giữa đêm. Nách hắn kẹp thi thể bị siết cổ của Yukie, màu sắc rực rỡ trên bộ kimono lộng lẫy của Yukie và sắc đen thẫm trên mình con quỷ trốn ra từ địa ngục tạo thành một sự tương phản quái dị khiến người ta không lạnh mà run. Kẻ điên kia tựa hóa thân của căm hận và tà ác, ôm Yukie điên dại chạy giữa đêm. Mưa xối xả, đảo Ngục Môn chìm trong bóng tối…”
“Ôi, xin lỗi, tôi lại cắt ngang mạch chuyện rồi, mời anh tiếp tục đi.”
Câu nói của Kindaichi kéo Shimizu trở về hiện thực. Như muốn xua tan cảnh tượng thê thảm vừa hiện lên trong trí, Shimizu vươn mình, chớp chớp mắt liền mấy cái.
“Ôi, thật xin lỗi, tôi lại vô ý thần người ra rồi… Ừm, chúng tôi ở dinh thự chi chính đến sáng, không ai chợp mắt. Mãi đến bình minh, ba người của chi thứ mới ra về. Trời vẫn mưa nhưng chỉ là mưa phùn. Không ngờ họ vừa ra khỏi cửa chưa được bao lâu đã tái mặt quay lại nói, dưới mép chuông lộ ra vạt kimono của phụ nữ, mọi người đều kinh hãi chạy tới ngay. Vậy đấy, đây là tất cả những chuyện xảy ra từ tối qua đến sáng nay.”
Dứt lời, Shimizu thở hắt ra như cá voi phun nước, như muốn đẩy cả cơn ác mộng đè nặng trong lòng từ tối qua ra vậy.
“Liệu có phải ba người của chi thứ thừa cơ nhét thi thể vào lòng chuông rồi vòng lại báo không?”
“E rằng không kịp. Bởi từ khi họ rời khỏi tới lúc vòng về, thời gian ngắn lắm, không đủ bẩy chuông lên nhét thi thể vào đâu. Chưa kể trời đã sáng hẳn, từ ngoài biển hoặc bến tàu nhìn vào đều thấy được Mũi Tengo, dân chài thì dậy sớm, không cẩn thận là bị phát hiện ngay, nên tôi nghĩ họ không làm nổi.”
Isokawa khẽ ừ hử. Không lâu sau, chiếc cano thứ hai chở người từ sở cảnh sát tỉnh đã đến, trên cano lần này là các điều tra viên và bác sĩ Kinoshita do phòng hình sự mời tới, bởi theo quy định, thi thể phải được giải phẫu.
“Phiền các anh quá, anh Maeda mời từ Kasaoka đến đang khám nghiệm thi thể.”
“Thế hả, tốt quá, nhờ anh ấy giúp một tay luôn. Nghe nói có hai người bị hại?”
“Vâng, là hai chị em. Vụ này rắc rối đấy.”
Isokawa ra bến đón và thảo luận cùng bác sĩ Kinoshita, Kindaichi ngơ ngác theo sau. Dọc đường đến dinh thự chi chính, anh chỉ im lặng trầm tư, giờ mới thình lình ngẩn lên như sực nhớ ra chuyện gì, bèn quay sang Shimizu đang đi bên cạnh.
“Ban nãy anh nói tối qua anh tới chi chính vào lúc 6 rưỡi, đúng không?”
“Vâng, lúc đến tôi còn nhìn đồng hồ nên nhớ rõ.”
“Đồng hồ đeo tay của anh có chuẩn không đấy?”
“Chuẩn mà, hằng ngày tôi đều so với radio đấy, dẫu lệch cũng chẳng đến một hai phút đâu. Sao vậy?”
“Không có gì. Vậy là đúng 6 rưỡi anh đến dinh thự chi chính? Bấy giờ trong nhà họ có bật radio không?”
“Radio ư?” Shimizu vặn lại, “Radio liên quan gì?”
“Nếu nhà họ mở radio thì vào đến tiền sảnh là nghe thấy rồi. Tối qua anh có nghe thấy không?”
Shimizu nghiêng đầu ngẫm nghĩ rồi đáp, “Tôi chẳng nghe thấy gì cả, hình như không bật.”
“Sau đó lúc mọi người chia nhau đi tìm Yukie là khoảng 8 rưỡi đúng không? Trong thời gian đó không ai mở radio à?”
Shimizu càng thêm khó hiểu, nghi hoặc nhìn Kindaichi, “Không, chẳng ai mở hết. Rốt cuộc có chuyện gì thế?”
“Anh khẳng định là radio không hề bật?”
“Vâng, tôi dám quả quyết luôn, nếu bật ắt tôi đã nghe thấy. Nhưng radio liên quan gì tới vụ án cơ chứ?”
Isokawa đi đằng trước cũng khựng lại, quay phắt đầu nhìn họ. Kindaichi hoang mang lắc đầu, “Nếu 6 giờ 35 phút mà không ai mở radio thì lạ thật. Bởi lúc đó sẽ phát bản tin Giải ngũ, Sanae luôn mong ngóng anh trai trở về nên ngày nào cũng bật nghe. Chẳng lẽ hôm qua lại quên? Hay cố ý không bật? Dường như việc không bật radio chứa đựng một ý nghĩa trọng đại nào đó mà tôi hiện thời chưa nghĩ ra được.”
Ánh mắt thẫn thờ của Kindaichi dừng ở gương mặt của Isokawa, song anh nhìn mà như không thấy, lòng cứ bứt rứt không yên.
Khi cả đám điều tra viên khám nghiệm tử thi xong xuôi chuẩn bị quay về bờ, đảo Ngục Môn đã chìm trong bóng chiều bảng lảng. Theo thủ tục, các vụ án trong khu vực đều phải nghe theo chỉ thị từ điều tra viên, nhưng người phụ trách điều tra là cảnh sát. Sau đó bác sĩ Kinoshita và Maeda cũng hoàn tất việc giải phẫu và chào từ biệt. Kết quả giải phẫu không có gì mới, chỉ chứng thực nguyên nhân cái chết của Hanae là bị đánh mạnh vài đầu làm ngất đi rồi siết cổ, còn Yukie thì bị một vật như khăn mặt siết chết rồi nhét vào chuông. Thời gian tử vong cũng tương đồng với phán đoán của bác sĩ Murase, Yukie bị giết vào chập tối qua, không lâu sau khi mặt trời lặn.
Việc khám nghiệm đã đâu vào đấy, chi chính liền bắt tay chuẩn bị hai lễ tang, bận tối mắt tối mũi. Vốn dĩ hôm nay phải cử hành lễ tang cho Hanae, nhưng lại nghĩ nếu làm hai đám tang vào hai ngày liền nhau, e rằng bất tiện cho mọi người, nên quyết định tổ chức gộp luôn với lễ tang của Yukie sáng mai. Thanh niên trong thôn lại hối hả đào thêm một huyệt mộ mới bên cạnh huyệt vừa đào hôm qua. Nơi này có tục thổ táng. Mộ hai cô nằm trên sườn núi Suribachi cao vút sau chùa Senko.
Lúc này Isokawa đã hỏi han hết những người có liên quan, nhưng vẫn như lạc trong sương mù, hoàn toàn không thấy manh mối nào cả, thật khiến người ta chán nản. Hi vọng duy nhất chính là kẻ khả nghi mà bác sĩ Murase đụng phải. Isokawa đã hỏi kĩ ông bác sĩ, nhưng bấy giờ trời quá tối nên ngoài những gì đã kể với Shimizu ra, ông ta chẳng biết gì hơn nữa cả.
Isokawa chú ý đến hai sự kiện, một là kẻ đó lẻn ra từ cửa sau dinh thự chi chính, hai là trên mình hắn mang theo một cái bọc. Vì vậy Sanae và bà Katsu cũng bị tra hỏi cặn kẽ, song cả hai đều nói không biết gì cả. Kindaichi vốn cho rằng có kẻ thừa lúc họ sơ hở lẻn vào dinh thự tiện tay đánh cắp đồ đạc, nhưng Sanae lại nhấn mạnh rằng họ không thấy mất mát gì cả. Bà Katsu còn lẩm cẩm hơn, chỉ biết rụt rè nói, “Không dám chắc có mất một hai cái bọc khăn hay không.” Bởi thế Kindaichi càng rối tinh rối mù.
“Xem ra phải lục soát toàn đảo rồi, Kindaichi à. Nói không chừng tên cướp lẫn trốn trên đảo, kẻ mà bác sĩ Murase đụng độ ấy cũng đồng thời là hung thủ giết chết hai cô gái, bởi đã phát hiện được hành tung của hắn rồi.”
“Nếu nói hung thủ có thể là hắn thì em đồng ý, nhưng xem xét động cơ giết người, em cho rằng mọi chuyện không đơn giản như vậy. Dù hung thủ có phải kẻ đó hay không, em dám chắc đằng sau sự việc còn ẩn giấu một động cơ thâm hiểm đáng sợ hơn nhiều. Anh quyết định thế nào? Ở lại đây hay về sở?”
“Nếu được thì anh muốn ở lại, không chỉ vì hai án mạng, mà vẫn còn phải bắt đám cướp biển. Vả chăng anh cũng muốn kiểm tra lại hiện trường lần nữa, mỗi lần đi đi về về mất công lắm.”
“Phải, phải, thế này tiện hơn. Dinh thự thênh thang, năm mười người cũng đủ chỗ ngủ, nếu anh đã ở lại cùng mọi người thì từ nay em cũng ở đây luôn. Giờ chúng ta đi báo với cô Sanae nào.”
“Vậy thì tốt quá.” Sanae dĩ nhiên không phản đối. Tsukiyo còn chưa hết kinh hoàng về cái chết liên tiếp của các em. Sanae và bà Katsu nghe nói tất cả cảnh sát muốn ở lại đây, hàng mi đang cau lại vì lo lắng tức thì giãn ra, Tsukiyo thậm chí còn nhảy cẫng lên mừng rỡ, hệt một đứa bé.
“Tốt quá! Mọi người đều muốn nghỉ lại đây. Ôi! Vui quá đi mất! Em thích nhất là đông người nhộn nhịp đấy. Cứ u ám tối tăm thật là đáng ghét.”
“Cô Tsukiyo đừng mừng vội, chúng tôi không để cô lén chuồn ra ngoài đâu!” Kindaichi nửa đùa nửa thật nhắc nhở.
“Tôi chuồn đi làm gì! Yukie và Hanae đúng là ngốc, trời tối như thế ra ngoài làm gì chứ.”
“Cô dám cam đoan không lẻn đi chứ? Dù anh Ukai gửi thư đến…”
“Ai chà, Kindaichi đáng ghét quá!” Tsukiyo vừa làm bộ dùng tay áo kimono dài thượt quật Kindaichi, vừa õng ẹo đáp, “Không đi, không đi, dù ai nói gì tôi cũng không đi đâu, tôi còn chưa muốn chết!”
Cô ta tuy ngốc nghếch song cũng biết mình là mục tiêu tiếp theo của hung thủ, thật tội nghiệp.
“Đúng đúng, thế mới đúng chứ, chỉ cần cô không ra ngoài là không việc gì hết. Trong giai đoạn căng thẳng này, bất kể ai nói gì cô cũng không được ra ngoài.”
“Vâng! Tôi sẽ không đi đâu cả, trái lại còn phải cầu khẩn thần linh giúp tôi giết chết hung thủ!”
“Cầu khẩn thần linh giúp cô giết được hung thủ ư?” Kindaichi tròn mắt ngạc nhiên nhìn Tsukiyo.
Tsukiyo thản nhiên chớp cặp mắt lờ đờ, “Đúng vậy, mỗi lần có chuyện không vui hoặc lo âu, tôi lại cầu khẩn thần linh, lần nào cũng linh nghiệm. Kẻ nào muốn hại tôi, nhất định sẽ bị trừng phạt.”
Kindaichi thắc mắc ra mặt, quay sang nhìn Sanae. Cô mỉm cười giải thích, “Anh xem, bên kia sân có một gian phòng xây bằng gỗ trắng. Đó là phòng cầu nguyện. Hễ gặp chuyện không vui, Tsukiyo sẽ giam mình trong đấy khấn vái, lần nào cũng linh nghiệm. Việc này đã nổi tiếng khắp đảo rồi.”
“Đúng thế, chị Sanae cũng nói còn gì? Chỉ cần đêm nay tôi thành tâm cầu khẩn, kẻ ác nhất định sẽ bị trừng phạt.” Tsukiyo tự hào nói.
Kindaichi sực nhớ có lần trụ trì Ryozen từng chỉ cho anh xem một gian nhà, nói đó là phòng cầu nguyện. Gian nhà nằm ở chỗ mặt sân hơi gồ lên, đối diện với phòng giam ông Yosamatsu. Vốn dĩ anh đã thắc mắc về sự tồn tại của phòng cầu nguyện trong nhà này, giờ lại nghe nói Tsukiyo nổi tiếng về cầu khấn linh nghiệm. Đang định hỏi tiếp thì Isokawa nhìn đồng hồ, nhắc, “Tôi định tới xem xét hiện trường lần nữa, nếu còn chần chờ thì tối mất, giờ chúng ta đi được chưa?” Nói đoạn đứng ngay dậy, câu chuyện dừng ở đó. Về sau nghĩ lại, Kindaichi vô cùng hối hận.
Nghe Isokawa nói, Kindaichi cũng xem đồng hồ tay, thấy vừa đúng 6 giờ 40 phút, liền đưa mắt nhìn Sanae thăm dò, song Sanae có vẻ bồn chồn lo lắng. Hôm nay cô lại quên nghe bản tin Giải ngũ trên radio…
Rời khỏi dinh thự mới biết trời đã sập tối. Mặt trời vừa xuống núi, trên đảo đã chuyển lạnh ngay. Kindaichi co ro rụt vai lại hỏi, “Anh muốn đến chùa hay là…”
“Đến Mũi Tengo xem thử đi.”
Quả chuông vẫn treo lủng lẳng trên mỏm đá nơi Yukie bị hại, hai cảnh sát hình sự đang sục sạo từng lùm cây bụi cỏ xung quanh. Trời đã vào thu, hoa lau đẹp đẽ như một mảnh gấm đỏ nhạt bao quanh mỏ đá.
“Có phát hiện được gì không?”
“Không ạ, chẳng có gì…”
“Những người khác đâu?”
“Họ đi soát núi rồi, chưa thấy về.”
Những cảnh sát khác đều theo Shimizu và trai làng vào núi Suribachi truy lùng dấu tích tên cướp.
Isokawa ngước nhìn quả chuông rồi hỏi, “Quả chuông này vốn đặt dưới đất phải không? Lần đầu tiên Shimizu và trưởng làng Araki chạy qua đây, liệu có phải hung thủ đang nấp sau chuông không nhỉ?”
“Em cũng đã nghĩ đến chuyện đó, vì hai người kia chỉ rọi đèn pin nhìn sang chứ không đến gần xem xét. Có điều từ vị trí treo chuông hiện giờ cũng rõ, lúc ấy quả chuông gần như nằm sát mép phải mỏm đá, cách chưa đầy một thước. Dù hung thủ chỉ có một tên, nhưng còn phải vác thi thể Yukie, anh thấy hắn có len nổi vào không?”
Hai người đi đến gần mép đá nhìn xuống dưới, mỏm đá này hơi nhô ra ngoài, khoảng ba gian phía dưới có một triền dốc, còn lại là vách đá dựng đứng cao đến mười mấy trượng. Tuy từ trên nhìn xuống có thể thấy con đường dưới đáy, nhưng nếu định từ đó trèo lên vách đá dốc thì thật không tưởng. Dưới đáy vực, chỉ có nước và tảo biển cùng rác rếnh dập dềnh.
“Đúng thế, chỉ có ninja may ra mới leo từ dưới đó lên được.”
Cả hai đang đứng trên mỏm đá, chợt nghe tiếng người nhốn nháo cùng tiếng chân chạy rầm rập từ đầu dốc. Tất cả quay ra nhìn, thấy một toán trai làng vác cuốc thuổng hớt hải chạy xuống, là đám người đi đào huyệt giúp nhà Kito.
“A! Cảnh sát! Thò mặt, thò mặt ra rồi!” Một cậu trai làng trông thấy Isokawa liền nhanh miệng nói ngay.
“Thò mặt á? Cái gì thò mặt?” Isokawa thở gấp.
“Thì kẻ bị tình nghi ấy, râu ria xồm xoàm.”
“Còn mặc quân phục nữa.”
“Ánh mắt dữ tợn lắm, đáng sợ.”
“Thấy hắn rồi ư? Giờ hắn đâu rồi?”
“Ở ngay phía sau khu mộ chi chính Kito.”
“Phía sau khu mộ chi chính Kito là vách núi mà…”
“Chúng tôi đang đào huyệt thì nghe thấy trên vách núi có tiếng loạt soạt, bèn ngoái lại nhìn…”
“Một kẻ trông đáng ngờ nấp trong bụi cỏ đang trừng mắt nhìn chúng tôi. Ánh mắt hắn đáng sợ lắm.”
“Rõ ràng hắn không phải người trên đảo, mọi người chưa thấy hắn bao giờ, chắc chắn là tội phạm bị truy nã trốn lên đảo ta.”
Đám trai làng hào hứng mỗi người một câu, liến thoắng, nói văng cả bọt mép.
“Sao các cậu không bắt hắn lại?” Một cảnh sát hỏi.
Đám trai làng tức thì nín bặt.
“Bởi vì, ừm, nghe nói hắn có súng.”
“Tôi quát hỏi, mày là ai? Hắn liền hụp mình xuống, như định lấy đà nhào tới vậy.”
“Thế nên các cậu cuống quýt vắt giò lên cổ chạy xuống đây chứ gì. Thật chẳng giống trai đảo xông pha đầu sóng ngọn gió gì cả.” Một cảnh sát cười trêu.
“Anh nói thế thì tôi chịu. Chỉ tại… quá đột ngột…Này! Lúc tên đó xuất hiện, đứa nào chạy đầu tiên hả?”
“Không phải tao! Là thằng bợm Gen! Gen vùng chạy đầu tiên, sau đó chúng ta mới chạy theo…”
“Bậy bạ! Làm gì có chuyện đó! Đứa kêu ré lên là…”
Đám trai làng lại bắt đầu ồn ào, đúng lúc ấy trên sườn dốc có tiếng bước chân, là Shimizu và mấy cảnh sát vào núi lục soát.
“Mọi người đều ở đây à? Vừa rồi nhốn nháo gì thế?”
“Anh Shimizu, kẻ khả nghi xuất hiện rồi! Nên chúng tôi chạy xuống đây báo với cảnh sát…”
“Shimizu, tình hình đằng đó thế nào?” Isokawa hỏi át đi.
“À, tên đó quả thật đã lẻn lên đảo. Trong sào huyệt cướp biển có dấu vết nổi lửa, còn tìm được chiếc khăn vuông to này nữa…”
Shimizu rút ra một mảnh khăn vuông to đã lấm bẩn vì nước mưa, trên mặt vải vàng nhạt in một chiếc đầu quỷ trắng toát, phía trên là chữ “chính” cũng màu trắng, trong lúc nhuộm màu đã cố ý chừa lại.
“Họa tiết này là…”
“Là gia huy của chi chính Kito[4], gia huy chi thứ cũng có hình đầu quỷ, nhưng bên trên là chữ ‘thứ’.”
Isokawa quay sang Kindaichi, “Vậy những lời bác sĩ Murase kể hẳn là sự thật. Tối qua tên kia lẻn vào dinh thự chi chính, nhất định đã đánh cắp nhiều thứ, còn dùng khăn vải gói ghém lại nữa.”
“Có thể lắm…” Kindichi tiu nghỉu đáp.
Isokawa nghi ngờ nhìn anh, “Có thể là thế nào? Chắc chắn luôn ấy chứ, khăn vuông của nhà Kito còn sờ sờ kia kìa…”
“Phải. Nhưng mất khăn mà Sanae không phát hiện ra à?”
“Gia đình họ giàu có như vậy, thiếu một hai cái khăn vuông, không, đánh cắp mấy món đồ rồi dùng khăn vuông bọc lại đem đi có khi cũng chẳng ai nhận ra, nhất là đang lúc tang gia bối rối. Kindaichi, chú mày nghĩ gì thế?”
“Không nghĩ gì,” Kindaichi lắc đầu. “Dù sao đi nữa, đến đây cũng khẳng định được là có một kẻ khả nghi đang lẩn trốn trên đảo, nên nếu không lục soát núi ở quy mô lớn…”
“Chú mày nói đúng lắm.” Isokawa nhìn quanh, thấy tia nắng nhạt cuối cùng đã nhường bước cho bóng tối lan rộng, mọi người gần như không trông rõ mặt nhau. Cả vùng biển Seto chìm trong màn đêm, trên trời đã bắt đầu nhấp nháy mấy vì sao.
“Để đến mai mới lục soát e rằng không kịp, may mà tối nay trăng sáng, ta tiến hành thôi.”
“Được! Cố công mài sắt xem có nên kim không!” Isokawa quyết định.
Từ chạng vạng đến nửa đêm hôm ấy, đảo Ngục Môn rơi vào trạng thái nơm nớp căng thẳng.
Đoàn người theo Isokawa về đến dinh thự chi chính, hối hả dùng xong bữa tối Sanae và bà Katsu dày công chuẩn bị, đám trai làng cũng trở về gọi người nhà cùng tham gia. Dân chài ai nấy đều nhiệt tình hăng hái, lũ lượt tranh nhau đến tập trrung ở dinh thự chi chính. Lúc các cảnh sát chuẩn bị xong thì cũng đã 8 giờ, xung quanh dinh thự đã có mấy chục người tụ tập, đem theo nhiều đuốc và đèn lồng, còn giắt lưng cả vũ khí vừa tay, trông như một đám nông dân nổi dậy. Isokawa chia dân chài ra thành mấy nhóm, đặt ra các nhóm trưởng, trong khi ấy, Kindaichi ở đại sảnh hỏi han Sanae.
“Cô không biết trong nhà bị mất chiếc khăn này sao?”
“Tôi… tôi không biết. Sao thế ạ?”
Sanae chột dạ nhìn chằm chằm vào Kindaichi. Nhờ ý chí cứng cỏi kinh người, cô vẫn giữ được vẻ bình thản, nhưng anh cảm giác được lòng cô đang rối ren tột độ. Sanae lấy hết can đảm nhìn thẳng vào Kindaichi, song cuối cùng vẫn mệt mỏi cụp mắt xuống.
“Cô Sanae,” Kindaichi thở gấp, “tối nay mọi người định lục soát núi trên diện rộng đấy! Huy động từng ấy người lùng sục, nhất định sẽ bắt được, chẳng ai thoát nổi đâu. Cô vẫn bình chân như vại thế ư?”
Sanae bàng hoàng ngẩng phắt lên trừng mắt nhìn Kindaichi, vẻ hung dữ, “Anh… anh nói vậy nghĩa là sao?”
“Cô không hiểu à?”
“Không, tôi chẳng hiểu gì cả. Anh úp mở như thế, tôi… tôi…”
Đúng lúc ấy, Takezo vội vã xông nào gọi Kindaichi đi.
“Thế à, tôi ra ngay đây. Anh Takezo, phiền anh đợi cho một lát.”
“Ồ, anh có gì căn dặn ư?”
“Cô Tsukiyo sao rồi? Nãy giờ hình như không thấy cô ấy…”
“Ai chà, chẳng phải tôi vẫn sờ sờ đây ư?”
Tsukiyo vừa cười khúc khích vừa lộp cộp bước ra. Nhìn cách ăn mặc của cô ta, Kindaichi đờ cả người, như vừa bị đập một gậy. Tsukiyo ăn vận như một du nữ Shirabyoshi[5] thời cổ, áo lụa trắng khoác ngoài, quần đỏ sẫm, đầu đội mũ cao màu vàng kiểu Nhật, tay còn cầm một chiếc chuông vàng. Kindaichi tròn mắt, “Tsukiyo, thế này là…”
“Ấy, anh quên rồi à? Tôi chẳng đã nói lát nữa tôi phải cầu khấn thần linh ư? Các anh sắp vào lục soát trong núi đúng không? Vậy tôi sẽ cầu nguyện cho các anh bắt được kẻ ác, nhất định sẽ thành công thôi, bởi xưa nay tôi cầu khẩn linh nghiệm lắm.”
Dứt lời, Tsukiyo lại cười khúc khích rồi lộp cộp rời khỏi phòng khách.
Kindaichi ngớ người, ngỡ ngàng nhìn theo, không ngờ rằng đây là lần cuối cùng anh trông thấy một Tsukiyo còn sống.
Ngay sau đó, Isokawa lại nhờ một người nữa chạy vào gọi anh.
“Vâng vâng, tôi đi ngay đây. Cô Sanae…”
“Dạ?”
“Tôi giao Tsukiyo cho cô đấy, phiền cô trông nom cô ấy.”
Mặt tái nhợt, Sanae cau mày như muốn kháng nghị “Còn cần anh nhắc ư?”
“Anh Takezo cũng đi à?”
“Vâng!”
“Tôi định nhờ anh ở lại…”
“Nhưng chỉ huy Isokawa đã phân công tôi phụ trách một nhóm rồi, nếu thay đổi kế hoạch chỉ e không kịp.”
Phía sau chợt vang lên tiếng gầm giận dữ của người điên. Sanae giật mình, “Thôi chết, xin các anh thứ lỗi, bác ấy lại lên cơn rồi…” Đoạn cô hớt hải rời đi.
Kindaichi thấy bồn chồn lạ thường, nhìn theo bóng Sanae đi khuất mới đứng dậy cùng Takezo ra tiền sảnh. Đi ngang qua gian phòng khách mọi người tụ tập tối qua, anh thấy bên trong đã được bày biện lại để thầy trò nhà sư làm lễ. Xung quanh là trưởng làng Araki, bác sĩ Murase, còn cả ba người của chi thứ. Ai nấy đều lộ vẻ bồn chồn thấp thỏm.
Trông thấy anh, trưởng làng hỏi, “Cậu cũng đi lục soát ư?”
“Vâng.”
“Vất vả cho cậu quá. Lẽ ra tôi cũng đi, nhưng hôm nay phải canh linh cữu. Khi nào xong lễ tôi sẽ tới.”
“Nếu, nếu không tiện thì thôi ạ…”
Tiếng khánh vang vọng làm không khí trong phòng cũng chao đảo cả lên, sư thầy không hề quay đầu lại.
Ra đến tiền sảnh, Kindaichi thấy phần đông đã đi cả, chỉ còn nhóm thứ nhất do Takezo phụ trách và nhóm của Isokawa, mỗi nhóm sáu bảy người.
“Kindaichi, lên đường thôi.”
“Khoan đã, em muốn để lại một vài người.”
“Sao vậy?”
“Tên đó bị truy đuổi, biết đâu lại thừa cơ lẻn đến đây. Chúng ta không thể chủ quan được, nên tôi muốn nhờ ba bốn người trong số các cậu ở lại trông chừng.”
Xưa nay Isokawa thường không phản đối đề nghị của Kindaichi, bèn chọn ra hai người mỗi đội, để bọn họ canh chừng quanh dinh thự.
“Giờ thì lên đường thôi.”
Xem đồng hồ thấy vừa đúng 8 rưỡi, ra khỏi cổng lớn, ngẩng đầu trông lên chỉ thấy sao nhấp nháy đầy trời. Vầng trăng mùng mười lơ lửng trên ngọn núi sau chùa Senko, dọc đường lên núi, chỉ thấy dăm ba ngọn đuốc lẻ tẻ đang chậm rãi men theo con đường ngoằn ngoèo dẫn tới chùa.
“Soát núi mà đèn đuốc sáng rực thế kia thì chẳng phải là báo trước cho kẻ xấu ư?”
“Không, phía sau nhóm mang đuốc còn một nhóm không cần đèn chỉ mò mẫm đi nữa cơ. Đây là kế hoạch của anh, định dùng nhóm cầm đuốc xua hắn ra, hắn mà chạy ra một cái là sẽ rơi vào lưới của nhóm không cầm đèn.”
“Ra vậy.”
Kindaichi, đội Isokawa và đội Takezo men theo con đường mòn sâu trong thung lũng, đi thẳng đến Mũi Tengo, sau đó rẽ trái lên con dốc hồi chiều đám trai làng đào huyệt và cảnh sát vừa trở xuống. Từ bên này đảo muốn lên được núi Suribachi chỉ có duy nhất lối đó.
Nhóm do Takezo cầm đầu sẽ lo truy đuổi, người nào người nấy lăm lăm cây đuốc sáng rực, còn cố tình nói oang oang. Phía sau một quãng là nhóm của Kindaichi, họ ẩn mình trong bóng tối, lẳng lặng bám theo. Bình thường rất ít người đi lên phía trên Mũi Tengo, bởi đường vừa hẹp vừa dốc, tuy trăng sáng sao dày, nhưng vẫn có người vấp phải rễ cây bò ra đường.
Vòng qua vách núi nhô ra, cảnh vật trước mắt bỗng trở nên thoáng đãng, có thể bao quát hết từ sườn Suribachi lên đến tận sào huyệt cướp biển trên đỉnh. Khắp sườn núi la liệt ánh đuốc của toán quân tiên phong chập chờn như ma trơi, lại như sâu kiến rì rì bò lên, thỉnh thoảng còn nghe tiếng hò hét oang oang. Kindaichi bỗng nhớ tới tiếng khánh trầm trầm hồi nãy… Lòng thình lình dâng lên một nỗi kinh hoàng không bút nào tả xiết.
Bên ngoài soát núi, bên trong trông đêm… Sanae mặt mày tái nhợt, Tsukiyo như du nữ Shirabyoshi, tiếng gầm như dã thú của người điên trong phòng giam, lời trăn trối của Kito Chima, lần lượt hiện lên trong đầu anh. Kindaichi bất giác cảm thấy những ngọn đuốc chập chờn trước mắt càng lúc càng cháy dữ dội, lưỡi lửa nóng rực như nuốt chửng cả hòn đảo.
[1] Khoảng 169 cân
[2] Yuzen là kĩ thuật nhuộm ra đời vào thời Edo, do một người tên Yuzen tạo ra, chú trọng sử dụng nhiều màu sắc, kết hợp các hình vẽ phức tạp như gió, trăng, hoa, bướm. Những tấm vải nhuộm theo lối này thường đẹp tinh xảo và đắt đỏ.
[3] Chùa Dojo ở Wakayama nổi tiếng với truyền thuyết về nhà sư Anchin và nàng Kiyohime. Nàng Kiyohime thầm thương trộm nhớ Anchin. Trong khi đi chiêm bái cảnh chùa, nàng yêu cầu Anchin trọ lại một đêm để hai người hẹn hò với nhau. Anchin đã từ chối. Kiyohime giận dữ hóa thành con rắn khổng lồ đuổi theo Anchin, cuối cùng con rắn đã thiêu chết Anchin bấy giờ đang lẩn trốn trong cái chuông của chùa Dojo.
[4] Âm Hán-Nhật của Kito là “quỷ đầu”, nghĩa là “đầu con quỷ”.
[5] Một hình thức ca múa phát triển từ thời Heian, diễn viên đa phần là nữ, mặc đồ đàn ông, đội mũ cao, lưng đeo kiếm Nhật vỏ trắng, ca múa kết hợp với nhạc cụ như trông, sáo, não bạt.