CHÍNH Thiện cũng vậy, khi được chị Hoa anh Lịch bảo cho đi, chú cũng thấy thót nơi bụng nhói nơi tim, vừa bàng hoàng sung sướng được vượt biên tìm cuộc sống có tự do nhân phẩm, có tính người tình người, vừa bàng hoàng sầu muộn vì sắp xa nhà, xa bố mẹ. Lũ trẻ ngủ cả, vườn trẻ của mẹ được lúc yên tĩnh. Thiện kín đáo đưa mắt nhìn mẹ lúc đó đương ngồi trước máy khâu vá chiếc quần gin dày cộm thủng trôn của chính Thiện, khuôn mặt mẹ buồn thật buồn, nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh, đúng như hai lần trước vào những ngày mẹ biết chị Hoa sắp đi. Thiện cảm thấy mình nhỏ đi, thơ dại đi rất nhiều.
- Mẹ!
Thiện đã đứng bên mẹ cất tiếng gọi thoảng như vậy. Chú thấy tiếng mình gọi mẹ như một vật gì trôi bềnh bồng trên cái biển cồn cào nung nấu trong thâm tâm chú. Thấy mẹ lơ đãng vẫn chưa nghe tiếng mình, Thiện gọi lần nữa:
- Mẹ!
Bà Giáo sực tỉnh:
- Gì thế con?
- Chị Hoa, anh Lịch bảo cho con đi theo, mẹ có bằng lòng cho con đi không mẹ?
Đến lượt bà Giáo thót bụng nhói tim rụng rời cả người biết lần này thêm một đứa con nữa dứt ruột mình ra đi, bà không giữ được khỏi nước mắt rưng rưng, bà phải nương giọng khéo lắm mới khỏi bị tắc nghẽn giữa hai tiếng nấc:
- Ừ, thi con đi, mẹ giữ con làm chi. Con đi mới có tương lai mà ăn học cho ra trò, cho nên người chứ.
- Mẹ!
- Gì con?
- Con chịu cực quen, ra được nước ngoài ngày con đi học tối con đi làm kiếm tiền gửi về biếu mẹ.
Hai giọt nước mắt rớt bộp cùng một lúc trên chiếc quần gin bà đương vá. Sểnh một chút lãng tâm bà không giữ được chúng trên mi mắt. Đôi mắt Thiệt cũng nhòe đi khi nhìn và nghe thấy hai giọt nước mắt nhỏ của mẹ rơi trên chiếc quần gin. Tiếng mẹ nói rất nhỏ để tránh thành tiếng nấc:
- Cần việc học thôi con ạ. Ra được nước ngoài con gắng học, sau này con thành kỹ sư, bác sĩ, thế là mẹ mừng. Con còn nhớ ba điều tận lực mà bố viết về khuyên các con năm ngoái, hồi bố còn ở trại cưỡng bách lao động?
- Dạ, tận lực học hỏi để thường xuyên trau giồi kiến thức, tận lực làm việc để trả ơn đời, tận lực tu đức để bảo tồn hạnh phúc! Không bao giờ, không bao giờ con quên lời bố khuyên đâu, mẹ!
- Tốt lắm!
Thiện dời chỗ mẹ ra ngay với bà nội. Cụ đương xếp bằng tròn, tay lần tràng hạt miệng lâm râm niệm Phật.
- Bà!
- Gì thế con?
- Cháu sẽ đi với chị Hoa bà ạ.
Bà nội xoa lưng và gãi đầu Thiện:
- Ừ, con đi. Con đi là con học tiến bộ, là con làm vui lòng bà và bố mẹ con.
Thấy Thiện khóc, cụ gãi đầu cháu mạnh hơn:
- Rồi bà sẽ trở ra Bắc, nhưng ở đâu thì bà cũng niệm Phật cầu trời cho các con các cháu. Mà các con các cháu ở đâu cũng phải nghe lời bà: giữ cái tâm đạo đức! Thế là bà yên lòng. Con chẳng việc gì phải khóc, con đi là tiến bộ mà!
Khi Thiện xuống nhà, đến lượt cụ đổ nước mắt ra. Trước đây, nhiều buổi chiều, cụ ngồi trong nhà nhìn qua cửa sổ ngắm dáng điệu cần cù dẻo dang của thằng cháu vò xương xâm cụ muốn đổ nước mắt. Thực sự trước đây cụ cũng đã một lần vừa cười vừa khóc. Vào buổi chiều hôm đó thằng bé xán lại nói: “Bà ơi hôm nay cháu cố vò xương xâm được một đồng tám, nghe con nói mai là ngày giỗ ông nội, người ta trả con cả hai đồng, con để dành được mười đồng tất cả đưa bà để bà mua hoa quả về cúng ông.”
Bà nội đương cầm cái quạt, cụ phẩy phẩy quạt mát cho thằng cháu, cụ vừa cười vừa khóc, nước mắt đổ ra cụ càng cười lớn để trấn át dòng nước mắt không cho chảy thêm:
- Cha bố mày, ấy mày có tâm tốt như vậy bà quý hơn bắt được vàng đấy con ạ. Ừ để rồi sớm mai bà ra chợ mua thêm hoa quả về cúng ông. Bà sẽ khấn cho ông hay là phần hoa quả đó mày vò xương xâm thuê mà có.
Thiện chỉ thủ thỉ tâm sự việc sắp ra đi với mẹ và với bà nội, còn với bố thì không. Bố cho ly nước trà đường, Thiện lẳng lặng nhật uống, bố sai vài việc lặt vặt, Thiện làm ngay rất chu đáo, nhưng khi chỉ còn có hai bố con trong bếp hoặc ngoài phòng khách, Thiện thấy lúng túng, chân tay như thừa, lảng nhìn đi phía khác, thỉnh thoảng liếc trộm bố. Bố thương Thiện và gần gũi Thiện nào kém gì mẹ, nhưng với mẹ thì nói được mà với bố thì không. Biết nói gì và nói ra sao? Quả thực Thiện chịu. Đành vậy.
Ngày lại ngày qua mau. Ông giáo không dám hỏi Hoa ngày nào con đi. Hoa cũng không dám đả động với bố về chuyện sắp ra đi. Nhưng rồi cái ngày định mệnh cũng đến và chẳng giấu được nữa, như con bài đến lúc phải lật lên. Suốt đêm hôm trước nghe chuột rúc liên hồi bà Giáo mừng lắm. Bà vốn tin hễ có chuột rúc là có tin mừng. Trước đây, thoạt mỗi khi nhận được quà bằng hữu nước ngoài gửi về, bà Giáo lại sức nhớ rằng hôm trước (hoặc mấy hôm trước) nhà có vang tiếng chuột rúc. Kế đó nhà mỗi khi vang tiếng chuột rúc là bà có ý chờ giấy nhà bưu điện báo tin tới nhận đồ. Rồi vào những ngày thật túng quẫn, bà thường nghiêng tai nóng lòng đợi được nghe tiếng chuột rúc. Lần này bà nói với chồng:
- Anh có nghe thấy không, chuột rúc tưng bừng, chắc chắn chuyến đi này của con nó êm đẹp. Con nó có đến hỏi ông thầy đường Trần Bình Trọng, ông nói rằng chuyến này đi trôi chảy. Con nó cũng có đến lễ chùa Pháp Hoa, cũng được thượng tọa chủ trì chùa đó nói là chuyến đi này tốt lắm. Lần trước vào đêm trước ngày đi Hoa tổ chức bữa nhậu thịt bò xào lăn với mấy người bạn thân và lũ em, hôm sau lại đưa cả nhà đi ăn phở coi như bữa phở tiễn hành. Như vậy là không được ! Lần này tuyệt nhiên không làm gì, coi như vợ chồng Hoa vẫn ở nhà, chỉ đi chơi đâu đây rất gần, thế mới được, chuyến đi như vậy mới chót lọt.
Trong khi bà nội luôn luôn niệm Phật, bà Giáo đi lật đật và vấp vào bất kỳ cái gì hơi cao một chút (bà có nhìn thấy gì đâu, bà chỉ nhìn chăm chăm vào cái giây phút sầu khổ hai con bà rứt ruột bà ra đi), thì ông giáo cũng luôn luôn lòng nhủ lòng để tự an ủi: “Tuổi trẻ phải có tương lai, phải tranh thủ thời gian mà học hỏi đủ thứ, chúng nó đi là phải, nhất là thằng Lịch đã bị xóa tên trong hộ khẩu. Ở cái xã hội khắc nghiệt này mà không có tên trong sổ hộ khẩu thì sống cũng như chết thôi. Chúng nó phải đi , không có cách nào khác!”
Ông Giáo không chỉ nhủ lòng có thế, dòng tư tưởng của ông còn khơi rộng thêm nhiều, vẫn là để tự an ủi cảnh sinh ly não nề sắp tới: “Gia đình nào bây giờ cũng thế thôi. Cứ việc xé lẻ ra, người nào đi được thì đi. Cha mẹ già yếu thúc giục các con ra đi bằng được, vợ thúc giục chồng hãy đi lập tức khi vừa có dịp, ngày đoàn tụ sẽ tính sau; người cha, người chồng ở những trại tập trung cưỡng bách lao động nhan nhản trên khắp các ngã đường đất nước được bí mật nhắn cho hay tin toàn thể vợ con hay một phần gia đình đã đi thoát, thì mắt sáng lên, bụng mừng rơn, nhẹ hẳn người.
Ông Giáo còn biết chuyện một ông cậu ở ngoài Bắc vô Nam rắp tâm sẽ trách mắng một thằng cháu có sáu con mà cho đi tất, nhưng vào tới Nam, ông là người cởi mở sáng suốt, quan sát những vang bóng một thời của người miền Nam (hoặc đã sống lâu ở miền Nam), ông thông cảm ngay với thằng cháu mà nói rằng: “Bây giờ thì cậu thấy rằng cháu đã hành động đúng.” Ông còn căn dặn thằng cháu: “Ở nhà, cháu hãy ít giao du để tránh trường hợp bị họ gài người vào giăng bẫy. Ra đường, gặp người lạ tung lời phản động, chớ vội bắt ngay kẻo như ếch vồ hoa mà mắc phải lưỡi câu, thiếu gì những công an ngầm chuyên làm việc đó.”
“Sau này nếu có cuộc bầu cử, dù là cử tri được bầu trong phòng kín cũng đừng bầu ngược với chỉ thị. Cháu đừng tưởng họ không biết, vì trong khu phố, hay trong làng xã, họ đã điểm sẵn những người khả nghi, phiếu bầu họ điềm nhiên phát đã có mật mã riêng cho mỗi người, khi kiểm phiếu họ khám phá ra ngay. Cháu mà bị ghi vào sổ đen thì không còn làm ăn gì được với họ đâu.”
Tuổi trẻ phải có tương lai – ông giáo trở lại điệp khúc tự nhủ - chúng nó phải đi là phải, càng sớm càng hay, đi được đứa nào hay đứa đó!
Bố thương Thiện biết là chừng nào, kém gì mẹ đâu, Thiện quý bố, gần gũi với bố kém gì mẹ đâu, vậy mà sao thủ thỉ nói chuyện đi với mẹ, với bà nội (cũng là cách gián tiếp chào từ biệt) thì được, với bố thì chịu, không biết nói gì, không biết nói sao. Đành vậy! Và quả thự cho đến lúc theo chị xách chiếc túi nhỏ ra đi, Thiện vội vã đi thẳng không dám nhìn chào bố lúc đó ngồi ngay bên dương cầm. Chị Hoa cũng vậy. Và cả hai chị em suốt đêm trước không hề chợp mắt.
Ngày hôm đó bà giáo nghỉ trông trẻ, bảo ba má lũ nhóc giữ chúng ở nhà. Hoa Lịch đã chọn ngay nhà mình làm trụ sở cho một tổ gồm mười lăm người, đi làm năm bận, mỗi bận ba người. Giờ khởi hành: 8 giờ sáng. Cứ từng tốp ba người lần lượt tới phiên được báo thì lẳng lặng đi, chuyến cuối cùng dự định vào khoảng sáu giờ chiều. Hai chị em Hoa Thiện đi vào chuyến thứ nhì lúc mười giờ sáng. Ngồi bên dương cầm, ông Giáo kín đáo nhìn hai đứa con cố làm bộ bình tĩnh ngoe nguẩy đi ra khỏi cửa. Tuy ngao ngán, não nề, ông vội vã lên gác để kín đáo theo dõi con gái, con trai dọc theo đường hẻm. Hai đứa đi quá nhanh, ông chỉ kịp bắt hút chúng chừng vài giây, chúng đã rẽ khuất dạng vào đường lớn. Trên gác lúc đó bà nội đang lâm râm đọc kinh Phật, bà Giáo đương vá quần, Chu (cô em gái) đương đọc sách, tất cả cố làm ra vẻ bình thản. Ông Giáo không báo là hai đứa đã đi để mọi người nghĩ là chúng còn ở dưới nhà, cuộc sinh ly chưa tới. Riêng lòng ông hoang vắng, ông bước ra cửa dọc theo hẻm ra đường lớn, cả Sài Gòn cũng như vắng hoa, gió hắt hiu, mây giăng mắc.
Bây giờ thì bà nội niệm Phật cầu nguyện thường xuyên . Bữa cơm chiều không ai ăn, mỗi người ngồi hay nằm một xó cố thu nhỏ người lại, gương mặt đăm chiêu. Hôm sau cơm thổi một bữa mà ăn cả bữa chiều, không hết, vẫn còn cơm nguội. Có tin do những người lái ghe taxi về báo là chuyến đi rất trót lọt, thuyền vượt khu cổ chai thoát ra biển Soài Rạp. Máy nổ rất êm, thuyền đi rất nhanh.
Quả thực chuyến này Lịchi đích thân xông vào can thiệp và tổ chức ở mọi khâu nên chi sơ xuất vẫn còn nhưng ít hẳn. Trước hai ngày đánh (xuất phát vượt biên) Lịch cho gom hết vật dụng, thuốc men, thực phẩm chất vào một ghe chở đi trước, đậu ở một bến riêng đợi. Người đi – tập trung ở nhiều địa điểm – ra đi từng tốp ba người, xuống ghe taxi tại nhiều địa điểm khác nhau rải rác. Một ghe bầu (ghe khá lớn, bên trên phủ lá ngụy trang) được buông neo vào một khúc sông thuận tiện nhất. Vật dụng thuốc men, thực phẩm, người, được chở tới tập trung hết tại ghe bầu. Thuyền lớn xuất phát nhẹ thênh tới đó lái ráp vào, người và tất cả vật dụng tự ghe bầu chuyển lẹ lên, rất kín đáo. Kế đó thuyền tiến vào vùng cổ chai thoát ra biển vào giờ thuận tiện nhất, không có tầu công an tuần cảnh, và ở phía đối diện ra xa với đồn công an có tàu tuần cảnh đậu, dĩ nhiên là phải vào ban đêm rồi, thường là vào khoảng nửa đêm. Trên thuyền lớn, Lịch dự trữ một ngàn lít dầu và sáu trăm lít nước ngọt, ngoài gạo mắm, còn một số lương khô của quân đội Trung Cộng, ăn một cái bánh, uống một ly nước có thể no nửa ngày. Lúc vượt cửa biển, Lịch cho thuyền chạy theo gó 130 – độ hải bàn, kế đó theo gó 150 độ để ra hải phận quốc tế. Lịch nhất định điểu khiển thuyền theo hướng Tân Gia Ba – Nam Dương, hết sức tránh sát vào phía vịnh Thái-Lan Mã-Lai. Hải trình của Lịch tuy xa nhưng bảo đảm được nạn hải tặc.