Chỉ vài giờ sau, bên trong nhà xác tại tầng hầm của Cơ quan
Pháp y Manhattan, bác sĩ Bennett đang kết thúc công việc sau một ngày dài đằng đẵng. Đáng ra anh ta phải thấy kiệt sức, nhưng trên thực tế, anh ta lại vô cùng phấn khích. Đang có một chuyện bất thường nào đó. Cứ như thể các quy luật của cái chết và sự phân hủy thông thường vốn đáng tin cậy giờ đây đang được viết lại, ngay trong căn phòng này. Thứ chết tiệt này vượt ra ngoài những kiến thức y học đã được chứng minh, vượt ra ngoài cả sinh học con người... nó thậm chí có lẽ còn gắn liền với thế giới siêu nhiên.
Theo như kế hoạch, anh ta đã tạm dừng mọi ca khám nghiệm tử thi trong tối nay. Một vài công việc không liên quan thì vẫn được tiến hành, các thanh tra giám định pháp y vẫn đang làm việc ở các phòng tầng trên, nhưng nhà xác là của Bennett. Trong thời gian các bác sĩ CDC ghé qua, anh ta đã để ý đến một vấn đề, một ván đề liên quan đến mẫu máu anh ta đã lấy được, thứ chất lỏng trắng đục đã được anh ta gom vào lọ xét nghiệm. Anh ta đã cất nó vào góc trong cùng của một trong những tủ mát chứa mẫu vật, giấu nó đằng sau vài món đồ thủy tinh như thể đó là món tráng miệng ngon lành cuối cùng đặt trong một tủ lạnh công cộng.
Lúc này, ngồi trên ghế, trước bàn xét nghiệm gần bồn rửa, anh ta mở nắp và quan sát nó. Sau một thoáng, bề mặt của khoảng 180 mi li lít máu trắng này gạn sóng lăn tăn, và Bennett rùng mình. Anh ta hít một hơi thật sâu để lấy lại bình tĩnh. Anh ta nghĩ đến những việc cần làm, rồi lấy từ cái kệ bên trên xuống một cái lọ y hệt. Anh ta rót một luọng nước tương đương vào trong và đặt hai lọ sát cạnh nhau. Anh ta cần chắc chắn rằng chuyển động đó không phải kết quả do rung chấn từ một cái xe tải đi ngang qua hay gì đó tương tự.
Anh ta quan sát và chờ đợi.
Hiện tượng đó lại xảy ra. Chất lỏng trắng sệt gọn sóng lăn tăn - anh ta đã thấy thế - trong khi bề mặt nước loãng hơn rất nhiều thì chẳng hề rung rinh.
Thứ gì đó đang di chuyển bên trong mẫu máu.
Bennett ngẫm nghĩ một hồi. Anh ta đổ nước xuống bồn rửa, rồi từ từ rót thứ máu sền sệt kia từ bình này sang bình nọ. Chất lỏng này trông như xi rô và chảy từ từ nhưng gọn ghẽ. Anh ta không thấy có gì trôi theo dòng chảy nhỏ. Đáy của lọ đầu tiên vẫn bám một lóp máu trắng mỏng, nhưng anh ta chẳng thấy gì ở đó.
Anh ta đặt lọ mới xuống, rồi lại quan sát và chờ đợi.
Anh ta không phải quan sát quá lâu. Bề mặt gọn sóng lăn tăn và Bennett suýt chút nữa nhảy bật khỏi ghế.
Rồi anh ta nghe thấy một tiếng động phía sau, một tiếng sột soạt hoặc xào xạc. Anh ta giật mình quay người lại. Đèn trần rọi xuống các bàn thép không gỉ trống tron sau lưng anh ta, mọi bề mặt đều đã được lau chùi, những rãnh thoát nước dưới sàn đã được dọn sạch. Những nạn nhân của chuyến bay 753 đã được khóa kín bên trong phòng lạnh phía bên kia nhà xác.
Chuột, chắc vậy. Họ chẳng tài nào đuổi hết bọn chuột bọ ra khỏi tòa nhà - và họ đã thử mọi cách. Trên tường. Hay dưới rãnh thoát nước trên sàn. Anh ta lắng nghe hồi lâu, rồi quay trở lại với cái lọ.
Anh ta lại rót chất lỏng từ lọ này sang lọ khác, nhưng lần này chỉ rót một nửa. Lượng máu trong mỗi lọ gần như bằng nhau. Anh ta đặt chúng bên dưới đèn trần và quan sát bề mặt trắng đục hòng tìm kiếm một dấu hiệu của sự sống.
Đây rồi. Trong bình đầu tiên. Lần này có một tiếng tọp, gần giống tiếng một con cá nhỏ đóp nước trên mặt hồ đục ngầu.
Bennett quan sát lọ còn lại cho tới khi cảm thấy hài lòng, và rồi đổ nó xuống cống. Anh ta lặp lại quá trình, một lần nữa chia đôi lượng chất lỏng vào hai lọ thủy tinh.
Tiếng còi ré lên ngoài phố khiến anh ta giật mình. Nó qua đi, và rồi thay vì một bầu không khí yên lặng theo sau, anh ta lại nghe thấy tiếng động. Một âm thanh như tiếng di chuyển, phía sau. Anh ta lại quay ra sau, giờ cảm thấy mình vừa hoang tưởng vừa ngớ ngẩn. Căn phòng trống không, nhà xác đã được tiệt trùng và tĩnh mịch.
Tuy nhiên... một thứ gì đó đang tạo ra âm thanh kia. Anh ta đứng dậy khỏi ghế, im lặng, quay đầu khắp phía để tìm ra nguồn âm thanh.
Trực giác mách bảo anh ta hướng về phía cánh cửa thép của phòng lạnh. Anh ta tiến thêm vài bước lại gần nó, tập trung mọi giác quan để nghe ngóng.
Một tiếng sột soạt. Một tiếng lạch cạch. Có vẻ như từ bên trong. Anh ta đã ở dưới chỗ này đủ lâu để không còn thấy sợ hãi khi tiếp cận xác chết... nhưng rồi, anh ta chọt nhớ tới những dấu hiệu kỳ lạ ở những thi thể này. Rõ ràng, những mối lo ấy đã kéo anh ta trở lại với những điều kiêng kỵ cơ bản của con người liên quan tới cái chết. Mọi thứ liên quan tới nghề nghiệp của anh ta đều đối lập với bản năng của một con người bình thường. Cắt mổ tử thi. Làm ô uế xác chết, tách da mặt khỏi sọ. cắt rời các cơ quan và lột da bộ phận sinh dục. Anh ta mỉm cười một mình trong căn phòng trống. Vậy ra, rốt cuộc anh ta cũng bình thường như bao người.
Tâm trí đang đánh lừa anh ta. Có lẽ là một sự cố nhỏ ở quạt làm mát hay sao đó. Có một nút an toàn bên trong phòng lạnh, một nút đỏ lớn, phòng trường họp ai đó vô tình bị mắc kẹt bên trong.
Anh ta quay trở lại với những cái lọ. Quan sát chúng, đợi xem có thêm chuyển động nào không. Anh ta ước gì lúc trước mang theo laptop xuống đây để ghi lại suy nghĩ và cảm tưỏng của mình.
Tọp.
Lần này anh ta đã chuẩn bị sẵn tinh thần, tim anh ta nẩy lên nhưng cơ thể vẫn ở nguyên chỗ. vẫn lọ đầu tiên. Anh ta đổ lọ còn lại đi và chia đôi chất lỏng này lần thứ ba, xấp xỉ 30 mi li lít mỗi lọ.
Trong lúc đổ, anh ta hình như thấy thứ gì đó trôi theo dòng chất lỏng từ lọ thứ nhất sang lọ thứ hai. Thứ gì đó rất mảnh, không dài quá bốn phân - nếu quả thật anh ta đã nhìn thấy thứ anh ta nghĩ là mình đã thấy...
Một con giun. Một con sán. Bệnh ký sinh chăng? Có rất nhiều ví dụ về những loài ký sinh tái tạo hình dáng vật chủ để phục vụ cho mục đích sinh sản của chính nó. Liệu đây có phải là lời giải cho những thay đổi bất thường sau khi chết mà anh ta đã nhìn thấy trên bàn khám nghiệm?
Anh ta giơ cái lọ đang cần nghiên cứu lên, lắc nhẹ thứ chất lỏng trắng ít ỏi dưới ánh đèn. Anh ta quan sát bên trong cẩn thận, kỹ càng... và thật vậy... không chỉ một, mà tới hai lần, thứ gì đó trườn bò bên trong. Ngoe nguẩy. Mảnh như một sợi dây và trắng như màu chất lỏng xung quanh, di chuyển rất nhanh.
Bennett cần phải tách riêng nó. Ngâm nó trong formol, và nghiên cứu, nhận dạng nó. Nếu đã có được một, anh ta sẽ có hàng chục, có khi hàng trăm, hay có khi... ai mà biết được là bao nhiêu, cái thứ đang di chuyển bên trong những cơ thể khác trong...
Một tiếng rầm lớn từ phòng lạnh khiến anh ta giật bắn mình, để tuột mất cái lọ đang cầm trên tay. Nó roi xuống bàn, nhưng không vỡ, mà thay vào đó bật nẩy lên và roi đánh xoảng vào bồn rửa, đổ tung tóe chất đựng bên trong. Bennett bật ra một tràng chửi rủa, tìm kiếm con giun trong bồn rửa bằng thép không gỉ. Chợt anh ta cảm thấy mu bàn tay trái âm ấm. Một phần máu trắng đã bắn vào anh ta, và giờ đang châm vào da thịt anh ta đau nhói. Không cháy, nhưng ăn da nhẹ, đủ để thấy đau. Anh ta vội xịt nước lạnh lên và chùi nó lên áo choàng phòng thí nghiệm trước khi nó kịp gây tổn thương cho da.
Rồi anh ta quay ngoắt người lại, hướng về phía phòng lạnh. Tiếng rầm anh ta vừa nghe thấy chắc chắn không phải do trục trặc điện, mà nghe giống như thể hai xe cáng đâm sầm vào nhau hon. Không thể nào... và con giận của anh ta lại trỗi dậy. Con giun của anh ta vừa biến mất xuống cống. Anh ta sẽ lấy một mẫu máu khác, và tách riêng con ký sinh này. Phát hiện này là của anh ta.
vẫn đang chùi bàn tay lên vạt áo khoác, anh ta bước tới cánh cửa và kéo tay nắm, mở khóa buồng lạnh. Một luồng không khí lạnh hôi thối thổi ập vào anh ta khi cánh cửa mở toang.
***
Joan Luss, sau khi giải thoát cho chính mình và những người còn lại khỏi khu cách ly, thuê một chiếc xe tới thẳng căn nhà nghỉ cuối tuần ờ New Canaan, Connecticut, của một trong những người đồng sáng lập công ty luật của cô ta. Cô ta đã đề nghị tài xế dừng lại hai lần để có thể nôn ra ngoài cửa sổ. Tổng họp của bệnh cúm và căng thẳng. Nhưng không việc gì. Giờ đây cô ta vừa là nạn nhân vừa là luật sư. Bên bị hại lẫn luật sư khỏi tố. Đấu tranh đòi bồi thường cho các gia đình có nạn nhân thiệt mạng và cho bốn người may mắn sống sót. Công ty luật hàng đầu Camins, Peters và Lilly có thể kỳ vọng hưởng bốn mươi phần trăm trong khoản bồi thường lớn nhất của một công ty từ trước đến nay, lớn hơn cả vụ Vioxx, hay thậm chí là vụ WorldCom.
Joan Luss, cổ đông.
Ta cứ nghĩ cuộc sống tại Bronxville đã ổn lắm rồi cho tới khi lái xe tới New Canaan. Bronxville, nhà của Joan, là một khu dân cư cây cối xanh tun tại hạt Westchester, cách trung tâm Manhattan hai tư cây số về phía Bắc, hai tám phút đi tàu Metro-North. Roger Luss làm về mảng tài chính quốc tế cho công ty Clume và Fairstein, và đi công tác nước ngoài gần như hằng tuần. Joan từng đi du lịch khá nhiều, nhưng cô ta đã phải ngừng lại sau khi sinh con, bởi làm thế không hay ho gì cho lắm. Nhưng cô ta nhớ khoảng thời gian đó, và đã tận hưởng trọn cả tuần vừa qua tại Berlin, ở khách sạn Ritz-Carlton trên quảng trường Potsdamer Platz. Cô ta và Roger, do quá quen với cuộc sống trong khách sạn, đã bắt chước cách sống đó tại chính căn nhà của họ, với sàn sưỏi trong phòng tắm, một phòng xông hơi ở tầng dưới, đặt mua hoa tươi hai lần mỗi tuần, chăm sóc vườn bảy ngày một tuần, và đương nhiên có cả quản gia và thợ giặt. Tất cả mọi thứ, chỉ còn thiếu người dọn giường và một cái kẹo trên gối vào buổi đêm.
Việc gắn bó với Bronxville vài năm trước, dù nơi đây thiếu những công trình xây dựng mới và có mức thuế cao khủng khiếp, là một bước tiến lớn đối với họ. Nhưng giờ đây, sau khi đã trải nghiệm New Canaan - nơi người cộng sự chính Dory Camins đang sống như một vị vua thời phong kiến trong một biệt thự ba căn với đầy đủ hồ nuôi cá cảnh, chuồng ngựa và một bãi cưỡi ngựa - thì Bronxville, đối với cô ta, lại có vẻ kỳ quặc, tỉnh lẻ, thậm chí có phần... mệt mỏi.
Giờ đã ở nhà, cô ta chỉ vừa tỉnh dậy sau giấc ngủ chập chờn lúc chiều muộn. Roger vẫn đang ở Singapore, và cô ta cứ không ngừng nghe thấy những tiếng động trong nhà, những tiếng động cuối cùng đã dọa cô ta đến tỉnh cả ngủ. Lo lắng khôn người. Cô ta đổ thừa cho cuộc họp, có lẽ sẽ là cuộc họp lớn nhất đòi cô ta.
Joan ra khỏi thư phòng, bám tường bước xuống tầng, đi vào bếp đúng lúc Neeva, bà vú tuyệt vòi của bọn trẻ, đang dọn dẹp đống thức ăn roi vãi sau bữa tối, dùng một mẩu khăn ướt quét những vụn bánh mì vương trên bàn. "ôi, Neeva, tôi có thể làm việc đó được mà," Joan nói, chỉ cho có lệ, rồi bước thẳng tới tủ kính cao cất thuốc. Neeva là một bà lão người Haiti sống ở Yonkers, cách đó một thị trấn. Bà đã hơn sáu mươi tuổi, nhưng về cơ bản trẻ như người không có tuổi, luôn mặc váy hoa dài tới mắt cá chân và đi đôi giày mềm Converse thoải mái. Neeva là một nhân tố thiết yếu giúp giữ gìn sự bình yên trong gia đình Luss. Họ là một nhóm người bận rộn, Roger thì công tác, Joan thì dành quá nhiều thời gian trên thành phố, và bọn trẻ thì tất bật với trường học và các chương trình của chúng, ai cũng tỏa đi bốn phương tám hướng. Neeva là bánh lái của gia đình, và cũng là vũ khí bí mật của Joan trong việc giữ gìn nhà cửa.
"Trông cô không được khỏe lắm, Joan."
"Joan" và "không" phát âm nghe như "Jon" và "khôn" theo giọng vùng đảo quê hương của Neeva.
"Ôi, tôi chỉ hơi mệt thôi." Cô ta uống vài viên Motrin cùng hai viên Flexerils và ngồi xuống đảo bếp, mở tờ tạp chí House Beautiful.
"Cô phải ăn gì đó đi," Neeva nói.
"Nuốt xuống đau lắm," Joan nói.
"Vậy thì ăn xúp nhé," Neeva đề nghị, và bắt đầu đi lấy xúp cho cô ta.
Đối với tất cả bọn họ, chứ không chỉ với lũ trẻ, Neeva chẳng khác gì một người mẹ. Và tại sao Joan lại không nên có một người chăm sóc mình cơ chứ? Có Chúa biết, mẹ đẻ của cô ta - đã hai lần ly dị, sống trong một căn hộ ở Hialeah, Florida - chẳng thể đáp ứng nhiệm vụ đó. Và phần tuyệt vòi nhất ư? Khi tính lẩm cẩm của Neeva trở nên quá đỗi khó chịu, Joan chỉ cần cho bà đi làm mấy việc lặt vặt cùng bọn trẻ. Sự sắp đặt. Hoàn hảo. Nhất trần đòi.
"Tôi có nghe nói về cái máy bay đó." Neeva rời mắt khỏi dụng cụ mở nắp lon và ngước nhìn Joan. "Không ổn. Một thứ ma quỷ."
Joan mỉm cười với Neeva và sự mê tín vặt vãnh đáng yêu miền nhiệt đói của bà - nụ cười đột ngột tắt ngúm bởi một cơn đau xương hàm dữ dội.
Trong khi bát xúp đang quay trong cái lò vi sóng kêu vo vo, Neeva bước tới nhìn Joan, đặt bàn tay nâu thô ráp lên trán Joan, sờ vùng cổ của Joan bằng những ngón tay son móng xám. Joan rụt lại vì đau.
"Sưng quá," Neeva nói.
Joan gấp cuốn tạp chí. "Có lẽ tôi nên trở lại giường."
Neeva lùi lại, nhìn cô ta bằng ánh mắt kỳ lạ. "Cô nên trở lại bệnh viện."
Nếu không phải đang bị đau hẳn Joan đã cười phá lên. Trở lại Queens ư? "Tin tôi đi, Neeva. Tôi sẽ khá hơn nhiều khi được bà chăm sóc ở đây. Hơn nữa - cứ tin tồi đi, tôi biết quá rõ ấy chứ. Toàn bộ vụ bệnh viện đó là một mánh bảo hiểm phục vụ cho hãng hàng không. Tất cả là vì lọi ích của họ - không phải của tôi."
Trong lúc xoa bóp cái cổ sưng đau của mình, Joan mường tượng ra vụ kiện sắp tói, và một lần nữa cô ta lại lên tinh thần. Cô ta liếc nhìn quanh bếp. Thật buồn cười làm sao khi căn nhà đã được cô ta dành rất nhiều thời gian và tiền bạc để bày biện và tân trang lại có thể đột nhiên có vẻ... tồi tàn đến vậy.
Camins, Peters, Lilly... và Luss.
Rồi lũ trẻ ùa vào bếp, Keene và Audrey, mếu máo vì tranh giành đồ choi gì đấy. Giọng chúng oang oang trong đầu Joan tới mức cô ta chỉ muốn vả mỗi đứa một cái cho chúng bay tới phía bên kia bếp. Nhưng cô ta đã cố gắng làm đưọc cái việc cô ta vẫn luôn làm, biến con giận dữ với lũ con thành một thái độ nhiệt tình giả tạo, như dựng lên một bức tường vây lấy cái tôi hằn học của mình bên trong. Cô ta gập tờ tạp chí lại và cao giọng để át tiếng bọn trẻ.
"Các con có thích mỗi đứa có một chú ngựa nhỏ và một cái hồ riêng không?"
Cô ta tin rằng món hối lộ hào phóng của mình đã khiến bọn trẻ im lặng, nhưng thực ra, chính nụ cười quái dị cùng ánh mắt trừng trừng đầy ghét bỏ của cô ta mới là thứ khiến chúng phải rún bặt vì sợ hãi.
Đối với Joan, sự im lặng nhất thời quả là một niềm hạnh phúc.
***
Có người gọi tới 911 cho biết có một người đàn ông đang khỏa thân tại lối ra đường hầm Queens-Midtown. Công vụ này được xếp mã 10-50, một vụ gây rối mang tính cá nhân cấp độ ưu tiên thấp. Một tổ cảnh sát đã tới nơi trong vòng tám phút, và chứng kiến một vụ tắc nghẽn giao thông thậm tệ, quá tệ so với một đêm Chủ nhật bình thường. Mấy tài xế bấm còi chỉ cho họ lên phố trên. Kẻ tình nghi, các tài xế hét lên, một gã béo chẳng mang gì trên người ngoài một thẻ đỏ ở ngón chân, đã rời đi rồi.
"Tôi đang chở trẻ con đây này!" Một người đàn ông trong chiếc Dodge Caravan cũ kĩ gào lên.
Cảnh sát Kam, người cầm lái, nói với cộng sự, cảnh sát Lupo, "Chắc lại cái kiểu đại lộ Park rồi. Khách quen của hộp đêm sex. Dùng quá nhiều chất kích thích trước kỳ động dục cuối tuần."
Cảnh sát Lupo tháo dây an toàn và mở cửa xe. "Tôi sẽ điều khiển giao thông. Gã trai kia nhường anh đấy."
"Cảm on nhiều," cảnh sát Karn nói khi cánh cửa xe đóng lại. Anh bật đèn xe cảnh sát và kiên nhẫn đợi đám xe ùn tắc phía trước mở lối cho đi - anh đâu có được trả thêm lương để mà vội vã.
Anh đi qua phố 38, đảo mắt dọc con đường. Chắc chẳng khó phát hiện một gã béo khỏa thân lang thang. Mọi người trên vỉa hè có vẻ ổn, không xôn xao gì. Một công dân tốt bụng đang hút thuốc bên ngoài quán bar nhìn thấy chiếc xe cảnh sát chậm chạp lăn bánh bèn bước tới trước, chỉ tay về hướng phố trên.
Cuộc gọi thứ hai và thứ ba đến, cả hai đều báo có một người đàn ông khỏa thân đang ăn cướp bên ngoài trụ sở Liên Hiệp Quốc. Cảnh sát Kam nhấn ga, quyết tâm chấm dứt vụ này. Anh phóng xe ngang qua dãy cờ phấp phói phía trước của các quốc gia thành viên, tiến tới cửa dành cho khách tham quan ở phía Bắc tòa nhà. Những thanh chắn màu xanh của Sở Cảnh sát New York nhan nhản khắp noi, cũng như các ụ xi măng chống xe bom.
Kam dừng xe trước một nhóm cảnh sát chán nản đứng gần các thanh chắn. "Tôi đang tìm một gã béo khỏa thân."
Một gã cảnh sát nhún vai. "Tôi có thể cho anh vài số điện thoại."
***
Gabriel Bolivar lên limousine trở về tổ ấm mới của mình tại Manhattan, hai ngôi nhà sát vách đang trong quá trình tổng tân trang trên phố Vestry, Tribeca. Sau khi hoàn thành, nơi đây sẽ có ba mươi mốt phòng, diện tích tổng cộng một ngàn ba trăm mét vuông, gồm một bể boi vách khảm, các phòng cho mười sáu người phục vụ, một phòng thu âm dưới tầng hầm, và một phòng chiếu phim hai mươi sáu chỗ.
Mới chỉ có tầng thượng được hoàn thiện và trang bị đồ đạc, được gấp rút hoàn tất khi Bolivar đang trong chuyến lưu diễn châu Âu. Các phòng còn lại ở những tầng dưới mới xong phần thô, vài phòng đã trát vữa, còn lại thì vẫn đang bít vải nhựa cách ly. Mùn cưa bám trên mọi bề mặt và ngóc ngách. Quản lý kinh doanh của Bolivar đã tóm tắt tiến trình xây dựng cho anh ta, nhưng Bolivar chẳng mấy quan tâm tới tiến trình mà chỉ quan tâm tới kết quả cuối cùng của cái cung điện hoang toàng phóng đãng tương lai của mình.
Chuyến lưu diễn "Nước mắt Jesus" của anh ta đã kết thúc không mấy tốt đẹp. Ban tổ chức đã phải làm việc cật lực để lấp đầy khán đài, sao cho Bolivar có thể thành thật tuyên bố khắp nơi rằng mình được choi trước khán đài chật kín khán giả - và quả thực anh ta đã làm vậy. Rồi giấy phép tổ chức tour ở Đức không được chấp thuận, và thay vì đợi cùng những người khác, Bolivar đã thỏa thuận để bắt một chuyến bay thương mại về nhà. Anh ta vẫn đang cảm thấy những di chứng của sai lầm khủng khiếp đó. Thực ra, tình hình đang càng lúc càng tồi tệ.
Anh ta bước vào cổng trước cùng đội vệ sĩ và ba cô gái từ câu lạc bộ. Vài món báu vật lớn của anh ta đã được chuyển vào trong, gồm một đôi báo bằng cẩm thạch đen đứng tạo dáng hai bên tiền sảnh cao sáu mét. Hai thùng trụ màu xanh đựng rác thải công nghiệp được cho là đã từng thuộc về Jeffrey Dahmer cùng mấy bộ tranh đóng khung của Mark Ryden, Robert Williams, Chet Zar - khổ lớn, đắt tiền. Một công tắc lỏng lẻo trên tường điều khiển một chuỗi đèn thi công chạy dọc theo cầu thang cẩm thạch, phía trên là một thiên thần có cánh đang than khóc cỡlớn không rõ lai lịch, được "giải cứu" khỏi một nhà thờ La Mã vào thời Ceausescu.
"Bức tượng đẹp quá," một cô gái nói, ngước nhìn lên các đường nét khuất bóng, mang dấu ấn thời gian của bức tượng thiên thần.
Bolivar vấp chân gần bức tượng thiên thần lớn, ruột gan đau đớn còn hơn cả bị chuột rút, y như bị đấm vào một cơ quan tiếp giáp. Anh ta chộp lấy cánh thiên thần cho khỏi ngã, và mấy cô gái đổ dồn về phía anh ta.
"Cung ơi," họ thủ thỉ, đỡ anh ta đứng dậy, còn anh ta thì cố gắng rũ bỏ con đau. Có ai bỏ thuốc anh ta ở hộp đêm ư? Đã từng có vụ như vậy rồi. Lạy Chúa, trước kia lũ gái đã từng bỏ thuốc anh ta rồi, khao khát đến tuyệt vọng để được làm tình với Gabriel Bolivar - để tiếp cận con người bên dưới lóp trang điểm của một huyền thoại. Anh ta đẩy ba cô gái ra, vẫy tay xua luôn cả đám vệ sĩ, cố gắng đứng thẳng bất chấp con đau. Đội vệ sĩ ở lại bên dưới trong khi anh ta dùng cây gậy mạ bạc của mình lùa các cô gái lên cầu thang uốn lượn lát đá cẩm thạch trắng vân xanh dẫn lên tầng thưọng.
Bolivar để các cô gái tự pha thêm đồ uống và sửa sang lại bản thân trong một phòng tắm khác. Còn anh ta thì khóa mình trong phòng tắm chính và moi đống Vicodin đã đưọc giấu kín ra, rồi uống hai viên nhỏ màu trắng ấy cùng một ngụm rượu scotch. Anh ta day cổ, mát xa vùng họng đau nhức, lo lắng cho giọng của mình. Anh ta muốn mở cái vòi hình đầu quạ và xối nước lên mặt cho tình táo, nhưng lại vướng lóp trang điểm. Nếu thiếu nó thì chẳng ai trong các hộp đêm có thể nhận ra anh ta. Anh ta nhìn chăm chăm vào vẻ tái nhợt bệnh hoạn mà nó tạo ra, lóp đánh bóng làm gò má hốc hác, hai con ngươi đen ma quái do kính áp tròng. Thực ra Bolivar là một gã đẹp trai, dù có trang điểm thế nào cũng không thể che giấu được vẻ đẹp đó, và anh ta ý thức rõ đó là một phần bí mật tạo nên thành công của mình. Toàn bộ sự nghiệp của anh ta nằm ở việc sử dụng và phá hủy cái đẹp. Quyến rũ thính giác bằng một thoáng âm nhạc đỉnh cao để rồi hủy hoại chính nó bằng những tiếng hét thô tục và âm thanh công nghiệp méo mó. Đó chính là thứ được giới trẻ hưởng ứng. Tàn phá cái đẹp. Hủy hoại cái tốt.
Sự thối nát đẹp đẽ. Có thể sẽ là tên cho CD tiếp theo của anh ta.
Thôi thúc kinh tởm đã đạt 600.000 bản ngay trong tuần đầu ra mắt ở Mỹ. Một con số khổng lồ trong kỷ nguyên hậu mp3 này, nhưng vẫn ít hơn gần nửa triệu bản so với Cái hung bạo hoang toàng. Mọi người đang dần trở nên quen với những trò nhố nhăng của anh ta, cả trên và ngoài sân khấu. Anh ta giờ không còn là kẻ chống-lại-tất-cả mà Wal-Mart từng muốn tẩy chay và nước Mỹ sùng đạo - bao gồm cả cha anh ta - thề sẽ phản đối. Thật nực cười làm sao khi cha anh ta cũng đồng tình với Wal-Mart, điều đó càng chứng minh luận điểm của anh ta rằng tất cả mọi thứ đều thật ngu ngốc. Tuy nhiên, ngoại trừ nhóm tôn giáo hữu khuynh, giờ càng lúc càng khó có thứ gì làm người ta sốc. Sự nghiệp của anh ta đang đâm vào ngõ cụt và anh ta biết điều đó. Bolivar chưa đến nỗi phải cân nhắc chuyển sang choi nhạc dân gian cho quán cà phê - mặc dù điều đó có thể gây sốc cho cả thế giới - nhưng mấy trò mổ xẻ, cắn xé và cắt chém trên sân khấu đã không còn mới mẻ gì nữa rồi. Chúng đã bị bắt bài, như một màn diễn lặp đi lặp lại. Anh ta đang chạy theo khán giả thay vì dẫn dắt họ. cần phải chạy đi trước họ, bởi nếu bị họ bắt kịp, anh ta sẽ bị giẫm bẹp.
Nhung chẳng phải anh ta đã đi xa hết mức có thể rồi sao? Giờ còn đi đâu được nữa chứ?
Bolivar lại nghe thấy những giọng nói ấy. Như một dàn họp xướng chưa từng tập cùng nhau, những giọng nói đau đón, nỗi đau dội lại từ chính con đau của anh ta. Anh ta quay người một vòng để chắc rằng không có ai khác trong phòng tắm. Anh ta lắc mạnh đầu. Âm thanh như khi ta áp vỏ ốc vào tai, chỉ khác ở chỗ thay vì nghe thấy tiếng vọng của đại dương, anh ta nghe thấy tiếng than khóc của những linh hồn từ cõi hư vô.
Khi anh ta ra khỏi phòng tắm, Mindy và Sherry đang hôn hít, Cleo thì cầm cốc rưọu nằm trên giường lớn, mỉm cười nhìn trần nhà. Tất cả bọn họ đều giật mình khi anh ta xuất hiện, rồi chuyển thành háo hức chờ đợi hành động tiếp theo của anh ta. Anh ta bò lên giường, cảm thấy ruột gan lộn tùng phèo, thầm nhủ đây chính xác là thứ mình đang cần. Một cuộc truy hoan dữ dội giúp thanh lọc cơ thể. Mindy tóc vàng sán lại đầu tiên, luồn tay vào mái tóc đen óng của anh ta, nhưng Bolivar chọn Cleo, có gì đó ở cô gái này, lướt bàn tay tái nhợt của mình lên lóp da thịt nâu ở cổ cô. Cô cỏi áo để anh ta dễ dàng tiếp cận hơn, rồi trưọt hai bàn tay xuống lóp quần da bên hông anh ta.
Cô nói, "Em đã hâm mộ anh từ khi..."
"Suỵtttt," anh ta nói, hy vọng có thể bỏ qua màn đưa đẩy của đám người hâm mộ mình. Mấy viên Vicodin hẳn đã có tác động tới những tiếng nói trong đầu anh ta, bói giờ đây chúng đã dịu đi, chỉ còn tiếng o o, gần giống dòng điện, có điều lẫn thêm tiếng thình thịch.
Hai cô gái còn lại trườn tới quanh anh ta, bàn tay họ như những con cua, sờ soạng, thăm dò anh ta. Bắt đầu cỏi quần áo của anh ta, để làm lộ ra cơ thể đàn ông bên trong. Mindy lại luồn tay vào tóc anh ta, và anh ta né ra, như thể động tác của cô có gì vụng về. Sherry kêu ré lên thích thú khi mở cúc quần anh ta. Anh ta biết những lời đồn thổi về mình, từ người tình này qua người tình khác, về kích thước phi thường và kỹ năng của mình. Cô lướt tay dọc theo chiếc quần da của anh ta, rồi tới chỗ ấy, và tuy không hề có một lời cằn nhằn thất vọng, nhung cũng chẳng có lấy một tiếng thốt ngạc nhiên. Chẳng có động tĩnh gì dưới đó hết. Dù anh ta có đang bệnh chăng nữa thì điều này cũng thật khó hiểu. Trước đây anh ta từng hết lần này tới lần khác chúng tỏ bản thân trong tình trạng sức khỏe còn kém hơn rất nhiều.
Anh ta chuyển sự chú ý của mình trở lại vai, cổ và họng của cô gái tên Cleo. Xinh xắn - nhưng còn hơn thế nữa. Anh ta cảm thấy trong miệng có một cảm giác nhộn nhạo. Không phải cảm giác buồn nôn, mà có lẽ ngược lại: một nhu cầu trộn lẫn ham muốn tình dục và cảm giác thèm ăn. Nhưng - lớn hơn nhiều. Một khao khát. Một con thèm muốn. Thôi thúc hãm hiếp, cưỡng đoạt, ngốn ngấu.
Mindy nhấm nháp cổ Bolivar, và cuối cùng anh ta cũng quay sang cô, đẩy cô ngã lưng xuống nệm giường - lúc đầu khá thô bạo, nhưng sau đó lại nhẹ nhàng gượng gạo. Anh ta ngả cằm cô gái về phía sau để phơi cổ ra, và mân mê những ngón tay ấm nóng của mình trên cái cổ họng rắn chắc và xinh đẹp của cô. Anh ta cảm nhận sức mạnh của những cơ bắp trẻ trung bên trong cô gái - và anh ta muốn chúng. hơn cả muốn ngực, mông và chỗ kín của cô gái. Tiếng o o đang ám ảnh anh ta chính là xuất phát từ cô.
Bolivar áp miệng vào cổ họng cô gái. Anh ta thử bằng môi, hôn lên, nhưng không mấy thỏa mãn. Anh ta thử nhấm nháp, và trực giác có vẻ đúng, nhưng phương pháp... trong chuyện này có gì đó rất sai.
Anh ta muốn - bằng cách nào đó - hơn nữa.
Tiếng o o giờ làm toàn thân Bolivar rung động, da anh ta như thể một cái trống đang bị nện trong một nghi lễ cổ xưa. Chiếc giường hơi chao đảo và cổ họng cùng lồng ngực anh ta rộn lên cảm giác vừa thèm muốn vừa kinh tỏm. Anh ta thấy đầu óc nùnh mê man trong chốc lát. Như trong con cực khoái, nhưng tiếng rú thất thanh của cô gái khiến anh ta choàng tỉnh. Anh ta đang đưa hai tay giữ cổ cô gái và mút nó với một lực quá mạnh vượt quá cả khái niệm cắn yêu của giới trẻ. Anh ta đang hút cho máu cô gái chảy ra hẳn ngoài da, và cô đang kêu thét còn hai cô gái nửa kín nửa hở kia đang cố kéo cô ra khỏi Bolivar.
Bolivar ngồi thẳng dậy, tự kiềm chế khi nhìn thấy vết bầm đỏ quạch trên cổ họng cô gái - rồi, chợt nhớ ra mình chính là người cầm trịch trong trò làm tình tập thể này, anh ta thể hiện quyền uy.
"Cút đi!" Anh ta quát lên, và họ tuân lời, qươ quần áo ôm vào người, Mindy tóc vàng vừa rên rỉ vừa thút thít suốt đoạn đường leo xuống cầu thang.
Bolivar loạng choạng rời giường vào phòng tắm, tới bên bàn trang điểm. Anh ta ngồi xuống chiếc ghế da và bắt đầu quá trình chăm sóc da hằng tối. Lóp trang điểm đã bong hết - anh ta biết vậy sau khi nhìn tờ khăn giấy - tuy nhiên nhìn trong gương, da thịt của anh ta trông vẫn y như cũ. Anh ta chùi mạnh hon, lấy cả móng tay cào má, nhưng chẳng có gì bong ra nữa. Chẳng lẽ lóp son phấn bám luôn vào da? Hay anh ta đã ốm đến mức này, hốc hác đến mức này?
Anh ta xé áo sơ mi ra kiểm tra toàn thân: da trắng như đá cẩm thạch, chằng chịt những mạch máu màu xanh nhạt cùng vết máu lốm đốm bắn vào.
Anh ta tiếp tục với kính áp tròng, cẩn thận gắp hai cái mắt kính bằng gel mỹ phẩm ra khỏi mắt, và thả chúng vào dung dịch trong hộp chứa. Anh ta chóp mắt vài cái cho dễ chịu, rồi lấy ngón tay dụi dụi mắt, và cảm thấy có gì đó kỳ quái. Anh ta cúi sát gương hon, chóp chóp mắt, nghiên cứu đôi mắt của mình.
Con ngươi đen sì. Như thể vẫn mang kính áp tròng, chỉ có điều là cấu trúc vân nhiều hơn - nhìn thật hon. Và khi chóp mắt, anh ta cảm thấy có hoạt động nào đó khác diễn ra trong mắt. Anh ta đứng bật dậy đối diện với gương, mắt mở trừng trừng, gần như sợ phải nhắm lại.
Một màng nháy đã hình thành bên dưới mí mắt, cái mí mắt thứ hai trong mờ nằm ngay bên dưới mí mắt ngoài, đóng mở nhãn cầu theo phương ngang. Như một lóp màng mờ đục che bên ngoài con ngươi đen, che cái ánh nhìn hoang dại và hãi hùng của anh ta.
***
Augustin "Gus" Elizalde ngồi sụp xuống một cái ghế ở phía cuối nhà hàng, chiếc mũ phớt đặt cạnh người, trên ghế. Đó là một quán ăn mặt phố chật hẹp, cách Quảng trường Thời đại một dãy nhà về phía Đông. Đèn nê ông tạo hình bánh burger phát sáng trên cửa sổ, và khăn trải kẻ ca rô đỏ trắng trên bàn. Một bữa ăn bình dân ở Manhattan. Ta bước vào gọi đồ ở quầy phía trước - sandwich, pizza hay đồ nướng gì đó - rồi trả tiền, lấy đồ và mang vào trong, một căn phòng không cửa sổ nêm chật bàn. Bao quanh họ là những bức tranh tường vẽ thành phố Venice cùng những chiếc thuyền đáy bằng. Felix ngấu nghiên đĩa mì ống trộn phô mai sền sệt. Nó chỉ ăn mỗi món đó, mì ống trộn phô mai, càng có màu cam càng ngon. Gus nhìn xuống chiếc bánh burger béo ngậy đang ăn dở của mình, bỗng nhiên thấy thích Coca hon, thích caffeine và đường, để nạp thêm chút năng lượng vào người.
Cậu vẫn cảm thấy có gì đó không ổn về chiếc xe tải. Gus lật chiếc mũ của mình dưới bàn ăn và kiểm tra lại dải băng nẹp trong lòng mũ một lần nữa. Năm tờ 10 đô đầu tiên cậu có được từ gã bảnh bao đó, cộng thêm 500 đô được trả vì đã lái chiếc xe tải vào thành phố, tất cả vẫn đang nhét trong đó. Cám dỗ cậu. Cậu và Felix có thể vui thú tẹt ga chỉ với một nửa số tiền đó. Và đem một nửa về cho mẹ, số tiền mà bà cần, số tiền bà có thể tiêu.
Vấh đề là, Gus hiểu rõ bản thân. Vấn đề là dừng lại ở một nửa. Vấn đề là đi loanh quanh với số tiền chưa tiêu trong người.
Cậu nên nhờ Felix đưa về ngay lập tức. Giải thoát bản thân khỏi một nửa món hòi này. Lén đưa cho mẹ mà không để thằng anh trai Crispin đê tiện biết. Lũ nghiện ma túy có thể đánh hơi thấy tiền thính ngang đánh hơi ma túy.
Nhưng nghĩ lại, đây là số tiền dơ bẩn. Cậu đã làm một chuyện sai trái mới có được nó - rõ là vậy, mặc dù cậu chẳng biết mình đã làm gì - và đưa số tiền này cho mẹ sẽ giống như trao đi một lời nguyền. Điều nên làm nhất với những đồng tiền dơ bẩn là tiêu thật nhanh, tống khứ nó đi - dễ kiếm, dễ tiêu.
Gus thấy hoang mang. Cậu biết một khi đã uống, cậu sẽ mất hết kiểm soát. Và Felix sẽ như đổ thếm dầu vào lửa. Cả hai sẽ đốt sạch 550 đô trước bình minh, và sau đó, thay vì mang về nhà một điều tuyệt vòi cho mẹ, thay vì đem về nhà một điều tốt đẹp, cậu sẽ lại lết cái xác say xỉn của mình về, với cái mũ toi tả và những cái túi rỗng tuếch.
"Nghĩ gì mà đăm chiêu thế, Gusto," Felix nói.
Gus lắc đầu. "Tao chính là kẻ thù lớn nhất của tao, mày à. Tao như con chó lai chết tiệt hít ngửi ngoài đường chẳng biết ngày mai ra sao. Tao có mặt tối, bạn hiền à, và đôi khi nó kiểm soát tao."
Felix nhấm nháp cốc Coca to đùng. "Thế chúng ta còn làm gì trong cái ổ dầu mỡ này nhỉ? Tối nay ra ngoài gặp gỡ vài cô nàng thôi."
Gus lướt ngón cái dọc theo vành da nẹp trong mũ, trên những tờ đô la gấp lại mà Felix chưa hề biết đến - cho tới lúc này. Chắc chỉ một trăm. Hai trăm, mỗi thằng một nửa. Cứ rút ra đúng từng ấy, đó là giới hạn của cậu, không hơn. "Muốn choi thì cứ chi, nhỉ?"
"Chuẩn mẹ nó rồi."
Gus nhìn sang và thấy một gia đình bên cạnh, ăn vận theo kiểu đi xem hát, họ đứng dậy rời đi mà chưa kịp ăn xong món tráng miệng. Gus đoán là do cách ăn nói của Felix. Cứ nhìn lũ trẻ con Trung Tây này thì rõ, hẳn chúng chưa từng nghe chửi, ừ thì, kệ mẹ chúng nó. Tới thành phố này, và để con mình ởngoài đường sau chín giờ, vậy là anh đang đánh liều cho chúng xem đủ thứ bậy bạ rồi.
Rốt cuộc Felix cũng đã uống xong phần của mình, Gus bèn nhẹ nhàng đặt chiếc mũ giấu tiền lên đầu và họ đi thơ thẩn trong đêm. Họ đang đi bộ trên phố 44, Felix đang hút thuốc lá, thì chợt nghe thấy những tiếng hét. Tiếng la hét ở trung tâm Manhattan chẳng khiến họ phải rảo bước nhanh hon. Cho tới khi họ nhìn thấy một gã béo khỏa thân đang lê bước trên đường, giữa phố 7 và Broadway.
Felix bật cười, suýt chút nữa phụt cả điếu thuốc ra. "Gusto, mày thấy của khỉ đó chứ?" Nó bước vội tới trước, như một người đứng ngoài bỗng dưng được mòi vào xem diễn.
Gus không quan tâm lắm. Cậu bước chậm chạp theo Felix.
Mọi người tại Quảng trường Thời đại đang nhường đường cho gã kia cùng cái mông ẽo ợt của gã. Phụ nữ nửa cười nửa la hét trước cảnh tượng ấy, che mắt, bịt miệng, hoặc cả hai. Một nhóm các cô gái trẻ chụp hình bằng điện thoại. Mỗi khi gã đó đổi hướng, một nhóm người khác lại nhìn thấy dương vật teo tóp, lút trong da thịt của gã, rồi la ó.
Gus tự hỏi lũ cóm đang ở đâu. Nước Mỹ của mày đây: một người anh em da nâu thậm chí còn chẳng thể nấp vào một góc cửa để đái bậy mà không gặp rắc rối, nhưng một gã da trắng thì lại có thể tự do thoải mái khỏa thân diễu hành qua giao lộ của thế giới như vậy.
"Xẻo cái mông thừa của hắn đi," Felix la hét và đi theo sau gã ngu xuẩn nọ, cùng một đám đông khác, rất nhiều người trong đó đang say xỉn, khoái trá thưỏng thức một màn diễn trên đường phố. Ánh đèn trên giao lộ sáng nhất thế giới - Quảng trường Thời đại là nơi giao nhau của các đại lộ, xung quanh là những biển quảng cáo và những hàng chữ chạy chói mắt, như trò đỡ bóng qua dòng giao thông bất tận - khiến gã béo hoa mắt, quay cuồng. Gã xổ tói, lảo đảo như một con gấu rạp xiếc bị xổng chuồng.
Đám đông những kẻ say xỉn, bao gồm cả Felix, cười lớn và lùi lại mỗi khi gã đổi hướng và loạng choạng về phía họ. Lúc này gã đã trở nên táo tợn hon, hoặc hơi hoang mang, như một con thú sợ hãi, rối loạn hơn và dường như đau đón hơn - thỉnh thoảng gã ấh bàn tay vào cổ họng, như bị nghẹt thở. Bầu không khí vẫn rất sôi nổi cho đến khi gã béo tái mét đó lao vào một người phụ nữ đang cười, chộp lấy gáy cô ta. Người phụ nữ hét lên xoay đầu, và một phần đầu cô ta rời ra trong tay gã đàn ông - nhìn thoáng qua cứ như cô ta đã bị xé toạc cả sọ - nhưng đó chỉ là phần tóc nối uốn xoăn màu đen của cô ta.
Vụ tấn công biến không khí từ vui vẻ trở thành sợ hãi. Gã béo xồ ra đường, vẫn cầm theo nắm tóc giả, và đám đông theo sau đuổi bắt hắn, giận dữ, la hét. Felix dẫn đầu, đuổi theo gã béo băng qua đảo phân dòng giao thông. Gus cũng đi theo, nhung tách khỏi đám đông, lách qua những chiếc xe đang bấm còi inh ỏi. Cậu gọi Felix rời khỏi đây, chấm dứt chuyện này đi. Sẽ chẳng có kết thúc tốt đẹp gì.
Gã béo tiến về phía một gia đình đang tập trung trên đảo phân dòng để chuẩn bị tham quan Quảng trường Thời đại buổi tối. Gã buộc họ lùi xuống đường nơi dòng xe cộ đang lao vun vút, và người cha bị đánh một cú rất mạnh khi cố gắng can thiệp. Gus nhận ra đó chính là gia đình trông như những người đi nhà hát lúc ở quán ăn. Người mẹ có vẻ lo che mắt lũ con khỏi người đàn ông trần truồng hơn là lo bảo vệ bản thân. Bà ta bị túm gáy kéo lại sát cái bụng phệ và bộ ngực chảy xệ của gã. Miệng gã điên há ra như thể muốn hôn. Nhưng rồi nó cứ tiếp tục há ra, như miệng một con rắn - rõ ràng đang làm trật các khóp hàm với tiếng rắc nhỏ.
Gus không khoái khách du lịch, nhưng cậu chẳng kịp nghĩ gì mà đã chạy tới phía sau và dùng tay khóa đầu gã. Cậu siết mạnh, cổ gã béo khỏe đến kinh ngạc dưới những ngấn thịt lùng nhùng. Tuy nhiên, Gus có lọi thế, và gã kia thả bà mẹ ra, bà ta ngã về phía ông chồng trước mặt lũ con đang la hét.
Giờ thì Gus bị mắc kẹt. Cậu đã khóa được gã khỏa thân, hai cánh tay to như tay gấu của gã qườ quạng. Felix lao tới phía trước để giúp đỡ... nhưng rồi dừng lại. Nó nhìn chằm chằm khuôn mặt của gã béo như thể có gì rất bất thường. Một vài người sau lưng Felix cũng phản ứng tương tự, những người khác quay mặt đi sợ hãi, nhưng Gus chẳng hiểu nổi tại sao. Cậu có thể cảm thấy cổ gã mấp mô dưới cẳng tay, một cách rất dị thường - gần như thể gã đang nuốt ở hai bên cổ. vẻ ghê tỏm của Felix khiến cậu nghĩ gã béo đang nghẹt thở do bị khóa chặt họng, vì thế cậu nói vòng tay ra một chút - vừa đủ để gã, với thứ sức lực điên cuồng của loài thú vật, quật nhào Gus bằng một khuỷu tay lông lá.
Gus ngã mạnh xuống lề đường, mũ roi khỏi đầu. Cậu quay ra vừa kịp nhìn thấy nó lăn qua vỉa hè xuống đường. Gus bật dậy, đuổi theo cái mũ cùng món tiền của mình - nhưng tiếng thét của Felix khiến cậu quay lại. Gã đó đã điên dại ôm cứng Felix, mồm gã kề cổ Felix. Gus thấy Felix đang rút thứ gì đó từ túi sau, vẩy cổ tay bật mở nó.
Gus chạy về phía Felix trước khi Felix kịp sử dụng dao, thúc mạnh vai vào gã béo, cảm thấy tiếng xương sườn gã nứt ra, đẩy cả tảng thịt ấy ngã lăn. Felix cũng ngã xuống, Gus thấy máu đang chảy xuống từ cổ Felix, và - kinh hoàng hơn cả - là vẻ hãi hùng trên khuôn mặt người bạn của cậu. Felix ngồi dậy, buông con dao để bịt chặt cổ, và Gus chưa thấy Felix như vậy bao giờ. Gus biết chuyện kỳ quái gì đó đã xảy ra - đang xảy ra - chỉ có điều cậu không biết đó là gì. Cậu chỉ biết là mình cần phải hành động để giúp bạn.
Gus với lấy con dao, và cậu nắm được cái chuôi gỗ đen của nó vừa kịp lúc gã đàn ông khỏa thân đứng dậy. Gã đứng đó, tay che miệng như thể đang cố gắng giữ thứ gì đó bên trong. Thứ gì đó đang ngọ nguậy. Máu dính hai bên má béo núc và trên cằm gã - máu của Felix - khi gã tiến về phía Gus với bàn tay rảnh rang vươn dài ra.
Gã béo tới rất nhanh - quá nhanh nếu xét đến thân hình gã - và xô Gus về phía sau, trước khi cậu kịp phản ứng. Đầu trần của Gus đập vào vỉa hè - và trong một thoáng mọi thứ lặng thinh. Cậu thấy những biển quảng cáo trên Quảng trường Thời đại nhấp nháy phía trên đầu cậu như một dòng chất lỏng đang từ từ chảy... một người mẫu trẻ chỉ mặc áo ngực và quần lót nhìn xuống cậu... và rồi gã đàn ông to béo. Sừng sững phía trên cậụ. Thứ gì đó đang cựa quậy trong mồm gã khi gã nhìn Gus bằng con mắt đen sâu hoắm...
Gã quỳ một gối, ọe cái thứ trong cổ họng ra. Màu hồng nhạt và đói khát, nó bắn thẳng vào Gus với vận tốc nhanh như cái lưỡi háu ăn của một con ếch. Gus chém thứ đó bằng con dao, cắt và đâm, như một người đang chiến đấu chống lại một sinh vật nào đó trong con ác mộng. Cậu không biết nó là gì - chỉ biết rằng cậu muốn nó tránh xa khỏi mình, muốn tiêu diệt nó. Gã béo lảo đảo lùi lại, phát ra thứ âm thanh như tiếng rít. Gus cứ tiếp tục chém, lia dao vào cổ, cắt toi tả cổ họng gã.
Gus lùi ra xa, và gã kia đứng lên, tay ôm miệng và họng. Gã chảy máu trắng - không phải đỏ - một chất giống như kem, đậm đặc và sáng màu hơn sữa. Gã vấp chân vào lề đường phía sau và ngã xuống dòng xe cộ đang di chuyển.
Chiếc xe tải cố gắng dừng lại. Đúng lúc tệ nhất. Sau khi đã cán qua mặt gã bằng bánh trước, bánh sau dừng lại ngay trên cái sọ vỡ của gã béo.
Gus loạng choạng đứng dậy. vẫn còn choáng từ cú ngã ban nãy, cậu nhìn xuống lưỡi dao của Felix trong tay. Nó bị nhuộm trắng.
Rồi cậu bị đánh từ phía sau, tay bị bẻ quặt lại, vai bị ấn sát xuống mặt đường. Cậu phản ring như thể gã béo vẫn đang tấn công mình, vật lộn và quẫy đạp.
"Bỏ con dao xuống! Bỏ nó xuống!"
Cậu quay đầu lại và nhìn thấy ba tên cóm mặt đỏ bừng đang đè mình, hai tên nữa ở phía sau đang chĩa súng.
Gus thả con dao. Cậu để mặc hai cánh tay của mình bị vặn ra sau lưng, rồi bị còng lại. Con giận của cậu bùng nổ. Cậu nói, "Giờ mới chịu chường mặt ra hả?"
"Cấm kháng cự!" tên cớm nói, đập mặt Gus xuống vỉa hè.
"Hắn đã tấn công gia đình này ngay tại đây... hỏi họ đi!" Gus quay đầu.
Những vị khách du lịch đã biến mất.
Gần như cả đám đông đã biến mất. Chỉ còn Felix ở lại, ngồi sững sờ trên rìa đảo phân dòng, tay ôm chặt cổ họng, rồi một tên cóm đeo găng xanh đẩy nó ngã xuống, ấn một đầu gối đè lên sườn nó.
Đằng sau Felix, Gus thấy một thứ nhỏ màu đen đang lăn xa hơn ra đường. Mũ của cậu, cùng toàn bộ đống tiền bẩn thỉu vẫn nằm trong vành mũ - một chiếc taxi chầm chậm lướt qua đè bẹp nó. Gus nghĩ, Nước Mỹ của mầy đây.
***
Gary Gilbarton rót cho mình một ly whiskey. Cả gia đình - một gia đình ba thế hệ, cả nội cả ngoại - và bạn bè rốt cuộc cũng đã về hết, để lại cả đống hộp các tông đựng đồ ăn mang đi trong tủ lạnh và mấy cái thùng rác chứa đầy giấy ăn. Ngày mai bọn họ sẽ trở lại với cuộc sống thường nhật, với một câu chuyện để kể.
Cháu gái mười hai tuổi của tôi ở trên cái máy bay đó...
Em họ mười hai tuổi của tôi ở trên cái máy bay đó...
Con gái mười hai tuổi của người hàng xóm của tôi ở trên cái máy bay đó...
Gary cảm thấy anh như một bóng ma đang lang thang trong ngôi nhà chín phòng của mình ở vùng ngoại ô Freeburg rọp cây xanh. Anh sờ các đồ vật - cái ghế, bức tường - nhưng chẳng cảm thấy gì cả. Giờ đây chẳng còn gì quan trọng nữa. Ký ức có thể an ủi anh, nhưng dễ làm anh phát điên hon.
Anh đã ngắt tất cả các điện thoại từ lúc bọn phóng viên bắt đầu gọi điện, muốn tìm hiểu về nạn nhân trẻ tuổi nhất trên máy bay. Để làm câu chuyện nhân văn hon. Cô bé là người thế nào? họ hỏi anh. Sẽ phải mất cả phần đòi còn lại để Gary có thể nói hết về cô con gái Emma của mình trong một đoạn văn. Đó sẽ là đoạn văn dài nhất trong lịch sử.
Anh nghĩ về Emma nhiều hơn về Berwyn, vợ anh, bởi lũ trẻ chính là hiện thân thứ hai của ta. Anh yêu Berwyn, và cô đã ra đi. Nhưng tâm trí anh không ngừng xoay quanh cô con gái nhỏ đã mất của mình, như dòng nước xoáy quanh trong đường ống không bao giờ cạn.
Chiều hôm đó, một người bạn luật sư - có lẽ đã phải đến một năm chưa từng ghé nhà Gary - đã kéo riêng anh vào thư phòng. Anh ta bảo Gary ngồi xuống và nói rằng anh sẽ trở thành người giàu có. Một nạn nhân trẻ như Em, mất cả một quãng đòi rất dài phía trước, hứa hẹn sẽ mang về một khoản đền bù lớn.
Gary không đáp lại. Anh không nhìn thấy dấu hiệu của tiền tài. Anh không tống khứ tên đó ra khỏi nhà. Anh thực sự không quan tâm. Anh chẳng cảm thấy gì.
Anh đã từ chối mọi lời đề nghị từ gia đình và bạn bè muốn ngủ lại qua đêm để anh cảm thấy đỡ cô đon. Gary đảm bảo với tất cả mọi người rằng anh vẫn ổn, mặc dù ý nghĩ tự tử đã bắt đầu hình thành trong anh. Không chỉ là ý nghĩ: một quyết định thầm lặng; một điều chắc chắn. Nhưng để sau đã. Lúc này thì chưa. Sự quả quyết đó như một niềm an ủi. Cũng là "món đền bù" duy nhất còn có ý nghĩa với anh. Giờ đây, cách duy nhất để anh có thể vượt qua toàn bộ chuyện này là việc biết rằng rồi sẽ có một kết thúc. Sau mọi nghi thức. Sau khi khu vui choi tưởng niệm mang tên Emma được dựng lên. Sau khi quỹ học bổng được cấp vốn. Nhưng trước khi anh bán ngôi nhà giờ đã trở thành một nơi đầy ám ảnh này.
Anh đang đứng giữa phòng khách thì chuông cửa vang lên. Vừa qua nửa đêm. Nếu đó là một phóng viên, Gary sẽ tấn công và giết chết hắn ta. Chỉ đon giản vậy thôi. Muốn phá rối nơi này bây giờ ư? Anh sẽ xé xác kẻ soi mới đó.
Anh mở tung cánh cửa... và rồi, con giận dữ kìm nén trong anh ngay lập tức biến mất.
Một bé gái chân trần đang đứng trên tấm thảm trước cửa. Emma của anh.
Gary Gilbarton nhăn mặt đầy hoài nghi, và anh quỳ gối trước con bé. Mặt nó không chút phản ứng, không chút cảm xúc. Gary vươn tay về phía con gái - rồi do dự. Liệu con bé có vỡ tan như bong bóng xà phòng và một lần nữa biến mất mãi mãi?
Anh chạm vào cánh tay con bé, nắm lấy bắp tay nhỏ bé của nó. Lóp vải váy của nó. Con bé là thật. Nó đang ở đây. Anh túm chặt con bé, kéo nó về phía mình, ôm siết nó trong vòng tay.
Anh lùi ra sau, nhìn lại con bé một lần nữa, vén mớ tóc bết bệt khỏi khuôn mặt tàn nhang của nó. Làm sao có thể chứ? Anh nhìn quanh bên ngoài, quét mắt khắp sân trước mù sương để xem ai đã mang con bé về.
Không có chiếc xe nào trên lối vào, không có tiếng động cơ xe rời khỏi.
Con bé có một mình thôi sao? Mẹ nó đâu rồi?
"Emma," anh nói.
Gary đứng dậy dẫn con bé vào nhà, đóng cửa trước và bật đèn. Emma có vẻ bị lóa mắt. Con bé mặc chiếc váy mà mẹ nó đã mua cho chuyến đi, trông nó trưởng thành biết bao lúc xoay vòng cho anh ngắm vào lần đầu thử váy. Đất dính trên một tay áo - có lẽ cả máu. Gary xoay con bé một vòng, nhìn khắp người nó và tìm thấy thêm nhiều vết máu trên đôi chân trần của nó - không giày ư? - và bùn lấm khắp noi, lòng bàn tay trầy xước, cổ bầm tím.
"Đã có chuyện vậy, Em?" anh hỏi con bé, áp lòng bàn tay lên mặt nó. "Làm sao con...?"
Sự nhẹ nhõm lại một lần nữa dâng trào, gần như khiến anh bị choáng, và anh ôm chặt con bé. Anh bế con bé về chỗ sofa, đặt nó ngồi đó. Con bé bị sốc và thụ động đến kỳ lạ. Thật khác với Emma tươi cười, bướng bỉnh của anh.
Anh áp tay lên mặt con bé, đứng như mẹ nó vẫn làm mỗi khi Emma cư xử kỳ lạ, và thấy mặt nó nóng bừng. Nóng đến mức da con bé có cảm giác nhóp nháp, và con bé nhợt nhạt kinh khủng, gần như trong suốt. Anh có thể thấy mạch máu chìm bên dưới, những mạch máu đỏ rực anh chưa từng thấy.
Màu xanh dương trong mắt con bé dường như đã phai. Có lẽ là chấn thương đầu. Nó đang bị sốc.
Anh thoáng nghĩ tới bệnh viện, nhưng giờ anh sẽ không để con bé ra khỏi ngôi nhà này, không bao giờ.
"Con đã về nhà rồi, Em," anh nói. "Con sẽ ổn thôi."
Anh nắm tay con bé kéo nó dậy, dẫn nó vào nhà bếp. Thức ăn. Anh đặt con bé vào ghế cạnh bàn ăn, quan sát nó từ quầy bếp trong khi nướng hai cái bánh quế sô cô la giòn, món khoái khẩu của nó. Con bé ngồi đó, thõng tay xuống hai bên, quan sát anh, không hẳn là nhìn chòng chọc, nhưng cũng chẳng tỏ ra nhận thức được không gian xung quanh. Không có những câu chuyện ngốc nghếch, không có những lời ríu rít về trường lóp.
Bánh nướng xong, anh phủ bơ và xi rô lên rồi đặt đĩa xuống trước mặt con bé. Anh ngồi xuống ghế quan sát. Chiếc ghế thứ ba, chỗ của mẹ nó, vẫn đang trống. Có lẽ chuông cửa sẽ lại reo lên lần nữa...
"Ăn đi," anh bảo nó. Con bé chẳng thèm nhấc dĩa lên. Anh cắt một góc bánh giơ lên trước miệng nó. Con bé không mở miệng.
"Không à?" anh hỏi. Anh làm mẫu, đưa miếng bánh quế vào miệng nhai. Anh thử đưa bánh cho con bé một lần nữa, nhưng phản ứng của nó vẫn như vậy. Một giọt lệ ứa ra khỏi mắt Gary, lăn dài trên má. Đến giờ anh đã hiểu có gì đó cực kỳ không ổn với con gái mình. Nhưng anh gạt phắt nó sang một bên.
Giờ con bé đã ở đây, nó đã trở về.
"Đi nào."
Anh dắt con bé lên tầng tới phòng ngủ của nó. Gary vào trước, còn Emma dừng ở ngưỡng cửa. Nó nhìn căn phòng, có vẻ đã nhận ra sự quen thuộc, nhưng như kiểu từ một ký ức xa xăm. Như ánh mắt một phụ nữ lớn tuổi nhờ phép mầu nào đó được trở về căn phòng ngủ của mình thuở niên thiếu.
"Con cần ngủ," anh nói, lục tìm bộ đồ ngủ trong ngăn kéo tủ.
Con bé vẫn đứng ở cửa, tay buông thõng hai bên.
Gary quay ra cầm theo một bộ đồ ngủ. "Con có muốn bố thay cho con không?"
Anh quỳ gối kéo váy con bé lên, và đứa con gái nhỏ thùy mị của anh chẳng hề phản kháng. Gary thấy thêm nhiều vết trầy xước, cùng một vết bầm tím lớn trên ngực con bé. Bàn chân nó bẩn thỉu, kẽ ngón chân bám đầy máu. Da con bé nóng ran.
Không tới bệnh viện. Anh sẽ không để con bé rời khỏi tầm mắt nữa.
Anh xả đầy bồn nước mát và đặt con bé vào trong. Anh quỳ bên cạnh bồn, nhẹ nhàng lau những vết xước bằng một khăn mặt thấm xà phòng, còn con bé thậm chí chẳng thèm cựa quậy. Anh cho dầu gội và dầu xả lên mái tóc bết bẩn thỉu của nó.
Con bé nhìn anh bằng đôi mắt đen thẳm nhưng chẳng có lấy một chút tình cảm. Có lẽ nó đang bị thôi miên. Sốc. Chấn thương.
Anh có thể giúp con bé khỏe hon.
Anh mặc bộ đồ ngủ cho con bé, lấy chiếc lược từ giỏ rom trong góc và chải thẳng mái tóc vàng của nó. Chiếc lược mắc vào tóc nhưng con bé chẳng hề rụt lại hay phàn nàn.
Mình đang tưởng tượng ra con bé, Gary nghĩ. Mình đã mất đi mối liên hệ với thực tế.
Và rồi, vẫn chải tóc cho con bé: Mình chẳng bận tâm.
Anh lật ga trải giường và cái chăn chần rồi đặt con bé nằm xuống giường, hệt như anh vẫn thường làm hồi nó còn chập chững. Anh kéo chăn tới cổ con bé, cuộn nó vào trong, và Emma nằm yên, trông như đang ngủ, chỉ có điều đôi mắt đen tuyền vẫn mở to.
Gary do dự một lát rồi cúi người hôn vầng trán vẫn đang nóng ran của nó. Con bé có phần giống với hồn ma của con gái anh hon. Một hồn ma anh hoan nghênh chào đón. Một hồn ma anh có thể yêu thương.
Những giọt nước mắt sung sướng của anh làm ướt đẫm lông mày con bé. "Ngủ ngon nhé," anh nói, chẳng nhận được lời đáp nào. Emma nằm yên dưới ánh đèn ngủ hơi hồng, nhìn chằm chằm trần nhà. Không để tâm tới anh. Không nhắm mắt. Không chờ giấc ngủ. Mà chờ đợi... một thứ gì đó khác.
Gary bước dọc hành lang về phòng ngủ của mình. Anh thay quần áo và trèo vào giường một mình. Anh cũng không ngủ. Anh cũng chờ đợi, dù chẳng biết lý do.
Cho đến khi anh nghe thấy nó.
Một tiếng cót két nhẹ ở ngưỡng cửa phòng ngủ. Anh ngửa đầu dậy và nhìn thấy bóng Emma. Cô con gái của anh đang đứng đó. Nó đã đến với anh, bước ra khỏi bóng tối, một hình hài nhỏ bé trong căn phòng tối tăm. Con bé dừng lại cạnh giường anh, há to miệng, như đang chuẩn bị ngáp.
Emma của anh đã trở lại với anh. Đó mới là điều quan trọng.
***
Zack bị mất ngủ. Thật đúng như mọi người vẫn nói: nó rất giống bố. Hiển nhiên nó còn quá nhỏ để bị bệnh này bệnh nọ, nhưng hai vai nó đã phải chịu biết bao gánh nặng. Nó là cậu bé giàu tình cảm, một cậu bé chân thành, và nó đã phải chịu đựng nhiều vì điều đó.
Nó vẫn luôn như vậy, Eph từng bảo nó thế. Nó vẫn thường nhìn ra từ trong cũi với vẻ hơi nhăn nhó lo âu, cặp mắt đen chan chứa cảm xúc xoáy vào người khác. Và vẻ lo âu đó của nó khiến Eph phải bật cười - bởi nó nhắc anh nhớ lại rất nhiều về bản thân - đứa bé lo âu trong cũi.
Trong vài năm trở lại đây, Zack đã cảm nhận được gánh nặng của vụ ly thân, ly hôn, và cuộc chiến giành quyền nuôi con. Phải mất một thời gian nó mới có thể tự thuyết phục bản thân rằng những chuyện đang xảy ra không phải lỗi của nó. Tuy nhiên, trái tim nó biết rõ ràng: bằng cách nào đó nó biết rằng, nếu đào bói đủ sâu, nó sẽ thấy toàn bộ cơn giận dữ đều liên quan tới nó. Hàng năm trời nghe những lời xì xào giận dữ sau lưng... những tiếng tranh cãi trong đêm muộn... bị thức giấc bởi tiếng nện tường cố kìm nén... Chuyện này gây ra không ít tác hại. Và giờ đây Zack, mới chỉ mười một tuổi, đã mắc chứng mất ngủ.
Có nhiều đêm nó bật iPod để át tiếng ầm ĩ trong nhà và nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ phòng ngủ. Những đêm khác, nó mở hé cửa sổ và lắng nghe từng tiếng động nhỏ nhất trong đêm, chăm chú tới mức tai nó ong lên bởi máu dồn về.
Như bao đứa trẻ khác, nó cũng mang một hy vọng muôn thuở rằng, con phố của nó, trong đêm, khi tin chắc không bị ai dòm ngó, sẽ hé lộ những bí ẩn của mình. Những bóng ma, kẻ giết người, cuộc yêu đương nồng nàn. Nhưng tất cả những gì nó từng thấy, cho tới khi mặt trời lại mọc lên từ chân trời, là thứ ánh sáng xanh lập lòe chán ngắt của chiếc ti vi xa xa trong căn nhà đối diện bên phố.
Thế giới chẳng tồn tại anh hùng hay quái vật, dù Zack vẫn luôn tìm kiếm cả hai trong trí tưởng tượng của mình. Con thiếu ngủ ảnh hưỏng xấu tới thằng bé, và nó cứ liên tục ngủ gật trong ngày. Nó bị tách biệt ở trường, và những đứa trẻ khác, chẳng bao giờ đủ khoan dung để bỏ qua một sự khác biệt, đã ngay lập tức tìm ra những biệt danh cho nó. Chúng đặt cho Zack những biệt danh từ phổ biến như "Lù Đù" cho tới khó hiểu hơn như "Xác Chết", mỗi nhóm lại có một cách đặt tên riêng mà chúng ưa thích.
Và Zack rầu rĩ trải qua những ngày tủi nhục cho tới khi bố nó lại tới thăm.
Khi ở cùng Eph, nó cảm thấy thoải mái. Ngay cả khi yên lặng - đặc biệt là khi yên lặng. Mẹ nó hoàn hảo, quá để ý, quá tử tế - những tiêu chuẩn yên lặng của mẹ, tất cả đều "vì lọi ích của nó", nó đều không thể thích ứng, và nó biết, theo một cách kỳ lạ, rằng ngay từ khi được sinh ra, nó đã khiến mẹ thất vọng. Bởi nó là một thằng con trai - bởi nó quá giống bố.
Khi ở cùng Eph, nó cảm thấy tràn đầy sức sống. Nó sẽ kể cho bố những điều mẹ luôn muốn biết: những điều vượt ra ngoài giới hạn mà mẹ thiết tha muốn hiểu. Không có gì quá nghiêm trọng - chỉ là chuyện riêng tư. Đủ quan trọng để không tiết lộ. Đủ quan trọng để dành riêng cho bố, và Zack đã làm như thế.
Giờ đây, nằm thao thức trên tấm ga trải giường, Zack nghĩ về tương lai. Nó biết chắc giờ đây họ sẽ không bao giờ có thể ở bên nhau như một gia đình nữa. Không thể. Nhưng nó tự hỏi việc này có thể tệ tới mức nào. Nói ngắn gọn thì Zack là thế đấy. Luôn luôn tự hỏi: việc này có thể tệ tới mức nào?
Câu trả lời luôn là tệ hơn rất nhiều.
ít nhất thì, nó hy vọng, giờ đây đám người lớn lo toan đó rốt cuộc cũng sẽ biến khỏi cuộc đòi nó. Các bác sĩ trị liệu, thẩm phán, nhân viên công tác xã hội, bạn trai của mẹ. Tất cả bọn họ đều giữ nó như một con tin để đảm bảo những nhu cầu và mục đích ngu ngốc của riêng họ. Tất cả bọn họ "quan tâm" tới nó, tới hạnh phúc của nó, và chẳng ai trong số họ thực sự làm được gì đó nên hồn.
Ban nhạc My Bloody Valentine đã im tiếng trong iPod, và Zack bỏ tai nghe. Bầu trời bên ngoài vẫn chưa sáng, nhưng cuối cùng nó cũng đã thấy mệt. Giờ nó muốn cảm thấy mệt. Nó muốn ngừng suy nghĩ.
Thế nên nó chuẩn bị đi ngủ. Nhưng ngay khi vừa nằm xuống, nó nghe thấy tiếng bước chân.
Bạch-bạch-bạch. Như tiếng chân trần trên mặt đường nhựa. Zack ngó ra cửa sổ và thấy một người đàn ông. Một người đàn ông khỏa thân.
Ông ta đi bộ dưới phố, làn da tái nhợt, ánh trăng sáng soi tỏ những vết rạn da chằng chịt trên cái bụng lép xẹp. Rõ ràng người đàn ông này từng rất mập - nhưng sau đó đã giảm cân nhiều đêh. nỗi giờ đây da ông ta nhăn nhúm đủ kiểu đủ chỗ, nhiều tới độ không thể nhận ra hình hài chính xác của ông ta nữa.
Ông ta già, nhưng trông như người không có tuổi. Cái đầu hói với mái tóc nhuộm xấu xí cừng những vết dãn tĩnh mạch ở chân cho thấy ông ta khoảng bảy mươi tuổi, nhưng bước chân mạnh mẽ và nhịp nhàng của ông ta khiến ta nghĩ tới một người đàn ông trẻ. Zack nghĩ về mọi điều này, để ý đến mọi điều này, do nó rất giống Eph. Mẹ hẳn sẽ bảo nó rời khỏi cửa sổ và gọi 911, trong khi Eph sẽ chỉ ra mọi chi tiết tạo nên hình dáng người đàn ông kỳ lạ kia.
Sinh vật nhợt nhợt đó đi quanh ngôi nhà đối diện bên phố. Zack nghe thấy một tiếng rên nhỏ, và rồi có tiếng lạch cạch ở chỗ hàng rào phía sân sau. Người đàn ông đó quay lại và tiến về phía cửa trước của người hàng xóm. Zack định gọi cảnh sát, nhưng làm thế sẽ khoi lên hàng đống câu hỏi mẹ dành cho nó: nó phải giấu mẹ chứng mất ngủ, nếu không nó sẽ phải khốn khổ chịu đựng những ngày và những tuần gặp bác sĩ để kiểm tra, chưa nói đến việc để mẹ lo lắng.
Người đàn ông này đi ra giữa phố và dừng bước. Cánh tay mềm oặt của ông ta buông thõng hai bên, ngực xẹp lép - ông ta CÓ đang thở không vậy? - mái tóc phất phơ trong cơn gió nhẹ buổi đêm. Từ ngọn đến tận chân tóc đều phoi ra màu hung đỏ xấu xí được nhuộm bởi thuốc nhuộm "Just for Men".
Ông ta ngước nhìn lên cửa sổ của Zack, và trong một thoáng kỳ quái, họ nhìn thẳng mắt nhau. Tim Zack đập rộn. Đó là lần đầu tiên nó nhìn trực diện người đàn ông này. Suốt từ nãy, nó mới chỉ có thể nhìn thấy phần cơ thể nhìn nghiêng hay cái lưng lùng nhùng da, nhưng giờ đây nó đã thấy cả khuôn ngực của ông ta - và một vết sẹo lớn nhọt màu hình chữ Y vắt ngang ngực.
Và đôi mắt của ông ta - chúng là mô chết, đờ đẫn và mờ đục ngay cả dưới ánh trăng dịu. Nhưng tệ hơn cả, chúng mang một thứ năng lượng điên cuồng, đảo khắp mọi phía, rồi dừng lại ở thằng bé - ngước nhìn nó với một cảm xúc khó lòng xác định.
Zack co người lại, rời khỏi cửa sổ, sợ chết khiếp trước vết sẹo và hai con mắt trống rỗng nhìn nó. Cái biểu cảm đó là gì...?
Nó biết vết sẹo đó, biết ý nghĩa của nó. Sẹo mổ tử thi. Nhưng làm sao có thể?
Nó liều mình ngó qua mép cửa sổ, hết sức thận trọng, nhưng con phố giờ vắng tanh. Nó ngồi hẳn dậy để nhìn rõ hon, và người đàn ông đã biến mất.
Có đúng là ông ta đã từng ở đó? Có lẽ con thiếu ngủ giờ đã thực sự tác động lên nó. Nhìn thấy xác chết đàn ông khỏa thân đi bộ dưới phố ư: không phải điều mà một đứa con của đôi vợ chồng ly hôn muốn chia sẻ với bác sĩ trị liệu.
Và nó chợt nghĩ ra: đói khát. Chính thế. Con mắt chết đó nhìn nó với vẻ đói khát dữ dội...
Zack chui vào chăn và vùi mặt vào gối. Sự biến mất của người đàn ông chẳng khiến nó bớt căng thẳng, mà ngược lại là đằng khác. Người đàn ông đó đã đi khỏi, nhưng giờ đây ông ta có thể ở khắp mọi noi. Ông ta có thể ở dưới tầng, đột nhập vào nhà qua cửa sổ phòng bếp. Chẳng mấy chốc ông ta sẽ ở trên cầu thang, leo lên chậm rì rì - có phải nó đã nghe thấy tiếng hước chân của ông ta? - và rồi tới hành lang bên ngoài cửa phòng nó. Khẽ lạch cạch với ổ khóa - cái ể khóa hỏng chẳng cài nổi chốt. Chẳng mấy chốc ông ta sẽ tiến tới giường Zack và rồi - gì nữa? Nó sợ giọng nói và cái nhìn chòng chọc chết chóc của ông ta. Bởi nó có một niềm tin ghê rợn rằng, mặc dù có thể di chuyển, người đàn ông đó không còn sống nữa.
Xác sống...
Zack trốn dưới gối, cả tâm trí lẫn trái tim đều quay cuồng, sợ hãi, cầu nguyện cho bình minh lên và cứu thoát nó. Dẫu sợ hãi trường học đến mức đó, nó vẫn khẩn cầu cho trời chóng sáng.
Phía bên kia phố, trong ngôi nhà hàng xóm, cửa sổ kính vỡ và ánh đèn ti vi tắt phụt.
***
Ansel Barbour thì thào một mình trong khi thơ thẩn trên tầng hai của ngôi nhà. Anh vẫn mặc chiếc áo phông và quần đùi thể thao anh đã mặc lúc cố gắng ngủ ban nãy, và mái tóc rối tung chĩa ra đủ hướng kỳ cục do liên tục bị vò bị bứt. Anh không biết chuyện gì đang xảy ra với mình nữa. Ann-Marie ngờ rằng anh đang bị sốt, nhưng khi cồ mang nhiệt kê tói, anh lại chẳng thể chịu nổi ý nghĩ để cho cây que đầu thép đó mắc vào bên dưới cái lưỡi đang nóng bừng của mình. Họ có một cặp nhiệt độ tai, dùng cho bọn trẻ, nhưng anh thậm chí chẳng thể ngồi yên đủ lâu để đo cho chính xác. Lòng bàn tay đầy kinh nghiệm của Ann-Marie đặt lên trán anh để đo nhiệt - rất nóng - nhưng mà, đáng ra anh nên nói trước với cô.
Cô đã chết điếng, anh dám chắc thế. Cô còn chẳng cố che giấu biểu hiện đó. Đối với cô, bất cứ căn bệnh dù thế nào đi nữa cũng đều là một mối nguy hại cho sự bất khả xâm phạm của gia đình họ. Chỉ mỗi việc trẻ con nôn mửa thôi cũng đã đủ khiến cô xây xẩm hãi hùng, chả khác nào khi người khác đón nhận kết quả thử máu xấu hay sự xuất hiện của một khối u không giải thích đưọc. Chính là nó. Sự khỏi đầu của tấn bi kịch kinh khủng mà cô luôn tin chắc một ngày nào đó sẽ ập xuống với mình.
Sự khoan dung của anh dành cho tính lập dị của Ann- Marie giờ đã gần cạn kiệt. Lúc này đây anh đang phải đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng, và anh cần cô giúp đỡ, chứ không phải bồi thêm căng thẳng. Giờ anh chẳng thể là người mạnh mẽ nữa rồi. Anh cần cô gánh vác trách nhiệm.
Thậm chí lũ trẻ cũng đang tránh xa anh, hoảng hốt bởi ánh nhìn không còn thân quen trong mắt cha chúng, hoặc có lẽ - anh lờ mờ nhận ra - do mùi từ căn bệnh của anh, thứ mùi anh ngửi thấy giống với mùi váng dầu ăn để quá lâu trong một lon thiếc gỉ phía dưới bồn rửa. Thỉnh thoảng anh lại thấy bọn trẻ nấp sau lan can ở chân cầu thang, quan sát anh băng qua đầu cầu thang trên tầng hai. Anh muốn xoa dịu nỗi sợ của chúng, nhưng lại sợ anh sẽ mất kiên nhẫn khi cố gắng giải thích cho chúng hiểu, và rồi sẽ khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hon. Cách chắc ăn nhất để khiến chúng yên tâm là khỏe mạnh hon. Là vượt qua con chóng mặt và đau đón đang dâng trào này.
Anh dừng bước trong phòng ngủ của cô con gái, cảm thấy bức tường tím quá tím, và rồi quay trở lại hành lang. Anh đứng yên lặng ở đầu cầu thang - yên lặng hết mức - cho tới khi lại có thể nghe thấy nó. Tiếng thình thịch đó. Một tiếng đập - khẽ và rất gần. Tách biệt hoàn toàn với con đau đầu đang nện thùm thụp trong sọ anh. Gần như thể... trong một rạp chiếu phim của thị trấn nhỏ, nơi ta có thể nghe thấy tiếng lách cách của phim chạy qua máy chiếu đằng sau lưng trong những khoảng lặng của bộ phim. Nó khiến ta phân tâm, và kéo ta trở lại thực tế rằng đây không phải đời thực, như thể ta và chỉ một mình ta nhận ra sự thật đó.
Anh lắc mạnh đầu, nhăn mặt lại bởi con đau đi kèm động tác đó... cố gắng sử dụng con đau như một liều thuốc giúp loại bỏ những suy nghĩ trong đầu... nhưng tiếng đập đó. Tiếng thình thịch đó. Nó ở khắp mọi noi, khắp xung quanh anh.
Cả lũ chó nữa. Cư xử một cách lạ thường quanh anh. Pap và Gertie, hai chú chó giống Saint Bernard lớn, vụng về. Gầm gừ y như khi có một con vật lạ tiến vào vườn.
Lát sau Ann-Marie tói, một mình, thấy anh đang ngồi bệt dưới chân giường, hai tay ôm đầu như thể ôm một quả trứng dễ vỡ. "Anh nên ngủ đi," cô nói.
Anh túm chặt tóc như đang ghì cương một con ngựa điên và cố kìm nén thôi thúc mắng chửi cô. Có gì đó không ổn trong cổ họng anh, và mỗi khi anh nằm xuống, bất kể lâu hay mau, nắp thanh quản của anh ngừng hoạt động, chặn cứng đường thở, làm anh bị ngạt cho tới khi anh tự bóp cổ mình, gắng sức thở trở lại. Giờ anh chỉ sợ sẽ chết trong giấc ngủ.
"Em phải làm gì đây?" cô hỏi, vẫn đứng ở ngưỡng cửa, ấn lòng bàn tay và ngón tay lên trán.
"Lấy cho anh ít nước," anh nói. Giọng anh rít lên qua cổ họng đau buốt, bỏng rát như lò hấp. "Âm ấm nhé. Hòa một ít Advil hay Ibuprofen - gì cũng được."
Cô không di chuyển. Cô đứng đó nhìn, lo lắng. "Anh không thấy đỡ hơn một chút nào ư...?"
Sự nhút nhát của cô, thông thường sẽ khoi dậy bản năng che chở mạnh mẽ trong anh, giờ chỉ khiến anh tức điên, "Chết tiệt, Ann-Marie, lấy cho tôi một chút nước, rồi đem lũ trẻ ra ngoài hay làm gì cũng được, miễn là để chúng tránh xa khỏi tôiì"
Cô chạy vọt đi, nước mắt giàn giụa.
Nghe thấy họ đã ra tới ngoài sân sau tối tăm, Ansel đánh liều xuống tầng, một bàn tay ghì chặt tay vịn. Cô đã để lại một cốc nước trên quầy bếp cạnh bồn rửa, đặt trên một chiếc khăn ăn đã gập lại, những viên thuốc đã tan làm đục nước. Anh cầm cốc nước bằng hai tay rồi đưa lên miệng, ép mình phải nuốt. Anh rót nước vào trong cổ họng, không cho cổ họng mình có lựa chọn nào ngoài nuốt xuống. Anh uống được một chút trước khi nôn sạch phần còn lại và ho sặc sụa vào cửa sổ trên bồn rửa nhìn ra sân sau. Anh thở hổn hển, quan sát những giọt nước bắn trên ô cửa kính chảy xuống, làm nhòe hình ảnh Ann-Marie đứng sau lũ trẻ đang ngồi trên xích đu, nhìn lên bầu trời tối đen, hai tay khoanh lại, chỉ đôi lúc đẩy Haily đong đưa nhè nhẹ.
Cái cốc trượt khỏi tay anh, đổ vào bồn rửa. Anh rời bếp để tới phòng khách, rồi ngẩn ngơ ngồi sụp xuống chiếc sofa ở đó. Cổ họng anh nghẹn cứng và anh thấy ốm hơn bao giờ hết.
Anh phải quay trở lại bệnh viện. Ann-Marie sẽ phải tự xoay xở một thời gian. Cô có thể làm được nếu như không còn lựa chọn nào khác. Có lẽ điều này thậm chí còn tốt cho cô...
Anh cố tập trung, xác định những gì cần làm trước khi đi. Gertie tiến vào cửa phòng, thở khẽ. Pap theo ngay sau, dừng lại gần lò sưỏi, rồi nằm rạp xuống. Pap bắt đầu khẽ gầm gừ, rồi tiếng thình thịch lại vang lên trong tai Ansel. Và Ansel nhận ra: âm thanh đó đến từ chúng.
Có thật thế không? Anh xuống khỏi sofa, chống hai tay hai chân bò về phía Pap, tới gần hơn để lắng nghe. Gertie rên rỉ và lùi về tường, nhưng Pap vẫn giữ nguyên tư thế nằm rạp căng thẳng. Tiếng gầm gừ lớn dần trong cổ họng nó, và Ansel tóm lấy vòng cổ của nó ngay khi con chó gắng sức nhổm dậy bỏ đi.
Bụp... Bụp... Bụp...
Nó ở trong chúng. Bằng cách nào đó. Ở đâu đó. Thứ gì đó.
Pap rên rỉ vùng ra, nhưng Ansel, một người đàn ông to lớn hiếm khi phải sử dụng đến co bắp của mình, quặp cánh tay còn lại quanh cổ chú chó Saint Bernard, giữ nó trong tư thế khóa đầu. Anh ép tai mình vào cổ con chó, lông của nó chọc vào phía bên trong tai anh.
Phải rồi. Một tiếng mạch đập. Có phải tiếng máu chảy bên trong con vật này?
Chính âm thanh đó. Con chó kêu ăng ẳng, gắng sức thoát ra, nhung Ansel ép mạnh tai hơn vào cổ con chó, cần tìm hiểu cho ra.
"Ansel?"
Anh quay phắt lại - cử động quá nhanh khiến một con đau tê buốt nhói lên - và nhìn thấy Ann-Marie tại cửa, Benjy và Haily đúng sau cô. Haily đang ôm chân mẹ, còn thằng bé thì đứng một mình, cả hai đứa đều nhìn chằm chằm. Ansel nói lỏng tay kẹp và con chó tránh xa ra.
Ansel vẫn đang quỳ. "Em muốn gì?" anh thét lên.
Ann-Marie chết đứng ở cửa, vẻ kinh hoàng. "Em... Em không... Em định dẫn chúng đi dạo."
"Được thôi," anh nói. Anh hơi mềm lòng trước ánh nhìn chằm chằm của lũ trẻ, một con nghẹn cổ nữa khiến anh khản giọng. "Bố vẫn ổn," anh nói với bọn trẻ, và lấy mu bàn tay lau sạch nước bọt. "Bố sẽ ổn thôi."
Anh quay đầu về phía phòng bếp, lũ chó đang ở đó. Mọi suy nghĩ tốt đẹp mờ nhạt dần khi tiếng đập lại một lần nữa nổi lên. Lớn hơn trước. Đập theo nhịp.
Chúng.
Một nỗi hổ thẹn ghê tởm dâng trào trong anh, và anh rùng mình, tì nắm đấm vào thái dương.
Ann-Marie nói, "Em sẽ đưa lũ chó ra ngoài."
"Không!" Anh bừng tỉnh, giơ lòng bàn tay để mở về phía cô, trong lúc vẫn quỳ trên sàn phòng khách. "Không," anh nói một cách bình tĩnh hơn. Anh cố lấy lại hơi thở, cố gắng tỏ ra bình thường. "Chúng ổn mà. Cứ để chứng trong nhà."
Cô do dự, muốn nói thêm gì đó. Muốn làm gì đó, bất cứ điều gì. Nhưng cuối cùng, cô quay người bước ra, kéo theo Benjy phía sau.
Ansel bám tường để đứng dậy và đi vào phòng tắm tầng một. Anh kéo dây bật đèn gắn trên gương, muốn nhìn rõ mắt mình. Trông như hai quả trứng màu ngà tái sáng rực với những gân đỏ. Anh gạt mồ hôi trên trán và môi trên, rồi mở miệng và cố nhìn xuống họng. Anh tưởng sẽ thấy amiđan bị viêm, hay một dạng phát ban sưng trắng gì đó, nhưng nó chỉ tối đen. Anh nhấc lưỡi, bất chấp đau đớn, và nhìn xuống. Lóp đệm phía dưới đỏ và lở loét, viêm tấy, nóng đỏ như một cục than hồng. Anh chạm vào nó và cơn đau buốt như cắt não chạy qua cả hai bên hàm, siết chặt những dây thần kinh cổ. Cổ họng anh co thắt phản ứng lại, gây nên một cơn ho dữ dội, anh khạc lên gương những đốm sẫm màu. Máu, trộn với thứ gì đó trắng, có lẽ là dòm. Một vài vệt có màu gần với màu đen hơn những vệt khác, như thể anh đã mửa ra thứ cặn bã, thối rữa nào đó từ cơ thể mình. Anh với đầu ngón tay giữa quết một trong những đốm màu đen đó đưa lên mũi ngửi, rồi chà nó vào đầu ngón cái. Nó giống như một cục máu phai màu. Anh đưa nó vào đầu lưỡi, và nếm, trước khi kịp nhận ra việc mình vừa làm. Anh nhấm nháp cái cục nhỏ và mềm đó trong miệng, và rồi, sau khi nó đã tan, anh quệt tiếp một đốm nữa từ gương, và lại nếm. Không rõ vị mấy, nhưng lưỡi anh có cảm giác gì đó gần như sự phục hồi.
Anh nhoài người về phía trước, liếm những vệt máu khỏi mặt gương mát lạnh. Lưỡi anh đáng ra phải thấy đau khi làm vậy, nhưng, ngược lại, con đau buốt trong miệng và họng đã dịu đi. Ngay cả phần nhạy cảm nhất bên dưới lưỡi anh cũng đã đỡ đau hẳn, chỉ còn ngứa ngáy. Tiếng đập cũng đã nhỏ dần, mặc dù chẳng thể nào biến mất hẳn. Anh nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trên chiếc gương nhuốm đỏ và cố hiểu ra vấn đề.
Con dễ chịu này ngắn tới phát điên. Cảm giác nghẹt thở như thể cổ họng bị siết chặt bởi một bàn tay khỏe mạnh một lần nữa trở lại, và anh rời mắt khỏi gương, lảo đảo đi ra hành lang.
Gertie rên rỉ và sợ hãi lùi bước trên hành lang, tránh xa anh, rồi phi vào phòng khách. Pap đang cào cửa sau, muốn thoát ra ngoài. Khỉ thấy Ansel bước vào bếp, nó lủi đi mất. Ansel đứng đó, cổ họng rần rật, rồi anh với tay vào ngăn tủ đựng đồ của chó, lấy ra một hộp đồ ăn Milk-Bone. Anh kẹp một miếng vào giữa nhũng ngón tay, như thường lệ, rồi đi vào phòng khách.
Gertie đang nằm dưới chân cầu thang gỗ, thu chân trong tư thế sẵn sàng vọt chạy. Ansel ngồi xuống cái ghế để chân và dứ dứ món ăn. "Lại đây nào, bé," anh nói, bằng giọng thì thào vô cảm đến tan nát con tim.
Cái mũi nhám của Gertie phình ra, đánh hơi trong không khí.
Bụp... bụp...
"Lại đây nào, cô bé. Lây thức ăn của mày đi."
Nó chậm chạp dựng cả bốn chân dậy. Nó tiến lên một bước nhỏ, rồi lại dừng và đánh hoi. Bằng bản năng của mình, nó biết có gì đó không ổn với món hòi này.
Nhưng Ansel vẫn giữ yên miếng bánh quy, khiến nó có vẻ an tâm. Nó bước chậm chạp trên tấm thảm, đầu cúi thấp, mắt cảnh giác. Ansel gật đầu động viên, tiếng đập lớn dần trong đầu anh khi con chó tiến gần.
Anh nói, "Lại đây nào, Gertie, cô bé thân yêu."
Gertie đi tới và thè cái lưỡi dày liếm nhanh cái bánh quy, quẹt lưỡi qua ngón tay anh. Nó làm thế lần nữa, muốn tin tưởng anh, muốn được ăn. Ansel giơ bàn tay còn lại ra đặt lên đầu nó, vuốt ve nó theo cách nó thích. Nước mắt anh trào ra khi anh làm vậy. Gertie cúi mình về phía trước để hàm răng ghé sát lại cái bánh, để đóp lấy nó từ tay anh, và chính lúc đó Ansel him vòng cổ của nó và đè cả người lên nó.
Con chó vùng vẫy bên dưới, gầm gừ cố cắn anh, con hoảng loạn của nó đã làm lộ ra một điểm yếu cho con thịnh nộ của anh. Anh lấy tay ép ngược hàm dưới của nó, rồi nâng đầu nó, khóa mồm nó một cách hiệu quả, sau đó kề miệng vào cái cổ đầy lông của nó.
Anh bập răng vào. Anh cắn ngập qua lóp lông mềm mại, hơi tron của nó, mở ra một vết thương. Con chó tru lên trong khi anh nếm lông của nó, lóp thịt dày mềm mại của nó nhanh chóng biến mất dưới dòng máu nóng ứa ra. Con đau từ vết cắn khiến Gertie, đang nằm bên dưới anh, trở nên điên tiết, nhưng Ansel vẫn siết chặt tay, thậm chí giữ đầu con chó ngẩng lên cao hon, để cổ nó lộ ra hoàn toàn.
Anh đang uống máu con chó. Bằng cách nào đó, uống mà không hề nuốt. Hấp thụ. Như thể có một dạng cơ chế mới đang hoạt động trong họng mà anh không hề hay biết. Anh không tài nào hiểu nổi; anh chỉ có thể hiểu sự thỏa mãn mà anh đang cảm thấy. Hành động đó mang lại một cảm giác dễ chịu do cơn đau được xoa dịu. Và năng lượng. Phải rồi - năng lượng. Theo đúng kiểu rút sự sống từ sinh vật này sang sinh vật khác.
Pap tiến vào phòng, nó tru lên. Một âm thanh trầm tang thương như tiếng kèn fagot, và Ansel phải khiến con chó giống Samt Bernard với đôi mắt buồn rười rượi này thôi làm hàng xóm sợ hãi. Trong khi Gertie đang co giật một cách yếu ớt bên dưới, anh chồm dậy, và bằng tốc độ và sức mạnh vừa được phục hồi, anh rượt theo Pap ngang qua căn phòng, xô đổ một cây đèn trong khi anh nhào tới và ôm chặt con chó lớn, vựng về trong sảnh.
Việc uống máu con chó thứ hai này đem lại cho anh một niềm khoái cảm không thể nào tả nổi. Nó đang đạt đến đỉnh điểm trong anh, như lúc áp suất trong một ống truyền dịch đạt đến mức mong muốn. Chất lỏng dễ dàng được rút ra, lấp đầy trong anh.
Ansel ngồi dậy khi đã xong xuôi, chết lặng trong một thoáng, sửng sốt, mãi mới có thể trở lại với thực tại trong căn phòng. Anh nhìn xuống con chó chết trên sàn, dưới chân anh, và đột nhiên bừng tỉnh, và ớn lạnh. Cảm giác hối hận lập tức dâng trào.
Anh đứng dậy nhìn Gertie, rồi nhìn xuống ngực mình, bấu lấy chiếc áo phông ướt nhẹp máu chó.
Chuyện gì đang xảy ra với mình thếnày?
Vết máu trên chiếc thảm ca rô tạo thành một vệt đen bẩn thỉu. Nhưng không nhiều lắm. Và chính lúc đó, anh nhớ ra mình đã uống nó.
Ansel tiến tới bên Gertie trước, sờ lông nó, biết rằng nó đã chết - biết rằng anh đã giết nó - và rồi, gạt nỗi ghê tỏm sang một bên, anh quấn nó bên trong tấm thảm hỏng. Rên lên một tiếng, anh nâng cả bó đó lên cánh tay bê qua bếp, ra bên ngoài và đi xuống thềm tới chuồng chó ở sân sau. Vào bên trong, anh quỳ xuống, lăn tấm thảm cho con chó giống Saint Bernard nặng trịch roi ra, rồi để Gertie ở đó mà quay trở lại với Pap.
Anh đặt chúng bên cạnh nhau sát vách chuồng, bên dưới bảng treo dụng cụ. Nỗi ghê tởm của anh trở nên xa xăm, lạ lẫm. Cổ anh còn cứng nhưng không đau, họng anh đột ngột nguội lại, đầu óc tỉnh táo. Anh nhìn vào đôi bàn tay nhuốm máu của mình và buộc phải chấp nhận điều anh chẳng thể hiểu nổi.
Chuyện anh đã làm khiến anh khỏe hon.
Anh quay trở vào trong nhà, tới phòng tắm tầng trên. Anh cỏi áo và quần đùi dính máu, thay sang bộ đồ thể thao cũ, biết rằng Ann-Marie và lũ trẻ có thể trở về bất cứ lúc nào. Trong khi đang tìm kiếm đôi giày mềm trong phòng ngủ, anh cảm thấy tiếng đập quay trở lại. Anh không nghe thấy nó: anh cảm thấy nó. Và ý nghĩa của nó khiến anh kinh hãi.
Những tiếng nói tại cửa trước.
Gia đình anh đã về nhà.
Anh xuống lại tầng dưới và ra khỏi cửa sau, vừa kịp để không bị nhìn thấy, đôi chân trần giẫm lên mặt cỏ sân sau, cố trốn chạy khỏi cảm giác rộn ràng đang tràn ngập trong đầu.
Anh hướng về lối xe vào, nhưng rồi nghe thấy những giọng nói trên con phố tối. Anh đã để cửa chuồng mở, và vì thế, trong nỗi tuyệt vọng, anh núp vào bên trong chuồng chó để trốn, đóng cả hai cửa phía sau lưng. Anh chẳng biết làm gì khác.
Gertie và Pap nằm chết sát tường. Tiêhg khóc suýt chút nữa bật khỏi môi Ansel.
Mình đã làm gì thế này?
Mùa đông New York đã khiến những cánh cửa chuồng bị vênh, bởi vậy chúng không còn đóng khít hoàn toàn nữa. Anh vẫn có thể, qua khe cửa, lén nhìn Benjy đang lấy một cốc nước từ bồn rửa phòng bếp, đầu thằng bé ở chỗ khung cửa sổ, bàn tay nhỏ bé của Hailey đang với lên.
Chuyện gì đang xảy ra với mình thế này?
Anh giống như một con chó lên con. Một con chó dại.
Mình đã mắc phải một dạng bệnh dại.
Giờ là những giọng nói. Bọn trẻ đang bước xuống các bậc thềm ở sân sau, được chiếu sáng bởi ánh đèn cảm biến trên trần, vừa đi vừa gọi lũ chó. Ansel quáng quàng nhìn quanh và chộp lấy một cái cào ở góc chuồng, xỏ nó vào các tay nắm cửa một cách nhanh chóng và nhẹ nhàng hết mức. Khóa lũ trẻ bên ngoài. Khóa chính anh bên trong.
"Ger-tie! Pa-ap!"
Giọng chúng không thật sự lo lắng, vẫn chưa. Lũ chó từng đi lạc vài lần mấy tháng trước, bởi vậy Ansel đã phải chôn một cọc thép xuống nền chuồng, để chúng có thể được xích lại an toàn vào ban đêm.
Tiếng gọi của lũ trẻ nhỏ dần đi trong tai anh, nó bị lấn át bởi tiếng đập trong đầu: nhịp đập ổn định của dòng máu tuần hoàn trong tĩnh mạch tươi trẻ của chúng. Những quả tim nhỏ bé đang đập mạnh và khỏe khoắn.
Chúa cả.
Haily tới sát cửa. Ansel thấy đôi giày mềm màu hồng của con bé qua khe cửa dưới và co rúm người lại. Nó thử mở cửa. Cửa kêu cọt kẹt nhưng không mở ra.
Con bé gọi anh trai. Benjy tới và lắc cánh cửa bằng tất cả sức mạnh của một cậu bé tám tuổi. Bốn bức tường lung lay, nhung cái cào chốt cửa vẫn giữ chắc.
Bùm bụp... bùm bụp... bùm...
Máu của chúng. Đang mời gọi anh. Ansel rùng mình và hướng hết sự tập trung vào cọc xích chó phía trước. Nó được chôn sâu gần hai mét, bọc trong một khối bê tông vững chãi. Đủ khỏe để giữ hai con chó giống Saint Bernard trong con dông ngày hè. Ansel nhìn lên giá tường và thấy một chiếc vòng cổ có xích nữa vẫn còn dán nhãn giá. Anh nhớ mình còn có một cái móc cũ ở đâu đó trong đây.
Anh đợi cho tới khi lũ trẻ đã cách một khoảng đủ an toàn rồi mới với tay kéo chiếc vòng cổ bằng thép xuống.
***
Cơ trưởng Redfern, trong trang phục bệnh nhân, được đặt nằm trên cáng bên trong tấm rèm nhựa trong suốt, môi anh ta mở ra trông gần như nhăn nhó, hơi thở sâu nặng nhọc. Do Redfern ngày càng trở nên khó chịu khi đêm xuống, anh ta được cho đủ liều thuốc mê để thiếp đi trong vài giờ. Họ cần anh ta nằm yên để chụp hình. Eph hạ độ sáng đèn trong phòng và bật cái đèn Luma của anh, một lần nữa rọi vào vệt sáng tím trên cổ Redfern, muốn nhìn lại vết sẹo lần nữa. Nhưng giờ đây, khi các ánh đèn khác chỉ sáng lờ mờ, anh thấy một thứ khác. Một chuyển động gọn sóng kỳ lạ chạy dọc lóp da Redfern - hay, đúng hơn là bên dưới da anh ta. Như bệnh khảm, hay vảy nến, ung nhọt xuất hiện ngay dưới da thịt, có màu đen và xám.
Khi anh đưa đèn Luma tới gần để xem xét kỹ hon, vết mờ dưới da phản ling lại. Nó cuộn lại và ngọ nguậy, như thể cố gắng thoát khỏi ánh sáng.
Eph lùi lại, chiếu đèn ra chỗ khác. Khi ánh sáng tử ngoại rời khỏi da Redfern, người đàn ông đang ngủ này trông có vẻ bình thường.
Eph lại rọi đèn, lần này ánh đèn tử ngoại chiếu trên mặt Redfern. Hình ảnh hiện lên dưới ánh sáng, phần dưới da vằn vện, trông giống như mặt nạ. Như thể có con người thứ hai ẩn náu bên dưới khuôn mặt của viên phi công, lão hóa và dị dạng. Một bộ mặt hung dữ, một cái ác đã thức dậy bên trong khi người đàn ông bị ốm đang ngủ. Eph đưa đèn tới gần hơn... và bóng đen bên trong lại gạn sóng, gần như làm thành vẻ mặt nhăn nhó, cố gắng trốn đi.
Redfern mở mắt. Dường như tỉnh giấc bởi ánh sáng. Eph giật mình lùi lại, bất ngờ trước cảnh tượng đó. Lượng thuốc gây mê trong người viên phi công này phải đủ cho hai người. Anh ta đã được gây mê quá sâu để có thể tỉnh lại.
Mắt Redfern mở to, nhìn chòng chọc. Anh ta nhìn thẳng lên trần nhà, có vẻ sợ hãi. Eph hướng đèn đi chỗ khác và tiến vào tầm nhìn của anh ta.
"Cơ trưởng Redfern?"
Môi viên phi công mấp máy. Eph cúi gần hon, muốn nghe rõ điều Redfern đang cố nói.
Anh ta khó nhọc mấp máy đôi môi, "Hắn đang ở đây." "Ai đang ở đây, cơ trưởng Redfern?"
Mắt Redfern nhìn trừng trừng, như thể phải chứng kiến một cảnh tượng kinh khủng đang diễn ra trước mắt.
Anh ta nói, "Ông Đỉa."
***
Hồi lâu sau, Nora quay trở lại, bắt gặp Eph đang đi ra hành lang từ phòng chụp X-quang. Họ đứng nói chuyện trước một bức tường đầy những tranh chì màu của các bệnh nhân nhỏ tuổi thể hiện lòng biết ơn. Anh kể cho cô nghe về những gì mình đã thấy bên dưới da Redfern.
Nora nói, "Ánh sáng tử ngoại từ đèn Luma của chúng ta - chẳng phải đó là ánh sáng cực tím quang phổ thấp sao?"
Eph gật đầu. Anh cũng đang nghĩ về ông lão bên ngoài nhà xác.
"Em muốn xem," Nora nói.
"Redfern giờ đang ở trong phòng chụp X-quang," Eph bảo cô. "Ta cần gây mê anh ta sâu hơn nữa để chụp cộng hưởng từ."
"Em đã có kết quả từ máy bay," Nora nói, "thứ chất lỏng bắn quanh đó ấy. Hóa ra anh đã đúng. Có amoniac và phốt pho..."
"Anh biết mà..."
"Nhưng còn có cả oxalic, sắt và axít ùric. Huyết tương."
"Cái gì?"
"Huyết tương nguyên chất. Và rất nhiều enzim."
Eph đỡ trán như thể đang tự đo thân nhiệt. "Giống trong quy trình tiêu hóa ư?"
"Giờ nó có gọi anh nghĩ đến thứ gì không?"
"Chất thải. Chim, doi. Giống như phân chim, doi. Nhưng làm sao..."
Nora lắc đầu, cảm thấy vừa phấn khích vừa hoang mang. "Ai đó, hay thứ gì đó trên cái máy bay... đã thải ra một bãi lớn trong khoang."
Trong khi Eph đang cố vắt óc suy nghĩ về điều đó, một người đàn ông trong trang phục nhân viên bệnh viện hối hả chạy xuống hành lang, gọi tên anh. Eph nhận ra anh ta, nhân viên kỹ thuật trong phòng chụp MRI.
"Bác sĩ Goodweather... tôi không biết có chuyện gì nữa. Tôi chỉ vừa mới ra ngoài lấy ít cà phê. Tôi đi khỏi chưa tới năm phút."
"Ý anh là sao? Chuyện gì vậy?"
"Bệnh nhân của anh. Anh ta đã biến mất khỏi phòng chụp."
***
Jim Kent đang ở tầng dưới, gần cửa hàng quà tặng đã đóng cửa, tách biệt khỏi những người khác, nói vào điện thoại. "Giờ họ đang chụp chiếu cho anh ta," anh ta nói với người ở đầu dây bên kia. "lình hình anh ta có vẻ tệ đi khá nhanh, thưa ông. Vâng, họ sẽ có ảnh chụp scan sau vài giờ nữa thôi. Không... không có tin gì về những người sống sót khác. Tôi nghĩ ông muốn biết. Vâng, thưa ông, tôi đang ở một mình..."
Anh ta bị phân tâm khi nhìn thấy một người đàn ông dáng cao tóc đỏ mặc bộ đồ bệnh nhân, đang đi loạng choạng xuôi hành lang, kéo lê theo những ống truyền dịch đang cắm trên tay. Nếu Jim không nhầm, đó là cơ trưởng Redfern.
"Thưa ông, tôi... có chuyện gì đó đang xảy ra... tôi sẽ gọi lại cho ông sau."
Anh ta dập máy và gỡ tai nghe khỏi tai, tống nó vào túi áo khoác rồi đuổi theo người đàn ông đang cách vài chục mét. Bệnh nhân này hơi chậm lại một thoáng, quay đầu lại như thể đã nhận thấy kẻ bám đuôi.
"Cơ trưởng Redfern?" Jim nói.
Bệnh nhân này tiếp tục rẽ qua một khúc quanh, và Jim đuổi theo, nhưng rồi khi tới đúng khúc quanh đó, anh ta phát hiện ra hành lang vắng tanh.
Jim kiểm tra các biển gắn cửa. Anh ta thử mở cánh cửa có tấm biển ghi THANG BỘ và ngó xuống khe cầu thang hẹp tại khu vực trung gian giữa các tầng. Anh ta nhìn thấy một ống truyền dịch đang chuyển động xuống các bậc.
"Cơ trưởng Redfern?" Jim gọi, giọng vang vọng qua các tầng cầu thang. Anh ta lớng ngóng vừa xuống tầng vừa rút điện thoại, muốn gọi Eph. Màn hình hiển thị MÂT SÓNG, bởi lúc này anh ta đang ở dưới tầng hầm. Anh ta đẩy cánh cửa thông vào sảnh tầng hầm và, bị chiếc điện thoại làm sao nhãng, chẳng hề nhìn thấy Redfern đang lao tới từ bên hông.
***
Trong lúc đang tìm kiếm khắp bệnh viện, Nora đi qua cánh cửa dẫn từ cầu thang vào sảnh tầng hầm và thấy Jim đang ngồi dựa tường, chân giạng ra. Mặt anh ta có vẻ buồn ngủ.
Cơ trưởng Redfern đang đứng chân trần ngay bên anh ta, tấm lưng trần trong trang phục bệnh nhân quay về phía cô. Thứ gì đó lủng lẳng trên miệng anh ta, nhỏ máu xuống sàn.
"Jim!" cô thét lên, nhưng Jim chẳng có bất cứ phản ứng nào trước giọng nói của cô. Tuy nhiên, cơ trưởng Redfern thì cứng người lại. Khi anh ta quay về phía cô, Nora không nhìn thấy gì trong miệng anh ta. Cô bị sốc bởi màu da anh ta, trước đó khá tái, giờ lại đỏ hồng và căng tràn sức sống. Mặt trước của bộ đồ bệnh nhân nhuốm máu, máu cũng dính cả quanh môi anh ta. Thoạt đầu, cô nghĩ anh ta đã bị lên cơn động kinh. Cô sợ anh ta đã tự cắn phải lưỡi và đang nuốt máu.
Tới gần hon, phán đoán của cô trở nên thiếu chắc chắn hon. Đồng tử của Redfern đen kịt, củng mạc đỏ, trong khi đáng ra phải có màu trắng. Mồm anh ta há ra một cách lạ thường, lỏng lẻo, như thể hàm anh ta vừa được hạ xuống thấp hon. Và anh ta toát ra hơi nóng vô cùng, nóng hơn bất kỳ con sốt tự nhiên thông thường nào.
"Cơ trưởng Redfern," cô nói, liên tục gọi anh ta, cố gắng kéo anh ta thoát khỏi con chấn động. Anh ta tiến về phía cô với vẻ thèm khát trong đôi mắt mờ đục. Jim vẫn ngồi sụp trên sàn, không cử động. Redfern tỏ ra vô cùng hung bạo, và Nora ước gì mình có một thứ vũ khí. Cô nhìn quanh, chỉ thấy một chiếc điện thoại bệnh viện, mã báo động 555.
Cô chộp lấy ống nghe trên tường, chỉ vừa kịp cầm lấy nó trên tay thì Redfern tấn công, ném cô xuống sàn. Nora vẫn giữ ống nghe, dây điện thoại bị kéo tuột khỏi tường. Redfern mạnh đến điên cuồng, anh ta đè lên cô và ghì chặt cánh tay cô xuống mặt sàn bóng loáng. Mặt anh ta căng ra và cổ họng giật giật. Cô nghĩ anh ta sắp nôn vào người cô.
Nora đang la hét thì Eph lao tới từ cửa cầu thang, nhào người vào nửa thân trên của Redfern, khiến anh ta ngã nhoài, tách khỏi Nora. Eph đứng thẳng dậy và giơ một tay cảnh cáo về phía bệnh nhân của mình, lúc này đang lết dậy khỏi sàn. "Đợi đã..."
Redfern phát ra một tiếng rít. Không giống tiếng rắn, mà là tiếng khàn từ cổ họng. Đôi mắt đen vô cảm và trống rỗng khi anh ta hé miệng mỉm cười. Hay có vẻ mỉm cười, dùng chính những cơ mặt đó - chỉ có điều, khi mồm anh ta mở ra, nó cứ mở mãi.
Hàm dưới anh ta xệ xuống và một thứ thịt hồng gì đó, nhưng không phải lưỡi, ngọ nguậy thò ra. Nó dài hon, khỏe hon, phức tạp hon... và uốn éo. Như thể anh ta đã nuốt phải một con mực sống, và một trong những xúc tu của nó vẫn đang qườ quạng một cách vô vọng trong miệng anh ta.
Eph bật lùi lại. Anh chộp lấy giá treo túi truyền dịch để khỏi ngã, và rồi lộn ngược nó lại, sử dựng nó như một cây gậy để giữ không cho Redfern cùng thứ trong miệng anh ta lại gần. Redfern vồ lấy cái giá thép và thứ trong miệng anh ta phóng ra. Nó vươn dài hơn cả cái giá hai mét treo túi truyền dịch, Eph xoay người tránh vừa kịp lúc. Anh nghe thấy tiếng đập vào tường của phần đầu cái thứ đó - hẹp và trông như một cái ngòi chích bằng thịt. Redfern vung cái giá sang một bên, đập nó vỡ thành hai khúc, và Eph cùng nó ngã ngửa vào một căn phòng.
Redfern theo sau tiến vào, đôi mắt đen-đỏ vẫn toát lên vẻ đói khát. Eph điên cuồng tìm kiếm xung quanh bất cứ thứ gì có thể giúp anh giữ tên kia tránh xa khỏi mình, nhưng chỉ thấy một cái khoan trephine đang cắm trong ổ sạc trên kệ tủ. Khoan trephine là dụng cụ phẫu thuật có một lưỡi dao hình trụ xoay tròn thường được dùng để cắt mở hộp sọ trong khám nghiệm tử thi. Lưỡi dao vù vù khỏi động, và Redfern tiến tói, ngòi chích của anh ta rụt lại gần hết nhưng vẫn còn thè ra, những hạch thịt nổi lên ở hai bên. Trước khi Redfern có thể tấn công lần nữa, Eph cố gắng cắt đứt thứ đó.
Anh trượt, nhưng dù sao cũng phạt được một nhát vào cổ người phi công. Máu trắng phụt ra, giống thứ anh đã thấy ở nhà xác, không bắn tóe ra mà chảy xuống phía trước. Eph hạ cưa xuống trước khi lưỡi dao quay vù vù có thể làm bắn thứ đó vào anh. Redfern túm cổ anh, và Eph nhặt vật nặng gần nhất anh có thể tìm thấy, một bình cứu hỏa. Anh dùng đáy bình đập liên hồi vào mặt Redfern - nhắm chủ yếu vào cái đầu chích gớm guốc của anh ta. Eph đập hai phát nữa, đầu Redfern bật ngửa ra sau cú nện cuối cùng, cột sống kêu rắc một tiếng.
Redfern đổ nhào, cơ thể bất động. Eph thả bình cứu hỏa và loạng choạng lùi ra sau, khiếp sợ nhìn việc mình đã làm.
Nora xông tói, cầm sẵn một khúc gãy của giá treo túi truyền dịch làm vũ khí, và rồi thấy Redfern đã nằm một đống. Cô vứt gậy nhào tới Eph, và anh ôm cô trong vòng tay.
"Em ổn chứ?" anh hỏi.
Cô gật đầu, đưa tay lên bịt miệng. Cô chỉ vào Redfern, và Eph nhìn xuống, thấy những con giun đang trườn ra từ cổ anh ta. Những con giun đỏ, như thể đầy ặc máu, tràn ra khỏi cổ Redfern như lũ gián bò khỏi căn phòng khi đèn bật sáng. Eph và Nora quay trở ra cánh cửa đang mở.
"Chuyện quái gì vừa xảy ra vậy?" Eph nói.
Nora bỏ tay ra khỏi miệng. "Ông Đỉa," cô nói.
Họ nghe thấy một tiếng rên từ hành lang - Jim - và lao ra xem tình hình anh ta.