Dị Chủng

Lượt đọc: 3545 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Giáo sư già
cửa hàng đồ cổ và cho vay knickerbocker phố 118 đông spanish harlem

Eph đặt cái thẻ VẬN CHUYỂN MÁU KHẨN CẤP lên trước kính chắn gió và đậu xe tại khu vực đánh dấu chỗ dỡ hàng trên phố 119 Đông, theo Nora và Setrakian đi về phía Nam, qua một khu nhà đến cửa hàng cầm đồ ở góc phố của ông. Cửa ra vào có cổng chắn, cửa sổ được lắp cửa chóp bằng các tấm thép có khóa. Mặc dù tấm biển ĐÓNG CỬA đã được gắn trên cửa kính đè lên biển báo giờ mở cửa, một người đàn ông mặc áo khoác thủy thủ rách rưới, đội mũ len chóp cao - giống kiểu mũ những người theo phong trào Rastafari thường đội, chỉ có điều ông ta không có những lọn tóc tết kiểu dây thừng để nhồi cho căng mũ, nên cái mũ cứ rũ xuống đầu ông ta như chiếc bánh trứng phồng bị đổ - cầm một hộp đựng giày đứng bên cửa, đổi chân trụ liên tục.

Setrakian bước tói, cầm theo chùm chìa khóa lửng lẳng trên một sọi dây, lụi cụi mở hết khóa này khóa kia trên cổng, bắt những ngón tay xương xẩu của ông hoạt động. "Hôm nay không nhận cầm đồ đâu," ông nói, liếc nhìn chiếc hộp trên tay người đàn ông.

"Nhìn này." Từ trong hộp đựng giày, người đàn ông lấy ra một gói bọc khăn ăn bằng vải lanh, mở khăn để lộ ra chín, mười món đồ dùng nhà bếp. "Toàn đồ bạc tốt. Tôi biết ông có mua đồ bạc."

"Vâng, đúng thế." Setrakian, giờ đã mở được cổng, gác tay cầm của cây gậy dài lên vai và chọn một con dao, ướm độ nặng nhẹ, cà ngón tay lên lưỡi dao. Sau khi vỗ vỗ tay vào túi áo khoác, ông quay sang Eph. "Anh có mười đô không, bác sĩ?"

Chỉ mong sớm kết thúc vụ mua bán này, Eph lấy kẹp tiền của mình và rút ra một tờ mười đô. Anh đưa nó cho người đàn ông cầm hộp giày.

Setrakian trả lại đống đồ cho người đàn ông. "Cầm lấy đi," ông nói. "Không phải bạc thật."

Người đàn ông cảm kích nhận của bố thí và cầm chiếc hộp quay đi. "Chúa phù hộ ông."

Setrakian bước vào cửa hiệu, nói, "Ta sẽ sớm biết điều đó thôi."

Eph nhìn số tiền của mình mất hút xuôi con phố, rồi theo bước Setrakian vào trong.

"Đèn ở ngay trên tường kia." ông nói, rồi kéo khít hai cánh cổng xếp và khóa lại.

Nora bật cùng lúc cả ba công tắc, ánh đèn rọi sáng các tủ kính, các bức tường trưng bày và lối vào nơi họ đang đứng. Đó là một cửa hàng nhỏ nằm ở góc phố, hình chiếc nêm, như thể nó đã được một chiếc búa gỗ đóng vào khe giữa những tòa nhà thành phố. Từ đầu tiên mà Eph nghĩ tới là "tạp nham". Cực, cực nhiều thứ tạp nham. Những hệ thống loa stereo cổ. Những đầu đọc đĩa và các thiết bị điện tử lạc hậu khác. Trên tường trưng bày các loại nhạc cụ, trong số đó có một chiếc đàn banjo, một chiếc Keytar - một loại đàn organ đeo người và choi như ghita - từ thập niên 80. Mấy bức tượng thờ và các bộ sưu tập đĩa. Vài máy quay đĩa cổ và bàn hòa âm nhỏ. Một quầy kính có khóa trưng bày những chiếc trâm rẻ tiền cùng những vật trang sức lấp lánh, kém chất lượng. Có cả những cái giá treo quần áo, hầu hết là áo khoác mùa đông có cổ lông.

Có quá nhiều đồ tạp nham tới mức khiến Eph thất vọng. Phải chăng anh đã tốn thời gian quý báu của mình cho một người điên?

"Này," anh nói với ông lão, "một đồng nghiệp của chúng tôi có lẽ đã bị nhiễm bệnh."

Setrakian chống cây gậy ngoại cỡ bước ngang qua anh. Ông đưa bàn tay đeo găng nâng tấm chắn quầy lên và mòi Eph cùng Nora bước qua. "Ta sẽ lên đây."

Cầu thang phía sau dẫn đến một cánh cửa trên tầng hai. Ông lão chạm vào hộp mezuzah[I] trước khi bước qua cánh cửa, rồi ông đặt cây gậy dựa vào tường. Đó là một căn phòng cũ kĩ, trần nhà thấp, thảm mòn vẹt. Có lẽ đồ đạc ở đây đã chẳng hề được di chuyển ba mươi năm rồi.

"Hai người có đói không?" Setrakian hỏi. "Cứ nhìn quanh đi, thể nào cũng tìm thấy thứ gì đó." Setrakian mở nắp một cái hộp đựng thực phẩm nhiều màu, làm lộ ra một hộp bánh Devil Dog đã mở. Ông lấy ra một chiếc, xé lóp giấy bóng kính. "Đừng để bị đuối nhé. Giữ sức đi, hai người sẽ cần nó đấy."

Ông lão cắn một miếng bánh phủ đầy kem trong lúc đi tới phòng ngủ để thay đồ. Eph nhìn quanh căn bếp nhỏ rồi nhìn Nora. nơi này có mùi khá sạch sẽ dù trông có vẻ lộn xộn. Từ trên mặt chiếc bàn ăn chỉ có một ghế ngồi, Nora cầm lên một bức chân dung đen trắng được đóng khung chụp một phụ nữ trẻ tóc đen óng mặc bộ váy sẫm màu giản dị, đang tạo dáng trên một tảng đá lớn tại một bãi biển không người. Ngón tay cô gái đan vào nhau đặt trên đầu gối trần, vẻ mặt rạng rỡ, nụ cười quyến rũ. Eph quay lại chỗ hành lang họ đi qua ban nãy, ngắm nhìn những chiếc gương cũ kĩ treo trên tường - phải có đến hàng tá, đủ loại kích cỡ khác nhau, nứt nẻ và hằn vết thời gian. Sách cũ chất đống hai bên hành lang, khiến lối đi trở nên chật hẹp hon.

Ông lão trở lại sau khi đã thay sang bộ đồ mới, nhưng cùng loại với bộ cũ: một bộ com lê vải tuýt cũ đi cùng áo gi lê, dây đeo quần, cà vạt và đôi giày da nâu đã được đánh bóng tới mòn cả da. Ông vẫn đeo đôi găng hở ngón trên bàn tay tàn tật của mình.

"Tôi thấy là ông sưu tập gương," Eph nói.

"Một số loại nhất định. Những tấm kính cổ hé lộ cho ta biết nhiều điều."

"Giờ ông đã sẵn sàng kể cho chúng tôi biết chuyện gì đang xảy ra chưa?"

Đầu ông lão hơi nghiêng qua một bên. "Bác sĩ, đây không phải điều có thể đơn giản kể ra là được. Nó là điều cần phải được hé lộ." Ông bước qua Eph, tới cánh cửa nơi họ vừa bước vào. "Xin mòi đi theo tôi."

Eph theo chân ông lão xuống cầu thang, Nora đi phía sau. Họ đi qua cửa hàng cầm đồ ở tầng một, qua một cánh cửa khóa nữa tới một cầu thang xoắn ốc dẫn xuống dưới. Ông lão bước từng bước xuống các bậc thang hình tam giác, bàn tay xương xẩu trượt trên tay vịn cầu thang bằng sắt lạnh lẽo, giọng ông vang khắp lối đi hẹp. "Tôi luôn coi mình là một kho tàng về kiến thức cổ, về những người đã khuất và những cuốn sách bị lãng quên. Kiến thức tích lũy dần qua cả đòi nghiên cứu."

Nora nói, "Khi ông chặn chúng tôi lại bên ngoài nhà xác, ông đã nói một số điều. Ông ám chỉ rằng ông biết các xác chết trên máy bay đã không phân hủy theo cách bình thường."

"Đúng vậy."

"Dựa vào đâu?"

"Kinh nghiệm của tôi."

Nora bối rối. "Kinh nghiệm về những vụ tai nạn máy bay khác?"

"Việc họ có mặt trên máy bay là hoàn toàn tình cờ. Thực ra, trước đây tôi đã từng nhìn thấy hiện tượng này. Ở Budapest, ở Basra. Ở Prague, và ở một nơi cách Paris không quá mười ki lô mét. Tôi đã nhìn thấy nó tại một làng chài nhỏ bên bờ sông Hoàng Hà. Tôi đã nhìn thấy nó tại độ cao hai nghìn mét trên dãy núi Altai ở Mông cổ. Và đúng, tôi cũng đã nhìn thấy nó trên lục địa này. Nhìn thấy những dấu vết của nó. Thường nó bị xem như một loại sán, hoặc được giải thích là bệnh dại hay chứng tâm thần phân liệt, điên loạn, hay gần đây nhất, một vụ giết người hàng loạt..."

"Khoan đã, khoan đã. Ông đã bao giờ tận mắt chứng kiến những cái xác phân hủy chậm chưa?"

"Ở giai đoạn đầu thì có."

Eph nói, "Giai đoạn đầu."

Cầu thang xoắn kết thúc tại một cánh cửa khóa. Setrakian lấy một chiếc chìa khóa, tách biệt với những chìa còn lại, đang treo lủng lẳng trên sọi dây chuyền đeo trên cổ ông. Những ngón tay cong queo của ông lão tra chiếc chìa vào hai cái khóa móc, một to, một nhỏ. Cánh cửa mở vào trong, ánh sáng nóng tự động bật lên, và họ theo chân ông tiến vào một căn hầm sáng và sâu hút.

Thứ đầu tiên đập vào mắt Eph là một bức tường treo toàn đồ giáp chiến đấu, từ bộ giáp kỵ sĩ đến áo giáp lưới sắt, hay những tấm giáp cổ và ngực của Samurai Nhật, cùng những thứ thô sơ hơn được làm từ da bện giúp bảo vệ cổ, ngực và háng. Có cả vũ khí: kiếm và dao được gắn trên tường, lưỡi sáng lạnh. Các thiết bị tân tiến hơn để trên một chiếc bàn thấp cũ kĩ và đang được sạc pin. Anh nhận ra cặp kính hồng ngoại và súng bắn đinh đã được cải tiến. Và lại rất nhiều gương, hầu hết đều cỡ bỏ túi, được bố trí để anh có thể thấy chính mình đang hoang mang nhìn chằm chằm căn phòng trưng bày... trưng bày gì nhỉ?

"Cửa hiệu" - ông lão chỉ tay lên tầng trên - "giúp tôi sống khá dư dả, nhưng tôi không đến với công việc kinh doanh này vì ham mê những chiếc radio bán dẫn hay đồ trang sức gia truyền."

Ông đóng cánh cửa phía sau họ, những ánh đèn bao quanh khung cửa vụt tắt. Những bóng đèn cố định chạy theo chiều dọc và chiều dài của khung cửa - những bóng tuýp màu đỏ tía mà Eph nhận ra là đèn cực tím - được bố trí xung quanh cánh cửa như một trường lực ánh sáng.

Để ngăn chặn vi khuẩn xầm nhập vào phòng chăng? Hay để phòng chống một thứ gì đó?

"Không," ông lão tiếp tục. "lý do tôi chọn công việc này là bởi nó cho phép tôi tiếp cận một chợ đen buôn bán những vật phẩm bí truyền, cổ vật hay sách quý. Đồ lậu, nhưng không hẳn là bất họp pháp. Tôi kiếm chúng cho bộ sưu tập cá nhân và các nghiên cứu của mình."

Eph nhìn xung quanh một lần nữa. Căn phòng này trông giống một kho chứa vũ khí nhỏ hơn là một bộ sưu tập đồ cổ. "Nghiên cứu của ông ư?"

"Đúng vậy. Tôi đã nhiều năm làm giáo sư Văn học và Văn hóa dân gian Đông Âu tại Đại học Vienna."

Eph đánh giá ông lão một lần nữa. Đúng là ông có cách ăn mặc như một giáo sư Vienna. "Và ông nghỉ hưu để trơ thành chủ hiệu cầm đồ ở Harlem ư?"

"Tôi không nghỉ hưu. Tôi bị ép nghỉ việc. Bị ruồng bỏ. Một vài thế lực đã chống lại tôi. Tuy nhiên, ngẫm lại, việc ẩn lánh đi khi đó gần như đã cứu sống tôi. Thực ra đó là điều tốt nhất tôi có thể làm." Ông quay mặt về phía họ, đan tay sau lưng, và nói. "Tai họa mà chúng ta đang chứng kiến giai đoạn đầu này đã tồn tại hàng thế kỷ. Hàng thiên niên kỷ. Mặc dù chưa thể chứng minh nhưng tôi ngờ rằng nó đã có từ thời cổ xưa nhất."

Eph gật đầu, không hiểu rõ ý ông, chỉ lấy làm mừng vì cuối cùng mọi sự đã có tiến triển. "Nghĩa là ta đang nói về một loại vi rút."

"Đúng vậy. Kiểu như thế. Một loại bệnh gây tổn hại cả về thể xác lẫn tinh thần." Ông lão đang đứng ở một vị trí mà, từ góc nhìn của Eph và Nora, các thanh kiếm được sắp xếp trên tường xòe ra hai bên người ông như đôi cánh bằng thép lá. "Vậy thì, một loại vi rút? Ehing. Nhưng giờ tôi cũng muốn giới thiệu với hai người một từ khác."

"Là gì vậy?" Eph hỏi.

"Ma cà rồng."

Một từ như vậy, được nói ra bằng giọng nghiêm túc, đọng lại trong không gian một lúc lâu.

"Hai người," giáo sư Setrakian nói, "hẳn đang nghĩ tới một vai diễn cường điệu u ám với chiếc áo choàng lụa đen. Hay một nhân vật đầy quyền năng và tốc độ, với những chiếc răng nanh bị giấu đi. Hay một linh hồn sống nào đó mang gánh nặng của lời nguyền bất tử. Hay... Bela Lugosi gặp Abbott và Costello*[II]’." Nora nhìn quanh căn phòng lần nữa. "Tôi chẳng hề thấy thánh giá hay nước thánh. Cũng không có vòng tỏi."

"Tỏi có một số thành phần miễn dịch đáng quan tâm, và trong vài trường họp nó có thể hữu ích. Vì vậy, sự xuất hiện của nó trong các câu chuyện thần thoại là dễ hiểu về mặt sinh học, theo một mức độ nào đó. Nhưng thánh giá và nước thánh ư?" Ông nhún vai. "Sản phẩm của một thời đã qua. Sản phẩm từ trí tưỏng tượng bị kích động của một tác giả Ai Len thời Victoria, và từ bối cảnh tôn giáo thời đó."

Setrakian đã đoán trước sự nghi ngờ của họ.

"Chúng vẫn luôn tồn tại." ông nói tiếp. "Ấn mình, kiếm ăn. Trong bí mật và bóng tối, bởi vì đó là bản chất của chúng. Có bảy con đầu tiên, đưọc gọi là những Ma cà rồng cổ Đại. Các Chúa Tể. Không phải mỗi con một châu lục. Chúng không sống độc lập mà sống theo nhóm. Mãi tới gần đây - 'gần đây' đối với vòng đòi bất tử của chúng - chúng tản đi khắp các vùng lãnh thổ rộng lớn nhất, như ngày nay ta biết là châu Âu và châu Á, Liên bang Nga, bán đảo Ả Rập, và lục địa châu Phi. Nói cách khác là Cựu Thế giới. Có một sự chia cắt, một cuộc xung đột trong loài của chúng. Bản chất của sự bất đồng này thì tôi không rõ là gì. Chỉ biết rằng, cuộc xung đột này xảy ra trước khi ta khám phá ra Tân Thế giới hàng thế kỷ. Sau đó, việc thành lập các thuộc địa ở châu Mỹ đã mở ra một vùng đất mới màu mỡ. Ba con ở lại Cựu Thế giới, còn ba con tới Tân Thế giới. Cả hai phía đều tôn trọng vùng lãnh thổ của nhóm còn lại, và hòa ước được chấp thuận và duy trì.

"Vấn đề nằm ở con Cổ Đại thứ bảy. Nó là kẻ xảo quyệt đã quay lưng lại với cả hai phe. Mặc dù hiện tại, tôi không thể chứng minh được điều đó, nhưng tính bất ngờ của hành động này khiến tôi tin nó là kẻ đứng đằng sau mọi chuyện."

"Chuyện này," Nora nói.

"Chuyện xâm phạm vào Tân Thế giới này. Phá vỡ thỏa thuận linh thiêng. Chuyện này làm mất cân bằng sụ tồn tại loài của chúng. Một hành động, về cơ bản, khơi mào chiến tranh."

Eph nói, "Một cuộc chiến của ma cà rồng ư."

Setrakian mỉm cười một mình. "Anh đon giản hóa chuyện này vì anh không thể tin. Anh giảm bớt, giản luọc nó đi. Bởi anh được dạy cần phải nghi ngờ và lật tẩy. Phải giản lược vấn đề tới mức thành những gì đã biết để dễ hiểu. Vì anh là bác sĩ, con người khoa học, và vì đây là nước Mỹ - nơi mọi thứ đều được biết được hiểu, và Chúa là một đấng tối cao nhân từ, còn tương lai thì phải luôn tươi sáng." Ông siết chặt đôi bàn tay xương xẩu, gồng hết sức, chạm những đầu ngón tay trần lên môi trong một phút trầm ngâm. "Đó là tinh thần ở nơi này, và nó thật tuyệt vòi. Thật đấy, tôi không có ý châm chọc đâu. Thật tuyệt khi chỉ tin vào những gì mình muốn tin, và bỏ qua tất thảy những thứ khác. Tôi tôn trọng sự hoài nghi của anh, bác sĩ Goodweather. Và tôi nói thế này với hy vọng rằng anh, đổi lại, sẽ tôn trọng kinh nghiệm của tôi trong lĩnh vực này, và cho phép những quan sát của tôi được tiếp cận với tư duy vô cùng văn minh và khoa học của anh."

Eph nói, "Vậy ý ông là, cái máy bay... một trong số chúng đã có mặt trên đó. Gã ma cà rồng này."

"Chính xác."

"Trong quan tài. Trong khoang chứa hàng."

"Một quan tài đầy đất. Chúng là những sinh vật của lòng đất, và muốn trở về nơi chúng được sinh ra. Giống như giun. Sâu bọ. Chúng đào hang làm tổ. Ta có thể gọi đó là ngủ."

"Tránh khỏi ánh sáng ban ngày," Nora nói.

"Khỏi ánh sáng mặt trời, đúng vậy. Đó là thời gian chúng dễ bị tổn thương nhất."

"Nhưng ông nói đây là một cuộc chiến của ma cà rồng. Không phải ma cà rồng chống lại con người à? Tất cả những hành khách đã chết đó."

"Đây cũng là điều hai người khó có thể chấp nhận được. Nhưng với bọn chúng, ta không phải là kẻ thù. Ta không đáng là kẻ thù của bọn chúng. Trong mắt chúng, ta thậm chí chưa đạt tới tầm đó. Đối với bọn chúng, ta là những con mồi. Chúng ta như thức ăn và nước uống. Như bầy thú trong chuồng. Như chai lọ trên kệ."

Eph rùng mình, nhưng nhanh chóng rũ bỏ phản ứng run rẩy đó. "Đối với nhiều người, chuyện này nghe quá giống khoa học giả tưởng."

Setrakian chỉ về phía anh. "Cái thiết bị trong túi quần anh. Điện thoại di động của anh. Anh bấm vài con số, và lập tức anh đưọc trò chuyện với một người khác ở bên kia bán cầu. Đó là khoa học giả tưởng, bác sĩ Goodweather ạ. Khoa học giả tưỏng trở thành sự thật." Đến đây Setrakian mùn cười. "Anh có cần chứng minh không?"

Setrakian tới chỗ một ghế băng thấp sát bức tường dài. Trên ghế có thứ gì đó phủ tấm lụa đen, và ông với lấy nó theo một cách lạ lùng, vươn dài cánh tay, nhón lấy mép vải gần nhất trong khi giữ cơ thể mình càng xa càng tốt, rồi ông kéo tấm vải che ra.

Một bình thủy tinh. Thường dùng để đựng mẫu xét nghiệm, có thể mua tại bất cứ hiệu thuốc nào.

Bên trong, lơ lửng trong một loại dung dịch đục ngầu, là một quả tim người được bảo quản cẩn thận.

Từ cách khoảng một mét, Eph cúi người xem xét. "Tim của một phụ nữ, căn cứ theo kích cỡ của nó. Khỏe mạnh. Và khá trẻ. Một mẫu vật còn mới." Anh quay lại nhìn Setrakian. "Ông đã lấy nó ở đâu?"

"Tôi cắt nó ra từ ngực một góa phụ trẻ trong một ngôi làng ngoài Shkodêr, miền Bắc Albania, vào mùa xuân năm 1971."

Eph mủn cười trước câu chuyện kỳ lạ của ông lão, rồi cúi sát để nhìn kỹ chiếc bình hon.

Một thứ gì đó trông như xúc tu vọt ra khỏi quả tim, một đầu mút của nó bám vào thành thủy tinh Eph đang ghé mắt vào.

Anh vội thẳng người lên. Anh đứng chết trân, nhìn chằm chằm chiếc bình.

Nora, bên cạnh anh, nói, "ùm... cái quái gì thế?"

Quả tim bắt đầu chuyển động trong dung dịch huyết thanh.

Nó đang đập.

Thình thịch.

Anh quan sát giác mút xúc tu bẹt, trông như cái miệng, đang kỳ cọ thành thủy tinh. Anh nhìn Nora, đứng ngay cạnh anh, cô cũng đang nhìn chằm chằm vào quả tim. Rồi anh nhìn Setrakian, ông vẫn không hề nhúc nhích, tay đút túi.

Setrakian nói, "Nó hoạt động bất cứ khi nào có máu người ở gần."

Eph trọn mắt, không thể tin nổi. Anh nhích lại gần hon, lần này sang phía bên phải của đầu giác mút tái nhợt ấy. Xúc tu tách khỏi bề mặt thủy tinh, rồi đột ngột xông về phía anh một lần nữa.

"Lạy Chúa!" Eph kêu lên. Cái cơ quan đang đập thình thịch đó trôi nổi trong dung dịch như một con cá đột biến lớn. "Nó sống mà không có..." Không có nguồn cung cấp máu. Anh nhìn vào những tĩnh mạch, động mạch chủ và tĩnh mạch chủ đã bị cắt đứt của nó.

Setrakian nói, "Nó không sống hay chết. Nó hoạt động. Anh có thể nói rằng nó bị ám, nhưng theo nghía đen. Nhìn kỹ lại đi, anh sẽ thấy."

Eph quan sát nhịp đập của nó, nhịp đập bất thường, hoàn toàn không giống nhịp tim bình thường. Anh thấy thứ gì đó đang di chuyển bên trong. Ngoằn ngoèo.

"Một... con giun?" Nora hỏi.

Một con giun nhỏ, màu hồng tái, dài từ năm đến tám phân. Họ quan sát nó di chuyển loanh quanh trong quả tim, trông như thể một lính gác đơn độc đang nghiêm túc đi tuần trong một căn cứ đã bị bỏ hoang từ lâu.

"Một con giun hút máu," Setrakian nói. "Một loại ký sinh mao dẫn sinh trưởng trong các cơ thể bị nhiễm. Dù không có bất cứ bằng chúng nào, tôi ngờ rằng nó chính là con đường lây lan vi rút. Là vật chủ trung gian đích thực."

Eph lắc đầu hoài nghi. "Còn... còn xúc tu này?"

"Vi rút này sao chép hình dạng vật chủ, rồi tự cấu tạo hệ sinh học của riêng nó để có thể sinh tồn một cách tốt nhất. Nói cách khác, nó xâm chiếm và thích nghi với vật chủ để sống sót. Và trong trường họp này, vật chủ chính là cơ quan đã bị tách ra đang trôi nổi trong bình kia, vi rút này tìm cách tự tiến hóa cơ chế sinh học của nó để nhận chất dinh dưỡng."

Nora nói, "Chất dinh dưỡng ư?"

"Loài giun này sống bằng máu. Máu người."

"Máu?" Eph liếc nhìn quả tim bị chiếm hữu. "Của ai?"

Setrakian rút bàn tay trái khỏi túi quần. Những đầu ngón tay nhăn nheo lộ ra ở đầu găng. Đầu ngón giữa của ông có sẹo, mất hẳn vân.

"Một vài giọt đủ cho vài ngày. Nó đang đói đấy. Tôi đã vắng nhà khá lâu."

Ông bước tới bên chiếc ghế băng và mở nắp bình - Eph lùi lại để quan sát - và, bằng một mũi dao nhỏ móc trong chùm chìa khóa của mình, ông chích đầu ngón tay đang giơ trên chiếc lọ. Ông không chút do dự, nó hẳn đã trở thành một thói quen khiến ông chẳng còn thấy đau nữa.

Máu của ông nhỏ vào dung dịch huyết thanh.

Xúc tu hút những giọt máu đỏ bằng đầu mút của mình, trông như một con cá đang đói.

Xong việc, ông lão lấy ít băng dán dạng lỏng từ một lọ nhỏ trên chiếc ghế và chấm lên đầu ngón tay, rồi đậy nắp bình huyết thanh.

Eph quan sát sinh vật kia chuyển thành màu đỏ. Con giun bên trong quả tim di chuyển linh hoạt hơn, khỏe hơn. "Ông nói rằng, ông đã giữ thứ này tại đây kể từ...?"

"Kể từ mùa xuân năm 1971. Tôi không hay đi nghỉ..." Ông mỉm cười sau câu đùa vặt vãnh của mình, nhìn ngón tay vừa bị chích, xoa xoa đầu ngón tay đã khô máu. "Cô ấy là một người chết sống dậy, một người bị nhiễm. Người đã bị biến đổi. Những con Cổ Đại, luôn muốn ẩn mình, sẽ lập tức giết chết kẻ chúng hút máu, để ngăn chặn mọi sự lây lan vi rút của chúng. Bằng cách nào đó, một kẻ đã thoát được, trở về nhà để lây nhiễm cho người thân, bạn bè, hàng xóm, đào bói trong ngôi làng nhỏ đó. Quả tim của người góa phụ này đã duy trì được bốn tiếng trước khi tôi tìm thấy cô ấy."

"Bốn tiếng ư? Làm sao ông biết?"

"Tôi thấy dấu hiệu. Dấu hiệu Strigoi."

Eph nói, "Strigoi?"

"Cách gọi ma cà rồng của Cựu Thế giới."

"Còn dấu hiệu đó?"

"Điểm thâm nhập. Một vết xước mỏng ngang cổ họng, mà tôi đoán là bây giờ hai người đã thấy rồi."

Eph và Nora gật đầu. Nghĩ về Jim.

Setrakian bổ sung, "Phải nói rằng, tôi không phải kẻ quen thói cắt tim người chết. Đó là một công việc dơ bẩn tôi tình cờ gặp phải. Nhưng nó hoàn toàn cần thiết."

Nora nói, "Vậy là ông đã để nó sống tiếp từ đó đến giờ, cho nó ăn như một... một thú cưng?"

"Đúng vậy." Ông nhìn xuống chiếc bình, gần như trìu mến. "Nó như một lời nhắc nhở hằng ngày, về thứ tôi đang đối đầu. Thứ mà giờ đây ta đang đối đầu."

Eph kinh ngạc. "Trong suốt thời gian qua... sao ông không chỉ cho ai thấy thứ này? Một trường y chẳng hạn. Hay chương trình thời sự buổi tối?"

"Nếu dễ dàng như vậy, bác sĩ à, thì bí mật này đã được biết đến từ nhiều năm trước rồi. Có nhiều thế lực liên kết chống lại chúng tà. Đây là một bí mật cổ xưa, và nó cắm rất sâu. Động chạm tới nhiều thứ. Sự thật sẽ không bao giờ đến được với số đông, mà sẽ bị chôn vùi, cả tôi cũng bị chôn theo nữa. Đó là lý do tôi lẩn trốn tại đây - tránh sự chú ý - suốt bao năm nay. Chờ đợi."

Cuộc trò chuyện này khiến Eph dựng tóc gáy. Sự thật đang hiện diện ở đó, ngay trước mắt anh: quả tun người trong một chiếc bình, bên trong có một con giun thèm khát máu của ông lão.

"Tôi không giỏi giữ những bí mật có thể gây nguy hại cho tương lai loài người. Không ai khác biết về chuyện này sao?"

"Ô, có người biết chứ. Có đấy. Một kẻ quyền lực. Chúa Tể - hắn không thể di chuyển nếu không được hỗ trợ. Một liên minh con người chắc hẳn đã tìm cách bảo vệ và giúp đỡ hắn di chuyển. Hai người biết đấy - ma cà rồng không thể tự mình vượt đại dương,, trừ phi chúng được một con người hỗ trợ. Một con người mòi chung vào. Và giờ đây, thỏa thuận - hòa ước - đã bị phá vỡ. Bởi một liên minh giữa Strigoi và con người. Đó là lý do tại sao cuộc tấn công này ghê rạn đến vậy. Và đáng sợ tột cùng đến vậy."

Nora quay sang Setrakian. "Chúng ta còn bao nhiêu thời gian?"

Ông lão đã nhẩm tính từ trước. "Sẽ mất chưa đến một tuần để hắn xử gọn cả Manhattan, và chưa đầy một tháng để chiếm xong cả nước. Trong vòng hai tháng - cả thế giới."

"Không đòi nào," Eph nói. "Sẽ không có chuyện đó đâu."

"Tôi ngưỡng mộ thái độ quả quyết của anh," Setrakian nói. "Nhưng anh vẫn chưa hiểu rõ mình đang đối đầu với cái gì đâu."

"Được thôi," Eph nói. "Vậy hãy cho tồi biết - chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu?"

Công viên Place, Tribeca

VASILIY FET đỗ chiếc xe tải biển đăng ký thành phố bên ngoài một tòa chung cư tại khu trung tâm Manhattan. Nhìn bề ngoài, nó có vẻ không giống một tòa chung cư cho lắm, nhưng nó có mái hiên và người gác cửa, và dù gì thì đây cũng là Tribeca. Hẳn anh đã kiểm tra lại địa chỉ nếu như không có chiếc xe tải của Sở Y tế đậu trái phép phía trước, đèn báo hiệu màu vàng đang quay tròn. Trớ trêu thay, tại hầu hết các tòa nhà và căn hộ trong gần như toàn thành phố, những kẻ tiêu diệt động vật gây hại luôn được chào đón nồng nhiệt, y như cảnh sát tới hiện trường vụ án. Nhưng Vasiliy tin rằng nơi này không như vậy.

Chiếc xe tải của anh có ghi dòng chữ BPCS-CNY, viết tắt của Bureau of Pest Control Services, City of New York (Cục Kiểm soát Động vật Gây Hại, Thành phố New York). Thanh tra Sở Y tế, Bill Furber, gặp anh tại cầu thang bên trong. Billy có bộ ria mép vàng bẻ cong xuống cứ nhấp nhô theo cơ mặt do ông ta liên tục nhai kẹo cao su thay cho nicotin. "Vaz," ông ta gọi anh, bằng tên gọi tắt thay cho Vasya, một dạng nói tắt quen thuộc của tên anh trong tiếng Nga. Vaz, hay chỉ đon giản là V, theo cách người khác vẫn thường gọi anh, là một người Mỹ gốc Nga thế hệ hai, chất giọng cục cằn đặc sệt Brooklyn. Anh là người to lớn, choán gần hết chỗ trên bậc cầu thang.

Billy vỗ cánh tay anh, cảm ơn anh vì đã tói. "Cháu gái của em họ tôi ở đây, bị cắn vào miệng. Tôi biết - tòa nhà này chẳng phải kiểu của tôi, nhưng tôi có thể làm gì chứ, chúng cưới nhau và được thừa hưởng bất động sẩn. Chỉ nói để anh biết thôi - gia đình là thế mà. Tôi đã bảo với họ rằng tôi sẽ tìm về một gã diệt chuột giỏi nhất khắp năm quận."

Vasiliy gật đầu, thầm tự hào theo cái cách đặc trưng của những gã diệt động vật gây hại. Một người diệt động vật gây hại luôn thành công thầm lặng. Thành công ở đây nghĩa là không để lại một dấu hiệu nào của thành công, không một dấu vết cho thấy vấn đề từng phát sinh, cho thấy một con vật gây hại từng tồn tại hay một cái bẫy từng được đặt. Nó có nghĩa là giữ gìn trật tự.

Anh kéo theo một cái hòm có bánh xe giống như một bộ dụng cụ của thợ sửa máy tính. Phía bên trong gác xép mở vào những trần nhà cao, cùng nhũng căn phòng rộng, một căn hộ một trăm bảy mươi mét vuông dễ phải đáng giá ba triệu đô trên thị trường bất động sản New York. Ngồi trên chiếc sofa lùn, vững chãi màu cam bóng rổ bên trong một căn phòng lát kính, gỗ tếch và crôm đầy đồ công nghệ cao là một cô bé đang ôm chặt con búp bê bên cạnh người mẹ. Một băng y tế lớn dán trên môi trên và má con bé. Người mẹ cắt tóc ngắn tới tận da đầu, đeo kính gọng chữ nhật nhỏ và mặc váy len xanh lá dài tới đầu gối. Đối với Vasiliy, cô ta y như một lữ khách đến từ một tương lai rất mốt và lưỡng tính vậy. Con bé còn nhỏ, chỉ khoảng năm sáu tuổi, vẫn rất sợ hãi. Vasiliy đáng lẽ đã cố mỉm cười, nhưng khuôn mặt anh thuộc dạng hiếm khi có thể trấn tĩnh được trẻ con. Anh có quai hàm trông như mặt đế phẳng lì của lưỡi rìu, hai mắt cách xa nhau.

Một tí vi màn hình phẳng treo trên tường trông như một bức tranh lớn được đóng khung kính. Trên màn hình, ngài thị trưởng đang nói vào một bó micro. Ông ta đang cố gắng trả lời các câu hỏi về vụ mất tích của những xác chết trên máy bay, những xác chết đã biến mất khỏi nhà xác trong thành phố. Lực lượng cảnh sát New York đang đề cao cảnh giác, và chủ động dừng mọi xe tải đông lạnh tại các cầu và đường hầm. Một đường dây điện thoại phục vụ thông tin cảnh báo khủng bố đã được thiết lập. Gia đình các nạn nhân phẫn nộ, các đám tang phải hoãn lại.

Bill dẫn Vasiliy tới phòng ngủ của bé gái. Một chiếc giường chăng rèm, một ti vi nhãn hiệu Bratz khảm ngọc cùng một máy tính xách tay đồng bộ, và một con ngựa bông máy màu bơ đường trong góc phòng. Mắt Vasiliy ngay lập tức hướng tới một gói thức ăn gần giường. Bên trong là bánh nướng cùng bơ đậu phông. Cũng là món khoái khẩu của anh.

"Lúc đó con bé đang chop mắt ở đây," Billy nói. "Nó thức giấc do cảm thấy có gì đó đang gặm môi nó. Thứ đó ở trên gối của con bé, Vaz à. Một con chuột trên giường con bé. Có khi cả tháng tới nó không dám ngủ nữa. Anh gặp vụ này lần nào chưa?"

Vasiliy lắc đầu. Chuột ở khắp trong và ngoài mọi tòa nhà tại Manhattan - bất kể chủ nhà nói hay người thuê nghĩ gì - nhưng chúng không thích để lộ mình, đặc biệt là ngay giữa ban ngày. Những vụ chuột tấn công thường liên quan tới trẻ em, chủ yếu là quanh vùng miệng, bởi đó là nơi phát ra mùi thức ăn. Loài chuột Na Uy - Rattus norvegicus, chuột thành phố - có giác quan nhận biết mùi vị cực nhạy. Răng cửa trước của nó dài và sắc, khỏe hơn cả nhôm, đồng, chì hay sắt. Chuột gặm là nguyên nhân của một phần tư những vụ đứt dây cáp điện trong thành phố, và là thủ phạm đáng nghi của từng ấy phần trăm những vụ cháy không rõ nguyên do. Độ Cling của răng chúng có thể sánh ngang thép, và cấu trúc hàm giống cá sấu của chúng tạo nên áp lực cắn hàng trăm tới hàng ngàn ki lô gam. Chúng có thể gặm xi măng và thậm chí là đá.

Vasiliy nói, "Thế con bé có tận mắt nhìn thấy con chuột không?"

"Con bé chẳng biết thứ đó là gì. Nó la hét vụt đập, và thứ đó chạy mất. Phòng cấp cứu bảo đó là chuột."

Vasiliy tới chỗ cánh cửa sổ đang mở vài phân để gió lùa vào. Anh mở cửa rộng hơn và nhìn xuống một ngõ hẹp lát sỏi cách đó ba tầng. Lối thoát cứu hỏa cách cửa sổ ba bốn mét, nhung lóp ốp gạch cũ hàng thế kỷ thì gồ ghề và lỏm chỏm. Mọi người cứ nghĩ lũ chuột béo và đi ục ịch, nhung thực chất chúng di chuyển với tốc độ nhanh nhu sóc. Nhất là khi chúng bị kích thích bởi thức ăn hay sợ hãi.

Vasiliy đẩy giường của cô bé ra khỏi tường và tháo chăn ga đệm. Anh di chuyển ngôi nhà búp bê, bàn giấy và giá sách để xem xét phía sau, nhưng anh không hề hy vọng con chuột vẫn còn trong phòng ngủ này. Anh chỉ đang loại trừ khả năng hiển nhiên đó.

Anh bước ra hành lang, kéo theo cái hòm gắn bánh xe trên mặt sàn gỗ nhẵn nhụi son bóng loáng. Lũ chuột có thị giác rất kém, chúng di chuyển chủ yếu bằng cảm giác. Chúng di chuyển nhanh do thói quen, theo những lối đi đã mòn vết chân chúng dọc các bức tường thấp. Chúng thường không bỏ xa tổ quá mười tám mét. Chúng không tin tưởng những khung cảnh thiếu quen thuộc. Con chuột này hẳn đã tìm ra cánh cửa và rẽ vào góc, men sát bức tường phía bên phải, bộ lông thô cứng của nó lướt trên sàn. Cánh cửa mở tiếp theo dẫn vào phòng tắm riêng của bé gái, đưọc trang trí bằng một thảm phòng tắm hình dâu tây, một rèm bồn tắm màu hồng nhạt và một sọt đựng sữa tắm tạo bọt cùng đồ choi. Vasiliy lướt mắt khắp phòng, tìm kiếm những nơi có thể ẩn nấp, rồi hít ngửi không khí. Anh gật đầu ra hiệu với Billy, và ông ta đóng cửa lại.

Billy nấn ná một phút, nghe ngóng, rồi quyết định quay trở lại trấn an người mẹ. Ông ta đã gần tới nơi thì chợt nghe thấy, từ phòng tắm trên hành lang đó, một tiếng RẦM! rất lớn - âm thanh chai lọ roi vào bồn tắm - và một tiếng làu bàu to, rồi giọng Vasiliy, trở nên dữ tợn, phim ra những lời chửi rủa bằng tiếng Nga.

Bà mẹ và đứa con có vẻ kinh hãi. Billy giơ tay ra dấu cho họ bình tĩnh - ông ta đã vô tình nuốt mất miếng kẹo cao su - rồi vội chạy trở lại hành lang.

Vasiliy mở cửa phòng tắm. Anh đang đeo đôi găng đánh bẫy Kevlar dài tay và cầm một cái bao lớn. Thứ gì đó bên trong bao đang quằn quại cào xé. Và nó rất lớn.

Vasiliy gật đầu trao cái bao cho Billy.

Billy chẳng thể làm gì khác ngoài nhận lấy nó, bằng không cái bao sẽ roi xuống và con chuột sẽ trốn thoát. Ông ta hy vọng lóp vải chắc chắn như vẻ bề ngoài, con chuột lớn đang vùng vẫy vật lộn bên trong. Billy vươn thẳng tay để đưa cái bao tránh xa hết mức dù vẫn giữ con chuột đang vùng vằng trên cao. Trong khi đó, Vasiliy điềm tĩnh - nhưng chậm rãi quá mức - mở cái hòm của mình. Anh lấy ra một bọc kín, một miếng xốp tẩm sẵn thuốc mê. Vasiliy lấy lại cái bao, và Billy sung sướng vô cùng khi thoát khỏi nó. Anh mở miệng bao chỉ vừa đủ lâu để cho thuốc mê vào, sau đó đóng nó lại. Ban đầu, con chuột vẫn vật lộn dữ dội. Và rồi nó chậm dần lại. Vasiliy lắc cái bao để quá trình này diễn ra nhanh hơn.

Anh đợi thêm một lúc sau khi con chuột ngừng vùng vẫy, rồi mở bao và đút tay vào trong, kéo đuôi nó ra trước tiên. Nó đã được làm cho hết hung hăng, nhưng không bất tỉnh, đôi bàn chân trước màu hồng của nó vẫn cào móng trong không trung, hàm vẫn đóp, và đôi mắt đen bóng loáng của nó mở to. Con này tương đối to, thân dài khoảng hai mươi phân, thêm cái đuôi là hai mươi phân nữa. Lóp lông cứng thân trên màu đen, thân dưới màu trắng. Chẳng thể là vật nuôi bỏ trốn của ai đó, nó là một con chuột hoang thành phố.

Billy lùi lại mấy bước. Ông ta từng trông thấy rất nhiều chuột, nhưng chẳng thể nào quen được với chúng. Vasiliy thì dường như không thấy có vấn đề gì.

"Nó đang có bầu," Vasiliy nói. "Loài chuột chỉ mang thai trong vòng hai mươi mốt ngày và có thể đẻ một lứa tới hai mươi con. Một con chuột cái khỏe mạnh có thể đẻ hai trăm năm mươi con mỗi năm - một nửa trong lứa đó lại là những con cái nữa sẵn sàng giao phối. "Muốn tôi lấy máu nó khám nghiệm không?"

Billy lắc đầu, tỏ thái độ kinh tởm như thể Vasiliy đang hỏi liệu ông ta có muốn ăn thịt nó không vậy. "Con bé đã được tiêm tại bệnh viện rồi. Nhìn kích cỡ của nó kìa, Vaz. Chúa ơi. Ý tôi là, đây không phải" - Billy hạ giọng - "đây không phải một nhà tập thể nào đó ở Bushwick, anh hiểu ý tôi không?"

Thực tình Vasiliy hiểu ý ông ta. Hiểu ngầm. Hồi mới đến đây, cha mẹ của Vasiliy từng định cư Bushwick. Bushwick đã từng chứng kiến nhiều làn sóng di dân kể từ giữa thập niên 1800: người Đức, Anh, Ai Len, Nga, Ba Lan, Ý, người Mỹ gốc Phi, Puerto Rico. Giờ thì tới người Dominica, Guyana, Jamaica, Ecuador, Ân Độ, Triều Tiên, Đông Nam A. Vasiliy đã dành rất nhiều thời gian ở những vùng nghèo nhất New York. Anh biết có những gia đình phải sử dụng đến đệm ghế, sách và các vật dụng trong nhà để dựng tường che chắn phần căn hộ của họ mỗi đêm, cố gắng ngăn lũ chuột xâm nhập.

Nhưng vụ tấn công này quả thực khác thường. Giữa ban ngày. Liều lĩnh. Thông thường chỉ những con chuột yếu nhất, buộc phải ra khỏi bầy đàn, mới ló mặt để tìm kiếm thức ăn. Nhưng đây là một con chuột cái khỏe mạnh. Vô cùng bất thường. Chuột cùng tồn tại trong thế cân bằng mong manh với con người, chúng khai thác những kẽ hở của thế giới văn minh, sống nhờ chất thải và đồ thừa của loài lớn hon, và luôn ẩn mình, đằng sau những bức tường hoặc bên dưới những mặt sàn. Sự xuất hiện của một con chuột tượng trưng cho nỗi lo lắng và sợ hãi của con người. Bất kỳ sự xâm phạm nào vượt ra khỏi thói quen kiếm ăn ban đêm thông thường của chứng đều cho thấy một sự thay đổi trong môi trường. Cũng như con người, chuột không thích chấp nhận rủi ro vô ích: chúng hẳn đã bị bắt buộc phải làm vậy từ dưới lòng đất.

"Muốn tôi chải lông tìm bọ chét không?"

"Chúa ơi, không. Cứ gói vào và tống khứ nó đi. Dù làm gì đi nữa cũng đừng để con bé nhìn thấy. Con bé đã hoảng loạn đủ rồi."

Vasiliy lấy từ bộ đồ nghề ra một túi nhựa lớn rồi gói con chuột chung với một miếng xốp tẩm thuốc mê nữa, lần này là một liều đủ để giết chết nó. Anh nhét cái túi vào trong bao để giấu bằng chứng, rồi tiếp tục công việc của mình, bắt đầu từ nhà bếp. Anh dịch chuyển cái lò nướng tám bếp nặng trịch và máy rửa bát. Anh kiểm tra các lỗ cống dưới bồn rửa. Anh không hề thấy phân chuột hay vết hang đào bói, nhưng anh vẫn rắc một ít bả, bởi dù sao cũng đã đến đây rồi. Anh làm vậy nhưng không hề thông báo cho chủ nhà. Mọi người đều lo lắng về chất độc, đặc biệt là các bậc cha mẹ, nhưng sự thực là bả chuột rải khắp mọi tòa nhà và đường phố Manhattan. Nếu bắt gặp bất cứ thứ gì giống như kẹo quả mọng Pop Rocks xanh dương hay hạt thức ăn màu xanh lá, ta có thể hiểu rằng chuột đã từng xuất hiện gần đó.

Billy theo sau anh xuống tầng hầm. nơi này gọn gàng và ngăn nắp, chẳng hề có dấu hiệu của đồ bỏ hay rác mềm để làm tổ. Vasiliy nhìn quanh gian phòng, đánh hơi mùi phân chuột. Anh có cái mũi rất nhạy mùi chuột, cũng như chuột có mũi rất nhạy mùi người. Anh tắt đèn, dù cho Bill có cảm thấy khó chịu đi nữa, rồi bật chiếc đèn pin gài trên thắt lưng của bộ áo liền quần xanh nhạt, nó phát ra ánh sáng tím thay vì ánh sáng trắng. Nước tiểu của loài gặm nhấm sẽ hiện màu sáng tun dưới ánh đèn tử ngoại, nhưng tại đây anh không thấy bất cứ gì. Anh thả bả chuột vào những chỗ có rãnh rồi đặt những bẫy nhỏ loại "nhà trọ" ở các góc, chỉ để đề phòng, rồi theo Billy trở lại sảnh.

Billy cảm on Vasiliy, tỏ lòng cảm kích, rồi họ chia tay tại cửa. Dù vậy, Vasiliy vẫn thấy bối rối, và, sau khi đặt bộ dụng cụ của mình cùng con chuột chết trở lại sau xe tải, anh châm một điếu Corona Dominican rồi bắt đầu rảo bước. Anh đi dọc phố và rẽ vào một ngõ hẹp lát đá mà anh đã nhìn xuống qua cửa sổ phòng bé gái. Tribeca là khu vực duy nhất tại Manhattan vẫn còn có ngõ hẻm.

Chỉ mới được vài bước, Vasiliy đã thấy con chuột đầu tiên. Nó đi dọc theo rìa tòa nhà, thận trọng ngó quanh. Và rồi anh thấy một con nữa trên cành một cây nhỏ chật vật mọc bên một bức tường gạch thấp. Và con thứ ba, ngồi trong một máng nước bằng đá, đang uống dòng nước nâu chảy từ một nguồn rác thải hay nước cống đâu đó.

Trong lúc anh đứng quan sát, bọn chuột bắt đầu xuất hiện trên con đường lát đá. Nói cho đúng ra là chúng cào bò lên từ kẽ giữa những hòn đá mòn, chui lên từ lòng đất. Chuột là loài có khung xương đàn hồi, cho phép chúng len qua những lỗ không lớn hơn hộp sọ của chúng, rộng khoảng hai phân. Chúng chui lên qua khe hở hai, ba con cùng lúc, rồi nhanh chóng phân tán. Vasiliy ước lượng lũ chuột này dài khoảng từ hai mươi tới hai lăm phân, và dài gấp đôi nếu tính cả đuôi. Nói cách khác, chúng là chuột trưởng thành.

Hai túi rác gần anh đang phập phồng, những con chuột đang gặm sâu vào bên trong đó. Một con chuột nhỏ đang cố chạy vọt qua anh tới một thùng rác, và Vasiliy giơ ủng đá con vật gặm nhấm này bay ra sau năm mét. Nó roi xuống giữa hẻm, bất động. Chỉ trong vòng vài giây, những con chuột khác lao vào nó với vẻ háu đói, răng cửa vàng dài ngoạm qua lóp lông của nó. Cách hiệu quả nhất để tiêu diệt chuột là loại bỏ nguồn thức ăn khỏi môi trường sống của chúng và rồi để chúng ăn thịt lẫn nhau.

Lũ chuột này đang đói, và chúng đang trên đường di tản. Hoạt động trên mặt đất vào ban ngày như vậy quả là hiếm gặp. Kiểu di chuyển đồng loạt thế này chỉ xảy ra sau một sự kiện như động đất hay sụp nhà.

Hay, thi thoảng, một dự án xây dựng lớn.

Vasiliy đi tiếp tới một dây nhà khác ở phía Nam, băng qua phố Barclay, tới nơi thành phố mở ra một khu vực trống thông thoáng, một công trình xây dựng rộng hơn sáu héc ta.

Anh bước lên một trong những đài quan sát nhìn sang nơi từng là Trung tâm Thương mại Thế giới. Họ đã gần hoàn thiện phần đáy móng dưới lòng đất để làm bệ đỡ cho công trình xây dựng mới, các cột xi măng và thép giờ đây sắp sửa mọc lên từ mặt đất. Khu vực xây dựng này tồn tại như một lỗ đục của thành phố - giống như vết gặm trên mặt bé gái.

Vasiliy vẫn nhớ tháng Chín năm 2001 định mệnh đó. Vài ngày sau khi tòa Tháp Đôi đổ, anh đã tới đó cùng Sở Y tế, bắt đầu với những nhà hàng bị đóng cửa quanh khu vực này, dọn dẹp thức ăn thừa. Rồi xuống dưới tầng hầm và các phòng dưới mặt đất, anh không hề thấy một con chuột sống nào, nhưng có vô số bằng chứng về sự hiện diện của chúng, bao gồm hàng dài những vết chân chuột lưu lại trên bụi bẩn. Anh nhớ rõ nhất là một cửa hàng bánh Mrs. Fields, gần như đâ bị ăn sạch. Số lưọng chuột khi đó đang bùng nổ tại khu này, và một mối lo ngại nảy sinh rằng lũ chuột sẽ tràn ra khỏi khu đổ nát để tìm nguồn thức ăn mới, nhung nhúc khắp các đường phố và khu vực lân cận. Vì vậy, một chiến dịch quy mô lớn do liên bang tài trợ đã được khỏi xướng. Hàng ngàn hộp mồi bả và bẫy dây thép đã được đặt trong và xung quanh Khu vực số 0, và, nhờ có sự cảnh giác của Vasiliy cùng những người giống anh, cuộc tấn công như lo ngại chưa từng thành hiện thực.

Cho đến giờ Vasiliy vẫn đang thực hiện một họp đồng với chính phủ, cơ quan của anh phụ trách một nghiên cứu kiểm soát chuột trong và xung quanh công viên Battery. Vì thế anh luôn cập nhật kịp thời những vụ chuột phá hoại ở địa phương, và biết tường tận dự án xây dựng này kể từ khi nó bắt đầu. Và cho tới lúc này, mọi thứ vẫn ổn.

Anh nhìn xuống những xe tải đang đổ xi măng và những cần cẩu đang chuyển gạch vụn. Anh đợi ba phút để một thằng bé dùng xong cái ống ngắm gắn trên giá - cùng loại họ gắn trên nóc tòa nhà Empire State - rồi thả hai đồng hai lăm xu và ngắm lướt khắp khu vực thi công.

Ngay lập tức, anh đã thấy chúng, những thân mình nâu nhỏ bé lao vọt khỏi các góc, đua nhau chạy quanh những cọc đá, một vài con chạy như điên ra con đường dẫn vào phố Liberty. Chúng chạy đua quanh những đinh thép đánh dấu phần móng của tháp Tự Do như thể đang tham gia một cuộc thi vượt chướng ngại vật chết tiệt. Anh tìm những chỗ gián đoạn nơi công trường mới giao nhau với đường tàu điện ngầm PATH dưới lòng đất. Rồi anh ngóc ống ngắm lên cao hơn và bám theo một hàng chuột đang trèo lên các trụ đỡ của một giàn thép chạy về góc phía Đông, rồi trèo ra ngoài trên những dây treo. Chúng đang chạy khỏi khu vực trũng đó, một cuộc di tản hàng loạt, bằng bất cứ con đường chạy trốn nào chúng có thể tìm thấy.

Khu cách ly, Trung tâm Y tế Jamaica

ĐẰNG SAU CÁNH CỬA THỨ HAI của khu cách ly, Eph đeo đôi găng tay cao su. Đáng lẽ anh phải đề nghị Setrakian làm theo, nhưng khi nhìn lại những ngón tay cong queo của ông, Eph tự hỏi liệu việc đó có khả thi không.

Họ bước vào phòng Jim Kent, nơi duy nhất có người trong một khu cách ly trống không. Jim lúc này đang nằm ngủ, vẫn trong bộ quần áo đi đường, các dây nối từ ngực và bàn tay anh ta tới những máy móc đang câm lặng đọc các thông số. Y tá chăm sóc cho biết các chỉ số của anh ta đang hạ thấp đến nỗi mọi tín hiệu báo động tự động bằng âm thanh - nhịp tim thấp, huyết áp thấp, hô hấp yếu, lượng ôxy thấp - đều phải tắt, bởi chúng cứ kêu liên tục.

Eph bước vào trong tấm màn nhựa trong suốt, cảm thấy Setrakian ở bên cạnh đang trở nên căng thẳng. Khi họ tới gần, chỉ số sinh tồn của Kent tăng vọt trên tất cả các màn hình - quá đỗi bất thường.

"Giống như con giun trong cái bình," Setrakian nói. "Anh ta cảm nhận được chúng ta. Anh ta cảm nhận được máu đang ở gần."

"Không thể nào." Eph nói.

Anh tiến lại gần hơn nữa. Chỉ số sinh tồn và hoạt động sóng não của Jim tăng.

"Jim," Eph gọi.

Khuôn mặt khi ngủ của anh ta thư giãn, làn da ngăm đen chuyển thành một màu trắng xám như vữa vôi. Eph có thể thấy đồng tử của anh ta di chuyển rất nhanh bên dưới mí mắt như đang trong một giấc ngủ REM[III] biến động.

Setrakian dùng đầu sói bạc trên cây gậy dài ngoẵng để kéo lóp màn ngăn cuối cùng của cái rèm trong suốt. "Không được tới quá gần," ông cảnh báo. "Anh ta đang biến đổi." Setrakian thò tay vào túi áo khoác. "Gương của anh. Lấy nó ra."

Túi trước bên trong áo khoác của Eph trĩu nặng một chiếc gương khung bạc kích cỡ tám nhân mười xăng ti mét, một trong vô số món đồ ông lão đã lấy ra từ trong kho vũ khí chống ma cà rồng dưới tầng hầm của ông.

"Anh nhìn thấy chính mình trong đó chứ?"

Eph nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trong tấm kính cũ. "Hẳn rồi."

"Phiền anh dùng nó để nhìn tôi đi."

Eph quay gương sang một góc để có thể nhìn thấy khuôn mặt ông lão. "Được rồi."

Nora nói, "Ma cà rồng không có hình ảnh phản chiếu."

Setrakian nói, "Không hẳn. Giờ, phiền anh - thật cẩn thận vào - dùng nó để nhìn khuôn mặt anh ta."

Do chiếc gương quá nhỏ, Eph phải tiến lại gần giường, dang cánh tay, giữ tấm kính chếch một góc phía trên đầu Jim.

Ban đầu, anh chẳng thể thấy hình phản chiếu của Jim. Nhìn chất lượng hình ảnh thì có vẻ như tay Eph đang run bần bật. Nhưng phần nền phía sau, chiếc gối và khung giường, vẫn bất động.

Khuôn mặt Jim bị nhòe. Trông như thể đầu anh ta đang lắc với một tốc độ khủng khiếp, hay đang rung với một lực mạnh đến nỗi chẳng thể nhận ra những đường nét trên khuôn mặt.

Anh vội rụt tay lại.

"Tráng bạc." Setrakian nói, tay gõ nhẹ vào chiếc gương của mình. "Đó chính là điểm mấu chốt. Những gương sản xuất đại trà hiện nay, được mạ crôm, sẽ không tiết lộ gì hết. Nhưng gương mạ bạc luôn nói lên sự thực."

Eph nhìn lại mình trong gương một lần nữa. Bình thường. Ngoại trừ bàn tay hơi run.

Anh lại đặt gương chếch trên mặt Jim, cố gắng giữ cho yên - và thấy hình phản chiếu của Jim bị rung mờ. Giống như là cơ thể anh ta đang quằn quại mãnh liệt, rung quá mạnh và quá nhanh đến nỗi chẳng thể nhìn được rõ nét.

Tuy nhiên nhìn bằng mắt thường, anh ta vẫn nằm yên thanh thản.

Eph đưa gương cho Nora, cô cũng ngạc nhiên và sợ hãi hệt như anh. "Vậy nghĩa là... anh ấy đang biến đổi thành một thứ... một thứ giống như cơ trưởng Redfern."

Setrakian nói, "Theo quá trình nhiễm thông thường thì chỉ sau một ngày đêm là họ sẽ hoàn thành việc chuyển đổi và sẵn sàng hút máu. Sẽ mất bảy đêm để một người biến đổi toàn bộ, để căn bệnh ăn hết cơ thể và tái tạo thành một dạng riêng của nó - trạng thái ký sinh mới. Và sau khoảng ba mươi đêm, hoàn toàn trưởng thành."

Nora nói, "Hoàn toàn trưởng thành?"

Ông lão nói, "Hãy cầu cho ta không phải chứng kiến giai đoạn đó." Ông chỉ tay về phía Jim. "Động mạch cổ của con người là con đường xâm nhập nhanh nhất, mặc dù động mạch đùi cũng là một con đường trực tiếp khác dẫn thẳng tới nguồn cung cấp máu của chúng ta."

Vết cứa ở cổ gọn đến độ giờ chẳng thể nhìn thấy được. Eph hỏi, "Tại sao lại là máu?"

"Ôxy, sắt và nhiều chất dinh dưỡng khác."

"Ôxy ư?" Nora nói.

Setrakian gật đầu. "Cơ thể vật chủ của chúng biến đổi. Một phần quá trình biến đổi đó là hệ tuần hoàn và hệ tiêu hóa họp nhất, trở thành một. Tương tự như côn trùng. Máu của chúng thiếu cả sắt và ôxy cấu thành nên màu đỏ trong máu người. Vì thế chuyển thành màu trắng."

"Và các cơ quan," Eph nói. "Các cơ quan của Redfern trông gần giống như ung thư vậy."

"Hệ cơ thể bị hủy hoại và chuyển hóa. Vi rút xâm chiếm hoàn toàn. Họ không thở nữa. Họ hô hấp chỉ đơn thuần như một phản xạ còn sót lại, nhưng họ không chuyển hóa ôxy nữa. Hai lá phổi thừa sau cùng sẽ teo đi và tái thích nghi."

Eph nói, "Lúc tấn công, Redfern để lộ một khối thịt rất phát triển trong miệng. Giống như một đầu chích có cơ tiến hóa bên dưới lưỡi."

Setrakian gật đầu như thể đồng tình với Eph về chuyện thời tiết vậy. "Nó sẽ ứ máu khi chúng ăn. Da thịt chúng đỏ lên gần như màu đỏ thẫm, cả nhãn cầu, cả lóp biểu bì của chúng nữa. Cái đầu chích này, như anh nói, trên thực tế là một sự chuyển đổi, một sự tái cơ cấu vùng họng, khí quản và lá phổi bằng phần thịt mới phát triển. Một thứ gì đó giống như ống tay áo lộn ngược. Ma cà rồng có thể giải phóng cơ quan này từ lồng ngực, bắn dài từ một mét đến thậm chí hai mét. Nếu anh mổ xác một nạn nhân trưởng thành, anh sẽ thấy một mô cơ, một túi giúp đẩy cơ quan này ra để chúng ăn. Tất cả những gì chúng cần là đều đặn uống máu tươi của con người. Theo lẽ đó có lẽ chúng cũng giống với bệnh tiểu đường. Tôi không biết nữa. Anh là bác sĩ mà."

"Tôi cứ tưởng mình là bác sĩ," Eph lầm bầm. "Cho tới lúc này."

Nora nói, "Tôi cứ tưỏng ma cà rồng uống máu trinh nữ. Chúng thôi miên... chúng biến thành doi..."

Setrakian nói, "Chuyện đấy đã được lãng mạn hóa quá mức. Nhưng sự thực thì còn hơn thế... tôi nên nói sao nhỉ?"

"Gớm ghiếc," Eph nói.

"Kinh tởm," Nora nói.

"Không," Setrakian nói. "Tầm thường. Anh đã tìm thấy amoniac chứ?"

Eph gật đầu.

"Chúng có một hệ tiêu hóa rất nhỏ gọn," Setrakian tiếp tục. "Không cần chỗ chứa thức ăn. Toàn bộ huyết tương và cặn rắn không thể tiêu hóa sẽ phải được đào thải để nhường chỗ cho dinh dưỡng cấp vào. Giống như loài ve - chúng bài tiết khi hút máu."

Đột nhiên, nhiệt độ bên trong phòng thay đổi. Giọng Setrakian hạ xuống chỉ còn là một tiếng thì thào lạnh lùng.

"Strigoi," ông rít lên. "Đó."

Eph nhìn Jim. Jim mở mắt, con ngươi tối đen, củng mạc xưng quanh chuyển thành màu cam xám, gần như màu trời chập choạng lúc hoàng hôn. Anh ta đang nhìn chằm chằm lên trần nhà.

Eph cảm thấy nỗi sợ nhói lên. Setrakian Cling người, bàn tay cong queo của ông để sẵn trên tay cầm đầu sói của cây gậy - chuẩn bị tấn công. Eph cảm nhận được quyết tâm mạnh mẽ của ông, và thấy sốc trước ánh mắt thù hận sâu thẳm của ông lão.

"Giáo sư..." Jim thều thào.

Rồi mí mắt anh ta tiếp tục nhắm lại, Jim lại roi vào trạng thái hôn mê giống REM.

Eph quay sang ông lão. "Sao anh ấy lại... biết ông?"

"Anh ta không biết," Setrakian nói, vẫn trong trạng thái cảnh giác, sẵn sàng tấn công. "Giờ đây anh ta giống như con ong mật, trở thành một phần của tổ ong. Một tập họp gồm nhiều phần nhưng chỉ có một mục tiêu duy nhất." Ông nhìn Eph. "Thứ này cần phải bị tiêu diệt."

"Gì chứ?" Eph nói. "Không."

"Anh ta không còn là bạn của anh nữa rồi," Setrakian nói. "Anh ta là kẻ thù của anh."

"Cho dù đúng như vậy... anh ấy vẫn là bệnh nhân của tôi."

"Người đàn ông này không ốm. Anh ta đã vượt ra khỏi giới hạn của mọi căn bệnh. Chỉ trong vài giờ thôi, anh ta sẽ không còn là chính mình nữa. Ngoài ra... sẽ vô cùng nguy hiểm khi giữ anh ta lại đây. Cũng như với người phi công, anh sẽ khiến mọi người trong tòa nhà này gặp nguy hiểm lớn."

"Nếu như... nếu như anh ấy không kiếm được máu thì sao?

"Không có dinh dưỡng, anh ta sẽ bắt đầu suy sụp. Sau bốn tám giờ không hút máu, cơ thể anh ta sẽ bắt đầu yếu đi, hệ cơ quan của anh ta sẽ ăn các cơ và tế bào mỡ người, tự hủy hoại chính nó một cách từ từ và đau đớn. Cho tới khi chỉ còn phần ma cà rồng chế ngự."

Eph lắc đầu nguầy nguậy. "Điều tôi cần làm là thiết lập một phác đồ điều trị. Nếu căn bệnh này bắt nguồn từ một loại vi rút, tôi cần phải tìm ra cách chữa trị."

Setrakian nói, "Chỉ có một cách chữa trị duy nhất. Cái chết. Tiêu hủy cơ thể. Một cái chết nhân đạo."

Eph nói, "Chúng ta không phải bác sĩ thú ý. Chúng ta không thể giết chết những người bệnh quá nặng không còn khả năng sống."

"Nhưng anh đã làm vậy với người phi công."

Eph lắp bắp, "Việc đó khác. Anh ta đã tấn công Nora và Jim... anh ta đã tấn công tôi."

"Triết lý tự vệ của anh, nếu được áp dụng thật, hoàn toàn đứng trong trường họp này."

"Thế thì đó sẽ là triết lý diệt chủng."

"Vậy nếu như đó chính là mục đích của chúng - hoàn toàn nô dịch loài người - câu trả lời của anh là gì?"

Eph không muốn lẩn quẩn với những khái niệm trừu tượng. Anh đang nhìn một đồng nghiệp. Một người bạn.

Setrakian nhận thấy ông sẽ không thay đổi suy nghĩ của họ được, lúc này thì chưa. "Dẫn tôi tới xem xác người phi công đi. Có lẽ tôi có thể thuyết phục được anh."

Chẳng ai nói gì trong thang máy xuống tầng hầm. Tại đó, thay vì một nhà xác khóa kín, họ phát hiện cánh cửa mở toang, còn viên cảnh sát cùng người quản lý bệnh viện thì đang hối hả quanh đó.

Eph bước tới chỗ họ. "Các người nghĩ mình đang làm...?"

Anh nhìn thấy thanh dọc cửa trầy xước, khung cửa kim loại móp và đã bị nạy, khóa bị phá từ bên ngoài.

Bà quản lý đã không mở cửa. Ai đó đã phá cửa vào.

Eph vội ngó vào trong.

Chiếc bàn trống không. Xác Redfern đã biến mất.

Eph quay sang bà quản lý, muốn biết thêm thông tín, nhưng anh ngạc nhiên thấy bà ta lùi vài bước xuống sảnh, vừa liếc nhìn anh vừa nói chuyện với cảnh sát.

Setrakian nói, "Ta nên đi ngay thôi."

Eph nói, "Nhưng tôi cần phải tìm ra xác anh ta."

"Nó biến mất rồi," Setrakian đáp. "Chẳng bao giờ tìm lại nó được đâu." Ông lão níu lấy cánh tay Eph bằng một sức mạnh phi thường. "Tôi tin rằng nó đã hoàn thành mục tiêu của mình."

"Mục tiêu của nó ư? Đó là gì?"

"Sau cùng, đó là đánh lạc hướng. Bởi, xét về mức độ, nó đâu có chết hơn những hành khách khác từng nằm trong nhà xác."

Vịnh Sheepshead, Brooklyn

GLORY MUELLER, một phụ nữ vừa góa chồng, trong khi tìm kiếm trên mạng để xem cần làm gì khi chồng mất mà không để lại di chúc, đã đọc được tin về những xác chết mất tích của chuyến bay 753. Cô ấn vào đường dẫn, đọc một bài có dán nhãn TIEN TRIEN. Cục Điều tra Liên bang, tin tức cho biết, sẽ chuẩn bị tổ chức họp báo trong vòng một giờ tới để thông báo trả một món tiền thưởng mới hậu hĩnh hơn cho bất cứ ai có thông tin gì về việc thi thể các nạn nhân trong bi kịch Regis Air biến mất khỏi nhà xác.

Chuyện này khoi lên một nỗi sợ hãi sâu sắc. Không hiểu vì sao, giờ cô nhớ ra, đêm trước đó cô đã thức giấc sau một con mơ và nghe thấy những âm thanh trên gác mái.

Về giấc mơ đã khiến cô thức giấc, cô chỉ nhớ rằng Hermann, người chồng vừa qua đòi của cô, đã trở lại từ cõi chết. Đã có nhầm lẫn, và bi kịch kỳ lạ đó, chuyến bay 753 đó, trên thực tế chưa từng xảy ra, và Hermann đã về tới cửa sau ngôi nhà của họ tại vịnh Sheepshead với nụ cười hàm ý cô-tưỏng-cô-đã-thoát- khỏi-tôi-sao, muốn ăn tối.

Bề ngoài, Glory đóng vai một góa phụ u sầu thầm lặng, và cô vẫn sẽ tiếp tục như vậy trong mọi cuộc thẩm vấn hay phiên tòa có thể sẽ chặn đường cô. Nhưng có lẽ cô là người duy nhất coi tấn bi kịch đã kết liễu gã chồng mười ba năm của mình là một món quà tuyệt vòi.

Mười ba năm vợ chồng. Mười ba năm bạo hành không thương xót. Và tình trạng đó cứ liên tục leo thang trong suốt những năm chung sống, nó cứ tiếp diễn ngày một nhiều ngay trước mặt hai đứa con trai, một đứa chín tuổi và một đứa mười một tuổi. Glory đã sống trong nỗi sợ hãi thường trực trước tính khí thất thường của anh ta, và thậm chí cô đã tự cho phép mình - chỉ trong mơ tưởng, vì cố làm thật thì quá mạo hiểm - nghĩ tới viễn cảnh mang con bỏ trốn trong khi anh ta vắng mặt tuần trước để đi thăm bà mẹ hấp hối ở Heidelberg. Nhưng cô có thể đi đâu được chứ? Và, quan trọng hơn cả - anh ta sẽ làm gì với cô và lũ trẻ nếu lùng ra được họ, bởi cô biết anh ta sẽ lùng ra thôi?

Nhưng Chúa nhân từ. Rốt cuộc Người cũng đã đáp ứng những lời cầu nguyện của cô. Cô - cùng lũ trẻ - đã được giải thoát. Tấm màn bạo lực tăm tối đã được vén lên khỏi gia đình họ.

Cô tới chân cầu thang, ngước lên tầng hai và nhìn cửa sập trên trần, dây của nó đang rủ xuống phất phơ.

Lũ gấu mèo. Chứng đã trở lại. Hermann, anh ta từng bẫy một con trên gác mái. Anh ta đã mang kẻ đột nhập sợ hãi tới phát điên đó ra sân sau và trừng trị nó ngay trước mắt bọn trẻ...

Không còn nữa. Giờ cô chẳng còn gì phải sợ nữa. Bọn trẻ còn ít nhất một tiếng nữa mới về nhà, và giờ cô quyết định lên đó. Dù sao đi nữa, cô cũng đã tính sẽ dọn dẹp đồ đạc của Hermann. Ngày đổ rác là thứ Ba, và đến lúc đó, cô muốn chúng phải biến bằng sạch.

Cô cần một vũ khí, và thứ đầu tiên thoáng qua tâm trí cô là con dao rựa của Hermann. Anh tá mang nó về nhà vài năm trước, bọc nó bằng vải dầu trong kho dụng cụ bằng nhựa khóa kín bên hông nhà. Khi cô hỏi vì sao anh ta lại cần một thứ như vậy - một dụng cụ đi rừng tại đây, tại vịnh Sheepshead - anh ta chỉ cười khẩy, "Cô chẳng bao giờ biết được đâu."

Nhũng lời hăm dọa bóng gió liên tục đó cũng là một phần hành vi hung hãn hằng ngày của anh ta. Cô lấy chìa khóa treo trên cái móc phía sau cánh cửa phòng để thức ăn, rồi bước ra ngoài và mở khóa. Cô tìm thấy một miếng vải dầu giấu bên dưới mớ dụng cụ làm vườn và một bộ bóng vồ cũ, vỡ vụn mà họ được tặng nhân dịp cưới (mà giờ đây cô có thể dùng nó để nhóm lửa). Cô mang cái gói vào bếp và đặt nó lên bàn, ngập ngừng một chút trước khi mở ra.

Cô đã luôn có ác cảm với vật này. Luôn nghĩ rằng, bằng cách nào đó, nó sẽ định đoạt số phận của gia đình này, có thể sẽ là dụng cụ để Hermann kết liễu đòi Glory. Vì thế, cô mở bọc vô cùng cẩn thận, như thể đang cỏi bỏ tã lót của một con quỷ con đang ngủ. Hermann chưa bao giờ muốn cô chạm vào những đồ vật đặc biệt của anh ta.

Lưỡi dao dài, rộng và bẹt. Tay cầm được bọc dây da, đã xỉn thành màu nâu nhạt dưới tay người chủ cũ. Cô nhấc nó lên, lật qua lại, cảm nhận sức nặng của thứ đồ vật xa lạ này trên tay. Cô bắt gặp hình ảnh phản chiếu của chính mình trên cánh cửa lò vi sóng, và cô phát khiếp. Một phụ nữ cầm một con dao rựa trong phòng bếp.

Anh ta khiến cô phát điên.

Cô bước lên tầng, tay cầm dao. Cô dừng bên dưới cửa trần và với lấy nút dưới cùng của tay nắm cửa bằng dây thừng trắng đang lòng thòng. Cánh cửa mở xuống một góc bốn lăm độ trong tiếng cọt kẹt của lò xo. Âm thanh đó hẳn phải khiến mọi con vật lén lút hoảng sợ. Cô lắng nghe, chờ đợi tiếng chúng chạy trốn, nhung chẳng có gì hết.

Cô với công tắc đèn tường trên cao, nhưng chẳng đèn nào phía trên bật cả. Cô gạt vài lần, vẫn chẳng có gì. Cô chưa từng lên đây từ sau Giáng sinh, và có thể trong thời gian qua, bóng đèn đã bị cháy. Có một cửa sổ nhỏ trên rui mái. Và bấy nhiêu thôi cũng đủ ánh sáng rồi.

Cô mở cầu thang gập và trèo lên. Chỉ ba bước là mắt cô đã có thể nhìn ngang sàn gác mái. Gác mái chưa được hoàn thiện, với nhũng tấm cách ly bằng sọi thủy tinh hồng có mặt bạc bung ra giữa những thanh dầm. Gỗ dán được đặt chéo nhau theo hướng Nam-Bắc và Đông-Tây, tạo thành đường đi tới bốn góc nhà kho.

Trên đây tối hơn cô tưởng, và rồi cô nhận thấy hai trong số những giá để quần áo cũ của cô đã bị di chuyển, chắn hết ánh sáng từ cửa sổ mái thấp. Quần áo của cô thời trước khi chung sống cùng Hermann được cất kín trong túi nhựa và bỏ kho đã mười ba năm nay. Cô bước theo tấm ván gỗ và dòi giá quần áo ra chỗ khác để ánh sáng vào nhiều hon, định lục qua đống quần áo này và tìm lại chính mình ngày xưa. Nhưng rồi cô thấy, bên ngoài lối đi bằng ván gỗ dán, tấm cách ly đã bị lật lên để lộ mặt sàn trần trụi ở khoảng giữa hai thanh dầm mái.

Và cô lại thấy một chỗ mặt sàn trần trụi như vậy nữa.

Và thêm một chỗ nữa.

Cô đứng đó, chết lặng. Cô thình lình cảm thấy có thứ gì đó sau lưng. Cô sợ không dám quay lại - nhưng rồi chọt nhớ ra con dao trong tay.

Đằng sau cô, trên bức tường gác mái, cách xa cửa sổ mái nhất, những tấm cách ly bị lột ra đã được chất thành một đống lổn nhổn. Vài tấm sợi thủy tinh bị xé nát bươm, như thể một con thú sử dụng chúng để trang hoàng cái tổ khổng lồ của nó vậy.

Không phải gấu mèo. Một thứ gì đó lớn hon. Lớn hơn rất nhiều.

Cái ổ hoàn toàn yên ắng, được sắp xếp như thể để che giấu một thứ gì đó. Phải chăng Hermann đã theo đuổi một kế hoạch mờ ám nào đó mà cô không hề hay biết? Anh ta giấu giếm bí mật đen tối nào dưới đó chứ?

Tay phải giơ sẵn con dao rựa, cô kéo đầu một tấm cách ly ra khỏi cái ổ, hé lộ ra...

... không gì cả.

Cô kéo tấm thứ hai, rồi chọt dừng lại khi một cánh tay lông lá của một người đàn ông lộ ra.

Cô biết cánh tay này. Cô cũng biết bàn tay gắn trên đó là của ai. Biết tường tận cả hai.

Cô chẳng thể tin nổi những gì mình đang nhìn thấy.

Con dao rựa giơ sẵn trước mặt, cô kéo thêm một tấm cách ly nữa ra.

Áo của anh ta. Một trong những chiếc áo cộc tay cài khuy anh ta ưa thích, ngay cả trong mùa đông. Hermann là một kẻ tự phụ, luôn tự hào vì cánh tay lông lá của mình. Đồng hồ đeo tay và nhẫn cưới của anh ta đã biến mất.

Glory đúng chết lặng trước cảnh tượng ấy, bủn rủn sợ hãi. Nhung, cô phải nhìn xem sao. Cô với lấy một tấm nữa, và khi kéo nó ra, gần như tất cả những tấm cách ly còn lại đều trượt xuống sàn.

Gã chồng đã chết của cô, Hermann, đang nằm ngủ trên gác mái. Trên chiếc giường làm bằng sợi thủy tinh hồng tả toi, mặc đầy đủ quần áo, chỉ có điều đôi chân thì bẩn thỉu, như thể do đi bộ.

Cô chẳng thể tiêu hóa nổi cú sốc này. Cô chẳng thể chịu nổi nó. Gã chồng mà cô tưởng đã thoát. Kẻ bạo chúa. Kẻ ngược đãi. Kẻ hãm hiếp.

Cô đứng phía trên cơ thể đang yên giấc của anh ta, với con dao như thanh kiếm của Damocles, sẵn sàng bổ xuống nếu anh ta có bất cứ động tĩnh gì dù là nhỏ nhất.

Và rồi, chậm chạp, cô hạ tay, lưỡi dao dần buông thõng. Cô nhận ra, giờ anh ta là một hồn ma. Một kẻ trở về từ cõi chết, một sự hiện diện, muốn ám cô mãi mãi. Cô sẽ chẳng bao giờ có thể thoát khỏi anh ta.

Khi cô vẫn đang nghĩ ngọi, Hermann mở mắt.

Mí mắt nâng lên khỏi nhãn cầu của anh ta, nhìn chòng chọc thẳng lên trên.

Glory đờ người. Cô muốn chạy trốn, cô muốn hét lên, nhung cô thẳng thể làm gì.

Đầu Hermann quay sang và đôi mắt chòng chọc của anh ta dán vào cô. vẫn ánh nhìn hăm dọa ấy, luôn là vậy. Cái vẻ khinh khỉnh. Ánh nhìn luôn dự báo điềm gở.

Và rồi một ý nghĩ nảy ra trong đầu cô.

***

Cùng lúc, cách đó bốn căn nhà dưới phố, cô bé Lucy Needham ba tuổi đứng trên lối vào gara, đang cho con búp bê tên Cục Cưng ăn bánh quy giòn từ một túi Cheez-Its. Lucy ngừng nhai bánh, lắng nghe những tiếng hét bị nghẹt lại và tiếng bịch rõ to từ... đâu đó không xa. Cô bé nhìn lên nhà mình, rồi nhìn về hướng Bắc, chun mũi lại với vẻ bối rối ngây thơ. Cô bé đứng yên, cái lưỡi đầy những miếng bánh quy phô mai nhai dở thò hẳn ra ngoài miệng, lắng nghe một trong những âm thanh lạ kỳ nhất mà cô bé từng được nghe. Cô bé định kể với bố chuyện này khi bố cầm điện thoại quay trở lại, nhung đúng lúc đó túi Cheez-Its bị roi, vậy là cô bé ngồi xổm xuống nhặt bánh dưới đường mà ăn, và rồi sau khi bị mắng, cô bé quên sạch mọi chuyện.

***

Glory đứng thở hổn hển trong gác mái, cầm chặt con dao rựa bằng cả hai tay. Hermann, thân thể bị chặt làm nhiều mảnh, nằm giữa những tấm cách ly màu hồng nhóp nhúa, bức tường gác mái tưng tóe một thứ chất lỏng trắng đang nhỏ giọt.

Trắng ư?

Glory run lẩy bẩy, tâm trí rối bôi. Cô nhìn lại điều tệ hại mình đã làm. Hai lần, lưỡi dao đã cắm cả vào dầm gỗ, và theo như những gì cô nhớ được, chính Hermann đã cố giật con dao từ tay cô, và cô đã phải giằng co hết sức để có thể giữ lại nó, rồi cứ thế chém lia lịa vào da thịt anh ta.

Cô lùi lại một bước. Cô như trong trạng thái thoát xác. Choáng váng trước những gì đã làm.

Cái đầu với vẻ khinh khỉnh của Hermann lăn vào giữa hai dầm mái, mặt úp xuống, một nhúm sọi thủy tinh hồng dính vào má anh ta trồng giống như kẹo bông. Thân trên của anh ta thủng, rách, đùi anh ta bị chém tới tận xương, háng anh ta nổi bọt trắng.

Trắng ư?

Cô cảm thấy thứ gì đó nhỏ xuống dép, tách-tách-tách. Cô thấy máu - máu đỏ - và nhận ra cô đã chém phải chính mình từ lúc nào, vào cánh tay trái, mặc dù cô chẳng hề cảm thấy đau. Cô giơ tay lên xem xét, những giọt máu to và đỏ nhỏ xuống mặt gỗ dán.

Trắng ư?

Cô trông thấy thứ gì đó đen và nhỏ đang ngọ nguậy. Mắt cô nhòe đi, chóp chóp, vẫn đang trong con cuồng giết chóc. Cô chẳng thể tin vào mắt mình nữa.

Cô thấy ngứa ngáy ở mắt cá chân, bên dưới chiếc dép nhuốm máu. Cơn ngứa lan lên khắp chân, cô đập mạnh đùi bằng mặt phẳng của lưỡi dao dính thứ chất lỏng trắng.

Và rồi - cảm giác ngứa lại xuất hiện ở mặt trước chân kia. Và thêm cả phần thắt lưng. Cô nhận ra mình đang chịu một dạng phản ứng kích động, như thể đang bị bọ tấn công. Cô vấp chân về phía sau, suýt chút nữa ngã ra khỏi lối đi lát gỗ dán.

Rồi một cảm giác len lỏi ghê rợn cực độ xuất hiện quanh vừng háng - và con khó chịu lên tới ruột già. Một thứ gì đó trườn bò xâm nhập vào, khiến cô giật nảy mình và vội giữ chặt lấy mông, như thể cô đang sắp sửa bĩnh ra quần. Cơ thắt dãn ra và cô cứ đứng như vậy thật lâu, bất động, cho tới khi cảm giác này dần trôi qua. Cô cho phép mình thả lỏng, thư thái. Cô cần vào phòng tắm. Lại một thứ gì đó ngoe nguẩy khiến cô sao nhãng, lần này nó xuất hiện bên trong cổ tay áo của cô. Và cô cảm thấy một con ngứa thiêu đốt ở vết cắt trên cánh tay.

Và rồi một cơn đau nhói, từ sâu bên trong ruột, khiến cô gập người lại. Con dao roi xuống sàn gỗ và một tiếng thét, đúng hơn là một tiếng kêu ré đầy đau đón thoát ra khỏi miệng Glory. Cô cảm thấy thứ gì đó đang gọn sóng lên phía trên cánh tay - lúc này ở ngay dưới da thịt, trườn bò - và trong khi miệng cô vẫn đang há ra và la hét, một con giun ống mảnh khác trườn ra từ sau cổ, bám theo hàm tới môi cô, rồi lao vào vách má trong miệng và len lỏi xuống cuống họng.

Freeburg, New York

ĐÊM XUỐNG NHANH trong khi Eph lái xe về hướng Đông, cắt ngang đại lộ Cross Island, về phía hạt Nassau.

Eph nói, "Vậy ý ông là, những hành khách trong nhà xác thành phố, mà giờ đây cả thành phố đang tìm kiếm - tất cả bọn họ chỉ về nhà thôi sao?"

Vị giáo sư già ngồi ở ghế sau, mũ đặt trên đùi. "Máu cần máu," ông nói. "Một khi đã biến đổi, những con ma hiện hình này trước hết sẽ tìm đến gia đình và bạn bè, những người vẫn còn chưa bị nhiễm. Họ trở về, vào ban đêm, về nơi có những người họ cảm thấy gắn bó về mặt tinh thần. Những 'Người Thương' của họ. Giống bản năng tìm về tổ, tôi nghĩ vậy. Cũng như sự thôi thúc của loài thú đã dãn dắt lũ chó đi lạc hàng trăm cây số trở về với chủ. Khi chức năng cao cấp hơn của não mất đi, bản năng thú vật của họ sẽ thắng thế. Đó là những sinh vật hành động bởi thôi thúc. Ần. Trốn. Làm tổ."

"Trở về với những người đang khóc thương họ," Nora nói, cô ngồi cạnh Eph ở hàng ghế trước. "Để tấn công và lây nhiễm ư?"

"Để ăn. Bản nâng của xác sống là tra tấn người sống."

Eph im lặng ra khỏi đường hầm. Thứ nhiệm vụ liên quan tới ma cà rồng này cũng hại não như khi ăn phải một món dở ẹc: tâm trí anh từ chối tiêu hóa nó. Nó cứ nhai và nhai nhưng rồi chẳng thể nuốt nổi.

Khi Setrakian đề nghị anh chọn một hành khách trong danh sách những nạn nhân của chuyến 753, người đầu tiên anh nghĩ tới là bé gái Emma Gilbarton. Cô bé anh thấy vẫn nắm chặt tay mẹ trên máy bay. Có vẻ đây chính là thử nghiệm tốt cho giả thuyết của Setrakian. Làm thế nào một cô bé mười một tuổi đã chết có thể đi từ một nhà xác tại Queens về tới tận nhà tại Freeburg trong đêm chứ?

Nhưng giờ đây, khi đỗ xe bên ngoài địa chỉ của gia đình Gilbarton - một căn nhà trang nghiêm xây theo kiến trúc thời George trên một vệ phố rộng với những biệt thự cách xa nhau - Eph nhận ra rằng, nếu họ sai, anh sắp đánh thức một người đàn ông đang đau khổ bởi sự kết thúc của gia đình mình, bởi sự mất mát người vợ và đứa con duy nhất.

Eph hoàn toàn mù mờ về chuyện này.

Setrakian bước ra khỏi chiếc Explorer, chỉnh lại mũ trên đầu, và mang theo cây gậy dài ngoằng mà ông chắng cần dùng để chống. Con phố buổi tối tĩnh mịch, vài căn nhà khác sáng ánh đèn, nhưng không có ai đi lại, không xe cộ ngang qua. Các cửa sổ nhà Gilbarton tối om. Setrakian đưa bọn họ mỗi người một chiếc đèn pin lắp bóng đen, trông giống hệt đèn Luma của họ, chỉ có điều nặng hon.

Họ bước tới cửa, Setrakian lấy đầu cây gậy bấm chuông. Không thấy ai trả lời, ông thử vặn tay nắm cửa, chỉ dùng phần găng, giữ cho những ngón tay trần cách xa nắm cửa. Không để lại bất cứ dấu vân tay nào.

Eph nhận ra trước đây ông lão đã làm những việc kiểu này rồi.

Cửa trước khóa chặt. "Đi nào," Setrakian nói.

Họ xuống thềm và đi vòng quanh nhà. Sân sau là một khoảng trống rộng bên rìa một khu rừng già. Trăng sớm chiếu sáng nhẹ, đủ để tạo ra những vệt bóng mờ của họ trên thảm cỏ.

Setrakian dừng lại và giơ cây gậy lên chỉ.

Một Ịối dẫn vào tầng hầm nhô lên khỏi mặt đất, cánh cửa mở toang trong màn đêm.

Ông lão tiến tới chỗ đó, Eph và Nora theo sau. Những bậc thang bằng đá dẫn xuống một hầm tối. Setrakian lướt mắt dọc những cây cao che chắn sân sau.

Eph nói, "Ta không thể cứ thế mà vào trong."

"Làm vậy sau khi mặt trời lặn thì cực kỳ thiếu khôn ngoan," Setrakian nói. "Nhưng chờ đợi là điều quá xa xỉ đối với chúng ta."

Eph nói, "Không, ý tôi là... đây là đột nhập. Ta nên gọi cảnh sát trước."

Setrakian cáu kỉnh tước cây đèn từ tay Eph. "Những gì ta cần làm đây... họ sẽ chẳng thể hiểu nổi."

Ông bật đèn, hai bóng tím phát ra ánh sáng đen. Cũng giống như cây gậy y tế Eph sử dụng, nhưng có điều sáng hơn và nóng hon, và sử dụng loại pin lớn hon.

"Anh sáng đen?" Eph nói.

"Anh sáng đen chỉ đon giản là ánh sáng tử ngoại sóng dài, hay còn gọi là UVA. Làm hiện hình, nhưng vô hại. UVB lằ sóng trung, có thể gây sạm da hoặc ung thư da. Còn đây" - ông cẩn thận chĩa tia sáng tránh xa khỏi họ, cũng như xa khỏi chính mình - "là tia uvc sóng ngắn. Sát khuẩn, có tác dụng khử trùng. Có thể gây kích thích và phá hủy cấu trúc ADN. Cực kỳ nguy hiểm cho da người khi rọi trực tiếp. Nhưng đối với ma cà rồng - đây là vũ khí."

Ông lão bắt đầu bước xuống bậc thang, một tay cầm đèn, tay kia cầm cây gậy chống. Anh sáng tử ngoại chẳng giúp soi sáng được là bao, và ánh đèn uvc chỉ càng khiến quang cảnh trở nên u ám hơn thay vì rọi sáng. Trên những bức tường đá hai bên cầu thang, khi họ băng qua cái giá buốt của ban đêm để bước vào không khí mát lạnh của hầm móng xi măng, rêu mốc ánh lên màu trắng.

Bên trong, Eph nhìn ra đường viền tối của cầu thang dẫn lên tầng một. Một khu giặt là và một máy choi pinball đòi cổ.

Và một thi thể nằm trên sàn.

Một người đàn ông nằm đó trong bộ đồ ngủ kẻ ca rô. Eph định tiến tới gần anh ta theo bản năng của một bác sĩ có nghề - nhung rồi anh tự ngăn mình lại. Nora dò dẫm bức tường đối diện cánh cửa trong và bật công tắc tại đó, nhưng đèn không sáng.

Setrakian tới gần người đàn ông, gí sát đèn vào cổ anh ta. Một ánh màu chàm kỳ dị cho thấy một đường cắt nhỏ, thẳng tưng dưới ánh tím, ngay phía bên trái cổ họng anh ta.

"Anh ta đã bị biến đổi," Setrakian nói.

Ông lão dúi đèn Luma vào tay Eph. Nora bật đèn của mình lên rọi vào mặt người đàn ồng, soi chiếu một sinh vật điên dại bên dưới da, một lóp mặt nạ giận dữ, chết chóc đang chuyển mình, quằn quại, và một cách mơ hồ nhưng chắc chắn, trông y như ác quỷ.

Setrakian tìm thấy một cái rìu mới tinh với tay cầm bằng gỗ nhẵn bóng và lưỡi thép lấp lánh đỏ-bạc đang tựa vào một bàn thợ trong góc. Ông trở lại, cầm cái rìu trong đôi bàn tay xương xẩu.

"Đợi đã," Eph nói.

Setrakian nói, "Xin hãy lùi lại, bác sĩ."

"Anh ta chỉ đang nằm đó thôi mà," Eph nói.

"Anh ta sẽ sớm sống dậy." Óng lão chỉ tay về phía bậc cầu thang đá dẫn lên cánh cửa chòi vẫn đang mở, trong khi đôi mắt không rời khỏi người đàn ông đang nằm trên sàn. "Con bé đang ở ngoài kia. Hút máu những người khác." Setrakian giơ rìu sẵn sàng. "Tôi không đề nghị anh tha thứ, bác sĩ ạ. Ngay bây giờ, tất cả những gì tôi đề nghị là anh hãy đứng sang một bên."

Eph nhìn thấy sự quyết tâm trên khuôn mặt Setrakian và hiểu rằng ông lão sẽ vung rìu, cho dù có bị anh chắn đường hay không. Eph lùi bước. Lưỡi rìu quá nặng đối với tầm vóc và tuổi tác của Setrakian, ông lão giơ cả hai tay qua đầu, phần dẹt của lưỡi rìu gần như chạm vào phía sau thắt lưng ông.

Rồi cánh tay ông thả lỏng. Khuỷu tay hạ xuống.

Ông quay đầu về phía cánh cửa chòi đang mở toang, lắng nghe.

Eph cũng đã nghe thấy. Tiếng lạo xạo của cỏ khô bị giẫm bẹp.

Thoạt đầu, anh đoán là một con thú. Nhưng không. Tiếng xào xạc đó mang nhịp bước của một động vật hai chân.

Tiếng bước chân. Con người - hoặc từng là con người. Đang tiến gần.

Setrakian hạ rìu. "Ehíng sát cửa. Yên lặng. Đóng cửa lại phía sau con bé ngay sau khi nó bước vào." Ông lấy lại cái đèn từ Eph, rồi thay vào đó đưa cho anh cái rìu. "Không được để nó chạy thoát."

Ong lùi về chỗ cây gậy chống đang dựa vào tường, phía đối diện với cánh cửa - rồi tắt cây đèn nóng, chìm vào bóng tối.

Eph đứng cạnh cửa hầm đang mở toang, lưng dựa tường. Bên anh là Nora, cả hai cùng run rẩy trong hầm nhà một người xa lạ. Bước chân tới gần hơn, êm ái nhẹ nhàng trên mặt đất.

Bước chân dừng lại ở đầu cầu thang. Một cái bóng mờ trùm lên ánh trăng trên sàn căn hầm: đầu và vai.

Bước chân bắt đầu đi xuống.

Khi đã xuống dưới chân cầu thang, ngay trước cánh cửa, nó dừng bước. Eph - đứng cách đó không quá ba mét - sững sờ trước bóng dáng của con bé. Nhỏ và thấp, mái tóc vàng xõa trên hai vai của chiếc váy ngủ dài ngang gối. Chân trần, hai cánh tay buông thõng, đứng yên một cách bất thường. Ngực nó phập phồng, nhưng chắng một hơi thở nào thoát ra từ miệng nó dưới ánh trăng.

Về sau, anh sẽ hiểu rõ hon. Rằng thính giác và khứu giác của con bé đã nhạy hơn rất nhiều. Rằng con bé có thể nghe thấy nhịp máu chảy trong cơ thể anh, Nora và vị giáo sư, và có thể ngửi thấy mùi CO2 phả ra từ hơi thở của họ. Anh cũng hiểu được rằng thị giác là giác quan kém nhạy bén nhất của nó. Giờ đây con bé đang trong giai đoạn mất đi sắc giác, nhưng khả năng nhận diện nhiệt - khả năng "đọc" các dấu hiệu nhiệt như quầng sáng đon sắc - vẫn chưa hoàn thiện.

Con bé tiến lên vài bước, thoát khỏi ánh trăng yếu ớt trên vùng ô cửa chữ nhật và chìm vào bóng tối hoàn toàn trong căn hầm. Một con ma đã vào phòng. Eph đáng ra phải đóng cửa, nhưng sự hiện diện của con bé ngay tại đây đã khiến anh chết lặng.

Con bé quay về phía Setrakian đang đứng, dán mắt vào vị trí của ông. ông lão bật đèn. Con bé vô cảm nhìn ánh đèn. Rồi ông tiến về phía nó cùng với cây đèn. Con bé cảm nhận được sức nóng, bèn quay về phía cửa hầm để trốn thoát.

Eph sập cửa. Cánh cửa nặng nề đóng sầm lại, tiếng ầm vang khắp ngôi nhà. Eph tưởng như cả căn nhà sẽ đổ sập đè lên họ.

Bé gái, Emma Gilbarton, lúc này đã trông thấy họ. Con bé bị chiếu ánh sáng tím từ bên sườn, và Eph có thể thấy những vết màu chàm dọc đôi môi và trên cái cằm nhỏ xinh xắn của nó. Kỳ quặc, như một kẻ tiệc tùng tự sơn huỳnh quang lên người.

Anh chợt nhớ: máu sẽ ánh lên màu chàm dưới tia tử ngoại.

Setrakian giơ cây đèn sáng ra phía trước để lùa con bé trở lại. Phản ứng của con bé giống như một con thú bối rối, nó chùn bước như thể đang đối đầu với ngọn đuốc cháy. Setrakian đuổi theo con bé một cách nhẫn tâm, dồn nó vào chân tường. Từ sâu trong cổ họng nó thốt ra một tiếng kêu trầm, khản đặc, một tiếng rên rỉ đau đớn.

"Bác sĩ." Setrakian đang gọi Eph. "Bác sĩ, tới đây. Ngay lập tức!"

Eph tới gần con bé hon, lấy cây đèn Luma từ Setrakian và đưa cho ông chiếc rìu - trong lúc đó vẫn rọi thẳng đèn vào con bé.

Setrakian lùi lại. Ông ném cái rìu đi, nó kêu xoảng trên mặt sàn cứng. Hai tay đeo găng của ông nắm lấy cây gậy chống, nắm chặt phần dưới tay cầm hình đầu sói. Bằng một cú vặn cổ tay dứt khoát, ông tách phần đầu ra khỏi cây gậy.

Từ cái vỏ gỗ, Setrakian rút ra một lưỡi kiếm bạc.

"Nhanh lên," Eph nói, quan sát con bé quằn quại bên bức tường, chẳng thể di chuyển bởi những tia sáng chết chóc.

Con bé trông thấy thanh kiếm của ông lão rực lên gần như màu trắng, và khuôn mặt nó toát lên một vẻ gì đó như sợ hãi. Và rồi nỗi sợ hãi chuyển thành sự hung dữ.

"Nhanh lên!" Eph nói, chỉ muốn mọi chuyện chấm dứt. Con bé rít lên, và anh nhìn thấy bóng tối bên trong con bé, bên dưới làn da của nó, một con quỷ gầm gừ muốn thoát ra.

Nora đang quan sát người cha nằm trên sàn. Cơ thể anh ta bắt đầu chuyển động, anh ta mở mắt. "Giáo sư?" Nora gọi.

Nhưng ông lão vẫn đang vướng bận với con bé.

Nora nhìn Gary Gilbarton ngồi dậy rồi đứng lên trên đôi chân trần, một xác chết trong bộ đồ ngủ, mắt mở.

"Giáo sư?" Nora gọi một lần nữa, bật chiếc đèn của mình lên.

Cây đèn kêu lách tách. Cô lắc nó, vỗ tay vào đế đèn, nơi chứa pin. Ánh sáng tím xì xèo bật lên, rồi tắt ngóm - rồi lại bật lên một lần nữa.

"Giáo sư!" cô thét lên.

Ánh sáng nhấp nháy thu hút sự chú ý của Setrakian. Ông quay về phía người đàn ông vừa sống lại, đang bối rối và loạng choạng. Bằng kỹ thuật nhiều hơn là bằng sự nhanh nhẹn, Setrakian khiến Gilbarton gập mình lại bởi những cú đâm xiên ruột và ngực, rạch những vết thương ứa máu trắng trên bộ đồ ngủ của anh ta.

Eph, lúc này chỉ còn lại một mình với bé gái, nhìn con quỷ đang trốn bên trong cô bé, chẳng hề hay biết những gì đang xảy ra phía sau, và gọi, "Giáo sư Setrakian!"

Setrakian xiên vào hai nách của người cha để tay anh ta roi xuống hai bên, rồi chém vào vùng gân dưới đầu gối, khiến thây ma khụy xuống bằng cả bốn chi. Và khi đầu Gilbarton ngửa lên, cổ vươn dài, Setrakian vung kiếm, thốt ra vài từ bằng tiếng nước ngoài - như thể một lời tuyên bố trang nghiêm nào đó - và rồi chém lưỡi kiếm qua cổ người đàn ông, cắt rời đầu anh ta khỏi thân người, phần thân dưới của thây ma đổ rạp xuống sàn.

"Giáo sư!" Eph gọi, gí ánh đèn vào con bé, tra tấn nó - một bé gái chỉ khoảng tuổi Zack, đôi mắt hoang dại của nó nhòe màu tím - những giọt nước mắt máu - trong khi sinh vật bên trong nó lên con thịnh nộ.

Miệng con bé há ra như thể muốn nói. Gần như thể muốn hát. Miệng nó cứ mở và thứ đó thò ra, đầu chích từ phần vòm miệng mềm bên dưới lưỡi. Cơ quan này phồng lên khi đôi mắt con bé chuyển từ buồn rầu sang đói khát, ánh lên một vẻ gần như háo hức.

Ông lão trở về chỗ con bé, chĩa kiếm. "Lùi lại, strigoiĩ" ông nói.

Con bé quay sang ông lão, đôi mắt nó vẫn rực lửa. Lưỡi kiếm bạc của Setrakian giờ đây vấy máu trắng. Ông thốt lên những từ giống y như lúc trước, hai tay ông giơ lên quá vai, lăm lăm thanh kiếm. Eph tránh sang một bên đúng lúc thanh kiếm chém qua.

Con bé giơ tay chặn đúng vào giây cuối, và lưỡi kiếm cắt lìa bàn tay khỏi cổ tay nó trước khi tách rời đầu con bé khỏi cổ. Vết cắt gọn và cực phẳng. Máu trắng bắn lên tường - không phun thành dòng, mà phọt ra một cách ghê tởm - cơ thể con bé đổ sập xuống sàn, đầu và bàn tay nó roi lên trên, cái đầu lăn lông lốc.

Setrakian hạ kiếm và lấy đèn khỏi tay Eph, ông chiếu tia sáng nhạt gần vết thương hở trên cổ cô bé, gần như một tư thế chiến thắng. Nhưng không phải vậy: Eph nhìn thấy những sinh vật ngoe nguấy trên bãi máu trắng sệt rỉ ra.

Những con giưn ký sinh. Chúng cuộn chặt lại và nẳm im khi ánh đèn chiếu tói. Ong lão đang làm sạch hiện trường.

Eph nghe thấy tiếng bước chân trên nền cầu thang đá. Nora, cô đang chạy ra khỏi tầng hầm. Anh chạy theo cô, suýt chút nữa vấp phải thi thê mất đầu của người cha, lên tới thảm cỏ vào với không gian khuya khoắt.

Nora đang chạy tới những cái cây tối đen đu đưa. Anh bắt kịp cô trước khi cô tới đó, và kéo cô lại, ôm chặt lấy cô. Cô hét vào ngực anh, như thế lo sợ tiếng khóc của mình sẽ tràn vào màn đêm, và anh ôm cô cho tới khi Setrakian bước lên sân.

Hoi thở của ông phả vào trong không khí đêm mát lạnh, ngực ông phập phồng nặng nhọc. Ong ấn ngón tay lên ngực trái. Mái tóc bạc trắng của ông rối bòi và sáng bóng dưới ánh trăng, khiến ông - cũng như tất cả mọi chuyện lúc đó, đối với Eph - có vẻ điên rồ.

Ông lau sạch lưỡi kiếm trên cỏ trước khi cắm nó trở lại vào đầu vỏ gậy. Ông gắn hai mảnh vào làm một bằng một cú vặn chắc chắn, và cây gậy chống dài quá khố lại trở về như trước kia.

"Con bé giờ đây đã được giải thoát," ông nói. "Con bé và cha nó đã an nghỉ."

Ông kiếm tra dưới ánh trăng máu ma cà rồng dính trên giày và ống quần. Nora nhìn ông bằng ánh mắt hoang dại. "Ong là ai vậy?" cô hỏi.

"Chỉ là một người du hành thôi," ông trả lời. "Giống như các vị."

Họ đi bộ trở lại chiếc Explorer của Eph. Eph thấy bồn chồn bất an giữa sân trước. Setrakian mở cửa sau và rút ra một bộ pin dự phòng. Ong thay pin cho đèn của Eph và chiếu ánh sáng tím lên thành xe để kiếm tra một chút.

Setrakian nói, "Hai người đợi ở đây nhé."

"Đợi gì chứ?" Eph nói.

"Anh đã thấy máu trên môi, trên cằm con bé rồi đấy. Da nó hồng hào. Nó đã hút máu. Chuyện này vẫn chưa kết thúc."

Ông lão tiến tới căn nhà bên cạnh. Eph quan sát ông, Nora buông Eph ra và dựa vào thành xe. Cô khó nhọc nuốt nước bọt, như sắp nôn. "Ta vừa giết chết hai người ngay dưới hầm nhà họ."

"Thứ này lây lan người qua người. Bởi thứ không phải người."

"Ma cà rồng, ôi Chúa ơi..."

Eph nói, "Nguyên tắc đầu tiên luôn là - chống lại căn bệnh, không phải nạn nhân của nó."

"Đừng ma quỷ hóa căn bệnh," Nora nói.

"Nhưng giờ đây... giờ đây căn bệnh chính là ma quỷ. Giờ đây những người đã nhiễm chính là vật chủ trung gian chủ động lây nhiễm căn bệnh, và cần phải ngăn họ lại. Phải giết. Phải tiêu diệt."

"Giám đốc Bames sẽ nói gì về việc này chứ?"

Eph nói, "Ta không thế đợi ông ấy nữa. Ta đã đợi quá lâu."

Họ chìm vào yên lặng. Ngay sau đó, Setrakian quay trở lại, mang theo cây gậy chống/thanh kiếm diệt ma cà rồng và cái đèn vẫn còn ấm.

"Xong xuôi rồi," ông nói.

"Xong xuôi?" Nora nói, vẫn kinh hãi trước những gì mình vừa trông thấy. "Giờ thì sao? Ong cũng biết rằng phải có khoảng hai trăm hành khách nữa trên chuyến bay đó."

"Sự việc còn tệ hơn rất nhiều. Đêm thứ hai đang tói. Và đọt lan truyền dịch bệnh thứ hai sẽ xảy ra ngay thôi."

chú thích

[I] Hộp có chứa một mảnh giấy da cuộn tròn, có ghi những lời cầu nguyện. Người Do Thái tin rằng nó ngàn tai ương xâm nhập ngôi nhà của mình.

[II] Abbott và Costello là hai diễn viên trong bộ phim Abbott and Costello Meet Frankenstein (Abbott và Costello gặp Frankenstein), trong đó Bela Lugosi đóng vai ma cà rồng Dracula.

[III] Giấc ngủ REM - Rapid Eye Movement (chuyển động mắt nhanh): giai đoạn giấc ngủ sâu trong đó não hoạt động rất tích cực.

« Lùi
Tiến »