Eph và Nora trình thẻ ra vào cho bảo vệ và đưa Setrakian qua cửa phòng cấp cứu mà chẳng hề gây bất cứ sự chú ý nào. Khi đi trên những bậc cầu thang dẫn tới khu cách ly, Setrakian nói, "Việc này quá liều lĩnh."
Eph nói, "Người này, Jim Kent - anh ấy, Nora và tôi đã làm việc cùng nhau một năm rồi. Chứng tôi không thể bỏ mặc anh ấy." "Anh ta đã bị biến đổi. Anh có thể làm gì cho anh ta chứ?" Eph bước chậm lại. Setrakian đang thở hổn hển phía sau, và cảm kích khi được nghỉ chân, ông tựa người vào cây gậy chống. Eph nhìn Nora, và họ có chung suy nghĩ.
"Tôi có thể giải thoát anh ấy," Eph nói.
Họ ra khỏi khu cầu thang và cẩn thận quan sát lối vào khu cách ly ở đầu kia của hành lang.
"Không có cảnh sát," Nora nói.
Setrakian ngó quanh. Ông không chắc chắn được thế.
"Sylvia ở kia," Eph nói, nhận ra cô bạn gái tóc xoăn của Jim đang ngồi trên một cái ghế gập cạnh lối vào khu cách ly.
Nora gật đầu, sẵn sàng. "Ehrợc thôi," cô nói.
Cô bước một mình tới gặp Sylvia, và cô gái đứng dậy khi thấy cô tói. "Nora."
"Jim thế nào rồi?"
"Họ chưa nói gì cho tôi hết." Sylvia ngó phía sau Nora. "Eph không đi cùng chị sao?"
Nora lắc đầu. "Anh ấy đi rồi."
"Những điều họ nói không phải sự thật đúng không?"
"Không đâu. Trông chị mệt mỏi quá. Ta đi lấy gì đó cho chị ăn nhé."
Trong khi Nora hỏi lối ra nhà ăn, đánh lạc huóng các y tá, Eph và Setrakian lẻn qua cửa tới khu cách ly. Eph như một sát thủ bất đắc dĩ băng qua gian cất áo choàng và găng tay, đi xuyên qua những lóp rèm che bằng nhựa tới gian của Jim.
Giường anh ta trống không. Jim đã biến mất.
Eph lập tức kiểm tra các gian khác. Tất cả đều trống không.
"Chắc họ đã đưa anh ấy đi," Eph nói.
Setrakian nói, "Cô bạn gái của anh ta hẳn sẽ không ở ngoài đó nếu biết anh ta đã đi mất."
"Vậy là...?"
"Chúng đã bắt anh ta."
Eph nhìn chằm chằm chiếc giường trống. "Chứng ư?"
"Đi thôi," Setrakian nói. "Việc này vô cùng nguy hiểm. Chúng ta không có thời gian đâu."
"Đợi đã." Anh tới bên chiếc tủ đầu giường, thấy tai nghe của Jim đang treo lủng lẳng từ ngăn kéo dưới. Anh tìm thấy điện thoại của Jim và kiểm tra để chắc chắn nó đã được sạc. Anh rút điện thoại của mình ra và nhận ra giờ nó chẳng khác gì một thiết bị dẫn đường. FBI có thể xác định vị trí của anh qua GPS.
Anh thả điện thoại của mình vào ngăn tủ, tráo đổi điện thoại với Jim.
"Bác sĩ," Setrakian lên tiếng, mất kiên nhẫn.
"Xin hãy gọi tôi là Eph," anh nói, đút điện thoại của Jim vào túi trên đường đi ra. "Thời gian này, tôi không còn cảm thấy mình là một bác sĩ nữa rồi."
Cao tốc West Side, Manhattan
GUS ELIZALDE NGỒI trong thùng xe tù của Sở Cảnh sát New York, tay bị còng vào một thanh thép phía sau. Felix ngồi chếch phía đối diện cậu, đầu gục xuống, rung lắc theo chuyển động xe, càng lúc càng tím tái. Hẳn là họ đang trên cao tốc West Side nên mới có thể di chuyển nhanh thế này tại Manhattan. Hai tù nhân khác ngồi cùng họ, một người đối diện Gus, một người bên trái cậu, đối diện Felix. Cả hai đều đang ngủ. Lũ ngu có thể ngủ bất cứ lúc nào.
Gus ngửi thấy mùi thuốc lá từ khoang lái của chiếc xe tải không cửa sổ, qua tấm ngăn đã đóng. Lúc họ lên xe, trời đã chập choạng tối. Gus để mắt trông chừng Felix, lúc này đang đổ người ra khỏi thanh còng tay, rũ về phía truóc. Nhớ đến nhũng gì ông lão chủ tiệm cầm đồ đã nói. Và chờ đợi.
Cậu không cần đợi quá lâu. Đầu Felix bắt đầu nghển lên, và rồi quay sang một bên. Ngay lập túc nó ngồi thẳng dậy, quan sát tứ phía. Felix nhìn Gus, nhìn chằm chằm, nhung trong ánh mắt Felix chẳng có bất cứ dấu hiệu gì cho Gus thấy rằng người bạn lâu năm đã nhận ra cậu.
Anh mắt nó tối om, trống rỗng.
Một tiếng còi xe chói tai khiến gã bên cạnh Gus giật mình tình giấc. "Mẹ kiếp," gã lên tiếng, lạch cạch cái còng tay phía sau. "Ta đang tới chỗ chết tiệt nào vậy?" Gus không trả lời. Gã đó bắt đầu nhìn sang Felix, lúc này cũng đang nhìn gã. Gã đạp chân Felix. "Tao bảo, ta đang tới chỗ chết tiệt nào vậy, thằng nhãi?"
Felix quan sát gã một lát với ánh nhìn vô cảm, gần nhu khờ dại. Mồm nó há ra nhu thể để trả lời - và rồi vòi chích bắn ra, cắt ngang chiều rộng của xe tải, chọc thủng cổ họng gã đàn ông khốn khổ. Gã đó chẳng thể làm gì ngoài giậm và đạp. Giờ đã mắc kẹt trong thùng xe cùng người bạn cũ Felix, Gus cũng bắt đầu hành động tuong tự, la hét, đập rầm rầm, đánh thức tên tù nhân đối diện mình. Cả hai cùng la hét và giậm chân trong khi gã bên cạnh Gus gục xuống, còn vòi chích của Felix ủng lên, chuyển từ tái nhợt sang đỏ máu.
Vách ngăn giữa khoang tù nhân và buồng lái trước mở ra. Một cái đầu đội mũ cảnh sát quay ngoắt lại từ ghế phụ. "Câm miệng lại, bằng không tao sẽ..."
Gã cảnh sát nhìn thấy Felix đang uống máu tên tù nhân kia. Nhìn thấy cơ quan ứ máu vươn ra ngang qua xe tải, bữa ăn bẩn thỉu đầu tiên, Felix đang nhả ra và vòi chích đang vọt trở lại miệng nó. Máu đang trào ra từ cổ tên tù nhân và nhỏ giọt xuống ngực Felix.
Gã cảnh sát ngồi ghế phụ kêu ăng ẳng và quay ngoắt đi.
"Gì vậy?" gã tài xế hét lên, cố gắng ngoái lại phía sau.
Vòi chích của Felix bắn thẳng qua vách ngăn, phập vào cổ họng gã tài xế. Tiếng la hét vang lên khắp xe trong khi chiếc xe tròng trành, mất kiểm soát. Gus bấu ngón tay vào thanh còng tay vừa kịp lúc, thoát khỏi nguy cơ gãy cổ tay, và chiếc xe lắc mạnh hết bên phải tới bên trái, sau đó đổ rầm sang một bên.
Chiếc xe trượt dài cho tới khi đâm sầm vào rào chắn đường, rồi bật ngược lại, quay vòng. Gus ngã sang một bên, tên tù nhân đối diện cậu giờ đang treo lủng lẳng trên cánh tay gãy, kêu ăng ẳng trong đau đón và sợ hãi. Chốt khóa của Felix đã gãy, vòi chích của nó giờ thòng xuống lủng lẳng và co giật như một dây cáp điện nhỏ máu người.
Đôi mắt chết chóc của nó ngước lên nhìn Gus.
Gus nhận ra thanh còng tay của cậu đã gãy, bèn hối hả trượt còng tay dọc theo thanh còng, rồi đạp cánh cửa méo mó cho tới khi nó bật mở. Cậu nhào ra lề đường, tai ù lên như thể một quả bom vừa phát nổ.
Tay cậu vẫn bị còng phía sau. Đèn pha ô tô băng qua, một số đi chậm lại để xem đống đổ nát. Gus vội lăn đi, nhanh nhẹn vòng cổ tay qua dưới chân, đưa hai tay ra phía trước. Cậu quan sát cánh cửa khoang sau của chiếc xe đã bị phá mở, chờ đợi Felix trèo ra tìm mình.
Và rồi Gus nghe thấy một tiếng thét. Cậu nhìn quanh tìm kiếm một thứ vũ khí bất kỳ, và rốt cuộc phải chọn một nắp trục bánh xe sứt mẻ. Gus cầm nó trên tay, bước tói, đứng sát cánh cửa mở của chiếc xe tải lật nghiêng.
Felix ở đó, đang uống máu tên tù nhân mắt trợn trừng vẫn còn bị treo trên thanh thép.
Gus chửi thề, buồn nôn trước cảnh tượng đó. Felix rời ra và, không một chút lưỡng lự, nó bắn vòi chích vào cổ Gus. Gus giương nắp trục bánh xe lên vừa kịp lúc, đánh bật cú bắn trước khi lăn ra khỏi tầm nhìn của khoang sau xe tải.
Một lần nữa, Felix không theo sau cậu. Gus đứng đó một lúc, bình tĩnh lại - tự hỏi vì sao - và rồi nhận ra mặt trời. Mặt trời lúc này lơ lửng giữa hai tòa nhà phía Hudson, đỏ rực như máu và đã gần lụi tắt, đang lặn xuống thật nhanh.
Felix đang lẩn trốn bên trong xe tải, chờ mặt trời lặn. Chỉ ba phút nữa thôi nó sẽ tự do.
Gus điên cuồng ngó quanh. Cậu nhìn thấy một tấm kính chắn gió vỡ trên đường, nhưng nó sẽ chẳng giúp được gì. Cậu trèo lên khung gầm xe tải, tới mặt bên giờ đây đang là mặt trên cùng. Cậu ra tới phía cánh cửa bên ghế tài xế và đạp vào bản lề chiếc gương chiếu hậu. Nó gãy lìa, và khi cậu đang kéo mớ dây rợ để lôi nó ra thì gã cảnh sát bên trong hét lên.
"Dừng lại!"
Gus nhìn gã, đó là tên cảnh sát lái xe, cổ đầy máu, đang bám vào tay cầm trên nóc xe, súng sẵn sàng. Rồi Gus cũng rút được chiếc gương ra với một cú giật mạnh bằng một tay, và cậu nhảy xuống đường.
Mặt trời đang tan chảy như lòng đỏ trứng bị đâm thủng. Gus tìm một góc phù họp, giương chiếc gương trên đầu, bắt lấy những tia nắng cuối cùng. Cậu thấy ánh sáng phản chiếu chập choạng trên mặt đất. Nó quá mờ, quá tối để có thể làm được gì. Vì thế cậu dùng đốt ngón tay đập rạn tấm kính phảng, nhưng vẫn giữ các mảnh vỡ dính lại trên mặt sau của gương. Cậu thử lần nữa và giờ đây những tia phản chiếu đã có khác biệt.
"Tao bảo dừng lại!"
Gã cảnh sát trèo xuống khỏi xe, một tay vẫn lăm lăm súng. Tay kia của gã đang ôm lên cổ, cái cổ đã bị Felix cắn, tai gã chảy máu do tai nạn. Gã bước vòng lại ngó vào trong xe tải.
Felix đang nép mình bên trong, chiếc còng lủng lẳng trên một tay. Tay kia của nó đã mất, cổ tay bị chiếc còng cắt phăng dưới tác động của vụ va chạm. Nhưng bàn tay bị mất, hay cả thứ máu trắng tràn ra từ vết cắt, dường như đều chẳng làm nó bận tâm.
Felix mỉm cười, và gã cảnh sát nã đạn vào nó. Những phát đạn chọc thủng ngực và chân Felix, xé nát da thịt và xương. Bảy, tám phát, và Felix ngã ngửa. Hai phát nữa vào người nó. Gã cảnh sát vừa hạ súng thì Felix ngồi thẳng dậy, vẫn mỉm cười.
vẫn khát. Mãi mãi khát.
Ngay lúc đó, Gus đẩy gã cảnh sát sang một bên, giơ cao chiếc gương. Những tia sáng cuối cùng của mặt trời đỏ cam đang lụi tàn chiếu tới từ tòa nhà bên sông. Gus gọi tên Felix lần cuối, như thể việc đó sẽ đánh thức nó ra khỏi thứ đó, sẽ mang Felix trở lại một cách thần kỳ...
Nhưng Felix không còn là Felix nữa rồi. Nó là một con ma cà rồng chết tiệt. Gus tự nhắc mình điều đó trong lúc xoay chiếc gương, để những tia sáng mặt trời phản chiếu như những mũi tên rực cháy bắn thẳng vào trong chiếc xe tải lật nghiêng.
Đôi mắt chết của Felix trở nên kinh hãi khi những tia mặt trời bắn vào nó. Chúng đâm xuyên qua nó như những tia laze, đốt cháy lỗ chỗ và làm da thịt nó bắt lửa. Một tiếng tru của loài thú thoát ra từ sâu bên trong nó, như tiếng gào của một con người bị xé thành nhiều mảnh, trong khi những tia sáng đang tàn phá cơ thể nó.
Đó là thứ âm thanh cào xé lòng Gus, nhưng cậu vẫn di những tia sáng phản chiếu lên người nó cho tới khi Felix chỉ còn là đống than bốc khói.
Những tia nắng phai dần, và Gus hạ tay xuống.
Cậu nhìn qua bên kia sông.
Đêm.
Gus tưởng như sắp khóc - bao nhiêu dằn vặt và đau khổ trộn lẫn trong tim cậu - và nỗi đau của cậu chuyển thành cơn thịnh nộ. Xăng tràn ngập bên dưới chiếc xe tải, đã gần lan tới chân cậu. Gus bước tới bên gã cảnh sát, lúc này vẫn đang đứng trên lề đường, trố mắt quan sát những gì đã xảy ra. Cậu vội lục túi gã, tìm thấy một chiếc bật lửa Zippo. Gus bật nắp, gạt vòng đánh lửa, và ngọn lửa lập tức phụt lên.
"Lo siento, ‘mano’.ữ}"
1. (Tiếng Tây Ban Nha) “Tôi xin lỗi, anh bạn.”
Cậu đốt vững xăng tràn, và cái xe tải nổ tung, hất văng cả Gus lẫn gã cảnh sát ra sau.
"Khỉ thật, hắn đã chích anh," Gus nói với gã cảnh sát lúc này vẫn đang ôm cổ. "Anh sẽ trở thành một trong số chúng."
Cậu tước khẩu súng của gã cảnh sát, chĩa nó vào gã. Tiếng còi xe vang lên.
Gã cảnh sát ngước nhìn Gus, và chỉ một giây sau đầu gã đã bay mất. Gus vẫn chĩa nòng súng đang phả khói vào người gã cho tới khi cậu ra khỏi lề đường cao tốc. Rồi cậu ném khẩu súng đi và nghĩ tới chìa khóa còng tay, nhưng đã quá muộn. Những ánh đèn xe cảnh sát nhấp nháy đang tiến tói. Cậu quay người chạy xa khỏi lề đường cao tốc, lao vào một đêm mới.
Phố Kelton, Woodside, Queens
KELLY VÂN mặc nguyên trang phục giáo viên, áo ba lỗ tối màu bên trong áo khoác mềm và váy dài thẳng. Zack đang trên phòng, có lẽ đang làm bài tập về nhà, còn Matt thì ở nhà, anh ta chỉ làm việc nửa ngày do phải kiểm kê hàng hóa vào đêm đó.
Tin tức về Eph trên ti vi khiến Kelly hoảng hốt. Và giờ cô chẳng thể liên lạc với anh qua điện thoại.
"Rốt cuộc thì," Matt nói, vạt áo sơ mi denim Sears của anh ta lúc này đã bỏ ra ngoài quần. "Anh ta rốt cuộc cũng đã phát điên."
"Matt," Kelly đáp, chỉ hơi hòn trách. Nhưng... Eph đã phát điên thật sao? Mà điều này có ý nghĩa gì với cô?
"Ảo tưởng về sự vĩ đại, gã thợ săn vi rút quan trọng," Matt nói. "Anh ta cũng giống như lũ lính cứu hỏa cố ý gây cháy để trở thành anh hùng vậy." Matt thả người trong chiếc ghế thoải mái của mình. "Anh chẳng ngạc nhiên chút nào nếu anh ta làm tất cả những thứ này vì em."
"Em ư?"
"Gây chú ý, hay sao đó. Kiểu như 'Hãy nhìn anh đi, anh là người quan trọng'."
Cô lắc đầu nguầy nguậy, cứ như thể anh ta đang lãng phí thời gian của cô. Đôi khi cô thấy thật ngạc nhiên khi Matt có thể nhầm lẫn đến vậy về người khác.
Chuông cửa vang lên, và Kelly bước mau ra. Matt bật dậy khỏi ghế, nhưng Kelly đã tới cửa trước.
Đó là Eph, Nora Martinez phía sau, rồi đến một ông lão mặc áo khoác vải tuýt dài.
"Anh làm gì ở đây vậy?" Kelly nói, nhìn ngó ngang dọc con phố.
Eph xộc vào trong. "Anh ở đây để gặp Zack. Để giải thích." "Thằng bé chưa biết đâu."
Eph nhìn quanh, hoàn toàn phớt lờ Matt đang đứng ngay đó. "Nó đang ở trên tầng làm bài tập bằng máy tính hả?"
"Đúng vậy," Kelly nói.
"Nếu nó có Internet, vậy thì nó đã biết."
Eph lên tầng, bước hai bậc một.
Bỏ lại Nora đứng trước cửa với Kelly. Nora thở dài, che giấu sự lúng túng. "Xin lỗi," cô nói. "Vì đã xông vào nhà chị như vậy."
Kelly nhẹ nhàng lắc đầu, liếc nhìn Nora hơi có vẻ đánh giá. Cô biết có chuyện gì đó giữa Nora và Eph. Với Nora, nhà Kelly Goodweather là nơi cô không bao giờ muốn tói.
Rồi Kelly chuyển sự chú ý sang ông lão cầm cây gậy chống có tay cầm hình đầu sói. "Đang có chuyện gì vậy?"
"Bà Goodweather-cũ, phải không?" Setrakian chìa tay ra với vẻ phong nhã của thế hệ xưa. "Abraham Setrakian. Rất hân hạnh được biết cô."
"Tôi cũng vậy," Kelly đáp, sửng sốt, ngập ngừng nhìn Matt.
Nora nói, "Anh ấy cần gặp mọi người. Để giải thích."
Matt lên tiếng, "Cuộc gặp mặt nho nhỏ này không khiến chúng tôi trở thành đồng phạm của một vụ nào đó chứ?"
Kelly buộc phải chặn sự khiếm nhã của Matt. "Ông muốn uống gì không?" cô hỏi Setrakian. "Nước lọc nhé?"
Matt nói, "Chúa ơi, chỉ vì cốc nước này mà có thể cả hai chúng ta sẽ mất hai mươi năm..."
***
Eph ngồi trên mép giường Zack, còn Zack thì ngồi trên bàn, máy tính xách tay đang mở.
Eph nói, "Bố vướng vào một số chuyện mà chính bố cũng thực sự chẳng thể hiểu nổi. Nhưng bố muốn con được nghe từ chính bố. Những chuyện đó hoàn toàn sai sự thật. Trừ việc đúng là có người đang truy tìm bố."
Zack nói, "Họ sẽ tới đây tìm bố à?"
"Có thể."
Zack nhìn xuống, lo lắng, suy nghĩ. "Bố phải vứt điện thoại đi."
Eph mỉm cười. "Đã vứt rồi." Anh vỗ vai đứa con đồng lõa của mình. Eph nhận ra, bên cạnh máy tính xách tay của thằng bé, chiếc máy quay Eph đã mua tặng nó nhân dịp Giáng sinh.
"Con vẫn đang tiếp tục bộ phim đó cùng các bạn chứ?"
"Bọn con đang trong giai đoạn chỉnh sửa rồi."
Eph nhấc chiếc máy quay, nó đủ nhỏ và nhẹ để đút vừa túi quần. "Bố có thể mưọn thứ này một thời gian không?"
Zack gật đầu chậm chạp. "Có phải nhật thực không, bố? Thứ đã biến mọi người thành xác sống ấy?"
Eph sửng sốt - nhận ra sự thật cũng chẳng họp lý hơn là mấy. Anh thử nhìn nhận chuyện này từ góc nhìn của một cậu bé mười một tuổi quen sống nội tâm và đôi khi rất nhạy cảm. Và thứ gì đó trỗi dậy trong anh, từ đáy sâu cảm xúc. Anh đứng dậy ôm thằng bé. Một thời khắc kỳ lạ, mong manh mà đẹp đẽ, giữa cha và con. Eph cảm thấy nó rõ mồn một. Anh vò tóc thằng bé, và chẳng biết nói gì hon.
***
Kelly và Matt thì thào bàn bạc trong bếp, bỏ mặc Nora và Setrakian trong phòng khách ốp kính phía sau nhà.
Setrakian đứng, tay đút túi, nhìn ra bầu trời rực sáng lúc chập tối, đêm thứ ba kể từ chuyến hạ cánh của cái máy bay xấu số, quay lưng về phía cô.
Một chiếc đồng hồ trên giá kêu tích-tích-tích.
Setrakian nghe thành cộc-cộc-cộc.
Nora có thể cảm thấy sự sốt ruột của ông. Cô nói, "Anh ấy, ừm, anh ấy gặp rất nhiều vấn đề với gia đình. Kể từ khi ly hôn."
Setrakian thò ngón tay vào chiếc túi áo vest nhỏ, kiểm tra lọ thuốc của mình. Túi áo này gần vị trí tim ông, hỏi chỉ cần đặt nitroglycerin’[1]* gần nguồn bom máu đã già yếu của ông cũng đã có lọi cho hệ tuần hoàn. Tim ông đập đều đặn, nếu không muốn nói là khỏe mạnh. Liệu ông còn bao nhiêu nhịp đập nữa? Đủ để hoàn thành công việc này, ông hy vọng thế.
"Tôi không có con," ông nói. "Vợ tôi, Anna, đã mất mười bảy năm rồi, và tôi không có được diễm phúc đấy. Cô có thể cho rằng nỗi đau thiếu con sẽ phai nhạt dần theo thời gian, nhưng thực tế, nó ngày càng sâu đậm hơn khi tuổi tác tăng dần. Tôi có quá nhiều điều cần phải dạy, nhưng chẳng có lấy một học trò."
Nora nhìn cây gậy chống của ông, lúc này đang dựng vào tường gần ghế cô. "Ông... ông đã bắt đầu công việc này như thế nào vậy?"
"Ý cô là khi nào tôi phát hiện ra sự tồn tại của chúng ư?"
"Và cống hiến hết mình cho nó, suốt những năm qua."
Ông im lặng một lát, hồi tưởng lại. "Khi đó tôi còn trẻ. Trong Thế Chiến thứ hai, tôi mắc kẹt ở vùng đất Ba Lan bị chiếm đóng, điều mà tôi chẳng hề muốn chút nào. Một trại nhỏ phía Đông Bắc Warsaw, tên Treblinka."
Nora cũng lặng người như ông lão. "Một trại tập trung."
"Một trại hành quyết. Nơi đó có những sinh vật hung bạo, cô gái thân mến. Hưng bạo hơn bất cứ loài thú ăn thịt nào ta có thể không may đụng độ trên đòi này. Những kẻ cơ hội lọi dụng quyền lực, coi những người trẻ tuổi và yếu ớt như nhũng con mồi. Trong trại, tôi cùng những tù nhân khác vô tình trở thành một bữa tiệc đạm bạc cho nó."
"Nó ư?"
"Chúa Tể."
Cái cách ông nói từ đó khiến Nora rùng mình. "Nó là người Đức ư? Một tên Đức Quốc xã?"
"Không, không. Nó không có liên hệ gì hết. Nó không trung thành với bất cứ ai hoặc cái gì, cũng không thuộc về một đất nước nào hết. Nó lang thang bất cứ nơi nào nó muốn. Nó ăn tại nơi có thức ăn. Trại đó đối với nó như thể một bữa ăn bèo bọt. Những con mồi dễ kiếm."
"Nhưng ông... ông đã sống sót. Chẳng lẽ ông không thể kể cho ai...?"
"Ai có thể tin câu chuyện hoang đường của một kẻ yếu đuối chứ? Phải mất hàng tuần để tôi có thể chấp nhận những gì cô đang tin vào lúc này đây, và đó là chính mắt tôi đã chứng kiến sự hung bạo đó. Nó còn hơn cả những gì lý trí có thể chấp nhận. Tôi chọn cách không để mình bị coi là một kẻ điên rồ. Khi nguồn thức ăn bị cắt, Chúa Tể rời đi. Nhưng tôi đã thề với chính bản thân, trong trại đó, một lời thề mà tôi sẽ không bao giờ quên. Tôi đã lần theo dấu Chúa Tể trong nhiều năm. Dọc Trung Âu và Balkan, khắp Nga, Trung Á. Trong suốt ba thập kỷ. Đã có những lúc theo sát nút nó, nhưng chưa bao giờ đủ gần cả. Tôi trở thành giáo sư tại Đại học Vienna, tôi nghiên cứu về truyền thuyết này. Tôi bắt đầu thu thập sách, vũ khí và công cụ. Suốt trong lúc đó luôn chuẩn bị sẵn sàng để đối mặt với nó lần nữa. Một cơ hội mà tôi đã chờ đợi hơn sáu thập kỷ."
"Nhưng... nó là ai?"
"Nó có rất nhiều hình dạng. Hiện tại, nó đang chiếm cứ cơ thể của một nhà quý tộc Ba Lan có tên Jusef Sardu, người đã mất tích trong chuyến đi săn tại vùng đất Bắc Romania mùa xuân năm 1873."
"1873 ư?"
"Sardu là một gã khổng lồ. Tại thời điểm cuộc đi săn, anh ta đã cao gần hai mét mốt. Cao đến nỗi các cơ bắp của anh ta chẳng thể đỡ nổi khung xương dài và nặng. Nghe nói túi quần của anh ta phải lớn cỡ bao tải chứa củ cải. Để đứng vững, anh ta phải tựa hẳn vào một cây gậy chống có tay cầm mang gia huy."
Nora nhìn lại cây gậy chống ngoại cỡ của Setrakian, cùng tay cầm bạc của nó. Mắt cô trọn tròn. "Hình đầu sói."
"Những gì còn sót lại của dòng họ Sardu được tìm thấy nhiều năm sau đó, cùng tập nhật ký của Jusef thời trẻ. Anh ta đã tường thuật chi tiết về việc cả đội đi săn bị theo dõi bởi một loài thú săn mồi bí ẩn, kẻ sau đó đã lần lượt bắt cóc và giết chết họ. Những dòng cuối cùng cho thấy Jusef đã phát hiện ra các thi thể bên trong lối vào một hang ngầm. Anh ta chôn cất họ trước khi trở lại hang để đối mặt với con quái thú, để trả thù cho gia đình."
Cô chẳng thể nào rời mắt khỏi tay cầm hình đầu sói. "Làm thế nào ông có được nó vậy?"
"Tôi đã phát hiện ra cây gậy này trong tay một nhà buôn tư nhân tại Antwerp vào mùa hè năm 1967. Sardu rốt cuộc cũng trở về biệt thự của gia đình tại Ba Lan nhiều tuần sau đó, nhưng anh ta chỉ có một mình và đã thay đổi hoàn toàn. Anh ta vẫn mang theo cây gậy, nhưng không còn dựa vào nó, và dần dần không mang nó đi nữa. Anh ta không chỉ được chữa khỏi con đau do căn bệnh khổng lồ,'mà nghe đồn còn sở hữu một sức mạnh khủng khiếp. Sau đó, dân làng bắt đầu mất tích, thị trấn bị đồn là đã bị ám, và sau cùng, nó bị bỏ hoang. Ngôi nhà của Sardu trở thành đống đổ nát và chẳng còn ai trông thấy cậu chủ trẻ nữa."
Nora ước lượng kích cỡ cây gậy. "Hồi mười lăm tuổi, hắn ta đã cao đến vậy ư?"
"Và vẫn còn phát triển."
"Cỗ quan tài... kích thước của nó ít nhất phải hai mét rưỡi nhân một mét hai."
Setrakian gật đầu điềm tĩnh. "Tôi biết."
Cô gật đầu. Rồi cô nói, "Đợi chút, làm sao ông biết?"
"Tôi đã nhìn thấy nó, một lần, hay ít nhất là, dấu vết nó để lại trên nền đất. Từ rất lâu rồi."
***
Kelly và Eph đứng đối diện nhau trong căn bếp giản dị. Tóc cô nhạt màu và ngắn hơn trước kia, giờ đây giống kiểu doanh nhân hon. Hay có lẽ giống một người mẹ hon. Cô nắm chặt cạnh bàn, và anh để ý thấy những vết xước mỏng do mép giấy cứa trên đốt ngón tay cô, hậu quả từ trường học.
Cô đưa anh một bịch sữa nửa lít chưa mở. "Em vẫn luôn trữ sữa tươi à?" anh hỏi.
"Z thích. Muốn giống bố."
Eph nhấp một chút, sữa khiến anh hạ nhiệt nhưng chẳng thể giúp anh bình tĩnh như thường lệ. Anh thấy Matt đang hóng, ngồi trên ghế ở đầu kia, vờ như không phải đang theo dõi.
"Nó rất giống anh," cô lên tiếng. Cô đang nói về Zack.
"Anh biết," Eph đáp.
"Càng lớn càng giống. Ám ảnh. Bướng bỉnh. Hay đòi hỏi. Thông minh."
"Thật khó mà hiểu được một đứa bé mười một tuổi."
Khuôn mặt cô dãn thành một nụ cười rộng. "Chắc em bị nguyền cả đòi."
Eph cũng mủn cười. Thật kỳ lạ, một biểu hiện mà đã nhiều ngày anh chẳng thể có được.
"Này," anh nói. "Anh không có nhiều thời gian. Anh chỉ... anh muốn mọi chuyện đều tốt đẹp. Hay ít nhất, chuyện giữa chúng ta đều ổn. Chuyện quyền nuôi con, mớ lộn xộn đó - anh biết nó đã hủy hoại chúng ta. Anh mừng vì nó đã kết thúc. Nhung anh không tới đây để trình bày dài dòng, anh chỉ... lúc này có vẻ là thời gian họp lý để xua đi căng thẳng."
Kelly ngạc nhiên, chẳng thể nói nên lời.
Eph tiếp, "Em không cần phải nói gì hết, anh chỉ..."
"Không," cô lên tiếng, "Em muốn nói. Em xin lỗi. Anh chẳng thể biết được em đã cảm thấy có lỗi đến thế nào đâu. Em xin lỗi vì tất cả mọi chuyện đã tới mức này. Thực lòng đấy. Em biết anh chẳng bao giờ muốn như vậy. Em biết anh chỉ muốn ta chung sống. Vì z."
"Tất nhiên rồi."
"Anh biết đấy, em không thể làm được điều đó, em không thể. Anh đã lấy đi sự sống trong em, Eph. Và phần còn lại thì... em chỉ muốn làm anh bị tổn thương. Em đã làm vậy. Em thừa nhận. Và đó là cách duy nhất em biết em có thể."
Anh thở dài. Cuối cùng cô cũng đã thừa nhận một điều mà anh vẫn luôn biết rõ. Nhung chẳng có thắng lọi gì cho anh trong vụ này hết.
"Em cần Zack, anh biết đấy. z là... là chính nó. Em nghĩ rằng, nếu không có nó, sẽ chẳng thể có em. Tệ hay không thì sự thực vẫn cứ là sự thực. Nó là tất cả đối với em... cũng như anh trước kia." Cô dừng lại để cả hai có thể hiểu hết những lời cô vừa nói. "Nếu không có nó, em sẽ lạc lối, em sẽ..."
Cô chẳng thể nói năng mạch lạc được nữa.
Eph nói, "Em sẽ giống như anh."
Câu nói khiến cô chết lặng. Họ đứng đó, nhìn nhau.
"Nghe này," Eph nói. "Anh sẽ nhận lỗi. về chúng ta, về em và anh. Anh biết anh không phải... không phải gã thoải mái nhất trên đòi, một gã chồng lý tưỏng. Anh đã chịu đựng phần mình. Và Matt - anh biết trước đây anh đã từng nói một vài điều..."
"Anh đã từng gọi anh ấy là 'cuộc sống giải khuây' của em."
Eph nhăn mặt. "Em biết gì không? Có lẽ, nếu anh quản lý một cửa hàng Sears, hay nếu anh có một công việc chỉ đon giản là... một công việc bình thường, chứ không phải giống cuộc sống hôn nhân thứ hai như vậy... thì có lẽ em đã không cảm thấy bị xa cách đến thế; Bị lừa dối đến thế. Bị... xếp sau đến thế."
Họ yên lặng một lát, và Eph chợt nhận ra những vấn đề lớn hơn có xu hướng lấn át những chuyện nhỏ như thế nào. Rằng xung đột có thể khiến cho những rắc rối cá nhân nhanh chóng được dẹp sang một bên.
Kelly lên tiếng, "Em biết anh định nói gì. Anh định nói rằng chứng ta đáng lẽ nên nói chuyện này từ vài năm trước."
"Đáng lẽ chúng ta nên làm vậy," anh đồng tình. "Nhưng ta không thể. Vô ích thôi. Trước tiên chúng ta phải trải qua tất cả những chuyện chết tiệt này đã. Tin anh đi, anh sẵn sàng trả bất cứ giá nào để không... không còn phải trải qua chuyện như vậy lần thứ hai... nhưng giờ thì ta đang ở đây. Như những ngừời bạn cũ."
"Cuộc sống sẽ không diễn ra theo cách ta vẫn tưỏng."
Eph gật đầu. "Sau những gì cha mẹ anh đã trải qua, những gì họ đã khiến anh phải trải qua, anh luôn thề với bản thân rằng, không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ như vậy nữa."
"Ếm biết."
Anh đậy miệng bịch sữa. "Vì vậy hãy quên rằng ai đã làm gì đi. Những gì ta cần làm bây giờ là bù đắp cho thằng bé."
"Đúng vậy."
Kelly gật đầu. Eph gật đầu. Anh lắc sữa trong bịch, cảm nhận cái lạnh trong lòng bàn tay.
"Chúa ơi, ngày gì thế này," anh nói. Anh lại nghĩ về bé gái ở Freeburg, cô bé nắm tay mẹ trên chuyến 753. Cô bé trạc tuổi Zack. "Em còn nhớ em vẫn luôn nói với anh rằng, nếu có chuyện gì đó, một mối nguy hiểm sinh học nào đó, mà anh không cho em biết trước tiên thì em sẽ ly hôn anh không? Chậc... đã quá muộn cho chuyện đó rồi."
Cô bước tói, đọc nét mặt anh. "Em biết anh đang gặp rắc rối."
"Đây không phải chuyện về anh. Anh chỉ muốn em lắng nghe, được chứ, đừng hoảng loạn. Có một loại vi rút đang lan truyền khắp thành phố. Nó là thứ gì đó... bất thường... có lẽ là thứ tệ nhất anh từng gặp phải."
"Tệ nhất ư?" Cô tái mét. "SARS ư?"
Eph suýt nữa đã mỉm cười trước sự phi lý của toàn bộ chuyện này. Sự điên rồ.
"Điều anh muốn em làm là mang Zack rời khỏi thành phố này. Cả Matt nữa. Sớm nhất có thể - tối nay, ngay bây giờ - và hãy đi xa nhất có thể. Ý anh là, hãy tránh xa những khu vực đông dân cư. Bố mẹ em... anh biết em cảm thấy thế nào về việc dựa dẫm vào họ, nhưng họ vẫn còn căn nhà trên Vermont chứ? Trên đỉnh đồi đó?"
"Anh đang nói gì vậy?"
"Hãy tới đó. ít nhất vài ngày. Xem bản tín, và chờ điện thoại từ anh."
"Chờ đã," cô nói. "Em mới thuộc kiểu người hoang tưỏng chạy-trốn-lên-đồi, chứ không phải anh. Nhung... còn lóp học của em thì sao? Trường học của Zack nữa?" Cô nhăn nhó. "Tại sao anh không nói cho em nó là gì?"
"Bởi khi đó em sẽ chẳng rời đi nữa. Hãy tin anh, và đi đi," anh nói. "Hãy đi đi, và hy vọng ta có thể chấm dứt nó, bằng cách nào đó, hãy hy vọng rằng tất cả những chuyện này sẽ sớm trôi qua."
" 'Hy vọng' ư?" cô hỏi. "Giờ anh đang thực sự làm em sợ đấy. Nếu như anh không thể chấm dứt nó thì sao? Và... và nếu như chuyện gì đó xảy ra với anh thì sao?"
Anh không thể đứng đó kể cho cô những hoài nghi của chính mình. "Kelly, anh phải đi."
Anh định bước ra, nhưng cô đã chộp tay anh, nhìn vào mắt anh để thăm dò xem làm vậy liệu có được không, và rồi cô vòng tay ôm lấy anh. Ban đầu nó chỉ là một cái ôm làm lành, nhưng rồi nó đã trở thành một điều gì đó còn hơn thế, và cuối cùng, cô chỉ càng siết anh chặt hon. "Em xin lỗi," cô thì thầm vào tai anh, rồi hôn vào bên cổ chưa cạo lỏm chỏm râu ria của anh.
Phố Vestry, Tribeca
ELDRITCH PALMER ngồi đợi trên một chiếc ghế không đệm trong sân hiên trên nóc nhà, tắm trong không khí ban đêm. Thứ ánh sáng thẳng duy nhất là từ một cây đèn dầu ngoài trời đang cháy trong góc. Sân hiên này nằm trên nóc của căn nhà thấp hơn trong số hai căn nhà cao tầng liền kề nhau. Nền sàn đưọc làm bằng gạch đất sét vuông, cũ kĩ và bạc phếch do thiên nhiên. Một bậc thềm thấp dẫn tới một bức tường gạch cao phía Bắc, với hai cửa vòm trang trí bằng khung sắt. Mái nóc tường bằng gạch đất nung có rãnh chìa ra hai bên. Bên trái, qua những khung cửa vòm trang trí rộng hon, là những cánh cổng to dẫn vào khu phòng ở. Phía sau Palmer, nằm chính giữa bức tường xi măng trắng phía Nam, là bức tượng một phụ nữ không đầu trong bộ áo choàng phấp phói, vai và cánh tay ngả đen vì dãi dầu mưa nắng. Cây thường xuân bò trên bệ đá. Mặc dù một vài tòa
nhà cao hơn có thể bị trông thấy từ cả phía Bắc lẫn phía Đông, nhưng sân hiên này khá riêng tư, theo cái cách mà sân thượng vẫn thường được che chắn ở khu trung tâm Manhattan đầy cao ốc này.
Palmer ngồi lắng nghe âm thanh của thành phố vọng lên từ dưới những con phố. Những âm thanh này sẽ sớm chấm dứt thôi. Nếu những kẻ dưới đó biết được chuyện này, họ sẽ buộc phải cảm thấy quý báu quãng thời gian đêm nay. Mọi điều trần tục của cuộc sống hẳn sẽ sục sôi hơn khi đối mặt với cái chết cận kề. Palmer hiểu rõ điều này từ kinh nghiệm bản thân. Từng là một đứa bé ốm yếu, ông ta đã phải chống chọi cả đòi để sống sót. Có những buổi sáng, ông ta thức dậy và thật ngạc nhiên bởi vẫn còn nhìn thấy bình minh. Hầu hết mọi người chẳng thể hiểu nổi cảm giác khi sự tồn tại của mình phải tính bằng từng bình minh một. Cảm giác khi phải dựa vào máy móc để sống. Sức khỏe tốt là quyền lọi bẩm sinh của hầu hết mọi người, và cuộc sống khi đó sẽ là một chuỗi ngày thưởng ngoạn. Họ chẳng bao giờ có thể hiểu được sự cận kề cái chết. Sự thân thuộc của bóng tối vĩnh cửu.
Sớm thôi, Eldritch Palmer sẽ thấu hiểu niềm hạnh phúc của bọn họ. Một chuỗi ngày vô tận kéo dài phía trước. Sớm thôi, ông ta sẽ biết cảm giác như thế nào khi không còn phải lo lắng về ngày mai, ngày kia...
Một luồng gió lay động những tán cây trên sân hiên, làm xào xạc một số bụi cây trồng dưới sàn. Palmer, ngồi đối diện với khu phòng ở cao hon, chếch về một phía, cạnh chiếc bàn hút thuốc nhỏ, nghe thấy tiếng sột soạt. Một tiếng sột soạt rất khẽ, giống như tiếng quần áo quệt trên mặt sàn. Một bộ quần áo đen.
Ta tưởng ngươi không muốn có bất cứ liên lạc nào cho tới khỉ đã qua tuần đầu tiên.
Giọng nói đó - vừa quen thuộc, vừa gớm ghiếc - khiến một con ớn lạnh chạy dọc sống lưng xương xẩu của Palmer. Nếu Palmer không cố ý ngồi quay lưng, tránh khỏi khoảng rộng của sân hiên - vừa bởi kính trọng, vừa bởi nỗi sợ hãi vốn dĩ của một con người - hẳn ông ta đã thấy miệng Chúa Tể chẳng bao giờ mấp máy. Chẳng một âm thanh nào thoát ra trong màn đêm. Chúa Tể nói thẳng vào tâm trí của người đối thoại.
Palmer cảm thấy sự hiện diện sừng sững ngay phía trên vai, và vẫn dán mắt vào khung cửa vòm dẫn vào phòng. "Chào mừng tới New York."
Lời này thốt ra giống hệt như một tiếng hổn hển, khác hẳn với những gì ông ta trông đợi. Chẳng gì có thể khiến ta mất can đảm hơn là một quái vật.
Thấy Chúa Tể không nói gì, Palmer cố gắng lấy lại vẻ quyết đoán. "Tôi phải nói rằng, tôi không chấp nhận tên Bolivar này. Tôi không hiểu vì sao ngài lại có thể chọn hắn ta."
Hắn là ai với ta không quan trọng.
Palmer ngay lập tức nhận ra Chúa Tể nói đúng. Bolivar có là một ngôi sao nhạc rock trang điểm lòe loẹt thì đã sao chứ? Palmer cho rằng mình đang suy nghĩ như một con người. "Vì sao ngài để lại bốn kẻ sống sót? Điều đó đã gây nên rất nhiều rắc rối."
Ngươi đang chất vấn ta ư?
Palmer nuốt nước bọt. Một ông trùm trong cuộc sống này, không dưới quyền bất cứ ai. Cảm giác phục tùng hèn hạ này vừa xa lạ, vừa quá sức đối với ông ta.
"Có kẻ đang theo dấu ngài," Palmer nói vội. "Một bác sĩ, một kẻ chuyên điều tra về các căn bệnh. Ngay tại New York này."
Một con người có là vấn đề gì với ta?
"Hắn ta - hắn là bác sĩ Ephraim Goodweather - là một chuyên gia kiểm soát bệnh dịch."
Ngươi đang tung hô những con khỉ nhãi nhép. Giống loài của ngươi mới là bệnh dịch - không phải của ta.
"Tên Goodweather này đang được ai đó chỉ dẫn. Một kẻ có hiểu biết tường tận về giống loài của ngài. Hắn ta biết về truyền thuyết và thậm chí một chút về sinh học. Cảnh sát đang tìm hắn, nhưng tôi nghĩ cần hành động quyết liệt hon. Tôi tin rằng điều này có thể tạo nên khác biệt giữa một chiến thắng nhanh gọn, quyết định và một cuộc chiến lâu dài. Chúng ta còn rất nhiều trận đánh nữa, với con người, cũng như với các loài khác..."
Ta sẽ chiến thắng.
Tới lúc này, Palmer chẳng còn chút nghi ngờ nào nữa. "Đúng vậy, tất nhiên rồi." Palmer muốn lão già đó cho riêng mình. Ông ta muốn xác nhận danh tính lão trước khi tiết lộ bất cứ thông tin nào cho Chúa Tể. Vì thế ông ta cố hết sức không nghĩ về lão già đó - bởi ông ta biết, trước sự hiện diện của Chúa Tể, ai cũng phải che giấu suy nghĩ của mình...
Ta đã từng gặp lão già này. Khi lão còn chưa già đến vậy.
Palmer lạnh người trước thất bại đáng kinh ngạc. "Ngài chắc sẽ nhớ, tôi đã mất một thời gian dài mới tìm được ngài. Hành trình của tôi đã dẫn tôi tới tận cùng thế giới, có rất nhiều đường cụt và ngã rẽ - rất nhiều con người tôi phải vượt qua. Lão là một trong số chúng." Ông ta cố gắng chuyển chủ đề, nhưng tâm trí mịt mờ. Trước sự hiện diện của Chúa Tể, ông ta cảm thấy như mình đang bị ngập trong dầu mà ngay bên cạnh lại là một ngọn bấc cháy.
Ta sẽ gặp tên Goodweather này. Và chăm sóc hắn ta.
Palmer đã chuẩn bị sẵn một bản liệt kê những thông tin về bác sĩ dịch tễ CDC. Ông ta rút tờ giấy từ trong túi áo khoác mở ra, đặt lên mặt bàn. "Mọi thứ đều ở đây, thưa Chúa Tể. Gia đình hắn, những mối liên hệ đã biết..."
Có tiếng cào trên mặt bàn lát đá, và mẩu giấy bị lấy đi. Palmer chỉ thoáng thấy bàn tay đó. Ngón giữa khoằm và có móng nhọn, dài hơn và mập hơn các ngón khác.
Palmer nói, "Giờ đây chúng ta chỉ cần thêm vài ngày nữa."
Một cuộc tranh cãi, đại loại vậy, đã nổ ra bên trong ngôi nhà của ngôi sao nhạc rock, khu biệt thự hai căn đang xây dở mà Palmer đã phải miễn cưỡng bước vào để có thể có cuộc hẹn gặp trên mái hiên này. Ông ta đặc biệt không ưa phần duy nhất đã hoàn thành trong biệt thự này, đó là căn phòng ngủ trên gác mái được trang hoàng quá sặc sỡ và nặng mùi nhục dục. Palmer chưa từng ở cùng một phụ nữ nào. Khi còn trẻ, đó là do căn bệnh, cùng những cấm đoán của hai bà cô nuôi dạy ông ta.
Còn khi già hon, đó là do chính ông ta lựa chọn như vậy. Ông ta đã dần hiểu ra rằng sự thuần khiết của bản thân không bao giờ được để bị ô uế bởi ham muốn.
Tiếng ồn ào trong nhà lớn dần, trở thành tiếng ẩu đả.
Người của ngươi đang gặp rắc rối.
Palmer nhoài người về phía trước. Fitzwilliam đang ở trong đó. Palmer đã cấm anh ta tuyệt đối không bước vào khu vực mái hiên. "Ngài đã nói rằng cậu ta sẽ được bảo đảm an toàn tại đây."
Palmer nghe thấy tiếng chạy rầm rập. Ông ta nghe thấy tiếng gầm gừ. Một tiếng la của con người.
"Hãy ngăn họ lại," Palmer nói.
Giọng Chúa Tể, vẫn như thường lệ, uể oải và đều đều.
Hắn không phải kẻ chúng muốn.
Palmer hoảng loạn. Chúa Tể đang ám chỉ ông ta ư? Đây là một cái bẫy ư? "Chúng ta đã thỏa thuận!"
Cho tới chừng nào ta còn thấy hợp lý.
Palmer nghe thấy một tiếng la nữa, rất gần - theo sau là hai tiếng súng nổ liên tiếp. Rồi một trong những cửa vòm bên trong bật mở vào trong, và cánh cổng trang trí bị đẩy ra. Fitzwilliam, một lính thủy đánh bộ nặng 120 cân trong bộ vest Savile Row, lao vào, khẩu súng lục kẹp chặt trong bàn tay phải, đôi mắt rực lên vì kiệt sức. "Thưa ngài, chúng đang theo ngay sau tôi..."
Đúng lúc đó, ánh mắt anh ta chuyển từ khuôn mặt Palmer sang hình hài cao ngất đang đứng ngay sau ông ta. Khẩu súng trượt khỏi tay Fitzwilliam, roi đánh cạch xuống sàn. Mặt Fitzwilliam trắng bệch, anh ta lảo đảo một lát như người đu dây, rồi khuỵu xuống.
Phía sau anh ta, những kẻ biến đổi ập tói. Những con ma cà rồng trong đủ mọi loại trang phục người thường, từ đồ công sở cho tới trang phục gothic và những bộ quần áo tuềnh toàng của đám paparazzi. Tất cả đều hôi thối và rách rưới do làm tổ dưới đất. Chúng ùa vào mái hiên như bị gọi bởi một tiếng huýt sáo cầm lặng.
Dẫn đầu chính là Bolivar, hốc hác và gần hói, mặc áo choàng đen. Là một ma cà rồng thế hệ đầu tiên, hắn ta trưỏng thành hơn lũ còn lại. Da thịt hắn tái nhợt như không có máu, như thạch cao, gần như phát sáng, và đôi mắt hắn trông như quầng mặt trăng chết chóc.
Phía sau hắn là một fan nữ vừa bị Fitzwilliam bắn vào mặt trong con hoảng loạn. Xương má cô ta vỡ toác tới tận mang tai, khiến cô ta trông như đang toe toét cười khoe trọn nửa hàm răng trần trụi.
Lũ còn lại lảo đảo bước vào trong màn đêm mới, bị kích động bởi sự hiện diện của Chúa Tể của chúng. Chúng dừng lại, nhìn hắn chằm chằm sợ hãi.
Các con.
Palmer - đang đứng ngay trước chúng, giữa chúng và Chúa Tể - hoàn toàn bị phớt lờ. Sức mạnh từ sự hiện diện của Chúa Tể khiến đám kia bất động. Chúng tập trung trước hắn như thể một lũ man rợ đứng trước một đền thờ.
Fitzwilliam vẫn quỳ gối, như bị đè xuống.
Chúa Tể nói, theo cách Palmer tin là với riêng ông ta.
Ngươi đã mang ta tới tận đây. Vậy mà ngươi không nhìn ư?
Palmer đã từng diện kiến Chúa Tể một lần, trong căn hầm tối tại một lục địa khác. Không quá rõ, nhưng cũng đủ để ông ta chẳng bao giờ quên được hình ảnh đó.
Giờ chẳng có cách nào né tránh nữa. Palmer nhắm mắt lại để lấy bình tĩnh, rồi mở mắt và ép mình quay đầu lại. Như thể liều mạng nhìn thẳng vào mặt trời bất chấp nguy cơ bị mù.
Mắt ông ta lướt từ ngực Chúa Tể cho tói... mặt hắn.
Sự kinh hoảng. Và huy hoàng.
Sự bất kính. Và đẹp đẽ.
Sự man rợ. Và thần thánh.
Nỗi kinh hoàng ghê gớm kéo khuôn mặt Palmer căng ra thành một cái mặt nạ sợ hãi, và cuối cùng biến đổi các góc của nó thành một nụ cười nhăn nhở hoan hỉ.
Loài siêu việt gớm guốc.
Đó là Chúa Tể.
Pho Kelton, Woodsite, Queens
KELLY CAM MỘT ĐỐNG PIN và quần áo sạch bước vội qua phòng khách, ngang qua Matt và Zack, lúc này đang xem bản tin truyền hình.
"Chúng ta sẽ rời đi," Kelly nói, nhồi nhét đồ đạc vào một túi vải trên ghế.
Matt quay về phía cô với một nụ cười mà Kelly chẳng muốn trông thấy chút nào. "Thôi nào, em yêu," anh ta nói.
"Anh không nghe em nói gì à?"
"Có. Một cách kiên nhẫn." Anh ta đứng dậy khỏi ghế. "Xem này, Kel, chồng cũ của em lại làm vậy nữa rồi. Ném một quả lựu đạn vào cuộc sống gia đình hạnh phúc của chúng ta. Em không nhận thấy điều đó sao? Nếu đây là chuyện gì đó thực sự nghiêm trọng, chính quyền sẽ phải cảnh báo chúng ta."
"Ô. Phải, tất nhiên rồi. Chính quyền đưọc bầu thì chẳng bao giờ nói dối cả." Cô bước rầm rầm tới phòng kho phía trước nhà, lôi ra những thứ đồ còn lại. Kelly cũng có một túi đồ cá nhân cấp thiết, theo như lời khuyên của Văn phòng Quản lý Tình trạng Khẩn cấp New York, đề phòng trường họp cần phải sơ tán khẩn cấp. Đó là một túi vải bao gồm nước đóng chai và những thanh ngũ cốc ăn liền, một đài AM/FM/sóng ngắn vận hành bằng tay, một đèn Faraday*1*, một bộ sơ cứu, 100 đô tiền mặt, và bản sao những tài liệu quan trọng bên trong một hộp chống nước.
"Đây quả đúng là một lời tiên tri tự hoàn thành*[2] [3]’ đối với em," Matt nói tiếp, bước theo sau cô. "Em không nhận ra sao? Anh ta hiểu em. Anh ta biết chính xác từng nước đi. Đó cũng chính là lý do khiến em và anh ta chẳng thể nào họp nhau."
Kelly lục lọi sâu trong vách kho, cố ý ném ra hai chiếc vợt tennis cũ, đập trúng chân Matt vì đã nói năng như vậy trước mặt Zack. "Không phải như vậy. Em tin anh ấy."
"Anh ta đang bị truy nã, Kel. Anh ta đang thất bại, suy sụp. Tất cả những gã thiên tài tự xưng như vậy về cơ bản đều vô cùng yếu đuối. Giống như thứ hoa hướng dương cứ luôn gắng sức phát triển vượt lên trên hàng rào - và rồi do cái bông quá lớn, chúng đổ sụp dưới chính sức nặng của mình." Kelly phi một chiếc bốt mùa đông, bay sát cẳng chân anh ta, nhưng lần này anh ta tránh được. "Chuyện này hoàn toàn là vì em, em biết đấy. Anh ta bị thần kinh. Chẳng thể buông tay. Tất cả những chuyện này chỉ là để giữ lấy em."
Cô dừng lại và quay ra, vẫn trong tư thế bò trên cả hai tay hai chân, nhìn chằm chằm anh ta từ phía dưới những vạt áo khoác trong kho. "Anh thật sự thiếu hiểu biết đến vậy ư?"
"Đàn ông không muốn thua cuộc. Họ sẽ không từ bỏ."
Cô bước ra, kéo theo chiếc va li American Tourister khổng lồ của mình. "Đó là lý do khiến anh không chịu đi ư?"
"Anh không đi bởi anh phải đi làm. Nếu anh nghĩ mình có thể lấy lý do ngày tận thế của gã chồng gàn dở của em để thoát khỏi công việc kiểm kê hàng hóa này, anh sẽ làm vậy, tin anh đi. Nhưng thực tế, khi ta không đi làm, ta sẽ mất việc."
Cô quay lại, nổi giận trước sự ngoan cố của anh ta. "Eph đã nói rồi. Anh ấy chưa từng hành động như vậy, chưa từng nói chuyện như vậy. Đây là sự thật."
"Đó là chứng kích động do nhật thực, họ vẫn nói về nó trên ti vi đấy thôi. Mọi người trở nên hoảng loạn. Nếu như phải chạy biến khỏi New York vì những điều điên rồ đó, anh đã làm vậy hàng năm trời trước kia rồi." Matt nắm lấy vai cô. Ban đầu cô lắc ra, nhưng rồi sau đó để anh ta giữ lấy cô một lát. "Anh sẽ thường xuyên ghé qua gian đồ điện tử, có ti vi ở đó, để xem có chuyện gì xảy ra không. Nhưng thế giới vẫn quay mà, phải không? Đối với những người có công việc thực sự như chúng ta. Ý anh là... em định bỏ lóp học của em ư?"
Học sinh của cô cần cô, và điều đó níu giữ cô lại. Nhưng mọi người, mọi thứ đều xếp sau Zack. "Có lẽ họ sẽ cho nghỉ học vài ngày. Nghĩ mà xem, hôm nay lóp em có rất nhiều đứa vắng mặt không lý do..."
"Chúng là trẻ con mà, Kel. Cúm thôi."
"Con nghĩ đó đúng là do nhật thực đấy," Zack lên tiếng, từ căn phòng đối diện. "Fred Falin đã nói với con như vậy ở trường. Tất cả những người nhìn mặt trăng mà không đeo kính thì sao? Nó sẽ nướng chín não của họ."
Kelly nói, "Cái dam mê của con với mấy thứ xác sống đó là sao vậy?"
"Chứng đang ở ngoài kia," thằng bé nói. "Phải chuẩn bị. Con cá mẹ thậm chí chẳng biết đâu là hai thứ quan trọng cần có hàng đầu để có thể sống sót trong một cuộc xâm lược của xác sống."
Kelly phớt lờ thằng bé. Matt nói, "Chú chịu."
"Dao rựa và trực thăng."
"Dao rựa ư?" Matt lắc đầu. "Chú nghĩ thà có súng trường còn hon."
"Sai lầm," Zack nói. "Chú sẽ không cần phải nạp đạn cho một con dao rựa."
Matt đồng tình với quan điểm này, anh ta quay sang Kelly. "Thằng bé Fred Falin này thực sự rất am hiểu mấy thứ đó."
"Mọi người - tôi CHỊU ĐỦ Rồi!" Cô không quen với việc bị cả hai hùa vào bắt nạt như vậy. Thường thì, cô có thể sẽ rất vui khi thấy Zack và Matt đoàn kết với nhau. "Zack, con đang nói vớ vẩn đấy. Đây là vi rút, và đó là sự thật. Chúng ta cần phải thoát khỏi đây."
Matt đứng đó trong khi Kelly đem chiếc va li rỗng tới chỗ túi còn lại. "Kel, thư giãn đi. Đưọc chứ?" Anh ta rút chìa khóa xe khỏi túi, xoay nó trên ngón tay. "Đi tắm đi, và bình tĩnh lại. Xin em hây suy nghĩ thấu đáo chuyện này. Hãy nghĩ lại về nguồn cung cấp thông tin 'nội bộ' của em." Anh ta bước tới cửa trước. "Anh sẽ liên lạc với em sau."
Anh ta đi khỏi. Kelly đứng nhìn cánh cửa đóng kín.
Zack tới bên cô, đầu hơi nghiêng, cái hiểu của nó mỗi khi muốn hỏi những câu như cái chết nghĩa là gì hay tại sao một SỐ người đàn ông lại nắm tay nhau. "Bố nói gì về chuyện-này hả mẹ?"
"Bố chỉ... bố muốn điều tốt nhất cho mẹ con mình."
Kelly day trán để che hai mắt. Liệu cô có nên cảnh báo Zack? Liệu cô có thể mang Zack rời khỏi đây chỉ vì nghe theo lời Eph, mà không có Matt? Liệu cô có nên không? Và, nếu như cô tín Eph, chẳng phải cô có bổn phận đạo đức phải cảnh báo những người khác ư?
Con chó nhà Heinson kế bên bắt đầu sủa. Không phải tiếng kêu giận dữ như thường lệ, mà là một âm thanh cao, gần như sợ hãi. Nó đủ khiến Kelly quay trở lại căn phòng ốp kính phía sau nhà, và tại đó, cô nhận ra chiếc đèn cảm ứng tự động trên mặt đất sân sau đã bật sẵn.
Cô khoanh tay đứng đó, quan sát sân vườn, chờ động tĩnh. Mọi thứ có vẻ thật yên ắng. Nhưng con chó vẫn sủa, cho tới khi bà Heinson ra và mang nó vào nhà, nhưng nó vẫn cứ sủa.
"Mẹ ơi?"
Kelly giật mình, sợ hãi khi bất ngờ bị cậu con trai chạm vào người, cô đã hoàn toàn mất bình tình.
"Mẹ ổn chứ?" Zack hỏi.
"Mẹ ghét điều này," cô nói, và dẫn thằng bé vào phòng khách. "Rất ghét."
Cô sẽ thu dọn hành lý, cho cô, cho Zack, và cho Matt.
Và cô sẽ trông chừng.
Và cô sẽ đợi.
Bronxville
CÁCH MANHATTAN BA MƯƠI PHÚT lái xe về phía Bắc, trong một phòng bar vách gỗ sồi ở câu lạc bộ Siwanoy Country, Roger Luss ngồi bấm iPhone trong lúc đợi phục vụ ly martini đầu tiên. Anh đã bảo tài xế taxi của Town Car cho anh xuống đây thay vì đi thẳng về nhà. Anh muốn có chút thời gian để đánh giá tình hình. Nếu quả Joan bị ốm thật theo như tin nhắn thoại của bà trông trẻ thì có khả năng lũ trẻ giờ cũng đã bị theo, và như thế anh sẽ phải đối mặt với cả đống phiền phức ở nhà. Chỉ nhiêu đó thôi cũng đã quá đủ để anh có thêm lý do kéo dài chuyến công tác một hoặc hai giờ.
Phòng ăn nhìn ra sân golf lúc này khách vắng tanh dù đang giờ ăn tối. Người phục vụ bước tới với một ly martini ba quả ô liu đặt trên chiếc khay phủ khăn trắng. Không phải người phục vụ quen thuộc của anh. Anh ta là người Mexico, giống như mấy thanh niên đậu xe ở phía trước câu lạc bộ. Áo sơ mi nhét vội ở hông, và anh ta không đeo dây lưng, móng tay bẩn thỉu. Sáng mai, Roger sẽ nói lại chuyện này với quản lý câu lạc bộ. "Đây rồi," Roger nói, những quả ô liu chìm xuống đáy cốc thủy tinh hình chữ V, giống những nhãn cầu nhỏ lớng lánh bảo quản trong nước dầm giấm. "Mọi người đâu hết cả rồi? Thị trường đóng cửa hôm nay à? Hay tổng thống chết?"
Một cái nhún vai.
"Nhân viên thường ngày đâu cả rồi?"
Anh ta lắc đầu. Giờ thì Roger nhận thấy anh chàng này có vẻ rất hoảng sợ.
Rồi Roger nhận ra anh ta. Bộ đồng phục quầy bar làm anh không để ý. "Anh làm bảo trì sân golf, phải không? Thường thì anh ở ngoài kia cắt cỏ."
Người bảo trí sân golf trong đồng phục quầy bar gật đầu lo lắng và loạng choạng đi ra sảnh trước.
Quá kỳ lạ. Roger nhấc ly martini và nhìn quanh, nhưng chả có ai để mà nâng ly hay gật đầu cùng, hay để bàn chuyện chính trị. Và thế là, vì chả có ai nhìn, Roger Luss uống một lèo nửa ly chỉ với hai hóp lớn. Anh cảm nhận được rượu trôi xuống dạ dày và khoái trá rên lên một tiếng. Anh chọc một quả ô liu, vỗ nó vào thành cốc cho ráo trước khi đưa vào miệng, nhấn nhá một lúc, rồi cắn nó giữa những cái răng hàm.
Trên chiếc ti vi gắn vào vách gỗ phía trên chiếc gương, anh thấy đang có họp báo. Ông thị trưởng đứng giữa các quan chức thành phố vẻ mặt khó đăm đăm. Rồi sau đó - cảnh quay cái máy bay 753 của hãng Regis Air trên đường lăn sân bay JFK.
Sự im lặng của câu lạc bộ làm anh lại phải nhìn quanh. Mọi người ở đâu hết thế này?
Có chuyện gì đó đang diễn ra ở đây. Có chuyện gì đó đang xảy ra ở đây mà Roger Luss không biết.
Anh tọp nhanh một ngụm martini nữa - và một ngụm nữa - rồi đặt chiếc cốc xuống, anh đứng lên. Anh đi ra phía trước, kiểm tra phòng ăn khác bên cạnh - cũng không người. Cửa nhà bếp ở ngay bên cạnh quầy rượu, với một ô cửa sổ nhỏ phía trên bị che cho tối đi. Roger hé mắt nhìn vào trong và chỉ thấy duy nhất người phục vụ quán/người bảo trì sân golf ở đó đang hút thuốc và tự nướng cho mình miếng bít tết.
Roger đi ra cửa trước, nơi anh để hành lý của mình. Không thấy người phục vụ ở đó để nhờ gọi taxi, anh lấy điện thoại, tìm trên mạng danh sách những xe đang ở gần nhất, và gọi một chiếc.
Trong lúc chờ đợi dưới ánh sáng của những ngọn đèn treo trên cột phía trước nhà để xe, vị chua loét của martini ợ lên trong miệng, anh nghe thấy một tiếng thét. Một tiếng thét đon lẻ xé tai giữa ban đêm, ở đâu đó không xa. Có vẻ như về phía Bronxville, ngược hướng với Mount Vemon. Có thể là từ đâu đó ngay trong sân golf.
Anh đứng chờ, không nhúc nhích. Nín thở. Chăm chú lắng nghe.
Tiếng thét đó còn không đáng sợbằng sự im lặng tiếp theo.
Một chiếc taxi đỗ lại, tài xế là một người đàn ông trung niên gốc Trung Đông với chiếc bút gài trên tai. Anh ta tươi tỉnh chất hành lý của Roger vào thùng xe và lái đi.
Trên con đường khá dài thuộc sở hữu tư nhân dẫn ra khỏi câu lạc bộ, Roger nhìn về phía sân golf và anh nghĩ đã thấy ai đó đang đi cắt ngang đường lăn bóng, dưới ánh trăng.
Quãng đường về nhà sẽ mất khoảng ba phút đi xe. Trên đường không một bóng xe cộ, hầu hết các ngôi nhà đều tắt đèn. Khi họ rẽ vào Midland, Roger thấy một người đi bộ trên hè đường - một cảnh tưọng lạ lẫm vào ban đêm, đặc biệt là khi không có chó đi cùng. Đó là Hal Chatfield, một hàng xóm cũ của anh, một trong hai thành viên đã bảo lãnh anh gia nhập câu lạc bộ golf Siwanoy khi Roger và Joan mới chuyển tới Bronxville. Hal bước đi với dáng điệu kỳ cục, hai tay buông thõng hai bên, áo choàng tắm mở phanh ra phấp phói để lộ áo may ô và quần đùi.
Hal quay lại nhìn chiếc taxi khi nó đi ngang qua. Roger vẫy tay. Khi anh quay lại để nhìn xem Hal có nhận ra mình không thì thấy Hal đang chạy theo anh, bước chạy không tự nhiên, cứng đơ. Một ông lão sáu mươi tuổi với chiếc áo choàng tắm bay phấp phói phía sau trông như một tấm khăn choàng, đang chạy đuổi theo một chiếc taxi giữa đường tại Bronxville.
Roger quay lại xem tài xế có nhận thấy có người đang đuổi theo không, nhưng anh ta đang vừa lái xe vừa nguệch ngoạc gì đó lên bảng kẹp giấy.
"Này," Roger nói. "Anh có biết chuyện gì đang diễn ra ở đây không?"
"Có," anh tài xế nói, mỉm cười và gật đầu nhanh. Anh ta không hiểu Roger nói gì.
Qua hai chỗ rẽ nữa thì tới nhà Roger. Tài xế bật mở mui sau và ra khỏi xe cùng với Roger. Đường phố vắng lặng, nhà Roger tối om như những nhà còn lại.
"Thế này nhé. Hãy đợi ở đây. Đợi được không?" Roger chỉ xuống vỉa hè lát đá cuội. "Anh có thể đợi được chứ?"
"Anh thanh toán."
Roger gật đầu. Anh thậm chí không rõ lắm vì sao anh lại bảo người lái xe đợi mình ở đây. Hình như nó liên quan tới cảm giác quá đon độc. "Tôi để tiền trong nhà. Anh đợi tôi. Được chứ?"
Roger bỏ hành lý lại trong tiền phòng bên cạnh cửa ngách và đi vào trong phòng bếp, rồi gọi to, "Có ai không?" Anh bấm công tắc đèn, nhưng đèn không sáng. Anh có thể nhìn thấy đồng hồ lò vi sóng vẫn sáng xanh, có nghĩa là vẫn có điện. Anh qườ tay dò đường đi dọc theo quầy bếp, lần tới ngăn kéo thứ ba và sục sạo tìm chiếc đèn pin ở bên trong. Một mùi thối rữa, gắt hơn hẳn mùi thức ăn thừa ôi thiu trong sọt rác, xộc vào mũi làm anh thêm phần lo lắng và tay anh khẩn trương hon. Anh cầm lấy chuôi đèn pin và bật nó lên.
Anh quét luồng sáng quanh phòng bếp dài, thấy chiếc bàn ăn giữa nhà, cái bàn phía sau, bếp đun và lò nướng kép. "Có ai không?" Anh lại gọi, nỗi sợ trong giọng nói làm anh cảm thấy xấu hổ, giục giã anh khẩn trương hon. Anh thấy vết bẩn tung tóe trên nhũng ô kính tủ bếp, và khi rọi ánh sáng vào anh thấy nó giống như một hỗn họp của xốt cà chua và xốt mayonnaise. Sự lộn xộn này làm anh nổi giận. Rồi anh nhìn thấy cả những chiếc ghế bị lộn ngược, những vết chân bẩn (vết chân ư?) trên mặt bàn đá hoa cương giữa nhà.
Bà quản gia Guild đâu? Joan đâu? Roger lại gần vết tung tóe, hướng ngọn đèn lên tấm kính tủ trên cao. Thứ màu trắng, anh không biết nó là gì - nhưng thứ màu đỏ không phải là xốt cà chua. Anh không chắc lắm... nhưng anh nghĩ đó có thể là máu.
Nhìn thấy thứ gì đó chuyển động phản chiếu trên mặt kính, anh quét nhanh ánh sáng đèn pin một vòng. Cầu thang phía sau anh không có ai. Anh nhận ra chính mình đã làm chuyển động cánh cửa tủ. Anh không muốn để cho những tưởng tượng của mình lấn át lý trí, vậy là anh chạy lên cầu thang, kiểm tra từng phòng một bằng ánh sáng đèn pin. "Keene? Audrey?" Trong phòng Joan, anh tìm thấy những dòng viết tay liên quan tới chuyến bay của hãng Regis Air. Kiểu như một lịch trình hành động, dù rằng có mấy câu cuối anh không tài nào hiểu nổi. Từ cuối cùng được viết nguệch ngoạc tại góc dưới bên phải của tờ giấy "hừmmmmm".
Trong phòng ngủ chính, khăn trải giường roi cả xuống sàn, còn trong phòng tắm lớn, những thứ không xả đi hây còn nổi lều phều trong bồn cầu và nhìn giống như chất nôn mửa lâu ngày vón lại với nhau. Anh nhấc lên từ sàn một chiếc khăn tắm, để nó thõng xuống, và nhìn thấy những vệt máu đông sẫm, như thể chiếc khăn vải bông này đã được dùng như một chiếc khăn tay để mà ho vào.
Anh chạy ngược xuống dưới cầu thang chính. Anh nhấc điện thoại treo tường và bấm gọi 911. Nó reo một tiếng trước khi máy tự động yêu cầu anh giữ máy. Anh treo máy lên và gọi lại lần nữa. vẫn chỉ một tiếng chuông và tiếng máy tự động.
Anh đánh roi điện thoại khỏi tai khi nghe thấy có tiếng động mạnh vọng lên từ dưới tầng hầm. Anh mở toang cánh cửa, định gọi vọng vào bóng tối phía dưới - nhưng có gì đó đã ngăn anh lại. Anh lắng nghe, và nghe thấy... có gì đó.
Có tiếng chân kéo lê nặng nề. Không chỉ của một người, đang bước lên cầu thang, đã đến giữa chừng, nơi cầu thang ngoặt một góc chín mươi độ, và giờ đang tiến gần tới chỗ anh.
"Joan à?" anh nói. "Keene, Audrey?"
Nhưng anh đã từ từ bước lùi lại. Vấp vào khung cửa, anh ngã về phía sau, nhưng chồm ngay dậy và loạng choạng chạy ra khỏi bếp, ngang qua những thứ gì nhầy nhụa bám trên tường và ra tới tiền phòng. Ý nghĩ duy nhất của anh lúc này là thoát ra khỏi đây.
Anh xô tung cánh cửa đệm và chạy ra lối đi, rồi ra tới ngoài phố, hét gọi tài xế đang ngồi sau tay lái, vốn không biết tiếng Anh. Roger mở cửa sau và chui vào trong xe.
"Khóa cửa! Khóa cửa!"
Anh tài quay đầu lại. "Vâng. Tám đô la rưỡi."
“Khóa cái cửa khốn kiếp lại!”
Roger ngoái nhìn lối đi dẫn vào nhà. Ba người lạ mặt, hai phụ nữ và một đàn ông, họ đã ra khỏi tiền phòng và bắt đầu đi qua bãi cỏ nhà anh.
"Đi! Đi! Lái đi!" Người lái xe gõ tay vào khay thanh toán tiền gắn trên vách ngăn giữa ghế trước và ghế sau. "Anh thanh toán, tôi sẽ đi."
Giờ họ có bốn người. Roger nhìn trừng trừng, đờ người ra khi một người đàn ông quen mặt mặc cái áo sơ mi rách bươm xô những người khác qua một bên để có thể tới được chiếc taxi đầu tiên. Đó là Franco, người làm vườn của anh. Ông ta nhìn Roger qua cửa xe, với đôi mắt xanh nhạt nhưng viền đỏ giống như vành nhật thực đỏ máu. Ông ta há mồm như muốn gầm lên với Roger - và kìa, thứ đó thò ra, đập cái bốp vào cửa kính xe, thẳng vào mặt Roger, rồi nó co lại.
Roger sững sờ. Mình vừa thấy cáỉ quỷ gì thếnày?
Ông ta lại làm như vậy một lần nữa. Roger chợt hiểu - một cách loáng thoáng, trong sâu thẳm con sợ hãi, hoảng loạn, điên cuồng - rằng Franco, hoặc kẻ đã tùng là Franco này, không biết, hoặc đã quên mất, hoặc hiểu sai về kính. Ông ta trông có vẻ bối rối trước độ trong suốt của vật thể rắn này.
"Lái đi!" Roger thét lên. "Lái đi!"
Hai trong số họ đã đứng chặn sát đầu chiếc taxi. Một người đàn ông và một phụ nữ, chỗ eo lưng họ sáng bừng dưới ánh đèn pha ô tô. Tất cả có bảy hoặc tám người đang bao quanh xe, những người khác đang đi ra từ những ngôi nhà lân cận.
Người tài xế kêu lên một tiếng gì đó bằng ngôn ngữ của mình, anh ta cúi người tì vào còi xe.
"Lái đi!" Roger thét lên.
Thay vì lái đi anh ta lấy ra một thứ gì đó từ sàn xe. Đó là một cái túi nhỏ có kích thước bằng một túi đồ trang điểm. Anh ta dốc bỏ mấy thanh bánh Zagnut rồi lấy ra một khẩu súng nhỏ xíu bằng bạc. Anh ta vung vũ khí của mình ra trước kính chắn gió, và kêu lên một tiếng sợ hãi.
Cái lưỡi của Franco đang khám phá kính xe. Gọi là lưỡi nhưng đó hoàn toàn không phải là một cái lưỡi.
Anh tài xế đạp cửa xe nhảy ra. Roger hét lên, "Đừng!" qua vách ngăn bằng kính, nhưng anh ta đã ở ngoài xe. Đứng sau cửa xe, anh ta vẩy cổ tay bắn súng, giống như ném đạn ra khỏi súng. Anh ta bắn và bắn, cặp đôi đứng trước mũi xe gập mình về phía trước vì dính những viên đạn của súng nòng nhỏ, nhưng họ không ngã xuống.
Anh tài xế nã thêm hai phát nữa, một phát trúng vào đầu người đàn ông. Một mảnh đầu hắn vắt ngược ra sau và hắn đổ xuống mặt đất.
Một kẻ khác túm lấy người tài xế từ phía sau. Đó là Hal Chatfield, hàng xóm của Roger, cái áo choàng tắm trễ xuống khỏi vai.
"Không!" Roger thét lên, nhưng đã quá muộn.
Hal xoay anh tài xế ra phía đường. Thứ đó thò ra khỏi miệng ông ta và xuyên vào cổ người tài xế. Roger nhìn anh ta tru lên đau đớn qua cửa kính xe.
Một kẻ khác nhỏm lên ngay phía trước đèn pha của xe. Không, không phải một kẻ khác, mà chính là người đàn ông đã bị bắn vào đầu trước đó. Từ vết thương của ông ta, thứ chất lỏng trắng chảy xuống một bên mặt. Ông ta bám vào đầu xe để đứng cho vững, nhưng vẫn tiếp tục tiến lên.
Roger muốn bỏ chạy, nhưng bị mắc kẹt. Phía bên phải, đằng sau ông làm vườn Franco, Roger nhìn thấy một người đàn ông mặc áo phông UPS màu nâu và quần soóc đi ra khỏi cửa gara ngôi nhà bên cạnh với một chiếc xẻng vác trên vai, trông như một vận động viên bóng chày chuẩn bị vụt bóng.
Người đàn ông bị thương ở đầu kéo lê thân mình vòng ra phía cửa xe đang mở và ngồi vào ghế tài xế. Ông ta nhìn Roger qua tấm nhựa ngăn cách, một mảng thái dương bên phải lẫn thịt và tóc bị tróc ra và chổng ngược lên. Chất rỉ ra màu trắng sáng bóng trên má và cằm ông ta.
Roger quay lại đứng khi gã mặc áo phông UPS vung xẻng lên. Nó va đánh choang vào cửa lánh sau, tạo ra một vết rạn dài trên mặt kính cường lực, ánh sáng đèn đường lấp loáng trên những vết nứt chằng chịt như mạng nhện.
Roger nghe thấy tiếng cào sột soạt vào bề mặt vách ngăn. Lưỡi của gã bị thương ở đầu đã thò ra và đang cố luồn qua khe của khay trả tiền. Cái chỏm thịt đã thò qua, dọ dẫm, như muốn đánh hơi không khí để định vị Roger.
Roger thét lên, điên cuồng đạp chân vào cái khe làm nó đóng sập xuống. Gã ngồi phía trước thốt ra một tiếng ré kinh dị, và cái đầu chẻ của... cái thứ đó roi thẳng xuống đùi Roger. Roger gạt nó ra. Cùng lúc đó, ở đầu bên kia vách ngăn, gã đó phọt tung tóe một thứ dung dịch trắng, gã đàn ông điên tiết không biết vì đau hay chỉ vì kích động.
Rầm! Một cú nện xẻng nữa vào mặt kính phía sau đầu Roger, mặt thủy tinh chống vỡ bị rạn và bẹp hẳn xuống, nhưng không chịu vỡ ra.
BỊch-bịch-bịch. Có tiếng đạp chân phía trên đầu Roger, và nóc xe lõm xuống.
Bốn kẻ ở trên vỉa hè, ba kẻ khác dưới mặt đường, và một đám đông hơn ở phía trước. Roger ngoái lại đằng sau, thấy tên điên mặc áo phông UPS lùi lại để vụt chiếc xẻng xuống tấm kính vỡ một lần nữa. Bây giờ hoặc là không bao giờ.
Roger vặn tay nắm cửa xe, cái cửa hướng ra lòng đường, và vận toàn lực đạp nó mở ra. Cái xẻng kia chém xuống làm cửa kính phía sau vỡ tan, mảnh kính bắn ra như mưa. Lưỡi xẻng trượt sát đầu Roger đúng lúc anh vừa kịp lao ra khỏi xe. Một tên nào đó - hóa ra là Hal Chatfield, với đôi mắt đỏ rực - túm lấy cánh tay anh xoay một vòng, nhưng Roger tuột khỏi chiếc áo vest của mình như một con rắn lách ra khỏi bộ da và bắt đầu chạy dọc con phố, không dám ngoái đầu lại cho tới khi đến chỗ rẽ.
Một số đuổi theo với dáng đi ngả nghiêng, số khác chuyển động nhanh hơn và động tác nhịp nhàng hon. Một số là người già, có ba đứa trẻ con mồm ngoác ra như đang cười toe toét. Đó là hàng xóm và bạn bè anh. Có những khuôn mặt quen mà anh nhận ra là đã gặp ở ga tàu điện, trong các buổi sinh nhật, trong nhà thờ.
Tất cả bọn họ đang đuổi theo anh.
Khu Flatbush, Brooklyn
EPH NHẤN CHUÔNG CỬA nhà Barbour. Đường phố vắng lặng, dù rằng cuộc sống vẫn đang diễn ra trong những ngôi nhà khác, với ánh sáng màn hình ti vi, những túi rác đặt ở vỉa hè. Anh đứng đó với chiếc đèn Luma và khẩu Sling bắn đinh do Setrakian chế tạo đeo vắt qua vai bằng một sọi dây da.
Nora đứng phía sau anh, ngay dưới chân mấy bậc thềm gạch, cầm đèn Luma. Setrakian đoạn hậu, với chiếc gậy chống, cái chuôi bạc của nó lấp lánh sáng dưới ánh trăng.
Hai hồi chuông, không có ai mở cửa. Không có gì ngạc nhiên. Eph vặn thử tay nắm cửa trước khi tìm một lối vào khác, và nó xoay.
Cánh cửa mở ra.
Eph bước vào đầu tiên, anh bật đèn lên. Phòng khách trông có vẻ bình thường, bộ salon phủ vải và nhũng chiếc gối tựa ở đúng vị trí của chúng.
Anh gọi to, "Xin chào," khi hai bạn đồng hành đã bước tới sau lưng anh. Kể cũng kỳ cục khi tự cho phép mình vào nhà của người khác như thế này. Anh đi nhón chân trên thảm, như một tên trộm hay sát thủ. Anh những muốn tin mình vẫn là một người chữa bệnh, nhưng điều đó quả khó mà tin được vào thời điểm thế này.
Nora bước lên cầu thang. Setrakian theo Eph vào phòng bếp. Eph nói, "Ông nghĩ ta sẽ phát hiện thấy gì ở đây? Ông nói những người sống sót chỉ là những kẻ đánh lạc hướng..."
"Tôi nói đó là mục đích của chúng. Cũng là mục đích của Chúa Tể, tôi không chắc lắm. Có thể họ có mối liên kết đặc biệt nào đó với Chúa Tể. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng phải bắt đầu từ đâu đó. Những kẻ sống sót này là dấu vết duy nhất mà chúng ta có."
Có một cái bát và một cái thìa trong bồn rửa. Một cuốn Kinh Thánh mở sẵn trên mặt bàn, với rất nhiều ảnh và thẻ tưởng niệm người quá cố do nhà thờ phát hành kẹp bên trong. Sách để mở ở chương cuối. Một đoạn văn được gạch dưới bằng mực đỏ bởi một bàn tay ran rẩy, Sách Khải Huyền 11: 7-8
... con thú từ vực sâu ỉên, sẽ chiêh đấu cùng hai người; thú ấy sẽ thắng và giết hai người, và thỉ thể hai người sẽ nằm lại trên đường cái của thành phố vĩ đại mang tên bóng bẩy là Sodom...
Bên cạnh cuốn Kinh Thánh để mở, giống như đã được lấy từ bàn thờ xuống, là một cây thánh giá và một cốc nhỏ mà Eph cho là để đựng nước thánh.
Setrakian hất hàm về phía mấy thứ đồ tôn giáo đó. "Không hơn gì băng dán ống nước và thuốc kháng khuẩn Cipro," ông nói. "Và không có tác dụng gì hết."
Họ đi vào phòng sau. Eph nói, "Hẳn là người vợ đã che giấu cho anh ta. Vì sao chị ta không gọi bác sĩ cơ chứ?"
Họ tìm kiếm trong phòng kho, Setrakian dùng đầu gậy gõ vào các bức tường. "Tôi thấy khoa học tiến bộ rất nhiều trong thời đại của mình, nhưng vẫn chưa tồn tại một công cụ có thể soi tỏ mối quan hệ vợ chồng giữa một người đàn ông và một người đàn bà."
Họ đóng cửa tủ. Eph nhận thấy không còn một cửa nào để mở ra nữa. "Nếu như ở đây không có tầng hầm thì sao?"
Setrakian lắc đầu. "Nếu phải thám hiểm chỗ nào bắt buộc phải bò thì còn tệ hơn nhiều."
"Trên này!" Nora đang gọi từ tầng trên, giọng gấp gáp.
Thân hình Ann-Marie Barbour đổ vật trên sàn nhà từ tư thế ngồi, giữa cái bàn đêm và giường, đã chết. Giữa hai chân cô là chiếc gương treo tường đã bị cô đập vỡ trên sàn. Cô đã chọn một mảnh dài nhất, giống con dao nhất, để cắt đứt động mạch tay trái, cắt cổ tay là một trong những phương pháp tự tử kém hiệu quả nhất, với tỉ lệ thành công thường là dưới năm phần trăm. Đó là một cái chết chậm, do độ hẹp vào của cẳng tay, và nếu chỉ cắt một cổ tay mà vẫn có thể thành công thì là do vết cứa sâu đến đứt dây thần kinh, làm bàn tay đó trở nên vô dụng. Nó cũng sẽ gây ra một cái chết cực kỳ đau đón, và do vậy, thường chỉ những người vô cùng tuyệt vọng hay loạn trí mới thành công với cách tự tử đó.
Ann-Marie Barbour đã cắt rất sâu, làm đứt các động mạch và lộ ra lóp da dưới cũng như hai xương cổ tay. Giữa những ngón tay khum lại bất động của cô là một sọi dây giày rối dính máu khô có xỏ một chiếc chìa khóa đầu tròn để mở khóa bấm.
Máu cô có màu đỏ. Vậy nhưng, để chắc chắn, Strakian vẫn lấy chiếc gương tráng bạc soi chếch vào bộ mặt đang gục xuống của cô. Không nhòe - hình ảnh thật. Ann-Marie Barbour không bị biến đổi.
Setrakian từ từ đứng dậy, chán nản trước diễn biến này. "Lạ thật," ông nói.
Eph đứng chếch phía trên Ann-Marie Barbour một góc phù họp giúp anh có thể quan sát khuôn mặt cúi xuống đầy mệt mỏi và hoang mang của cô phản chiếu qua những mảnh gương vỡ. Anh chợt để ý thấy trên mặt bàn, kẹp dưới khung ảnh kép lồng ảnh một bé trai và một bé gái là một tờ giấy đưọc xé từ một cuốn sổ ghi chép. Anh cầm lấy, ngập ngừng một chút, rồi từ từ mở ra.
Chữ viết của cô run rẩy, bằng mực đỏ giống như đường gạch ghi chú trong cuốn Kinh Thánh dưới phòng bếp. Chữ i thường cô viết với một vòng tròn nhỏ phía trên thay cho dấu chấm, nét chữ kiểu trẻ con.
“ 'Benjamin và Haily yêu quý của mẹ'," anh bắt đầu đọc.
"Đừng," Nora ngắt lời. "Đừng đọc nó. Cái đó không dành cho chúng ta."
Cô nói đúng. Anh đọc nhẩm tờ giấy để tìm kiếm thông tin phù họp - "Các con đang ở chỗ em gái của bố, an toàn" - rồi nhảy xuống đoạn dưới, anh đọc mẩu nội dung này. "Em vô cùng xin lỗi, Ansel... em giữ chìa khóa và em không thể dùng... Giờ thì em biết rằng Chúa nguyền rủa anh để trừng phạt em, Người bỏ roi chúng ta và cả hai ta bị đày đọa. Nếu cái chết của em có thể cứu rỗi linh hồn anh, thì Người sẽ có nó..."
Nora cúi xuống, cầm chiếc chìa khóa và kéo sợi dây giày dính máu ra khỏi những ngón tay bất động của Ann-Marie. "Vậy... anh ta ở đâu?"
Họ nghe thấy một tiếng rên trầm, gần giống như tiếng gầm gừ. Âm thanh đó nghe man rợ, phát ra từ thanh môn, kiểu như tiếng kêu từ cổ họng của loài thú. Nó tới từ phía ngoài.
Eph chạy ra chỗ cửa sổ. Anh nhìn xuống sân sau và thấy một cái chuồng lớn.
Họ lặng lẽ đi ra ngoài sân sau, tới trước cái chuồng có hai cánh cửa được khóa bởi một sọi xích móc vào hai tay nắm. Họ dring đó, lắng nghe.
Có tiếng sột soạt bên trong. Âm thanh của yết hầu, nhỏ và nghèn nghẹt.
Rồi cánh cửa kêu rầm. Cái gì đó đập mạnh vào cửa. Thử sợi dây xích.
Nora cầm chìa khóa. Cô nhìn mọi người dò hỏi xem có ai muốn mở cửa, rồi cô tự mình bước tới trước sợi xích, tra chìa vào ổ khóa và thận trọng xoay. Một tiếng tách, và khóa bật mở.
Bên trong yên ắng. Nora tháo khóa ra khỏi sọi xích, Setrakian và Eph sẵn sàng phía sau cô - ông lão đã rút thanh kiếm bạc ra khỏi vỏ gỗ. Cô bắt đầu tháo sọi xích nặng nề bằng cách rút nó ra khỏi tay nắm bằng gỗ... những tưỏng cánh cửa sẽ bật mở lập tức...
Nhưng không có gì xảy ra. Nora rút hẳn sọi xích ra và lùi lại. Cô và Eph bật đèn uvc. Ông lão đang đứng chặn trước cửa, vậy là Eph hít vào một hơi dài để lấy can đảm rồi cầm tay nắm giật cánh cửa mở ra.
Bên trong tối om. Ô cửa sổ duy nhất được che lại bởi một thứ gì đó, còn hai cánh cửa mở ra ngoài thì chặn hầu hết ánh sáng chiếu tới từ mái hiên trước nhà.
Một phút nghẹt thở trôi qua trước khi họ nhận ra một hình thù gì đó đang thu mình bên trong.
Setrakian bước lên phía trước, dừng lại cách cửa khoảng hai bước chân. Có vẻ như ông muốn phô cho khổ chủ của chiếc chuồng thấy lưỡi kiếm bạc.
Thứ đó tấn công. Nó xông vào Setrakian, định nhảy lên ông, và ông lão đã sẵn sàng với thanh kiếm - nhưng sợi xích chó đã phát huy tác dụng, giật thứ đó ngược trở lại.
Giờ thì họ đã thấy nó - thấy mặt nó. Nó nhe răng ra, lọi trắng tới mức mới thoạt nhìn thì tưởng những chiếc răng kia mọc thẳng ra từ hàm. Đôi môi tái nhợt khô khốc, và dúm tóc còn lại trắng đến tận chân tóc. Nó thu mình trên cả bốn chi trên mặt đất, một cái vòng siết chặt quanh cổ, ngập vào trong thịt.
Setrakian nói, mắt vẫn không rời khỏi thứ đó, "Đây có phải là người đàn ông trên cái máy bay đó không?"
Eph nhìn chằm chằm. Thứ này trông giống như một con quỷ đã ăn tươi nuốt sống người đàn ông tên là Ansel Barbour và mang một nửa hình dạng của anh ta.
“Chính anh ta."
"Ai đó đã bắt anh ta/' Nora nói. "Đã xích và nhốt anh ta ở đây."
"Không phải," Setrakian nói. "Tự anh ta xích mình lại."
Eph hiểu ra. Bởi vậy người vợ mới không bị đụng đến, và cả các con họ nữa.
"Lùi lại," Setrakian cảnh báo. Đúng lúc đó con ma cà rồng há mồm và bắn ngòi đốt của mình vào Setrakian. Ông lão không nao núng, bởi ông biết dù dài hàng mét, nó cũng không thể chạm tới ông. Cái ngòi thất bại thụt vào, một phần gớm ghiếc của nó còn rủ lòng thòng xuống cằm con ma cà rồng, rồi cuộn lên liếm quanh miệng giống như xúc tu màu đỏ của một sinh vật nào đó dưới biển sâu.
Eph nói, "Chúa ơi..."
Con ma cà rồng Barbour trở nên hoang dại. Nó thu mình lại trên bốn chi, rít lên với họ.
Cảnh tượng không thể tin nổi này gọi anh nhớ tới chiếc máy quay của Zack trong túi quần. Anh đưa cây đèn của mình cho Nora, và lấy máy quay ra.
"Anh định làm gì vây?" Nora hỏi.
Anh lúng túng bật nguồn máy quay, đưa con vật vào trong khung hình. Và rồi, bằng tay còn lại, anh mở chốt súng bắn đinh của mình và chĩa vào con thú đó.
Tách-bụp. Tách-bụp. Tách-bụp.
Eph bắn ba viên đạn bạc bằng khẩu súng bắn đinh, thứ dụng cụ nòng dài đó bật nẩy lên mỗi lần bắn. Những vật thể phóng ra đó xuyên vào mình con ma cà rồng, đốt cháy cơ thể bệnh hoạn của nó, làm nó gầm lên một tiếng đau đớn và chồm mình về phía trước.
Eph tiếp tục ghi hình.
"Đủ rồi," Setrakian nói. "Để tôi cho nó một ân huệ."
Cái cổ của con quái vật dài ra khi nó căng mình vì đau. Setrakian lại hát đoạn điệp khúc về thanh kiếm của mình - rồi chém thẳng xuống cổ của con ma cà rồng. Thân hình nó đổ xuống, tay và chân giật giật. Cái đầu lăn vài vòng và lật ngửa lên, đôi mắt chóp chóp vài lần, ngòi đốt quằn quại giống thân con rắn bị cắt ròi, rồi tất cả bất động. Chất lỏng trắng nóng bỏng chảy ra từ cái cổ đứt, phảng phất khói trong không khí lạnh buổi đêm. Những con giun hình ống bò lổm ngổm trên mặt đất, giống nhu chuột thoát ra khỏi con tàu bị đắm, tìm kiếm một con thuyền khác.
Nora bụm miệng ngăn một tiếng nức nở chực bật ra khỏi cổ họng.
Eph nhìn trân trối, bàng hoàng, kinh tỏm, quên hẳn việc quay phim.
Setrakian bước lùi lại, chúc mũi kiếm xuống, chất bẩn màu trắng bốc khói trên lưỡi kiếm bạc, nhỏ giọt xuống cỏ. "Ớ đằng sau kia. Duói bức tường."
Eph nhìn thấy một cái hố đào phía dưới vách sau của chuồng.
"Còn có thứ gì đó đã ở đây với anh ta," ông già nói. "Thứ gì đó đã bò ra ngoài, trốn thoát."
Hai bên mặt phố là những ngôi nhà. Nó có thể là bất cứ cái nào trong số đó. "Nhưng không có dấu hiệu nào của Chúa Tể."
Setrakian lắc đầu. "Không phải ở đây. Có thể lần sau."
Eph nhìn kỹ vào bên trong chuồng, cố tìm những con giun máu trong ánh sáng của hai chiếc đèn trên tay Nora. "Tôi có cần vào để chiếu xạ chúng không?"
"Có một cách an toàn hon. Ở phía sau chuồng có một cái can đỏ phải không?"
Eph nhìn vào. "Ý ông là cái can xăng kia?"
Setrakian gật đầu, và Eph hiểu ngay lập tức. Ạnh hắng giọng và lại lấy khẩu súng bắn đinh ra, ngắm vào chiếc can, nhấn cò hai lần.
Thứ công cụ chế thành vũ khí này ngắm chính xác từ khoảng cách xa. Chất đốt chảy ra từ chiếc can thủng, tràn xuống đất từ giá gỗ.
Setrakian móc từ trong túi áo choàng ra một hộp diêm nhỏ. Bằng những ngón tay cong queo, ông lấy một que diêm và quệt nó vào dải quẹt của hộp diêm, một ánh lửa vàng sáng lên trong đêm.
"Anh Barbour đã được giải thoát," ông nói.
Rồi ông ném que diêm cháy vào trong, và cái chuồng bằng gỗ bùng lên.
Trung tâm Rego Park, Queens
MATT KIỂM kê toàn bộ quần áo trẻ em trên giá, rồi cất thiết bị đọc mã vạch - một dụng cụ kiểm kê giống một khẩu súng ngắn - vào bao, và đi xuống tầng dưới để ăn nhẹ. Quả là mệt mỏi sau một giờ kiểm kê. Là quản lý kho của cửa hàng Sears, anh ta được trả lương ngoài giờ áp dụng cả cho những giờ làm việc ngày thường trong tuần. Toàn bộ cửa hàng đã đóng và khóa, các cửa lưới đã hạ xuống, tức là không còn khách, không đám đông. Và anh ta cũng không cần phải đeo cà vạt nữa.
Anh ta đi thang máy xuống khu bán đồ ăn tự chọn, nơi có những máy bán hàng tự động tốt nhất. Trong khi đi ngang qua các quầy bán đồ kim hoàn tầng một, miệng nhai kẹo dẻo Chuckles (theo thứ tự ưu tiên: cam thảo, chanh vàng, chanh cốm, cam, anh đào), anh ta chợt nghe thấy tiếng động phát ra từ khu mua bán. Ra chỗ cổng sắt, anh ta nhìn xuống và thấy một nhân viên bảo vệ đang bò trên sàn, dưới đó ba tầng.
Người bảo vệ đang ôm cổ, giống như bị ngạt thở, hoặc rất đau đón.
"Này!" Matt gọi.
Người bảo vệ nhìn thấy Matt và chìa tay ra, không phải vẫy chào mà là cầu xin giúp đỡ. Matt lấy chìa khóa ra và điều khiển cho cánh cổng nâng lên chỉ khoảng hơn một mét, đủ để anh ta chui qua, rồi chạy xuống chỗ người đàn ông.
Người bảo vệ bấu lấy cánh tay Matt và được anh ta dìu ra chỗ chiếc ghế dài gần đó, sát với đài phun nước. Ông ta thở hổn hển. Matt nhìn qua kẽ ngón tay ông ta thấy có máu trên cổ, nhưng không đủ để nói rằng đó là do bị dao đâm. Có cả vài vệt máu trên áo đồng phục của ông ta, đũng quần thì ướt do đái ra quần.
Matt chỉ biết mặt ông ta, đại khái đó là một nhân viên quèn. Một gã bắp tay khủng đi tuần trong cửa hàng, luôn giắt ngón tay cái vào trong thắt lưng giống như một cảnh sát trưởng miền Nam. Khi chiếc mũ của ông ta roi ra, Matt nhìn thấy những đám tóc đen rời rạc và bóng dầu hất ngược ra sau. Ông ta bám chặt vào tay Matt, người mềm nhũn, đau đón và chả còn đâu vẻ can trường nữa.
Matt cố hỏi chuyện gì đã xảy ra, nhưng ông ta chỉ thở dốc, nhìn ra xung quanh. Matt nghe thấy tiếng nói, và anh ta nhận ra nó phát ra từ chiếc bộ đàm đeo bên hông người bảo vệ. Matt lấy nó ra khỏi thắt lưng của ông ta. "A lô. Matt Sayles, quản lý cửa hàng Sears đây. Này, một nhân viên của anh đang ở đây, tầng hầm một... ông ấy bị thương. Chảy máu ở cổ, và người xám ngoét."
Tiếng nói ở đầu kia trả lời, "Tôi là phụ trách của ông ấy. Có chuyện gì vậy?"
Người bảo vệ đang cố khạc ra cái gì đó, nhưng chỉ có tiếng không khí khò khè thoát ra từ cổ họng ông ta.
Matt trả lời, "Ông ấy bị tấn công. Có vết sưng ở cổ, và vết thương... ông ấy rất sợ hãi. Nhưng tôi không thấy có ai ở đây..."
"Tôi sẽ xuống đó ngay theo đường cầu thang phục vụ," người phụ trách bảo vệ nói. Matt có thể nghe thấy tiếng chân anh ta truyền qua máy bộ đàm. "Anh nói anh đang ở..."
Tiếng anh ta đứt giữa chừng. Matt chờ một lúc, rồi nhấn phím gọi. "Anh hỏi gì cơ?"
Thả ngón tay ra, anh ta lắng nghe. Không có gì cả.
"A lô?"
Anh ta nghe thấy tiếng lạo xạo truyền tới, không đầy một giây. Một giọng nói hét lên, nghèn nghẹt: "GƯAAAAAA..."
Người bảo vệ vùng khỏi chiếc ghế dài, bò lồm cồm bằng cả bốn chi về phía khu mua bán của cửa hàng. Matt cũng chạy, bộ đàm trong tay, ngoặt vào phía biển báo nhà vệ sinh nơi có cửa dẫn vào cầu thang phục vụ.
Anh ta nghe thấy tiếng đập thình thình, như tiếng đấm đá, đang tiến lại.
Sau đó là tiếng vo vo quen thuộc. Anh ta quay lại chỗ cửa hàng và thấy cánh cửa bảo vệ bằng thép đang hạ xuống sàn. Anh ta đã để quên chùm chìa khóa tại ổ khóa.
Người bảo vệ hoảng loạn khi nãy đã tự nhốt mình bên trong.
"Này... nàyĩ" Matt la lớn.
Nhung truóc khi Matt kịp chạy tới noi, anh ta cảm thấy có một sự hiện diện phía sau lưng mình. Anh ta nhìn thấy người bảo vệ ngoái đầu nhìn lại, mắt trọn trừng, làm đổ một giá quần áo và bò đi mất hút. Matt quay lại và thấy hai thanh niên mặc quần jean thụng, áo mũ trùm bằng len cashmere đang ra khỏi hành lang khu vệ sinh. Chứng có vẻ phê thuốc, nước da nâu trở nên vàng vọt, tay không cầm vật gì.
Bọn nghiện. Matt đột nhiên thấy sợ hãi, có thể chúng đã tấn công bảo vệ bằng ống tiêm bẩn. Anh ta lấy ví ra và ném nó cho một tên. Hắn chẳng thèm tóm lấy, mặc cho nó đập vào bụng hắn và roi xuống sàn.
Matt lùi lại sát cánh cửa kho trong khi hai tên kia tiến lại gần.
Phố Vestry, Tribeca
EPH ĐÔ XE LẠI phía bên lề phố đối diện với dinh thự của Bolivar, hai tòa nhà nối với nhau được án ngữ phía trước bởi một giàn giáo cao ba tầng. Họ qua đường để tới cửa và nhận thấy nó đã được chặn ván. Không phải kiểu cẩu thả hay tạm thời, mà đưọc chặn bởi ván gỗ dày bắt chặt vào khung cửa. Kín khít.
Eph ngước nhìn bầu trời đêm phía trên mặt trước của tòa nhà. "Che giấu cái gì đây chứ?" anh nói. Anh đặt một chân lên giàn giáo, định leo lên. Setrakian đưa tay ngăn anh lại.
Có người chứng kiến. Trên vỉa hè các tòa nhà lân cận. Chúng đứng và nhìn ra từ trong bóng tối.
Eph tiến lại phía chứng. Anh tìm chiếc gương tráng bạc trong túi quần và giữ lấy một người trong đám để kiểm tra hình ảnh phản chiếu. Không bị nhòe. Thằng bé đó - không quá mười lăm tuổi, bôi mắt bằng thuốc màu theo kiểu gothic và son môi đen - vùng ra khỏi tay nắm của Eph.
Setrakian lấy gương kiểm tra những người khác. Không ai bị biến đổi.
"Người hâm mộ," Nora nói. "Phiên trực đêm."
"Đi khỏi đây đi," Eph gằn giọng. Nhưng chúng là những đứa trẻ New York, chúng biết mình không bắt buộc phải đi đâu cả.
Setrakian ngước nhìn tòa nhà của Bolivar. Các cửa sổ phía mặt tiền tối om, nhưng giữa đêm thế này, ông không thể nói chắc rằng chúng được dùng để che chắn ánh đèn hay do đang trong quá trình sửa chữa.
"Hay là trèo lên giàn giáo," Eph nói. "Đột nhập qua đường cửa số.
Setrakian lắc đầu. "Không có cách nào để chúng ta vào được bên trong mà không bị báo cảnh sát, và anh sẽ bị họ tóm ngay. Anh đang bị truy nã, nhớ không?" Setrakian tựa vầo cây gậy, ngước nhìn tòa nhà tối om một lần nữa trước khi bước đi. "Không, chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài chờ đợi. Chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về tòa nhà này và chủ của nó. Việc đó có thể giúp ta trước hết biết rõ mình đang dây vào cái gì."
chú thích
[1] Một chất lỏng không màu, thường được sử dụng làm thuốc chống đau ngực, tắc thờ, các bệnh liên quan tới vành tim.
[2] Loại đèn hoạt động theo cơ chế cảm ứng điện từ, không cần pin. Trước khi sử dụng cần phái lắc đèn, nam châm bên trong khi di chuyển sê tạo ra điện.
[3] Là một lời dự đoán có khả năng tự biến thành sự thực theo cách trực tiếp hay gián tiếp, do tác động giữa niềm tin và hành động.