TRONG LỀU NÓNG QUÁ NÊN CẢ ĐÊM QUA tôi mất ngủ. Thế nhưng sáng nay, vừa bước ra khỏi lều, tôi đã rùng mình vì lạnh. Mặt đất ẩm ướt. Mây đen giăng kín dãy Thiên Sơn trước mặt, chứng tỏ trời sẽ còn mưa nữa.
Vài phút nữa là đến 8 giờ - giờ xuất phát. Tôi đứng vào chỗ, đầu dãy, sau vạch xuất phát. Về đích thứ ba trong chặng đua hôm qua khiến tôi có cảm giác như thể đây là chỗ dành cho tôi vậy.
Hiển nhiên, mọi người đã thoải mái hơn. Thậm chí, tôi còn nghe thấy vài người cười nữa, mặc dù đã cố gắng không phân tâm và hết sức tập trung vào thử thách phía trước. Bởi sắp tới đây, khi chạy lên núi, chúng tôi sẽ phải leo dốc mấy dặm liền và theo sau đó là những mối nguy hiểm khôn lường khi xuống núi. Chúng tôi hiện đang ở độ cao 2.134 mét. Tôi đoán chắc hẳn một số vận động viên phải gắng gượng vì thiếu oxy rồi. Hôm nay sẽ là một chặng đua đầy chông gai bởi chúng tôi phải leo lên độ cao gần 2.800 mét.
Bỗng nhiên, ngày càng nhiều tiếng cười và reo hò đằng sau lưng tôi, làm tôi xao nhãng.
“Một con chó!”
“Đáng yêu chưa kìa!”
Tôi nhìn xuống thì thấy con chó tối qua. Nó đang đứng bên chân tôi, mắt nhìn đăm đăm vào mấy cái ghệt màu vàng sáng buộc quanh giày tôi. Cái đuôi nó ngoe nguẩy liên tục. Tôi sững người một lúc. Sau đó, nó làm điều lạ lùng nhất. Nó nhìn lên. Đôi mắt đen láy vốn đang nhìn chân tôi, chuyển lên chiếc áo bó màu vàng và dừng lại trên mặt tôi. Nó nhìn thẳng vào mắt tôi, làm tôi không thể lảng tránh.
“Đáng yêu đấy nhóc,” tôi hụt hơi nói, “nhưng tốt hơn hết là mày chạy nhanh lên, nếu mày không muốn bị một trăm tuyển thủ chạy đằng sau giẫm đạp.”
Tôi nhìn xung quanh xem có ai định tiến lên nhận con chó và bế nó ra khỏi đường chạy trước khi chúng tôi xuất phát hay không. Tôi để ý thấy một vài vận động viên khác cười và gật đầu với con chó, nhưng không có người dân hay thành viên ban tổ chức nào có ý định nhận nó cả.
“Có ai biết là chó của ai không ?” Tôi hỏi, nhưng không ai đáp. Tất cả họ đều tập trung đếm ngược 10 giây để xuất phát.
“Chín... Tám... Bảy...”
Tôi nhìn xuống lần nữa. Con chó vẫn ở cạnh chân tôi, chỉ là không nhìn tôi nữa mà đánh hơi mấy cái ghệt.
“Mày nên đi ra đi nhóc, nếu mày không muốn bị đè bẹp gí.”
“Năm... Bốn...”
“Đi ra,” Tôi gắng xua nó đi. Nhưng vô dụng. Nó vẫn hăng say gặm cái ghệt, hết nhảy lùi, chúi xuống đất rồi lại chìm đắm trong thú vui đánh hơi và gặm một cái ghệt khác.
Cuộc đua bắt đầu. Tôi chạy, con chó chạy theo tôi. Mấy cái ghệt đung đưa giúp trò chơi ghệt gủng trở nên thú vị hơn. Con chó chạy nhảy quanh chân tôi như thể nó đang vui lắm, vui nhất từ trước tới giờ.
Còn với tôi, khoảnh khắc đáng yêu này có thể khiến tôi bực mình nếu như nó cứ kéo dài mãi. Điều cuối cùng tôi muốn là vấp phải con chó nhỏ này và khiến cho cả nó lẫn tôi bị thương. Tôi biết, tới con đường mòn hẹp dài phía trước sẽ rất khó vượt, nên tôi phải giữ vững tốc độ và không được rớt hạng. Chạy được 400 mét, tôi cúi xuống nhìn. Ơn trời, con chó đi rồi. Chắc là quay về lều với chủ ở chỗ cắm trại rồi cũng nên, tôi nghĩ.
Chúng tôi vừa tiến vào con đường mòn xuyên rừng dài vài dặm. Đường hẹp nhưng được cái bằng phẳng. Tôi đang ở vị trí thứ hai, cách người dẫn đầu - một người Trung Quốc tôi chưa gặp bao giờ - mấy mét. Thỉnh thoảng , anh ta lại bỏ sót một dấu mốc - một tờ giấy ô li màu hồng to cỡ vỏ hộp đĩa CD, gắn vào que kim loại mảnh cắm trên mặt đất. Cứ ba đến sáu mét lại có một cái. Chúng dễ thấy lắm.
“Ê!” Tôi gọi vài tiếng để anh ta biết mình đi nhầm đường vào rừng rồi. Tôi chờ anh ta quay lại, rồi để anh ta chạy trước. Đáng lẽ tôi có thể để anh ta chạy tiếp, hoặc gọi nhắc anh ta rồi chạy trước. Nhưng các vận động viên chạy đa chặng có quy ước riêng của họ. Chúng ta chiến thắng vì chúng ta nhanh hơn và mạnh hơn chứ không phải nhờ chơi khăm hoặc không giúp đỡ khi có thể. Suy cho cùng , khi phải gánh khó khăn vượt quá sức chịu đựng của cơ thể, người ta thỉnh thoảng cũng sẽ mắc sai lầm. Bạn không biết khi nào thì mình sẽ cần người khác cứu giúp.
Để lại khu rừng phía sau, chúng tôi bắt đầu leo lên núi. Tôi giữ vững tốc độ 268m/phút, sải bước ngắn và tiếp đất nhanh. Thân tôi hoài niệm cái cảm giác chạy theo tiếng hô theo nhịp của huấn luyện hàng giờ liền bên máy chạy bộ. Lúc đầu, tiếng hét “một-hai-ba-một-hai-ba” của ông như tra tấn, nhưng sau vài lần chạy ba phút, nghỉ một phút trong một giờ đồng hồ như thế, chân tôi cuối cùng cũng có cảm giác. Bởi tôi muốn chạy nhanh và không phải chịu cơn đau tê tái nữa, nên tôi buộc phải học cách chạy này.
Bỗng chốc, tôi nhác thấy có cái gì. Tôi miễn cưỡng liếc xuống một phần trăm giây. Lại là con chó đó. Lần này, nó không nghịch mấy cái ghệt nữa mà có vẻ thích thú khi chạy lon ton theo tôi.
Quái! Nó đang làm gì ở đây thế? Tôi thầm nghĩ.
Tôi nghiêng người, chạy lên dốc. Zeng , người Trung Quốc đang dẫn đầu đoàn đua, là một vận động viên chạy đường trường sành sỏi. Anh ta đã kéo dãn khoảng cách thêm một chút. Tôi không nghe thấy tiếng chân ai phía sau. Chỉ có tôi và con chó, chạy song song , lượn qua những khúc cua ngoằn ngoèo. Một cái rãnh nước rộng chưa đầy một mét xuất hiện, chia đôi con đường. Tôi nhảy vọt luôn qua dòng nước chảy xiết mà không nghĩ ngợi gì.
Như ý tôi, con chó đứng khựng lại. Nó bắt đầu sủa ăng ẳng , sau đó thì rên rỉ là lạ. Tôi không quay lại nhìn. Không bao giờ. Thay vì làm thế, tôi tập trung hoàn toàn vào cuộc đua và tăng tốc. Chắc là chó của ai đó sống gần lều nghỉ chặng trước thôi. Hôm nay, nhóc đó đã thu hoạch kha khá rồi, cuỗm được ít thức ăn giàu calo từ vài vận động viên, và giờ đã đến lúc phải về nhà.
Năm mười lăm tuổi, tôi bảo mẹ là tôi sẽ rời khỏi tầng hầm dơ dáy và chuyển đến ở với bạn. Mẹ không buồn nói gì. Chắc bà không thèm quan tâm đâu. Tôi đoán chắc chuyện tôi tự ra ngoài ở cùng bạn chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi mà cứ quanh quẩn ở nhà là mẹ và tôi lại cãi nhau liên miên, chửi qua chửi lại như mấy võ sĩ quyền Anh đọ cân. Có khi đây lại là một sự giải thoát ý chứ.
Tôi chuyển đến sống với thằng Deon. “Dion và Deon á?” Bà chủ nhà trọ hỏi khi Deon giới thiệu tôi với bà. “Cháu không đùa ta chứ?”
“Không ạ,” Deon đáp.
“Được rồi, lên đi,” bà ấy khịt mũi và quay đi lẩm bẩm. “Ta biết rồi.”
Deon lớn hơn tôi một tuổi. Nó đã tốt nghiệp và đang học việc thợ xây. Nó cũng gặp chuyện như tôi ở nhà.
Mặc dù, cả hai chúng tôi cuối cùng cũng thoát khỏi mấy cuộc cãi vã, nhưng chẳng đứa nào thích sống ở nhà trọ cả. Tường thì mỏng như giấy. Mấy người sống ở đây thì già cả rồi và họ làm chúng tôi sợ. Trong đây toàn người vô gia cư, khách du lịch và mấy kẻ nát rượu. Thức ăn vứt bày bừa ở các khu vực chung. Chưa kể, hiếm có đêm nào thiếu vắng tiếng đánh lộn đánh thức cả khu trọ.
Lúc đó, tôi vừa đi học, vừa đi làm thêm - làm nhân viên bơm xăng ở trạm. Cũng kiếm được chút đỉnh nhưng chẳng đáng là bao. Cho nên, tuần nào tôi cũng phải vay Deon bù vào.
Tôi phải cố gắng lắm mới theo kịp bài vở trên lớp. Chẳng có giáo viên nào quan tâm tôi sống ở đâu hay tôi cáng đáng cuộc sống xa nhà như thế nào. Thực ra, tôi nghĩ không ai biết tôi chuyển nhà, và tôi cũng muốn thế. Đi về nhà trọ làm tôi cảm thấy xấu hổ, nên tôi cố giấu giếm, không để những người bạn cùng lớp chăm ngoan học giỏi, gia đình đầm ấm biết.
Deon là một tay sát gái. Con gái mê nó như điếu đổ. Tối thứ Sáu hoặc thứ Bảy chúng tôi hay lẻn vào quán bar, gọi vài chai bia và bắt chuyện với vài cô nàng. Tôi thà để Deon chém gió, còn hơn là để nó lên sàn nhảy. Những gã người Úc quê mùa đến từ mấy thị trấn như thị trấn chúng tôi không thích nhảy nhót vào những ngày này. Nên nếu để Deon lên sàn nhảy, thì lúc xuống , nó sẽ bị ăn chửi, rồi ăn đấm là cái chắc. Mà nếu có ăn đấm thật thì nó cũng chỉ cười xòa thôi.
Một chiều Chủ nhật, đang nằm trên giường giết thời gian, chúng tôi nghe thấy tiếng la ó bên ngoài hành lang. Ai đó gọi tên Deon, nói hắn ta sẽ giết nó vì ngủ với bạn gái hắn.
Hai chúng tôi ớn lạnh. Tôi sững sờ nhìn Deon. Lần đầu tiên tôi thấy nó sợ khiếp vía đến vậy. Ở trong nhà trọ, cả hai đứa đều cố tỏ ra lì lợm nhưng dù gì chúng tôi vẫn chỉ là trẻ con.
Mà đã là trẻ con, thì vào thời điểm đó, đứa nào chả sợ khiếp vía vì sắp bị đánh vỡ đầu. May thay, người kia không biết chúng tôi ở phòng nào. Họ đi tới đi lui ngoài hành lang rồi rời đi. Bị một lần là quá đủ. Chúng tôi quyết rời khỏi nhà trọ này càng sớm càng tốt.
Chúng tôi chuyển đến khách sạn Grand. Điều kiện ở đó hơn hẳn nhà trọ, nhưng mà cũng chưa thể gọi là một khách sạn, mà là một quán rượu có vài phòng cho thuê ở tầng trên cùng thì đúng hơn. Không có mấy thằng nghiện, nát rượu, và dân vô gia cư, Grand là căn cứ địa của những người làm việc trên đường ray hoặc trong xưởng đóng gói thịt địa phương . Một cựu kình ngư từng đánh bại nhà vô địch quốc gia nhưng vì nghiện rượu mà chôn vùi hết tất thảy sự nghiệp của mình. Một lữ khách đã tiêu hết sạch tiền và quyết định coi War wick là nhà . Tôi thích nghe ông kể chuyện. “Nơi nào cũng được, miễn là ta chấp nhận những gì xảy ra ở đó.” Ông nói.
Ở Grand, tôi thấy dễ chịu hơn là ở nhà trọ. Tôi thích ở cùng với những người tự quyết định số phận của họ và vui vẻ với nó.
Dù đôi khi sự lựa chọn đó đồng nghĩa với việc không vợ, không nhà cửa và không gia đình. Sống giữa họ, tôi thấy mình tự do. Lần đầu tiên sau chừng ấy năm, tôi có ý nghĩ rằng tất cả những điều mẹ nói, những điều từng khiến tôi thấy mình như một kẻ vô dụng , thừa thãi, thất vọng , một kẻ phá hoại không được chào đón, chưa chắc đã là thật. Sau tất cả, có lẽ tôi nên học cách bỏ qua.
Con chó vẫn sủa và rên rỉ. Đến tận khi tôi chạy cách rãnh nước khoảng sáu mét, thế giới mới im lặng trở lại. Trong phút chốc, tôi cầu mong nó không bị ngã xuống nước. Nhưng chẳng đợi tôi nghĩ viển vông thêm nữa, một nhúm lông màu nâu quen thuộc đã vụt đến bên cạnh tôi. Con chó đã trở lại bên tôi một lần nữa.
Mày đúng là một nhóc cứng đầu nhỉ?
Chẳng mấy chốc, đường đua càng dốc hơn, nhiệt độ không khí sụt giảm. Không khí lạnh khiến mặt và các ngón tay tôi tê cóng , nhưng tôi vẫn đổ mồ hôi. Lên cao khiến tôi khó thở và đầu tôi quay mòng mòng. Tôi biết, nếu cứ chạy liền một mạch lên núi mà không nghỉ chút nào, tôi sẽ đốt cháy nhiều năng lượng hơn bình thường.
Tôi ghét chạy đường núi. Phải, tôi sống ở Edinburgh, có vùng cao nguyên Scotland tuyệt đẹp bao quanh. Nhưng tôi luôn tránh chạy lên đồi và chạy ngoài trời nếu được. Nhất là những khi trời lạnh, có gió và ẩm ướt. Ấy vậy mà ném tôi vào trong sa mạc hơn 43 độ, tôi lại không hề hấn gì, vẫn tươi vui như các vận động viên khác.
Mọi người thường hỏi sao tôi thích chạy ở những vùng nóng thế. Câu trả lời rất đơn giản. Khi chạy dưới ánh mặt trời sáng chói, tôi cảm thấy mình tự do nhất.
Từ lúc còn nhỏ tôi đã vậy rồi. Sau khi bố Garry mất, tôi tìm đến thể thao, với hi vọng tìm một nơi lẩn trốn những rắc rối ở nhà. Tôi chơi cricket, khúc côn cầu bên ngoài hàng giờ liền. Thời gian như ngừng lại khi tôi ở bên ngoài. Và càng chạy, càng chạm đến cực hạn của bản thân, thở càng nặng nhọc, tiếng tim đập càng mạnh, thì nỗi phiền muộn trong tôi càng dịu đi.
Bạn có thể nói, chạy khi trời nóng là một kiểu giải thoát. Còn tôi thì chắc chắn một điều. Khi chạy trên sa mạc Gobi, tôi không còn phải chạy trốn quá khứ nữa. Tôi đang chạy để hướng tới tương lai. Tôi đang chạy với niềm hi vọng , chứ không phải phiền muộn.
Càng bước, chân tôi càng nặng như đeo chì. Tôi giảm tốc độ. Xung quanh đều là tuyết. Có lúc, chúng tôi phải chạy dọc sông băng. Lại có lúc, phải chạy dưới sườn núi dốc đứng như muốn sụt lún xuống bất cứ lúc nào. Từ độ cao này mà nhìn xuống , chắc hẳn sẽ kích thích lắm đây. Nhưng cũng may là mây bay là là dưới mặt đất nên tôi không thể nhìn thấy gì ngoài một bức tường sương mù dày. Cảnh tượng mờ mờ ảo ảo này làm tôi cứ ngỡ như mình đang trong một cơn dị mộng. Tôi chỉ mong sao mình thoát khỏi chỗ này thật nhanh.
Cuối cùng , chốt kiểm soát đã ở trước mắt. Tôi nghe thấy tiếng mọi người reo hò cổ vũ như mọi khi. Khi họ nhìn thấy con chó, họ càng hò hét to hơn.
“Lại là chú chó đó kìa!”
Tôi gần như đã quên khuấy nhóc này. Lúc tôi chật vật leo lên đồi, con chó vẫn bắt kịp tôi, lóc ca lóc cóc như thể chạy lên độ cao 760 mét dưới gầm trời là điều hết sức bình thường.
Đến chốt kiểm soát, tôi phải đối mặt với hàng tá câu hỏi như tôi cảm thấy thế nào, hay tôi đã uống nước chưa. Ban tổ chức đặt các chốt kiểm soát không chỉ để tiếp nước cho các vận động viên mà còn để kiểm tra xem chúng tôi có đủ sức đi tiếp hay không.
Ấy thế mà, người ta chú ý đến con chó nhỏ đó còn hơn cả tôi. Hai tình nguyện viên chụp ảnh trong khi con chó đánh hơi căn lều được dựng làm chốt kiểm soát. Rót đầy chai nước, tôi đã sẵn sàng đua tiếp. Tôi ra khỏi lều, nửa hi vọng con chó sẽ không đi theo tôi nữa và ở lại đây kiếm phiếu cơm ngon nghẻ hơn.
Nhưng khi chiếc ghệt màu vàng trên chân tôi bắt đầu chuyển động , con chó đã chạy ngay ra chỗ tôi.
Leo lên núi đã vất, xuống núi cũng không kém. Hơn năm dặm đường đua toàn đá dăm và đá tảng , có thể lăn xuống bất cứ lúc nào. Chạy thế này quả là hành hạ khớp xương. Như các vận động viên khác, nếu tôi không duy trì một trăm phần trăm phong độ, tôi có nguy cơ bị vượt qua bất cứ lúc nào.
Quả nhiên là thế. Khi chạy xuống dốc, chật vật lắm tôi mới gần đạt tốc độ tối đa. Chẳng mấy chốc, Tommy đã vượt qua tôi, tiếp theo đó là Julian.
Tôi tự trách mình đã tốn quá nhiều sức lúc leo lên. Tôi đã phạm một lỗi căn bản, dù biết là mình không nên.
Ngay sau đó, tôi tự điều chỉnh lại tâm trạng. Tự trách có thể khiến tôi mắc thêm lỗi căn bản khác. Trước đây, tôi từng mấy lần bị ám ảnh bởi chính lỗi lầm tôi gây ra. Trên vài dặm đua, cảm giác thất bại cứ tích tụ dần đến tận khi tôi chẳng còn hứng thú đua nữa và rút lui.
Chỉ tập trung nhìn phong cảnh xung quanh, tôi cố đánh lạc hướng bản thân. Chạy xuống núi được một quãng , hình như tôi trông thấy một một cái hồ nước lớn đằng trước. Mặt hồ trải rộng và thẫm lại dưới bầu trời xám xịt. Càng đến gần, tôi mới nhìn rõ đó không phải một cái hồ, mà là một bãi cát sỏi đen sì khổng lồ.
Đường bằng phẳng hơn nên tôi giảm tốc độ xuống còn 24m/phút, chạy thẳng qua chốt kiểm soát cuối cùng mà không cần dừng lại lấy nước. Tôi thấy Tommy, Zeng và Julian ngay đằng trước. Họ không cách quá xa như tôi lo ngại. Họ gan lì nối đuôi nhau. Chỉ cách họ chưa đầy một dặm, nhưng cố đến mấy tôi vẫn không thể bắt kịp họ. Tôi cũng không để tâm lắm. Tôi thấy thỏa mãn vì chân tôi không hề có dấu hiệu bị đau suốt chặng đua hôm nay. Tôi nghe thấy tiếng trống vang lên mỗi khi có một vận động viên về đích. Với vị trí thứ tư ngày hôm nay, tôi hoàn toàn có hi vọng giành hạng ba chung cuộc.
Con chó vẫn thu hút sự chú ý ở vạch đích như ở các chốt kiểm soát trước. Mọi người hết chụp ảnh, quay phim, rồi tung hô con chó lai nhỏ màu nâu khi nó chạy về đích. Dường như nhóc này thích được chú ý. Tôi thề là nó vẫy đuôi thoăn thoắt khi đùa nghịch với đám đông vây quanh.
Tommy về trước tôi một, hai phút gì đó, và cũng tiến vào hàng ngũ hoan nghênh. “Chú chó kìa, ông anh! Nó theo anh cả ngày nay cơ mà!”
“Nó đã được uống tí nước nào chưa nhỉ?” Một trong số các tình nguyện viên nghi hoặc.
“Tôi không rõ nữa,” tôi đáp. “Chắc nó uống ít nước suối trên đường rồi.” Tôi có chút ngượng nghịu. Tôi không muốn nó bị khát hay bị đói.
Ai đó kiếm một cái xô nhỏ và múc cho con chó ít nước. Nó liếm liên hồi, chắc là khát lắm.
Tôi lùi lại, tránh khỏi đám đông một chút vì muốn bỏ con chó lại đó. Lại một lần nữa, tôi nghĩ nó sẽ lảng vảng , rồi đi theo người khác, nhưng không. Uống nước xong , nó ngẩng đầu lên, hai mắt dán chặt vào chiếc ghệt màu vàng của tôi, rồi chạy lon ton đến bên tôi, tôi đi đâu nó theo đó.
Trong lều nóng hừng hực. Tôi mừng vì cuối cùng chúng tôi đã thoát khỏi cái lạnh cắt da cắt thịt trên núi cao. Bắt đầu từ giây phút này, cái chúng tôi phải đương đầu không còn là cái lạnh nữa, mà là khí nóng. Kể từ ngày mai, chúng tôi sẽ tiến vào sa mạc Gobi. Tôi háo hức lắm rồi đây.
Tôi vừa ngồi vào lều, con chó đã nằm cuộn tròn bên cạnh tôi. Còn tôi bắt đầu lo ngại về vi khuẩn và mầm bệnh. Trong một cuộc đua kéo dài cả tuần trời như thế này, điều cốt yếu là phải giữ mình càng sạch càng tốt. Bởi bạn sẽ rất dễ bị ốm nếu không tắm giặt. Con chó đang nhìn thẳng vào mắt tôi, như cách nó nhìn tôi sớm nay. Vài giờ nữa là đến bữa tối lúc sáu rưỡi, nên tôi lôi một túi đậu và thịt khô Biltong ra. Con chó nhìn không chớp mắt.
Cắn một miếng thịt, tôi chợt nhận ra con chó chưa ăn gì cả ngày nay. Nó đã biểu hiện xuất sắc trong một giải marathon.
Hơn thế, trước mặt tôi, nó chưa từng mặt dày xin xỏ hay ăn trộm tí thức ăn nào.
“Đến đây nào,” tôi vừa nói vừa tung một nửa miếng thịt xuống tấm bạt trước mặt nó. Trực giác mách bảo, tôi không nên cho nó ăn trên tay mình. Con chó nhai, nuốt, lượn vòng vài lần rồi nằm xuống. Trong nháy mắt, nó ngáy, giật giật người, rên rỉ, và chìm sâu vào giấc ngủ.
Tôi choàng tỉnh khi nghe tiếng mấy người thủ thỉ như đám học sinh.
“Ái chà, dễ thương nhỉ?”
“Đây không phải con chó tối qua sao? Anh nghe gì chưa? Cô nhóc theo anh ta cả ngày nay đấy.”
Cô nhóc ư? Nó chạy cùng tôi cả ngày, còn tôi thì chưa từng nghĩ đến chuyện nó là con đực hay con cái.
Tôi mở mắt. Con chó đang nhìn tôi. Ánh mắt chuyên chú hơn tất thảy. Tôi xem thử. Họ nói đúng. Nó không phải một cậu nhóc. Là một cô nhóc.
“Ừ.” Tôi nói với Richard và những người còn lại. “Cô nhóc cứ dính lấy tôi cả ngày nay. Nó dai sức phết đấy.”
Mấy người cho cô nhóc ấy ăn. Như mọi khi, người ta cho là nó ăn. Cô nhóc lặng lẽ ăn như thể nó biết mình đã chộp được một món hời béo bở và phải ngoan ngoãn.
Tôi kể với họ chuyện tôi không biết cô nhóc từ đâu đến và chuyện tôi đoán chủ của nó là người ở cùng lều với chúng tôi đêm hôm trước.
“Tôi không nghĩ thế đâu,” Richard nói. “Tôi nghe mấy vận động viên khác kể hôm qua nó chạy cùng họ trên cồn cát.”
Điều đó có nghĩa là cô nhóc đã chạy gần năm mươi dặm trong hai ngày qua! Tôi sửng sốt.
Điều đó cũng có nghĩa là cô nhóc không thuộc về ai ở cùng lều hôm trước hay ai đó trong ban tổ chức.
“Anh biết giờ mình cần làm gì chứ?” Richard nói tiếp.
“Gì?”
“Đặt tên cho nó đi.”
6
CHẠY CHƯA ĐƯỢC MỘT DẶM, TÔI DỪNG LẠI và thầm mắng mình ngu dốt. Chúng tôi đã nếm đủ mọi loại thời tiết trên đường chạy trong hai mươi tư giờ qua. Từ tuyết và mưa trên núi đến khô nóng lúc hạ trại. Gió giật cạnh lều cả đêm. Khi tôi dậy, trời lạnh nhất từ đầu giải đến giờ.
Cái lạnh làm tôi buồn bực. Phải, tôi những mong một ngày nóng hơn, đường bằng phẳng hơn. Ấy thế mà, tôi lại đang run lẩy bẩy sau vạch xuất phát. Trong lúc các vận động viên khác đã khởi động xong , tôi lại vứt ba lô xuống , lục lọi tìm cái áo khoác nhẹ, làm lộn xộn hết hành lý vốn đã được chuẩn bị kỹ càng.
Giờ thì, tôi đang tất bật cởi áo khoác ra. Mặt trời mới ló rạng được vài phút, nhiệt độ đã bắt đầu tăng. Đáng lẽ tôi phải thấy vui mới phải, nhưng thú thật, tôi đang phát ngốt trong cái áo gió ướt nhẹp đây. Tôi đành dừng lại cởi áo vì còn những năm tiếng đồng hồ chạy bộ đang chờ tôi.
Lúc đang kéo khóa, giật cúc nhựa và cởi áo khoác ra, tôi thấy Tommy, Julian và hai người khác vượt lên dẫn đầu.
Thêm một người áp sát phía sau. Tôi cười.
“Này Gobi,” tôi gọi nó bằng tên tôi đặt cho nó tối qua. “Mày đổi ý rồi à?”
Nó nằm cuộn tròn bên sườn tôi cả tối. Nhưng lúc tôi đứng ở vạch xuất phát sáng nay, Gobi đã lủi đi đâu mất trong đám vận động viên. Tôi thì quá chú tâm vào thời tiết mà quên khuấy mất cô nhóc. Hai mươi tư giờ qua đã dạy tôi: Gobi đích xác là một cô nhóc cứng đầu. Nếu hôm nay cô nhóc có kế hoạch khác thì tôi là ai mà ngăn được cô nhóc ấy chứ?
Nhưng giờ Gobi đang ở đây, ngước nhìn tôi trong khi tôi buộc túi, rồi nhìn xuống cái ghệt giày. Cô nhóc đã sẵn sàng. Tôi cũng thế.
Tôi mất bao công sức mới bắt kịp mấy người dẫn đầu, rồi lại tụt lại phía sau họ. Tôi biết có một đoạn dài trong đường đua hôm nay chạy qua núi đá, và tôi vẫn còn nhớ, hôm đầu tiên, đôi chân Julian nhẹ nhàng băng qua dạng địa hình này như thế nào. Tôi không muốn nhìn cậu ta bỏ xa tôi một lần nữa chút nào, nên tôi tăng tốc, vượt qua hạng tư, hạng ba, Julian và Tommy.
Trở lại vị trí dẫn đầu thật tuyệt. Hai chân tôi mạnh mẽ và tinh thần đầy hưng phấn. Mỗi phút trôi qua, tôi nghe thấy bước chân những vận động viên bám sau ngày càng xa. Tôi gắng chạy nhanh hết sức. Hễ mệt mỏi, tôi lại liếc nhanh xuống Gobi. Cô nhóc không biết chút gì về kĩ thuật chạy hay chiến thuật đua. Cô nhóc thậm chí còn không biết hôm nay tôi định chạy bao xa. Cô nhóc cứ thế chạy, như thể sinh ra để chạy vậy.
Tôi men theo dấu mốc màu hồng trên đường chạy đến khu vực núi đá. Lối đi bằng phẳng hơn chệch về bên phải, nhưng những dấu mốc vẫn chỉ thẳng về phía trước, theo hướng con đường toàn đá to, lung la lung lay, gần như không thể duy trì thế chạy được. Nhưng muốn tránh cũng không được, tôi nhảy lên, cảm giác như những tảng đá nhỏ hơn lắc lư khi tôi di chuyển. Tôi vừa hi vọng mình không bị sái chân, vừa ghen tị với khả năng nhảy tưng tưng qua mấy tảng đá mà chẳng tốn chút sức nào của Gobi.
Đoạn này, chắc chắn Julian sẽ chạy nhanh hơn tôi. Lúc vừa lên đến đỉnh đồi cát, tôi nghe thấy tiếng bước chân của Julian ở ngay phía sau. Ấy thế mà lên đến đỉnh, thay vì tiến về phía trước và cố gắng kéo dãn khoảng cách với Julian, tôi sững lại.
Đứng trên đây, tôi có thể trông thấy mọi thứ. Xa xa đằng kia là chốt kiểm soát. Trước khi đến đó, chúng tôi sẽ phải chạy qua một ngôi làng nhỏ. Tôi trông thấy cả con đường đá lởm chởm cách chúng tôi tầm 30 mét, rồi đến những mốc màu hồng đánh dấu đường đua trên con đường bằng phẳng dẫn đến ngôi làng , chốt kiểm soát và xa hơn nữa.
Nhưng cái đập vào mắt tôi hiện giờ không phải những thứ đó. Như Julian và hai vận động viên khác dừng chân cạnh cậu ta, tôi dán chặt mắt vào con người đơn độc vừa chạy chếch sang phải.
Đó là Tommy.
“Ồ!” Julian thốt lên. “Không đúng.”
Bằng cách nào đó, Tommy đã bỏ qua toàn bộ khu vực đá tảng , và đang dẫn trước chúng tôi khoảng mười phút. Đám chúng tôi tức anh ách. Chúng tôi gọi nhưng Tommy không nghe thấy. Cậu ta cách quá xa. Với ngọn lửa phục thù đang cháy hừng hực, chúng tôi quyết bắt cho kịp cậu ta.
Khi chạy qua ngôi làng , chúng tôi trông thấy Tommy đã đến chốt kiểm soát đằng trước. Thế nhưng lúc chúng tôi đến đó, cậu ta đã biến mất hút sau một chỏm núi cách đó mấy chục mét.
Tôi quyết định dừng lại một lúc để trình báo và xem có ai ghi lại những gì vừa xảy ra không. Lần đầu tiên tôi cố giải thích tình huống, thành viên ban tổ chức nhìn tôi như một thằng ngốc.
“Vui lòng nói lại lần nữa,” bà ta nói.
“ Tommy Chen đã bỏ qua khu đá tảng đằng đó. Tôi không biết cậu ta có cố tình hay không nhưng như thế là không công bằng.”
“Chúng tôi sẽ điều tra sau,” bà ta đáp đại khái.
“Tommy đã nhảy cóc,” Zeng , một nhân chứng khác nói. “Như thế là không đúng luật.”
Lại một lần nữa, bà ta tỏ ra không màng gì cả. Ngay sau đó, chúng tôi quay lại chốt kiểm soát, cố gắng đuổi kịp Tommy. Cậu ta đã dẫn trước chúng tôi gần một dặm đường hiểm trở, nhưng không hề gì, cậu ta chọc giận tôi rồi. Tôi tăng tốc lên 247m/phút, gắng thu hẹp khoảng cách. Julian và những người khác đã tụt lại đằng sau, nhưng tôi không quan tâm. Tôi chỉ tập trung vào một nhiệm vụ duy nhất.
Con đường nhấp nhô quá, nên tôi chỉ thấy rõ bóng Tommy vài lần. Giây phút khoảng cách giữa chúng tôi chỉ còn cỡ 800 mét, cậu ta quay lại, thấy tôi đang đuổi theo, cậu ta liền chạy nước rút hết tốc lực.
Tôi không tin vào mắt mình nữa.
Các cuộc đua kiểu này thường có một quy ước. Nếu anh nhận ra mình có lợi thế không công bằng so với các vận động viên khác, anh phải lùi lại, để họ vượt lên và khôi phục lại đúng thứ hạng vốn có. Tôi đã mắc lỗi này trong một cuộc đua. Cạnh tranh giành vị trí dẫn đầu vốn dễ dàng , nhưng giải quyết mọi chuyện trên đường đua sẽ tốt hơn là khi mọi chuyện đã kết thúc.
Tôi kiên trì bám theo cậu ta. Nhưng sau khi cố gắng hết sức để thu hẹp khoảng cách, để tức giận, tôi liền cảm thấy mệt mỏi. Tôi nghe thấy tiếng bước chân đằng sau. Julian đã vượt qua tôi. Trời bắt đầu nóng hơn. Chúng tôi tiến vào đoạn đường bằng phẳng trải dài hàng dặm. Tôi bắt đầu cảm thấy chán nản và thất vọng về bản thân mình.
Kinh nghiệm trước đó đã dạy tôi rằng thứ cảm xúc tiêu cực này là độc dược, cũng dạy tôi cách xử lý chúng.
Lần đầu tiên tham gia một giải chạy siêu bền - cự li 26,2 dặm kết hợp chạy vòng tròn cự li 6 dặm chót - tôi bắt đầu thấy mệt mỏi ở khoảng mốc 20 dặm. Từ lúc cán mốc, tôi đã thấy thế rồi. Tôi không thích thú gì chạy đường trường , chán ngấy cảnh bị mấy ông bà lớn tuổi hơn mình vượt mặt. Tôi chạy chỉ vì muốn đồng hành cùng Lucja. Mặc dù tôi sắp sửa hoàn thành đường đua 26,2 dặm trong vòng 3 giờ 30 phút, nhưng sâu thẳm trong tôi lại muốn từ bỏ. Tôi bước ra khỏi đường đua, đi ra xe và đợi Lucja cùng về.
Phải mấy tiếng nữa Lucja mới ra.
Tôi ngồi trong xe và nhìn các vận động viên còn lại cố gắng đua, mà mình thì chưa sẵn sàng cố gắng như họ. Tôi bắt đầu cảm thấy thất vọng vì chính mình.
Số vận động viên thưa thớt dần. Những người vẫn kiên trì là những người coi giải đua này như trải nghiệm chỉ có một lần trong đời. Lucja sung sức, nhanh, và mạnh hơn tất thảy nhưng cô ấy không ở tốp đầu. Tôi bắt đầu tự hỏi đã xảy ra chuyện gì vậy. Sau cùng , tôi bước ra khỏi xe, đi bộ dọc theo đoạn đường đua cuối cùng để tìm cô ấy. Chẳng bao lâu sau, tôi đã thấy cô ấy, chạy thong thả bên một gã. Chân hắn bị chấn thương khá nặng. Lucja mệt mỏi lê từng bước, nhưng rốt cục cô ấy đã về đích.
Tôi nhìn cô ấy chạy qua vạch đích mà nghẹn ngào. Sức mạnh tinh thần và lòng trắc ẩn ở Lucja ngày hôm ấy đã ám ảnh tôi đến tận bây giờ. Tôi cố gắng noi gương cô ấy mỗi khi đua. Và bằng hết sức bình sinh, tôi có thể chịu đựng và vượt qua đủ mọi nỗi đau và sự khó chịu. Nhưng nhiều lúc, tiếng nói bảo tôi từ bỏ cứ to hơn tiếng nói bảo tôi tiếp tục kiên trì. Đó là những ngày chật vật nhất.
Khi thấy Julian biến mất hút, tôi cố dằn lòng không nghĩ đến việc Tommy đã cách mình bao xa. Tôi biết tôi đang nhớ Lucja. Liếc xuống nhìn Gobi, tôi đã lấy lại sự tập trung và vứt cái mớ bòng bong về Tommy ra khỏi đầu. Gobi vẫn luôn ở bên tôi, vẫn sát cánh cùng tôi. Vì có Gobi ở đây, nên tôi muốn tiếp tục.
Đoạn đường đua dài, bằng phẳng kết thúc, nhường chỗ cho cây bụi. Tôi nhận thấy, từ đầu chặng tới giờ, hễ thấy một dòng suối hay vũng nước, Gobi đều mon men chạy lại uống nước. Kể từ đoạn đường đá, chúng tôi chưa thấy vũng nước nào cả. Tôi tự hỏi mình có nên chia cho cô nhóc ấy chút nước không nhỉ. Dù không muốn dừng lại, nhưng tôi cũng bắt đầu cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm về sức khỏe của Gobi. Cô nhóc ấy chưa trưởng thành, và mấy cái chân thì còn xa mới dài bằng tay tôi. Với Gobi, chạy bộ hẳn là vất vả lắm.
Nên tôi nhẹ nhõm hẳn khi trông thấy mấy dòng suối phía trước. Gobi chạy lon ton ra một dòng suối uống nước. Phải chăng cô nhóc nhìn thấy những gì tôi nhìn thấy lúc này, Gobi chắc hẳn sẽ không còn hưng phấn như thế.
Đứng bên dòng suối, tôi trông thấy Julian ở bờ bên kia một con sông rộng cỡ 50 mét. Tôi vẫn nhớ ban tổ chức đã nhắc đến nó khi tôi còn đang run lẩy bẩy sau vạch xuất phát vài giờ trước. Nước dâng cao đến tận đầu gối, nhưng vẫn đi bộ qua được.
Hình ảnh Julian đã khích lệ tôi, khiến tôi không ngần ngại lội xuống nước, kiểm tra xem đã buộc chặt ba lô trên lưng và có bị dính nước không. Nước lạnh hơn tôi tưởng , nhưng chẳng hề gì, tôi còn đang muốn làm mát cơ thể một chút đây.
Đúng là nước cao đến đầu gối tôi, thậm chí có chỗ sâu hơn. Dòng chảy xiết cộng thêm đá trơn làm tôi chệnh choạng. Nếu giày ướt, tôi vẫn có thể đua tiếp. Dù sao thì chúng cũng sẽ khô nhanh thôi. Nhưng nếu bị trượt chân ngã, ba lô ướt không chỉ nặng và khó chịu mà thức ăn cũng sẽ hỏng mất. Một bước sẩy chân, một cú ngã, cuộc đua của tôi rất có thể sẽ chấm dứt tại đây.
Tôi tập trung cao độ để lội qua sông , đồng thời không quên chú ý Gobi. Tôi đoán cô nhóc ấy sẽ tìm được đường qua sông thôi, như hôm chạy qua rãnh nước vậy.
Thế nhưng lần này, Gobi sủa và rên rỉ không ngừng. Tôi đi càng xa, tiếng kêu càng tuyệt vọng hơn.
Đi được một phần tư lòng sông , tôi quyết định làm cái chuyện mà tôi chưa từng làm trong bất cứ cuộc đua nào. Tôi quay lại.
Gobi đang đứng trên bờ, sốt sắng chạy lên chạy xuống , nhìn thẳng vào tôi. Tôi biết Julian mới dẫn trước tôi vài phút thôi, nhưng còn ai đó bám sau tôi thì sao, bao lâu nữa họ sẽ vượt qua tôi. Nếu tôi quay lại, liệu tôi có mất cả thứ hạng này lẫn vài phút quý báu không?
Tôi chạy lại nhanh nhất có thể, kẹp Gobi vào cánh tay trái và lội ngược trở vào nước lạnh lần nữa. Tôi chưa bế Gobi bao giờ. Cô nhóc nhẹ hơn tôi tưởng nhiều. Ngay cả thế thì bế theo Gobi lội qua sông cũng quá ư là khó nhọc. Tôi chỉ dùng tay phải để giữ thăng bằng , mon men phía trước.
Tôi trượt chân mấy lần liền, một lần khuỵu sang trái làm Gobi và cả đáy ba lô bị ướt - tôi đoán vậy. Thế mà Gobi không phàn nàn gì, cũng không lộn xộn hay vùng vẫy. Cô nhóc ở yên dưới cánh tay tôi, để tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình và bảo vệ cô nhóc an toàn.
Đến một đảo nhỏ giữa dòng , tôi đặt Gobi xuống. Cô nhóc chạy lon ton như thể mọi thứ đều là một chuyến phiêu lưu kì thú. Tôi xem ba lô có bị ướt lắm không rồi đeo thật cao trên lưng. Tôi gọi Gobi, nhóc ta chạy ngay lại. Tôi nhấc cô nhóc lên và lại tiến bước.
Cô nhóc nhảy lên bờ nhanh hơn tôi. Nhân lúc tôi rửa sạch bùn và rong rêu, Gobi đã lắc mình giũ lông xong và đang nhìn tôi chằm chằm, như tỏ ý mình đã sẵn sàng trở lại cuộc đua.
Chạy qua đoạn đường đất bụi mù, chúng tôi bắt gặp một cái rãnh nhân tạo khác, to hơn cái hôm trước Gobi nhảy qua. Lần này, tôi không dừng lại, mà nhấc bổng cô nhóc lên, nhảy liền một mạch.
Trong khoảnh khắc ấy, khi tôi nhấc Gobi lên trước, hai chúng tôi đối mặt nhau, tôi thề là cô nhóc ấy trao tôi ánh nhìn trìu mến và biết ơn.
“Sẵn sàng chưa, nhóc?” tôi nói, không thể ngừng cười khi đặt Gobi xuống và xem nhóc ta bắt đầu nhảy tưng tưng. “Vậy thì tiến lên nào.”
Tôi chỉ ngước mắt lên khi trông thấy một ông lão cưỡi lừa. Ông ấy ngây ra nhìn hai chúng tôi.
Trông tôi kì lắm à? Tôi tự hỏi.
7
BAN TỔ CHỨC CUỘC ĐUA ĐANG TRÊU ĐÙA mấy vận động viên chúng tôi chắc? Đoạn đường đua cuối cùng trong ngày dài hàng mấy dặm liền. Đồng hồ GPS báo sắp đến đích, nhưng tôi chẳng thấy bóng dáng cái trại nào ở quanh đây cả. Tất cả những gì tôi thấy là con đường nhấp nhô vô tận, rồi mất hút đằng xa.
Tôi đã chạy thêm được hai dặm nữa. Theo tính toán, tôi mất quá nhiều thời gian do giảm tốc độ trước đó và mang Gobi lội sông. Trong lúc đó, Tommy, thậm chí có thể cả Julian cũng đã về đích rồi. Cho nên lúc trên đỉnh dốc, tôi ngạc nhiên vô cùng khi thấy cả hai người họ chỉ dẫn trước tôi có một dặm. Theo lí mà nói, giờ họ phải chạy nước rút chứ nhỉ? Trông như họ đang đi bộ ấy. Tôi tự hỏi, liệu có phải Tommy cố ý chạy chậm lại để những người khác bắt kịp và khôi phục thứ tự vốn có không. Hay cũng có thể cậu ta chỉ kiệt sức vì nóng và không thể chạy nhanh hơn thôi.
Dù thế nào thì tôi nghĩ cơ hội thu hẹp khoảng cách đây rồi. Tôi muốn vượt lên một cách lặng lẽ. Tôi không muốn họ phát hiện ra tôi đang đuổi theo họ và tăng tốc. Hôm nay, tôi đã tốn quá nhiều sức. Đoạn đường dốc giúp tôi náu mình nên tôi phi hết tốc lực. Lúc lên dốc, không còn vật gì che chắn, tôi bèn chạy chậm lại. Chắc Gobi nghĩ trò này vui lắm, nên nó phi nước đại theo tôi rồi giảm tốc, hết lần này đến lần khác.
Tôi không thấy Tommy hay Julian ở hai con dốc đầu, nhưng đến con dốc thứ ba, khoảng cách giữa chúng tôi đã giảm phân nửa. Chắc chắn họ đang đi bộ. Hai lần xuống dốc tiếp theo, tôi còn lao nhanh hơn.
Mỗi lần chạy nước rút, tôi nhận thấy mình ngày càng gần họ hơn. Leo lên con dốc thứ năm, phổi tôi như muốn bốc cháy, tôi cách họ chưa đầy sáu mươi mét nữa thôi. Họ mới vừa biến mất khỏi tầm mắt tôi ở lần xuống dốc cuối cùng. Rốt cục, tôi đã thấy vạch đích ngay phía trước.
Tôi chỉ cần thực hiện tổ hợp chạy nước rút cộng lén lút này thêm một lần cuối cùng nữa thôi. Sau cùng , tôi muốn cảnh báo họ là tôi sắp vượt họ rồi. Vì vậy, tôi bắt đầu chạy, nhanh nhất, và yên lặng nhất có thể.
Tôi chạy bằng đầu ngón chân, và chú ý không va phải đá. Sáu mươi mét giờ rút xuống còn ba mươi mét. Rồi hai lăm mét. Hai mươi mét. Tôi lấy làm ngạc nhiên vì không ai nghe thấy tiếng bước chân của tôi hay quay lại nhìn.
Khi khoảng cách giữa chúng tôi chỉ còn vẻn vẹn mười mét, thêm ba mươi mét nữa chính là đến đích. Chính là lúc này, tôi đã tiếp cận đủ gần và quyết chạy hết sức bình sinh.
Chạy được vài bước thì Julian quay đầu lại và thấy tôi. Nhưng mọi sự đã rồi. Dù Tommy có bắt đầu chạy, thì họ cũng không đủ sức vượt tôi nữa.
Tôi về nhất, nối gót tôi chính là Gobi. Tiếng trống khải hoàn cũng không át hết tiếng reo hò cổ vũ của đám đông ban tổ chức và các tình nguyện viên.
Tôi biết dẫn trước Tommy vài giây trong chặng này khó có thể thay đổi kết quả chung cuộc cuối giải đua bảy ngày liên tiếp, nhưng quá đủ để đáp trả lại những gì cậu ta đã làm hôm nay. Tôi muốn cậu ta biết rằng dưới góc độ là một vận động viên, tôi tôn trọng cậu và tất cả thành tích chạy đường trường cậu đạt được, nhưng tôi sẽ không ngồi yên để cậu ta muốn làm gì cũng được. Nếu Tommy muốn giành chiến thắng , cậu ta bắt buộc phải đấu với tôi một trận công bằng và sòng phẳng.
“Quá cừ!” Thành viên ban tổ chức reo lên. “Anh xứng đáng vào siêu cúp đấy.”
“Ồ, cám ơn,” tôi đáp. Nhưng cái tôi muốn không phải là những cái vuốt ve. Tôi muốn xem bà ta định xử lý chuyện Tommy thế nào. “Lát nữa tôi có thể gặp và thảo luận về vụ Tommy Chen cố tình nhảy cóc trước khi qua chốt kiểm soát đầu tiên không ? Mặc dù hiện giờ tâm trạng tôi chưa ổn định, nhưng tôi nghĩ bà cần biết chính xác những gì đã xảy ra.”
Cơn giận đã nguôi, nhưng tôi vẫn phải cẩn trọng với lời nói của mình. Bởi dù gì thì Tommy cũng là ngôi sao của chương trình.
Sau khi thuật lại toàn bộ sự việc, tôi chờ trong lều, còn Gobi nằm cuộn tròn bên cạnh tôi trong lúc chờ diễn biến tiếp theo của cuộc điều tra. Người phụ nữ mới vừa hỏi tôi cũng trao đổi với các vận động viên khác, nhân viên tại chốt kiểm soát và Tommy. Tôi đã đề xuất phạt cộng thêm mười lăm phút vào kết quả chung cuộc là công bằng , nhưng Tommy chỉ bị phạt cộng thêm năm phút vào thành tích ngày.
Tôi vừa thất vọng vừa lo không biết Tommy sẽ nắm bắt năm phút đó như thế nào. Tôi đến tận lều tìm cậu ta. Cậu ta đang khóc.
“Nói chuyện với tôi một chút được không , Tommy?”
“Tôi không thấy dấu mốc,” chúng tôi vừa ra ngoài cậu ta đã giải thích. Tôi cho là không phải vậy. Những dấu mốc màu hồng rất khó bỏ lỡ. Chưa kể bất cứ vận động viên chạy đường trường dày dạn nào cũng phải nghiên cứu trước về dấu mốc để nhận biết và chạy theo tuyến đường đã định. Hơn nữa, lúc đó cậu ta chạy ngay sau tôi, nên không thể không thấy cái áo màu vàng chói lóa của tôi được.
“Được rồi,” tôi nói. “Tôi không muốn đau đầu vì chuyện hôm nay nữa. Mọi chuyện đã qua. Đừng giữ mãi trong lòng làm gì, được chứ?”
Cậu ta nhìn tôi, gương mặt cương quyết và không còn vương giọt nước mắt nào. “Tôi không cố ý. Tôi không nhìn thấy dấu mốc.”
Cậu ta đã bảo thế thì tôi còn biết nói gì đây. Vì vậy, tôi quay đi.
Quay lại lều, Richard và Mike chúc mừng tôi đã về nhất chặng này. Nhưng thực ra, họ muốn nói về vụ của Tommy cơ.
Tôi không còn hứng thú thảo luận chuyện ấy nữa. Tôi muốn chuyện gì đã qua thì để cho nó qua đi.
“Tôi phục anh đấy, Dion,” Richard nói. “Anh đã làm được một điều gì đó tốt đẹp ở đây.”
“Tại sao?”
“Những vận động viên người Mỹ về đích sau thực sự đánh giá cao anh vì dám đứng lên bảo vệ lập trường. Tất cả chúng ta đều phải tuân thủ luật chơi. Hơn thế, anh đã làm đúng khi nói chuyện với Tommy và chủ động giải hòa.”
“Thôi nào, chúng ta sẽ biết năng lực thực sự của Tommy vào ngày mai. Không khéo tôi vừa chọc tổ ong bắp cày ấy chứ,” tôi nói.
Tối đó, tôi trằn trọc cả đêm. Trong lều thì nóng , mà trong đầu tôi thì cứ ong ong. Richard mới mò dậy đi vệ sinh. Khi cậu trở vào lều, Gobi nhìn cậu ta gầm gừ. Tôi thích cảm giác được Gobi trông chừng như thế.
Ngày hôm sau là chặng sa mạc, đá lởm chởm, đất cứng đe và ánh mặt trời thiêu đốt từng dặm đường. Như đã bàn bạc tối qua, chặng sa mạc quá sức với Gobi nên cô nhóc sẽ ngồi xe với nhóm tình nguyện viên đến trại tiếp theo. Tôi dậy sớm và ra khỏi lều sớm hơn mọi khi để tìm người dẫn Gobi theo và nhắc người ta cho cô nhóc uống đủ nước và mát mẻ cả ngày.
Đến lúc nói lời tạm biệt, tôi chợt thấy hơi lo về cô nhóc. Ừ thì, rõ là cô nhóc thích bám tôi, nhưng liệu nhóc ta có ổn giữa hàng tá người lạ mặt cả ngày không ? Tôi sẽ gặp lại Gobi chứ? Hay cô nhóc sẽ dấn thân theo một cuộc phiêu lưu khác?
Cuộc đua ngày hôm nay thách thức các vận động viên ngay từ bước xuất phát, phần vì địa hình thay đổi. Nếu chặng đua hôm trước là tổ hợp của đường nhấp nhô, vượt sông và chạy trên núi đá khiến các vận động viên phải luôn tỉnh táo, thì ngày thứ tư, giữa các chốt kiểm soát ẩn náu dưới đường chân trời cách nhau hàng dặm là dải đất bằng phẳng đến bất tận.
Chân giẫm lên bãi đá cổ từng cản bước nhiều vận động viên, nhưng thay vì đường đất bụi mù và cây bụi, giờ chúng tôi đang chạy qua con đường đá cuội đen sì uốn lượn qua sa mạc Gobi.
Cả ngày nay, tôi chạy ngược gió, quan sát những tảng đá, và gắng không để tâm đến tiếng ai đó ăn uống xì sụp phía sau.
Đó là Tommy.
Gần như từ lúc xuất phát đến giờ, cậu ta vẫn duy trì vị trí sau tôi. Không phải cách tôi ba mét hay bên cạnh tôi vài mét. Mà là ngay đằng sau lưng tôi. Chưa kể, cậu ta còn chạy theo đúng nhịp chân tôi. Lợi dụng tôi làm bức tường chắn gió, cậu ta gồng mình, tránh sau lưng tôi mỗi khi không còn đủ sức cản gió nữa, như một vận động viên đua xe đạp hay chim di trú. Rõ ràng , Tommy không có ý định cho tôi thả lỏng và hưởng thụ cảm giác dẫn đầu một giây phút nào.
Cậu ta bám sau tôi, để tôi dẫn đường. Gió thi nhau quật lên người tôi, còn cậu ta thì thong thả nạp nhiên liệu.
Nhấm quả hạch. Uống nước. Nước tăng lực.
Cậu ta nhấm nháp cả ngày, nhưng không hé răng nửa lời. Ngay cả khi Zeng vượt hai chúng tôi, Tommy vẫn không thay đổi chiến lược. Cậu ta như thể cái bóng của tôi, còn tôi thì biết làm gì với nó đây.
Tôi bắt đầu thắc mắc động cơ của cậu ta. Cậu ta muốn gì mới được chứ? Chẳng lẽ cậu ta định cản trở tôi ? Cậu ta không muốn vượt và cho tôi hít bụi hả? Tôi biết cậu ta muốn bù đắp sự mất mát hôm qua, và giành chiến thắng chặng này, vậy thì lí do gì khiến cậu ta cứ bám sau tôi ? Sau tôi lại nghĩ về Gobi. Tôi nhớ cô nhóc ấy hay cắn vào dây ghệt, lôi tôi tăng tốc.
Suốt một ngày, tôi vẫn ứng phó được và không mấy phật lòng vì sự hiện diện của Tommy. Thực tế, sự hiện diện của cậu ta còn tiếp thêm động lực giúp tôi quên đi mình đang chạy ngược gió, đỡ nhàm chán và sải từng bước vững chãi.
Ít nhất thì tôi vẫn cảm thấy thế đến tận khi gần đến chạm chốt kiểm soát cuối cùng. Tôi biết, vạch đích cách chỗ này hơn bốn dặm nữa. Nhưng dưới trời nắng chang chang trên đỉnh đầu, và nhiệt độ cao bốn năm mươi độ thế này, tôi bắt đầu thấy chóng mặt.
Cuối cùng đã đến chốt kiểm soát. Đứng dưới bóng râm, tôi hưởng thụ cảm giác hạ nhiệt và điều chỉnh bản thân trong chốc lát. Thời tiết là vậy nhưng Tommy vẫn không ngừng bước. Cậu ta gật đầu ra hiệu, nói vài lời với một người trong đội tình nguyện rồi tiến thẳng. Tôi còn nghĩ là cậu ta sẽ kiên trung không đổi cơ đấy.
Tôi tranh thủ rót đầy nước vào hai chai cho đủ một lít rưỡi nước. Lúc tôi xuất phát lại thì Tommy đã dẫn trước gần hai trăm mét. Trông cậu ta khỏe khoắn và kiểm soát tốt. Rõ ràng cậu ta rất quyết tâm. Tôi sớm biết, lúc này, mình không thể đuổi kịp cậu ta.
Julian và Zeng sớm bắt kịp tôi và không chần chừ vượt lên. Họ chạy song song , tìm cơ hội hạ bệ Tommy, trong khi tôi chỉ chực cảm thấy khớp chân như rụng rời.
Tôi không thể chạy tiếp. Cho dù tôi cố gắng thế nào, cho dù tôi tự nói với bản thân không được chậm lại, tôi vẫn cảm thấy chân nặng như đeo chì.
Không giống hôm trước, chán nản và mệt mỏi đồng thời xuất hiện. Còn đây chỉ đơn thuần là vấn đề về thể chất. Tôi đã chạy liên tục suốt ba tiếng qua, hết nắng nóng thiêu đốt lại đến gió nóng thổi ngược. Tôi chẳng còn dư bao nhiêu sức.
Tôi từng như thế rồi.
Năm 2013. Hồi ấy, mặc dù tôi đã giảm từ gần 109 kí xuống tầm 77 kí, nhưng tôi vẫn không kiềm chế được cái miệng của mình, thích nếm mỹ thực và thưởng thức mỹ tửu. Vì vậy, khi chọn giải đua marathon đầu tiên, tôi đã chọn ghi danh vào một giải đua tổ chức tại Pháp, quê hương của rượu vang. Tại mốc đánh dấu mỗi dặm có một quầy nước giải khát phục vụ cả rượu vang và món ngon địa phương. Vì là cuộc đua hóa trang và không trọng thời gian về đích, nên tất cả các vận động viên đều phải cải trang thành động vật.
Tôi mặc đồ con lợn.
Nhiều người bỏ qua mấy quầy giải khát, nhưng tôi thì không. Chạy được nửa đường , tôi đã no căng bụng , nào là thịt, pho mát, sò biển, nào là rượu vang. Da tôi bắt đầu phồng rộp và đau rát khi đến mốc ba phần tư, rồi đến cẳng chân và eo cũng bắt đầu đau nhói sau mốc hai mươi dặm.
Dưới ánh mặt trời thiêu đốt, Lucja đang vui mừng nhảy múa như võ sĩ quyền Anh kết thúc vòng loại trực tiếp, còn tôi thì hì hà hì hục, ngày một chậm dần. Tôi buồn nôn, mất tập trung, không thể nhìn thẳng và lưng đau nhói từng cơn khiến tôi vô cùng lo lắng.
Lucja đã đưa tôi về đích. Thậm chí, tôi còn chẳng nhớ mình hoàn thành dặm cuối cùng như thế nào. Cô ấy đỡ tôi về khách sạn, cho tôi uống thật nhiều nước và thủ thỉ mọi chuyện sẽ ổn thôi khi tôi run lẩy bẩy dưới chăn.
Chỉ còn vài tháng nữa là đến giải chạy siêu bền đa chặng cự li 155 dặm đầu tiên mà chúng tôi tham gia - băng qua sa mạc Kalahari đầy khắc nghiệt và không khoan nhượng ở Nam Phi. Chu trình huấn luyện của Lucja đã diễn ra suôn sẻ. Chúng tôi đều hiểu, cô ấy khỏe mạnh đến thế nào. Còn tôi thì sao? Phải chăng tôi đang tự lừa mình dối người?
“Lucja à, anh không làm được đâu. Anh không giống em.”
“Ngủ đi, Dion. Chúng ta sẽ lo chuyện đó vào ngày mai.”
Tôi không nhìn thấy Tommy nữa, cậu ta cách tôi xa quá. Julian và Zeng cũng đang dần biến mất khỏi tầm mắt tôi. Vậy là xong đời. Tôi chẳng còn gì cả. Đôi chân như không còn là của tôi nữa. Đầu tôi đơ đi vì những suy nghĩ viển vông.
Có lẽ đây là cuộc đua cuối cùng trong đời tôi.
Có lẽ tôi đã hết thời rồi.
Có lẽ tham gia giải này là sai lầm lớn.
Tôi nghe thấy tiếng trống giục giã xa xa trước cả khi nhìn thấy vạch đích. Tay đua xếp thứ tư đã vượt tôi ở dặm đua cuối cùng , nhưng tôi không quan tâm nữa. Tôi chỉ muốn qua được hôm nay. Để kết thúc mọi thứ. Tôi những tưởng Lucja đang ru tôi ngủ, nghỉ ngơi rồi ăn uống khiến tôi cảm thấy ổn hơn, nhưng một giọng nói khác xen ngang bảo tôi cuốn xéo.
Đến khúc cua cuối cùng , tôi đã thấy vạch đích. Gobi đang ở đó chờ tôi. Cô nhóc ngồi trong bóng râm, trên một tảng đá, giương mắt nhìn đường chân trời.
Trong một khắc, cô nhóc vẫn bất động , tôi tự hỏi liệu Gobi có thấy tôi không.
Rồi nhúm lông màu nâu bắt đầu động. Nhảy xuống tảng đá, vẫy đuôi, thè lưỡi, xé gió lao về phía tôi.
Lần đầu tiên trong ngày hôm nay, tôi mỉm cười.
Đó là ngày nóng nhất, nắng như đổ lửa. Lều dựng gần một trại nuôi cừu cũ. Tôi cố gắng nằm ngủ một giấc trong một cái chuồng , nhưng tường kim loại biến nơi đây thành một cái lò nung. Tôi chuyển về lều, không khí ở đây bị ám mùi và nhiệt độ lên đến trên 43 độ. Gobi nằm cuộn tròn bên mạn sườn, tôi ngủ lúc được lúc không. Một phần trong tôi đang mong chờ cơn buồn ngủ trở lại, nhưng những lúc nằm trong lều là khoảnh khắc tôi nhớ Lucja nhất.
Trước khi đến Trung Quốc, tôi đã biết cuộc đua này sẽ khó khăn nhường nào nếu thiếu Lucja. Vì yêu cầu công việc, cô ấy không thể cùng tôi tham gia. Đây mới là cuộc đua thứ hai chúng tôi không ghi danh cùng nhau thôi. Tôi chợt nhớ cuộc đua marathon đầu tiên tại Pháp, tôi mặc trang phục con heo, còn Lucja là ong nghệ. Tôi dựa dẫm vào cô ấy, cô ấy chăm sóc tôi, nhất là cuối ngày. Kể từ đó đến nay, chúng tôi chưa đồng hành cùng nhau lần nào. Lucja vốn là người dễ hòa đồng. Cô ấy hay ra khỏi lều trò chuyện với các vận động viên khác. Bất cứ khi nào tôi nản lòng hoặc buồn bực, cô ấy sẽ giúp tôi thoát khỏi mớ cảm xúc tiêu cực đó. Mấy lần cô ấy bảo tôi đừng bỏ cuộc. Tôi cần Lucja, nhất là những lúc xảy ra vấn đề không mong muốn như chuyện với Tommy chẳng hạn.
Nhưng chặng đua hôm nay đã dạy cho tôi bài học khác. Tôi nhớ Gobi. Cô nhóc xứng đáng là một động lực tuyệt vời cứu vớt tôi khỏi sự nhàm chán do chạy qua những khung cảnh muôn giờ như một. Cách cô nhóc chạy - đầy quyết tâm, kiên định và tận tụy - cũng truyền cảm hứng cho tôi nữa. Gobi là một chiến binh không bao giờ chấp nhận thoái lui. Đói khát hay mệt mỏi cũng không thể khiến nhóc ta nản lòng. Cô nhóc luôn kiên trì tiến lên phía trước.
Tôi không biết nên vui hay nên buồn khi ngày mai sắp đến. Ngày thứ năm là một chặng đua dài. Gần năm mươi dặm đường , dưới trời còn nóng hơn hôm nay. Tôi đã sắp xếp để gửi Gobi ở chỗ ban tổ chức lần nữa. Tôi biết, họ sẽ chăm sóc tốt cho cô nhóc.
Chạy ngày dài là bài tủ của tôi. Thậm chí, tôi còn hứng khởi hơn khi nhiệt độ tăng vọt. Nhưng sau hai ngày có Gobi đồng hành, có điều gì đó đã chậm rãi thay đổi. Tôi trở nên thích chạy cùng cô nhóc, chiêm ngưỡng sức mạnh phi thường trong hai đôi chân ngắn cũn cỡn cả ngày. Làm sao đây, tôi lại nhớ Gobi rồi.
Đêm qua, tôi ngủ không nhiều. Trời thì nóng nực mà người tôi thì ngứa ngáy. Bốn ngày đằng đẵng tham gia cuộc đua là ngần ấy ngày tôi chưa tắm gội hay thay quần áo. Da tôi phủ một lớp bụi bẩn và ghét dày cộp. Gobi thì không chịu ngồi yên một chỗ. Cô nhóc nhổm dậy mấy lần, chạy thoăn thoắt ra khỏi lều và đi sủa đàn cừu. Tôi không quản, và mấy người bạn cùng lều khác cũng không phàn nàn gì. Tôi đoán là ai ai cũng cuống cuồng tập trung tinh thần cho chặng đua sắp tới rồi.
8
DÙ LỚN LÊN Ở ÚC NHƯNG TÔI VẪN CẦN được huấn luyện thích nghi với trời nắng nóng. Ở Edinburgh, tháng nào nhiệt độ cũng dưới 16 độ, nên nếu không tự rèn luyện trước, thì tôi không thể đương đầu với cái nóng trong sa mạc được.
Tôi nghĩ ra một cách. Đó là biến phòng ngủ trống trong nhà thành một buồng sưởi mini. Tôi đã sắm hai máy sưởi công nghiệp - loại mọi người hay dùng để hong khô nhà bị ngập nước - và hai máy sưởi xách tay nhỏ. Chưa đủ, tôi còn sắm cả một tấm mành treo cửa sổ dày cộp. Tôi ngộ ra, nếu chỉ có mình tôi trong phòng đó, nhiệt kế mới chỉ gần 38oC. Nếu tôi nài nỉ Lucja vào cùng tôi thì nhiệt độ sẽ tăng thêm được chút nữa. Mấy buổi tập thật khủng khiếp. Tôi mặc áo bó chuyên dụng mùa đông , đội mũ, đeo găng tay, bật máy chạy bộ nấc nhanh nhất. Độ ẩm không khí cực cao. Chỉ sau hai, ba giờ tập luyện, tôi đã kiệt sức mặc dù không đeo ba lô đựng đường hoặc gạo nặng sáu, bảy kí.
Để chuẩn bị cho giải đua qua sa mạc Gobi, tôi đã tăng cường độ tập luyện cao hơn hẳn cường độ tập luyện cho các giải đua trước đây. Lúc muốn tăng độ khó, chạy trong điều kiện khí hậu khô nóng , tôi trả 100 đô đổi lấy một giờ tập trong buồng sưởi của một trường đại học trong vùng. Lucja nói cô ấy chưa từng thấy tôi quyết tâm và tập trung như thế bao giờ. Nhưng tôi vẫn phải tập luyện bởi tôi biết mình không còn lựa chọn nào khác. Tôi từng tham gia Giải Marathon des Sables hai lần, nhiệt độ nơi đó đôi khi còn chạm mốc hơn 54oC. Ấy thế mà tôi chưa bao giờ cảm thấy áp lực. Giải đua ở sa mạc Gobi lại khác. Người bước lên bục vinh quang phải là người chiến thắng cái nóng.
Ngày đua thứ năm bắt đầu lúc 7 giờ, sớm hơn mọi khi một tiếng. Đứng sau vạch xuất phát, tôi tranh thủ nhẩm lại chiến lược đua chẳng biết đã lần thứ mấy. Xuất phát nhanh, băng qua sa mạc với tốc độ ổn định và mạnh mẽ, sau đó tùy vào điều kiện nhiệt độ để tung cú hích và chạy nước rút về đích. Hiện tôi đang xếp vị trí thứ ba chung cuộc. Nhưng chênh lệch thành tích không đáng kể. Vị trí thứ tư chỉ kém vị trí thứ nhất có hai mươi phút thôi. Tôi cần một ngày đua khả quan. Tôi không thể phạm sai lầm nào.
Đầu ngày, tôi chạy tự do. Tôi chạy đằng trước, thỉnh thoảng dẫn đầu đoàn đua, sau đó chủ động tụt lại để vận động viên khác chịu trách nhiệm dẫn đoàn trong chốc lát. Một lần, do quá tập trung vào bước chân nên có một quãng tôi để lạc mất các dấu mốc. Tôi dẫn đoàn đua chạy sai đường một lúc tới tận khi có người gọi chúng tôi quay lại. Chúng tôi giữ vững đội hình, chạy ngược trở về nơi vận động viên khác đang chờ để khôi phục đúng thứ hạng vốn có. Mọi người không cần phải cố chơi ăn gian làm gì. Bởi đường đua và sức nóng đã quá đủ thách thức rồi.
Cả địa hình cũng khôngủng hộ chúng tôi. Sáu dặm đầu là những bụi cỏ lạc đà dày đặc thỉnh thoảng xen lẫn mấy đoạn đường nhựa gập ghềnh. Sau đó, chúng tôi tiến vào bãi cát đen trên sa mạc Gobi. Vẫn còn sớm nhưng tưởng như trời nóng hơn 38 độ rồi vậy. Rõ ràng là cái nóng sẽ khắc nghiệt lắm đây.
Tôi cố chạy thật thư giãn. Thêm một đôi vượt qua tôi, nhưng tôi không để tâm. Tôi phải tuân theo đúng chiến lược đua. Chỉ vài giờ nữa thôi, khi ánh nắng mặt trời bắt đầu thiêu đốt, tôi có thể vượt bất cứ ai đã kiệt sức do tăng tốc ở đoạn giữa chặng đua.
Tâm trí tôi thơ thẩn nghĩ về Gobi, tự hỏi cô nhóc đang làm gì khi tôi chạy nhỉ. Để tránh nhàm chán, tôi cũng tranh thủ ngắm nhìn cảnh vật xung quanh nữa, tự nhủ rằng mình sẽ không có cơ hội chiêm ngưỡng nó lần thứ hai trong đời đâu. Chúng tôi vừa tiến vào bãi cát đen, mọi dấu hiệu của sự sống đều biến mất. Mấy hôm trước, ngày nào chúng tôi cũng bắt gặp những thôn làng hẻo lánh. Khi thì chúng tôi chạy qua những dãy nhà cấp bốn, người dân ai nấy đều tò mò, ló đầu ra xem. Khi thì chạy qua lòng sông khô cạn rộng như sân bóng , mọi người đều dừng lại ngắm nghía. Khi thì băng qua vùng đồng bằng đất đỏ bát ngát. Nhưng càng tiến sâu vào Sa mạc Gobi, dấu hiệu của sự sống con người cũng mất dần. Không ai có thể sinh sống ở địa hình khắc nghiệt thế này.
Đến chốt kiểm soát thứ tư, tôi dừng lại lấy nước như mọi khi, lấy một viên muối và hỏi nhiệt độ.
“46 độ rồi,” nhân viên y tế trả lời. “Nhưng sẽ tăng lên 49 độ sớm thôi. Anh có muốn một lon không ?” Cậu ta đưa tôi một lon Pepsi nóng bỏng. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng ban tổ chức chu cấp cho chúng tôi thứ khác ngoài nước lọc. Mặc dù cảm thấy như thứ nước ngọt này đang thiêu đốt cổ họng , nhưng tôi vẫn nuốt xuống.
“Cám ơn,” tôi nói. “Anh có thêm gì để chống mất nước không ?” Tôi đã có mấy viên muối. Hãy còn một nửa chặng đường đang chờ nên tôi phải đảm bảo có đủ muối để dùng đến khi về đích. Cậu ta lấy một chai nước của tôi, pha thêm muối và đường.
“Anh vẫn ổn chứ?” Cậu ta vừa hỏi vừa tiến lại gần nhìn tôi khi trả tôi cái chai.
“Tôi ổn. Phòng trừ thôi.”
Trước khi rời chốt kiểm soát, tôi nhân tiện xem thử các vận động viên khác dẫn trước tôi bao lâu. Có Tommy, Zeng và Julian. Họ mới lên đường 15 phút trước. Tôi lấy làm kinh ngạc vì họ không xa như tôi tưởng. Vì vậy, tôi quyết định tăng tốc một chút. Dù gì, tôi đã đủ nước và thêm 150 calo từ Pepsi cơ mà. Trời thì đã nóng hơn. Tôi đã sẵn sàng vượt. Nếu đủ sức, qua một hoặc hai chốt kiểm soát nữa, tôi có thể bắt kịp họ.
Đến chốt kiểm soát thứ năm, tôi đuổi kịp Julian. Trông cậu ta không ổn lắm nhưng có vẻ vẫn kiên trì được. Điều tôi quan tâm hơn cả là Tommy và Zeng chỉ mới rời đi vài phút trước khi tôi đến. Tôi nhanh chóng lục ba lô và lấy vũ khí bí mật ra, thứ tôi giữ kín từ đầu giải đua tới giờ. Chiếc iPod nhỏ của tôi.
Tôi kẹp nó lên áo, đeo tai nghe vào và bật nhạc lên khi trở lại đường đua. Thời lượng pin của iPod chỉ được vài giờ nên tôi không bao giờ dùng nó vào các buổi chiều dài đằng đẵng ở trong lều hay ở các chặng khác. Tôi muốn giữ nó đến lúc tôi cần động lực nhất. Chính là lúc này đây.
Tôi đã soạn hẳn một danh mục nghe nhạc trước vài tháng liền. Danh mục này gồm một số bài hát bất hủ, vài bài thánh ca cổ vũ tôi tiến lên phía trước. Nhưng chất xúc tác thật sự là Johnny Cash. Giọng nam trung truyền cảm cùng lời bài hát viết về những kẻ ngoài lề và loại người mà người ta luôn khinh thị truyền vào tai giúp tôi nâng cao tinh thần. Anh ấy hát cho tôi nghe, bảo tôi cố gắng hơn, chạy nhanh hơn. Tôi phải chứng minh cho những người nghi ngờ năng lực của tôi thấy rằng họ đã sai.
Tôi trông thấy Tommy ở chốt kiểm soát thứ bảy. Cậu ta không xong rồi. Tommy ngồi sụp xuống ghế, hai ba tình nguyện viên đang cố gắng hạ nhiệt cho cậu ta trong vô vọng , hết phun nước lại quạt cho cậu ta bằng mấy cái bảng tạm. Cậu ta nhìn tôi. Giờ thì tôi dám nói mình đã vượt cậu ta.
Tôi quay đi, để lại không gian riêng tư cho cậu ta, rót đầy nước vào chai và thả một viên muối khác vào chai nước. Zeng vừa mới rời chốt kiểm soát, dẫn trước cậu ta là một gã chúng tôi hay gọi là Brett, vận động viên người New Zealand đua xuất sắc hôm nay, và một nữ vận động viên người Mỹ tên là Jax. Tôi biết tôi có thể giành chiến thắng trong chặng này, nhưng không cần thiết phải làm thế. Tôi không quan tâm Brett hay Jax về đích trước bởi thành tích chung cuộc của cả hai người họ đều kém tôi mấy giờ liền.
Nhiệm vụ quan trọng nhất hiện giờ là phải vượt Zeng. Cậu ta đang dẫn trước tôi 5 phút. Nếu vượt được Zeng , thành tích dẫn trước 20 phút chung cuộc sẽ được bảo toàn. Đến lúc đó, chỉ bằng 6 dặm đua trong ngày cuối cùng , không ai có thể soán ngôi quán quân chung cuộc của tôi. Huy chương sẽ là của tôi. Còn hai chốt kiểm soát nữa, tương đương với 10 hay 12 dặm gì đó. Chỉ cần tiếp tục duy trì phong độ, tôi sẽ làm được.
Tôi vừa giội một ít nước lên đầu, vừa dỏng tai nghe bác sĩ đang dặn dò Tommy.
“Người cậu nóng quá Tommy. Cậu nên đi cùng với Dion, đừng đi một mình, được chứ?”
Tôi đùa nghịch với cái tai nghe và vờ như không nghe thấy gì cả. Tôi không muốn bỏ rơi một anh chàng bị mắc cạn, nhưng tôi phải chiến thắng trong cuộc đua này. Vì vậy, nếu cậu ta không theo kịp, tôi sẽ không đèo bòng cậu ta.
Khi tôi đang kiểm tra lại dây đai ba lô và chuẩn bị di chuyển, Tommy vịn ghế đứng dậy và đứng bên cạnh tôi.
“Cậu chắc là cậu ổn chứ, Tommy?”
“Ừ,” cậu ta đáp, giọng khàn và yếu nhợt. “Tôi sẽ cố. Trời nóng quá.”
Chúng tôi cùng nhau trở lại đường đua. Tôi mới nghỉ trong mái che ở chốt kiểm soát vài phút thôi, mà ngoài trời đã nóng thêm vài độ rồi. Tưởng như đang chạy trong một cái tủ sấy vậy. Ánh nắng mặt trời sắc bén như kim châm vào từng thớ thịt trên tay tôi. Tôi thích thế. Không gì có thể xóa tan nụ cười trên gương mặt tôi lúc này. Tôi tự hỏi liệu có nên thoa thêm một lớp kem chống nắng nữa không.
Không có gió, không có bóng râm. Thứ gì cũng nóng ran - không khí, đá, thậm chí cả viền nhựa và khóa kéo bằng kim loại trên ba lô của tôi. Mọi thứ đều bị mặt trời nung nóng.
Nhưng tôi biết tôi cần phải bắt kịp Zeng. Tôi không rõ cậu ta mạnh đến mức nào hay cậu ta có kiệt sức hay không , nhưng trong hoàn cảnh này, tôi thấy mình vẫn còn dư sức. Đây là cơ hội của tôi. Tôi phải nắm lấy nó.
Chúng tôi mới rời khỏi trạm kiểm soát mấy chục mét. Nghe chừng Tommy mệt lắm rồi. Có điều, là một vận động viên ngoan cường , cậu ta sẽ không từ bỏ giữa chừng đâu.
Chúng tôi đang chạy trên con đường trải sỏi thẳng tắp. Ở đoạn này, cứ 15 mét sẽ có một dấu mốc màu hồng. “Cố lên, Tommy,” Tôi nói, gắng kích cậu ta tăng tốc. “Chạy theo mấy lá cờ kìa.”
Chạy bộ qua một dấu mốc, chúng tôi đi bộ đến dấu mốc tiếp theo rồi chạy tiếp. Cứ như thế được 800 mét, chúng tôi tiến vào một khu bốn bề là cát. Xung quanh chúng tôi chỉ có hốc núi đá hình thành từ đụn cát, và những bức tường bụi cao tới 6 mét, kéo dài ngút tầm mắt. Giống như bề mặt sao Hoả vậy. Thật vậy, tôi dám cá trong này còn yếm khí và nóng hơn cả Sao Hoả ấy chứ.
Tommy không còn đồng hành cùng tôi nữa. Tôi biết thể nào cậu ta cũng sẽ bỏ cuộc. Đây rồi, tôi nghĩ. Đến lúc tăng tốc rồi.
Tôi chạy qua bốn năm lá cờ, thở đều và dậm từng bước chắc chắn. Chạy tự do mới tuyệt làm sao. Càng tuyệt vời hơn là càng chạy tôi càng thu hẹp khoảng cách với anh bạn dẫn trước. Thế nhưng , có gì đó cứ làm tôi day dứt mãi không thôi. Tôi không thể ngừng nghĩ về Tommy. Cậu ta ổn chứ? Cậu ta có đang chạy theo tôi không ? Liệu cậu ta có tự vượt qua được?
Tôi chạy chậm dần.
Rồi dừng hẳn.
Tôi quay lại nhìn thử.
Tommy đang xiêu xiêu vẹo vẹo như một kẻ say rượu. Hai tay cậu ta thõng xuống , cậu ta bị mất thăng bằng rồi. Trông cậu ta như đang gặp động đất, mỗi bước đi như một cuộc chiến chống lại lực lượng vô hình nào đó. Tôi nhìn cậu ta, trông mong cậu ta lấy lại sức và bắt đầu chạy về phía tôi.
Thôi nào, Tommy. Đừng bắt tôi phải cứu cậu lúc này chứ.
Đúng là ước muốn viển vông. Ngay tức khắc, tôi tức tốc chạy lại chỗ cậu ta đang đu đưa, loạng choạng , cách tôi tầm 90 mét.
“Tommy, cậu thế nào rồi?”
“Nóng quá.” Cậu ta nói líu nhíu. Tôi phải chộp lấy cậu ta để cậu ta không bị ngã. Lúc này là khoảng hơn một giờ chiều, mặt trời đang chiếu thẳng vào chúng tôi. Tôi biết, trời sẽ còn nóng nữa. Tôi nhìn quanh kiếm chỗ bóng râm, nhưng chẳng có gì ngoài núi đá vân sóng chạy dài một bên.
Tôi nhìn đồng hồ. Chúng tôi cách chốt kiểm soát trước đó hơn 1 dặm và cách chốt kiểm soát tiếp theo 3 dặm. Tôi định bụng bảo cậu ta quay lại, nhưng với tình trạng này thì cậu ta đi đâu được chứ. Tất cả tùy thuộc vào tôi.
Nên quay lại hay đi tiếp đây? Tôi do dự.
Tommy lóng ngóng lấy chai nước. Một chai đã rỗng không. Rồi chỉ tu vài ngụm, cậu ta đã uống cạn nốt chai kia. Chúng tôi ước chừng mới rời chốt kiểm soát được hai mươi, ba mươi phút. Khi bắt đầu di chuyển, chắc hẳn Tommy đã lấy đầy nước vào chai rồi. Nghĩa là cậu ta đã uống hết sạch hai lít nước.
“Tôi buồn tiểu.” Cậu ta vừa lẩm bẩm vừa tụt quần xuống. Nước tiểu cậu ta có màu như mật mía.
Tommy ngã ngồi trên cát, đúng chỗ mặt trời chiếu thẳng vào. “Ngồi,” Cậu ta nói tiếp. “ Tôi cần phải ngồi. Anh đợi được không ?”
“Không được ngồi ở đây, Tommy. Cậu phải vào chỗ râm.” Tôi nhìn xung quanh lại lần nữa xem có bỏ sót chỗ nào không , nhưng chẳng có gì có thể che chắn cho cậu ta cả. Cũng không có vận động viên nào khác ngoài hai chúng tôi.
Tôi nhìn phía trước. Hình như tôi trông thấy một đường bóng râm bên một tảng đá cách khoảng một dặm. Trông có vẻ đủ lớn để che chắn cho Tommy. Đây là hi vọng khả thi của chúng tôi lúc này.
Chạy tới đó mất tầm hai mươi phút. Tôi luồn tay xuống dưới cát để nâng Tommy dậy, đeo ba lô của cậu ta và cho cậu ta uống nước. Tôi gắng dụ cậu ta nói chuyện, nhưng không biết nói gì ngoài: “Cố lên, anh bạn. Chúng ta gần đến nơi rồi”. Cậu ta gần như chẳng đáp lại lời nào.
Có thể thấy tình trạng của cậu ta nghiêm trọng lắm rồi.
Cậu ta bị chóng mặt, mất phương hướng và toát mồ hôi hột. Đây rõ ràng là một ca kiệt sức do nhiệt. Và tôi phải tìm cách hạ nhiệt cho cậu ta càng nhanh càng tốt, nếu không cậu ta sẽ bị sốc nhiệt. Và chỉ khoảng ba mươi phút sau khi bị sốc nhiệt, cậu ta sẽ có nguy cơ rơi vào hôn mê. Sau đó, người ta sẽ cần phải tiến hành chăm sóc y tế đặc biệt cho cậu ta để duy trì sự sống.
Đến nơi, tôi đặt cậu ta dựa vào tảng đá cát kết, trong bóng râm nhỏ hình chữ nhật. Tôi cởi áo cậu ta ra, hi vọng hạ nhiệt phần nào. Nhưng cởi áo ra, tôi kinh hãi khi thấy da cậu ta trắng bệch. Trông cậu ta như sắp lìa đời đến nơi rồi.
Tommy nửa ngả người xuống và đi tiểu lần nữa. Nước tiểu cậu ta có màu sậm hơn vừa nãy.
Mình phải làm gì đây? Tôi hốt hoảng , và phải cố lắm mới kiểm soát được cảm xúc lúc này. Tôi tính giờ chắc chúng tôi đã đi được nửa chặng rồi. Tôi chạy lên một ngọn đồi nhỏ để xem có ai sống quanh đây không nhưng không có một mống nào cả.
“Tommy, nghe này,” Tôi ngồi xổm xuống ngang tầm mắt cậu ta và nói. “Cậu cần được giúp đỡ. Tôi sẽ nhanh chóng chạy đến chốt kiểm soát tiếp theo và nhờ họ quay lại đón cậu, được chứ?”
“Tôi không chạy nổi nữa,” cậu ta nói.
“Tôi biết. Cậu đừng làm gì cả. Cứ ngồi yên đây và chờ họ đến đón. Đừng đi đâu nhé.”
Tôi cho cậu ta uống chút nước cuối cùng còn sót lại trong chai của tôi, xem xem chân cậu ta có ở trong bóng râm không rồi chạy.
Những con số ngập tràn trong đầu tôi. Tôi nhẩm đếm có lẽ mình đã mất 45 phút. Tôi đã nhường hết 1,2 lít nước cuối cùng cho Tommy và phải chạy 3 dặm nữa để tiếp nước. Nhiệt độ bây giờ là gần 49 độ và giờ tới sẽ còn tăng lên. Nếu lúc nãy tôi không quay lại kịp thời, rất có thể Tommy đã bị sốc nhiệt 30 phút. Nếu tôi không quay lại, rất có thể cậu ta đã rơi vào hôn mê.
Vừa chạy, tôi vừa chú ý dõi theo các dấu mốc vừa để ý xem có chiếc xe nào hay ai đó ở đằng xa có thể giúp đỡ hay không. Vẫn không có gì cả.
Sau khi tính toán, tôi bắt đầu đặt câu hỏi. Tại sao lúc đầu tôi lại nhìn lại? Linh tính mách bảo tôi chăng ? Phải chăng đã có ai hay gì đó chỉ cho tôi cứu Tommy? Chạy tiếp liệu có phải quyết định đúng đắn? Có khi nào Tommy sẽ được cứu chữa nhanh hơn nếu tôi quay lại?
Để tiết kiệm thời gian, tôi quyết định nhảy cóc. Tôi lạc mất các dấu mốc mất một lúc và bắt đầu sợ hãi. Tôi đang bị mắc kẹt dưới một rãnh cát. Tim tôi đập liên hồi. Tôi sợ hãi, lần đầu tiên từ khi cuộc đua bắt đầu, tôi biết sợ. Có phải tôi sai lầm rồi không ?
Tôi nhảy qua gò, và thấy mình đã trở lại đúng đường. Đằng kia, tôi thấy chốt kiểm soát rồi, một dặm nữa. Nó mờ mờ như ảo ảnh, và dù tôi có cố gắng chạy nhanh thế nào thì trông nó vẫn chẳng gần hơn là bao.
Chạy được nửa dặm, một chiếc xe của ban tổ chức đến gần. Tôi vẫy chiếc xe và báo với họ về tình trạng của Tommy và tìm cậu ta ở đâu.
“Các anh phải nhanh lên,” tôi nói. “Cậu ta thật sự không ổn. Tôi cũng hết nước rồi. Anh còn nước không ?”
Họ còn một ít nước, vừa đủ cho tôi đến chốt kiểm soát. Ngay khi đến đó, tôi ngồi xuống và vội vàng khai báo tình trạng của Tommy lần nữa. Tôi uống nhiều nước và thuật lại các triệu chứng của tôi. Chạy trong tình trạng thiếu nước và áp lực ở mức báo động , tôi đã kiệt sức. Tôi thấy buồn nôn và yếu nhợt. Ít nhất tôi vẫn nhận thức được các triệu chứng của mình. Có nghĩa là tôi vẫn tỉnh táo. Tôi vẫn chưa bị kiệt sức do nhiệt.
Tôi hỏi thăm về Zeng và cứ ngỡ như mình nghe nhầm. Cậu ta mới dẫn trước hai mươi phút. Hai mươi phút thôi ư? Nghĩa là thành tích chung cuộc của tôi và cậu ta đang bằng nhau. Lợi thế dẫn trước hai mươi phút của tôi đã không còn nhưng tôi vẫn còn cơ hội.
Vừa chạy, tôi vừa không khỏi nghĩ đến cái chết. Hình như chúng tôi đã ở gần nơi một vận động viên khác tử vong vì sốc nhiệt vào năm 2010. Rồi tôi nghĩ về Tommy. Tôi thấy buồn vì nghĩ rất có thể cậu ta đã hôn mê rồi. Hi vọng là chưa. Hi vọng tôi đã kịp cứu cậu ta. Bỗng , tôi chợt thấy lúc trước mình thật ngớ ngẩn khi giận dỗi chuyện cậu ta nhảy cóc chỉ để dẫn trước 5 phút ở đường đá.
Rời khỏi chốt kiểm soát được nửa dặm, tôi bắt đầu thấy ngực mình là lạ. Như thể tim bơm không đủ máu, như thể có cả một dải băng quấn chặt quanh phổi tôi. Cứ uống nước, phổi tôi lại như sôi lên. Tôi chạy chậm dần. Tôi thấy mệt, người nặng trịch, chân nam đá chân chiêu và suýt vấp ngã như người ngủ gật.
Nhưng tôi chỉ lo vụ mình bị đánh trống ngực. Trước đây, tôi từng bị thế hai, ba lần. Mỗi lần như thế, ngực tôi như nổ tung, mồ hôi túa ra, cơ thể mệt mỏi và nhợt nhạt. Các bác sĩ chẩn đoán nguyên nhân của bệnh là do tôi uống quá nhiều cà phê, nên từ đó tôi cai hẳn caffeine trong quá trình tập luyện chuẩn bị cho một cuộc đua. Nhưng những ký ức về căn bệnh đó vẫn quanh quẩn trong tâm trí tôi. Giờ thì, dưới cái nóng của sa mạc Gobi, tôi lại cảm thấy các triệu chứng đồng loạt xuất hiện. Và nếu lần này tim tôi lại xuất hiện triệu chứng như vậy, thì rõ ràng không phải do cà phê. Nếu tôi bị đánh trống ngực ngoài này, thì không xong rồi.
Một chiếc xe của ban tổ chức đỗ đằng trước tôi. Tôi biết, đây là xe hỗ trợ y tế khẩn cấp. Chắc họ nghĩ tôi cần giúp đỡ khi trông thấy tôi bước loạng choạng thế này. Khi tôi nghe thấy tiếng động cơ tiến đến gần, các tình nguyện viên nhảy xuống xe.
“Anh ổn chứ? Có cần uống nước không ?”
“Cho tôi lên xe,” tôi đáp. “Tôi thấy không khỏe.”
Tôi không biết đề nghị này có đúng luật hay không , nhưng tôi cóc quan tâm. Tôi cần hạ nhiệt ngay lập tức.
Tôi giật mạnh cửa sau, tung mình và ba lô xuống ghế sau. Điều hoà đang hoạt động hết công suất, giống như bước vào một cái tủ lạnh vậy. Tuyệt quá. Tôi nhắm mắt và để khí lạnh vờn khắp cơ thể.
Khi mở mắt ra, tôi hết nháy lại dụi mắt. Tôi không đọc nhầm đấy chứ? “Nó đang chỉ 55,5 độ hả?” Tôi hỏi.
“Phải,” anh bạn ngồi sau vô lăng đáp. Cậu ta và một tình nguyện viên khác không nói gì cả, nhưng tôi thấy cậu ta nhìn tôi đăm đăm qua gương chiếu hậu.
“Tôi uống nước này được chứ?” Tôi vừa hỏi, vừa chỉ vào một chai nước có một viên đá hình trụ bên trong. Tôi thề rằng đây là thức uống đã nhất trong đời tôi.
Tôi lấy một bịch gel tăng lực ra. Cầm bịch gel trong tình trạng sức khỏe thế này không dễ chút nào, đến nỗi tôi làm rớt một chút gel dinh dính xuống cằm, ngực và ghế xe. Những tưởng mười phút sau, gel tăng lực sẽ ngấm và phát huy tác dụng. Nhưng qua thời gian, tôi càng cảm thấy tệ hơn.
Đầu tôi lâng lâng , gần như không thể nhìn tập trung vào một điểm quá vài giây. Càng thở, ngực như có dải băng thít lại càng chặt. Thậm chí, tôi có thể nghe thấy tiếng phì phò của phổi nữa.
“Thôi mà,” tôi tự nhủ, lúc đó đáng lẽ gel tăng lực đã phải có tác dụng từ lâu. Tôi dồn sức lấy ba lô và di chuyển, ra lệnh cho bản thân phải xuống xe và chạy tiếp, nhưng không thể. Khí lạnh chẳng mấy tác dụng như tôi mong muốn. Nghĩ phải mở cửa và bước vào cái nóng lần nữa khiến tôi sợ hãi. Ngay cả khi tôi có thể kiểm soát cơ thể và tự lết xuống xe, thì liệu tôi có thể kiên trì đến chốt kiểm soát tiếp theo nổi không, chứ chưa nói gì đến về đích?
Đúng lúc đó, ngực tôi như muốn nổ tung. Tim đập đồn dập, tôi thở hổn hển, tuyệt vọng hít lấy hít để một chút không khí.
Tôi ngước lên và bắt gặp cái nhìn của cậu tài xế qua gương. Tôi thấy sự sợ hãi trong mắt cậu. Sợ hãi và hoảng loạn.
Cái nhìn ấy khiến tôi như nổ tung lần thứ hai. Chỉ là lần này, không phải trái tim đập dồn đập nữa, mà là tâm trí. Lần đầu tiên trong đời, tôi lo cho an nguy của mình đến thế. Cũng là lần đầu tiên, tôi tự hỏi phải chăng mình sắp chết.
9
TIẾN LÊN! DION, CHẠY ĐI NÀO, DION!
Không có tác dụng. Dù tôi nhắm chặt mắt hay nghiến chặt răng đến mức nào, thì tôi vẫn không thể nhúc nhích. Tất cả nỗ lực của tôi lúc này là tập trung hít không khí lạnh, những mong thay đổi cái gì đó.
Mấy phút trôi qua. Tôi thử một bịch gel tăng lực khác. Tôi thử duỗi người để giảm bớt áp lực lên ngực. Tôi thử nhớ lại chiến lược đua. Tất cả đều vô dụng.
Tôi băn khoăn không biết Tommy thế nào rồi. Hi vọng chiếc xe đã kịp thời tìm thấy cậu ta và các tình nguyện viên có thể trợ giúp khi cậu ta cần. Tôi đoán chắc là cậu ta đã dừng chân tại đây.
Tôi ló mặt trông ra ngoài xe một lúc lâu, ấy thế mà không thấy bất kì vận động viên nào cả. Tôi nhẩm xem mình cần bao lâu để bắt kịp Zeng.
“Trông Zeng thế nào khi đến đây?”
“Không ổn. Anh ta vật vã lắm và chỉ đi bộ được thôi.”
Đó là tất cả những gì tôi muốn nghe. Tôi đã tốn mười lăm phút trong xe, tức là giờ tôi phải bù ba mươi lăm phút. Nếu cậu ta vẫn chưa hồi phục, tôi sẽ có cơ hội chiến thắng. Nếu chiến thắng chặng này, tôi sẽ dẫn đầu bảng thành tích chung cuộc.
Tôi lo lắng không thôi khi bước xuống xe nhưng là lo làm sao để bù đắp thời gian đã lãng phí. Cái nóng lan tràn khắp cơ thể, tôi phải mất một lúc mới bình tâm lại và ổn định bước chạy. Cuối cùng thì tôi có thể chạy tiếp rồi. Không nhanh nhưng ổn định.
Tuy vậy, tôi không duy trì tốc độ này được lâu. Tôi chỉ đủ sức chạy mấy chục mét, sau đó đi bộ. Ít nhất thì tim tôi đã đập chậm lại và tâm trí tôi dần tỉnh táo trở lại. Tôi chạy theo cờ hiệu đánh dấu các dặm đường còn lại, cắm đầu cắm cổ chạy, không nhìn gì khác ngoài những dấu mốc màu hồng đằng trước và không nghĩ gì khác ngoài việc tiến bước.
Sau cùng , tôi đã có mặt trước vách đá cao do gió bào mòn mà thành. Tôi trèo lên rồi chạy dọc trên đỉnh một cồn cát, nhìn vạch đích phía trước không rời mắt.
Giống như ngày hôm trước, Gobi đang chờ tôi trong bóng râm. Sáu mươi mét cuối cùng , cô nhóc chạy ra đón tôi. Chúng tôi cùng nhau về đích. Ngay sau đó, Gobi chạy tót trở lại bóng râm, thở hổn hển rồi thụp xuống thành một đống.
“Có tin gì về Tommy không?” Tôi hỏi một tình nguyện viên.
Cậu ta nhướn lông mày, đáp, “Tin tốt.” “Họ đã giúp anh ấy hạ nhiệt. Sau đó anh ấy bắt đầu đi bộ về đích. Filippo đang ở cùng ảnh. Họ đều ổn cả.”
Tôi biết cậu ta, Filippo Rossi, vận động viên người Thuỵ Sĩ đã có một ngày đua đáng ngợi khen. Tôi vừa vui mừng vừa nhẹ nhõm khi nghe nói cậu ta và Tommy đang ở cùng một chỗ.
Hai vận động viên về đích khác - Brett và Zeng - đã về lều được một lúc rồi. Tôi vẫn chậm hơn Zeng bốn mươi phút. Vậy là quán quân đã được ấn định. Chúng tôi chỉ còn một chặng ngắn nữa. Vài dặm hoàn toàn không đủ cho tôi bứt phá.
Khi Tommy về đích cùng Filippo, cả trại náo nhiệt hẳn lên. Đến lúc đó thì mọi người đều đã biết chuyện xảy ra, sự hồi phục và kiên cường đáng kinh ngạc của Tommy xứng đáng được ca ngợi. Hình như không ai biết gì về chuyện tôi là người giúp cậu ta lúc đầu, nhưng không sao cả. Bởi cái ôm của Tommy ngay khi nhìn thấy tôi có ý nghĩa hơn tất thảy. Cậu ta khóc, còn tôi hai mắt rưng rưng. Giữa chúng tôi không cần nói gì thêm nữa.
Tôi chờ trong lều như mọi buổi chiều khác, ngủ lúc được lúc chăng với cô nhóc Gobi cuộn tròn bên cạnh. Mong rằng không ai trong số những vận động viên vẫn còn đang gồng mình chống chọi ngoài đường đua kia gặp tình trạng nghiêm trọng như Tommy. Tôi băn khoăn không biết Richard, Mike, Allen và mấy cậu Ma Cao thế nào rồi. Dù lúc mới đầu không vui vẻ gì cho lắm, nhưng tôi vẫn thích mấy cậu Ma Cao đó lắm. Họ thực sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tối nào họ cũng mát xa cho nhau nữa. Họ đều là người tốt, và theo một mặt nào đó, tôi cũng sẽ nhớ họ lắm đây.
Tôi chợt nghĩ, mình có thể đã chiến thắng nếu không dừng lại giúp Tommy. Nhưng cái giá phải trả để đứng cao hơn trên bục vinh quang này không đáng chút nào. Kể cả đây có là chức vô địch đa chặng đầu tiên của tôi và trở thành động lực khổng lồ cho tương lai của tôi đi chăng nữa thì cũng không đáng. Thật vậy, tôi phải đánh đổi chức vô địch khi dừng lại giúp Tommy, nhưng được thế này là tôi thấy thỏa mãn lắm rồi. Nếu không có gì thay đổi trong chặng chót dài 6 dặm, thì vị trí á quân của tôi sẽ được bảo toàn. Tôi chưa định ăn mừng quá sớm, nhưng vừa lòng với kết quả này. Bởi tôi đã chứng minh cho bản thân thấy sự nghiệp chạy của mình vẫn còn có triển vọng.
Richard, Mike và Allen về đến nơi khi màn đêm buông xuống. Họ đã phơi mình ngoài nắng cả ngày nay và nếm không ít khổ. Về đích trong dáng vẻ của những con zombie, họ nằm la liệt trong lều, mặt ai nấy nửa đỏ bừng do cháy nắng , nửa tái nhợt vì kiệt sức. Mọi chuyện đã qua, và đây là buổi tối cuối cùng chúng tôi ở cùng nhau. Không khí trong lều khác hẳn mọi khi. Mọi người đều nhẹ nhõm và thoải mái vì cuộc đua sắp đến hồi kết.
Tôi choàng tỉnh khi nghe tiếng lều sập. Ba cậu Ma Cao không thấy tăm hơi đâu, còn Mike thì đang gọi chúng tôi dậy. Tôi bế Gobi lên và bò ra ngoài. Một cơn gió từ đâu ùa đến, cuốn theo cả cát. Gió tạt mạnh. Cả tôi, Gobi và những người khác ngồi đè lên lều để nó khỏi bay, trong lúc Richard đi kiếm người giúp.
Trong màn đêm, có tiếng rè rè từ máy vô tuyến, có tiếng gió thổi sột soạt ngoài lều và giọng nói tiếng Hán qua lại. Dưới ánh sáng của hàng tá chiếc đèn pha, tôi thấy các tình nguyện viên chạy quanh khu cắm trại và cố gắng dựng lều lên trong vô vọng. Gió quật từng đợt và bão cát nổi lên. Trong vòng bán kính tám mươi, chín mươi mét, hoàn toàn không trông thấy gì cả. Nghe nói, những vận động viên về đích cuối cùng đang tập trung ở chốt kiểm soát và sắp lên xe về trại.
Sau một giờ đợi người đến và giúp dựng lại lều, tôi gọi Gobi và quyết định đi tìm một người phụ nữ tên là Nurali. Người ta giới thiệu cô ta cho tôi lúc đến điểm hạ trại đầu tiên. Gió nổi lên, trông cô ta hét chỉ huy đội của mình, tôi càng bực dọc hơn.
“Cô có thể điều vài người ra dựng lều cho chúng tôi không ?” tôi mở lời.
“Được chứ, nhưng chúng tôi phải dựng xong mấy lều này đã.”
“Tôi hiểu, nhưng chúng tôi đã yêu cầu cách đây một giờ rồi, nhưng không ai đến cả.”
“Đấy không phải việc của tôi,” cô ta gào lên.
Tôi biết cô ta phải chịu nhiều áp lực, và hoàn toàn thông cảm việc cô phải vật lộn trong gió bão thế này, nhưng cô ta định qua loa đại khái với tôi thì phải. “Không , chúng tôi đã trả 3.700 đô la để có mặt ở đây. Vì vậy đây là việc của cô.” Tôi khẳng định.
Cô ta lầu bầu gì đó mà tôi không hiểu rồi quay người bước đi. Gió nổi lên, mọi người chạy loạn vì sợ hãi. Gió ở đây tương tự những cơn gió trên cao nguyên Scotland chúng tôi vậy, nên tôi không thấy lo lắng chút nào. Cát cũng không làm khó được tôi. Những lúc thế này, tôi chỉ cần bắt chước Gobi để hai tay ôm chặt lấy đầu để tránh gió, vậy là an toàn.
Sau nửa đêm, chúng tôi nghe nói cơn bão cát đang mạnh dần lên. Không ai dám ngủ. Kiệt sức sau quãng đường 50 dặm, tất cả chúng tôi đều cần nghỉ ngơi lấy lại sức. Vì vậy, ban tổ chức đã quyết định bỏ trại trong đêm. Chúng tôi cùng các vận động viên khác chen chúc sau những tảng đá lớn và chờ xe khách tới đón. Đứng giữa sa mạc, cát bụi bay hết vào miệng , tai và mắt dường như càng làm mọi người sợ hãi hơn. Nhưng tôi biết, đây chỉ là một phần nhỏ trong mớ cảm xúc tiêu cực mà chúng tôi phải chịu đựng những ngày qua. Bởi hơn cả bão cát, tất cả chúng tôi đã nếm trải 24 giờ khó nhọc hơn thế. Nhưng người ta vẫn hay rùng mình trước nỗi sợ chưa biết tên hơn là những nỗi sợ đã qua.
Khi bình minh ló rạng, một chiếc xe khách đón chúng tôi đến một tòa nhà thấp tè ở lối vào một công viên quốc gia cách hai mươi phút đi đường. Đó là một bảo tàng nhỏ lạ hoắc trưng bày những mẫu hóa thạch hàng triệu năm và tranh tầm sâu khắc họa cảnh vật đa dạng và chọn lọc ngẫu nhiên trong môi trường tự nhiên. Dĩ nhiên, Gobi tự nhiên như ở nhà vậy, nhất là trong khu rừng mưa toàn cây giả. Tôi không nhịn được cười khi thấy cô nhóc thỏa sức tung hoành dưới một gốc cây giả.
Chỉ trong vài phút ngắn ngủi, chúng tôi đã ngồi la liệt khắp nơi, biến viện bảo tàng thành một trại tị nạn cho 101 vận động viên bốc mùi và một cô chó không-hẳn-chó-nhà-cũng- chẳng-phải-chó-hoang. Ấy vậy mà các nhân viên trong viện bảo tàng không chút bận tâm, còn các quầy bán đồ uống và đồ ăn vặt ở đầu kia của viện bảo tàng thì được dịp buôn may bán đắt.
Hôm nay đã được xếp lịch nghỉ, kết quả của khoảng thời gian hỗn loạn vừa rồi. Và chúng tôi dành thời gian để ngủ, ăn đồ ăn vặt, uống Coca và buôn chuyện.
Chiều hôm ấy, thay vì cuộn mình trong túi ngủ hay đi dạo đây đó. Tôi ngồi chuyện trò với Richard, Mike, và Allen.
“Anh sẽ làm gì với cô nhóc này?”
Mike chỉ vào Gobi hỏi.
Một câu hỏi trúng tim đen. Tôi đã tự hỏi mình câu này trong suốt chặng đua dài. Hai ngày vừa qua là hai ngày khó khăn với tôi khi không có Gobi đồng hành. Không hiểu sao giữa tôi và cô nhóc đã hình thành sợi dây liên kết lạ thường . Tôi không muốn để cô nhóc tự sinh tự diệt ngoài kia nữa .
Bởi điều này có ý nghĩa hơn thế. Gobi đã chọn tôi. Tôi không biết tại sao nhưng cô nhóc đã thực sự chọn tôi. Ngoài kia có một trăm vận động viên khác, hàng chục tình nguyện viên và nhân viên cho cô nhóc chọn, nhưng từ lần đầu tiên nhìn thấy Gobi, cô nhóc đã gặm cái ghệt dưới chân tôi và chưa từng bỏ tôi lại.
Gobi còn là một tuyển thủ nhỏ cứng cỏi nữa. Trong chặng đua, cô nhóc đã hoàn thành 70 dặm đường với cái bụng rỗng suốt cả ngày, và tôi dám chắc rằng , nếu có cơ hội, cô nhóc sẽ còn làm được nhiều hơn thế. Rõ ràng là Gobi sợ nước nhưng nó vẫn bước lên và tin tôi sẽ giúp nó. Cô nhóc đã bỏ tất cả vốn liếng chỉ để theo kịp tôi. Vậy thì sao tôi có thể bỏ rơi cô nhóc sau khi cuộc đua kết thúc được chứ?
Nhưng làm sao đây, mỗi khi tôi đưa ra một lý do để giúp Gobi thì lại có một giọng nói khác phản bác ý kiến đó. Tôi không biết Gobi có mắc bệnh gì không , cô nhóc có chủ chưa, hay tôi phải làm gì để giúp cô nhóc đây. Sau cùng , đây là Trung Quốc. Giả dụ tôi nhờ các tình nguyện viên giúp tôi tìm một ngôi nhà cho một cô chó lạc không rõ nguồn gốc, thì chắc rằng sẽ không có mấy người xếp hàng nhận nuôi. Hơn nữa, nếu những lời đồn là thật, thì Gobi sẽ không bị làm thịt chứ?
Vì vậy, tôi không định tìm một ngôi nhà ở Trung Quốc cho cô nhóc định cư. Tôi không hỏi những người trong đoàn thích Gobi có muốn nuôi nó không , và cũng không đề cập chuyện nuôi Gobi với người bạn cùng lều.
Tôi không hỏi bởi vì tôi đã có một lựa chọn khác. Một kế hoạch hay ho hơn.
“Cậu biết không , Mike ? Tôi quyết định rồi. Tôi sẽ tìm cách đưa Gobi về nhà với tôi.”
Lần đầu tiên tôi nói ra những lời này. Đúng vậy, chính thế. Tôi không biết ý này có khả thi không , nhưng phải thử một phen.
“Tuyệt,” Mike nói. “Tôi sẽ giúp nếu anh cần.”
“Thật chứ?”
“Cả tôi nữa,” Richard xung phong.
Tôi kinh ngạc và cảm động nữa. Tôi đã kể đấy, tất cả những gì Gobi làm với những người bạn cùng lều của tôi là gầm gừ khi họ đi vào lều vào buổi tối, đánh thức họ vì chạy đuổi cừu và mặt dày xin ăn mỗi khi thấy họ nhấm nháp gì đó. Nhưng tôi sai rồi. Gobi còn truyền cảm hứng cho họ nữa, như cách cô nhóc truyền cảm hứng cho tôi.
Như Richard nói: “Chú chó cứng cỏi nào cũng đều xứng đáng có một kết thúc có hậu”.
Lúc chúng tôi xếp hàng sau vạch xuất phát vào ngày đua cuối cùng , bão cát đã qua. Tương tự như bao giải chạy siêu bền đa chặng khác, ngày cuối cùng bao giờ cũng là một chặng ngắn cự li 6 đến 10 dặm. Và cũng như các giải chạy đa chặng khác mà tôi từng tham gia, ý nghĩ cách vạch đích cuối cùng một, hai giờ đã thôi thúc các vận động viên phát huy tối đa tiềm năng của mình. Nếu hôm qua - ngày để các vận động viên nghỉ ngơi lấy lại sức, họ lượn lờ như zombie trong viện bảo tàng thì đến hôm nay - ngày đua cuối cùng , họ chạy ào ào như được đi chơi công viên vào sáng thứ Bảy vậy.
Gobi đang chạy bên cạnh tôi. Cô nhóc dường như cũng ý thức được hôm nay là một ngày đặc biệt. Cô nhóc không gặm dây ghệt trong lúc chạy nữa. Thay vào đó, bước chân nhóc ta hòa cùng một nhịp với bước chân tôi, chốc chốc lại ngước đôi mắt đen, to tròn lên nhìn tôi nữa.
Chúng tôi chạy dưới tiết trời mát mẻ, kèm theo mưa phùn. Còn tôi vui vì Gobi sẽ không bị nóng quá. Chặng cuối này quá ngắn nên họ không đặt chốt kiểm soát. Cứ hai dặm, tôi lại dừng lại một lần để cho Gobi uống nước. Gobi không bao giờ từ chối tôi, khiến tôi ngạc nhiên vì chỉ mới vài ngày, cô nhóc đã học cách tin tưởng tôi đến vậy.
Lúc ở viện bảo tàng , tôi đã dành chút thời gian nghiên cứu thứ hạng đua. Đúng như dự đoán, tôi không thể vượt qua Zeng và lần thoát nạn trong gang tấc của Tommy đã khiến cậu ta phải trả giá đắt. Cậu ta bại trước Brett, cậu bạn người New Zealand đã bứt phá và dành chiến thắng ở chặng đua dài. Tôi vẫn dẫn trước Brett hai mươi phút. Cứ đà này, vị trí thứ hai chung cuộc của tôi sẽ được bảo toàn.
Cả chặng đường tôi đều dẫn trước Brett, nhưng đến giữa chặng , lúc dừng lại cho Gobi uống nước trên chỏm đồi cát, tôi bắt gặp Brett ngay đằng sau. Cậu ta dừng lại chỗ tôi. Tôi lấy làm lạ, còn cậu ta chỉ nhún vai và cười.
“Quy tắc mà, không thể vượt anh khi anh đang cho nó uống nước được, đúng chứ?”
Tôi cười đáp. “Cám ơn.”
Tôi cho cái chai vào ngăn đựng trên quai ba lô, gật đầu chào Brett, và đua tiếp như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Chúng tôi cứ như vậy trên suốt phần còn lại của chặng đua. Chặng này, tôi về thứ năm, Brett về thứ sáu và giữa chúng tôi là Gobi. Trao huy chương và chụp ảnh chớp nhoáng xong , cả đoàn ăn mừng với bia, tiệc nướng ngoài trời, thịt nướng , bánh mì kẹp thịt và rau thơm to như chiếc pizza và nhiều món thơm ngon khác. Tôi nhai nhồm nhoàm thịt cừu trong miệng và để Gobi liếm mỡ ở ngón tay. Vây quanh là những cái ôm, tiếng cười - kiểu tiếng cười mà anh chỉ nghe thấy khi quanh anh là những người tốt - và tận hưởng khoảnh khắc mà nhiều năm sau anh vẫn nhớ mãi.
Tôi bắt đầu đua như tôi đã từng , bo bo giữ mình, tập trung hoàn toàn vào việc chạy và không quan tâm thứ gì khác. Tôi kết thúc cuộc đua như những cuộc đua khác, quây quần bên bè bạn.
Tuy vậy, cuộc đua băng qua sa mạc Gobi vẫn khác biệt. Có nốt thăng , có nốt trầm. Có vị mặn của mồ hôi, cũng có vị ngọt của phút giây thăng hoa. Ấy là trải nghiệm đã thay đổi cuộc đời tôi. Câu này chỉ đúng khi đổi lại, tôi phải làm mọi thứ có thể để thay đổi cuộc đời Gobi.