TẠM BIỆT LUCJA THẬT KHÓ KHĂN. TÔI CHỈ về nhà một tuần, rồi lại mua vé máy bay ngay phút chót trước khi đóng quầy và bắt đầu chuyến hành trình trở lại Trung Quốc lần thứ hai trong vỏn vẹn chưa đầy một tháng. Mấy năm nay, tôi thường xuyên đi công tác, nhưng chuyến này khác hẳn. Lần này, tôi đi những bốn tháng liền.
Tôi nghĩ kĩ rồi, đây là phương án vẹn cả đôi đường. Tôi phải quay lại Bắc Kinh, cùng Gobi chờ kết quả xét nghiệm bệnh dại. Sau đó, dự tính tôi sẽ ở lại Bắc Kinh ba tháng. Đưa Gobi vào cách li kiểm dịch ở Sân bay Heathrow trong bốn tháng hoàn toàn không phải sự lựa chọn sáng suốt. Tôi sẽ không bỏ cô nhóc lại một mình nữa. Nếu bị nhốt một trăm hai mươi ngày thì Gobi sẽ không còn là Gobi nữa.
Như Lucja, cấp trên hoàn toàn thông cảm và ủng hộ tôi. Còn nhớ, lúc vừa mới về Anh, tôi đã gọi điện bảo họ rằng mặc dù đã tìm thấy Gobi nhưng tôi vẫn rất lo. Sau khi nhắc đến những điều bí ẩn đằng sau vụ mất tích, tôi mới tỏ ý muốn trở lại Trung Quốc và ở bên cạnh Gobi trong suốt thời gian kiểm dịch. Tôi xin từ chức, nhưng họ không đồng ý. Thay vào đó, họ vội vã phê chuẩn cho tôi nghỉ phép sáu tháng. Vậy có nghĩa là tôi có thể rời Anh, yên tâm chăm lo cho Gobi mà vẫn có thể quay lại làm việc ngay sau khi mọi chuyện lắng xuống. Làm việc cho họ mười một năm nay, tôi chưa thấy ai được nghỉ phép dài như thế. Lòng tốt của họ khiến tôi kinh ngạc.
Người ta hay nói nuôi dạy một đứa trẻ nên người là trách nhiệm của cả cộng đồng. Còn tôi nói, cứu vớt một chú chó là sự góp sức của gần nửa hành tinh. Ít nhất, câu này đúng với Gobi. Vô số người đã giúp đỡ chúng tôi, từ hàng ngàn người ủng hộ tiền qua mạng đến đội tìm kiếm, những con người không biết mệt mỏi, rảo bước khắp các tuyến phố của Urumqi chỉ để tìm một chú chó. Cấp trên tạo điều kiện cho tôi nghỉ phép và những người đồng nghiệp đã bao dung tôi. Những gì tôi yêu cầu không đáng gì so với những gì Kiki cùng đội của cô ấy đã làm. Và Lucja - người luôn có cả một quân đoàn bạn bè quan tâm, săn sóc vây quanh - không ngần ngại cổ vũ những kế hoạch điên rồ của tôi. Nhờ có sự giúp đỡ của họ, tôi mới có thể bước tiếp.
Tôi đang mong ngóng được trở lại Bắc Kinh gặp Gobi. Tôi biết Kiki sẽ chăm sóc tốt cho cô nhóc, nhưng tâm trí tôi vẫn không ngừng tự nhủ chuyện gì cũng có thể xảy ra. Đôi khi, tôi cảm thấy như thể tất cả tin nhắn trên Facebook đều đang nhắc nhở tôi không được phép tin tưởng bất cứ ai và không được để Gobi rời khỏi tầm mắt.
Kiki đến sân bay đón tôi. Vừa leo lên ghế sau chiếc xe van, chào đón tôi là mưa hôn của Gobi. Nhóc ta trèo hẳn lên người tôi, vẫy đuôi với vận tốc một triệu dặm trên giờ. Màn chào đón nồng nhiệt hệt như cái đêm chúng tôi đoàn tụ ở nhà ông Mã. Gobi hớn hở làm chúng tôi cũng vui lây. Ngay sau đó, những giọt nước mắt và tiếng cười đùa vang khắp xe. Tận khi Gobi bình tĩnh lại, tôi mới có cơ hội mở lời.
Tôi ôm Gobi và nói, “Đây là nơi tao và mày bắt đầu cuộc sống mới đấy.” Cô nhóc nhìn tôi không chớp mắt. Đôi mắt to khóa chặt lấy ánh nhìn của tôi, giống như cách chúng tôi nhìn nhau suốt giải đua. Lý trí mách bảo tôi rằng Gobi không thể hiểu tôi đang nói gì, trong khi con tim tôi thì không tán đồng. Nhóc ta hiểu hết đấy. Tôi tin Gobi muốn chứng minh cho tôi thấy dù điều gì đang chờ đón chúng tôi trong chặng tiếp theo của chuyến phiêu lưu, thì cô nhóc cũng sẽ không lùi bước.
Kiki đã lo chỗ ở cho chúng tôi rồi. Nhưng chỉ đêm nay thôi, ngày mai chúng tôi phải đi tìm một ngôi nhà mới, của tôi và Gobi. Phải chờ những bốn tháng nữa, Gobi mới đáp ứng đủ các điều kiện nhập cảnh khắt khe bên Anh. Trong thời gian đó, tôi tìm một ngôi nhà tử tế để ở, một nơi cô nhóc cảm thấy thoải mái và an toàn.
Vậy nên, như những tân sinh viên mới lên thành phố, chúng tôi đi tìm nhà.
Căn nhà đầu tiên thuộc về một chủ thú cưng , cũng là một trong những khách hàng của Kiki. Anh này tạm thời đưa gia đình về Mexico nên rất hào phóng cho chúng tôi ở lại miễn phí trong thời gian ở Bắc Kinh.
Đó là một ngôi nhà hào nhoáng nằm trong một khu dân cư có cổng riêng. Những chiếc xe cao cấp hoặc chạy dọc đường phố cổ xưa, hoặc đậu trước những bãi cỏ được tỉa tót hoàn hảo.
Chủ nhà và hai chú chó của anh ta nồng nhiệt chào đón chúng tôi. Thấy Gobi chạy lon ton lại gần, tặng cho hai chú Labrador một cái đánh hơi thân thiện rồi theo chúng chạy vòng quanh sào huyệt, tôi mừng lắm.
“Để tôi dẫn anh đi xem nhà,” chủ nhà vừa nói vừa bước qua thanh chắn thấp bằng gỗ đặt dưới chân cầu thang.
Tôi bế Gobi qua theo bản năng.
“À,” anh ta nói. “Mấy chú chó không được lên tầng. Chúng chỉ được ở dưới này thôi.”
Ôi trời, tôi nghĩ. “Được rồi,” tôi vừa đáp vừa để Gobi ở lại bên kia thanh chắn.
Tôi chưa kịp bước lên bậc thang thứ hai, Gobi đã rên rỉ ỉ ôi. Đến lúc tôi leo lên được một nửa, thì cô nhóc đã phi qua thanh chắn và chạy tót đến bên tôi. Tôi bế cô nhóc lên và đi theo anh chàng kia vào sảnh chính lung linh không tì vết, trông như thể căn phòng được trang hoàng cho một buổi chụp hình của tạp chí Vogue vậy.
Gobi giãy giụa muốn xuống, đuôi cô nhóc cứ lắc qua lắc lại. “Tôi nghĩ chắc là không phù hợp rồi,” tôi nói. “Ngôi nhà của anh tuyệt thật đấy. Nếu chúng tôi ở đây, chắc nó khóc hết nước mắt mất.”
Anh bạn kia bật cười. “Có thể lắm.”
Mới hai tháng trôi qua kể từ lần đầu tiên tôi gặp Gobi. Mặc dù chúng tôi chỉ ở cùng nhau vỏn vẹn mấy ngày trong cuộc đua và tuần vừa rồi ở Urumqi, nhưng sợi dây liên kết giữa chúng tôi luôn bền chặt. Đây là lần thứ hai chúng tôi đoàn tụ, hình như Gobi quyết tâm không để tôi ra khỏi tầm mắt của nó hay sao ấy.
Căn hộ thứ hai hoàn toàn trái ngược so với căn nhà trước: nó nhỏ tí, hơi tồi tàn, và không có mấy đồ nội thất. Ấy vậy mà tôi lại thấy hợp ý.
Đặc biệt là vì căn hộ này nằm trên tầng mười một. Dù tôi không rõ Gobi tự trốn hay bị bắt khỏi nhà Nurali bằng cách nào, nhưng tôi không thể để chuyện như vậy có cơ hội xảy ra lần nữa. Đấy là chưa nói đến chuyện thoắt cái Gobi đã phi qua thanh chắn dành cho chó, bỏ lại hai con Labrador bên ngoài. Ở đây thì khác. Cho dù Gobi có tìm được đường ra khỏi cửa nhà đi chăng nữa thì chắc chắn cô nhóc không thể “hack” thang máy được.
Bạn của Kiki dẫn chúng tôi đến một cửa hàng tương tự như Walmart địa phương - WuMart - để mua sắm tất cả những đồ dùng cần thiết cho bốn tháng tới: ga trải giường , áo gối, một cái lò nướng , một chiếc chảo rán, và một bao thức ăn cho chó.
Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc nói lời chào tạm biệt những người đã cưu mang chúng tôi và khép cánh cửa lại sau lưng họ. Tôi liếc nhìn Gobi. Cô nhóc cũng đang chăm chú nhìn, như bao lần khác cô nhóc trông theo bóng lưng tôi.
“Giờ thì chỉ còn tao và mày thôi, nhóc,” tôi nói. Tôi vừa phấn khởi vừa hơi nản lòng thoái chí. Ở Trung Quốc, tôi bơ vơ không chốn nương tựa. Không thể nói quá bốn từ, không thể đọc nổi một chữ Hán.
Có lẽ hiểu tâm trạng của tôi, ánh nhìn của Gobi trở nên sâu sắc hơn. Cô nhóc nghiêng đầu sang một bên, chạy tót vào nhà, nhảy lên ghế sô pha, cuộn tròn mình lại như quả bóng , nặng nề thở dài hai tiếng , rồi nhắm mắt lại.
“Thôi, thôi,” tôi vừa thỏa hiệp vừa ngồi xuống bên cô nhóc. “Đến mày còn chẳng thèm lo thì tao có gì phải lo đây.”
Ở cùng nhau mấy ngày, tôi càng hiểu Gobi hơn. Từ cuộc đua và thời gian chúng tôi ở Urumqi, tôi biết cô nhóc này thích dựa vào tôi mà ngủ, coi tôi như cái gối đầu. Nhưng ở Bắc Kinh, xúc cảm của cô nhóc được nâng lên một tầm cao mới.
Sáng hôm sau, tôi vừa từ phòng tắm bước ra, Gobi liền liếm cả cẳng lẫn bàn chân tôi như thể chúng bị dính thịt xông khói không bằng. Tôi chỉ cười và mặc kệ cô nhóc. Có thể nói đây là một bước chuyển mình đấy. Hồi mới gặp Gobi ở sa mạc, tôi còn né tránh không động vào cô nhóc cơ. Mặc dù chưa có bằng chứng y học chứng tỏ Gobi không mắc bệnh dại, nhưng cô nhóc đã mở cánh cửa trái tim tôi, khiến tôi không thể cưỡng lại.
Sau khi lau khô người, chúng tôi cùng nhau ra ngoài thăm thú xung quanh. Tôi để ý thấy dưới chân tòa nhà chung cư có mấy cửa hàng và một trung tâm mua sắm lớn cách đó 800 mét. Hôm ấy là một ngày mùa hạ nắng đẹp, không khí trong lành, tôi vốn định đi dạo dọc con kênh và nhâm nhi một tách cà phê.
Đi dạo thì dễ rồi. Nhưng uống cà phê thì bất khả thi.
Tôi rẽ vào quán Starbucks mà mình bắt gặp đầu tiên, rồi lặng lẽ xếp hàng chờ đợi.
Đến lượt mình, tôi bước lên trước quầy phục vụ, đang chuẩn bị gọi đồ thì nhân viên phục vụ nhìn thấy Gobi trên tay tôi, cô ta chỉ tay ra cửa.
“Không chó!”
“Ồ, không sao. Tôi sẽ mua mang về.”
“Không. Mang chó ra ngoài.” Cô ta xua tay đuổi tôi như thể đang cố vẩy cái gì đó khó chịu ra khỏi cổ tay cô ta vậy.
Tôi rời khỏi quán và đi tiếp. Không đời nào tôi chịu xích Gobi lại và bỏ cô nhóc ở bên ngoài.
Quán cà phê tiếp theo cũng không ngoại lệ. Đến quán cà phê thứ ba, chúng tôi vừa ngồi xuống hàng ghế nhìn ra đường , thì nhân viên trong quán cũng hành xử tương tự. Tôi đổ nước ra tay, cho Gobi uống , như tôi vẫn làm trong cuộc đua, thì một gã đi ra và đuổi chúng tôi đi.
“Chỉ là nước thôi mà!” Tôi đáp trả, giọng hơi bực tức.
“Không !” Anh ta gào lên. “Không được. Mời anh đi cho.” Chúng tôi thất vọng quay về nhà. Đến hôm nay, tôi mới phần nào cảm nhận được ở Trung Quốc, người ta đối xử với Gobi và vô số những chú chó hoang ngoài kia như thế nào. Bị đối xử như một kẻ bị ruồng bỏ không vui chút nào. Bị phán xét và chối bỏ như thế đau đớn biết mấy.
Dù Gobi có buồn bực về điều đó hay không , thì cô nhóc cũng không thể hiện ra. Thật ra, hình như lúc nào Gobi cũng hớn ha hớn hở. Khi chúng tôi đi dạo, cô nhóc ngẩng cao đầu, đôi mắt tỏa sáng lấp lánh. Nhiều lúc, bạn không thể tưởng tượng được, mới hai ba tuần trước, Gobi từng là một cô chó hoang lang thang trên đường phố. Vết sẹo sâu trên đỉnh đầu Gobi đang dần dần lành lại. Thấy cô nhóc cẩn trọng đứng bằng chân sau bên phải, tránh dồn trọng lượng vào chân trái, hiển nhiên, chúng tôi cần phải gấp rút cho cô nhóc làm phẫu thuật mới được.
Tuy vậy, trước đó, tôi còn có công chuyện phải làm. Chuyện gấp hơn. Tôi cần đăng ký đứng tên chủ sở hữu của Gobi. Luật pháp Trung Quốc quy định chủ sở hữu phải mang theo giấy phép khi dắt chó đến nơi công cộng. Tôi nghe nói nếu chẳng may tôi bị bắt quả tang không có giấy phép, người ta sẽ bắt Gobi đi ngay lập tức.
Kiki đã giúp tôi làm thủ tục. Ngay sau khi được cấp giấy phép, tôi đút ngay nó vào trong ví. Tôi có cảm giác một gánh nặng vô hình được nhấc đi khỏi vai tôi. Giờ tôi không chỉ được luật pháp bảo hộ, mà còn có quyền phản pháo bất cứ ai mưu toan giành quyền nuôi dưỡng Gobi.
Càng chung đụng , tôi càng biết thêm nhiều điều về cô nhóc. Càng thấu hiểu, cô nhóc đưa tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.
Mỗi lần đi bộ trên vỉa hè, hễ thấy mẩu thức ăn thừa nào là cô nhóc lại kéo tôi qua để thủ tiêu. Vậy nghĩa là, những ngày lang thang ở Urumqi có thể không phải lần đầu tiên cô nhóc phải tự kiếm cơm. Mỗi lần nhìn cô nhóc ngấu nghiến hết thức ăn thừa trong một cái gói bỏ dở, tôi lại tự hỏi còn bao nhiêu bí mật về cuộc đời Gobi mà tôi chưa biết.
Không chỉ sành ăn các món đường phố, hồi ở Urumqi, Gobi còn chứng minh cho tôi thấy, cô nhóc có thể dễ dàng thích ứng với lối sống phức tạp. Theo tôi, không phải bất cứ chú chó nào cũng hợp sống ở chung cư, nhưng với Gobi thì dễ ợt. Nằm cuộn tròn bên người tôi, nhìn sâu vào đôi mắt tôi khi chúng tôi cùng nằm ườn trên ghế sô pha, dường như luôn khiến cô nhóc hạnh phúc hơn bao giờ hết. Gobi không sủa mỗi khi ở bên tôi, cô nhóc không phá phách đồ dùng trong nhà, rồi có lần cô nhóc không nhịn được, giải quyết nhu cầu ngay trong nhà, tôi còn thấy nhóc ta tỏ ra hối lỗi nữa cơ.
Gobi gặp sự cố lần đầu tiên chính là hôm chúng tôi mới chuyển vào. Sáng hôm ấy, tôi bận pha cà phê phin trong nhà nên không hiểu ám hiệu của cô nhóc. Tôi cứ tưởng Gobi lượn vòng quanh và đánh hơi cửa vì cô nhóc nghe thấy tiếng chó sủa bên nhà hàng xóm.
Chỉ khi cô nhóc lủi vào phòng tắm, một phút sau lại xuất hiện, cúi đầu, dè dặt bước sang ngang , tôi mới ngớ người ra. Cô nhóc chụp tai, đầu cúi thấp, trông như đang xấu hổ.
Tôi vào nhà tắm xem thì thấy một bãi nước tiểu trên sàn nhà. Tội nghiệp. Tôi rốt rít xin lỗi. Dọn dẹp xong, tôi đưa Gobi xuống nhà vệ sinh ưa thích của cô nhóc, trong bụi cây gần cổng vào.
Gobi duy chỉ không thích bị bỏ lại một mình trong nhà. Tôi gắng đi nhanh về nhanh, nhưng đôi khi lực bất tòng tâm. Chẳng hạn như lúc tôi phải đến phòng tập gym để tập chạy trên máy chạy bộ, hay lúc hết thức ăn, tôi phải đi siêu thị, cô nhóc buộc phải ở trong nhà. Hầu như lần nào đi chơi cùng nhau, chúng tôi đều sẽ bị một, hai người bắt gặp và ngỏ ý muốn chụp ảnh. Câu chuyện về Gobi đã càn quét khắp Trung Quốc, vì vậy tôi sẽ không mạo hiểm xích cô nhóc ở ngoài siêu thị hay tiệm Starbucks trong khi mình vào trong mua đồ.
Nhưng để cô nhóc ở nhà thì quả là khó. Có lần, tôi thử chạy vọt qua cửa nhanh nhất có thể để ngăn không cho cô nhóc đi theo. Tôi phải kiểm tra đi kiểm tra lại xem cửa đã khóa kĩ chưa. Đi xa rồi mà tôi vẫn nghe thấy tiếng cô nhóc văng vẳng , như lúc vượt sông vậy. Lần nào tiếng rên rỉ the thé và đau đớn ấy cũng như cứa vào da thịt tôi.
Để Gobi ở nhà khó khăn bao nhiêu thì lúc tôi về, cô nhóc mừng rỡ bấy nhiêu, hệt như đêm chúng tôi đoàn tụ ở nhà ông Mã. Cô nhóc chạy vòng quanh, sủa ăng ẳng , mừng vui khôn xiết. Sau khi Gobi bình tâm lại, tôi mới bế cô nhóc lên. Lúc ấy, cô nhóc yên tĩnh lạ thường , hệt như lần chúng tôi vượt sông. Hôm nay cũng không ngoại lệ. Tôi dám nói, bất cứ khi nào Gobi ở trong vòng tay tôi, cô nhóc không cần lo nghĩ bất cứ điều gì.
Được một sinh vật sống sờ sờ tin tưởng nhiều đến thế thật kì diệu, nhất là khi bạn biết nó có thể rời xa bạn bất cứ lúc nào. Nhưng Gobi thì khác, ngoại trừ bên cạnh tôi, cô nhóc chưa từng có ý định đi bất cứ nơi nào khác.
Mỗi sáng , tôi thức dậy trong ánh nhìn chăm chú của Gobi, đầu cô nhóc kề bên đầu tôi gần đến nỗi tôi có thể cảm thấy hơi thở của cô nhóc mơn man trên gò má. Hầu như ngày nào cũng như ngày nào, nếu tôi không dậy sớm để chơi với cô nhóc thì nhóc ta sẽ liếm mặt tôi. Mới đầu, tôi thấy cách biểu hiện tình cảm của loài chó không đáng yêu tí nào, khiến tôi lao ngay xuống giường không chút do dự.
Chúng tôi tức tốc xuống dưới tầng để Gobi giải quyết nhu cầu rồi lên nhà, mặc dù tôi luôn biết rõ, điều Gobi muốn không chỉ là trở về nhà và ngồi chờ một cái vuốt ve.
Với tôi, được yêu thương và sùng bái như thế thật đặc biệt. Chăm sóc cô nhóc, mang lại cho cô nhóc sự quan tâm và cảm thông mà nó cần, đã thực sự chạm vào góc nào đó sâu thẳm trái tim tôi.
Tình yêu thương. Sự sùng bái. Sự quan tâm. Sự cảm thông. Tôi cứ ngỡ tất cả những cảm xúc ấy đã biến mất khỏi cuộc đời năm tôi lên mười rồi. Trọn một thập kỷ, đến tận khi gặp Lucja, cuộc sống của tôi mới lại bắt đầu tràn ngập thứ cảm xúc tốt đẹp ấy.
Còn Gobi ấy mà, cô nhóc đã cho tôi cơ hội đối xử với một đối tượng non nớt dễ bị tổn thương theo đúng cách mà tôi hằng mong muốn trong lúc cuộc đời mình ngoài tầm kiểm soát. Gobi cần tôi. Dù tôi không chắc mình có thể biến tất thảy những cảm xúc đó thành câu chữ một cách trọn vẹn hay không, nhưng phải thừa nhận rằng cứu Gobi đã chữa lành những vết thương lòng mà chính tôi cũng không biết là mình có.
Tuy vậy, không phải mọi thứ đều hoàn mỹ. Cái tivi chẳng hạn, đúng là thảm họa.
Tôi tưởng ít nhất phải có một loạt kênh cơ bản, như BBC hay vài kênh tin tức như Fox News. Nhưng không. Chỉ có hai kênh: một kênh thời sự Trung Quốc, thời lượng một tiếng đồng hồ, tổng hợp tin tức ngày hôm trước và một kênh phim thỉnh thoảng chiếu mấy bộ phim Hollywood phụ đề tiếng Trung. Còn nhớ lúc phát hiện ra kênh thứ hai, tôi ngập tràn hy vọng lắm, nhưng sau đó lại tá hỏa nhận ra đa số diễn viên hạng B bạn yêu thích có nguyên một danh sách dài các bộ phim tệ hại không bao giờ được chiếu trên màn ảnh tây phương. Mấy ngày đầu, tôi còn kiên nhẫn ngồi xem mấy bộ phim nhạt như nước ốc. Sau tôi thấy nản dần và không xem tivi nữa. Nhưng không xem tivi thì tôi chẳng biết làm gì.
Mạng Internet cũng là một vấn đề. Mất một tuần tôi mới mò được cách “lách” vào các trang mạng mà chính quyền Trung Quốc hạn chế truy cập, nhưng chưa đủ để xem nội dung video.
Gobi và tôi đành chăm ra ngoài hơn. Lối đi bộ dài hàng dặm dọc theo con kênh luôn là điểm đến lý tưởng cho việc đi bộ, nhất là khi công nhân xây dựng nghỉ giải lao. Họ không rảnh để để ý tới chúng tôi mà tụ tập quanh mấy gánh hàng rong trên phố. Mấy gánh hàng rong buôn bán được đều là nhờ họ cả. Tôi và Gobi sớm ăn thử rồi, mấy quầy ngon nhất là quầy bán bánh tráng nướng - món tôi hay gọi là bánh burrito19* kiểu Bắc Kinh. Thử tưởng tượng một chiếc bánh tráng mỏng nhồi trứng chiên, vằn thắn chiên giòn, gia vị tuyệt hảo và tương ớt, khiến tôi và Gobi ăn mãi không ngán.
19* Món ăn truyền thống của Ciudad Juárez, một thành phố ở bang Chihuahua phía Bắc Mexico. Burrito có phần vỏ là bánh bột ngô đường kính 24,5 centimet trở lên và nhân thịt bò, thịt gà hoặc thịt heo.
Chúng tôi thử vào mấy quán cà phê, nhưng hầu hết đều không chào đón. May thay, một tiệm Starbucks vui vẻ châm chước cho chúng tôi ngồi bên ngoài. Tuyệt nhất vẫn là một tiệm cà phê nhỏ. Nhân viên ở đó không chỉ cho chúng tôi vào trong ngồi mà thậm chí còn ngầm đồng ý khi tôi đặt Gobi lên ghế và cho cô nhóc ăn một ít bánh ngọt.
Ở một thành phố mà chó không được lên taxi hay xe buýt, thì tàu điện ngầm là phương tiện duy nhất dành cho chó dẫn đường. Chúng tôi chắc chắn sẽ vận dụng tối đa lợi thế này trong thời gian ở Bắc Kinh.
Cùng nhau tìm hiểu về cuộc sống mới nơi đây thật thú vị. Duy chỉ có một điều vẫn làm tôi canh cánh trong lòng - chấn thương hông của Gobi. Mặc dù Gobi giấu nhẹm và đã quen di chuyển tránh dồn trọng tâm vào hông phải, nhưng cô nhóc vẫn rên rỉ đau đớn mỗi khi tôi bế sai cách hay ôm cô nhóc bên tay trái.
Thêm vào đó, vết thương trên đầu Gobi không chóng lành như tôi và Kiki tưởng.
Vậy nên, sau một tuần chuyển đến sống trong căn hộ, tôi báo tin xấu cho Gobi:
“Nhóc con, hôm nay tao với mày sẽ không đến quán cà phê mà sẽ đi gặp bác sĩ thú y.”
22
TÔI KHÔNG THỂ CHỊU ĐỰNG NỔI THỨ TIẾNG ồn này thêm nữa. Đứng chờ ngoài hành lang , tôi gắng làm ngơ trước tiếng rên rỉ vì đau đớn và sợ hãi của Gobi nhưng không được. Những tiếng kêu the thé và nức nở đó là thanh âm kinh khủng nhất tôi từng nghe trong đời.
Tôi nhớ mình từng đọc ở đâu đó rằng khi tiêm chủng , những chú chó thường đau đớn và sợ hãi tột cùng. Để tránh thần giao cách cảm, người chủ không nên ở cùng phòng với chúng. Kể cả không có lời khuyên đó, thì tôi nghĩ mình cũng không dám ở bên cô nhóc.
Cuối cùng , khi thuốc mê phát huy tác dụng , cô nhóc mới im lặng trở lại. Một y tá đi đến và nói với tôi.
“Gobi ổn rồi. Anh có muốn vào không ?”
Nhờ sự giúp đỡ của Kiki, Gobi sẽ được phẫu thuật tại một trong những phòng khám thú y hàng đầu thành phố. Nhờ thông tấn Trung Quốc, tất cả các bác sĩ và y tá đều biết đến Gobi. (Cộng thêm Kiki nói tốt vài câu) thế là Gobi được phẫu thuật bởi đội ngũ giàu kinh nghiệm nhất. Hơn nữa, cả tôi và Kiki đều được tiến hành thủ thuật vô trùng , mặc áo blouse và vào phòng phẫu thuật.
Sau nhiều lần chụp chiếu và tư vấn chuyên sâu, bác sĩ ở đây hoàn toàn nhất trí với kết quả chẩn đoán ở Urumqi - nguyên nhân khiến Gobi bị đau và nhảy lò cò là do chấn thương hông phải. Mặc dù không thể nói rõ chấn thương của cô nhóc là do xe tông hay do con người, nhưng rất có thể cô nhóc đã bị thương khi lang thang ở Urumqi, khiến khớp hông bị lệch khỏi khung xương chậu.
Bác sĩ kiến nghị làm phẫu thuật cắt đầu xương đùi: thủ thuật cắt bỏ phần sụn xương đùi mà không thay thế bất kì xương nào, để cơ thể tự chữa lành và khớp nối tự phục hồi từ mô sẹo.
Người ta cam kết cả chục lần với tôi rằng đây là một quy trình thao tác chuẩn đem lại kết quả hồi phục tốt nhất. Tôi tin tưởng và hết sức yên tâm về đội ngũ phẫu thuật. Nhưng tận mắt chứng kiến họ chuẩn bị tiến hành cuộc phẫu thuật kéo dài một giờ đồng hồ lại là chuyện khác.
Vẫn là những tiếng động ám ảnh tôi, mặc dù lần này Gobi đã hôn mê sâu do tác dụng của thuốc nên không thể kêu được nữa. Gobi đang nằm trên giường , lưỡi thè ra như chiếc vớ cũ, thở đều đều vào mặt nạ oxy úp trên miệng , còn y tá thì đang cạo sạch lông bên hông phải. Tiếng động quấy nhiễu tôi lần này là tiếng máy móc theo dõi nhịp tim và nồng độ oxy. Từ khi bố qua đời, tôi luôn ghét phải nghe tiếng phát ra từ mấy thứ máy móc này trên tivi. Chúng khiến tôi nhớ lại cái đêm đứng trong phòng em gái, nghe các bác sĩ tận lực cứu chữa cho Bố. Và mỗi lần tiếng bíp đập vào màng nhĩ, tôi lại tự hỏi: Nếu mình chịu rời giường sớm hơn thì Bố sẽ được cứu chứ?
Các bác sĩ bắt đầu thảo luận. Dường như cảm nhận được nỗi lo lắng của tôi, Kiki vỗ vai tôi, nhẹ nhàng an ủi. Cô ấy bảo họ đang thảo luận xem nên để liều lượng thuốc là bao nhiêu để gây mê vừa đủ mà không gây nhồi máu cơ tim.
“Tôi hi vọng họ biết rõ họ đang làm gì,” tôi lẩm bẩm. Thân xác tôi như suy sụp.
Cuối cùng , căn phòng cũng yên tĩnh trở lại. Phẫu thuật vừa bắt đầu thì tôi nói với Kiki là tôi phải ra ngoài. “Báo cho tôi ngay khi ca phẫu thuật kết thúc nhé,” tôi nói. “Tôi không thể ở trong này thêm một giây phút nào nữa.”
Tưởng chừng một tháng đã trôi qua, cuối cùng ca phẫu thuật cũng kết thúc. Bác sĩ phẫu thật đảm bảo với tôi rằng ca phẫu thuật thành công và Gobi sẽ sớm hồi phục. Ngồi bên giường trong phòng hồi sức, tôi nhìn cô nhóc từ từ tỉnh lại.
Giây phút cô nhóc nhìn tôi, mọi thứ như quay ngược trở lại mỗi buổi sáng thức dậy, đôi mắt to khóa chặt mắt tôi. Nhưng chỉ một lát sau, hình như bị cơn đau đột kích, cô nhóc bắt đầu rên hừ hừ. Nghe tiếng , tôi biết là cô nhóc đau lắm. Vậy mà tôi chẳng làm được gì.
Chưa đầy một ngày sau, Gobi lại rạng rỡ như trước. Mặc dù tôi biết vết mổ vẫn còn đau và phải mất vài tuần hông cô nhóc mới tự hồi phục hoàn toàn, nhưng vừa về đến nhà, cô nhóc lại ngoe nguẩy cái đuôi và tự liếm láp khắp mặt.
Còn tôi thì bồn chồn không yên. Tôi không rõ trông thấy Gobi đau đớn có làm tôi phiền muộn hay gợi nhớ về sự ra đi của bố Garry hay không. Tôi chỉ dám chắc một điều rằng những ngày tháng sau này, tôi vẫn canh cánh về sự an toàn của Gobi.
Ngay từ khi bắt đầu đến Bắc Kinh sống , tôi thấy hơi lo vì quá nhiều người nhận ra Gobi. Trong thời gian Gobi hồi phục, ở trong nhà càng lâu, tôi càng hoang tưởng. Nếu có ai đó đứng chờ thang máy cùng tôi dưới sảnh - đặc biệt là khi người đó là người nước ngoài - tôi sẽ bấm chọn tầng mười hoặc tầng mười hai, rồi đi thang bộ về tầng mười một, vừa đi vừa cảnh giác quan sát đằng sau. Tôi biết hành động của mình thật ngớ ngẩn. Tôi cũng biết nếu có kẻ muốn bắt Gobi thật, thì kiểu do thám nghiệp dư của tôi sao có thể đảm bảo an toàn cho cả tôi và Gobi được. Nhưng tôi không sao kiểm soát được cái bản năng nghi ngờ người lạ của mình.
Nghi ngờ hoàn toàn vô dụng khi cả tầng đều là căn hộ cho thuê ngắn hạn. Điều đó đồng nghĩa với việc người ra người vào không ngớt. Nhớ lại chuyến viếng thăm của hai gã mặc đồ đen ở Urumqi, tôi phải cẩn thận để ý từng người một mới được.
“Hãy bước ra khỏi nỗi sợ hãi và sống một cuộc đời bình thường ,” Kiki đã nói như thế vào hôm tôi tâm sự về nỗi sợ hãi của mình.
Một cuộc sống bình thường ư? Thậm chí chính tôi cũng không chắc thế nào mới là một cuộc sống bình thường nữa. Bốn tháng trước, mỗi tuần, tôi làm việc sáu mươi giờ, tuần có đến ba trên bảy tối ra ngoài chơi, tập thể hình vào 9,10 giờ tối khi nhà nhà đang xem tivi. Cả cuộc sống của tôi chỉ xoay quanh công việc, tập luyện và Lucja trong căn nhà của chúng tôi ở Edinburgh. Và giờ, tôi đang có chuyến đi dài hạn, sống xa nhà hàng ngàn dặm, hiếm lắm mới tập luyện và nỗ lực bảo vệ cho một cô chó nhỏ mà vào thời điểm đó có thể được xem là cô chó con nổi tiếng nhất trên thế giới. Một cuộc sống bình thường ấy à, vẫn còn xa xôi lắm.
Chưa hết, tôi cũng lo mỗi lần dắt Gobi ra ngoài nữa, vì người ta cứ thi nhau đòi chụp ảnh với cô nhóc. Đa phần mọi người đều tuyệt. Tôi cũng sẵn lòng nếu Gobi khiến họ vui vẻ. Mặt khác, một số người muốn chụp ảnh đơn thuần vì đây là một cơ hội để sở hữu một bức ảnh đáng yêu mà thôi.
Vấn nạn chó hoang ở Trung Quốc một phần bắt nguồn từ trào lưu mua chó cưng của người dân. Họ mang những chú chó về nhà nuôi, rồi dần dần họ thấy bực mình vì mấy chú chó cứ đi bậy trong nhà và hay bày bừa đồ đạc. Ở một quốc gia giàu sụ, đôi khi, những chú chó bị xem như một phụ kiện thời trang - chỉ là tạm thời và có thể vứt bỏ.
Gobi xứng đáng được đối xử tốt hơn thế.
Một tháng sau khi tôi đến sống ở Bắc Kinh, đã có kết quả xét nghiệm bệnh dại.
Trong suốt hai mươi chín ngày chờ đợi mòn mỏi, tôi có linh cảm Gobi sẽ ổn. Tôi đã biết trước kết quả là Gobi không bị bệnh, và giờ chúng tôi có thể bước sang giai đoạn tiếp theo: chín mươi ngày chờ đợi kiểm tra lượt hai. Thế nhưng , mặc cho tôi có tin tưởng thế nào đi chăng nữa, thì đâu đó trong tôi vẫn bắt đầu tự hỏi: Nếu cuối cùng Gobi thực sự có bệnh dại thì sao? Nếu thế thật thì tôi biết làm sao? Nếu không thể đón Gobi về Anh, chẳng lẽ chúng tôi phải chuyển đến Trung Quốc sống ? Nếu không đưa Gobi về nhà, chẳng lẽ chúng tôi phải mang nhà đến với Gobi?
Kết quả xét nghiệm đúng như chúng tôi dự đoán. Gobi không bị bệnh dại. Tôi nhẹ cả người. Báo tin mừng cho Lucja xong , tôi mới đăng tin mừng lên các trang mạng xã hội. Phản ứng của người theo dõi trên khắp thế giới khiến tôi xúc động.
Câu chuyện về Gobi đã truyền cảm hứng cho vô số người. Đến tận bây giờ, tôi vẫn ngẩn ngơ khi chứng kiến cách cô nhóc tác động đến cuộc sống của người khác. Chẳng hạn như, một phụ nữ mắc bệnh ung thư chia sẻ với tôi rằng ngày nào cô ấy cũng dõi theo tôi và Gobi qua Facebook, Twitter, và Instagram. “Tôi đã đồng hành cùng anh ngay từ những chặng đầu tiên,” cô ấy nói.
Tôi say mê câu chuyện ở chỗ nó không chỉ kể về hành trình trở về của tôi và Gobi, mà còn đem lại nụ cười cho hàng vạn người, dù họ mới thất nghiệp, đang tuyệt vọng hay gặp bế tắc trong hôn nhân.
Sau cùng , đó còn là cuộc đua giúp tôi vơi bớt nỗi sợ hãi. Ngay sau ca phẫu thuật của Gobi, một người quen ở Urumqi mời tôi tham gia một cuộc đua đơn chặng qua một khu vực khác thuộc sa mạc Gobi. Để chuẩn bị cho cuộc đua, ban tổ chức đã mời năm mươi tuyển thủ xuất sắc nhất thế giới ở cự li 60 dặm tập hợp ở tỉnh Cam Túc, giáp Tân Cương. Tuy tôi không hay chạy cự li ngắn - như đua điểm nối điểm hay đua trong một ngày - nhưng nói gì thì nói, thể lực của tôi vẫn khá tốt nhờ tập luyện chuẩn bị cho cuộc đua Atamaca mà tôi đã đành bỏ qua.
Ban tổ chức cuộc đua Cam Túc cho biết họ sẽ tài trợ chỗ ở và vé máy bay khứ hồi miễn phí cho tôi về Edinburgh, đổi lại tôi phải tham gia cuộc đua cự li 60 dặm và gặp gỡ các ký giả để PR cho họ. Tôi vốn nhận được kha khá lời mời phỏng vấn và chụp hình từ các ký giả, những người vẫn luôn dõi theo tôi và Gobi. Chưa kể, một cuộc đua đổi lấy vé máy bay khứ hồi và gặp lại Lucja quả là một món hời hấp dẫn.
Bốn ngày trước khi cuộc đua diễn ra, tôi nhận được tin tốt từ ban tổ chức. Họ còn vài chỗ trống và sẵn lòng bao vé máy bay cho vận động viên ưu tú nào muốn tham gia cuộc đua. Tôi gọi ngay cho Lucja. Thật điên rồ khi đi cả một quãng đường dài đến Trung Quốc chỉ để tham gia một giải đua ngắn ngủi, nhất là khi cô ấy mới trở về từ cuộc đua khốc liệt xuyên Hà Lan, cự li 300 dặm, trong 5 ngày. Ngoài danh hiệu chân chạy đẳng cấp thế giới, vận động viên nữ đứng thứ mười ba trong cuộc đua Marathon des Sables 2016, Lucja còn là một quý bà kiên cường thích phiêu lưu. Cô ấy đồng ý ngay tắp lự. Bốn mươi tám giờ sau, cô ấy đã có mặt trên chuyến bay Đông tiến.
Tôi hơi lo về Gobi. Nhưng Kiki đã hứa sẽ chăm sóc tốt cho cô nhóc nên tôi tin cô ấy. Hơn nữa, tôi cảm thấy Gobi sẽ không để ý vài ngày được Kiki cưng nựng và chải chuốt đâu nhỉ?
Ngay khi biết tin Lucja sẽ đến, tôi liền toàn tâm toàn ý tham gia. Chạy bộ từ lâu đã trở thành một phần đặc biệt trong cuộc sống vợ chồng tôi, nên tôi muốn nhân cuộc đua này để đánh dấu mười một năm ngày cưới của chúng tôi. Tôi không thể nghĩ ra cách nào tốt hơn để kỷ niệm quãng thời gian chúng tôi đồng hành cùng nhau.
Với tôi, một trong những kỷ niệm khó quên nhất là cuộc đua Marathon des Sables đầu tiên chúng tôi cùng nhau tham gia. Tương tự như hầu hết các giải chạy siêu bền đa chặng khác, cuối chặng đua dài (thường là chặng áp chót), những người về đích đều sẽ được trao huy chương. Tôi không ngờ mình có thể đạt được thành tích tốt đến thế. Khi chặng đua dài khép lại, tôi chắc chắn nằm trong danh sách những người về đích suýt soát top 100. Với một vận động viên lần đầu tiên tham gia - người suýt bỏ cuộc ở lần đầu tiên thi chạy - mà nói, trong số 1.300 vận động viên tham gia, đạt được thành tích như thế đã là vinh quang lắm rồi.
Băng qua đỉnh dốc cuối cùng , vạch đích và khán giả đang reo hò, mừng các vận động viên về đích đều hiện ra trước mắt tôi. Và đằng đó, cách vạch đích vài chục mét, là Lucja. Hôm ấy, cô ấy xuất phát sớm hơn tôi, nên tôi không ngờ sẽ gặp cô ấy trên đường đua. Nhưng cô ấy đang ở đó, đưa tay che nắng khi nhìn về phía tôi.
“Em đang làm gì ở đây thế?” Tôi hỏi khi bắt kịp Lucja. “Anh cứ tưởng em đã về đích một tiếng trước rồi cơ.”
“Lẽ ra là thế,” cô ấy đáp. “Nhưng em muốn về đích cùng anh, nên em đợi.”
Chúng tôi tay trong tay về đích. Hiển nhiên Lucja có thể giành thứ hạng cao hơn nhiều, nhưng cô ấy đã chọn đợi tôi.
Đến tận hôm nay, tôi vẫn nhớ về ngày đó mỗi khi tôi chạy.
Được trở lại sa mạc thật tuyệt, được chạy trên đôi chân trong bầu không khí trong lành thật tuyệt, và càng tuyệt vời hơn khi được gặp Lucja. Chúng tôi đã xa nhau gần sáu tuần rồi, nên tôi muốn tranh thủ từng phút giây ở bên cô ấy. Có thể tôi đã giành được thứ hạng khá cao, nhưng hạnh phúc hơn cả là được chờ đợi và sánh bước bên cô ấy.
Tuyến đường đua gồm hai vòng chạy cự li 30 dặm. Hôm ấy, trời nóng , dễ đến hơn 40 độ. Chạy hết vòng đầu tiên, chúng tôi trông thấy các nhân viên tại lều y tế đang hoàn thành tốt phận sự của mình. Một tốp vận động viên đã trùm khăn lên người và bỏ cuộc. Họ xuất phát quá nhanh, vừa chạy hết tốc lực vừa phải vận lộn với thời tiết nóng nực nên không đủ sức chạy vòng thứ hai nữa. Còn tôi thì đã nằm lòng việc phân bổ sức lực từ khi tập luyện, không phải để đối phó với cái nóng mà là bùn đất, gió và mưa ở Scotland.
Ba mươi dặm đầu, chúng tôi chạy chậm hơn một chút so với dự tính. Tuy vậy, ước tính chúng tôi phải chạy 8 giờ nữa thì mới hoàn thành đường đua kéo dài mười bốn giờ này.
Vừa mới bắt đầu chạy vòng hai, Lucja đã nghĩ lại.
“Anh cứ chạy tiếp đi, Dion. Không phải để ý đến em đâu,” cô ấy nói.
Lucja và tôi đã có đủ kinh nghiệm đua để biết khi nào nên nhận lấy chiếc khăn để dừng lại và khi nào cần cắn răng mà chạy. Tôi nhìn cô ấy một hồi lâu. Cô ấy mệt nhưng vẫn còn dư sức. Giờ chưa phải lúc bỏ cuộc.
“Chúng ta có thể làm được mà,” tôi nói. “Cả một đoàn làm phim đang bám gót anh, và ban tổ chức cũng thực sự quan tâm chăm sóc chúng ta; chúng ta không thể phụ lòng họ. Anh sẽ dẫn em. Em chỉ cần theo anh thôi.”
Từ trước đến nay, kiên trì luôn là thế mạnh của cô ấy. Chúng tôi tiếp tục chạy, hết mốc này đến mốc khác, vừa chạy vừa nhẩm đếm từng dặm đường mình đã vượt qua.
Chỉ còn 18 dặm nữa là về đích thì thời tiết xấu đi, bão cát đổ bộ. Tầm nhìn giảm xuống dưới 30 mét, nên khó có thể nhìn rõ các mốc đánh dấu đường chạy. Tôi chợt nhớ lại trận bão cát kinh hoàng xảy ra cuối ngày đua dài, chính là cái ngày Tommy suýt chết. Lúc đó, tôi chăm sóc Gobi, còn hôm nay, người cần tôi bảo vệ là Lucja. Vì không thấy tăm hơi bất kì nhân viên hỗ trợ nào xung quanh, nên tôi bắt đầu tính đến kế hoạch khẩn cấp trong trường hợp bão cát mạnh hơn hoặc Lucja nản lòng.
Nhưng không , Lucja vẫn kiên trì. Cơn bão cuối cùng cũng dứt. Chỉ có điều, gió vẫn còn dữ lắm. Những cơn gió thổi bay mũ của chúng tôi đi, và khiến mắt chúng tôi cay sè vì cát. Những tàn dư sau cơn bão bay tứ tung. Mặc dù chỉ có thể di chuyển chậm rãi nhưng chúng tôi vẫn kiên trì, và chỉ cất bước khi nào nhìn rõ mốc tiếp theo. Lucja cố gắng với tay lấy một bịch gel tăng lực, nhưng vừa mới lấy được thì lại phải thả ra.
Khi chúng tôi đến, chốt kiểm soát tiếp theo đã tan hoang. Mọi thứ bị thổi tung hết cả, các tình nguyện viên trông có vẻ như bị sốc. Chúng tôi chạy tiếp dù biết rõ mình đang chạy chậm hơn bao giờ hết. Tôi còn thấy lạ là sao không có ai vượt qua chúng tôi thế. Tuy vậy, tôi vẫn nỗ lực cổ vũ Lucja nhịn đau và chạy tiếp.
Chúng tôi tiếp tục chạy qua một chốt kiểm soát chưa sập hẳn. Chỉ còn tám dặm nữa.
Màn đêm đã buông xuống. Một chiếc xe hơi chạy qua, đèn pha chiếu sáng cả bầu trời. “Hai người đang làm gì thế?” Lái xe hỏi.
“Chúng tôi đang chạy đua,” tôi đáp, vừa mệt vừa vui.
“Nhưng nhiều tuyển thủ đã dừng đua vì bão cát rồi mà.”
“Không ai ở chốt kiểm soát bảo chúng tôi cả. Chỉ còn mấy dặm nữa thôi. Chúng tôi sẽ không bỏ cuộc.”
“Vậy hai người cứ chạy tiếp đi,” anh ta nói rồi lái xe lao đi. Mấy dặm cuối cùng là chặng đường khổ sở nhất với Lucja mà tôi từng chứng kiến. Những giọt nước mắt, tiếng thét và cơn đau tột cùng không thể làm lung lay quyết tâm của cô ấy.
Khi băng qua đích, tôi nắm chặt tay cô ấy, nói:
“Mừng kỷ niệm ngày cưới của chúng ta. Anh tự hào về em.” Lucja ở lại Bắc Kinh một đêm rồi lên máy bay về nhà. Kiki đến sân bay đón chúng tôi. Gobi vẫn ngồi đằng sau xe hưng phấn chào đón chúng tôi như thường lệ. Lần này, cô nhóc không chỉ la liếm mình tôi không đâu. Dường như Gobi nhận ra Lucja là một người đặc biệt nên cũng chào mừng cô ấy theo đúng nghi thức.
Gobi và Lucja bày tỏ tình cảm cả đêm. Vừa về đến căn hộ là người tôi mệt rũ. Ấy thế mà Lucja không chợp mắt tí nào vì Gobi nhất quyết đòi bồi đắp tình cảm. Đến lúc tôi tỉnh giấc, họ vẫn quấn quýt không rời.
Sau cuộc đua, tôi đã ra một số quyết định trọng đại.
Thứ nhất, trong quãng thời gian còn lại ở Bắc Kinh, tôi sẽ từ chối tất cả lời mời phỏng vấn. Vài ký giả đã liên lạc với tôi trong cuộc đua, bảo tôi họ cần chụp ảnh Gobi và hỏi xem họ có thể đến chỗ Kiki thăm cô nhóc khi tôi đi vắng hay không. Thậm chí, họ còn gọi thẳng cho Kiki nữa, và tất nhiên cô ấy từ chối. Tôi không thích thế bởi tôi đã và đang cố gắng giấu kín nơi ở của chúng tôi.
Sự hiện diện của Lucja đã dấy lên những băn khoăn về cuộc sống sau này, khi tôi và Gobi trở về nhà. Chắc chắn, cánh báo chí sẽ săn đón chúng tôi trong một, hai tuần đầu. Nhưng cái tôi mong muốn là quay trở về nhịp sống bình thường càng nhanh càng tốt - dù cuộc sống mới mang diện mạo gì đi chăng nữa. Vì vậy, tôi quyết định không tham dự phỏng vấn nữa. Đã đến lúc Gobi và tôi thoái lui.
Quyết định thứ hai là về chạy bộ.
Cuộc đua cự li 60 dặm dễ như ăn kẹo. Tôi đã xem thành tích của các vận động viên cùng về đích. Tôi nhận ra mình hoàn toàn có thể có mặt trong top 10. Đó là một kết quả khả quan không quá tồi so với thành tích 2 giờ 5 phút của các vận động viên bán marathon đến từ Kenya. Hai tuần sau, tôi đã có cuộc trao đổi với ban tổ chức về giải chạy siêu bền Mt. Gaoligong Ultra cự li 104 dặm sắp tới. Cùng với lời mời tham dự, chúng tôi đã bàn về việc phỏng vấn với các tạp chí chạy đường trường của Anh. Cơ hội đặt chân đến một vùng đất khác của Trung Quốc: thành phố Đằng Xung , thuộc tỉnh Vân Nam, giáp Myanma, quả là một lời mời hấp dẫn. Tôi chưa từng tham dự một cuộc đua cự li 100 dặm liên tục bao giờ nên chắc chắn tôi sẽ không ghi danh vì chức vô địch.
Đó là một cuộc đua khắc nghiệt băng qua vùng đồi núi. Leo gần 9 kilômét đường núi, tôi buộc phải cố gắng hết sức mình. Qua cuộc đua, giới hạn chịu đựng của tôi sẽ nâng lên một mức mới. Mặc dù cơ thể tôi không còn tốt như trước, nhưng tâm trạng khi nhìn thấy vạch đích sau 32 tiếng chạy không ngừng nghỉ khiến tôi phấn khởi lắm. Về đích thứ mười bốn trong số năm mươi bảy vận động viên cứng cỏi, tôi nhận được một chiếc huy chương hình lục lạc - gợi nhớ hình ảnh những người chăn cừu địa phương mà vận động viên chúng tôi gặp khi băng qua núi.
23
HÔM TRƯỚC, GOBI VÀ TÔI ĐANG RUN CẦM cập, quấn chăn kín mít để gồng mình chống chọi với cơn gió mùa đông vù vù ngoài cửa sổ căn hộ cũ. Thì đến hôm sau, chúng tôi thao thức cả đêm vì cái nóng oi bức hành hạ.
Ngày 15 tháng Mười một, chính phủ báo động đợt nắng nóng toàn quốc, cũng là lúc thời kì kham khổ nhất của chúng tôi ở Bắc Kinh bắt đầu.
Trời nóng , không khí ô nhiễm. Như người dân Bắc Kinh, tôi đã học được cách điều chỉnh thời gian biểu trong ngày theo chất lượng không khí. Nếu chỉ số ô nhiễm dưới 100, tôi sẽ vô tư dắt Gobi ra ngoài. Trên 200, chúng tôi rút ngắn quãng đường đi bộ. Trên 400, thì 15 mét đi bộ từ chân toà chung cư sang nhà hàng Nhật yêu thích của tôi cũng đủ khiến mắt tôi cay sè.
Tôi nghe nói, ra ngoài đường khi mức độ ô nhiễm nằm trong khoảng 100 đến 200 tương tự như hút nguyên một bao thuốc lá trong một ngày, 200 là hai bao, 300 là ba bao, và trên 300 thì bằng cả một cây thuốc lá.
Vì khí thải từ các nhà máy nhiệt điện, chất độc hại phủ khắp bầu trời khiến bạn không dám mở cửa sổ.
Tránh ô nhiễm đồng nghĩa với mất tự do. Chúng tôi không thể ra ngoài đi dạo hay đi uống cà phê. Mọi hoạt động đều ngừng lại. Chúng tôi cảm thấy như thể mình bị thế giới cô lập vậy.
Tình hình này không tốt cho Gobi chút nào. Sau mấy ngày nhốt mình trong nhà, cô nhóc chật vật hẳn. Không chịu ăn uống và khoác vẻ mặt buồn bã nhất mà tôi từng thấy. Điều duy nhất tôi có thể làm để giúp Gobi nguôi ngoai là dẫn cô nhóc ra ngoài hành lang , ném một quả bóng tennis cho cô nhóc đuổi bắt và mang về. Cô nhóc có thể chơi trò này hàng giờ liền nếu chúng tôi ở ngoài bờ kênh. Nhưng ở trong tòa chung cư, cứ 30 phút, đèn hành lang lại tự động tắt, nên cô nhóc chỉ chơi được chừng ấy thời gian.
Xét thấy ngoài hành lang , mùi thức ăn bay từ nhà hàng xóm sẽ khiến cô nhóc phân tâm, nên một hôm, tôi dẫn Gobi xuống bãi đậu xe dưới tầng hầm. Dưới này thường trống cả ngày, nên cô nhóc tha hồ chạy nhảy và bắt bóng như mọi khi.
Khi cửa thang máy bật mở, đối mặt với bãi đậu xe sâu hút, tối om, Gobi nhất quyết không chịu đi, cứ đứng chôn chân như cây sồi trăm năm tuổi.
“Thật đấy à?” Tôi hỏi. “Mày nhất quyết không đi chứ gì?” Gobi nhìn chòng chọc vào bóng tối, không di chuyển nửa bước.
Đến tối, ăn xong bữa tối với sushi, tôi trở về nhà. Lúc tôi về, thấy Gobi không buồn nhổm dậy đón tôi, tôi biết chúng tôi gặp rắc rối lớn rồi. Hôm sau, bác sĩ thú y đến khám và chuẩn đoán cô nhóc mắc bệnh ho cũi chó. Cách điều trị gồm uống thuốc và cách li một tuần trong căn hộ.
Lucja không thể kịp đến Bắc Kinh trước Giáng sinh, mà tôi thì không có lịch hẹn truyền thông, không thể đi ra ngoài, khiến ngày dài lê thê. Mỗi ngày hai lần, chúng tôi ra ngoài hành lang chơi bóng tennis. Đến tối, tôi lại nheo mắt dưới trời ô nhiễm, vội vội vàng vàng đến nhà hàng Nhật. Trong nhà nóng như lò lửa, nhưng tôi không dám mở cửa sổ vì sợ không khí ô nhiễm tràn vào nhà. Vì vậy, sáng nào thức dậy, tôi cũng cảm thấy choáng váng dù cho đêm hôm trước có uống ba chai bia hay không.
Tôi vẫn đi tập gym đều đặn. Ngày nào cũng chỉ được xem một video dài một tiếng trước khi rớt mạng. Không có gì xem khiến tôi tụt hứng.
Tôi tận lực vừa luyện tập, vừa lau dọn căn hộ, nhưng không mấy tác dụng. Chỗ nào cũng ô nhiễm. Mặc dù ngày nào tôi cũng lau sàn nhà, đồ đạc, nhưng lần nào lau, tay tôi cũng đen sì. Chắc hẳn bụi bẩn bay vào nhà qua khe cửa sổ.
Lúc tôi bắt đầu lâm vào bế tắc thì Gobi hồi phục. Cô nhóc căn giờ chuẩn thật. Vừa mở mắt ra, tôi đã thấy cô nhóc đang nhìn tôi. Tiếp đó, chào đón tôi là cái liếm láp quen thuộc. Một khởi đầu hoàn hảo cho ngày mới. Có Gobi lăng xăng bên cạnh, sao tôi chán nản được cơ chứ!
Cô nhóc này càng ngày càng tự tin. Vừa khỏi ho, hình ảnh nhóc con Gobi ngày nào trở lại liền. Ngay cả khi tôi đưa cô nhóc ra ngoài giải quyết nhu cầu, cô nhóc cũng ngẩng cao đầu, ưỡn ngực, chân bước nhanh nhẹn và đôi mắt sáng bừng. Tôi thích dáng vẻ cô nhóc tự tin như thế.
Lại một lần nữa, Gobi vực tôi dậy. Tôi tự hỏi Gobi đã tự vượt qua mọi chuyện như thế nào, từ cuộc đua băng qua sa mạc Gobi đến quãng thời gian lang thang trên đường phố Urumqi, chỉ để tìm kiếm một ngôi nhà có người sẽ yêu thương và chăm sóc cô nhóc. Nếu cô nhóc có thể vượt qua, thì tôi cũng có thể.
Suốt những ngày dài đó, tôi có nhiều thời gian và nhiều thứ phải ngẫm nghĩ.
Tôi nghĩ chuyện về nhà và điều gì biến nước Anh trở thành nhà của tôi trong khi mỗi lần thi đấu, tôi đều khoác cờ Úc và chưa bao giờ góp công vào bảng thành tích thể thao của bất cứ quốc gia nào ngoài Úc. Trong mười năm xây dựng cuộc sống ở Anh, tôi đã kinh qua vô số điều tốt đẹp. Đam mê chạy của tôi, sự nghiệp của tôi, hôn nhân của tôi - tất cả đều đơm hoa kết trái ở Anh. Ngoài Anh, tôi không biết nên đưa Gobi về đâu nữa.
Tôi nghĩ về bố. Năm tôi hai mươi, cuộc sống của tôi có thêm một người bố ruột. Vấn đề trở nên phức tạp, và chúng tôi không thể duy trì mối quan hệ lâu dài.
Mặc dù tôi chưa từng trải qua quan hệ cha con kiểu này, nhưng bạn bè tôi thì nhiều lắm. Tôi luôn biết ơn ông ấy vì một điều. Ông ấy sinh ra ở Birmingham, Anh quốc, nhưng gia đình đã di dân đến Úc khi ông còn bé. Bố ruột tôi không cho tôi một đồng nào. Ông ấy cũng khôngủng hộ tôi lúc tôi cần nhất. Nhưng khi tôi trưởng thành và chuẩn bị lên đường đi biệt xứ, nhờ quốc tịch của bố, tôi mới đủ điều kiện xin hộ chiếu của Anh.
Tôi cũng nghĩ về mẹ. Đúng lúc bố ruột bước vào đời tôi, thì mẹ tôi bị bệnh. Một hôm, trước khi tôi và Lucja quen nhau, bà ấy gọi điện cho tôi. Nghe thấy giọng bà, tôi ngỡ ngàng lắm, bởi chúng tôi ước định chỉ nói chuyện vào Giáng sinh hàng năm.
Tôi sửng sốt khi nghe bà nói bị ốm nặng. Quá trình điều trị và chứng kiến khoảnh khắc bà lên cơn nguy kịch đã kéo chúng tôi lại gần nhau hơn. Bà ấy mong muốn hai mẹ con gần gũi hơn, và chúng tôi đã hứa với nhau như thế. Từ đó, hai mẹ con dần liên lạc trở lại. Chúng tôi cứ bước chậm rãi từng bước. Qua mấy năm, chí ít thì chúng tôi cũng trở thành bạn.
Loanh quanh trong căn hộ, vừa nhẩm tính xem bao giờ mới được gặp lại Lucja, tôi vừa nghĩ do đâu mà việc tìm Gobi lại quan trọng với tôi đến thế. Không khó để tìm ra câu trả lời.
Tôi tìm Gobi bởi lời hứa giữa tôi và cô nhóc.
Tôi đã hứa, bằng bất cứ giá nào cũng phải đón Gobi về. Đi tìm cô nhóc, bảo vệ cô nhóc và đưa cô nhóc về nhà có nghĩa là tôi đang thực hiện lời hứa của mình. Sau tất cả thăng trầm, tôi đã cứu được cô nhóc. Sự bao bọc mà tôi không có được lúc cuộc đời tôi khốn quẫn hồi bé, tôi đều cho cô nhóc cả.
Ngày Gobi đến bên tôi, ngước nhìn cái ghệt giày màu vàng và nhìn vào mắt tôi, tôi thấy trong ánh mắt cô nhóc là thứ cảm tình tôi chưa từng thấy. Cô nhóc tin tưởng tôi ngay từ đầu.
Thậm chí, cô nhóc giao cả cuộc đời mình cho tôi. Được một người hoàn toàn lạ mặt tin tưởng giao phó cả cuộc đời, ngay cả khi đó là một chú chó hoang bốn chân, thật tuyệt diệu.
Gobi đã cứu vớt tôi chăng ? Tôi không cho rằng mình lạc lối, nhưng tôi biết chắc cô nhóc đã thay đổi tôi. Tôi đã kiên nhẫn hơn. Tôi đã phải đối mặt với những bóng ma trong quá khứ. Cùng với quen Lucja và khám phá ra đam mê với chạy đường trường , Gobi đã trở thành một trong những điều tốt đẹp trong cuộc sống của tôi. Tới đây, tôi sẽ không nhất thiết phải mượn những cuộc đua dài để giải quyết những vấn đề trong quá khứ nữa. Sau tất cả, nhờ tìm Gobi, tôi đã hiểu hơn về bản thân mình.
Mấy ngày trước Giáng sinh, chờ trong sân bay và thấy Lucja xuất hiện ở cửa ra, tôi không nén nổi xúc động. Giống như ngày cô ấy đợi tôi ở Marathon des Sables, khi chặng đường dài nhất, khắc nghiệt nhất và mệt nhọc nhất đã ở lại phía sau. Chúng tôi đã làm được. Chúng tôi sẽ sớm trở về nhà.
24
THỈNH THOẢNG, HỄ NHẮM MẮT LẠI VÀ TẬP trung cao độ, tôi có thể nhớ lại tất cả những lần người ta bảo tôi sẽ thất bại. Tôi vẫn mường tượng ra hình ảnh ngài hiệu trưởng trường trung học bắt tay tôi, trưng một nụ cười giả tạo và thì thầm rằng một ngày nào đó, đời tôi sẽ chấm hết trong tù.
Tôi thấy hàng tá huấn luyện viên thể thao, giáo viên, bố mẹ của những người mà tôi coi là bạn bè nhìn tôi đầy bất mãn và thất vọng , rồi nói rằng tôi lãng phí của giời, tôi là sao chổi không hơn không kém.
Tôi nhớ hình ảnh mẹ lúc bà đau đớn nhất và thấy mình vô dụng đến nhường nào.
Tôi đã cố gắng niêm phong tất cả những ký ức đó trong một thời gian dài. Tôi giỏi việc đó lắm. Tôi cần phải làm thế, bởi hễ cứ gỡ bỏ lớp cảnh giới xuống , và cho những ký ức đen tối đó trào ra, tôi liền hối hận.
Ví như lần đầu tôi tham gia một giải chạy siêu bền. Ngay từ khi xuất phát, tôi đã sợ hãi. Từng dặm đường , từng giờ trôi qua, tôi bắt đâu nghi ngờ bản thân mình.
Tôi là ai mà dám đứng ngang hàng với tất cả những vận động viên hiểu rõ mình đang làm gì?
Tôi đang nghĩ gì mà dám liều mình chạy 30 dặm khi chưa qua huấn luyện?
Tôi có ngốc không mà nghĩ mình có thể về đích?
Những câu hỏi đó vừa vang lên, trong đầu tôi đã có câu trả lời.
Anh chẳng là gì cả.
Anh đúng là một thằng vô tích sự.
Anh sẽ không bao giờ về đích được đâu.
Cách đích 4 dặm, tôi đã chứng minh những câu đáp đó hoàn toàn đúng. Tôi bỏ cuộc.
Đó là câu chuyện của vài tuần trước khi tôi tham gia giải chạy siêu bền đa chặng đầu tiên. Giải Kalahari cự li 155 dặm. Chính là thử thách mà Lucja xem đầu tiên trong cuốn sách tôi mua tặng cô ấy vào sinh nhật năm ngoái. Mấy ngày liền, sau khi tôi chính thức ghi danh, giọng nói ngờ vực ngày một lớn hơn. Bạn bè hỏi tôi thực sự chạy được xa thế à. Với họ, một thằng vô tích sự như tôi thì làm sao chạy nổi 30 dặm. Tôi tin họ không sai.
Sao tôi lại nghĩ mình có thể làm được chứ?
Tôi chẳng là gì cả.
Tôi là một thằng vô tích sự.
Tôi không bao giờ làm được việc gì ra hồn.
Thế nhưng , có điều gì đó đã lặng lẽ xảy ra giữa cuộc đua 30 dặm và Giải Kalahari. Tôi ước gì mình có thể dõng dạc tuyên bố tôi là người có tài hay tôi đã qua huấn luyện chuyên nghiệp, giống như trong bộ phim yêu thích nhất của tôi, Rocky.
Nhưng tôi không thể.
Chỉ là tôi đã quyết định đành nỗ lực phớt lờ hết những lời mắng mỏ tôi là kẻ thất bại.
Bất cứ khi nào những lời thầm thì độc địa đó vang lên trong đầu tôi, tôi chọn cách tự kể cho mình một câu chuyện hay.
Tôi có thể làm được.
Tôi không phải kẻ thất bại.
Tôi sẽ chứng minh cho mọi người thấy họ đã sai.
Chuyến bay rời khỏi Bắc Kinh sẽ cất cánh vào đêm Giao thừa. Cả ngày hôm ấy, tôi dọn sạch căn hộ, đưa Gobi đi bộ và chào tạm biệt những người bạn trong nhà hàng Nhật. Gần như ngày nào, họ cũng cho tôi thưởng thức món kim chi cay nồng , sushi, salad, và trao tôi tình bạn. Thậm chí, họ còn pha cho tôi một chai dầu giấm riêng mà lần nào đến tôi cũng thèm.
Tối đó, trong lúc chờ Kiki đến căn hộ đón chúng tôi, Gobi linh cảm thấy có chuyện sắp xảy ra. Cô nhóc lưu luyến không rời, chạy vòng quanh căn hộ trống. Cuối cùng , khi rời khỏi tòa chung cư, Gobi “chạy té khói” về phía xe của Kiki.
Tôi bình thản hơn.
Tôi chỉ ngồi nhìn theo những ngọn đèn đường vụt qua, nghĩ về người và chốn gắn bó với chúng tôi trong suốt bốn tháng bốn ngày sống ở Bắc Kinh.
Chúng tôi đi qua phòng tập gym của khách sạn, nơi tôi cố gắng kiên trì tập luyện đúng cường độ. Tôi nhớ đến những lần rớt mạng chỉ sau một tiếng lướt giải trí. Điều đó khiến tôi cảm thấy mệt mỏi, nhưng cũng chỉ thế thôi. Nó đánh dấu sự thay đổi của tôi, tôi đã học được cách tha thứ.
Và còn Little Adoption Shop, nơi Chris làm việc, cũng là nơi chúng tôi quyên góp 10.000 đô la còn thừa của quỹ Bring Gobi Home. Nếu không có Chris và lời khuyên chân thành mà anh ấy cho Lu Xin, có lẽ chúng tôi sẽ không bao giờ tìm thấy cô nhóc. Không nhờ Chris, ai biết giờ này Gobi đang lưu lạc phương trời nào?
Tôi điểm lại từng người tôi đã gặp ở Bắc Kinh, cũng như Urumqi. Phải chia xa những con người tử tế ấy thật khó. Quãng thời gian sống ở Trung Quốc đã thay đổi hoàn toàn cách nhìn nhận của tôi về đất nước và con người nơi đây.
Thành thực mà nói, lần đến Trung Quốc tham dự Giải đua Gobi, đánh giá của tôi về người Trung Quốc có chút rập khuôn. Tôi vốn nghĩ họ hoặc khép kín và nghiêm cẩn, hoặc thô lỗ và thờ ơ. Trong chuyến đi đầu tiên, từ thành phố Urumqi cho đến cuộc đua, tôi đã chỉ thấy ở người ta những gì tôi đã mường tượng. Chẳng trách tôi chẳng có ấn tượng gì về chốn này. Nhưng chuyện xảy ra với Gobi đã thay đổi cách nghĩ của tôi. Giờ thì tôi đã biết người Trung Quốc đáng yêu, chân thành và hiếu khách. Một khi họ mở cửa trái tim với bạn, họ mời bạn vào nhà, thì tức là họ cực kì hào phóng và tốt bụng. Thời gian sống ở Bắc Kinh, một gia đình không quen biết, chỉ mới nghe qua câu chuyện về Gobi, đã cho tôi mượn một chiếc xe đạp điện trị giá 1.000 đô. Họ không đòi hỏi gì cả, kể cả chụp ảnh với Gobi.
Con người ở Urumqi cũng thế. Mặc dù đâu đâu trong thành phố cũng có camera giám sát và lính canh bên ngoài các công viên, nhưng người dân lại thân thiện, bao dung và ấm áp nhất trong số những người tôi từng biết. Kịp quen biết họ trước khi trở về là vinh hạnh của tôi.
Sau đó là Kiki. Cô ấy đã đồng ý giúp đỡ chúng tôi trong khi những người khác đều nói không. Cô ấy đã đích thân đến Urumqi để chắc chắn Gobi xuất cảnh an toàn. Bốn tháng nay, cô ấy ở Bắc Kinh cùng chúng tôi, luôn thấp thỏm lo lắng và lo toan đủ đường, không chỉ cho Gobi mà cả tôi nữa. Tôi gọi cô ấy 24/7 để hỏi đủ thứ câu hỏi (Trả thêm tiền điện như thế nào? Gobi thấy không khỏe. Tôi phải làm sao? Mua khẩu trang chống ô nhiễm ở đâu?) Kiki chưa từng kêu bận, kêu mệt mỗi khi tôi hỏi, hay than phiền mỗi khi tôi nhờ cô trông Gobi mấy ngày trong khi tôi ra khỏi thành phố. Thậm chí, cứ hai giờ, cô ấy lại gửi một video để tôi tiện cập nhật tình hình xem các nhân viên của cô ấy nựng Gobi. Đội của cô ấy luôn sẵn sàng hỗ trợ khi tôi cần. Các tài xế trong đội chở chúng tôi đi khắp nơi, chở đồ tiếp tế đến căn hộ cho tôi, lo việc giấy tờ và vô số thứ nhỏ nhặt khác. Họ làm nhiều hơn cả những gì tôi yêu cầu.
Chúng tôi dừng xe bên ngoài sân bay, mở cốp xe lấy đồ, nhân tiện cho Gobi nghỉ ngơi một chút trước khi nhốt cô nhóc vào một chiếc lồng chó đặc biệt. Cô nhóc sẽ ở trong đó suốt hành trình bay.
Luật pháp của Anh quy định không được cho chó lên khoang hành khách trong bất kì chuyến bay nhập cảnh và xuất cảnh nào. Từ lần Gobi tổn thương vì bị nhốt trong khoang hàng hóa trong chuyến bay rời Urumqi, tôi thề sẽ không bao giờ để cô nhóc xuống đó lần thứ hai. Như vậy có nghĩa là hành trình về nhà của chúng tôi sẽ dài dằng dặc và rắc rối hơn nhiều: trước hết là chuyến bay kéo dài mười tiếng đến Paris, năm giờ lái xe đến Amsterdam, rồi mười hai tiếng đi tàu vượt biển đến Newcastle, miền Bắc nước Anh, và thêm hai tiếng rưỡi lái xe nữa để về Edinburgh. Nếu tính cả thời gian chờ, thì tổng hành trình sẽ kéo dài bốn mươi mốt tiếng.
Bên cạnh đó, chúng tôi sẵn sàng trả thêm tiền đặt ghế hạng thương gia để Gobi được thoải mái và ngồi kế bên tôi trong khoang hành khách. Vừa bước lên quầy soát vé là đến lượt mình liền nên tâm trạng tôi khá tốt. Tôi xuất trình hộ chiếu cho nữ nhân viên trực bàn, lùi lại và ngẫm xem cuộc đời Gobi đã cải biến chừng nào. Cách đây sáu tháng , cô nhóc lang thang ở rìa sa mạc Gobi, mang theo khát khao sống , chạy ba chặng marathon cùng với một kẻ lạ mặt là tôi. Giờ đây, cô nhóc sắp ngồi ghế hạng thương gia bay đến một thành phố xa hoa nhất trong các thành phố, Paris.
Tôi sực tỉnh khi nghe thấy Kiki to tiếng với nữ nhân viên người Trung Quốc ở quầy thủ tục xuất hành. Suốt quãng thời gian ở Trung Quốc, tôi đã nghiệm ra một điều: khi nào đôi bên to tiếng với nhau, tức là rắc rối đến. Tôi nhắm mắt lại, chỉ nghe thôi cũng đủ biết lớn chuyện rồi.
“Chuyện gì thế, Kiki?”
“Anh đã đặt chỗ cho Gobi trên chuyến bay chưa?’
Nghe thế, không khí quanh tôi như đông lại. “Tôi chưa,” Tôi đáp. “Tôi tưởng cô đặt.”
Kiki lắc đầu. “Tôi tưởng Lucja đặt rồi.”
Kiki quay lại quầy bán vé để nói chuyện tiếp.
Tôi gọi cho Lucja.
“Em đã đặt chỗ cho Gobi chưa?”
“Chưa. Em tưởng Kiki đặt chứ.”
Giờ thì rõ rồi. Đơn thuần là một hiểu lầm giữa hai người họ. Nom có vẻ họ đã phải lo quá nhiều việc từ hai đầu thế giới nên đã bỏ sót chi tiết nhỏ nhặt này. Tôi cứ tưởng chuyện này dễ ợt ấy mà. Có lẽ sẽ hơi tốn kém nhưng không khó.
“Kiki,” tôi vừa vỗ vai cô ấy vừa nói. “Hỏi họ xem mất bao nhiêu, chúng tôi có thể lo được.”
Cô ấy lại lắc đầu. “Chị ấy nói không thể. Giờ không thêm Gobi lên hệ thống được nữa. Chuyện này bất khả thi.”
Tôi nhắm mắt lại để điều hòa nhịp thở.
Hít vào, thở ra. Bình tĩnh, Dion. Bình tĩnh nào.
Một nhân viên quầy vé khác nhập cuộc, nâng âm lượng lên gấp đôi. Kiki đã hoàn toàn nổi xung, hết chỉ vào Gobi lại chỉ vào tôi. Ấy thế mà tôi chẳng thể làm gì ngoài đứng đây và thầm sợ hãi.
Tất cả giấy tờ nhập cảnh cho Gobi đều được căn trước theo đúng lịch trình chuyến đi. Điều đó có nghĩa là nếu chúng tôi không có mặt ở Newcastle vào đêm ngày 2 tháng Một, thì mọi giấy tờ đều vô hiệu, và tôi phải đưa Gobi đi khám lại, rồi xin xác nhận của một bác sĩ thú y khác. Nếu gặp may thì chỉ chậm một, hai ngày. Trường hợp xấu nhất, hành trình có thể kéo dài thêm một tuần nữa.
Nhân viên thứ ba đến sau bàn làm việc. Khi ông ấy xuất hiện, bầu không khí bỗng thay đổi hẳn. Không còn tiếng ồn ào nữa. Chỉ có Kiki nói và ông ấy nghe.
Sau khi nghe hồi đáp từ cấp trên, Kiki quay sang tôi. “Gobi chưa đặt chỗ chuyến bay này,” cô ấy nói. Tôi biết tiếp đến chuyện gì sẽ xảy ra. Chúng tôi sẽ phải tốn thêm một khoản đặt chuyến bay tiếp theo cho cô nhóc.
“Anh đến quầy đằng kia,” Kiki vừa nói vừa chỉ vào quầy vé của hãng Air France bên cạnh. “Mất 200 đô la. Ông ta nói họ sẽ cho Gobi lên máy bay.”
Tôi choáng váng. “Chuyến bay này á?”
“Đúng vậy.”
Tôi không chần chừ thêm nữa. Tôi trả phí ở một quầy khác rồi quay lại đúng lối lên máy bay của mình.
“Tôi đã nói với họ là Gobi là một chú chó nổi tiếng ,” Kiki cười nói trong lúc chờ đợi. “Họ biết câu chuyện và muốn tạo điều kiện giúp anh.”
Sau khi tôi cất hộ chiếu và thẻ xuất hành vào ví, thì đến màn chụp ảnh lưu niệm và chơi đùa cùng Gobi của nhân viên quầy thủ tục xuất hành.
Tại đó, tôi chào tạm biệt Kiki, rồi di chuyển qua cửa an ninh. Tận khi đó, tôi mới trút bỏ hết tấn áp lực trên mình.
“Xin chờ một chút,” một người phụ nữ chen ngang lúc tôi mới xỏ chân vào giày. “Mời anh đi theo anh kia.”
Tôi ngước lên thì thấy một người đàn ông mặt mày nghiêm trọng đang đứng bên cạnh máy quét nhìn tôi chằm chằm. Tôi túm lấy Gobi lúc này vẫn ở trong túi và hành lý rồi đi theo anh ta xuống một hành lang hẹp. Anh ta mời tôi vào một căn phòng trống trải, không có cửa sổ, không có gì nhiều ngoài một cái bàn, hai chiếc ghế, và một cái thùng lớn đầy bật lửa và chai nước bị tịch thu.
Bình tĩnh, Dion. Bình tĩnh.
Anh ta xem hộ chiếu và thẻ xuất hành của tôi rồi bắt đầu đánh máy. Vài phút trôi qua, anh ta không hé răng nửa lời. Tôi băn khoăn không biết mình có nói gì hay làm gì tự chuốc phiền phức hay không. Thị thực của tôi vẫn còn hạn. Tôi mới phỏng vấn được vài tuần thôi. Hay là do mấy viên thuốc an thần Lucja đưa cho tôi để cho Gobi uống trên chuyến bay nhỉ?
Tiếng bàn phím lạch cạch. Căn phòng chìm trong yên lặng. Rồi, bỗng , anh ta lên tiếng. “Chúng tôi phải kiểm tra chú chó.”
Lòng tôi chùng xuống. Tôi biết mà. Làm gì có cái giá 200 đô rẻ bèo như thế chứ. Kiki đã đi rồi. Mặc dù có đem theo cả một tập giấy tờ giày cộp từ chỗ bác sĩ thú y, bao gồm giấy chứng nhận tiêm chủng còn hiệu lực và phiếu đánh giá sức khỏe chín mươi ngày theo yêu cầu trước khi được phép xuất cảnh sang Anh, thì tôi cũng hoàn toàn không có cơ hội giải thích bất cứ điều gì với bất cứ ai. Không có Kiki, tôi đành nhờ vào lòng khoan dung của bộ máy chính quyền Trung Quốc.
Anh chàng kia ngừng đánh máy, nhấc điện thoại lên và nói chuyện một hồi.
“Anh chờ một chút,” anh ta nói, ngay sau đó cúp máy và trở lại với cái bàn phím.
Gobi vẫn ở trong chiếc túi tôi đang ôm trong lòng.
Qua vải lưới, tôi thấy cô nhóc đang ngước lên nhìn tôi. Tôi muốn an ủi Gobi rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi, tôi muốn đưa nó ra ngoài và tặng nó một cái ôm - vừa trấn an cô nhóc vừa trấn an bản thân - nhưng lúc này không đáng để liều lĩnh như vậy.
Nên tôi đợi. Đây là phút dài nhất trong đời tôi.
Điện thoại reo. Tôi nghe câu được câu chăng , nên không rõ họ đang nói gì hay kết luận gì.
“Được rồi,” cuối cùng anh ta nói. “Chú chó được phép bay. Anh đi được rồi.”
“Đi đâu cơ?” Tôi hỏi. “Máy bay.”
Tôi vội trở lại hành lang , đi qua máy quét và đến ga cuối. Chọn một cửa chưa có người ngồi, tôi ngồi xuống và đưa Gobi ra để cho cô nhóc uống nước. Tôi nghe mấy người Pháp bên cạnh đang đếm ngược và reo hò. Tôi xem đồng hồ. Nửa đêm rồi. Năm đáng nhớ nhất trong đời tôi vừa đi qua. Chuyến phiêu lưu tiếp theo sắp sửa bắt đầu.
“Nghe đi, Gobi,” tôi nói với cô nhóc. “Mày nghe thấy không ? Chúng ta làm được rồi! Quá đã! Chúng ta đã làm được. Chúng ta sắp bay. Sẽ là một chuyến hành trình dài đây. Nhưng tin tao đi, tất cả đều đáng giá. Đến Edinburgh rồi mày sẽ thấy cuộc sống tuyệt vời biết bao.”
Hãng Air France đảm bảo ghế bên cạnh tôi trống. Mặc dù vậy, Gobi vẫn phải ở trong túi suốt chuyến bay, nên chúng tôi bay theo cách riêng. Cô nhóc cứ động đậy không yên lúc máy bay cất cánh, nhưng khi tôi đặt túi lên đùi, cô nhóc mới ngồi yên trở lại.
Tôi vừa xem bản đồ đường bay vừa chờ đến khi máy bay bay qua sa mạc Gobi. Khi thấy Urumqi xuất hiện chớp nhoáng , một nụ cười chậm rãi hé nở trên gương mặt tôi. Một thành phố mà một năm về trước tôi chưa từng nghe tên nay đã trở thành một phần đặc biệt trong tôi.
Dưới ánh đèn mờ ảo trong khoang , những người bạn đồng hành cùng tôi dần chìm vào giấc ngủ. Tôi hạ ghế xuống thành giường , rồi lặng lẽ đưa Gobi ra khỏi túi. Cô nhóc hơi cựa quậy không yên, nhưng chỉ chốc lát sau đã cuộn tròn trong vòng tay tôi, ngủ say.
Tôi nhắm mắt và hồi tưởng lại cảm giác của một ngày đua dài. Tôi thấy quanh tôi nóng hừng hực, cái nóng thiêu đốt hai lá phổi. Tôi thấy Tommy đang liêu xiêu và cảm giác tuyệt vọng lúc tìm bóng râm. Tôi nhớ mặc dù chếnh choáng , buồn nôn và sợ mình không thể sống sót, nhưng tâm niệm rằng nếu tôi còn sống , tôi chắc chắn sẽ làm mọi thứ có thể để đồng hành cùng Gobi trong phần đời còn lại.
Tôi không kìm được nước mắt khi gặp lại Lucja ở sân bay Charles de Gaulle. Còn Gobi ấy hả, cô nhóc đã nhịn tiểu suốt mười bốn giờ liền nên giờ không nhịn nổi nữa. Tôi có mang theo bỉm chó con và dỗ cô nhóc dùng tạm nhưng cô nhóc không chịu. Chỉ khi đứng trên sàn nhà bóng loáng giữa sảnh chờ, cô nhóc mới buông thả.
Tôi tin chắc quãng đường về nhà còn lại sẽ suôn sẻ thôi. Vì thế, chúng tôi nhân tiện ghé vào thành phố một chuyến để Gobi được ngắm nhìn Tháp Eiffel và Khải Hoàn Môn. Sau đó, chúng tôi đi về hướng bắc đến Bỉ, rồi đến Amsterdam và đến nhà của cô chú và anh chị em họ Lucja.
Thấy họ hào hứng khi gặp Gobi lần đầu khiến tôi nhớ lại phản ứng của dân tình khi nghe câu chuyện về Gobi vào năm 2016. Một năm của những hung tin, từ sự ra đi mãi mãi của những người nổi tiếng đến các cuộc tấn công khủng bố. Thế giới bị chia rẽ bởi chính trị. Thế nhưng , qua những bình luận mà tôi đã đọc, vẫn còn rất nhiều người coi Gobi là một trong số ít câu chuyện tốt đẹp, làm sống dậy lòng tin của họ về nhân tính. Trong một năm tăm tối của đau thương và nỗi sợ hãi, câu chuyện về Gobi nổi lên như một nguồn sáng.
Sau khi tắm táp và nghỉ ngơi, Lucja, Gobi và tôi tạm biệt gia đình và khởi hành đến bến tàu ngay gần nhà. Nhà tàu có quy định chủ vật nuôi phải để vật nuôi trên xe hoặc nhốt chúng trong chuồng nuôi trên tàu. Tôi không thể làm thế với Gobi. Phải mất mấy tuần liền Lucja mới thuyết phục được nhà tàu phá lệ cho chúng tôi mang theo Gobi vào khoang hành khách.
Thế là tôi đã nghĩ chuyến bay đã suôn sẻ như thế rồi thì chúng tôi sẽ ổn. Chuyện lên tàu cũng sẽ trót lọt thôi nhỉ?
Hẳn thế. Ừ thì đúng là có trót lọt. Nhưng không hoàn toàn. Khi chúng tôi xuất trình hộ chiếu của Gobi ở bàn đăng ký, thì bầu không khí thay đổi hẳn. Nữ nhân viên sau quầy trầm mặc lật hết trang này sang trang kia, mặt lộ vẻ bối rối.
“Chị có cần giúp gì không ?” Lucja ngỏ lời bằng tiếng Hà Lan. “Chị đang tìm gì thế ?”
“Tôi không đọc được chữ trên hộ chiếu này,” chị ta đáp. “Toàn chữ Hán. Không đọc được thì tôi không thể cho mọi người lên tàu.”
Chị ấy gọi cấp trên, hai người họ lại lật từng trang lần nữa. “Chúng tôi không ai biết chữ Hán hết,” cấp trên nói. “Anh chị không thể lên tàu.” Lucja đã nghiên cứu đủ thứ yêu cầu cần thiết để đưa một chú chó qua biên giới trong mấy tuần liền, nên cô ấy nắm rõ các quy định. Lucja hết sức bình tĩnh và thận trọng chỉ cho họ xem con dấu chứng tỏ đã tiêm chủng , nhưng không ích gì. Họ kiên quyết không đổi ý. Mà nếu đợi họ đổi ý thì Gobi cũng bị kẹt lại ở Hà Lan rồi.
Rồi tôi nhớ ra đống giấy tờ mà Kiki đã đưa cho tôi để xuất trình ở trạm kiểm soát biên giới của Anh. Nội dung giấy tờ vẫn như cũ nhưng bằng tiếng Anh. Tôi lấy toàn bộ giấy tờ ra, nhìn họ xem xét từng loại giấy tờ một lượt thật cẩn thận rồi nghe họ thảo luận.
Cuối cùng , vài phút sau, họ mỉm cười và đóng dấu vào hộ chiếu của Gobi. Chúng tôi được phép lên tàu.
Sáng hôm sau, lúc lái xe xuống tàu, tôi và Lucja lo lắng nhìn nhau. Liệu chúng tôi có bị chặn ở trạm kiểm soát biên giới của Anh không nhỉ ? Chẳng may họ phát hiện thiếu sót trong giấy tờ và gửi Gobi tới London để cách li kiểm dịch thêm lần nữa thì sao? Chúng tôi tiến đến gần trạm, họ bắt tay rồi bất ngờ vẫy tay cho đi thẳng. Không kiểm tra giấy tờ. Không hạch sách. Không trì hoãn. Gobi đã có mặt ở Anh.
Xe chúng tôi chậm rãi chạy về hướng bắc, thẳng tiến Scotland, băng qua đồi trũng và cánh đồng hoang. Tôi thơ thẩn nghĩ về lời hứa giữa tôi và Gobi. Sáu tháng để biến một lời hứa thành hiện thực. Tôi nghĩ về tất cả những nhà hảo tâm giúp đỡ chúng tôi trang trải kinh phí, những tình nguyện viên tìm kiếm không kể ngày đêm, và những lời nhắn nhủ, động viên, cầu nguyện cho chúng tôi từ khắp nơi trên thế giới. Người biến lời hứa đó thành hiện thực đâu phải riêng tôi, mà là thứ sức mạnh tập thể đến từ những con người giàu lòng yêu thương và rộng lượng.
Hồi tưởng lại khiến khóe mắt tôi cay cay. Thế giới này vẫn là một nơi hiền hòa và nhân ái.
Chúng tôi lái xe xuyên đồi, rồi nhìn không chớp mắt. Hành trình về nhà dài đằng đẵng đã đến hồi kết. Cả Edinburgh đang hiện ra trước mắt. Arthur’s Seat - ngọn núi sừng sững đứng gác cho thành phố - phía đông là biển, phía tây là dãy Pentland. Một ngày đẹp trời, không chỉ vì có bầu trời xanh, không khí trong lành, mà còn vì hôm đó là sinh nhật bốn mươi hai tuổi của tôi.
Một ngày tuyệt vời bởi một lý do duy nhất.
Chúng tôi đang ở bên cạnh nhau.
Trên đường vào thành phố, trong xe im ắng nhưng tâm trí và trái tim chúng tôi thì reo hò. Xe rẽ vào dãy phố chúng tôi ở, tôi mới nhận ra mình vẫn chưa thử nghĩ xem mình sẽ cảm thấy thế nào khi bước vào nhà với cô chó nhỏ phi thường này kẹp dưới nách.
Tôi chưa dám nghĩ đến điều đó vì bản thân tôi không dám tin sẽ có ngày này. Tất thảy những dối trá, sợ hãi, lo âu đã đè nặng lên vai tôi. Tôi không dám với tới thứ niềm tin xa xỉ rằng chúng tôi sẽ làm được.
Nhưng khi cửa mở, nhìn thấy những người bạn tốt và người thân bên trong , nghe tiếng bật nắp sâm panh, và tiếng reo hò của những người đến chung vui với chúng tôi, tôi mới biết chính xác cảm xúc đó là gì.
Như thể dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới tuyệt vời vậy.
Những ngày bận rộn tiếp theo nhắc tôi nhớ về quãng thời gian ở Urumqi. Một đoàn làm phim của đài truyền hình đã cất công bay từ Úc sang đây để ghi lại khoảnh khắc chúng tôi trở về nhà và phỏng vấn tôi. Ký giả từ khắp nơi trên thế giới gọi điện đến - có người tôi quen, có người tôi chưa từng trò chuyện. Họ đều muốn biết Gobi vượt qua những khó khăn trong hành trình về nhà như thế nào và cuộc sống của cô nhóc hiện tại ra sao.
Tôi kể với họ Gobi đã thích ứng với cuộc sống mới nhanh như thế nào, rồi chuyện cô nhóc lập đội với chú mèo Lara, đồng sở hữu chiếc sô pha trong phòng khách. Gobi, một người truyền cảm hứng , đã vượt qua chuyến hành trình đúng như cách cô nhóc đương đầu với những thử thách nảy sinh từ khi chúng tôi gặp nhau. Tôi nói với họ rằng tôi tự hào về cô nhóc.
Nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó. Phải một danh sách dài mới liệt kê hết điều tôi muốn nói về Gobi, và những thay đổi mà hành trình đi tìm Gobi đem lại cho tôi còn dài hơn nữa - nhất là khi tôi nhận ra cuộc sống mới chỉ mới bắt đầu.
Đương nhiên, cũng có những câu hỏi mà chỉ Gobi mới biết câu trả lời: Tại sao cô nhóc lang thang trên dãy Thiên Sơn? Tại sao cô nhóc chọn tôi? Chuyện gì đã xảy ra khi cô nhóc bị lạc?
Điều có ý nghĩa nhất đến tận bây giờ là: đời tôi đã khác kể từ giây phút tôi nói đồng ý với Gobi. Gobi đã làm nên điều khác biệt. Cô nhóc góp thêm những điều tốt đẹp vào cuộc sống của tôi và chữa lành những vết thương.
Chấn thương ở hông của Gobi đã lành hẳn. Lông bị cạo để phẫu thuật đã mọc lại. Cô nhóc không còn kêu ré lên vì đau mỗi lần ai đó vô tình chạm vào vết thương nữa. Lúc đi trên đất xốp, thi thoảng cô nhóc sẽ nhấc nhẹ chân lên. Bác sĩ thú y ở Edinburgh nói đó là do thói quen tránh dồn trọng lượng sang bên hông bị thương. Lúc Gobi và tôi chạy trên đồi hay trên đường mòn, cô nhóc chạy bon bon và đuổi kịp cô nhóc thì khó y như hồi ở sa mạc Gobi vậy.
Đêm đầu tiên quây quần trong nhà, cả Gobi và Lara đều rúc dưới chân giường , ngôi nhà chìm trong bầu không khí tĩnh lặng quen thuộc. Lucja quay sang tôi và lặng lẽ hỏi xem sáng mai tôi muốn làm gì. Chúng tôi không có kế hoạch gì cả, vài giờ tới toàn bộ thời gian đều là của chúng tôi.
Tôi biết chính xác mình muốn gì. Tôi ghé xuống nhìn Gobi rồi quay sang nhìn Lucja.
“Cả nhà ta cùng chạy nhé.”
Lời cảm ơn
TRUNG QUỐC ĐÃ MANG NGÀN ĐIỀU TỐT đẹp đến với cuộc sống của tôi. Tôi may mắn xiết bao khi có cơ hội sống ở đây một thời gian dài. Tại đất nước hơn một tỉ người này, tôi đã được gặp những người hào hiệp nhất, chu đáo nhất và hiền lành nhất trong số thảy những người tôi hằng mong có dịp gặp mặt.
Kiki Chen, người bạn đồng hành cùng chúng tôi từ những bước đầu tiên, đã biến kế hoạch đưa Gobi rời khỏi Trung Quốc thành hiện thực. Chris Barden, một “dog whisperer” chính hiệu, người đã thành lập đội tìm kiếm và đóng vai trò quan trọng trong hành trình tìm kiếm Gobi. Với Lu Xin, tôi hàm ơn cô ấy nhiều. Cô ấy chưa bao giờ ngừng tìm kiếm Gobi. Chính Lu Xin đã cho tôi thấy tấm lòng hào hiệp thực sự là như thế nào. Jiuyen (Lil) thì hơn cả một người phiên dịch. Từng câu chữ của cô ấy theo bước chân tôi mỗi ngày, trong những thời khắc khó khăn nhất. Tôi thực lòng biết ơn tất cả các tình nguyện viên, những người sẵn sàng tìm kiếm một chú chó chưa từng gặp, giúp đỡ một gã không quen biết bất kể ngày đêm. Có lẽ với họ, cám ơn bao nhiêu cũng không đủ, nhưng hi vọng họ hiểu sự có mặt của họ quan trọng thế nào trong câu chuyện này.
Với gia đình ông Mã, tôi nợ họ lời cám ơn sâu sắc vì đã cưu mang Gobi. Sự hỗ trợ và dẫn dắt của WorldCare Pet quả không ai bì kịp. Cám ơn Đội WorldCare Pet tại Bắc Kinh vì đã yêu thương , chăm sóc và tận tâm với Gobi vô điều kiện.
Đến lúc này tôi vẫn mỉm cười khi nhớ tới những lần hội họp cùng mấy ông bạn Urumqi trong nhà hàng Lvbaihui Tribes Barbecue (nhớ nhất là lần họ cho tôi uống rượu đế và câu khẩu hiệu: Mao Đài cạn ly!).
Tôi nhớ mấy ông bạn Bắc Kinh ở nhà hàng Ebisu Sushi nữa và tự hào tuyên bố: thành phố Urumqi là quê nhà của tôi ở Trung Quốc. Ngoài Urumqi, tôi không biết còn thành phố nào tốt bụng , rộng lượng và hào hiệp hơn trên hành tinh này.
Thông tấn Trung Quốc cũngủng hộ, và gửi gắm tình thương trong câu chuyện của chúng tôi.
Về Anh, tôi và Gobi sẽ không có ngày đoàn tụ nếu thiếu Lisa Anderson, người vừa chăm Lara vừa trông nom nhà cửa. Iona, Kris, Tony, và Gill chỉ là vài cái tên trong số những con người tuyệt vời đã giúp Lucja trong suốt thời gian tôi vắng nhà. Và Ross Lawrie, tôi chỉ có điều muốn nói với anh: Anh thật sự quá tuyệt!
Giới truyền thông đóng một phần quan trọng trong câu chuyện. Jonathan Brown từ Daily Mirror là phóng viên đầu tiên đưa câu chuyện đến báo giới, Judy Tait mang nó đến BBC Radio 5 Live và chủ xị Phil Williams luôn dõi theo chúng tôi từ những bước chân đầu tiên. Khác với tôi, họ nhìn câu chuyện ở nhiều góc độ và tiên phong mang câu chuyện đến với công chúng.
Cám ơn những nỗ lực vô giá từ BBC UK và World Ser vices, Christian DuChateau từ CNN, Amy Wang từ Washington Post, Deborah Hastings từ Inside Edition, Oliver Thring từ Times, Victor Ferreira đại diện cho Canadian Post, Nick Farrow và Steve Pennels đến từ Channel 7 Australia, Pip Tomson và Good Morning Britain của IT V, cũng như Eric Zane Show podcast.
Tôi xin chân thành cám ơn tất cả các ký giả, đài truyền hình và nhà đài đã giúp chúng tôi lan tỏa câu chuyện.
Cảm ơn những người đã ủng hộ tiền, để lại lời cổ vũ và cầu nguyện mỗi ngày cho chúng tôi. Họ không chỉ tin tưởng chúng tôi - mà còn biến những điều không thể thành có thể.
Tôi cũng xin cám ơn Winston Chao; Mark Webber (thuộc Đảng Tự do của Úc) vì đã đăng bài trên Twitter và Tiến sĩ Chris Brown vì sự trợ giúp, hiểu biết và hướng dẫn của ông. Richard Henson, xứng đáng là một người hùng , không quản ngại đường sá xa xôi đến Urumqi giúp đỡ tôi. Tommy Chen, kì phùng địch thủ, đại diện Đài Loan tham gia thi đấu. Huấn luyện viên Donnie Campbell với điệp khúc “một-hai-ba-một- hai-ba”; WAA Ultra Equipment vì đã tài trợ cho tôi. William Grant và Sons, những ông chủ độ lượng nhất mà ai cũng mong muốn được phụng sự. Tôi xin gửi lời cám ơn đến Công ty vận tải đường thủy DFDS Seaways, và hãng hàng không Air China.
Cuối cùng , tôi xin cám ơn Đội Dion và Gobi. Cám ơn cô gái bé bỏng của Quinn, Paul de Souza đã biến nguyện vọng của tôi thành hiện thực. Jay Kramer vì những nỗ lực, lời khuyên và kinh nghiệm quý báu của ông. Matt Baugher, người luôn tin tưởng và ủng hộ chúng tôi, cám ơn ông cùng đội ngũ W Publishing , Thomas Nelson, và HarperCollins vô cùng vì đã làm việc vất vả trước một deadline ngặt nghèo như thế. Cám ơn Craig Borlase vì đã nhìn nhận thành quả, dìu dắt và kiên trì cùng tôi hoàn thành cuốn sách này.