Đi Trốn

Lượt đọc: 1630 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6. ĐI TRỐN

Sau vụ học sinh trại sơ tán đốt kíp nổ, chỗ nào cũng thì thào chuyện súng, đạn và thuốc nổ của bộ đội bị đánh cắp. Có tin đồn trong quá trình vận chuyển vũ khí đem giấu, bọn biệt kích đánh rơi đạn và kíp nổ đầy vệ đường. Tất cả các đơn vị quân đội trong vùng được lệnh kiểm kê. Một số đơn vị báo cáo đạn và kíp nổ trong kho không khớp với sổ sách.

Trong thời chiến, mọi người đều được giác ngộ về tinh thần cảnh giác, giữ gìn bí mật. Phong trào “ba không” khởi nguồn từ kháng chiến chống Pháp vẫn phát huy tác dụng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Khi người lạ hỏi, tất cả đều trả lời “không nghe”, “không thấy”, “không biết”. Nhưng đó là cảnh giác với người ngoài, còn nội bộ thì khác. Trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã tường. Chả biết nguồn tin từ đâu, cán bộ điều tra sẽ về làm việc với trại vụ lấy trộm vũ khí, kíp nổ.

Tin đồn đến tai Sơn. Nó hớt hải chạy ngay lên Nhà Kỷ luật thông báo. Tự Thắng trấn an:

– Chắc họ điều tra vụ ăn cắp nào đó. Bọn mình chỉ lấy có mấy cái kíp nổ và đạn chứ có lấy vũ khí gì đâu.

Linh ngần ngừ một lúc rồi nói:

– Tao sợ họ không tìm thấy khẩu súng tao cất trong khe đá.

Tự Thắng ngạc nhiên:

– Thế hôm đó mày không trả súng vào chỗ cũ à?

– Khi tao đang tới chỗ để súng thì nghe có tiếng chân người. Vì vậy tao dúi khẩu súng vào khe và chạy luôn.

– Thế mà mày chả nói gì cả.

– Thì cũng coi như đã trả lại rồi, súng vẫn trong kho của họ.

– Nếu không tìm được khẩu súng, họ sẽ nghi ngờ bị biệt kích đột nhập lấy cắp và sẽ tiến hành điều tra. Bây giờ có nhiều gián điệp, biệt kích được tung ra miền Bắc lắm.

Việt Bắc nói:

– Nếu họ phát hiện bọn mày đột nhập kho quân sự, ăn cắp súng, đạn, kíp nổ thì lôi thôi to.

Sơn tỏ ra lo lắng:

– Hồi cải cách ruộng đất bố tao bị bắt giam. Dù đã được minh oan, nhưng cán bộ ở xã vẫn thành kiến. Nay tao mắc tội dẫn bọn mày đi ăn cắp vũ khí của quân đội, bố con tao chắc khó mà yên thân.

Hoài Nam hỏi:

– Bố mày là địa chủ à?

– Bố tao bị nghi là Việt gian, Quốc dân Đảng, nhưng sau đó được minh oan.

– Như thế là nhà mày thuộc loại đã có vấn đề. Nếu bị bắt, bọn tao con em cán bộ, cũng chỉ đến kỷ luật vì tội nghịch súng đạn là cùng. Bố con mày kiểu gì cũng bị kết tội ăn cắp vũ khí quân đội. Đi tù là cái chắc!

Tự Thắng nói ngay:

– Nếu họ phát hiện, tao sẽ nhận tất cả tội về mình, không để ảnh hưởng đến mọi người.

Linh phản đối:

– Vụ đốt kíp nổ mày đã gánh hết rồi. Hơn nữa súng do tao lấy. Vụ này để tao nhận.

Hoài Nam bĩu môi:

– Nếu nghi ngờ, quân đội sẽ bắt giam cả lũ. Vào đến đó, đừng tưởng thích khai thế nào cũng được. Nhận linh tinh lại thêm tội thiếu thành khẩn.

Sơn ngập ngừng:

– Mình nhờ cái Thảo… xin hộ được không?

Tự Thắng ngạc nhiên:

– Nó thì liên quan gì đến chuyện này mà xin với xỏ.

– Tao nhìn thấy nó đi xe com măng ca vào cái kho bọn mình lấy trộm đạn cùng chú Chính trị viên. Chú ấy là lính cũ của bố nó.

Tự Thắng thắc mắc:

– Nó vào kho đó làm gì nhỉ?

– Nó đi lấy củi với con bác chủ nhà, gặp xe chú Chính trị viên nên xin đi nhờ. Trên đường về chú tạt qua kho. Chắc để lĩnh vũ khí.

Việt Bắc tán thành:

– Đúng rồi. Bảo nó nhận cùng đi ăn trộm đạn với bọn mày để làm tàu vũ trụ, rồi chỉ cho chú ấy chỗ thằng Linh cất khẩu súng, thế là xong. Không đời nào chú Chính trị viên lại bắt con thủ trưởng của mình đi tù.

Hoài Nam cười khẩy:

– Chúng mày có biết thế nào là “quân pháp bất vị thân” không? Nếu đã có tội thì tướng họ cũng bắt.

Tự Thắng liếc Hoài Nam và gật đầu:

– Tao nghĩ chuyện này không nên để cái Thảo dính vào.

Linh nói:

– Đơn vị này sắp vào Nam. Hôm vừa rồi chú Chính trị viên về Hà Nội thăm nhà, hỏi cái Thảo có viết thư cho má không để chú chuyển giúp. Giờ này họ đang chuẩn bị hành quân, chắc không có thời gian điều tra bọn mình đâu.

Điều Tự Thắng lo nhất là có chuyện gì xảy ra cho gia đình Sơn. Ba luôn dặn nó: “Người dân ở nông thôn tuy nghèo nhưng chất phác và tốt bụng. Khi xảy ra chiến tranh, họ luôn sẵn lòng giúp đỡ, chia sẻ nhà cửa với mình. Con hãy cố gắng sống làm sao để mọi người ở đó quý mến. Nhớ tuyệt đối không được làm điều gì ảnh hưởng tới gia đình chủ nhà.” Tự Thắng vô cùng áy náy. Nó chợt nảy ra một ý:

– Hay là bọn mình đi trốn. Các chú bộ đội sẽ chẳng thể làm gì nhà thằng Sơn nếu họ không tìm được bọn mình.

Việt Bắc hỏi:

– Thế đi trốn tới khi nào?

– Tới khi đơn vị bộ đội và kho tàng của họ chuyển đi hết mình lại về.

Hoài Nam góp ý:

– Muốn trốn thì phải trốn luôn. Nếu trốn sau khi họ đã tiến hành điều tra, sẽ bị họ nghi ngờ.

Việt Bắc vẫn tỏ ra lo lắng:

– Nhưng biết trốn đi đâu?

Sơn ngập ngừng:

– Vào Hồ Mây trốn… Chỉ có tao và thằng Sính biết chỗ này. Chúng tao vẫn vào đó đi săn. Hồ Mây đẹp và có nhiều chim lắm.

Tự Thắng đã được nghe Sơn kể về Hồ Mây nên đồng ý ngay. Nó hỏi Hoài Nam:

– Mày có đi với bọn tao không?

Linh ngạc nhiên:

– Nó có liên quan gì tới vụ của bọn mình đâu mà phải đi trốn?

Đời nào Hoài Nam chịu ở lại. Nó lườm Linh:

– Bọn mày đi trốn thi tao cũng phải đi trốn. Tao ở lại, bị điều tra lại mất công khai ra bọn mày.

Tự Thắng quyết định:

– Vậy sáng mai bọn mình trốn luôn.

Không ai phản đối. Nhìn mặt ba đứa, Tự Thắng thấy thằng nào cũng tỏ ra thích trò đi trốn. Nó bảo Sơn:

– Mày mượn súng của thằng Sính, mang vào Hồ Mây để săn nhé. Cầm theo tất cả chỗ đạn tao đưa mày cất.

– Từ ngày bố thằng Sính mất, lấy súng lúc nào cũng được. Nhưng mình sẽ phải cho nó một viên đạn.

Tự Thắng gật đầu:

– Cho hai viên luôn!

Nghĩ đến cảnh sắp thoát khỏi Nhà Kỷ luật, cùng nhau bước vào một cuộc phiêu lưu, đứa nào cũng thấy phấn khích. Chúng rì rầm bàn hết chuyện nọ tới chuyện kia cho tới khi thầy Khải sang đuổi Sơn về và bắt tất cả đi ngủ.

Sáng sớm tinh mơ, trong màn sương mờ đục, Tự Thắng, Việt Bắc, Linh và Hoài Nam lặng lẽ chuồn khỏi Nhà Kỷ luật. Sơn đã đợi sẵn ở chỗ cái miếu. Sau hơn hai giờ men theo những lối đi heo hút, năm đứa tới một hồ nước trong xanh. Việt Bắc vừa thở vừa hỏi:

– Đây là Hồ Mây à?

– Không, đây là Hồ Thanh Long. Đằng kia là núi Bạch Hổ. Chờ tao đi lấy bè nhé.

Sơn đi về phía lùm cây phía xa. Một lúc sau, nó trở lại trên một chiếc bè nhỏ và nói:

– Cái bè này nhỏ, không chở nổi 5 đứa đâu, phải đi làm hai chuyến. Bọn mình sẽ xuyên qua núi Bạch Hổ.

Nhìn vách núi dựng đứng, Tự Thắng ngạc nhiên:

– Làm sao mà xuyên được?

– Phải chui qua hang Le Le.

– Tao có thấy hang nào đâu?

– Ai cũng thấy thì còn gì là bí mật. Cửa hang khuất sau tảng đá, trông giống như chiếc khánh, phía đằng kia. Bây giờ tao chở Linh và Tự Thắng vào trước rồi quay ra đón Việt Bắc và Hoài Nam.

Chiếc bè chui vào một cửa hang nhỏ và thấp. Nhìn bên ngoài, không ai nghĩ đó là cái hang. Sơn kể:

– Thằng Sính tìm ra hang này khi đuổi theo con ngỗng trời. Nó bơi vào trong một đoạn thì gặp bức tường chắn ngang. Sau này thằng Sính phát hiện mỗi khi mưa lớn, trong hang có lá cây và những cánh hoa trôi ra. Nghi hang thông với một vùng nước khác, nó rủ tao vào xem thế nào.

Vào bên trong một đoạn ngắn, ba đứa gặp bức tường đá chắn ngang, chỉ có một khe nhỏ để chiếc bè lách qua. Sơn nói:

– Đây là chỗ thằng Sính tưởng hang bị cụt. Thực ra đó là thạch nhũ từ trên buông xuống, tạo thành một bức tường. Cái ngách bọn mình qua là chỗ nhũ buông ít nhất. Tháng Tám lũ về, nước ngập tới trần hang. Tháng Mười hai âm lịch là lúc mực nước trong hang thấp nhất.

Tự Thắng rọi đèn về phía trước. Có những chỗ trần hang thấp đến nỗi ba đứa gần như phải nằm rạp xuống bè. Càng đi vào trong càng rộng. Có rất nhiều thạch nhũ óng ánh, hình thù kỳ dị. Linh và Tự Thắng thi nhau tưởng tượng, từ vòi voi, đầu sư tử đến mỏ đại bàng, từ Tôn Ngộ Không đến đầu ông Bụt… Nhũ đá in bóng dưới nước, giống như một khu rừng kỳ ảo. Khi bè lướt qua, tất cả chòng chành, tan biến và những khu rừng mới lại xuất hiện trước mũi bè. Sơn nói:

– Mỗi lần vào hang, tao chỉ đốt một chiếc đèn bão nhỏ, có hôm bắt đom đóm bỏ vào chai để lấy sáng. Hôm nay có đèn pin mới thấy hang đẹp quá. Nhưng chỗ này tao có thể chèo không cần đèn rồi. Tắt đi để đỡ tốn pin.

Hang bắt đầu nhờ nhờ sáng. Qua hai khúc ngoặt, ba đứa rơi vào một vùng nắng rực rỡ. Linh và Tự Thắng sững sờ. Trước mặt chúng là một hồ nước, có màu rất lạ. Bên dưới rong xanh ngắt, điểm xuyết các cụm màu vàng, màu cam, màu đỏ, khiến con bè như đang lướt trên một vườn hoa. Từng tốp chim màu xám, cỡ bằng nắm tay, trông như lũ vịt con nhởn nhơ bơi. Thỉnh thoảng chúng lại vỗ cánh, co chân chạy lướt trên mặt nước rồi bất thình lình vục đầu lặn mất hút như đang chơi trốn tìm. Tự Thắng hỏi:

– Những con kia là vịt trời à?

– Không, đó là chim le le. Những con màu sáng là chim non, những con già màu sẫm. Loài chim này không chỉ biết bay, bơi, mà còn biết lặn và chạy trên mặt nước nữa.

Linh nhận xét:

– Bọn này kiêm luôn cả hải, lục, không quân. Bộ đội mình mà được như chúng nó, đảm bảo đánh đâu thắng đó.

– Hôm nay le le ít. Lần trước tao vào nhiều lắm.

Tự Thắng tấm tắc:

– Hồ Mây đẹp quá.

Sơn có vẻ tự hào:

– Đây mới là hồ Le Le. Tất cả tên các hồ, các hang trong này đều do tao và thằng Sính đặt.

Linh hỏi:

– Thế Hồ Mây ở đâu?

– Mình phải bơi xuyên qua một cái hang nữa mới tới.

Sơn chỉ cho Linh một cái hang lấp ló phía xa. Gần đấy, trên vách đá cheo leo, có một con vật to lớn, cặp sừng đen nhánh vểnh lên rất oai vệ. Sơn nói:

– Sơn dương đấy. Trong Hồ Mây có rất nhiều sơn dương.

Hồ Mây nằm lọt giữa ba bề núi đá, phía bắc tiếp giáp với rừng nguyên sinh, đằng sau rừng vẫn trập trùng núi đá. Những vách đá dựng đứng bao quanh đã ngăn cách Hồ Mây với thế giới bên ngoài… Mây trắng bồng bềnh cùng những triền hoa rực rỡ từ vách núi chen nhau soi bóng xuống hồ, tạo nên những thảm màu trắng, vàng, đỏ, tím lung linh. Chiếc bè đi vào dòng sông nhỏ nằm giữa đảo và một dải đất hẹp ven núi. Nhiều lúc bè phải luồn bên dưới những bộ rễ cổ thụ mốc thếch vắt ngang. Những hòn đá mồ côi rải rác trên sông, hòn trông như mẹ bồng con, hòn giống rùa rụt cổ, hòn nhìn từa tựa cánh buồm… Tán cây hai bờ giao nhau, tạo nên một vùng tối sẫm. Những tia nắng li ti xuyên qua kẽ lá, nhảy múa trên mặt nước. Cả không gian mênh mang chìm trong tĩnh lặng.

Đột nhiên, từ trên cao có những tiếng khách khách khách khách… vang vọng cả khu rừng, những âm thanh cao và chói, ríu rít như ai đó đang cười. Sơn mừng rỡ:

– Cụ Phượng!

Linh và Tự Thắng nhìn lên, nhưng chỉ thấy vòm lá xanh kín mít. Sơn chèo bè nhanh về phía trước, vừa chèo vừa nói:

– Cụ Phượng là chim phượng hoàng. Im lặng nhé, để tao dừng bè lại… Số chúng mày phải may lắm nên hôm nay mới được gặp Cụ.

Theo hướng Sơn chỉ, một đôi chim rất đẹp, sải cánh rộng hơn người dang tay, mình đen, đuôi có những khoang trắng đang sà xuống ngọn cây. Những cái mỏ to và dài của chúng trông rất ấn tượng. Một con mỏ trắng ngà, một con mỏ da cam. Đặc biệt, phía trên mỏ có một chiếc sừng cong, màu vàng tươi pha đỏ, trông như bông hoa chuối rừng. Linh thích quá, bảo Sơn:

– Hôm nào mình bắn một con ăn thịt. Tao vẫn nghe người ta nói “nem công chả phượng”. Chắc thịt con này ngon lắm.

Sơn đưa tay lên miệng, “suỵt” một tiếng:

– Mày nói khẽ thôi, Cụ nghe thấy thì chết.

Linh ngạc nhiên:

– Sao mà chết?

– Cụ Phượng là chim thần. Cụ ra đây để dẫn đường cho bọn mình. Lần trước nhờ Cụ chỉ, tao và thằng Sính mới tới được động Người Xưa. Lạy Cụ đi, để Cụ còn chỉ lối cho.

– Chim làm sao là thần được. Mày chỉ mê tín dị đoan.

Sơn cau mặt:

– Mày không tin thì thôi, đừng nói vớ vẩn, có ngày chết toi.

Tự Thắng hỏi:

– Cụ Phượng đến Hồ Mây làm gì?

– Trong khu rừng này có nhiều loại quả các Cụ thích: dâu da, nhãn, xà cừ rừng, quả gáo, quả sanh, quả si, quả vải, quả bùi, quả trám… Cụ ăn cả cá nữa.

Trong những quả Sơn kể, Tự Thắng biết mỗi quả nhãn và quả trám. Nó lắc đầu:

– Vậy thì không phải là thần rồi. Thần gì mà ăn vớ ăn vẩn thế.

– Mày đừng có mà báng bổ. Lần trước vì hiểu nhầm thằng Sính, một Cụ dùng mỏ kẹp suýt gãy cổ tay nó. Mày nhìn mỏ Cụ xem. Quả xà cừ rắn thế mà Cụ chỉ kẹp nhẹ là vỡ làm đôi. Đứa nào nói lăng nhăng, Cụ vật cho chết.

Lần đầu tiên Tự Thắng thấy Sơn tỏ vẻ khó chịu ra mặt. Nó chợt nhớ tới cuộc nói chuyện về thần linh với ba trong một lần đi săn. Khi được ba dẫn vào đền thắp hương, nó hỏi:

– Mình cầu xin thần linh cho săn được nhiều chim hả ba?

– Muốn săn được nhiều chim phải bắn giỏi. Hơn nữa, chắc gì đã có thần linh mà cầu xin.

– Nếu không có thần linh, sao ba còn vào đền thắp hương?

Ba lúng túng một lát rồi giải thích:

– Khi qua đền, chùa ba vẫn vào thắp hương. Đó là những nơi giúp cho con người tĩnh tâm và tin vào điều thiện. Ba không tin thần linh nhưng có rất nhiều người tin, và ba tôn trọng. Đó là vấn đề tín ngưỡng.

– Tín ngưỡng có phải là mê tín dị đoan không ba?

– Tín ngưỡng là niềm tin tôn giáo. Việc tin vào trời, Phật là tự do tín ngưỡng của mỗi người. Nếu ba không tin thần linh, đó là quyền của ba. Người khác tin là quyền của họ.

Tuy Tự Thắng không hiểu hết những điều ba nói, nhưng nó cảm nhận chính ba cũng có vẻ không chắc lắm về việc có thần linh hay không. Hơn nữa, lúc này cả bọn đang nhờ cậy Sơn, vì vậy, nó chắp hai tay hướng lên trời “lạy Cụ” cho xong chuyện. Linh thấy vậy cũng “lạy Cụ” theo, nhưng cặp mắt nó vẫn nhìn đôi chim hau háu. Khi Linh muốn cái gì, nhìn mặt biết ngay. Chắc chắn nó đang nghĩ cách bắt một Cụ nướng chả, để xem “chả phượng” ngon cỡ nào.

Sơn chèo bè theo hai Cụ Phượng. Đôi chim bay được một đoạn ngắn lại dừng, đợi ba đứa tới mới bay tiếp. Nhìn cái cây hai Cụ đậu lại trước khi vỗ cánh bay về khu rừng phía bắc, Sơn lẩm bẩm: “Vậy là các Cụ bảo mình tới trạm dừng chân.” Nó cập bè vào bờ, đưa con dao quắm cho Linh.

– Tao quay lại đón hai thằng kia. Mày chặt lấy mấy cái gậy làm vũ khí. Ở rừng lúc nào cũng nên đề phòng.

– Dài bao nhiêu thì vừa?

– Thấy vừa tay là được. Chọn cho thằng Việt Bắc cây to nhất.

Tự Thẳng cười hì hì:

– Cái thằng béo bệu ấy thì gậy to cũng chẳng để làm gì.

Hai đứa đi tìm những cây vừa tay làm vũ khí. Cũng mất khá nhiều thời gian, vì Linh muốn kiếm những cây vừa rắn, vừa dẻo. Riêng cây chọn cho mình, nó đẽo nhọn một đầu. Khi Sơn chở Việt Bắc và Hoài Nam tới, cả bọn men theo một lối nhỏ và dốc lên “trạm dừng chân”. Đó là một cái hang ở độ cao chừng hai chục mét so với mặt hồ. Cửa hang quay về hướng đông. Bên trong có một phiến đá phẳng. Sơn nói:

– Bọn mày ngủ ở chỗ này.

Nó chỉ cho bốn đứa đống củi khô xếp bên những tảng đá quây thành bếp và dặn:

Tối đốt lửa cho ấm.”

Ngoài dao, đèn pin, chăn, võng, khăn mặt và quần áo, những thứ mang theo còn có một mảnh nilon, bốn cái bát sắt, non nửa bao diêm, ba thanh lương khô, sáu cái kẹo… Trong cái bao dùng đựng rắn của Sơn có một ít gạo, muối, mấy sợi dây câu, hai cục đá… Sơn mang theo cả cái mũ sắt cũ, nhà nó vẫn dùng làm cối giã cua, và con gà mái đã bị vặn cổ.

– Mày ăn trộm gà nhà ai thế?

– Gà nhà tao. Coi như nó bị cáo vồ. Lần đầu bọn mày vào Hồ Mây, phải có cái gì đó ăn mừng.

Bốn đứa ngồi xem Sơn lấy lửa. Nó dùng hai cục đá đập mạnh vào nhau. Những tia lửa li ti bắt sang mớ bùi nhùi được chà xát nóng. Sơn dùng bùn vừa lấy dưới hồ bọc kín con gà, vùi xuống dưới lớp than gio cháy đỏ. Khi gỡ lớp bùn, lông gà long ra từng mảng. Con gà béo vàng, nước mỡ chảy sóng sánh trong bụng. Lần đầu tiên những đứa ở trại sơ tán được chứng kiến kiểu nướng gà bằng bùn.

Ăn xong, Sơn nhặt chỗ lông gà, men theo vách đá đi vào bên trong, ném xuống. Sau đó, nó lấy một cành củi cắm vào khe đá và nói:

– Chúng mày nhớ không được đi quá chỗ này. Phía trước có một cái hang sâu lắm. Trượt chân ngã xuống là chết toi.

Việt Bắc gạ:

– Mày ở đây cùng bọn tao đêm nay nhé.

– Không được. Bọn mày bỏ trốn, nếu tao không về sẽ bị nghi ngờ. Mai tao lại vào đây với bọn mày.

Tự Thắng dặn:

– Mày về nhớ thám thính xem tình hình ở trại thế nào nhé.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của bình ca