Địch Công Kỳ Án - Đạo Quán Có Ma

Lượt đọc: 6446 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi 9
cố đạo trưởng viên tịch bất tường địch huyện quan gặp sự chẳng lành

Họ cùng bước xuống cầu thang xoắn ốc lạnh ẩm. Bước vào nhà ăn ở lầu trệt, Địch Nhân Kiệt mừng rỡ khi thấy gian phòng thật ấm áp nhờ vô số chậu sưởi.

Viên giám viện mập lùn chạy đến nghênh đón họ, mắt chớp chớp đầy lo lắng, lắp ba lắp bắp bái kiến Tôn Thiên sư lẫn Địch Nhân Kiệt. Ông ta dẫn họ đến bàn chính nằm ở cuối phòng ăn, đạo trưởng đang ngồi chờ ở đó. Địch Nhân Kiệt ngỏ ý mời Tôn Thiên sư an tọa phía bên phải đạo trưởng. Thiên sư liền phản đối, viện cớ mình không có quan phẩm mà chỉ là một học giả đã hồi hưu, chỗ ngồi danh dự phải thuộc về một lệnh quan triều đình như Địch huyện lệnh mới phải. Cuối cùng Địch Nhân Kiệt bất đắc dĩ phải đồng ý, cả ba người cùng ngồi xuống. Viên giám viện, đạo sĩ phát chẩn và Tông Lê an tọa tại chiếc bàn nhỏ hơn bên cạnh.

Đạo trưởng nâng chén kính hai vị thượng khách cùng bàn. Đây là dấu hiệu để các đạo sĩ ngồi ở bốn chiếc bàn phía trước được phép cầm đũa và buổi tiệc bắt đầu. Địch Nhân Kiệt nhận ra Quan Lại cùng thê tử và hai ả đào đang ngồi tại một bàn riêng gần lối ra vào sảnh, Đào Cam cũng đang ngồi cùng họ nhưng không thấy Mặc Đức đâu cả.

Địch Nhân Kiệt nghi ngại nhìn chằm chằm vào món cá rán nguội ngắt mà đạo trưởng gắp cho ông. Bát xôi kỷ tử trông chẳng có gì hấp dẫn. Ông không muốn động đũa cho lắm. Để che giấu cảm giác của mình, Địch Nhân Kiệt mở lời, “Bản quan cứ nghĩ đạo giáo cấm các món thịt cá?”

“Bẩm đại nhân, chúng bần đạo luôn nghiêm khắc tuân theo giới luật của bổn giáo,” đạo trưởng mỉm cười. “Chúng bần đạo không nếm một giọt rượu nào cả, cái chén trên tay bần đạo chứa đầy trà. Tất nhiên chén của ngài là ngoại lệ! Khách nhân có thể dùng rượu, nhưng các món ăn ở đây thì phải tuyệt đối chay tịnh. Thực ra món cá rán này được làm bằng đậu phụ nhự, còn món gà quay đằng kia được nhào từ bột và dầu mè.”

Địch Nhân Kiệt chưng hửng. Tuy không quá kén ăn nhưng ít nhất ông phải biết mình đang bỏ thứ gì vào miệng. Ông cố gắng nếm một miếng cá chao và suýt thì mắc nghẹn. Ngó thấy vẻ mặt háo hức của đạo trưởng, ông đành nói nhanh, “Quả là mỹ vị, đầu bếp nơi này thực có nghề!”

Địch Nhân Kiệt uống một hơi cạn chén rượu, thứ rượu nếp hâm nóng này cũng không tệ. Con cá chay trong bát ngước đôi mắt mận khô thê lương nhìn ông. Không hiểu sao Địch Nhân Kiệt lại liên tưởng đến vị đạo trưởng quá cố đã được ướp xác, đoạn quay sang đạo trưởng đương nhiệm, “Sau buổi tiệc, bản quan muốn đi thăm thú cả thượng điện. Nhân tiện, ta cũng muốn xuống địa cung nơi biệt điện để tỏ chút lòng thành trước Ngọc Kính Chân nhân.”

Đạo trưởng đặt bát xôi xuống và chậm rãi nói, “Bẩm, bần đạo rất sẵn lòng đưa đại nhân đi thăm viếng khu biệt điện. Nhưng thật không may, địa cung chỉ mở vài ngày nhất định vào mùa khô mà thôi. Không khí ẩm ướt ngày hôm nay có thể ùa vào và ảnh hưởng xấu đến pháp thể của cố đạo trưởng. Tất nhiên lục phủ đã được lấy ra khỏi nhục thân từ trước, nhưng ngũ tạng còn lại vẫn có thể bị thối rữa.”

Nghe xong, chút hứng thú ăn uống Địch Nhân Kiệt đang cố khơi gợi lập tức tiêu tan. Ông vội vàng uống cạn một chén rượu nữa. Dải băng quấn thuốc giúp cơn nhức đầu thuyên giảm phần nào, nhưng mình mẩy vẫn còn đau nhức, Địch Nhân Kiệt cảm thấy bệnh tình chưa thuyên giảm lắm. Ông ghen tỵ nhìn Tôn Thiên sư đang ăn rất ngon miệng.

Dùng bữa xong, Thiên sư lau miệng bằng một cái khăn nóng do tiểu đồng dâng lên, rồi nói, “Ngọc Kính chân nhân, cố đạo trưởng đáng kính của Triều Vân quán, là một con người tài hoa. Ngài thông hiểu tất cả những cuốn sách thâm thuý nhất, thư pháp của ngài như rồng bay phượng múa và ngài là một thượng phẩm họa sĩ chuyên về hoa cỏ muông thú.”

“Vãn bối có lòng mong được chiêm ngưỡng những tuyệt phẩm đó,” Địch Nhân Kiệt lễ độ thưa. “Hẳn thư phòng vẫn còn lưu giữ các tác phẩm của ngài chăng?”

“Bẩm đại nhân, tiếc là không,” đạo trưởng đáp, “trước khi quy tiên, ngài ấy có trăng trối lại rằng các bức thư pháp và họa phẩm phải được táng theo.”

“Đức khiêm nhường thật đáng khâm phục!” Tôn Thiên sư tán thưởng. “Địch huyện lệnh, hiện giờ chúng ta còn giữ bức họa cuối cùng mà ngài vẽ con mèo của mình. Sau bữa tiệc, ta sẽ dẫn ngươi đến sảnh bên của thượng điện để chiêm ngưỡng nó!”

Địch Nhân Kiệt không mấy mặn mà với con mèo của cố đạo trưởng hay bầu không khí lạnh lẽo nơi sảnh bên, nhưng ông vẫn lẩm bẩm đáp rằng đó là vinh hạnh của mình.

Tôn Thiên sư và đạo trưởng bắt đầu thưởng thức món canh sền sệt màu nâu với vẻ khoái khẩu. Địch Nhân Kiệt nghi ngại dùng đũa gắp mấy miếng thức ăn mà ông không rõ là gì đang nổi trên bề mặt bát canh, không đủ dũng khí để nếm nước dùng. Sau một hồi cố gắng suy nghĩ để trò chuyện thêm về vài chủ đề khác, cuối cùng ông cũng nghĩ ra mấy câu hỏi khôn khéo về tôn ti phép tắc trong đạo quán. Nhưng có vẻ đạo trưởng không mấy thoải mái, ông ta đáp lại bằng những câu trả lời hết sức ngắn gọn.

Địch Nhân Kiệt cảm thấy nhẹ nhõm khi viên giám viện, đạo sĩ phát chẩn và Tông Lê tới mời rượu. Địch Nhân Kiệt cũng đứng dậy và qua bàn họ đáp lễ. Ông ngồi đối diện với thi sĩ trẻ, có vẻ như y đã uống khá nhiều, mặt đỏ gay, trông ngà ngà say. Viên giám viện báo rằng hai đạo đồng đã thay xong trục xe, giám mã đã tắm rửa và chăm sóc cho lũ ngựa. Như vậy, những vị khách quý có thể rời khỏi đạo quán vào sáng hôm sau. Tất nhiên trừ khi Địch Nhân Kiệt quyết định kéo dài thời gian ở lại đây, đó quả thực cũng là niềm vinh dự của đạo quán.

Địch Nhân Kiệt nhiệt thành đa tạ khiến viên giám viện lúng túng. Rồi ông ta đứng lên và cáo lỗi, xin phép được cùng đạo sĩ phát chẩn đi chuẩn bị cho giờ niệm tối.

Khi chỉ còn một mình với thi sĩ, Địch Nhân Kiệt thắc mắc, “Sao ta không trông thấy Bao phu nhân và lệnh ái ở đây?”

“Lệnh ái ư?” Tông Lê giọng líu lại vì uống nhiều. “Đại nhân thực sự tin rằng một thiếu nữ mảnh mai tao nhã thế kia lại là lệnh ái của một phu nhân phì nộn thô kệch như vậy?”

“À,” Địch Nhân Kiệt hờ hững đáp, “đôi khi thời gian gây ra những thay đổi nghiệt ngã.”

Thi sĩ trẻ bắt đầu nấc lên, “Xin đại nhân thứ lỗi! Họ đang chuốc độc tiểu sinh bằng mấy món ăn chết giẫm này. Nó khiến bụng tiểu sinh nôn nao. Đại nhân, để tiểu sinh nói cho ngài nghe, mẹ cú thì sao đẻ được con tiên?”

Đung đưa ngón tay trỏ ra hiệu, y hỏi Địch Nhân Kiệt với vẻ bí mật, “Đại nhân có chắc thiếu nữ tội nghiệp đó không bị cưỡng ép thành đạo cô?”

“Ta không chắc,” Địch Nhân Kiệt đáp, “nhưng ta sẽ hỏi nàng. Hiện giờ họ ở đâu?”

“Có thể họ đang dùng bữa trong buồng riêng. Cũng cần phải thận trọng chứ, một thiếu nữ đoan trang như vậy không nên phơi mặt trước ánh mắt hau háu của lũ đạo sĩ nơi đây. Lần này quả thật Bao thị đã hành xử rất sáng suốt!”

“Tiếc là phu nhân đã không che chắn được tiểu thư trước con mắt hau háu của ngươi!”

Thi sĩ chật vật đứng thẳng dậy, khề khà tuyên bố, “Bẩm đại nhân, ý định của tiểu sinh vô cùng đường hoàng và nghiêm túc!”

“Được vậy thì tốt!” Địch Nhân Kiệt khô khan nói. “Tiện thể, ta muốn đến địa cung bên dưới tiểu điện. Nhưng đạo trưởng lại nói đây không phải lúc thích hợp để thăm viếng.”

Tông Lê hướng đôi mắt lờ đờ nhìn Địch Nhân Kiệt hồi lâu rồi hỏi, “Ông ta bảo ngài như vậy ư?”

“Ngươi đã xuống dưới đó chưa?”

Thi sĩ trẻ liếc nhanh đạo trưởng rồi hạ giọng thì thầm, “Bẩm đại nhân, tiểu sinh tuy chưa tới đó nhưng nhất định sẽ đi! Tiểu sinh cho rằng cố đạo trưởng đã bị đầu độc như cách mà họ đang chuốc độc chúng ta bây giờ. Đại nhân hãy lưu ý tới lời tiểu sinh!”

“Ngươi say quá rồi!” Địch Nhân Kiệt khinh khỉnh nhận xét.

“Tiểu sinh không phủ nhận điều đó!” thi sĩ điềm nhiên đáp. “Đó là cách duy nhất để giữ tỉnh táo giữa cái nhà mồ này. Nhưng tiểu sinh xin nói cho đại nhân hay, cố đạo trưởng không hề say rượu lúc viết cho thân phụ của tiểu sinh lá thư cuối cùng trước khi ngài viên tịch, à xin đại nhân thứ lỗi, trước khi ngài vũ hóa.”

Địch Nhân Kiệt nhướng mày, “Cố đạo trưởng nói rằng mình đang gặp nguy hiểm đến tính mạng à?”

Tông Lê gật đầu, ngửa cổ dốc cạn một chén rượu nữa.

“Ngài có tiết lộ là kẻ nào đe dọa mình không?” Địch Nhân Kiệt tiếp tục hỏi.

Thi sĩ dằn mạnh chén rượu xuống bàn và lắc đầu khinh khỉnh, “Đại nhân đừng cố dụ dỗ để tiểu sinh mắc tội vu khống, tiểu sinh nắm rõ vương pháp lắm!”

Vươn người về phía Địch Nhân Kiệt, y thì thầm bí mật, “Mong đại nhân hãy chờ cho đến khi tiểu sinh thu thập đủ bằng chứng.”

Địch Nhân Kiệt im lặng vuốt râu. Tay thanh niên lỗ mãng này lại là lệnh lang của một quý nhân được các quan viên và học giả kính trọng hết mực. Nếu quả thực trước khi viên tịch, cố đạo trưởng đã viết một lá thư như thế cho Tông học sĩ, vấn đề này cần phải được điều tra thêm.

Huyện lệnh hỏi tiếp, “Vậy Chân Trí đạo trưởng nói gì?”

Tông Lê cười ranh mãnh, ngước đôi mắt ướt nhìn Địch Nhân Kiệt. “Đại nhân hãy tự đi mà hỏi ông ta! Có thể ông ta sẽ không nói dối ngài đâu!”

Địch Nhân Kiệt đứng dậy. Tay thanh niên say bí tỉ rồi.

Lúc ông trở về bàn của mình, đạo trưởng chua xót nói, “Thưa, Tông Lê công tử lại say sưa nữa rồi, thật khác một trời một vực so với lệnh phụ quá cố của y!”

“Bản quan được biết Tông học sĩ chính là đại thí chủ cho đạo quán,” Địch Nhân Kiệt vừa nói vừa nhấp chén trà đặc cuối bữa.

“Dạ bẩm, đúng là vậy,” đạo trưởng đáp. “Tông gia rất đặc biệt! Tổ phụ y xuất thân là phu dịch trong một ngôi làng phía nam. Cụ thường núp dưới cửa sổ lớp học của thầy đồ, dùng que vạch chữ lên cát để học viết. Sau khi cụ vượt qua kỳ thi Hương, một vài vị chưởng quỹ hảo tâm cảm phục sự hiếu học của cụ mà quyên góp ngân lượng để cụ tiếp tục học. Nhờ thế mà cụ đỗ trạng nguyên và được bổ nhiệm làm huyện lệnh, rồi thành thân với một thiếu nữ xuất thân từ một danh gia vọng tộc đã sa sút. Tông học sĩ là trưởng nam của cụ, sau khi vượt qua tất cả các kỳ thi đã thành gia lập thất với lệnh ái của một thương gia buôn trà giàu có, rồi thăng tiến đến chức Tuần phủ. Ông dùng tiền của mình một cách hữu ích và tạo nên một danh môn đáng kính.”

“Trọng dụng nhân tài không kể xuất thân bần hàn, Đại Đường sẽ phồn vinh mãi mãi,” Địch Nhân Kiệt hài lòng nói. “Quay trở lại với câu chuyện của cố đạo trưởng, ngài ấy đã viên tịch vì bệnh gì vậy?”

Đạo trưởng đặt chén rượu xuống, chậm rãi đáp, “Bẩm đại nhân, Ngọc Kính Chân nhân không viên tịch vì bệnh tật. Tự cảm thấy khí số đã tận, ngài ấy quyết định rời khỏi cõi tạm này để thăng thiên vào cõi thượng tiên, trong khi thân thể vẫn cường tráng và tinh thần còn minh mẫn. Đó là một cảnh tượng diệu kỳ trước mắt những đệ tử may mắn ở bên Ngọc Kính Chân nhân trong thời khắc ngài ấy vũ hóa.”

“Một trải nghiệm thực sự khó quên, Địch huyện lệnh ạ!” Tôn Minh Thiên sư nói thêm. “Ta cũng có mặt ở đó. Sau khi cho triệu tập tất cả các cao tầng đạo sĩ, cố đạo trưởng ngồi trên ghế cao và thuyết pháp liên tục trong gần một canh giờ. Rồi ngài ấy nhẹ nhàng khoanh tay, nhắm mắt và vũ hóa.”

Địch Nhân Kiệt gật gù, trong lòng thầm nghĩ tay thanh niên ngông cuồng kia đã bị rượu làm cho điên đảo đầu óc, hoặc y chỉ đang nhắc lại những tin đồn thất thiệt, “Một kỳ cảnh như thế có thể kích động lòng đố kỵ của các giáo phái khác. Tưởng tượng mà xem, đám Phật tử hẳn sẽ bóp méo nó để truyền bá những tin đồn ác ý thế nào.”

“Chắc chắn bần đạo sẽ không bỏ qua cho chúng!” đạo trưởng thốt lên.

“Dù sao đi nữa,” Địch Nhân Kiệt nói tiếp, “nếu những kẻ ác tâm có đưa ra những lời cáo buộc vu khống, chỉ cần một cuộc nghiệm thi là mọi chuyện sẽ sáng tỏ. Ngỗ tác có thể phát hiện bất cứ dấu vết vũ lực nào, kể cả trên xác ướp.”

“Mong rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra!” Tôn Thiên sư vui vẻ nói. “Ồ, đã đến lúc ta trở về thư phòng rồi!”

Ngài đứng lên và nói thêm với Địch Nhân Kiệt, “Địch huyện lệnh, như đã hứa, ta sẽ đưa ngươi đi chiêm ngưỡng bức họa con mèo của cố đạo trưởng trước. Bức họa gần như là một thánh tích của thượng điện!”

Địch Nhân Kiệt nén tiếng thở dài, cảm tạ Chân Trí đạo trưởng về bữa tiệc xa hoa, rồi theo Tôn Thiên sư trở ra. Lúc đi ngang qua bàn của các đào kép, ông nói nhanh với Đào Cam, “Đợi ta ở cửa này! Ta sớm sẽ quay lại.”

Tôn Thiên sư dẫn huyện lệnh băng qua hành lang hông để đến sảnh đường phía tây thượng điện.

Kê sát bức vách trong cùng là một án thờ đơn sơ với bốn ngọn nến đang cháy. Tôn Thiên sư nhấc một ngọn nến để soi lên một cuộn tranh cỡ trung lồng khung gấm thêu kiểu cổ treo trên tường. Quầng sáng đổ lên mình một con mèo xám lông dài đang nằm ườn bên mép bàn gỗ mun chạm trổ, cuộn len đặt bên cạnh, phía sau là một cái chậu đồng với hòn non bộ cùng vài cây trúc.

“Đây chính là con mèo yêu của cố đạo trưởng!” Tôn Thiên sư nhỏ giọng giải thích. “Ngài đã vẽ nó rất nhiều lần. Đây quả là một bức họa tuyệt mỹ, phải không?”

Địch Nhân Kiệt nghĩ bức tranh cũng chỉ thường thường bậc trung, nhưng ông hiểu giá trị của nó gắn liền với vị cố đạo trưởng cao quý kia. Sảnh đường này lạnh lẽo hệt như ông đã e ngại.

Huyện lệnh kính cẩn đáp, “Quả là một bức họa tuyệt thế!”

“Đó là họa phẩm cuối cùng của Ngọc Kính Chân nhân,” Tôn Thiên sư kể. “Ngài đã vẽ nó trong buồng vào buổi chiều, ngay trước khi vũ hóa. Con mèo cũng bỏ ăn và chết sau đó mấy ngày. Thế mà thiên hạ nói loài mèo ít gắn bó với chủ! Bây giờ thì ta khuyên ngươi nên ghé qua đại sảnh để chiêm ngưỡng pho tượng Tam Thánh cao hơn mười thước của một điêu khắc sư nổi danh. Giờ ta sẽ về thư phòng. Mong rằng hai ta sẽ gặp lại vào sáng ngày mai trước khi ngươi rời đi.”

Địch Nhân Kiệt kính cẩn tiễn Tôn Thiên sư tới tận cửa tiền sảnh trước khi quay lại nhà ăn. Những pho tượng đã đứng lì ở sảnh chính suốt hai trăm năm, ông đoán chúng chưa vội bỏ đi đâu. Nếu có cơ hội quay lại đây, nhất định ông sẽ chiêm ngưỡng chúng sau.

Huyện lệnh gặp Đào Cam đang đợi mình bên ngoài nhà ăn. Y khẽ thông báo, “Thưa đại nhân, thuộc hạ vẫn không thấy tăm hơi của Mặc Đức đâu ạ. Lão Quan có nói họ Mặc là kẻ thích gì làm nấy, chẳng ai có thể đoán được hắn sẽ xuất hiện khi nào và ở đâu. Lão hí đầu và các đào kép ba hoa đủ chuyện quanh bàn ăn, nhưng họ hầu như không biết về chuyện trong đạo quán và cũng không để tâm nhiều. Đây là một bữa ăn khá vừa miệng và dễ chịu, nếu không kể đến cuộc đấu khẩu đinh tai nhức óc bên bàn các đạo đồng. Đạo đồng phụ trách phòng ăn gắt rằng pháp phục đã không được xếp đủ trên bàn. Một đạo sĩ còn phàn nàn rằng mình không có cả bát đũa.”

“Một bữa ăn khá vừa miệng ư?” Địch Nhân Kiệt cáu bẳn. “Ta chỉ uống nổi mấy chén rượu và dùng trà những món còn lại khiến bụng ta quặn lên!”

“Bẩm, thuộc hạ thực lòng thấy đồ ăn rất ngon miệng,” Đào Cam hồ hởi nói. “Không tốn một đồng lại được ăn ngon!”

Địch Nhân Kiệt mỉm cười, quá hiểu bản tính vốn chi li tằn tiện của thuộc hạ.

Đào Cam tiếp tục thưa, “Bẩm, Quan Lại có mời thuộc hạ về buồng của lão để uống thêm vài chén, nhưng thuộc hạ nghĩ mình phải đi tìm tên kép hát bí ẩn trước đã.”

“Mau làm đi!” huyện lệnh nói. “Giờ ta sẽ ghé thăm Bao phu nhân và lệnh ái. Mối liên hệ giữa họ và Âu Dương cô nương khiến ta thấy bối rối. Tông Lê ám chỉ rằng Bạch Hồng tiểu thư không phải là nhi nữ của Bao phu nhân và nàng bị cưỡng ép trở thành đạo cô. Nhưng tay thi sĩ đó có vẻ xỉn quá, y còn cho rằng cố đạo trưởng của Triều Vân quán đã bị mưu sát. Ta đã hỏi han Chân Trí đạo trưởng và Tôn Thiên sư, hoá ra đó chỉ là chuyện nhảm nhí. Ngươi có biết buồng của Bao phu nhân nằm ở đâu không?”

“Dạ thưa, nó nằm ở lầu hai, buồng thứ năm của hành lang thứ hai ạ.”

“Tốt. Khi nào xong việc ngươi cứ tới buồng lão Quan. Ta sẽ đến đó sau khi trò chuyện cùng Bao phu nhân. Hiện ta không nghe thấy tiếng mưa rơi bên ngoài, vậy chúng ta có thể cuốc bộ thẳng qua qua sân để đến dãy nhà phía Đông.”

Vừa lúc đó, một tiểu đồng ướt sũng chạy đến thông báo mặc dù cơn bão đã dịu đi nhưng trời vẫn còn lớt phớt mưa. Thế là Địch Nhân Kiệt và Đào Cam lại phải vòng qua phần tiền sảnh thượng điện đang đông nghẹt các đạo sĩ, từ biệt nhau trước đại sảnh ở lầu trệt của dãy nhà phía Đông.

Lầu hai không có lấy một bóng người, những hành lang nhỏ hẹp và lạnh lẽo chỉ sáng lờ mờ nhờ vài ngọn đèn lồng leo lét. Mọi thứ lặng im như tờ, chỉ có tiếng trường bào gấm của Địch Nhân Kiệt sột soạt theo mỗi bước đi.

Đúng lúc huyện lệnh bắt đầu đếm những cánh cửa thì nghe thấy tiếng thì thầm. Ông dừng lại để nghe ngóng. Rồi ông nghe thấy tiếng vải lụa vang lên khe khẽ ở phía sau, đồng thời còn ngửi thấy một mùi thơm nồng. Địch Nhân Kiệt định quay lại thì một cơn đau xuyên thấu đột nhiên ập đến, mọi thứ trở nên tối om.

« Lùi
Tiến »