Độc quyền trí tuệ

Lượt đọc: 1412 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MỘC TINH THỨ 5
arthur clarke (mỹ) tiến thiều dịch ★★★

Giáo sư Forster thuộc số các nhà du hành vũ trụ phải sắm riêng bộ quần áo bay đặc biệt. Nhưng, như thường vẫn xảy ra, bù lại những khiếm khuyết về kích thước, ông có một đức tính kiên trì và quyết đoán hiếm có. Khi tôi gặp ông, ông đã bỏ ra hai mươi năm trời để theo đuổi một giấc mơ. Một điều nữa cần nói đến là ông đã thuyết phục thành công một loạt các nhà doanh nhân cứng đầu, các đại biểu của Hội đồng Thế giới, và các nhà quản lý của các quỹ khoa học, khiến họ phải phê chuẩn kế hoạch của ông và đã chịu cấp riêng cho ông một con tàu. Dù cho mọi chuyện sau đó xảy ra thế nào đi nữa, tôi vẫn cho rằng đây là thành tựu đáng ghi nhớ nhất của ông.

Chúng tôi rời khỏi Trái Đất trên con tàu Arnold Toynbee với đội bay gồm sáu người. Ngoài giáo sư và Charles Ashton, phụ tá của ông, còn có bộ ba kỹ sư, hoa tiêu dẫn đường và hai sinh viên thực tập tốt nghiệp, Bill Hawkins và tôi.

Cả hai chúng tôi đều chưa bay bao giờ, nên chúng tôi cảm thấy lo lắng và bồn chồn đến nỗi không quan tâm đến việc liệu chúng tôi có kịp trở về Trái Đất trước khi bắt đầu năm học mới hay không. Chúng tôi không chắc rằng thầy giáo hướng dẫn của mình có ý nghĩ tương tự. Tài liệu tham khảo mà ông giới thiệu cho chúng tôi là một tác phẩm rất rối rắm, nhưng vì số người biết đọc, dù chỉ mới bắt đầu, chữ của người Sao Hỏa có thể đếm trên đầu ngón tay nên chúng tôi vẫn được giáo sư nhận vào đội. Vì chúng tôi sẽ bay tới Mộc Tinh chứ không phải Hỏa Tinh, nên mục đích của nghề nghiệp đặc biệt này có vẻ hơi khó hiểu, nhưng do hiểu đôi chút về các lí thuyết của giáo sư, chúng tôi đã phần nào xua bớt được mối hoài nghi. Điều này đã được khẳng định vào ngày thứ mười kể từ khi chúng tôi rời Trái Đất.

Giáo sư trầm tư nhìn chúng tôi, khi chúng tôi tới theo lệnh triệu tập của ông. Ngay cả trong trạng thái không trọng lượng, ông vẫn luôn giữ được phong thái đàng hoàng, trong khi đó, điều duy nhất chúng tôi có thể làm được là bám lấy những cái dây an toàn và lắc lư như những đám rong tảo trong nước biển.

Tôi có ấn tượng, mặc dù rất có thể là sai, rằng ông đang suy nghĩ: Mình đã làm gì đến nỗi phải gánh lấy những cái của nợ này? Vì ông hết nhìn Bill rồi lại sang tôi. Rồi sau đó, ông tự nhủ đại loại như: Bây giờ thì quá muộn rồi. Đoạn, ông thở dài và bắt đầu nói một cách kiên nhẫn, chậm chạp như mọi khi ông muốn giảng giải một điều gì. Ít nhất, thì ông vẫn dùng giọng nói ấy để nói chuyện với chúng tôi, mặc dù bây giờ tôi mới nhận ra, nhưng không sao.

“Từ khi chúng ta rời khỏi Trái Đất,” ông nói, “Tôi chưa có dịp nào nói với các anh về mục đích của cuộc thám hiểm này. Nhưng có lẽ các anh đã đoán ra.”

“Tôi nghĩ rằng tôi đã đoán ra”, Bill nói.

“Tốt lắm, hãy nói tiếp đi”, giáo sư đáp, mắt ông ánh lên vẻ tinh quái.

Tôi cố hết sức tìm cách bịt mồm Bill lại, nhưng liệu bạn có thể hích được ai khi bạn đang ở trạng thái không trọng lượng?

“Giáo sư muốn đi tìm một bằng chứng, - tôi muốn nói là một bằng chứng mạnh hơn - cho lý thuyết về sự khuếch tán của các nền văn minh ngoài Trái Đất.”

“Thế anh có biết tại sao tôi lại đến Mộc Tinh để tìm cái đó không?”

“Vâng, có thể là không chính xác, nhưng tôi cho rằng, giáo sư hi vọng sẽ tìm thấy cái gì đó trên các vệ tinh của Mộc Tinh.”

“Khá, khá lắm, anh Bill ạ! Mộc Tinh có cả thảy mười lăm vệ tinh đã biết, và tổng diện tích của chúng bằng khoảng một nửa diện tích của Trái Đất. Tôi xin hỏi nếu chỉ có hai tuần, thì các anh sẽ bắt đầu tìm kiếm từ hành tình nào?”

Bill nhìn giáo sư một cách ngờ vực, tựa hồ như anh đã cảm thấy sự mỉa mai trong giọng nói của ông.

“Tôi không am hiểu lắm về thiên văn học,” Bill nói. “Nhưng Mộc Tinh có bốn vệ tinh lớn có phải không? Tôi sẽ bắt đầu từ những vệ tinh đó.”

“Xin nói cho anh biết rằng, bốn vệ tinh: Io, Europa, Ganymede và Callisto, vệ tinh nào cũng lớn bằng cả châu Phi. Anh sẽ khảo sát chúng trong thứ tự a, b, c … chứ? “

“Không,” Bill đáp rất nhanh. “Tôi muốn bắt đầu từ một vệ tinh gần Mộc Tinh nhất, rồi tiến dần ra ngoài.”

“Chúng tôi chẳng có thì giờ theo đuổi quá trình logic của anh,” giáo sư thở dài. Hẳn là ông nóng ruột để bắt đầu bài diễn văn của mình. “Dù sao thì anh cũng đoán chệch hoàn toàn. Chúng tôi sẽ không bay đến một vệ tinh lớn nào hết. Chúng đã được chụp ảnh từ vũ trụ và các vùng bề mặt rộng lớn của chúng đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Về mặt khảo cổ học, chúng chẳng có gì đáng quan tâm cả. Chúng ta sẽ đến một nơi mà chưa từng có ai đặt chân tới.”

“Không phải Mộc Tinh chứ ạ!” Tôi kinh ngạc hỏi.

“Nhờ trời, không phải, chả có đâu là khủng khiếp như ở đấy! Nhưng chúng ta sẽ đến gần Mộc Tinh hơn bất kỳ ai.”

Ông ngừng nói, vẻ tư lự. “Ở đây có một điều thú vị, - chắc các anh đã biết, Mà có khi các anh cũng chưa biết - rằng, bay giữa các hạt vệ tinh của sao Mộc cũng khó khăn như bay giữa các hành tinh, mặc dù ở đấy các khoảng cách nhỏ hơn rất nhiều. Đó là do Mộc Tinh có một trường hấp dẫn Mạnh khủng khiếp và các vệ tinh của nó chuyển động quá nhanh. Các vệ tinh gần Mộc Tinh nhất chuyển động nhanh gần như Trái Đất và muốn bay từ Ganymede tới đó phải tốn một lượng nhiên liệu như bay từ Trái Đất đến Kim Tinh, mặc dù chỉ mất một ngày rưỡi. Và chúng ta sẽ thực hiện đúng hành trình đó. Từ trước tới nay chưa có ai làm được điều này, vì không có ai nghĩ rằng nó là cần thiết. Vệ tinh thứ năm của Mộc tinh chỉ có đường kính khoảng 30 km, vì vậy nó khó có thể làm người ta quan tâm đến. Ngay cả những vệ tinh ở xa Mộc Tinh hơn, bay đến đó dễ hơn rất nhiều, nhưng cũng chẳng ai ngó ngàng tới, bởi vì không đáng phải bỏ ra một lượng nhiên liệu lớn như vậy.”

“Thế thì tại sao chúng ta phải chịu sự tốn kém đó?” Tôi sốt ruột hỏi. Tình hình giống hệt như cuộc săn vịt trời, cho dù trong lúc còn đang rất hứng thú vị và chẳng có gì nguy hiểm, nhưng tôi cũng chẳng để tâm nhiều.

Có lẽ phải thú nhận, mặc dù - cũng như nhiều người khác, tôi chả muốn nói gì cả - rằng, lúc đó tôi hoàn toàn không tin các lý thuyết của giáo sư Forster. Lẽ dĩ nhiên ông là một người kiệt xuất trong lĩnh vực chuyên môn của mình, nhưng tôi vẫn hoài nghi một số tư tưởng viển vông của ông. Sau hết, những bằng chứng lại quá mỏng manh trong khi những kết luận lại quá là táo bạo khiến cho người ta không khỏi hoài nghi.

Chắc các bạn còn nhớ sự kinh ngạc gây ra khi đoàn thám hiểm Hỏa Tinh đầu tiên tìm thấy dấu vết của không phải một, mà là hai nền văn minh cổ đại trên đó. Cả hai nền văn minh đều đạt trình độ cao, nhưng cả hai đều bị diệt vong hơn năm triệu năm trước đây. Lý do của sự diệt vong cho đến nay vẫn còn chưa rõ. Nhưng có lẽ không phải là do chiến tranh, vì hai nền văn minh tỏ ra sống thân thiện với nhau. Một chủng tộc có dạng như côn trùng, còn chủng tộc kia na ná như loài bò sát. Loại côn trùng có lẽ là người Hỏa Tinh bản xứ thuần chủng. Còn những người bò sát thường được xem như là “nền văn minh X” , xuất hiện muộn hơn.

Ít nhất là giáo sư Forster cũng đã tin tưởng như vậy. Chắc chắn là những người Hỏa Tinh đã nắm được bí mật du hành vũ trụ, bởi vì dấu vết của các thành phố hình chữ thập đã được tìm thấy khắp nơi, kể cả ở Thủy Tinh.

Giáo sư tin rằng họ đã cố sức chinh phục tất cả các hành tinh nhỏ hơn ngoại trừ Trái Đất và Kim Tinh vì trọng trường quá lớn. Một điều làm giáo sư thất vọng là vẫn chưa ai tìm thấy dấu vết của “Nền văn minh X” trên mặt trăng. Mặc dù ông vẫn tin rằng sớm muộn thế nào rồi người ta cũng sẽ tìm ra.

Lý thuyết thông thường về “Nền văn minh X” cho rằng, nó bắt nguồn từ một trong số những hành tinh nhỏ hoặc từ các vệ tinh của chúng và đã từng có quan hệ thân thuộc với những người Hỏa Tinh - một trong hai chủng tộc có trí tuệ duy nhất trong lịch sử xa xưa của hệ Mặt Trời - rồi cùng bị tiêu vong với nền văn minh trên Hỏa Tinh.

Nhưng giáo sư còn có những ý tưởng táo bạo hơn: Ông cho rằng “Nền văn minh X” đến hệ mặt trời từ khoảng không giữa các vì sao. Việc không ai tin điều đó có làm cho ông phiền muộn, nhưng không nhiều lắm, bởi vì giáo sư thuộc loại người chỉ cảm thấy hạnh phúc khi mình thuộc thiểu số.

Từ chỗ đang ngồi, tôi có thể nhìn thấy Mộc Tinh qua cửa sổ buồng lái, trong khi giáo sư mải trình bày kế hoạch của mình. Đó là một cảnh tượng tuyệt đẹp: Tôi vừa nhận ra vành đai mây vòng quanh xích đạo và ba vệ tinh giống như những ngôi sao nhỏ nằm sát hành tinh. Tôi băn khoăn không hiểu cái nào là Ganymede, nơi chúng tôi sẽ hạ cánh đầu tiên.

“Nếu Jack chịu khó chú ý nghe”, giáo sư tiếp tục, “Tôi sẽ nói cho các anh biết tại sao chúng ta lại phải đi quá xa như vậy. Chắc các anh đã biết, năm ngoái tôi đã phải tốn biết bao thời gian để đào bới trong đống đổ rác nơi vành đai tro bụi của Sao Thủy chứ? Có lẽ các anh đã đọc bài báo của tôi viết về vấn đề này cho khoa Kinh tế trường đại học London. Cũng có thể các anh đã có mặt trong buổi thuyết trình của tôi ở đó - tôi còn nhớ hôm ấy thính giả ở phía sau hội trường bàn tán xôn xao lắm. Cái mà tôi chưa nói cho ai biết lúc đó là, trong thời gian tôi ở trên Sao Thủy, tôi đã phát hiện được một đầu mối quan trọng về nguồn gốc của “Nền văn minh X”. Tôi đã giữ kín chuyện này, mặc dù rất bực mình khi bị những tên ngu ngốc như lão tiến sĩ Haughton định chế nhạo dự án kinh phí của tôi. Nhưng tôi cũng không có ý định mạo hiểm cho bất cứ ai khác tới đây, trước khi tôi có thể tổ chức được cuộc thám hiểm này. Một trong những vật tôi tìm thấy trên Thủy Tinh là một bức phù điêu còn khá nguyên vẹn về hệ Mặt Trời. Đây không phải là bức đầu tiên đã được phát hiện, vì hẳn các anh đã biết thiên văn học vốn là motif chung của nền nghệ thuật Hỏa Tinh thực thụ cũng như của “Nền văn minh X”. Nhưng trên bức phù điêu này lại có những biểu tượng khá đặc biệt cho các hành tinh khác nhau kể cả Hỏa Tinh và Thủy Tinh. Tôi cho rằng bức tranh này có một ý nghĩa lịch sử nhất định, nhưng điều lạ lùng nhất trên đó là vệ tinh thứ 5 nhỏ xíu của Mộc Tinh - một vệ tinh vẫn bị xem thường nhất của nó - lại được dành cho sự chú ý nhiều nhất. Tôi tin rằng trên Mộc Tinh 5 chúng ta sẽ tìm ra chìa khóa của toàn bộ vấn đề về “Nền văn minh X”. Vì vậy tôi quyết định tới đó để tìm xem điều ấy là cái gì.”

Cho đến nay tôi vẫn còn nhớ rằng, câu chuyện của giáo sư đã không gây cho Bill cũng như tôi một ấn tượng đặc biệt nào. Có thể là những người của “Nền văn minh X” đã để lại một số di sản văn hóa vật chất trên Mộc Tinh 5, vì những lý do còn rất mù mờ của chính họ. Khai quật những di sản đó có thể mang lại nhiều điều lý thú, nhưng chắc chắn chúng không thể quan trọng như giáo sư nghĩ. Tôi đoán chắc giáo sư hơi thất vọng vì sự thiếu nhiệt tình của chúng tôi. Nhưng nếu quả thật như vậy, thì đó là lỗi của ông, bởi vì như sau này chúng tôi phát hiện ra, ông vẫn còn có điều gì giấu chúng tôi.

Khoảng một tuần sau, chúng tôi hạ cánh xuống Ganymede, vệ tinh lớn nhất của Mộc Tinh. Đây là vệ tinh duy nhất có trạm thường trực, ở đó có một đài Thiên văn và một trạm Địa-vật lý với một đội ngũ khoảng năm mươi nhà khoa học. Họ tiếp đón chúng tôi rất niềm nở, nhưng chúng tôi không ở lại đây lâu, vì giáo sư đã vội vàng lo nạp thêm nhiên liệu và ra lệnh cất cánh. Việc chúng tôi bay đến vệ tinh thứ năm của Mộc Tinh cố nhiên đã làm cho nhiều người chú ý, nhưng vì giáo sư không nói gì nên chúng tôi cũng đành im lặng - ông canh chừng chúng tôi sát sao lắm.

Ganymede không ngờ lại là một nơi rất thú vị và trên đường trở về, chúng tôi đã có dịp xem xét khá kĩ lưỡng về nó. Nhưng vì tôi đã hứa viết một bài báo cho một tạp chí về vấn đề này cho nên có lẽ tốt hơn cả là tôi không nên viết gì ở đây nữa (các bạn chú ý theo dõi tạp chí “National Astrographic” mùa xuân năm tới).

Chuyến bay từ Ganymede đến vệ tinh thứ 5 chỉ mất một ngày rưỡi. Nhìn thấy Mộc Tinh mỗi ngày một to dần như muốn phủ kín bầu trời đã gây cho chúng tôi một cảm giác rất khó chịu.Tôi không am hiểu nhiều về thiên văn học, nhưng tôi không thể không nghĩ tới trường hấp dẫn mạnh khủng khiếp của nó mà chúng tôi đang rơi vào. Mọi bất trắc đều có thể dễ dàng xảy ra. Nếu ví thử chúng tôi cạn nhiên liệu, thì chúng tôi sẽ không bao giờ có thể quay trở lại để Ganymede được nữa, và rất có thể rơi thẳng xuống Mộc Tinh.

Tôi rất muốn mô tả lại cái quả cầu khổng lồ ấy, với vành đai bão dữ dội xoáy tròn trên bầu trời trước mặt chúng tôi. Của đáng tội, tôi cũng đã viết rồi, nhưng một số bạn văn chương sau khi đọc xong bản thảo đã khuyên nên cắt bỏ chúng đi (Họ còn cho tôi nhiều lời khuyên khác, nhưng tôi không xem những lời khuyên ấy là nghiêm túc, bởi vì nếu như tôi theo họ thì sẽ chẳng có câu chuyện này). May thay, gần đây người ta đã công bố nhiều bức ảnh màu đặc tả Mộc Tinh, nên chắc hẳn các bạn đã có dịp xem. Biết đâu các bạn cũng xem một bức mà, như tôi sẽ giải thích sau này, đã từng là nguyên nhân của tất cả sự khốn khổ của chúng tôi.

Cuối cùng rồi Mộc Tinh cũng ngừng to dần. Chúng tôi đã chuyển sang quỹ đạo của vệ tinh thứ 5 và sắp sửa bắt kịp nó. Chúng tôi dồn hết cả vào phòng điều khiển để chờ được ngắm nhìn lần đầu tiên mục tiêu của chúng tôi. Bill và tôi bị đẩy ra ngoài hành lang và chúng tôi chỉ có thể ngó qua vai của những người đứng bên trong. Kingsley Searle, hoa tiêu của chúng tôi, ngồi trên ghế điều khiển vẻ điềm tĩnh như mọi khi. Kỹ sư Eric Fulton, tư lự nhay ria mép và theo dõi đồng hồ đo nhiên liệu, và Tony Groves thì đang làm cái gì đó phức tạp lắm với những bảng định hướng của mình.

Giáo sư vừa mới vào đã dính ngay mắt vào ống kính thiên văn. Rồi đột nhiên ông ra lệnh bắt đầu và chúng tôi nghe rõ cả tiếng hơi thở của ông. Một phút sau, không nói năng gì, ông vẫy tay ra hiệu cho Searle, ngồi vào chỗ quan sát của ông. Rồi cũng y hệt như vậy Searle nhường chỗ cho Fulton…

Tôi hoàn toàn không biết cái mà tôi chờ đợi sẽ thấy là cái gì, nên có lẽ vì vậy mà tôi cảm thấy thất vọng. Một ông trăng bé xíu bầu bĩnh treo lơ lửng trong không trung, phía “ban đêm” của nó phản chiếu lờ mờ ánh sáng xanh nhạt của Mộc Tinh. Tất cả chỉ có bấy nhiêu. Sau đó, tôi bắt đầu phân biệt được những đặc điểm khác, như vẫn thường xảy ra mỗi khi bạn nhìn tương đối lâu trong kính thiên văn. Tôi nhìn thấy những đường kẻ ô mờ mờ trên bề mặt của vệ tinh, rồi đột nhiên mắt tôi thâu tóm được toàn bộ bức tranh. Vì đó thực sự là một bức tranh: Các đường kẻ ô mờ mờ với độ chính xác kỉ hà học chia bề mặt của vệ tinh hệt như các đường kinh tuyến và vĩ tuyến chia bề mặt của địa cầu. Có lẽ do tôi đã thốt lên kinh ngạc nên tôi thấy Bill đẩy tôi ra và ngồi vào vị trí quan sát.

Điều tiếp theo tôi còn nhớ được là giáo sư nhìn chúng tôi và đầy vẻ tự mãn khi chúng tôi thay nhau hỏi ông dồn dập.

“Tất nhiên,” ông giải thích, “điều này không làm cho tôi ngạc nhiên như đối với các anh. Ngoài bằng chứng mà tôi đã tìm thấy trên Sao Thủy, tôi còn có những đầu mối khác. Tôi có một anh bạn làm việc ở đài thiên văn trên vệ tinh Ganymede, tôi đã bắt anh ấy phải giữ bí mật và trong mấy tuần gần đây anh ấy ở trong trạng thái rất căng thẳng. Điều khá lạ lùng đối với người không chuyên, là các đài thiên văn hiện nay, nói chung, không mấy khi quan tâm đến các vệ tinh. Các kính lớn chủ yếu dùng để quan sát các tinh vân ngoài Thiên Hà, còn các kính nhỏ suốt thời gian chỉ quan sát Mộc Tinh.”

“Công việc duy nhất là đài thiên văn Ganymede đã làm đối với vệ tinh thứ 5 là đo đường kính của nó và chụp một vài bức ảnh. Những bức ảnh đó không có lấy gì làm tốt, nên không thể phân biệt được những đặc điểm mà chúng ta vừa mới quan sát thấy. Nếu không thì người ta đã đổ xô vào nghiên cứu rồi. Theo đề nghị của tôi, anh bạn Lawton đã phát hiện thấy những đặc điểm nói trên qua kính thiên văn đường kính 100 cm, ngoài ra anh ấy còn thấy một số đặc điểm mà lẽ ra trước đó người khác đã thấy. Vệ tinh thứ 5 chỉ có đường kính 30 km nhưng nó lại sáng hơn nhiều đối với kích thước của nó. Nói so sánh khả năng phản xạ của vệ tinh thứ 5 tức là so sánh aldeb… của nó.”

“Albedo,” Tony nhắc.

“Cảm ơn Tony. Albedo của nó với albedo của các vệ tinh khác, các anh đã thấy rằng, khả năng phản xạ của vệ tinh thứ 5 lớn hơn nhiều. Thực tế, nó giống một tấm kim loại được mài sáng bóng hơn là đất đá.”

“Và điều này sẽ giải thích tất cả!” Tôi nói. “Loài người thuộc “Nền văn minh X” đã phủ lên bề mặt của vệ tinh thứ 5 một lớp vỏ bọc tựa như họ đã xây nhà trên Sao Thủy, chỉ có điều là quy mô ở đây lớn hơn”.

Giáo sư nhìn tôi với vẻ thương hại.

“Anh lại đoán chệch rồi!” Ông nói.

Tôi cho rằng ông không được nhã nhặn cho lắm. Bởi vì, thực ra, bạn có thể làm được gì tốt hơn trong những hoàn cảnh tương tự?

Ba giờ sau, chúng tôi hạ cánh xuống một bình nguyên kim loại bao la. Nhìn qua cửa sổ, tôi cảm thấy mình hoàn toàn bé nhỏ. Chắc một con kiến bò trên chiếc thùng nhiên liệu dự trữ cũng có những ấn tượng tương tự. Thậm chí cái khối sáng lù lù của Mộc Tinh lơ lửng trên trời cũng không đem lại niềm an ủi nào. Ngay cả giáo sư vốn là người bình tĩnh, lúc đó cũng bị nỗi sợ hãi bao trùm.

Bình nguyên hầu như không có những đặc điểm gì đáng kể. Chỉ có những dải rộng chạy dài về mọi phía, do những tấm kim loại khổng lồ ghép lại. Các dải này hay bức tranh caro mà chúng tạo ra chính là cái chúng tôi đã thấy từ trên cao. Cách chỗ chúng tôi chừng hai trăm mét có một ngọn đồi thấp, chí ít thì đó cũng là ngọn đồi theo nghĩa thông thường. Thực tế, dọc đường chúng tôi đã nhận ra nó, sau khi đã khảo sát chu đáo cái vệ tinh nhỏ xíu này từ trên cao. Đó là một trong sáu chỗ lồi ra: Bốn chỗ nằm cách đều nhau trên xích đạo, còn hai chỗ nằm ở hai cực. Hẳn chúng là những cánh cửa đi xuống thế giới nằm dưới lớp vỏ bọc kim loại

Tôi biết có một số người tưởng rằng mặc bộ quần áo bay đi trong trạng thái không trọng lượng, trên một hành tinh không có không khí là một điều hết sức thú vị. Thế nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại. Trong hoàn cảnh đó, con người có nhiều điều phải nghĩ đến, phải tính toán, phải cảnh giác khiến cho thần kinh căng thẳng đến quá tải. Ít ra thì điều đó cũng đúng với tôi. Nhưng thú thật lần này vừa mới chui ra khỏi con tàu, tôi đã xúc động đến nỗi không còn bận tâm gì về những điều đó nữa.

Lực hấp dẫn trên vệ tinh thứ 5 nhỏ tới mức việc đi lại không thành vấn đề. Chúng tôi buộc nhau vào một một sợi dây như những người leo núi và lướt trên cái bình nguyên kim loại nhờ những khẩu súng phản lực. Fulton và Groves là hai nhà du hành có kinh nghiệm thì đi ở đầu và cuối để đảm bảo an toàn cho những người ở giữa đoàn.

Chỉ ít phút sau, chúng tôi đã đến chỗ ngọn đồi. Đó là một mái vòm rộng mà thấp với chu vi chí ít cũng phải tới một kilômét. Tôi băn khoăn tự hỏi không biết đây có phải là một cánh cửa khổng lồ cho phép cả một con tàu vũ trụ ra vào hay không. Nếu chúng tôi không gặp may thì chẳng thể nào vào được, bởi vì toàn bộ cơ chế điều khiển mở cửa không còn làm việc nữa. Mà cho dù có làm việc thì chúng tôi cũng chả biết sử dụng như thế nào. Thật khó mà tưởng tượng nổi có gì khốn khổ hơn là bị khóa, không thể nào lấy được một di vật khảo cổ lớn nhất trong lịch sử.

Chúng tôi vừa đi được một phần tư vòng quanh vòm thì phát hiện một lỗ thủng trên vỏ kim loại. Lỗ thủng khá nhỏ, chỉ trong khoảng hai mét và khá gần tròn khiến lúc đầu chúng tôi đã không hiểu đó là cái gì. Tôi nghe giọng Tony trong máy điện đàm:

“Đây không phải là do nhân tạo. Đúng vết thủng này là do thiên thạch để lại.”

“Không thể như vậy được!” Giáo sư Forster phản đối . “Lỗ này quá đều đặn”

Tony là ương bướng:

“Các thiên thạch lớn luôn tạo ra những lỗ tròn, trừ khi nó rơi quá xiên. Các anh hãy thử nhìn vào mép lỗ mà xem, ở đây nhất định đã xảy ra quá trình nổ. Chắc hẳn thiên thạch và lớp vỏ đã bị bốc hơi hết. Có còn thấy mảnh vụ nào đâu!”

“Cậu tin rằng chuyện đó đã xảy ra”, Kingsley nói xen vào. “Thế thì nó đã xảy ra bao giờ? Năm triệu năm trước hả? Nhưng có điều lạ là tại sao không phát hiện được ra những lỗ thủng khác”.

“Có thể là Tony nói đúng đấy”, giáo sư nói. Ông đã thỏa mãn nên chẳng buồn tranh luận nữa.

“Dù sao thì tôi cũng xuống trước tiên.”

“Đồng ý,” Kingsley nói. Với tư cách là thuyền trưởng, anh bao giờ cũng là người nói lời cuối cùng trong những chuyện như vậy. “Tôi sẽ đưa cho giáo sư 200m dây và sẽ ngồi trên miệng lỗ để chúng ta còn liên lạc vô tuyến được với nhau. Nếu không, lớp vỏ kim loại sẽ chắn hết chính hiệu mất.”

Thế là, giáo sư Forster là người đầu tiên đi vào lòng vệ tinh thứ 5, và ông cũng rất xứng đáng với vinh dự đó. Chúng tôi xúm quanh Kingsley để theo dõi từng bước đi của giáo sư. Ông không đi được xa, khốn thay sau lớp vỏ ngoài còn một lớp vỏ nữa, đúng như chúng tôi dự đoán. Giáo sư tìm được chỗ có thể đứng thẳng người giữa hai lớp vỏ. Nhờ ánh sáng đèn pin, ông thấy thấp thoáng những thanh chống đỡ và dầm. Cơ hồ đó là tất cả những cái mà ông đã nhìn thấy.

Phải mất tới hai mươi bốn tiếng đồng hồ mệt mỏi chúng tôi mới quyết định được bước đi tiếp theo. Tôi nhớ lúc đó tôi có hỏi giáo sư là tại sao ông không tính đến chuyện mang theo một ít chất nổ. Ông đã nhìn tôi bực dọc

“Trên tàu đã có đủ những thứ có thể đưa tất cả chúng ta đến chỗ chết rồi,” ông nói.“Mặt khác, tôi không có ý định phá hủy bất cứ một cái gì một khi vẫn còn con đường khác.”

Đó chính là cái mà tôi gọi là lòng kiên nhẫn. Nhưng quả thật tôi không hiểu rõ lắm ý kiến của giáo sư. Sau hết, một vài giây nữa thì có ý nghĩa gì so với công cuộc tìm kiếm mà giáo sư đã theo đuổi suốt hai chục năm ròng?

Bill Hawkins là người đầu tiên tìm thấy đường vào trong khi chúng tôi đã rời bỏ cái cửa thứ nhất. Ở gần Cực Bắc, Bill phát hiện thấy một cái lỗ khổng lồ do thiên thạch xuyên thủng. Nó rộng tới 100m và xuyên qua cả hai lớp vỏ. Thì ra bên trong lại còn một lớp vỏ nữa và, với xác suất hàng nghìn triệu năm mới xảy ra một lần, một thiên thạch thứ hai, nhỏ hơn, đã chui qua lỗ hổng khổng lồ bên ngoài và xuyên thủng cả lớp vỏ trong cùng. Lỗ thứ hai này rộng chỉ đủ cho một người mặc quần áo bay chui lọt. Chúng tôi lần lượt từng người một chui đầu vào trước.

Tôi bị treo lơ lửng dưới một mái vòm khổng lồ y như một chú nhện dưới mái vòm của nhà thờ Thánh St. Peter[10]. Chúng tôi chỉ biết rằng, khoảng không gian mà chúng tôi đang trôi nổi hết sức rộng lớn. Còn nó rộng lớn đến mức nào thì chúng tôi không thể nói được, bởi vì ánh sáng đèn pin không cho chúng tôi biết về điều đó. Trong cái hang không có không khí và bụi bặm này, cố nhiên, những tia sáng hoàn toàn không thấy được. Nếu chiếu đèn lên trần, chúng tôi thấy thấp thoáng những hình ovan ánh sáng nhảy múa xa xa, còn khi chiếu xuống dưới thì chỉ thấy một đám sáng nhợt nhạt, sâu thẳm, chẳng soi rõ được cái gì.

Dưới trường hấp dẫn yếu ớt của cái thế giới nhỏ bé này, chúng tôi rơi chậm chạp “xuống dưới” cho đến khi hết dây an toàn. Phía xa trên đầu, chúng tôi vẫn nhìn thấy rõ cái bóng sáng mờ ảo của lỗ thủng mà chúng tôi vừa mới chui qua. Tuy nó xa thật nhưng cũng làm cho chúng tôi an tâm. Rồi sau đó, trong khi chúng tôi đang treo lủng lẳng và đong đưa như con lắc đồng hồ ở cuối đầu dây an toàn, với những ánh đèn pin sáng lấp loáng của đồng đội xung quanh trông như những vì sao lúc mờ lúc tỏ, một chân lý vụt lóe lên trong óc tôi. Quên rằng tất cả chúng tôi đang ở tình trạng lơ lửng. Tôi bất giác hét lên:

“Thưa giáo sư, tôi hoàn toàn không tin rằng đây là một hành tinh! Đây là một con tàu vũ trụ!”

Tôi bỗng dừng lại và cảm thấy điều mình vừa làm thật là ngu ngốc. Tiếp sau là sự im lặng trong giây lát, rồi lao xao như có tiếng ai đang tranh luận.

Giáo sư Forster cắt ngang cuộc cãi lộn và tôi dám chắc rằng lúc đó ông vừa vui mừng vừa kinh ngạc.

“Anh hoàn toàn đúng đấy, Jack ạ. Đây chính là con tàu đã mang “Nền văn minh X” đến hệ Mặt Trời.”

Tôi nghe thấy tiếng ai đó, có thể là Eric Fulton, thốt lên tỏ vẻ hoài nghi.

“Thật là chuyện hoang đường! Tàu gì mà rộng tới ba mươi kilômét!”

“Lẽ ra anh phải biết hơn thế nữa mới phải”, giáo sư đáp với vẻ trìu mến đến lạ lùng. “Hãy giả sử có một nền văn minh muốn vượt qua khoảng không gian giữa các vì sao, vậy thì họ sẽ làm như thế nào để giải quyết vấn đề đó? Họ sẽ phải chế tạo trong không gian một con tàu lớn dưới dạng một hành tinh di động. Để làm chuyện đó có khi phải mất hàng thế kỷ. Vì con tàu là cả một thế giới trong đó nhiều thế hệ cùng sinh sống nên kích thước của nó phải lớn như vậy. Tôi băn khoăn không biết họ đã đi qua bao nhiêu hệ Mặt Trời, trước khi đến Hệ của chúng ta, không hiểu họ có biết rằng cuộc tìm kiếm của họ đã chấm dứt hay chưa? Chắc hẳn họ phải có những con tàu nhỏ hơn để đưa họ đến những hành tinh khác nhau và cố nhiên họ phải để con tàu mẹ ở một nơi nào đó trong vũ trụ. Thì đây, họ đã đậu nó ở đây, trên một quỹ đạo sát hành tinh lớn nhất, nơi con tàu có thể cư trú vĩnh viễn an toàn, hoặc ít ra cũng đến khi họ lại cần đến nó. Điều suy đoán này rất lôgíc ở chỗ: Nếu họ để con tàu bay theo quỹ đạo quanh Mặt Trời thì dần dần lực hút của các hành tinh sẽ làm nhiễu động quỹ đạo của nó đến mức nó có thể bị lạc mất. Nhưng ở đây điều đó sẽ không khi nào xảy ra.”

“Xin giáo sư cho biết”, có ai đó lên tiếng hỏi, “Giáo sư đã có phán đoán được tất cả những chuyện ấy trước khi chúng ta xuất phát hay không?”

“Tôi đã hi vọng như vậy. Tất cả mọi bằng chứng đều dẫn đến câu trả lời như thế. Từ trước tới nay, về vệ tinh thứ 5 bao giờ cũng có cái gì đó dị thường, chỉ có điều không có ai nhận ra mà thôi. Chẳng hạn tại sao cái vệ tinh bé xíu này lại ở gần Mộc Tinh đến như vậy trong khi tất cả các vệ tinh nhỏ khác lại ở xa hơn đến bảy mươi lần? Đứng về mặt thiên văn học mà nói thì điều đó chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng thôi, nói như vậy đủ rồi. Chúng ta có nhiều việc phải làm lắm”.

Tôi nghĩ rằng đây là một phát kiến thế kỷ. Trước mặt bảy người chúng tôi là một phát minh khảo cổ học lớn nhất từ trước tới nay. Hầu như cả thế giới - một thế giới nhỏ nhoi, nhân tạo, nhưng vẫn là một thế giới - đang chờ đợi chúng tôi khám phá.Tất cả những gì chúng tôi có thể làm được là thăm dò một cách sơ bộ và nhanh chóng: Ở đây còn đủ chất liệu cho hàng thế hệ các nhà nghiên cứu làm việc.

Việc đầu tiên chúng tôi phải làm là treo một chiếc đèn pha cực mạnh. Bước đầu tiên là để hạ thấp đèn pha cực mạnh. Nó vừa làm hải đăng cho chúng tôi khỏi bị lạc vừa chiếu sáng bề mặt bên trong của vệ tinh (Thậm chí đến bây giờ tôi vẫn chưa quen gọi vệ tinh thứ 5 là con tàu).

Sau đó chúng tôi thả một sợi dây xuống bề mặt bên dưới. Đó là một vực thẳm sâu độ một kilômét và với một trường hấp dẫn nhỏ như ở đây, việc rơi xuống không có gì nguy hiểm cả. Những cú sốc nhẹ do va chạm hoàn toàn bị khử nhờ chiếc sào lò xo mà chúng tôi có mang theo.

Tôi không muốn nói thêm nhiều hơn nữa về những điều kỳ lạ đã được tìm thấy trên vệ tinh thứ 5. Đã có quá nhiều phim ảnh, bản đồ, sách báo nói về vấn đề này. (Trong đó có cuốn sách của tôi do Sidgwick và Jackson xuất bản vào mùa hè tới). Thay vì thế, tôi sẽ nói cho các bạn về một ấn tượng mà những người đầu tiên bước vào cái thế giới kim loại lạ lùng ấy cảm thấy. Tuy nhiên, tôi lấy làm tiếc mà nói rằng - mặc dù nghe có vẻ khó tin - nhưng quả thật tôi không thể nào nhớ lại được cảm giác khi lần đầu tiên chúng tôi bước chân qua cái lối vào hình mũ nấm. Có thể tôi đã quá xúc động và choáng ngợp trong sự ngạc nhiên tới mức quên hết mọi thứ trên đời. Dẫu sao thì tôi vẫn còn nhớ lại được cái ấn tượng về kích thước, một ấn tượng mà không một bức ảnh nào có thể gây ra được.Tới từ một hành tinh có trọng trường nhỏ, những người thiết kế nên cái thế giới nhỏ bé này lại là những người khổng lồ, họ bốn lần cao hơn con người trên Trái Đất chúng ta. Và chúng ta chỉ là những người lùn Picmê ngọ ngoậy giữa những công trình của họ.

Do chúng tôi không xuống sâu hơn lần xuống đầu tiên, nên chúng tôi chỉ tìm thấy một số ít trong số những kỳ quan khoa học mà các đoàn thám hiểm sau này sẽ phát hiện ra. Nhưng như vậy cũng đủ lắm rồi, vì chỉ riêng vùng dân cư cũng đã đủ cho chúng tôi nghiên cứu suốt đời. Vệ tinh này chắc chắn trước kia đã được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời nhân tạo, rọi xuống từ lớp vỏ ba lớp. Lớp vỏ bọc này ngăn không cho khí quyển bên trong rò ra ngoài. Những người Mộc Tinh (tôi vẫn quen mồm gọi những người thuộc “Nền văn minh X” như vậy) đã tái tạo được những điều kiện sống y như hành tinh quê hương mà họ đã từ bỏ ra đi không biết từ thuở nào. Có lẽ cũng vẫn có ngày và đêm, có các mùa luân đổi, có mưa và sương mù. Thậm chí họ còn mang theo cả một cái biển nho nhỏ. Bây giờ nước vẫn còn nhưng đã đóng lại thành cái hồ băng với đường kính ba kilômét. Tôi còn nghe nói ở đây người ta đã đặt một nhà máy để điện phân nước nhằm cung cấp trở lại cho vệ tinh thứ 5 bầu khí quyển thở được sau khi đã hàn lại các lỗ hổng do thiên thạch gây ra.

Càng xem nhiều công trình của họ, chúng tôi càng thấy yêu mến chủng tộc mà những di sản của họ lần đầu tiên đã được chúng tôi quan tâm sau suốt năm triệu năm. Và cho dù họ có là những người khổng lồ tới từ một hệ Mặt Trời khác, thì họ cũng có rất nhiều cái chung với loài người. Trong khi đó các chủng tộc của chúng ta lại quá lãnh đạm với nhau, mặc dầu cùng sống trên cái lò quá chật chội so với quy mô vũ trụ - đó là một tai họa lớn.

Tôi nghĩ rằng, chúng tôi là những nhà khảo cổ học may mắn nhất trong lịch sử. Chân không của vũ trụ đã giữ gìn nguyên vẹn tất cả mọi vật và điều mà chúng tôi không ngờ tới là những người Mộc Tinh đã để lại rất nhiều báu vật trong con tàu khổng lồ của họ, khi họ từ bỏ nó để đi chinh phục hệ Mặt Trời. Trên bề mặt bên trong của vệ tinh thứ 5, các đồ vật còn nguyên vẹn như khi con tàu vừa mới đến đây sau một chuyến bay dài. Có thể những người du hành trên con tàu này đã giữ gìn chúng như những kỉ niệm về quê hương đã mất của họ nghĩ rằng một ngày nào đó họ lại cần đến chúng.

Dù là do nguyên nhân gì đi nữa lý do, những gì mà chủ nhân của con tàu đã để lại vẫn còn nguyên ở đó. Đôi khi, điều này đã khiến cho tôi sợ hãi. Với sự giúp đỡ của Bill, tôi phải chụp ảnh một số bức phù điêu lớn trên tường, tính phi thời gian của nơi đây khiến tôi cảm thấy nhói ở tim. Tôi bồn chồn nhìn quanh như thấp thỏm đợi chờ sẽ thấy những cái bóng khổng lồ lừng lững tiến vào để tiếp tục những công việc mà họ tạm thời bỏ dở.

Vào ngày thứ tư, chúng tôi đã phát hiện ra một phòng trưng bày nghệ thuật. Đó là cái tên duy nhất thích hợp với nó, bởi vì chúng tôi không thể làm lẫn được mục đích của nó. Khi Groves và Searle báo là đã phát hiện ra phòng này ở bán cầu phía Nam, chúng tôi quyết định tập trung toàn lực vào đó. Vì, như người ta thường nói, nghệ thuật của một dân tộc chứa đựng tâm hồn của dân tộc đó, chúng tôi nhất định sẽ tìm thấy ở đây chìa khóa tới “Nền văn minh X”.

Phòng trưng bày là một tòa nhà kỳ vĩ, thậm chí đối với một chủng tộc khổng lồ như ở đây. Cũng như các công trình khác trên vệ tinh thứ 5, nó được làm bằng kim loại, nhưng lại không hề có vẻ gì lạnh lẽo hoặc máy móc. Đỉnh tháp của nó cao tới một nửa đường kính của vệ tinh. Nhìn từ xa, khi mà chưa nhìn rõ các chi tiết, nó không khác gì một nhà thờ Gothic bao nhiêu. Do có sự giống nhau như vậy mà sau này một số nhà văn đã gọi nó là Đền Thờ, nhưng chúng tôi chưa hề tìm thấy một dấu vết gì gợi đến tôn giáo của những người Mộc Tinh. Có lẽ hợp hơn cả nên gọi nó là Đền Thờ Nghệ Thuật và cái tên này vẫn được dùng cho tới ngày nay.

Người ta ước chừng chỉ riêng trong tòa nhà này đã có tới mười, thậm chí hai mươi triệu mẫu vật. Đó cũng là một bộ sưu tập xuyên suốt lịch sử của một dân tộc lâu hơn loài người rất nhiều. Cũng ở đây tôi đã tìm thấy một căn phòng nhỏ hình tròn mà thoạt nhìn tôi cứ ngỡ rằng đó là chỗ tụ hội của sáu ống dẫn hơi sưởi. Lúc đó tôi chỉ có một mình (vì vậy tôi sợ là đã vi phạm quy định của giáo sư), nên tính chuyện phải quay về ngay chỗ các bạn của tôi. Những bức tường tối tăm lặng lẽ lùi dần về phía sau và ánh đèn pin của tôi thấp thoáng trên mái trần phía trước. Trần được chạm đầy những dòng chữ và tôi mải tìm những nhóm chữ cái quen thuộc đến mức không để ý gì đến dưới nền nhà. Bất chợt, tôi thấy một pho tượng và chiếu đèn pin vào.

Giờ khắc mà một người nào đó lần đầu tiên bắt gặp một tuyệt phẩm của nghệ thuật có sức lôi cuốn lạ lùng khiến người ta không thể nào dứt ra được. Trong trường hợp như ở đây sự quyến rũ có khi còn mạnh mẽ hơn. Như vậy, tôi là người đầu tiên biết được hình hài của người Mộc Tinh, bởi vì đây là một bức tượng lấy nguyên mẫu từ đời sống và được tạo ra với sự khéo léo và chân thực đến tuyệt vời: Cái đầu thanh tú giống như đầu loài bò sát hướng thẳng về phía tôi, đôi mắt vô hồn nhìn thẳng vào mắt tôi. Hai tay khoanh trên ngực như cam chịu, hai tay khác cầm một vật gì đó không biết dùng để làm gì. Cái đuôi dài khỏe khoắn - có lẽ giống như cái đuôi của con Kangaroo dùng để giữ thăng bằng với nửa thân trên - nằm ghì chặt xuống đất càng tăng thêm ấn tượng về sự thanh thản, nghỉ ngơi. Khuôn mặt cũng như thân thể của bức tượng không có nét gì giống con người. Ví dụ nó không có lỗ mũi mà chỉ có ở dưới cổ một khe nhỏ giống như mang cá. Tuy nhiên, gương mặt pho tượng đã làm cho tôi xúc động sâu sắc. Người nghệ sĩ đã vượt qua những ngăn cách về thời gian và văn hóa với sự điêu luyện mà tôi không thể nào tin là có thể làm được, “không phải là con người nhưng lại rất con người”, đó là lời phán xét của giáo sư Forster. Thực ra, có nhiều cái chúng tôi chưa thể chia sẻ được với những người tạo dựng nên thế giới ở đây. Nhưng trong những cái có tầm quan trọng thực sự, chúng tôi đều cảm thấy có nhiều nét chung.

Nếu như người ta vẫn thường đọc được cảm xúc của khuôn mặt vừa quen thuộc nhưng lại vừa xa lạ như một con chó hay một con ngựa, thì hình như giờ đây tôi cũng hiểu được tình cảm của sinh vật đang đứng trước mặt tôi đây. Nó chứa đựng sự thông thái và uy quyền, sự điềm tĩnh và tự tin hệt như trong bức chân dung nổi tiếng Doge Loredano của Bellini[11]. Nhưng ở đây cũng phảng phất một nỗi buồn, nỗi buồn của một dân tộc đã từng có những nỗ lực phi thường nhưng vô vọng.

Chúng tôi vẫn còn chưa hiểu được tại sao pho tượng đơn độc này lại là đại diện duy nhất mà những người Mộc Tinh đã tái tạo trong nghệ thuật của họ. Chúng ta khó lòng tìm được những điều cấm kỵ kiểu đó trong nghệ thuật của một chủng tộc khác đã phát triển cao như vậy. Có thể chúng tôi sẽ giải đáp được câu hỏi này khi đọc những dòng chữ khắc trên những bức tường của căn phòng.

Tuy nhiên, tôi chắc chắn đã đoán được mục đích của bức tượng. Người ta đặt nó ở đây là để làm cầu nối giữa thời gian, để chào đón tất cả những ai một ngày nào đó đến được đây. Đấy có thể cũng chính là lý do tại sao họ lại tạo nó với kích thước nhỏ hơn nhiều so với thực tế. Thậm chí, ngay từ bấy giờ họ có thể đã đoán được rằng, tương lai sẽ thuộc về Trái Đất hoặc Kim Tinh và vì vậy thuộc về loài người mà họ muốn thu hẹp lại cho bằng. Họ biết rằng, kích thước cũng có thể là cái bờ ngăn cách chẳng kém gì thời gian.

Ít phút sau tôi cùng đồng đội trở lại con tàu và nóng lòng muốn kể với giáo sư về phát hiện của mình. Giáo sư đang phải miễn cưỡng nghỉ ngơi đôi chút, mặc dù tôi không thể chắc là trong suốt thời gian chúng tôi ở trên Mộc Tinh 5, ông có ngủ được trung bình bốn tiếng trong một ngày hay không. Ánh sáng màu vàng của Mộc Tinh toả sáng trên bình nguyên kim loại bao la khi chúng tôi vừa chui lên và đứng dưới những ngôi sao lấp lánh.

“Hello!” Tôi nghe thấy tiếng Bill trong bộ máy bộ đàm. “Giáo sư đã rời con tàu đến chỗ khác rồi”.

“Đừng nói nhảm”, tôi đáp lại, “nó vẫn còn ở nguyên chỗ cũ đấy thôi”.

Tôi quay đầu lại và hiểu ngay tại sao Bill lại nói như vậy. Chúng tôi có khách tới thăm: Con tàu thứ hai hạ cánh cách chỗ chúng chúng tôi vài kilômét. Theo con mắt ít từng trải của tôi thì con tàu này giống con tàu của chúng tôi như đúc. Khi chúng tôi vội vã chui vào tàu thì đã thấy giáo sư, mắt còn hơi ngái ngủ đang đứng tiếp khách. Một điều bất ngờ, mặc dù không hẳn là khó chịu đối với chúng tôi, là trong số những vị khách có một cô gái tóc nâu cực kỳ quyến rũ.

“Đây là ngài Randolph Mays, một nhà văn chuyên viết về giới khoa học”, giáo sư giới thiệu với vẻ hơi mệt mỏi. “Tôi nghĩ rằng các bạn đã được nghe nói về ông. Còn đây…” Ông quay lại về phía Mays, “tôi e rằng chưa rõ hết tính danh”.

“Đây là hoa tiêu của chúng tôi, Donald Hopkins và cô Marianne Mitchell, thư ký riêng của tôi”.

Mays ngập ngừng một chút trước tiếng thư ký, nhưng cũng đủ để để cho tôi đoán được ý nghĩa của nó. Tôi phải cố giữ để khỏi nhướn mày vì kinh ngạc, thì bắt gặp cái nhìn của Bill như muốn hỏi: Nếu cậu cũng nghĩ như mình thì thật đáng xấu hổ cho cậu.

Mays là một người cao lớn, xanh mét với mái tóc lưa thưa và thái độ giao đãi màu mè của loại người giao tiếp rộng.

“Tôi chắc rằng đây là điều ngạc nhiên lớn đối với các ông cũng như đối với chúng tôi”, ông ta nói với một vẻ chân thành quá mức. “Tôi hoàn toàn không ngờ lại có thể gặp những người khác đã đến trước đây trước tôi và không ngờ mọi chuyện lại xảy ra như thế này”.

“Cơn gió nào đã đưa ông tới đây?” Ashton hỏi, cố giấu vẻ hoài nghi.

“Tôi vừa giải thích điều đó cho giáo sư xong. Cô Mariana, cho tôi mượn cái cặp một chút. Cảm ơn.”

Ông ta lấy ra một tập các bức tranh rất đẹp về thiên văn và trải ra xung quanh. Đó là những bức tranh vẽ các hành tinh nhìn từ các vệ tinh của chúng. Tất nhiên chẳng có gì là lạ cả.

“Tất nhiên những cái này chắc các ông đã từng thấy rồi”, Mays nói tiếp. “Nhưng ở đây có một điểm khác. Những bức tranh này đã được vẽ từ hàng trăm năm nay rồi. Đó là những tác phẩm của họa sĩ Chesley Bonestell đã được in trên tạp chí Life[12] từ năm 1944, tất nhiên là rất lâu trước khi bắt đầu có các chuyến bay vào vũ trụ. Mới đây, tờ Life lại giao nhiệm vụ cho tôi đi vòng quanh hệ Mặt Trời và so sánh xem những bức tranh tưởng tượng kia phù hợp với thực tế đến mức nào. Trong số báo sau một trăm năm, họ định sẽ đăng lại những bức tranh này bên cạnh những bức ảnh thực. Một ý tưởng hay đấy chứ, phải không các ông?”.

Tôi phải công nhận là rất hay. Nhưng điều đó chắc chắn sẽ làm sự việc trở nên rối rắm hơn nhiều và tôi rất muốn biết giáo sư đã nghĩ gì về chuyện này. Tôi lại ngước nhìn cô Mitsen, người vẫn đứng rất nghiêm trang ở góc phòng, và trộm nghĩ rằng, chắc chắn đây sẽ là sự đền bù.

Trong những hoàn cảnh khác, hẳn chúng tôi đã rất mừng rỡ đón tiếp những đoàn thám hiểm khác. Nhưng ở đây có vấn đề cần đặt ra là quyền phát hiện đầu tiên. Chắn chắn Mays sẽ vội vã quay về Trái Đất càng nhanh càng tốt, bỏ mặc cái sứ mạng ban đầu của ông ta. Ở đây và bây giờ ông ta sẽ chụp hết số phim đã mang theo. Chúng tôi không hình dung nổi sẽ làm cách nào để buộc ông ta phải dừng lại và thậm chí không tin là chúng tôi lại muốn là như vậy. Chúng tôi muốn mọi việc trở nên công khai và được ủng hộ, nhưng chúng tôi lại muốn làm chuyện đó theo khả năng và theo cách của mình. Tôi băn khoăn không hiểu giáo sư là người khôn ngoan tới mức nào và rất lo sợ chuyện không hay có thể xảy ra.

Tuy nhiên, mối quan hệ ngoại giao ban đầu giữa chúng tôi cũng khá trót lọt. Giáo sư đã nảy ra một ý rất hay: Phân công mỗi chúng tôi sẽ đi kèm với một thành viên trong nhóm của Mays. Như vậy, chúng tôi vừa là người dẫn đường vừa là giám sát. Việc nhân đôi số người trong các nhóm nghiên cứu đã làm tăng nhịp độ làm việc của chúng tôi lên rất nhiều. Bởi vì trong những điều kiện như ở đây, hoạt động một mình là nguy hiểm và điều đó đã bó chân bó tay chúng tôi rất nhiều.

Một ngày sau khi đoàn của Mays tới, giáo sư đã trình bày đối sách của ông cho tất cả chúng tôi nghe:

“Tôi hi vọng chúng ta có thể nhất trí được với nhau”. Ông nói với vẻ hơi lo lắng. “Theo tôi nghĩ, chúng ta cứ kệ cho họ muốn đi đâu thì đi, muốn chụp gì thì chụp, nhưng không để họ lấy đi bất cứ vật gì và không để cho họ trở về Trái Đất trước chúng ta với tất cả những gì họ ghi chụp được”.

“Theo tôi thì không có cách nào cản họ lại được đâu!” Ashton phản đối.

“Tôi cũng không có ý định ngăn cản họ, nhưng tôi đã gửi đơn đăng ký việc chúng ta đến Mộc Tinh 5. Đêm trước tôi đã đánh điện cho Ganymede và bây giờ chắc chắn là Hague[13] cũng đã nhận được.

“Nhưng không ai lại có thể đăng ký một thiên thể cho mình cả. Luật này đã được đề ra trong trường hợp Mặt Trăng từ thế kỷ trước”.

Giáo sư mỉm cười một cách tinh quái:

“Tôi không đăng ký một thiên thể nào cả, xin anh hãy nhớ cho là như vậy. Tôi chỉ đăng ký một tài sản đã được cứu giúp và tôi làm làm điều đó là nhân danh Hội Đồng Thế Giới. Nếu Mays lấy đi bất cứ bất cứ vật gì trên Mộc Tinh 5, thì có nghĩa ông ta đã ăn cắp. Ngày mai, tôi sẽ nói chuyện nhẹ nhàng với ông ta trước khi ông ta nảy ra ý nghĩa láu cá nào”.

Thật khó có thể quan niệm nổi Mộc Tinh 5 lại là một tài sản được cứu vớt và tôi đã có thể hình dung được những cuộc tranh cãi tố tụng gay gắt sẽ diễn ra khi chúng tôi trở về nhà. Nhưng hiện nay, hành động của giáo sư đã khiến chúng tôi yên tâm và chắc sẽ ngăn cản Mays thu thập các vật kỷ niệm. Như vậy chúng tôi có đủ lạc quan để mà hi vọng.

Phải tốn nhiều công sức tổ chức, tôi mới bố trí được vài lần cùng nhóm hai người với Mariana thám hiểm phần bên trong của Mộc Tinh 5. Mays đã không phản đối, mà thực ra cũng chẳng có lý do đặc biệt nào khiến ông ta phải làm như vậy. Bộ quần áo bay - người hộ vệ hoàn hảo nhất - đã làm tiêu tan mối lo ngại của ông ta.

Tất nhiên, việc đầu tiên là tôi dẫn cô đến phòng trưng bày và chỉ cho Mariana xem pho tượng mà tôi đã tìm ra. Tôi đứng cạnh soi đèn cho Mariana đứng ngắm bức tượng một lúc rất lâu.

“Thật là tuyệt!” Cô gái thì thào. “Chỉ cần nghĩ rằng, nó đã đứng chờ ở đây trong bóng tối hàng triệu năm! Chắc là anh đã đặt tên cho nó rồi chứ!?”

“Tôi đã đặt tên cho nó là Viên Đại Sứ”.

“Vì sao anh lại đặt như thế?”

“Bởi vì, theo tôi nó là một sứ giả mang lời chúc mừng tới chúng ta. Những người sáng tạo ra nó biết rằng một ngày nào đó sẽ có ai đó tới đây và tìm thấy nơi này”.

“Anh nói đúng đấy! Viên Đại Sứ. Đúng, anh thật là thông minh. Có một cái gì đó ở đó rất cao quý, nhưng cũng rất buồn. Anh có cảm thấy thế không?”

Tôi có thể nói rằng Mariana là một phụ nữ rất thông minh. Điều đáng chú ý là cái cách cô thấy được quan điểm của tôi và mối quan tâm mà cô bộc lộ đối với tất cả những cái mà tôi chỉ cho cô. Nhưng Viên Đại Sứ là cái hấp dẫn cô hơn cả và cô quay lại xem nó một lần nữa.

***

“Anh Jack ạ”, cô nói (hình như vào ngày sau khi Mays đã đến xem bức tượng), “anh phải mang bức tượng này về Trái Đất thôi. Anh có biết nó sẽ gây một tiếng vang như thế nào không?”

Tôi khẽ thở dài.

“Giáo sư cũng muốn đem nó về, nhưng nó nặng có lẽ phải đến hàng tấn. Mà chúng tôi thì không có đủ nhiên liệu. Đành phải đợi đến chuyến sau vậy thôi!”

Mariana nhìn rất bối rối.

“Nhưng mọi vật ở đây đâu có nặng”, cô phản đối.

“Có hai khái niệm khác nhau”, tôi giảng giải. “Trọng lượng và quán tính (từ gốc: inertia) là hai khái niệm khác nhau hoàn toàn. Vấn đề ở đây là quán tính… Thôi đừng có bận tâm. Dù sao, chúng tôi cũng không thể mang nó về được. Thuyền trưởng Searle đã nói dứt khoát với chúng tôi như vậy”.

“Tiếc quá nhỉ”, Mariana tỏ ý tiếc rẻ.

Rồi tôi cũng quên khuấy cuộc nói chuyện này cho đến đêm cuối cùng trước khi chúng tôi lên đường trở về. Chúng tôi đã mất hẳn một ngày bận bịu, để đóng gói máy móc (Cố nhiên, chúng tôi đã để lại nhiều thứ cho lần sau cần dùng). Phim ảnh chúng tôi mang theo cũng đã chụp hết. Và Charlie Ashton đã nói đùa là nếu như lúc đó có gặp một người Mộc Tinh còn sống thì cũng chẳng còn phim để ghi nhận sự kiện này. Tôi nghĩ rằng giờ đây tất cả chúng tôi đều đang rất cần một khoảng không gian để thở, một cơ hội để xả hơi, để sắp xếp lại những ấn tượng và để bình tâm lại sau lần đụng độ với một nền văn minh xa lạ.

Con tàu của nhóm Mays - chiếc Henry Luce - cũng đã sẵn sàng cất cánh. Đúng theo sự sắp đặt của giáo sư, chúng tôi sẽ rời Mộc Tinh 5 cùng một lúc; bởi vì ông không muốn để Mays ở lại một mình trên đó.

Mọi việc rắc rối xảy ra bắt đầu từ khi tôi soát lại hành lý và bất chợt thấy thiếu sáu cuộn phim đã chụp. Đó là những cuộn phim chụp lại tất cả các ký tự tạc trên tường đền nghệ thuật. Ngẫm nghĩ một lát, tôi bỗng nhớ là tôi đã được giao nhiệm vụ này và tôi đã giấu rất cẩn thận trên gờ tường trong đền với ý định sau này sẽ lấy lại. Còn lâu mới đến giờ cất cánh, giáo sư và Ashton đang thu dọn chỗ ngủ và chẳng có gì cản trở tôi quay trở lại để lấy những cuộn phim đã bỏ quên. Tôi biết nếu để chúng lại sau này sẽ rất lôi thôi, và vì tôi còn nhớ rất rõ nơi cất chúng, nên có đi cũng chỉ mất vài ba chục phút. Đề phòng bất trắc, tôi báo cho Bill biết rồi đi ra ngoài.

Hiển nhiên, đèn pha bây giờ không còn hoạt động nữa nên bóng tối trong lòng Mộc Tinh 5 gây cảm giác khá nặng nề. Tôi đặt ngọn đèn tiêu xách tay ở lối vào, rồi thả mình rơi tự do cho đến khi chiếc đèn pin báo cho tôi biết đã đến lúc phải dừng lại. Mười phút sau tôi đã tìm thấy mấy cuộn phim và thở phào nhẹ nhõm. Lẽ tự nhiên, tôi muốn nhìn lại Viên Đại Sứ một lần nữa để tỏ lòng ngưỡng mộ của mình. Bởi vì, biết đâu, phải hàng năm nữa tôi mới có thể quay trở lại và cái gương mặt bí ẩn một cách bình thản kia cũng đã làm cho tôi mê mẩn đến lạ lùng. Nhưng thật không may, sự mê mẩn ấy không chỉ có ở riêng tôi. Vì căn phòng bây giờ trống rỗng: Pho tượng đã biến mất.

Tôi trộm nghĩ rằng, tôi có thể quay về và chẳng nói gì hết, như vậy sẽ đỡ phải giải thích lôi thôi. Nhưng tôi đã quá tức giận, không thể kiềm chế nổi nên ngay khi về đến tàu, tôi đã đánh thức giáo sư dậy và báo cho ông biết.

Giáo sư ngồi trên giường, giụi đôi mắt còn ngái ngủ và văng ra mấy câu chửi Mays và các cộng sự của ông ta, những lời chẳng hay ho gì để nhắc lại ở đây.

“Tôi không hiểu”, Searle Kingsley nói. “Nếu họ đã lấy thì bằng cách nào họ đã đưa được bức tượng lên và tại sao chúng ta lại không thấy?”

“Ở đây có nhiều nơi cất giấu lắm và có thể chờ cho tới khi xung quanh không có ai họ mới kéo nó lên. Đây là một công việc ra trò, ngay cả với một lực hấp dẫn nhỏ như ở đây”, Fulton nhận xét với vẻ không phục.

“Bây giờ không phải là lúc ngồi đoán già đoán non”. Giáo sư tỏ vẻ bực bội. Chúng ta chỉ còn năm tiếng đồng hồ nữa để suy nghĩ. Họ không thể xuất phát trước thời hạn đó được, bởi vì chúng ta vừa mới qua điểm trực đối với Ganymede. Có đúng không, Kingsley?”

Searle gật đầu đồng ý. “Đúng, chúng ta phải bay sang mặt sau của Mộc Tinh trước khi muốn phóng lên quỹ đạo chuyển tiếp. Ít nhất là nếu chúng ta muốn tiết kiệm nhiên liệu”.

“Tốt lắm. Ta còn đủ thời gian. Nào, có ai có ý kiến gì không?”

Giờ đây, mỗi khi nhìn lại toàn bộ sự việc, tôi thường nghĩ rằng hành động tiếp sau đó của chúng tôi phải nói là hơi kỳ quặc và hơi thiếu văn minh. Chỉ ít tháng trước đó thôi, chúng tôi cũng không thể tưởng tượng nổi là mình có thể sẽ làm những việc như vậy. Nhưng vì chúng tôi đã quá lo âu, đã quá mệt mỏi và sự xa cách loài người đã phần nào làm cho mọi việc trở nên khác hẳn. Hơn nữa, ở đây chẳng có luật lệ gì nên chúng tôi buộc phải đặt ra luật lệ cho mình.

“Chả lẽ chúng ta không có cách nào ngăn cản họ cất cánh sao? Chúng ta có thể làm hỏng tên lửa của họ chẳng hạn”. Bill đề nghị.

Searle Kingsley hoàn toàn không thích ý kiến này.

“Không, chúng ta không thể làm một việc vô nhân đạo như thế”, anh nói. “Hơn nữa, Don Hopkins lại là bạn thân của tôi. Anh ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi nếu tôi phá hỏng con tàu của anh ấy. Và thật là nguy hiểm nếu chúng ta làm hỏng và không sửa lại được.”

“Nếu thế, chúng ta chỉ cần hút hết nhiên liệu của họ!” Groves nói cụt lủn.”Đúng đấy! Chắc bây giờ bọn họ đã ngủ say cả rồi. Các anh thấy không, bên ấy chả còn đèn đóm gì cả. Chúng ta chỉ việc tới nối bơm vào là xong.”

“Ý kiến hay đấy!” Tôi nhận xét. “Nhưng chúng ta cách họ những hai kilômét. Mà chúng ta thì có bao nhiêu mét ống dây? Liệu có được vài trăm mét không?”

Mọi người chả ai đếm xỉa đến ý kiến của tôi. Họ vẫn tiếp tục soạn thảo những kế hoạch hành động của họ. Năm phút sau, các kỹ thuật viên đã giải quyết xong mọi vấn đề. Chúng tôi chỉ còn việc mặc quần áo bay vào và bắt tay vào việc.

Trước khi gia nhập đoàn thám hiểm của giáo sư Forster, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng, chung cuộc, tôi lại phải làm giống như một người khuân vác Phi Châu đội tất cả hàng hóa trên đầu, mà ta thường thấy trong các câu chuyện cổ tích thời xưa, nhất là lại nặng tới một phần sáu trọng lượng của một con tàu vũ trụ. Vì thấp bé, giáo sư chẳng giúp chúng tôi được bao nhiêu. Bây giờ thì thùng nhiên liệu của tàu chúng tôi chỉ còn một nửa và dưới lực hấp dẫn nhỏ như ở đây, nó chỉ nặng khoảng hai trăm kilôgam. Tất cả chúng tôi bám vào phía dưới của tàu, dùng vai, đầu đội nó lên, tất nhiên là rất chậm, vì quán tính của con tầu vẫn như ở Trái Đất. Cuộc hành trình phải mất một lúc lâu và cũng hoàn toàn không dễ dàng như chúng tôi tưởng lúc đầu. Giờ đây hai con tàu đã nằm cạnh nhau và không một ai thấy chúng tôi cả. Mọi người trên Henry Luce vẫn ngủ say như chết vì họ có đủ lý do để yên chí rằng chúng tôi cũng muốn đang ngủ li bì như họ.

Mặc dù mệt đến đứt hơi, nhưng tôi vẫn cảm thấy khoái chí như trong các cuộc phiêu lưu thuở học trò khi thấy Searle và Fulton kéo hướng dẫn ra khỏi tàu chúng tôi và lặng lẽ nối vào con tàu Henry Luce.

“Cái đẹp của kế hoạch này”, Groves giải thích cho tôi, khi hai chúng tôi đứng nhìn mọi người làm việc, “là họ không thể nào ngăn chúng ta lại được, ngoại trừ họ chui ra ngoài và cắt ống dẫn. Nhưng chúng ta chỉ cần hút trong 5 phút là họ hết sạch nhiên liệu, còn họ thì để tỉnh dậy và mặc xong bộ quần áo bay cũng đã mất một nửa số thời gian đó”.

Một nỗi sợ hãi khủng khiếp bất chột xâm chiếm lấy tôi.

“Thế nhỡ nếu họ bây giờ họ khởi động tên lửa và bay lên chạy trốn thì sao?”

“Khi đó thì bọn mình sẽ tan tành. Nhưng không, chắc chắn họ sẽ phải đi ra ngoài xem chuyện gì đã xảy ra. Mà kìa, bơm chạy rồi kia kìa!”

Ống dẫn nhiên liệu phập phồng rồi duỗi căng ra. Tôi biết nhiên liệu từ Henry Luce đang chảy sang tàu chúng tôi. Bất kỳ lúc nào những người trong tàu Henry Luce cũng có thể tỉnh dậy và chạy bổ ra ngoài. Thật may mắn là chuyện đó đã không xảy ra. Hẳn họ phải ngủ say lắm mới không cảm thấy tiếng rung của máy bơm. Và khi mọi chuyện đã xong xuôi, chúng tôi ngỡ ngàng trông như những thằng thộn. Searle và Fulton thận trọng tháo ống dẫn và thu lại về đưa về tàu.

“Xong rồi chứ ạ?” Chúng tôi hỏi giáo sư.

Giáo sư suy nghĩ một lát, rồi nói:

“Thôi, chúng ta hãy về tàu!”

Sau khi chúng tôi cởi quần áo bay và tụ tập trong phòng điều khiển, giáo sư mới ngồi xuống cạnh máy vô tuyến và phát tín hiệu khẩn cấp. Những người láng giềng đang ngon giấc của chúng tôi chắc chỉ vài giây nữa sẽ thức dậy, vì bộ máy thu tự động của họ sẽ rung chuông báo động.

Màn TV nhấp nháy hoạt động. Kia rồi, trên màn ảnh xuất hiện gương mặt đầy hoảng hốt của Randolph Mays.

“Chào giáo sư”, ông ta lầu bầu. “Có chuyện gì xảy ra vậy?”

“Không có chuyện gì đâu!” Giáo sư trả lời với vẻ lạnh lùng vốn có của ông. “Nhưng có lẽ các ông đã mất một thứ rất quan trọng. Hãy nhìn lại đồng hồ nhiên liệu ông khắc biết”.

Mays biến mất khỏi màn ảnh và lúc này trong loa lao xao những tiếng hò hét hỗn độn. Mays lại xuất hiện. Sự bất bình lo âu hiện rõ trên nét mặt ông ta.

“Có chuyện gì đã xảy ra vậy?” Ông ta hỏi một cách gay gắt. “Chắc ông biết chuyện gì đã xảy ra chứ?”

Để mặc cho ông ta sừng sộ một lúc, giáo sư mới trả lời: “Tốt nhất xin mời ông sang đây, chúng ta sẽ nói chuyện. Cũng gần thôi mà!”

Mays nhìn giáo sư một cách hoài nghi, rồi nói: “Ông chắc tôi sẽ sang ư!”

Màn TV lại trắng xóa.

“Hắn sẽ phải chui ra ngay bây giờ cho mà xem!” Bill nói đầy vẻ chế giễu. “Vì hắn không làm thế nào khác được đâu!”

“Không đơn giản như cậu nghĩ đâu”, Fulton cảnh giác, “nếu thực sự hắn muốn chơi xấu, hắn ngồi lì ở đấy và gọi điện về Ganymede xin tiếp tế nhiên liệu thì sao?”

“Cũng chẳng ăn nhằm gì. Ít nhất hắn cũng phải mất vài ngày và phải trả giá đắt đấy”.

“Đã đành rồi, nhưng hắn vẫn còn pho tượng. Vả lại, nhất định hắn sẽ kiện chúng ta đòi bồi thường”.

Đèn cửa ra vào bật sáng và Mays nhảy vào phòng. Ông ta tỏ thái độ hòa nhã một cách đáng ngạc nhiên. Trên đường tới đây chắc ông ta nghĩ lại.

“Chà, chà”, ông ta nói một cách nhũn nhặn, “các ông đã làm những trò nhảm nhí đó để làm gì vậy?”

“Chắc tự các ông cũng đã hiểu rất rõ”, giáo sư lạnh lùng nói. “Tôi đã nói rất rõ cho các ông biết là không được lấy đi bất cứ thứ gì trên vệ tinh này, thế mà các ông lại dám lấy cắp đi một tài sản không phải của các ông”.

“Chúng ta nên tỏ ra biết điều. Thế thử hỏi các ông, cái đó thuộc về ai? Các ông cũng không có quyền đăng ký làm tài sản riêng tất cả các thứ trên hành tinh này”.

“Đây không phải là một hành tinh mà là một con tàu. Vì vậy luật đăng ký các tài sản cứu vớt được vẫn có hiệu lực”.

“Thật ra, đây là điều cần phải bàn cãi chán. Tôi nghĩ rằng các ông sẽ không chờ cho tới khi nhận được các chỉ dẫn của các luật sư chứ?”

Giáo sư tỏ ra lịch thiệp đến lạnh lùng, nhưng tôi vẫn cảm thấy một sự căng thẳng khủng khiếp và sự bùng nổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

“Ông Mays, xin ông hãy nghe đây”, giáo sư nói với một sự bình tĩnh lạ thường. “Vật mà các ông đã lấy là một phát hiện quan trọng nhất của chúng tôi trên Mộc Tinh 5. Tôi cho phép giả thiết rằng các ông đã không ý thức hết hậu quả của việc các ông đã làm, và đã không hiểu được quan điểm của một nhà khảo cổ học như tôi. Các ông hãy trả lại pho tượng rồi chúng tôi sẽ bơm trả nhiên liệu cho các ông. Thế là xong!”

Mays xoa cằm, vẻ suy nghĩ.

“Tôi thực sự không hiểu tại sao các ông lại làm om sòm lên như vậy vì một bức tượng, trong khi các ông xem tất cả các thứ còn lại không đáng một xu”.

Chính lúc này giáo sư của chúng tôi đã phạm một sai lầm, điều mà ít khi ông mắc phải.

“Ông nói cứ như tên ăn cắp bức Mona Lisa ở Louvre, kẻ còn già mồm cãi rằng, chẳng có ai mất gì cả vì vẫn còn những bức tranh khác. Pho tượng độc nhất về phong cách này không có một tác phẩm nghệ thuật nào trên Trái Đất có thể sánh nổi. Đó chính là lý do tại sao tôi quyết định phải lấy lại bức tượng đó”.

Trong bất kỳ cuộc điều đình nào, bạn cũng không được để lộ điều mà bạn đang thiết tha mong muốn. Tôi nhận thấy ánh mắt hau háu của Mays và tự nhủ: Ái chà chà! Hắn sẽ cứng cổ lắm cho mà xem. Và tôi bỗng nhớ lại lời nhận xét của Fulton về việc gọi điện xin tiếp tế nhiên liệu từ Ganymede.

“Xin các ông hãy cho tôi nửa tiếng để suy nghĩ”. Mays nói và đi ra cửa.

“Thôi được, đúng nửa giờ, không hơn đâu đấy!” Giáo sư nói một cách kiên quyết.

Phải công nhận Mays là một người lọc lõi. Năm phút đồng hồ sau, chúng tôi đã thấy rađa của hắn bắt đầu quay và hướng về phía Ganymede. Lẽ tự nhiên chúng tôi cố gắng nghe trộm, nhưng hắn đã cho máy gây nhiễu. Bọn nhà báo chắc sẽ tin nhau.

Ít phút sau đã có điện trả lời, nhưng nhiễu quá chúng tôi không nghe được. Trong khi chờ đợi sự diễn biến của tình hình, chúng tôi họp lại một lần nữa. Giờ đây giáo sư trở nên cực kỳ cứng rắn và tuyệt đối không nhân nhượng. Ông đã nhận ra rằng, mình đã tính toán sai và điều đó làm cho ông đấu tranh một cách điên cuồng.

Tôi nghĩ rằng Mays cũng hơi lo ngại, nên khi quay trở lại tàu chúng tôi, ông ta đã tăng thêm lực lượng. Đi cùng với ông ta lần này có Donald Hopkins, một anh chàng nhìn rất cau có.

“Thưa giáo sư, tôi đã cân nhắc mọi bề, và có thể nói với giáo sư rằng, chúng tôi có thể trở về mà không cần tới sự giúp đỡ của ông. Có điều sẽ phải mất một số thời gian. Tuy nhiên, tôi phải thừa nhận một điều là sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian và tiền bạc nếu chúng ta đi tới thỏa thuận. Các ông hãy trả lại chúng tôi nhiên liệu, chúng tôi sẽ đưa lại cho các ông tất cả các mẫu vật khác mà chúng tôi đã tìm được. Nhưng tôi sẽ kiên quyết giữ lại Mona Lisa, cho dù có phải đợi đến tuần sau mới quay về được Ganymede.

Giáo sư đã tuôn ra một tràng những lời thề độc, mặc dù tôi có thể đoán chắc với các bạn rằng, nó cũng như mọi lời thề khác mà thôi. Điều đó dường như đã làm cho ông cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều và ông trở nên thân ái một cách tàn ác.

“Ông Mays thân mến ạ, vì ông là một con người hết sức biển lận, nên tôi không hề ân hận sẽ phải mặc cả với ông. Tôi đã chuẩn bị để dùng tới bạo lực, vì tôi biết rằng luật pháp sẽ biện hộ cho tôi”.

Mays nhìn hơi hoảng hốt, mặc dù chưa đến nỗi tái mặt lắm. Chúng tôi tản ra chiếm các vị trí xung yếu cạnh các cửa ra vào.

“Xin các ông không nên làm rùm beng như vậy”. Y nói một cách ngạo mạn. “Bây giờ là thế kỷ 21 chứ đâu phải Miền Viễn Tây Hoang Dã những năm 80 của thế kỷ 19”.

“Chúng tôi buộc lòng phải tạm giữ ông, trong khi chúng tôi quyết định sẽ phải làm gì”. Giáo sư nói tiếp. “Anh Searle, hãy dẫn ông Mays sang cabin B”.

Mays vừa cười gằn vừa liếc dọc theo tường.

“Thưa giáo sư, việc các ông vừa làm quả là trò trẻ con. Các ông không thể khuất phục được ý muốn của tôi đâu”, Mays ngước nhìn viên thuyền trưởng của tàu Henry Luce, chờ đợi sự ủng hộ.

Donald Hopkins vờ phủi lông trên bộ đồng phục của anh ta.

“Tôi từ chối tham gia vào cuộc cãi lộn tầm thường này”. Anh ta nói một cách trung lập.

Mays ném về phía Hopkins một cái nhìn giận dữ, rồi miễn cưỡng đầu hàng.

Sau khi Mays đi khuất, giáo sư quay sang Hopkins, người đang nhìn một cách ghen tị đồng hồ đo nhiên liệu của tàu chúng tôi.

“Liệu tôi có thể tin được rằng, anh đã không muốn tham gia vào vụ làm ăn bẩn thỉu vừa qua của ông chủ anh không?” Giáo sư nói một cách lịch sự.

“Tôi là một con người trung lập. Công việc của tôi là lái con tàu tới đây và đưa nó về nhà. Còn thì mặc các ông tha hồ mà tranh đấu với nhau”.

“Cảm ơn anh, tôi nghĩ rằng chúng ta hoàn toàn hiểu nhau. Bây giờ có lẽ tốt hơn cả là anh nên trở về tàu của mình và giải thích tình hình hiện nay cho mọi người hiểu. Vài phút nữa chúng tôi sẽ gọi điện cho anh”.

Thuyền trưởng Hopkins nhanh nhẹn bước ra phía cửa. Trước khi bước ra hẳn, anh ta quay lại nói với Searle:

“Kingsley này, liệu các cậu có định tra tấn ông ấy không đấy? Nếu có thì nhớ gọi mình nhé, mình có vài trò vui hay lắm đấy”. Nói xong anh ta biến mất, để chúng tôi với con tin của mình.

Tôi mong rằng lúc đó giáo sư đã hi vọng là ông có thể đánh đổi trực tiếp. Nếu quả thật như vậy thì ông không tính đến sự cứng đầu của Mariana.

“Cũng đáng đời cho Randolph lắm”, cô ta nói. “Nhưng thực tình tôi không thấy điều đó giúp ích gì cả. Ông ấy sống trong tàu của các ông cũng tiện nghi như trong tàu của chúng tôi thôi. Mà các ông cũng chả làm gì được ông ta đâu. Khi nào các ông chán không muốn giữ ông ta nữa, xin các ông làm ơn cho biết!”

Tình hình trở nên hoàn toàn bế tắc. Chúng tôi chỉ khôn ngoan nửa vời và sự khôn ngoan ấy chả đưa chúng tôi tới đâu cả. Chúng tôi đã bắt giữ Mays, nhưng y có ích lợi gì cho chúng tôi đâu.

Giáo sư đứng quay lưng về phía chúng tôi và cay đắng nhìn ra ngoài cửa sổ. Xa xa lơ lửng ở chân trời quả cầu Mộc Tinh khổng lồ gần như choán hết cả bầu trời.

“Chúng ta phải làm gì cho con bé tin rằng những việc chúng ta làm là nghiêm túc chứ không phải trò đùa”, giáo sư nói rồi đột nhiên quay về phía tôi. “Theo cậu thì có thật là con bé yêu thằng cha đê tiện ấy không?”

“Tôi, … Tôi chẳng có gì ngạc nhiên. Tôi tin là như vậy”.

Giáo sư nhìn rất tư lự. Đoạn, ông nói với Searle, “Hãy vào phòng tôi. Chúng ta có việc cần bàn”.

Hai người bỏ đi một lát. Khi họ trở lại, gương mặt họ lộ vẻ hi vọng. Giáo sư còn mang theo một tờ giấy chi chít những chữ số. Ông tới bàn vô tuyến điện và gọi tàu Henry Luce.

“Xin chào,” Mariana nhanh nhẩu trả lời, điều đó chứng tỏ cô ta đã chờ chúng tôi từ rất lâu. “Các ông đã quyết định chấm dứt cái trò đó phải không? Tôi cũng đã ngán quá rồi”.

Giáo sư nghiêm nghị nhìn cô gái.

“Cô Mitchell”, ông đáp. “Quả là cô chưa thấy hết tính nghiêm trọng của sự việc. Vì vậy chúng tôi sẽ bố trí một cuộc minh họa hơi nguy hiểm một chút để cho cô hiểu. Tôi sẽ đưa ông chủ của cô tới một nơi mà vì lo sợ cho tính mạng của ông ta, cô sẽ muốn chuộc lại ông ta càng nhanh càng tốt”.

“Thật thế ư?” Mariana hỏi vẻ hoài nghi, mặc dù trong giọng nói của cô tôi nhận thấy có vẻ lo sợ.

“Tôi cho rằng cô không hiểu nhiều về cơ học thiên thể.” Giáo sư nói tiếp. “Không à? Chán quá, nhưng hoa tiêu trên tàu sẽ hiểu và khẳng định những điều tôi sẽ nói với cô. Có phải thế không, anh Hopkins?

“Ông cứ nói tiếp đi”. Một giọng nói thản nhiên vẳng ra từ trong loa.

“Cô Mitchell, xin cô hãy nghe cho kĩ đây! Tôi muốn nhắc cho cô nhớ về vị trí rất lạ lùng nhưng thực ra rất mong manh của chúng ta trên hành tinh này. Chỉ cần nhìn qua cửa sổ cô cũng thấy chúng ta ở gần Mộc Tinh tới mức nào, và chắc tôi không cần nhắc lại cho cô rõ, Mộc Tinh là hành tinh có trường hấp dẫn mạnh nhất trong hệ Mặt Trời. Cô vẫn nghe tôi nói đấy chứ?”

“Vâng,” Mariana đã không còn tự chủ được nữa, trả lời. “Ông cứ nói tiếp đi.”

“Tốt lắm. Cái thế giới nhỏ bé mà chúng ta đang sống đây quay quanh Mộc Tinh một vòng hết đúng mười hai giờ. Theo một định lý nổi tiếng thì một vật rơi từ quỹ đạo tới tâm hấp dẫn sẽ mất một khoảng thời gian bằng 0,177 lần chu vi quay. Nói một cách khác, một vật nào đó rơi từ đây xuống Mộc Tinh sẽ tới được tâm của hành tinh đó sau hai giờ bảy phút. Tôi chắc rằng thuyền trưởng Hopkins đồng ý với tôi chứ?”

Sau một khoảng im lặng kéo dài, Hopkins lên tiếng: “Vâng, tất nhiên là tôi không thể khẳng định những con số là hoàn toàn chính xác, nhưng đại loại là như vậy”.

“Hay lắm”, giáo sư tiếp tục, “tôi chắc anh cũng biết rằng, việc một vật rơi xuống tâm của một hành tinh là một trường hợp thuần tuý lý thuyết. Thực tế, nếu có một vật rơi từ đây xuống, thì nó sẽ đạt tới lớp khí quyển tầng cao của Mộc Tinh trong khoảng thời gian ngắn hơn nhiều. Tôi hi vọng không làm các bạn ngán đấy chứ?”

“Không!” Mariana trả lời yếu ớt.

“Tôi rất mừng vì đã không làm cho các bạn ngán. Dù sao thì thuyền trưởng Searle cũng đã tính được cho tôi thời gian rơi là một giờ ba mươi phút gì đó. Chúng tôi không đảm bảo an toàn chính xác … ha! ha! … Mặt khác, chắc các bạn cũng chả lạ gì là Mộc Tinh 5 có trường hấp dẫn cực kỳ yếu. Vận tốc vũ trụ cấp 2 của nó chỉ khoảng 10 m/s và bất cứ vật nào được ném ra với vận tốc đó đều không thể rơi trở lại. Đúng chứ, phải không anh bạn Hopkins?”

“Hoàn toàn đúng.”

“Thế thì thế này. Chúng tôi có ý định đưa ông bạn Mays của chúng ta đi dạo và tới địa điểm khi Mộc Tinh ở đúng đỉnh đầu, chúng tôi sẽ thu súng phản lực của ông Mays và đẩy ông ta lên. Chúng tôi sẽ sẵn sàng kéo ông ta lại bất cứ lúc nào, nếu các anh đem trả tài sản mà các anh đã ăn cắp. Chắc bây giờ các anh đã hiểu được khoảng thời gian đó có tính chất sống còn tới mức nào. Một tiếng ba mươi nhăm phút cũng chẳng nhiều nhặn gì, có phải không?”

“Thưa giáo sư”, tôi hét lên. “Giáo sư không có quyền làm như vậy!”

“Im mồm!” Ông quát. “Thế nào, cô Mitchell, cô nghĩ sao?”

Mariana ngước mắt nhìn giáo sư vừa sợ hãi vừa hoài nghi.

“Ông đừng có dọa dẫm!” Cô ta hét lên. “Tôi tin là ông sẽ không dám làm chuyện đó đâu. Đội bay của ông sẽ không cho phép ông làm như vậy!”

Giáo sư thở dài.

“Thật là quá lắm!” Ông nói. “Thuyền trưởng Searle, anh Groves, các anh hãy dẫn ngay Mays ra và làm như tôi đã chỉ dẫn.”

“Xin tuân lệnh, thưa giáo sư”, Searle đáp với vẻ cực kỳ long trọng.

Mays tỏ vẻ sợ hãi nhưng vẫn bướng bỉnh.

“Các ông sẽ làm gì tôi bây giờ đây?” Mays nói, khi người ta trả lại ông ta bộ quần áo bay.

Searle thu lại khẩu súng phản lực, rồi ra hiệu, “Mặc quần áo vào và chúng ta sẽ đi dạo.”

Lúc này tôi mới hiểu giáo sư định làm gì. Chẳng qua đó chỉ là một trò dọa dẫm phóng đại mà thôi. Cố nhiên là ông không ném Mays xuống Mộc Tinh thật, hoặc ít ra thì Searle và Groves cũng không làm điều đó. Nếu Mariana thực sự đoán ra được trò dọa dẫm này, thì chúng tôi chỉ là một lũ ngốc thôi.

Mays không thể chạy trốn được khi không có súng phản lực. Túm lấy hai tay Mays và kéo ông ta đi như kéo một quả khí cầu, hai người áp tải đi về phía chân trời và hướng tới Mộc Tinh.

Nhìn ra ngoài, tôi có thể thấy được trong con tàu bên cạnh, Mariana đang nhìn qua cửa sổ, quan sát ba người đang hướng về phía chân trời. Điều đó cũng không qua được mắt giáo sư.

“Tôi chắc cô không nghĩ rằng hai người của chúng tôi kéo đi bộ quần áo bay rỗng tuếch đấy chứ? Tôi khuyên cô nên dùng kính viễn vọng và quan sát thì hơn. Ít phút nữa thôi họ sẽ khuất sau đường chân trời, nhưng cô vẫn có thể thấy được Mays khi ông ta bắt đầu bay lên đấy.”

Trong loa phóng thanh vẫn là sự im lặng bướng bỉnh. Thời hạn trì hoãn tưởng như kéo dài vô tận. Phải chăng Mariana cũng đang chờ xem giáo sư có thể đi xa tới mức nào?

Tình cờ tôi lại có một chiếc ống nhòm. Qua ống nhòm, tôi quan sát toàn bộ vùng không gian lân cận chân trời, một đường chân trời gần đến nực cười. Bất chợt tôi thấy một đốm sáng nhỏ tí xíu xuất hiện trên nền sáng màu vàng ệch của Sao Mộc. Tôi nhanh chóng điều chỉnh ống nhòm và nhận ra ba hình người đang bay lên. Theo tôi thấy, ba người đang tách xa nhau: Hai người đang dùng súng phản lực hãm dần tốc độ, rồi rơi xuống, còn người thứ ba đang lao một cách vô vọng tới Mộc Tinh.

Tôi sợ hãi nhìn sang giáo sư một cách nghi ngờ.

“Trời, họ làm thế thật rồi!” Tôi hét lên. Thế mà tôi cứ tưởng các ông chỉ dọa dẫm thôi đấy!”

“Chắc chắn cô Mitchell cũng nghĩ như anh đấy”. Giáo sư nói một cách bình thản cốt để cho phía bên kia nghe thấy. “Tôi hi vọng không cần phải giải thích về sự khẩn cấp của tình hình nữa chứ? Như tôi đã nói nhiều lần trước đây, thời gian rơi từ đây xuống bề mặt của Mộc Tinh chỉ mất 95 phút. Nhưng, dĩ nhiên chỉ cần do dự để mất một nửa khoảng thời gian đó, thì tôi e là sẽ quá muộn …”

Từ phía tàu bên cạnh vẫn không một tiếng trả lời.

“Còn bây giờ,” giáo sư nói tiếp, “tôi sẽ tắt máy bộ đàm, vì chúng tôi không còn điều gì cần nói thêm nữa. Chúng tôi sẽ chờ cho tới khi bên đó đem trả lại pho tượng và các vật khác mà do sơ suất đã nói tới. Chỉ lúc đó chúng tôi mới nói chuyện trở lại. Thôi, xin tạm biệt!”

Tiếp theo là mười phút hết sức nặng nề. Tôi đã mất hút dấu vết của Mays và tôi thật sự băn khoăn không biết có nên gây áp lực đối với giáo sư và giành lấy quyền chủ động trước khi án mạng sẽ xảy ra. Những người đã có thể bay được trên các con tàu vũ trụ đều là những người có khả năng phạm tội. Tôi hoang mang không biết nghĩ thế nào.

Đúng lúc này, cánh cửa tàu Henry Luce từ từ mở. Hai bóng người mặc bộ đồ bay xuất hiện cùng với những hiện vật đã từng là nguyên do gây ra mọi sự rắc rối giữa chúng tôi.

“Đầu hàng vô điều kiện”, giáo sư lẩm bẩm vẻ thỏa mãn. “Hãy đưa tất cả vào tàu của chúng tôi đi”. Ông gọi qua máy bộ đàm. “Tôi sẽ mở cửa cho các anh.”

Giáo sư vẫn không hề tỏ ra vội vã. Tôi lo lắng nhìn lên đồng hồ: 15 phút đã trôi qua. Có tiếng loảng xoảng ở cửa ngoài, rồi cửa trong bật mở và thuyền trưởng Hopkins bước vào. Theo sau anh ta là Mariana, người mà chỉ thiếu cây rìu đẫm máu trong tay nữa là giống hệt nàng Clytemnestra[14]. Tôi cố gắng hết sức tránh cái nhìn của Mariana, nhưng giáo sư thì hình như hoàn toàn không tỏ vẻ gì ngượng ngập. Ông bình thản đi vào sau cửa ngăn kiểm kê số hiện vật được trao trả, đoạn, xoa hai tay vào nhau vẻ thỏa mãn và đi ra.

“Tốt lắm, đầy đủ cả”. Ông vui vẻ nói. “Bây giờ xin mời các bạn hãy ngồi xuống, uống chút ít để quên đi tất cả những điều khó chịu giữa chúng ta, được chứ?”

Tôi chỉ lên đồng hồ, rồi hét to:

“Giáo sư điên rồi sao! Ông Mays đã đi được nửa đường đến Mộc Tinh rồi còn gì!”

Giáo sư bực tức nhìn tôi.

“Thói sốt ruột vốn là điểm yếu thường tình của tuổi trẻ. Tôi không thấy có lý do gì cần phải vội vã cả.”

Mãi đến tận bây giờ Mariana mới nói nên lời. Và mặt cô lộ rõ nỗi sợ hãi thực sự.

“Nhưng ông đã hứa rồi cơ mà,” Mariana thảng thốt nói.

Đến đây, giáo sư đột ngột lên tiếng. Thực ra ông đã đùa và bây giờ không muốn kéo dài sự đày đọa nữa.

“Tôi có thể nói ngay cho các bạn, cô Mitchell và cả anh Jack nữa, biết rằng, tình hình của ông Mays cũng không nguy hiểm gì hơn chúng ta đâu. Chúng ta có thể đến đón ông ta bất cứ lúc nào.”

“Ông không muốn nói là ông đã lừa chúng tôi đấy chứ?”

“Chắc chắn là không. Tất cả những điều tôi đã nói với cô là hoàn toàn đúng. Chỉ có điều cô đã rút ra những kết luận không đúng mà thôi. Khi tôi nói là một vật rơi từ đây xuống Mộc Tinh hết 95 phút, tôi đã sơ ý bỏ qua một câu khá quan trọng lẽ ra cần phải nói thêm là một vật đứng yên đối với Mộc Tinh. Ông bạn Mays của cô, vì ở trên Mộc Tinh 5 nên cũng có vận tốc như nó và hiện nay cũng vẫn giữ vận tốc đó. Nghĩa là vào khoảng 26 km/s gì đấy cô Mitchell ạ. Đúng là lúc ấy, chúng tôi đã ném ông Mays ra khỏi vệ tinh thứ 5 về phía Mộc Tinh, nhưng với vận tốc chẳng đáng kể gì. Như vậy, thực tế ông ấy vẫn chuyển động theo quỹ đạo cũ mà thôi. Cùng lắm, theo như tôi đã giao Searle cho tính toán, thì ông ta sẽ trôi vào phía trong khoảng một trăm cây số gì đấy là nhiều. Và chỉ sau một vòng quay quanh Mộc Tinh, tức là sau mười hai tiếng đồng hồ là ông ta sẽ trở về đúng chỗ xuất phát mà chúng ta chả cần phải làm gì cả”.

Tiếp sau là sự im lặng kéo dài, rất dài. Gương mặt của Mariana là phức hợp của những cảm giác: Thất bại, nhẹ nhõm vì tai họa đã qua và chán chường vì mình đã bị lừa. Đoạn cô quay sang phía thuyền trưởng Hopkins:

“Anh đã biết tất cả mà tại sao lại không nói với tôi?”

“Bởi vì cô có hỏi tôi đâu!”

Một tiếng sau, chúng tôi đã đón được Mays xuống đất. Ông ta chỉ ở độ cao vào khoảng 20 kilômét và nhờ ánh sáng phản chiếu của bộ quần áo bay, nên chúng tôi tìm được ông ta khá nhanh. Máy bộ đàm của ông ta đã bị cắt, nếu không chắc Mays có đủ thông minh để phát hiện ra là ông ta hoàn toàn không bị nguy hiểm gì. Khi đó ông ta sẽ gọi điện về tàu của mình và lật tẩy trò dọa dẫm của chúng tôi. Thế mà tất cả những cái đó trước kia tôi đã không hiểu được. Tuy nhiên, về phần cá nhân tôi, bây giờ tôi vẫn rất mừng vì mọi chuyện đã kết thúc, cho dù tôi đã biết rằng hoàn toàn không có gì nguy hiểm cả. Dù sao thì một mình cô đơn ở giữa khoảng không kia cũng đáng sợ lắm chứ!

Điều khiến cho tôi ngạc nhiên là Mays không nổi khùng như tôi tưởng. Có thể là do ông ta quá vui mừng vì đã được giải thoát khi chúng tôi tiến đến gần và kéo ông ta vào ngồi trong cái cabin bé nhỏ nhưng ấm cúng của chúng tôi. Hoặc cũng có thể ông ta cảm thấy bị thất bại, trong một cuộc đấu tranh đẹp và không chịu được bất cứ sự hằn học nào. Thực tình tôi cho có lẽ là lý do thứ hai.

Tiếp theo, nói chung không có gì đặc biệt xảy ra, ngoài việc trước khi rời Mộc Tinh 5, chúng tôi còn lừa Mays một trận nữa. Tàu của ông ta bây giờ có nhiều nhiên liệu hơn mức cần thiết, bởi vì trọng lượng hàng trên tàu đã giảm xuống rất nhiều. Chính nhờ có lượng nhiên liệu dư ấy mà cuối cùng chúng tôi đã đưa được Viên Đại Sứ lên Ganymede. Giáo sư cũng đã giao tấm séc trả tiền số nhiên liệu mà ông đã tạm vay trên Mộc Tinh 5. Như vậy, mọi việc đều rất sòng phẳng và hợp pháp.

Dù sao thì tôi cũng phải kể cho bạn nghe nốt cái kết cục thú vị của chuyến đi này. Một ngày sau khi viện trưng bày của Viện bảo tàng Anh mở cửa, tôi có ghé lại thăm Viên Đại Sứ. Một phần cũng là để xem dư luận đối với nó như thế nào. Hàng đoàn người chen chúc trong phòng trưng bày. Trong đám đông ấy tôi thấy có cả Mays và Mariana.

Cuộc gặp gỡ của chúng tôi kết thúc bằng bữa ăn rất tuyệt ở Holborn[15]. Tôi vẫn nói về Mays rằng ông ta không mang mối hận thù nào. Nhưng dù sao thì tôi vẫn cảm thấy thương Mariana.

Và thực tình, tôi cũng không thể hiểu nổi là cô ấy yêu hắn ta ở cái điểm gì.

★★★

[10] Là nhà thờ lớn nhất thế giới xây dựng ở Roma năm 1506.

[11] Giovanni Bellini (1430 - 1516 danh họa Italia, đại biểu lớn nhất của trường phái Venetian - Vơnidơ.

[12] Life: Một họa báo hàng tuần, tuyên truyền về lối sống Mỹ, xuất bản tại New York từ năm 1937.

[13] Hague: Thủ đô hành chính của Hà Lan. Ngay từ năm 1890 theo sáng kiến của nước Nga, ở đây đã tổ chức Hội nghị Hòa bình thế giới đầu tiên, và đã thành lập diễn đàn Lahay - một tòa án trọng tài nhằm giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.

[14] Clytemnestra là vợ của Agamemnon vua xứ Argos, người đã theo tình nhân, giết chồng vừa mới chiến đấu ở thành Troy trở về.

[15] Một trong những khu phố trung tâm của London.

« Lùi
Tiến »