1. AI GIẾT ÔNG NGÔ ĐÌNH CẨN
I.- Phía Hoa Kỳ:
Tám giờ tối ngày 4.11, Đại Sứ Lodge gửi điện văn mang số 917, báo cáo với Bộ Ngoại Giao về cuộc tiếp xúc của ông với hai Tướng Dương Văn Minh và Đôn. Tại mục 5 của điện văn, có đoạn ông đề cập tới trường hợp của ông Ngô Đình Cẩn. Theo ông: ‘'...sẽ là một điều rất tồi tệ nếu để ông Cẩn bị giết. Và việc tách ông Cẩn ra khỏi mẫu thân ông, cũng là một điều tệ hại''. Và ông được Ngoại Trưởng Rusk trả lời một công điện Hỏa Tốc số 714 nội dung như sau:
‘'Tham chiếu công điện số 971 của ông, đoạn 5, đồng ý phải tránh mọi tổn hại cho Ngô Đình Cẩn. Tôi nghĩ rằng, nếu cần, chúng ta phải cố gắng đưa ông ta và mẹ ông ta ra khỏi nước trong thời gian sớm nhất, hãy dùng phương tiện của chúng ta nếu việc ra đi của họ là khẩn cấp. Trong khi ấy, chúng ta cần phải làm tất cả mọi việc trong quyền hạn của chúng ta để việc bảo vệ họ được vững chắc''.
Tiếp tục theo dõi sự trao đổi giữa Tòa Lãnh Sự và Tòa Đại Sứ Mỹ với Bộ Ngoại Giao, người ta không khỏi ngạc nhiên về sự thay đổi thái độ một cách thật khó hiểu của hai cơ quan này, qua những tin tức được họ báo cáo về cấp trên của họ.
Như tôi đã kể trong mục ‘'Hậu Đảo Chánh''. Khoảng 10 giờ sáng ngày 2.11, hai ông: Lãnh Sự R. Helble và Phó Lãnh Sự Mullen đến gặp tôi nhờ chuyển lời ‘'mời ông Cố Vấn tạm lánh qua Tòa Lãnh Sự, chúng tôi sẽ bảo vệ cho ông như đã bảo vệ ông Thích Trí Quang''. Nhưng sau đó Tòa Lãnh Sự gửi về Bộ Ngoại Giao một công điện ghi: Control 1230, From Hue, November 2, 11, 04 AM. Nội dung công điện có đoàn sau đây:
‘'Chiều ngày 2.11, hai mật sứ của Ngô Đình Cẩn, em Ngô Đình Diệm, đi riêng rẽ, đến tìm hiểu thái độ của chúng tôi về khả năng cho Cẩn trú ẩn... Chúng tôi cũng nói rõ rằng... và khi Cẩn ở trong Tòa Lãnh Sự mà Chính Phủ Việt Nam đòi trao ông ta lại cho họ, Tòa Lãnh Sự không có lựa chọn nào khác hơn là phải thi hành''.
Đến 8 giờ 55 sáng ngày 3.11, Hoa Thịnh Đốn nhận được mật điện số 1398, Tòa Lãnh Sự Huế gửi báo cáo về tình hình tại Huế. Mật điện có những đoạn:
‘'...Sáng 3.11, Tướng Đỗ Cao Trí đã hứa chắc chắn sự an toàn cá nhân cho Cẩn, và Cẩn có vẻ tin rằng Trí thành thật. Trước đó, Trí đã thông báo cho Tòa Lãnh Sự, ông ta bảo đảm sự an toàn cá nhân cho ông Cẩn. Theo tin tức giá trị nhất(!) của chúng tôi, Cẩn còn ở tại nhà, mặc dầu có nhiều dư luận trái ngược.
Đám đông từ nhiều trăm đến nhiều ngàn người tụ tập gần suốt ngày 3.11 gần nhà Cẩn nhưng đã bị Quân Đội và xe thiết giáp chận lại. Đám đông có vẻ chỉ vì tò mò và tỏ ra thiện cảm với Quân Đội. Tuy vậy, một số người xung quanh Huế tin rằng, Tướng Trí bây giờ kiêm nhiệm chức Đại Biểu Chính Phủ ở miền Trung, có thể đang liên kết với Cẩn để phản đảo chánh. Dân chúng nhớ Tướng Trí như một người chính yếu trong vụ đánh phá Chùa chiền, và do đó có một số lớn địa phương không tin ông ta''.
Đến 9 giờ 05 tối, Tòa Đại Sự lại gởi về Hoa Thịnh Đốn mật điện số 1422 với nội dung:
‘'Những chuyện đã tìm thấy mồ chôn tập thể trong khu vực nhà Ngô Đình Cẩn, đã lôi cuốn nhiều ngàn người đến một khu vực bị vây quanh bằng dây kẽm gai, Quân Đội và xe M113. Cho đến bây giờ, dư luận loan truyền số xác chết được che kín mặt lên đến 180. Hiện nay, Tòa Lãnh Sự chưa thể ước lượng chắc chắn được, cũng như thực sự số xác chết đã tìm được là bao nhiêu. Tuy nhiên, phần đông dân chúng dường như tin rằng đã tìm thấy một số lớn mồ mả. Nhiều hầm chôn giấu vũ khí, và cả tài liệu việt cộng cũng được xác nhận đã được tìm thấy. Hầm chôn giấu vũ khí hình như có thể có.
Hậu quả của những chuyện về mồ mả đã làm tăng sự căng thẳng vào cuối buổi chiều ngày 3.11. Dân chúng muốn tấn công nhà Cẩn, mặc dầu cảm nghĩ này hiện chưa đến độ nguy hiểm. Chắc chắn nó sẽ trở nên nguy hiểm trong ngày mai...
Một trong ba mật sứ của Cẩn, người trước kia đã tiếp xúc Tòa Lãnh Sự về việc tỵ nạn của Cẩn, chiều 3.11 cho biết, tối 2.11 Cẩn đã trèo qua tường ra khỏi nhà, và hiện ở trong Nhà Dòng Chúa Cứu Thế Huế, có vẻ Quân Đội biết nơi ở của ông ta...
Trong khi đã làm hết sức để thi hành lệnh của Bộ, để có thể cho Cẩn trú ẩn, nhưng chuẩn cấp sự trú ẩn như vậy là điều thất nhân tâm lớn ở đây, và có thể đưa đến hậu quả nghiêm trọng đe dọa tư thế, tài sản và sinh mạng người Mỹ ở Huế''.
Nhận được hai báo cáo trên đây, Ngoại Trưởng Rusk, lúc 3 giờ 49 chiều cùng ngày 3.11, gửi công điện số 706, chỉ thị cho Lãnh Sự Mỹ ở Huế và Đại Sứ Lodge:
‘'Nếu Cẩn yêu cầu được trú ẩn trong tình trạng sinh mạng người Mỹ bị nguy hiểm, tiếp xúc Tướng Trí, yêu cầu một sự bảo vệ thích nghi và di chuyển Cẩn.
Với Sài Gòn. Đề nghị ông lưu tâm thực hiện việc đưa Cẩn đi lập tức''.
Sau hai lần nhận được chỉ thị của Bộ Ngoại Giao phải đưa ông Cẩn đi gấp. Sáng sớm ngày 5.11, lúc 4 giờ 56, Đại Sứ Lodge gửi mật điện hỏa tốc số 930 sau đây cho Bộ Ngoại Giao:
1.- Helble báo cáo bằng điện thoại lúc gần trưa, rằng Ngô Đình Cẩn đã đến Tòa Lãnh Sự một mình lúc 10 giờ 45, rõ ràng với sự đồng ý ngầm của các giới chức địa phương. Dân chúng chưa biết sự hiện diện của ông ta (tại Tòa Lãnh Sự). Tuy nhiên, Tướng Trí biết và đã nói với Helble rằng, ông ta đã ra lệnh đưa Cẩn vào Sài Gòn trong ngày hôm nay bằng máy bay, và cho Helble biết cá nhân ông ta cũng như các Tướng Minh, Đôn và Oai bảo đảm sự an toàn cho Cẩn.
Tướng Trí bày tỏ sẽ cố gắng giữ gìn an ninh cho Tòa Lãnh Sự nếu Cẩn ở lại đó, nhưng không thể bảo đảm điều ấy. Helble thấy phải đưa Cẩn ra khỏi khu vực Huế trong thời gian sớm nhất.
2.- Tôi đã chỉ thị cho Helble giao Cẩn cho Tướng Trí, nếu có giấy yêu cầu đưa ra những đoan chắc với chính phủ Mỹ, bảo đảm sự an toàn cho Cẩn. Helble đã cho Trí biết những điều này, ông ta nói ông ta không có quyền làm như thế, nhưng có thể bảo đảm an toàn cho việc (ông Cẩn) đi Sài Gòn bằng máy bay Mỹ. Vì cần đưa Cẩn ra khỏi khu vực Huế tức khắc, Helble đã được phép đưa Cẩn vào Sài Gòn trong những điều kiện trên, và ông ta đang trên đường đi.
3.- Tôi đã nhận được những cam đoan bảo đảm sự an toàn cho Cẩn, và ông ta sẽ được xét xử theo luật pháp, từ cá nhân Tướng Đôn. Trên căn bản cam đoan này, Cẩn sẽ được trao cho nhà chức trách Việt Nam tại phi trường. Các giới chức quân sự không có ý muốn cho ông ta ra khỏi Việt Nam như các con ông Nhu.
Đường lối hành động trên đây dựa trên căn bản là, nếu cho ông ta trú ẩn, theo tôi hiểu, là phải bảo vệ cho ông ta thoát khỏi bị xét xử và bảo vệ an toàn cho ông ta. Vì chính phủ đã đưa ra những cam đoan giữ an toàn cho cá nhân ông ta, và ông ta sẽ được xét xử theo thủ tục pháp lý, điều đó cho tôi thấy lý do chúng ta cho ông ta trú ẩn không còn tồn tại. Tôi cũng cân nhắc rằng chúng ta có thể trở thành người biện giải cho tội ác, nếu chúng ta toan tính làm cho việc tiến hành xét xử ở đây bị trở ngại, đặc biệt vì Cẩn là khuôn mặt đáng phải chịu sự oán ghét ông ta đang nhận được.
Xin được nhắc lại:
- Sáng thứ bảy 2.11, hai ông Lãnh Sự và Phó Lãnh Sự Mỹ gặp tôi, theo lệnh Đại Sứ Lodge, mời ông Cẩn tạm lánh qua Tòa Lãnh Sự Mỹ với lời hứa sẽ bảo vệ cho ông như đã bảo vệ Thượng Tọa Thích Trí Quang.
- Tối ngày 2.11, Tân Tỉnh Trưởng Thừa Thiên, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn I Bộ Binh và Giám Đốc Công An Cảnh Sát, đến xin ra mắt ông Cẩn và tôi còn đưa họ đến nhà ông.
- Sáng Chủ Nhật 3.11, Tướng Đỗ Cao Trí xin gặp ông Cẩn và đã được ông tiếp tại nơi ông tạm trú, Nhà Dòng Chúa Cứu Thế Huế. Trong lúc tiếp Tướng Trí, theo lệnh của ông, tôi đã về nhà ông lấy từ trong phòng ngủ của ông một cái va li và một cái bao bố đem đến Nhà Dòng cho ông, và ông đã trao hai thứ ấy cho Tướng Trí.
- 5 giờ chiều thứ hai 4.11, tôi dời Huế vào Đà Nẵng trình diện Tướng Trí theo lệnh gọi của ông.
Nói rõ hơn, suốt thời gian từ khi cuộc đảo chánh bùng nổ, 1 giờ 30 chiều ngày 1.11, cho đến 5 giờ chiều ngày 4.11.1963, tôi có mặt liên tục ở Huế, đi đi lại lại nhiều lần trên con đường từ nhà tôi, trên bờ sông Bến Ngự, cách nhà ông Cẩn, đến Dòng Chúa Cứu Thế, đến nhiều nơi khác trong Thành Phố Huế, không gặp trở ngại nào, không hề thấy chung quanh nhà ông Cẩn xảy ra những chuyện như được ghi trong báo cáo của Tòa Lãnh Sự Mỹ.
Vì thế, khi được đọc các mật điện trên đây, báo cáo về tình hình tại Thành Phố Huế trong những ngày này, tôi hết sức ngạc nhiên về thái độ, khả năng và cách thức làm việc của Tòa Lãnh Sự và Tòa Đại Sứ Mỹ lúc bấy giờ.
Tòa Lãnh Sự chỉ cách nhà ông Cẩn khoảng một cây số. Vậy mà họ không đủ khả năng kiểm chứng được tình trạng thực, hư của tình hình khi họ báo cáo cho Bộ Ngoại Giao?
Một nhân chứng, cựu Trung Tá Nguyễn Thừa Dzu, khi ấy là Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Biệt Động Quân, một tín đồ Phật Giáo. Đại Úy Dzu sau này đã đưa Tiểu Đoàn của ông vào đóng trong Chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng ủng hộ nhóm Phật Giáo tranh đấu chống lại hai Tướng Thiệu-Kỳ. Ngày 2.11.1963, Tiểu Đoàn của ông đang hành quân tại Quận Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Tín, được điều động ra đóng tại căn nhà của ông Cẩn trước khu 9 hầm. Ngày 5.11, ông đã cùng với Thiếu Tá Nguyễn Tuấn, vào nhà ông Cẩn tại Phú Cam. Ông xác nhận:
‘'Bên ngoài, chỉ thấy không quá 20 người vì tò mò, đứng bên bờ Tả ngạn sông An Cựu, gần đầu Cầu Phú Cam, ngó qua nhà ông Cẩn, không có cử chỉ hoặc hành động nào. Bên trong vườn, chẳng thấy hầm hố, mồ mả, xác chết nào cả''.
Nói rằng những công điện Tòa Lãnh Sự Mỹ báo cáo về Hoa Thịnh Đốn có ý nói về căn nhà của ông Cẩn ở khu 9 hầm thì cũng không đúng vì:
- Trong mật điện số 917 của Đại Sứ Lodge ông ta nói rõ: ‘'Căn nhà ông Cẩn đang sống với mẹ ông ta''.
- Cựu Trung Tá Nguyễn Thừa Dzu, vừa được đề cập tới ở trên, xác nhận: Trong khu nhà của ông Cẩn chẳng có mồ mả hầm hố nào hết. Có một số dân tò mò đến đứng ở ngoài đường coi căn nhà và khu 9 hầm, nhưng phần đông không có hành động gì tỏ ra muốn đập phá căn nhà. Chỉ có một số cây nhỏ trồng trên đồi quanh nhà bị nhổ đi trước khi Tiểu Đoàn của ông tới.
Vậy phải chăng việc báo cáo sai lạc tình hình tại Huế của Tòa Lãnh Sự Mỹ là có chủ đích để biện minh cho việc không thi hành lệnh của Ngoại Trưởng Rusk: Đưa ông Cẩn và thân mẫu ông ra ngoại quốc.
II.Phía Việt Nam:
Theo Tướng Trần Văn Đôn:
‘'Đại Úy Nhung bị bắt ít tháng sau đó (ngày Tướng Khánh chỉnh lý 30.1.1964) vì mưu toan chống lại cuộc chỉnh lý do Tướng Khánh điều khiển chống lại tôi (Tướng Đôn) và những người lãnh đạo cuộc đảo chánh 1.11. Tướng Khánh ra lệnh cho cơ quan An Ninh Quân Đội thẩm vấn đương sự về cái chết của ông Diệm và ông Nhu, đương sự thú nhận ông Minh Cồ (Big Minh) ra lệnh giết. Tin rằng, sẽ bị tra tấn và cuối cùng bị hành hình, Đại Úy Nhung đã tự treo cổ trong phòng giam bằng sợi dây giầy của ông ta''. (Our Endless War. Trang 112)
Từ vụ này, Tướng Khánh bị nhóm ‘'tranh đấu mang danh Phật Giáo'', và những người vốn chống đối Tổng Thống Ngô Đình Diệm hô hoán lên rằng ‘'dư đảng Cần Lao (ám chỉ Tướng Khánh) đã nắm lại chính quyền''.
Mới thâu tóm quyền hành chưa được một tháng, tình trạng bất ổn gia tăng ở mọi nơi, nay gặp thêm dư luận chống đối với lý do mang nhiều tính chất hận thù có khả năng khích thích hỗn loạn bùng lên mạnh hơn trong tình hình lúc ấy, Tướng Khánh thực sự lo sợ cho quyền lực của ông. Mặt khác, ông Đại Sứ Cabot lodge, người đỡ đầu cho Tướng Khánh, đã lấy lý do được các Tướng đảo chánh bảo đảm ông Cẩn sẽ được Tòa Án xét xử đàng hoàng, để giao cho ông các Tướng đảo chánh thay vì đưa ông và thân mẫu ông ra ngoại quốc như lệnh của Ngoại Trưởng Dean Rusk.
Trước tình hình này, có lẽ Tướng Khánh đã nghĩ rằng cách tốt nhất là lấy sinh mạng của ông Ngô Đình Cẩn để chứng minh ông không phải là ‘'dư đảng Cần Lao'', đồng thời làm vừa lòng cả hai phía: Ông Cabot Lodge và nhóm tranh đấu quá khích mang danh Phật Giáo của Thượng Tọa Trí Quang, để cứu vãn và củng cố quyền lực của ông.
Từ ý nghĩ ấy, Tướng Khánh vội vã ra lệnh cho Bộ Tư Pháp đưa ông Ngô Đình Cẩn ra Tòa Án xét xử và phải kết án tử hình.
Nhưng như tôi đã ghi trong một phần trên, theo Luật gia Nguyễn Cần, với những tội ông Ngô Đình Cẩn bị cáo buộc, theo Bộ Luật Hình Sự được áp dụng tại Việt Nam hồi ấy, không đủ yếu tố để kết án tử hình ông. Vì vậy, Tướng Khánh lại ra lệnh cho Bộ Tư Pháp nghiên cứu soạn thảo một Sắc Luật ‘'bổ túc'' để có thể kết án tử hình ông Cẩn.
Sau khi ban hành ‘'Sắc luật bổ túc'', ngày 20.2.1964, Tướng Khánh ký Sắc Luật số 4/64, thiết lập Tòa án cách mạng và phán quyết của Tòa này là chung thẩm. Để tình trạng giam giữ được hợp lệ trước khi đưa ông Cẩn ra xử, ngày 13.3.1964, Tòa Án ký trát tống giam ông, mặc dù ông đã bị giam từ ngày 6.11.1963.
Ngày 16.4, thành phần phiên tòa xử ông Cẩn họp tại Pháp Đình Sài Gòn, gồm có:
Chánh Thẩm: Ông Lê Văn Thu.
Phụ Thẩm Quân Nhân: Các Đại Tá, Nguyễn Văn Chuân, Đặng Văn Quang, Trương Văn Chương và Trung Tá Dương Hiếu Nghĩa.
Phụ Thẩm Nhân Dân: Các ông Nguyễn Văn Phước, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Hữu Bửu và Bùi Văn Nhu.
Chưởng Lý: Thiếu Tá Nguyễn Văn Đức.
Lục Sự: Nguyễn Văn Tâm.
2. HAI PHIÊN TÒA XỬ ÔNG NGÔ ĐÌNH CẦN
Khi ông Ngô Đình Cẩn bị đưa ra Tòa Án, bà Trần Trung Dung, cháu ông, đến nhờ một số Luật Sư trước kia từng được trọng dụng, từng giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan Hành Pháp cũng như Luật Pháp của Đệ I Cộng Hòa, từng ra vào ‘'thưa'' ‘'bẩm'' nhờ vả, xin xỏ với ông Cẩn nhiều việc, nhưng bà đã không nhận được một sự đáp trả nào. Cuối cùng bà phải đến nhờ một Luật Sư bà chưa từng quen biết, một Luật Sư đã từng chỉ trích chế độ Đệ I Cộng Hòa khi ông biện hộ cho nhóm đối lập với Tổng Thống Diệm, thường được gọi là nhóm Caravelle, và đã từng lấy làm hài lòng khi nghe tin ông Cẩn bị bắt giam, vì ảnh hưởng những bài báo nói về ông Cẩn sau ngày 1.11.1963. Vị Luật Sư ấy là Luật Sư Võ Văn Quan.
Luật Sư Quan, một Phật Tử, là Luật Sư duy nhất đã dám nhận đứng ra biện hộ cho ông Cẩn, ông bị nhiều đe dọa. Có cả một nhóm ‘'sinh viên'' từ Huế vào đòi đập phá văn phòng của ông.
Luật Sư Quan kể lại, khi bà Trần Trung Dung đến nhờ ông biện hộ cho ông Cẩn, ông đã nói với bà:
-......Nói thật với bà, đối với những điều mà người ta buộc tôi ông Cẩn và một khi vụ án lại được đem ra xét xử trong lúc phe Phật Giáo đang sôi sục tranh đấu này, tôi sợ không cãi cho ông Cẩn khỏi tội tử hình được.
Ông được bà dung trả lời:
- Tôi biết rõ điều đó lắm. Gia đình tôi là một gia đình chính trị mà. Vả lại, ‘'người ta'' có nói với tôi phải đem ông Cậu ra xử và Tòa sẽ xử tử hình để thiên hạ đừng nói là dư đảng Cần Lao còm nắm quyền và bao che cho ông Cậu. Nhưng ‘'người ta'' hứa rằng sau một thời gian, khi mọi sự lắng dịu rồi, sẽ có cách để âm thầm đưa ông Cậu ra ngoại quốc.
Tôi nhờ Luật sư biệt hộ, trước là để cho ông Cậu thấy rằng con cháu vẫn lo lắng cho ông. Sau nữa để khi ra trước Tòa biện hộ, Luật Sư sẽ nói lên giùm ông Cậu sự tức giận đối với những kẻ trước đây nịnh bợ, luồn cúi, mang ơn, bây giờ phản phúc, trở mặt, mạt sát và còn tiếp tay để hại ông nữa.
Việc xét xử ông Ngô Đình Cẩn, được Luật Sư Quan ghi lại như sau:
Ông Cẩn có thể bị truy tố về hai tội:
Tội thứ nhất: ‘'Làm kinh tài bất hợp pháp, làm lũng đoạn nền kinh tế quốc gia''.
Về tội này, Luật Sư Quan viết: ‘'Điều làm tôi ngạc nhiên là trong hồ sơ đưa ông Cẩn ra Tòa cách mạng không có tài liệu nào về cấn đề này cả''. Về sau tội này được bỏ qua luôn, vì có quá nhiều người có thế lực có thể bị dính líu, hoặc vì có sự mua chuộc nào đó, hoặc vì chánh quyền cho rằng chỉ riêng cái tội thứ nhì cũng đủ đem lại cho ông Cẩn bản án tử hình.
Tội thứ nhì: Ông Cẩn chủ mưu bằng cách, ra lệnh cho nhân viên Công An tại miền Trung bắt giam phi pháp, cưỡng đoạt tài sản của một số thương gia, và hạ sát mấy người này để thủ tiêu chứng cớ. Các thương gia đó bị gán tội làm gián điệp cho Pháp tại miền Trung. Họ bị giam cầm và tra tấn nặng nề, có người bị bức tử, tài sản của họ bị cưỡng đoạt dưới hình thức này hay hình thức khác.
Ông Cẩn quả quyết với tôi (Luật Sư Quan) rằng ông không có nhúng tay vào mấy vụ đó. (Trong phần tường thuật về vụ ‘'Gián Điệp Miền Trung'', tôi đã kể về thái độ của ông Cẩn khi nghe nói có người bị bắt oan trong vụ này).
1.- Phiên Tòa Tại Huế.
Trong việc xét xử ông Cẩn, đã xảy ra một sự kiện mà Luật Sư Quan gọi là ‘'Phiên Tòa Hi Hữu Tại Huế''.
Trong khi Luật Sư Quan đang sắp xếp, chuẩn bị biện hộ cho ông Cẩn tại Tòa Sài Gòn, thì ông nhận được một án lịnh tuyên phạt, đưa vụ ông Cẩn ra xử tại tòa án cách mạng Huế. Ông đã làm ngay một biện minh trạng nạp cho phòng luận tội, với lập luận có những điểm chính như sau:
‘'Theo luật hình sự tố tụng, Tòa án có thẩm quyền địa hạt để xét xử là một trong những Tòa này:
1.- Tòa Án tại nơi xảy ra vụ phạm pháp.
2.- Tòa Án tại nơi can phạm bị bắt.
3.- Tòa Án tại nơi can phạm bị bắt giữ.
Đành rằng trong vụ này sự gọi là phạm pháp đã xảy ra tại Huế. Nhưng ông Cẩn bị bắt giam tại Sài Gòn, khi phi cơ chở ông đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhứt. Thêm nữa, ông đang bị giam giữ tại Sài Gòn. Vậy có nhiều điều kiện pháp lý hơn là để cho Tòa Sài Gòn có thẩm quyền địa hạt xét xử vụ này..........
Sau hết, một điều khoảng nữa trong Bộ Hình Sự Tố Tụng quy định rằng, nếu nơi Tòa Án có thẩm quyền xét xử, sự phẫn nộ của công chúng đối với bị cáo khiến có thể e ngại rằng, trật tự công cộng bị xáo trộn thì vụ án phải đem xét xử tại một nơi khác...
Và trong tình hình hiện tại, tại Huế vẫn có những cuộc biểu tình sôi sục lên án ông Cẩn. Vậy đây là đúng trường hợp quy định trong Bộ Hình Sự Tố Tụng và không thể đem xử ông Cẩn ở Huế được''.
Luật Sư Quan viết tiếp: ‘'Chánh quyền đã có lý do bí ẩn để đưa vụ án ra Huế xét xử. Cái ‘'luật'' vô hình ấy mạnh hơn luật pháp. Biện minh trạng của tôi bị bác''.
Quang cảnh Tòa án cách mạng Huế ngày xử ông Cẩn được Luật Sư Quan ghi lại như sau:
‘'Chưa 8 giờ sáng, còn hơn một giờ nữa Tòa mới họp. Nhưng chắc là đã từ lâu, một đám đông cả mấy ngàn người chen nhau đứng dưới mưa phùn gió lạnh trên các lề đường chung quanh Tòa Án. Tất cả mọi người, già trẻ lớn bé, người nào cũng có vẻ mặt đầy cằm thù. Lại có những người đi qua đi lại trong hàng ngũ của họ, thỉnh thoảng đứng lại nói chuyện, có vẻ như căn dặn, chỉ huy''.
Trong phòng xử, đúng lý, bị can phải được giải ra ngồi chờ sẵn trong Tòa từ lâu. Nhưng đến chín giờ vẫn chưa thấy giải ông Cẩn ra, Luật Sư Quan đến hỏi Ủy Viên Chính Phủ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Đức, xem ông Cẩn được giữ ở phòng nào, để ông có thể đến nói chuyện với thân chủ. Ông này cười lắc đầu nói rằng ông cũng không biết nữa.
‘'Chín giờ hơn. Ông Chánh Thẩm và 8 vị Phụ Thẩm bước vô phòng xử.
Nghe tiếng viên Hạ Sĩ Quan giữ chức vụ Thừa Phát Lại hô to: ‘'Tòa Án'' để mọi người trong phòng xử đứng dậy chào.
Đám người đứng bên ngoài đồng loạt reo hò, la hét. Trong Tòa có đặt hệ thống phóng thanh để dân chúng ở bên ngoài có thể theo dõi diễn tiến của phiên xử. Khi nghe ông Chánh Thẩm truyền lệnh ‘'giải bị cáo Ngô Đình Cẩn ra Tòa'', đám biểu tình hô to những tiếng ‘'đả đảo'', rồi tràn xuống đường, vung nắm tay lên la hét cuồng nhiệt.
Nhưng vẫn không thấy giải ông Cẩn ra.
Một sĩ quan, không biết từ đâu đến, tới nói nhỏ với Thừa Phát Lại, ông này bước lên nói nhỏ với ông Chánh Thẩm. Vị này ngồi thêm một chút rồi tuyên bố là Tòa vô phòng đệ nghị án. Khoảng nửa giờ sau, Hạ Sĩ Quan Thừa Phát Lại đứng ra tuyên bố Tòa đình xử vì bị can chưa được giải ra đây.
Tôi chưa bao giờ thấy có một phiên Tòa nào lạ đời như vậy....
Tôi đoán rằng lúc đầu chính quyền sắp đặt giải ông Cẩn ra Huế để xét xử, sau đó do sự can thiệp trong nước hay từ nước ngoài, thấy không ổn nên dự định ấy bị bỏ. Đó là màn ‘'chính trị chong chóng'', xoay chiều đổi hướng theo luồng gió của thời cơ không có một đường lối nhứt định và dứt khoát nào hết.
Theo Luật Sư Quan, vì một lý do nào đó, từ trước ngày phiên xử diễn ra tại Huế, chính quyền đã quyết định không giải ông Cẩn ra Huế xử nữa. Nhưng cũng vì một lý do nào đó, người ta đã giữ kín quyết định, không buồn thông báo cho ‘'ba Tòa quan lớn'' và ông Ủy Viên Chính Phủ'' biết và dĩ nhiên với Luật Sư của bị can, người ta lại càng thấy không cần phải thông báo. Luật Sư Quan viết tiếp:
‘'Vì vậy, ngày đó tại phiên xử của Tòa án cách mạng Huế, mới có diễn ra màn hài kịch có một không hai, trong lịch sử Tư Pháp của Việt Nam Cộng Hòa''.
2.- Phiên Xử Tại Tòa Án Sài Gòn.
Phần nói về phiên Tòa này được Luật Sư Quan đề tựa:
‘'Phiên Xử Tại Sài Gòn. Bản Án Tử Hình Đã Đoán Biết Trước''
Luật Sư Quan viết:
‘'Một điều luật trong Bộ Hình Sự Tố Tụng quy định rằng, Tòa phải và chỉ căn cứ vào hồ sơ mà thôi để phán xử, thậm chí những điều gì vị Thẩm Phán tự mình biết được, nhưng không có ghi nhận trong hồ sơ, Thẩm Phán ấy cũng không được quyền căn cứ vào sự hiểu biết riêng tư đó mà xử tội''.
Luật Sư Quan cho biết, vì trong hồ sơ được Tòa Án thiết lập để truy tố ông Cẩn về tôi danh thứ hai ghi ở trên, không có bút tích gì của ông Cẩn đã ra lệnh cho Công An bắt người, tra tấn v.v... Vì thế, theo chiến thuật của Luật Sư, suốt mấy ngày bị ‘'hầu'' Tòa, mỗi lần bị cật vấn, ông Cẩn đều điền nhiên trả lời:
‘'Tôi là Cố Vấn Chỉ Đạo, không phải là người cầm quyền, không phải là cấp chỉ huy của họ, làm sao tôi có thể ra lịnh cho họ được?''
Luật Sư Quan ghi tiếp:
Suốt các phiên xử, ông Cẩn ngồi dựa vào ghế, nhìn thẳng các Phụ Thẩm Quân Nhân, mắt ông long lên sòng sọc sau cặp kính trắng. Tôi để ý thấy vài vị Phụ Thẩm Quân Nhân (xin miễn kể tên lại đây) khi tình cờ ngó xuống ông Cẩn và chạm cái nhìn căn hận đó, họ bẽm lẽm day mặt qua chỗ khác.
Có lần một nhân chứng khai rằng y có đến nhà ông Cẩn ở Phú Cam để nhận chỉ thị của ông Cẩn. Một vị Phụ Thẩm Quân Nhân, lúc đó mang cấp bậc Đại Tá và về sau đã lên cấp Tướng kề tai ông Chánh Thẩm nói nhỏ. Ông Chánh Thẩm xoay qua hỏi nhân chứng:
- Vậy anh có thể cho biết nóc nhà của ông Cẩn lợp bằng gì hay không? (Tòa muốn kiểm soát xem nhân chứng quả thật có tới nhà ông Cẩn hay không)
- Dạ, nóc nhà lợp bằng lá.
Ai nấy đều ngạc nhiên, không tin rằng ông Cẩn mà lại ở nhà lá. Nhưng vị Phụ Thẩm Quân Nhân xác nhận:
- Đúng. Nhà ông Cẩn lợp bằng lá, lợp thật khéo léo và tốn kém, cho mát.
Nói tới đó, mắt ông chạm phải nhãn tuyến căm hận của ông Cẩn, và ngỡ ngàng nhìn qua chỗ khác.
Khi nói chuyện với tôi ngoài phiên tòa, ông Cẩn vừa căm tức vừa kinh bỉ, bảo:
- Luật Sư biết không, lúc trước mấy tên đó tới lui tại nhà tôi, khúm núm xưng ‘'con'', xin xỏ, cầu cạnh. Bây giờ bọn nó tiếp tay để ngồi phiên tòa này xử tôi, mặc dầu họ có thể từ chối. Đúng là một lũ phản phúc...
Do không có hồ sơ, không lừa được ông Cẩn vào tròng bắt ông nhận tội, nên khi buộc tội, Thiếu Tá Đức tuy nói rất hùng hồn, nhưng chỉ kết tội dựa trên lời khai của các nhân chứng.
Khi được Tòa trao lời, đứng lên biện hộ, phần chính trong lý luận biện hộ, trước hết Luật Sư Quan giải thích:
‘'Cố Vấn'' có nghĩa là người được tham khảo ý kiến. Còn chấp nhận ý kiến ấy hay không, chịu thi hành ý kiến ấy hay không, hoàn toàn tùy thuộc nơi nhà cầm quyền, nơi Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Thêm nữa, ‘'Cố Vấn Chỉ Đạo'' đúng theo văn từ, chỉ được tham khảo ý kiến về đường lối tổng quát của chế độ, chớ không phải là một chuyên viên để cho ý kiến về những tiểu tiết hành chánh hay tư pháp.
Vậy, đâu là quyền ban ra chỉ thị đi sâu vào chi tiết của cuộc điều tra trong cái vụ gọi là Vụ Gián Điệp Pháp? Đó là quyền của Tổng Trưởng Nội vụ, của Trưởng Ty Công An, nhưng nhất định không phải là thẩm quyền của Cố Vấn Chỉ Đạo.
Ủy Viên Chính Phủ chủ trương rằng bị can ra lệnh cho một số Công An viên bắt cóc, tống tiền và thủ tiêu các nạn nhân. Nhưng tôi xin hỏi Ủy Viên Chính Phủ: Trong hồ sơ có công văn nào giao quyền cho ông Cẩn chỉ huy bộ máy tư pháp, có một chỉ thị nào do bị can ký tên ra lịnh cho các Công An viên đó hay không?
Tuyệt nhiên không có.
Không có văn thư, không có bằng cớ đích xác đó, Ủy Viên Chính Phủ đành phải đưa ra nhân chứng để buộc tội ông Cẩn cho được.
Nhưng nếu không được xác nhận bằng văn thư cụ thể khách quan, có gì bảo đảm rằng đó là khẩu cung của những người nói đúng sự thật, của nhân chứng vô tư, không bị chi phối vì tư lợi, không bị mua chuộc hay hăm dọa?
Những người được gọi là nhân chứng đây, thực sự họ là ai? Họ là những nhân viên Công An bị dính líu trong vụ bắt Gián Điệp Pháp. Để chạy tội cho chính mình, dĩ nhiên họ phải đổ thừa rằng, vì khiếp sợ quyền uy của em ông Tổng Thống, họ đã phải làm những gì họ đã làm. Với bất cứ phương chước hay thủ đoạn nào, với bất cứ giá nào, họ phải tránh cho được bản án khổ sai hay tử hình cho chính họ...
Đến đây Luật Sư Quan lái sang điều ông Cẩn nhờ ông nói và chính ông cũng muốn nói. Ông biện hộ tiếp:
Mấy nhân chứng này là những người tráo trở, lật lọng, quý Tòa không thể tin vào lời nói của họ được. Họ đã từng khúm núm xưng con với những người của chế độ cũ, họ đã từng nịnh bợ đủ cách để xin xỏ ân huệ. ngày xưa họ luồn cúi bao nhiêu thì sau cuộc đảo chánh họ càng a-dua, mạt sát, chà đạp những người cũ để mong khỏa lấp quá khứ gian nịnh và lập công với chế độ mới.
Âu đó cũng là thói đời, lắm kẻ đua nhau phù thịnh, hiếm người dám phù suy.
Thời cổ La Mã có Brutus là một Tướng tài nhưng tư cách lại quá hèn hạ. Để tiến thân, Brutus theo cầu cạnh nịnh bợ Jules César, hạ mình làm một thứ con nuôi, nên được César tận tình nâng đỡ. Đến ngày phe nghịch trong Thượng Nghị Viện mưu sát, bao vây và dùng dao đâm César túi bụi, ông chống đỡ mãnh liệt. Nhưng khi nhìn thấy Brutus cũng có mặt trong đám sát nhân đó, César than: ‘'Cho đến con mà cũng phản cha nữa sao?'' Rồi lấy vạt áo bào che mặt, buông xuôi cho kẻ nghịch chém giết.
Rất đỗi danh Tướng Brutus mà còn phù thịnh bất phù suy như vậy, thì sự tráo trở, phản phúc của các nhân chứng này chỉ là sự thường tình. Sự bội nghĩa của họ tồi tệ đến nỗi khiến họ có mặc cảm đối với bị can. Trong phòng xử này, mỗi lần chạm phải cái nhìn hờn trách của ông Cẩn họ đã hổ thẹn ngó qua chỗ khác. Điều đáng buồn cho xứ sở này là còn có nhiều người tai to mặt lớn trong giới quân sự cũng như dân sự cũng có hành động, bỏ suy phù thịnh như họ.
Vậy, lời khai của những người gọi là nhân chứng này, lời khai của những người tráo trở, vong ân muốn đổ trách nhiệm cho ông Cẩn để mong thoát khỏi số phận của Phan Quang Đông, lời khai đó có tín lực gì hay không?
Hỏi, tức là trả lời.
Tóm lại, với danh vị Cố Vấn Chỉ Đạo, ông Cẩn chỉ có quyền cho ý kiến về đường lối chính trị. Và đó chỉ là ý kiến, không có hiệu lực ràng buộc gì hết. Do đó, nếu chủ trương như ông Ủy Viên Chính Phủ rằng ông Cẩn đã ra lịnh cho Công An viên bắt bớ, giam cầm, tra tấn tống tiền, bức tử nạn nhân, thì tức là đi ngược lại văn từ phân minh.
Thêm nữa, không có một công văn, một mệnh lệnh nào do ông Cẩn ký tên sai khiến những Công An viên về việc ấy, thì đâu là bằng cớ cụ thể về sự chủ mưu?
Rốt lại, chỉ có những lời khai suông của những người được gọi là nhân chứng. Họ là ai? Động cơ nào thúc đẩy họ ra đây để đổ tội cho ông Cẩn? Tôi đã trình bày cặn kẽ rồi, xin miễn nhắc lại đây để khỏi làm mất thì giờ của quý Tòa.
‘'Căn cứ vào một hồ sơ không có bằng cớ rõ ràng như vậy, tôi kính xin quý Tòa tuyên xử tha bổng bị can''.
Tuy đưa ra lời yêu cầu tha bổng cho ông Cẩn theo đúng pháp luật, nhưng Luật Sư Quan cho biết:
‘'Tôi thừa biết không bao giờ có thể có một bản án tha bổng như vậy được''.
Phần kết luận bài biện hộ, Luật Sư Quan cố tình nói lên một điều mà cả ông Cẩn và ông cùng muốn nói, đó là làm cho mọi người thấy rằng, những người ngồi phiên Tòa xử ông Cẩn, tuy nói là để phán xử công minh, nhưng thật sự họ chỉ là công cụ của chính quyền, để tuyên bản án tử hình đã được quyết định từ trước, họ chỉ là những tên đao phủ thủ không hơn không kém. Luật Sư Quan nói đại ý như sau:
- Tôi xin có lời nói sau cùng này: Trong cuộc cách mạng năm 1789 của Pháp, Quốc Hội gọi là Convention Nationale, bầu trong thời kỳ La Terreur (Khủng Bố) gồm đa số là những người do tên độc tài khát máu Robespierre dùng áp lực để đưa vào đó. Trước khi đem Vua Louis XVI ra xét xử tại Quốc Hội. Robespierre đã tuyên bố là phải cho án tử hình. Trong phiên Tòa đặc biệt đó, nhiều người của Convention National đã cật vấn hằn học, mạt sát thậm tệ Vua Louis XVI, cho biết trước rằng họ sẽ bỏ phiếu tuyên án tử hình. Khi đứng lên biện hộ cho Louis XVI, Luật Sư Sège đã can trường nói thẳng với họ: ‘'Je viens ici chercher des juges, mais je ne trouve que des bourreaux''. (Tôi đến đây tìm những vị Thẩm Phán Quan, nhưng tôi chỉ gặp những tên đao phủ thủ).
Và Luật Sư Quan tả lại thái độ của ông Cẩn khi được Tòa cho nói lời cuối cùng như sau:
Khi Tòa cho ông Cẩn nói lời nói chót, Ông điền nhiên, chậm rãi nói rằng mình vô tội, không có quyền hành, không có ra lệnh cho các Công An viên làm sự phi pháp. Ông không van xin cầu khẩn gì hết.
Ông biết cái luật chơi tàn nhẫn của chính trị và ông có vẻ điềm tĩnh chấp nhận, mặc dầu đối tượng cuộc chơi chính là sanh mạng của mình.
Sau khi nghị án tới khuya, Tòa trở ra tuyên xử tử hình.
Sau khi Tòa tuyên án, hai Cảnh Sát viên tới xốc nách đưa ông Cẩn ra xe được về lại khám Chí Hòa. Ông ngoài lại nhìn Luật Sư Quan như muốn tỏ ra cám ơn. Luật Sư Quan đang còn đứng nhìn theo ông bùi ngùi, thì một vài đồng nghiệp, đặc biệt là Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn Nguyễn Văn Huyền để tỏ lòng khen ngợi can đảm và sự khôn khéo của Luật Sư, đã thực hiện một cuộc biện hộ nói lên được nhiều khía cạnh và đầy đủ ý nghĩa đối với bị can cũng như với phiên Tòa.
Sáng sớm hôm sau, mặc dầu biết rằng 99 phần thua, chỉ huy vọng 1 phần ăn, Luật Sư Quan cũng làm ngay một đơn xin ân xá đem vào khám Chí Hòa yêu cầu ông Cẩn ký, vì Luật Sư nghĩ rằng còn nước thì cứ tát. Và Luật Sư Quan thuật lại cuộc gặp gỡ ông Cẩn trong khám sau khi ông đã bị kết án tử hình như sau:
Nói chuyện với tôi ông vẫn bình tĩnh như thường lệ...
Ông nắm tay tôi nói:
- Tôi không ngờ Luật Sư biết trước rằng sẽ thua, mà vẫn tận tâm và can trường biện hộ cho tôi suốt mấy tiếng đồng hồ. Cám ơn Luật Sư lắm.
- Tôi đã thất bại, có giúp gì được cho ông đâu mà ông cám ơn.
- Luật Sư đã nói lên giùm tôi sự tức giận của tôi đối với bọn vong ân phản phúc đó. Như vậy tôi cũng mãn nguyện lắm rồi.
Tôi đưa ông ký tên vào đơn xin ân xá. Còn nước còn tát, tôi vận dụng tất cả biện pháp luật định để mong cứu tánh mạng ông, dầu là hy vọng thật mong manh.
NHỮNG NGÀY CUỐI ĐỜI CỦA ÔNG NGÔ ĐÌNH CẨN
MỘT BẢN LÃNH
Hai ngày trước khi thi hành án tử hình, chính quyền đã cho thân nhân ông Ngô Đình Cẩn biết đơn xin ân xá của ông đã bị bác và ông sẽ bị hành quyết ngày 9 tháng 5 lúc 5 giờ chiều.
Tôi được chị ông, bà Nguyễn Văn Ấm, thân mẫu Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận kể lại: Sau khi được cho biết đơn xin ấn xá của ông Cẩn đã bị bác, bà vào thăm ông lần chót, ngày 7.5. Mặc dù bị canh chừng gắt gao, bà cũng tìm được cách ra dấu cho ông biết ngày giờ ông bị hành hình. Ông bình tĩnh nói với bà:
- Chị đừng buồn cho em. Dấn thân vào làm chính trị là mình đã chấp nhận chuyện nớ rồi, nếu mình thua. Nay mình thua thì chuyện nớ phải xảy đến thôi.
Sáng hôm sau, tức trước ngày ông bị hành hình một ngày, Linh Mục Tuyên Úy của ông vào thăm, giải tội và cho ông rước Mình Thánh Chúa lần sau cùng. Sau khi nhận các phép Bí Tích, Linh Mục Tuyên Úy chưa kịp nói gì với ông thì ông đã hỏi:
- Ngày mai họ đem con đi bắn phải không Cha?
- Cậu có sợ không?
- Con không sợ chút mô hết Cha à!
Sau đó, cháu ông, bà Trần Trung Dung cũng vào thăm. Ông nói chuyện một cách thảm nhiên, bình tĩnh như mọi lần vào thăm ông trước đó, ông không hề có một cử chỉ hay lời nói nào tỏ ra lo lắng sợ sệt.
Riêng Luật Sư Võ Văn Quan, Luật Sư biện hộ của ông Cẩn, đã ghi lại cuộc gặp gỡ lần chót giữa ông và ông Cẩn như sau:
‘'Hơn 2 tuần lễ sau đó, (từ ngày ông Cẩn bị kết án tử hình) một bữa sáng sớm, Tòa án cách mạng đưa văn thư hỏa tốc tới văn phòng tôi báo tin đon xin ân xá của ông Cẩn đã bị bác khước và 5 giờ chiều cùng ngày đó sẽ có cuộc hành quyết tại sân ở phía sau khám Chí Hòa.
Tôi sững sờ ngồi cầm bức văn thư trong tay một lúc rồi lập tức vào Chí Hòa thăm ông Cẩn lần cuối cùng.
Thông thường, vì lý do nhân đạo muốn tránh khéo dài sự lo sợ hãi hùng của đương sự, nhà chức trách giấu nhẹm, chờ tới giờ phút chót mới báo tin cho tử tội biết.
Tuân theo thông lệ đó, tôi nhất định sẽ không cho ông Cẩn biết về sự hành quyết. Điều khó khăn và khổ tâm cho tôi là làm sao giấu được sự xúc động, thương cảm của mình trong lần gặp gỡ vĩnh biệt này để ông Cẩn khỏi nghi ngờ là hôm nay sẽ bị xử tử.
Khi gặp tôi, ông Cẩn vẫn có vẻ bình thường, không biểu lộ sự khiếp đảm nào cả.
Tôi đoán thầm: ‘'Chắc ông không biết''.
Lần gặp gỡ này có sự thay đổi là thay vì đứng tránh ra xa, các Công an viên lại đứng khít bên ông Cẩn và tôi. Vụ án đã kết thúc, không còn vấn đề bảo mật câu chuyện giữa thân chủ và Luật Sư nữa. Cũng có thể họ đã biết sẽ có sự hành quyết nên đứng cận một bên để ngăn cản không cho tôi tiết lộ tin đó với ông Cẩn.
Tôi nói với ông Cẩn rằng bữa nay tôi rãnh rỗi nên tới thăm ông như thường lệ. Lần này ông và tôi trò chuyện với nhau lâu hơn mọi khi.
Trước đó, mặc dầu đôi bên là thân chủ và Luật Sư, nhưng tôi không quen ông và không phải ông đến nhờ tôi biện hộ, nên đôi bên đối với nhau có phần dè dặt. Câu chuyện chỉ xoay quanh vấn đề xả giao, hoặc chiến thuật sẽ áp dụng tại phiên Tòa.
Lần này bỗng nhiên ông Cẩn tâm sự về thân thế của ông và tiết lộ một số bí mật, câu chuyện của ông có vẻ như là một sự trăn trối.
Tôi giựt mình, nói thầm: ‘'Chắc ông biết''.......
Khi ông xoay qua giải bày đường lối chính trị của mình, tôi ngạc nhiên thấy ông ăn nói mạch lạc, hoạt bát và hùng hồn. Nhắc lại những pha sắt máu ông đối phó với việt cộng sau khi ông Diệm lên nắm chính quyền, ông khẳng định rằng phải thẳng tay với họ cũng như họ đã sát hại phe Quốc Gia không chút nương tay. Lúc nói như vậy, ông ngẩn đầu lên, mắt sáng long lanh, mặt đỏ rần, mạnh dạn gằn từng tiếng nói ‘'Tới cao trào cách mạng là phải đổ máu. Tới cao trào cách mạng là phải đổ máu''.....
Rồi ông bảo tôi: ‘'Luật Sư đưa tôi cái danh thiếp của Luật Sư''.
Tôi ngạc nhiên, không hiểu đến lúc này ông còn hỏi danh thiếp của tôi để làm gì, nhưng cũng chiều ý ông. Cầm tấm danh thiếp, ông lấy bút viết nơi phía sau ‘'Xin hết lòng đa tạ'' và ký tên, chữ nguệch ngoạc, ‘'Ngô Đình Cẩn''.
Đưa danh thiếp lại cho tôi, ông nhìn tôi, anh mắt bỗng dịu lại, và nói:
- Tôi xin gửi lại chút này để xin cám ơn Luật Sư đã hết lòng biện hộ cho tôi.
- Thật sự tôi đâu có giúp gì được cho ông. Họ vẫn xử tối đa.
- Vấn đề không phải ở đó. Viết mấy chữ này tôi muốn tỏ lòng tri ân đối với người Luật Sư không từng quen biết tôi, nhưng đã tận tình và can đảm nói lên giữa phiên Tòa những điều gì tôi muốn nói đối với chế độ này.
Lời lẽ của ông có vẻ như một sự trăn trối.
Tôi lại nghĩ thầm: ‘'Chắc ông biết''.
Nhưng ông Cẩn lại tiếp tục bình tĩnh trò chuyện, lấy giấy vấn thuốc, phì phà hút. Rồi ông lại têm trầu, nhàn nhã nhai bỏm bẻm.
Tôi lại nghĩ thầm: ‘'Ông có cử chỉ thảm nhiên như vậy, chắc ông bình thường.
Ông Cẩn đưa bàn tay mặt siết tay tôi thật chắt, chắt và lâu hơn những lần gặp gỡ trước. Đồng thời ông luồn bàn tay trái xuống dưới gầm bàn, mắt ông trừng lên và liếc xuống đó làm hiệu. Tôi nhìn xuống thấy bàn tay trái xòe trân ra tất cả năm ngón, và gật gật nhiều lần.
Cho đến bây giờ, ba mươi năm sau, ngồi viết lại những dòng này tôi như nhìn thấy rõ ràng trước mặt bàn tay ông Cẩn xòe thẳng năm ngón làm dấu hiệu cho biết ông sẽ bị hành quyết lúc năm giờ chiều ngày đó, trong khi ấy nét mặt ông bình tĩnh như thường.
Ra về, tôi không khỏi thầm phục con người can trường, biết cái chết thê thảm đang kề gang tấc mà vẫn cố gắng giữ được phong thái thảm nhiên, ung dung suốt mấy tiếng đồng hồ ngồi trò chuyện với tôi''.
Những giờ phút cuối cùng của ông Ngô Đình Cẩn tại khán Chí Hòa và tại pháp trường được Luật Sư Võ Văn Quan ghi lại:
‘'Ba giờ chiều ngày ấy tôi trở lại khám Chí Hòa. Lần này tôi đến văn phòng ông Quản Đốc chứ không đi thẳng tới phòng giam ông Cẩn như mọi khi trước. Tại đây có Thiếu Tá Đức và một vài người nữa mà bây giờ tôi không còn nhớ rõ là ai. Mọi người có vẻ mặt nghiêm trọng như kẻ đi dự đám tang, không ai nói gì nhiều, ngoài những điều chào hỏi và vài câu chuyện xã giao. Thiếu Tá Đức và tôi, sau những đụng độ tại phiên xử, đã có sự cảm thông, không còn coi nhau như địch thủ nữa. Ông và tôi thân mật bắt tay hàn huyên.
Sau một lúc, Thiếu Tá Đức đề nghị: ‘'Thôi mình đi. Đã tới giờ rồi''.
Theo chân ông Quản Đốc, đoàn người bước lên cầu thang dẫn đến lầu ba, chỗ giam ông Cẩn. Tiếng những đế giày da cứng, nện trên các bậc xi măng, vang dội rợn người trong không khí bít bùng, vắng lặng và âm u của những cầu thang quanh co.
Đến nơi cửa phòng giam đã mở sẵn. Đoàn người lặng lẽ bước vào.
Nghe tiếng giày, ông Cẩn chắc biết rõ phái đoàn đến đây để làm gì. Ông thảm nhiên không nhìn và không chào hỏi. Ông tiếp tục nằm trên giường, khép mắt, hai tay chấp trước ngực, lần chuỗi hột có treo cây Thánh Giá nhỏ, miệng lâm râm cầu nguyện. Vị Linh Mục đứng bên cạnh giường cùng đọc kinh với ông.
Bóng đèn điện từ trên trần nhà tỏa xuống một màu vàng vọt thê lương như ánh sáng những ngọn nến leo lét cắm trên quan tài.
Trong giờ khắc một đời người sắp thảm thiết bị hủy diệt, không khí trong phòng giam kẻ tử tội bỗng nhiên đượm vẻ vừa trang nghiêm, vừa ảm đảm, vừa rùng rợn. Căn phòng như thuộc về một cõi vô thực, cách biệt hẳn với thế gian.
Thiếu Tá Đức đến bên giường, long trọng đọc bản tuyên xử bác đơn xin ân xá của ông Cẩn, dư âm cuối cùng của bi hài kịch đã diễn tại phòng xử của Tòa án cách mạng. Những hình ảnh phiên xử thoáng hiện trong trí tôi rõ rệt, mà cũng xa xôi diệu vợi như thuộc về một kiếp khác...
Ông Cẩn im lặng nghe đọc bản án bác đơn xin ân xá. Ông tiếp tục nằm trên giường, khép đôi mắt, không nhìn và không nói gì với Thiếu Tá Đức.
Tôi bước tới, đặt hai tay trên hai bàn tay của ông. Tay ông nóng hổi, mặt ông ửng hồng trong cơn sốt. Ông từ từ mở mắt, lặng lẽ nhìn tôi.
Quá cảm động, tôi chỉ biết nói câu an ủi tầm thường, bâng quơ: ‘'Thôi, ông Cố Vấn đừng quá đau buồn. Trên cõi đời này, sớm hay muộn, rốt lại ai cũng phải ra đi''.
Ông nhìn tôi điềm tĩnh nói: ‘'Luật Sư đừng có buồn cho tôi. Tôi đi theo mấy ông anh của tôi. Tôi trở về với Chúa. Tôi không sợ chết đâu. Nhưng tôi lo cho Luật Sư. Lúc cãi cho tôi, Luật Sư đã đụng chạm tới họ. Không biết Luật Sư ở lại có bị họ làm khó dễ hay không''.
Tôi ứa nước mắt nói: ‘'Không sao đâu, ông Cố Vấn đừng lo cho tôi. Xin cầu chúc ông Cố Vấn được vào nước Chúa''. Tôi rời khỏi giường để vị Linh Mục làm lễ và cùng cầu nguyện với ông Cẩn'.
Người viết được Linh Mục Tuyên Úy của ông Cẩn cho biết, trước mặt mọi người, ngài đã hỏi ông Cẩn hai lần:
- Cậu có tha thứ cho những người đã làm khổ Cậu và gia đình Cậu không?
Cả hai lần ông Cẩn đều nói lớn và rõ ràng:
- Con tha thứ.
Tiếp lời Luật Sư Quan:
Khi buổi lễ hoàn tất, Thiếu Tá Đức ra lịnh đưa ông Cẩn ra khỏi phòng giam. Vì ông đau yếu nên có hai người cai ngục xốc vai ông dìu xuống cầu thang. Tới dưới đất người ta đặt ông lên một cái xe brancard, đẩy đi xuốt từ hành lang này qua hành lang kia bên trong khám đường (đoạn đường dài khoảng vài trăm thước) dài vô tận. Phái đoàn đi theo sau brancard.
Suốt lộ trình ông Cẩn lâm râm cầu nguyện....
Khi đến cửa ở cuối hành lang, người ta đỡ ông Cẩn xuống xe brancard. Ông chậm rãi bước tới cửa. Sau không khí âm u tù túng trong hành lang quanh co, chợt bước ra khỏi cửa, ánh sáng chói chang và không gian bát ngát bên ngoài làm cho choáng váng.
Cạnh bên cửa sổ, cái cọc định mạng đã đóng sừng sững xuống đất. Toán lính của đội hành quyết xếp hàng đối diện với cái cọc, súng ống sẵn sàng. Xa xa, đám quần chúng hiếu kỳ chen chúc lao xao sau hàng rào Cảnh Sát giữ trật tự. Tiếng bàn tán, reo hò của họ khi thấy ông Cẩn bước ra làm tôi nhớ lại tiếng công chúng la hét trước Pháp Đình Huế một buổi bình minh lạnh lẽo ẩm ướt mưa phùn thuở nào.
Thiếu Tá Đức và những người trong phái đoàn bước tới khán đài gần đó. Tôi ở lại, đứng bên cạnh ông Cẩn. Hai người lính bước tới dẫn ông đến cái cọc, trói ngoặc hai cánh tay ông ra sau lưng, ghì chặt vào cọc. Ông tiếp tục lâm râm cầu nguyện. Vị Linh Mục làm phép Thánh và đưa cây Thánh Giá đến miệng ông Cẩn cho ông hôn.
Một người cai ngục trẻ tuổi, mặt mày hiền lành, bước tới nói với ông Cẩn, giọng thành khẩn: ‘'Thưa ông tên Thánh con là Phêrô. Ông lên tới nước Chúa xin ông cầu nguyện cho con''. Ông Cẩn lặng thinh, nhè nhẹ gật đầu.
Tôi bước tới bên cọc, siết bàn tay bị trói của ông lần cuối cùng, nghẹn ngào, không nói được gì.
Một người lính trong đội hành quyết đem cái khăn vải đen bước tới, toan bịt mắt ông Cẩn. Tới lúc đó ông mới không giữ im lặng nữa. Ông lắc đầu, nói lớn:‘'Tôi không chịu bịt mắt. Tôi không sợ chết''. Nhưng người ta vẫn buộc cái khăn vào, cột vụng về thành thử không phải chỉ có hai con mắt mà gần trọn cái mặt bị bịt lại......
Bị bịt mắt, ông Cẩn vẫn còn lên tiếng phản đối, vùng vẫy cái đầu....
Một tiếng hô.
Một loạt súng nổ.
Đạn bắn mạnh vào làm cho thân hình người tử tội bật ngược lên, giẫy nảy, rồi rũ xuống...
Viên Sĩ Quan Chỉ Huy Đội Hành Quyết bước tới cọc, dí súng vào màng tang ông Cẩn, lạnh lùng bắn phát đạn ân huệ. Đầu ông Cẩn giẫy lên rồi gục xuống.
Hoàng hôn chụp xuống, ảm đạm, tang tóc.
Tối hôm đó tôi uống thuốc để cố gắng tìm giấc ngủ, nhưng vẫn trằn trọc, thao thức suốt đêm.
Bao nhiêu hình ảnh của vụ án cứ mãi dồn dập, quay cuồng trong tâm trí tôi:.......
Suốt thời gian đó, vô hình chung, tình cảm của tôi đối với ông lần lần thay đổi, lúc đầu, cũng như mọi người, tôi phẫn nộ khi đọc những bài báo tường thuật tôị ác của ‘'Lãnh chúa miền Trung''. Về sau, mặc dầu nhận lời bà Trần Trung Dung biện hộ cho ông Cẩn, tôi không có thiện cảm đối với ông. Những lần tiếp xúc giữa đôi bên trước khi có phiên xử chỉ lạnh nhạt xoay quanh câu chuyện xã giao và chú trọng vào chiến lược sẽ áp dụng trong phiên Tòa cách mạng. Nhưng lần lần, ngoài ý thức của tôi, sự lãnh đạm buổi đầu đã biến thành sự khâm phục và thương tâm.
Khâm phục: Đối với người đã can trường chấp nhận cái thua trong ván bài chính trị được ăn cả ngã về không, mà đối tượng là sanh mạng của mình. Khi phải đem máu để trả nợ máu, ông đã giữ im lặng, không một lời van xin, không một tiếng than thở. Đến lúc chót, đứng trướcTiểu Đội Hành Quyết, ông khẳng khái đòi được mở mắt nhìn thẳng vào cái chết, phản đối không chịu bịt mắt.
Thương tâm: Đối với người sùng đạo, trước cái chết thảm thiết mà vẫn bình tĩnh đặt niềm tin nơi Đấng Thiêng Liêng.
Tôi nghĩ rằng, là con người, khi chứng kiến cái chết, nhứt là cái chết thảm thiết, của một con người bất cứ là ai, dầu người chết là kẻ gian ác chăng nữa không người nào khỏi cảm thấy một mối thương tâm... một sự mất mát nào đó.
Do sự ngẫu nhiên của cuộc đời, mấy mươi năm sau vụ án này, tôi gặp lại bà Trần Trung Dung khi bà tới định cư tại Orlando, Forida. Bà thành là bạn thân thiết của gia đình tôi. Thỉnh Thoảng khi nhắc lại chuyện xưa, bà tường thuật mọi chuyện rõ ràng hơn lúc còn ở quê nhà. Bà kể tên những người trong cuộc, kể lại những sách nhiễu tiền bạc bỉ ổi, những thủ đoạn lừa lọc gian manh đàng sau vụ án Ngô Đình Cẩn.
Ngậm ngùi thay cho đất nước vào hồi mạt vận nên phải gặp những kẻ gian giảo, vô tài bất lương.
Kết thúc bài tường thuật về cuộc xét xử ông Ngô Đình Cẩn và coi việc ông nhận biện hộ cho ông Ngô Đình Cẩn như là một cơ may ông được gặp trong suốt đời hành nghề Luật Sư của ông, Luật Sư Quan viết:
‘'Mấy mươi năm hành nghề làm cho tôi thấy rằng nghề Luật Sư không phải chỉ có cái hào quang của những lúc thành công và những khi được binh vực cho người mình mến phục, mà còn kèm theo cái Nghiệp phải biện hộ cho những người mình không có cảm tình, hoặc cho những lập trường mình không tán thành. Cái Nghiệp phải chứng kiến cảnh hành quyết những người mình bất tài không cứu được mạng sống... Cái Nghiệp đầy những lo âu, đau buồn, có khi đẫm lệ.
Nhưng càng đi sâu vào nghề và với tuổi đời càng chống chất, tôi nhận thấy rằng đó không còn là cái nghiệp nữa, nhưng là một cơ may.
Một cơ may huyền diệu đưa tới cho tôi cho tôi những sự thử thách tuy cam go, nhưng hào hứng và sáng tạo.
Một cơ may giúp tôi có một nhân sinh quan phong phú hơn, sâu rộng hơn, giúp cho tôi nhận thức rằng ai ai cũng là một điểm linh quang của Thượng Đế, chỉ khác nhau về điểm linh quang ấy bị lu mờ ít hay nhiều bởi dục vọng của mỗi cá nhân. Nhân sinh quan đó làm cho giảm bớt tham, sân, si trong tôi, đưa tôi sự an lạc trong tâm hồn..., tất cả mọi người, đúng theo giáo lý trùng trùng duyên khởi của Đức Phật, đều có mối tương quan mật thiết với nhau, đều là bạn đồng hành trong đại trùng dương của đời sống của muôn loài vạn vật''.
Ông Huỳnh Văn Lang, người đã cùng với mấy người bạn từ ngoại quốc được Thủ Tướng Ngô Đình Diệm mời về tham chánh trong Chính Quyền của ông. Qua suốt 8 năm giữ chức Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái Quốc Gia, chưa bao giờ ông gặp ông Cẩn. Mặc dầu một dịp đến Huế, năm 1957, có người khuyên ông nên vào chào ông Ngô Đình Cẩn, nhưng ông đã từ chối. Vì ông coi ông Cẩn là người ít học, và ông lại hay khinh khỉnh với những người thiếu học thức. Sau đảo chánh 1.11.1963 ông bị bắt giam trong khám Chí Hòa nhằm thời gian ông Cẩn bị hành hình, đã viết về tư cách của ông Cẩn trong những giây phút cuối cùng của đời ông như sau:
‘'Tôi rất tiếc vì không gặp ông, không biết mặt ông, nhứt là sau này khi nghe người ta thuận lại lời ông nói trước khi đi ra cửa sau khám Chí Hòa để thọ hình. Theo luật nhà tù, đúng lý ra ông phải mặc áo trắng, nhưng ông đã tha thiết yêu cầu được mặc áo dài đen, ông muốn chết trong Quốc Phục Việt Nam và là áo của mẹ già ông may cho ông, khi bà còn may được. Ngoài ra ông còn tuyên bố là ông tha thứ cho những người giết ông, như người Công Giáo thường làm.
Đó là những lời yêu cầu mà Giám Thị ngục đã kể cho chúng tôi nghe, mà Cha linh hồn của ông Cẩn và bà Trần Trung Dung hay thuận lại cho bà con hay quen biết (trong đó có vợ chồng tôi) nghe, những khi mà có người muốn xin bà kể lại những giờ phút sau hết của người cậu của bà. Ông Cẩn nhận đơn bị bác của Tướng Dương Văn Minh, 4 giờ chiều và tới 7 giờ trời chưa tối, khi hai người lính cai ngục của Đại Tá Luyến, Giám Đốc ngục, lên lầu xốc ông Cẩn xuống, bỏ lên xe đẩy ra cửa sau và dìu ông ra pháp trường.
Trong giờ phút đó mà còn nói được những lời yêu cầu đó thì bạn đọc nghĩ sao về con người đó, vì ngoài tình tự quê hương, lòng tha thứ, còn có tình hiếu thảo. Về tình tự quê hương, thì bao nhiêu anh hùng Việt Nam trước khi thọ hình còn có lắm lời thương nước thương giống nòi oanh liệt hơn ông Cẩn nhiều, nhưng có ai đã nghĩ đến mẹ mình trong giờ phút đó như Chúa Giêsu. Nhiều người có nói: Ông Cẩn là người rất hiếu thảo với mẹ. Nếu đúng vậy chắc chắn ông đã dành giây phút sau hết để đem linh hồn mình về tận Huế, hoặc giả hình ảnh bà cụ già đã hiện ra trong đầu óc ông, để rồi dần dần biến theo làn khói của miệng súng sáu kết liễu đời ông.
Trước kia tôi cho Cố Trầu là bậy, đến bây giờ tôi vẫn cho ông là bậy, tôi hay khinh khỉnh những người thiếu học thức, thiếu văn hóa mà lại nắm quyền hành to lớn, như người lính cai trị chẳng hạn. Nên tôi không bao giờ thương tiếc ông hay bênh vực ông, nhưng tôi phục ông, vì tôi sẽ không được bằng ông, nếu phải ở trong hoàn cảnh sau hết như ông. Và tôi tưởng rằng các Tướng Tá và ai ai nữa đã trách nhiệm về cái chết đó sẽ không bao giờ bằng ông, nếu phải ở trong một hoàn cảnh sau hết như ông, và những lời yêu cầu sau hết của ông có thể sẽ để nhục cho những người đã giết ông.
Năm mươi năm hay 100 năm sau này, trong lịch sử Việt Nam cái trường hợp của một Ngô Đình Cẩn có thể chỉ là một tiểu tiết không đáng hai hàng chữ. Tuy nhiên hiện giờ nhà sử hay nhà văn có muốn viết về ông Cẩn, tôi XIN, nếu có viết về nhiều tội ác của ông, cũng phải viết về cái chết của ông, người ta đã thi hành lệnh trên, lôi ra pháp trường một người đã già yếu bệnh hoạn, cũng là một hình thức bán khai của những người có trách nhiệm định đoạt hay làm áp lực trách nhiệm về cái chết đó.
Ngoài ra còn phải ghi thêm những lời yêu cầu sau hết của ông, vì là những lời nhắn gửi cho những người còn sống lại sau ông và những thế hệ kế tiếp, vì nó chứa đựng những giá trị dân tộc, cần phải giữ gìn và nắm muối lại. Có như thế, người viết văn hay viết sử mới được kể là lương thiện, cũng là công bằng, một đức tính tối thiểu, nhưng lại là quan trọng nhứt, như đã có lần Giáo Sư Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu đã nhắc nhở tôi điều đó.
Tôi có đọc lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội, chưa thấy có một anh hùng nào, không có một Thánh Tử Đạo nào có một lời trối trăn hay yêu cầu gồm cả 3 ý nghĩa như thế. Ông Cẩn đã theo gương Chúa của ông. Trên thập giá, những lời sau hết của Chúa Jésus là trối gửi mẹ mình ‘'Gioan, đây là mẹ con'' và tha thứ ‘'xin Cha tha cho chúng, vì chúng không biết''.
Ở đây không có vấn đề so sánh, vì làm sao so sánh được, vì một đàng là Thánh Chúa và siêu việt, một đàng là con người. Nhưng là một con người trong giờ phút đó còn nhớ đến mẹ mình, còn biết tha thứ và còn tha thiết tình tự quê hương, đất nước. Ông Cẩn, khi ra pháp trường đã mặc chiếc áo dài đen quốc phục, cái áo dài đen đã hóa thành một cái bóng ma lởn vởn trong giấc ngủ của tôi, nhiều đêm trong khám Chí Hòa và lâu lâu còn trở lại với tôi ở Trung Tâm Cải Huấn Tam Hiệp, Biên Hòa. Không biết vì đâu, mà xưa nay mỗi lần nói đến ông Cẩn, tôi hình dung ông là một ông già bệnh hoạn, luôn luôn ăn trầu bô bô và luôn luôn mặc chiếc áo dài đen...
Những lời yêu cầu hàm xúc cả ba giá trị ngàn đời của dân tộc nói trên, có sức đủ để xóa bỏ tất cả mọi tội ác hay lỗi lầm của ông Cẩn không? Theo tôi, có thể là chưa đủ. Tuy vậy, tôi vẫn tiếc vì không biết mặt của con người đó, nhứt là trong một cơn ác mộng, tôi muốn tìm cho ra bộ mặt thật của ông, nhưng chỉ thấy phất phới giữa đen tối bão bùng, chỉ mỗi một cái áo dài đen với những gương mặt xanh biếc ma chơi, có hình dáng của một Tướng lùn có một bộ râu dê hơi hề hề, có một Tướng vạn vỡ có bộ mặt ‘'bư bư'' đầy thù hận, con có một thầy tu có cặp mắt hung hăng đầy sát khí và một Đại Sứ có một bộ mặt tướng cướp, có cái cười gian hùng...
Hai ông Tướng (oai hùng mà), một ông thầy tu (từ bi mà), và một ông Mỹ (ngoại giao mà), có thể hiện giờ bốn ông đều cho mình là vô tội, vì đã tìm được một lý do để đưa banh chuyền cho nhau. Vậy ai là người có trách nhiệm về cái chết vô ích đó, vô ích vì đã có hai mạng rồi? Nói vô ích vì chưa đúng hẳn, vì cũng là một cái chết nhục nhã cho người chết, nhưng có làm nhục nhã luôn cả những người giết ông không? Thử hỏi. (Nhân Chứng Một Chế Độ. Tập 1. Trang 522)
Tại phiên Tòa ‘'hụt'' xử ông Cẩn ở Huế, có tới mấy ngàn người tập trung từ sáng sớm dưới trời mưa lạnh, và họ được chỉ huy để hò reo, la hét đả đảo, đòi xử tử ông Cẩn. Tại sân sau khám Chí Hòa, khi ông Cẩn được dẫn tới cây ‘'cọc tử thần'', cũng có một số đông chờ sẵn, hò reo vui mừng. Một hình ảnh không khác gì hình ảnh những phiên tòa nhân dân xử ‘'địa chủ'' trong cái được gọi là ‘'cải cách ruộng đất'' ở miền Bắc năm nào.
Họ thuộc thành phần nào, nhất là ở Huế? Chắc chắn thân nhân những người được gọi là ‘'nạn nhân trong vụ án Gián Điệp Miền Trung'' không thể đông đến con số mấy ngàn người. Vậy họ từ đâu đến? Không ai biết. Nhưng người ta biết họ được chỉ huy.
Đọc phần Luật Sư Võ Văn Quan muêu tả quang cảnh phiên xử ông Cẩn tại Huế và khi ông thọ án tại sân sau khám Chí Hòa, tôi nhớ đến thời kỳ từ 1958 đến năm cuối Đệ I Cộng Hòa, những ai có điều kiện nghe đài phát thanh Hà Nội, và sau đó thêm đài giải phóng miền nam, đều biết, mỗi lần nói đến những ‘'mất mát'' của ‘'cách mạng miền Nam'', họ đều đòi phải xử ‘'tử hình'' hai thầy trò ‘'Ngô Đình Cẩn và Dương Văn Hiếu'', mà họ gọi là hai tên ‘'đại gian ác''. Không biết quang cảnh xảy ra tại hai nơi kể trên, có liên hệ gì đến sự đòi hỏi của chế độ cộng sản miền Bắc, được phát thanh từ hai đài Hà Nội và mặt trận giải phóng miền nam không?
Mặc dù ông Ngô Đình Cẩn không chết cùng một lúc và cùng một cách như hai ông anh của ông, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Nhưng không thể tách cái chết của ông ra là một trường hợp riêng biệt. Vì cả ba người cùng đã phải chết vì một nguyên nhân như tôi sẽ trình bày trong Chương nói về Đảng Cần Lao. Theo hiểu biết của tôi, sự kết hợp không thể tách rời giữa ba ông Diệm, Nhu, Cẩn, là do sự sắp xếp của gia đình để thực hiện lời trăn trối của thân phụ.
Xin được nhắc lại, tất cả các con Cụ Ngô Đình Khả đã thề hứa với Cụ trước khi Cụ trút hơi thở cuối cùng, sẽ cùng với ông Diệm thực hiện bằng được ước vọng của Cụ:
Tranh đấu dành lại một nền độc lập hoàn toàn và thực hiện cuộc cải tạo xã hội xóa bỏ bất công.
Vì vậy, sau khi Cụ Khả qua đời, ông Ngô Đình Khôi trong trách nhiệm quyền huynh thế phụ, quyền này được tôn trọng một cách tuyệt đối trong gia đình họ Ngô, không bỏ lỡ dịp sum họp gia đình nào mà không nhắc nhở các em: ‘'Chúng ta phải sống cho ước vọng của cha'', đặc biệt với các ông Diệm, Nhu, Cẩn là ba người con trai còn ở lại trong gia đình.
Khi chủ nghĩa cộng sản xuất hiện tại Việt Nam, năm 1930, anh em họ Ngô nhận thấy cải tạo xã hội theo chủ trương vô thần và luận điểm chuyên chính vô sản của chủ nghĩa này là điều không thể chấp nhận được. Hai ông Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Diệm liền đưa ông Ngô Đình Nhu qua Pháp để nghiên cứu một sách lược cải tạo xã hội theo ước vọng của thân phụ. Khi ấy ông Nhu vừa hoàn tất chương trình tu học tại Tiểu Chủng Viện Anh Ninh.
Phần ông Diệm, được thân phụ trao trách nhiệm lãnh đạo cuộc tranh đấu, ông đã hy sinh mọi hạnh phúc riêng tư, hiến dâng cả cuộc đời để thực hiện ước vọng của cha. Vì thế, khi được Vua Bảo Đại vời tới giao chức Thượng Thư Bộ Lại, ông đã lấy việc ‘'được cải tổ xã hội Việt Nam'' làm điều kiện để nhận lãnh trách nhiệm (Con Rồng Việt Nam. Trang 92). Nhưng chỉ sau bốn tháng tại chức, nhận thấy quan trường dưới chế độ Bảo hộ không phải là nơi giúp ông thực hiện được lời đã thề hứa với cha, ông rũ áo từ quan, trả lại tất cả mọi chức tước được Triều Đình ban cấp từ trước (Con Rồng Việt Nam. Trang 92), để được tự do lựa chọn con đường hành động riêng của mình.
Bắt đầu từ thời gian này, ông Ngô Đình Cẩn thực sự giữ nhiệm vụ yểm trợ các anh trên con đường thực hiện lý tưởng chung. Để dễ bề thi hành phần vụ, ông đã giả từ học đường và theo gương anh, ông Ngô Đình Diệm, hy sinh hạnh phúc của riêng mình, dành hết thời giờ phụng dưỡng mẹ già, quán xuyến việc gia đình, để các anh yên tâm thi hành phận sự của mỗi người. Ông đã phải đối phó với nhiều khó khăn nguy hiểm suốt thời gian từ khi ông Diệm thoát được cuộc vây bắt của chính quyền thực dân Pháp (tháng 3.44), đặc biệt là với chính quyền Việt Minh, sau khi họ thủ tiêu ông Ngô Đình Khôi và người cháu đích tôn của dòng tộc họ Ngô, cậu Ngô Đình Huân, bắt và quản thúc ông Diệm tại Bắc Việt. Cùng lúc, ông vẫn thực hiện nhiệm vụ phổ biến đường lối, mục đích cuộc tranh đầu, tổ chức cơ sở, thâu nạp đồng chí tại miền Trung. Khi ông Diệm bôn ba hải ngoại, ông phụ trách thông tin qua lại giữa ông Diệm và các đồng chí, các cơ sở, thu gom tài chánh từ các bà chị, đôi khi từ các đồng chí, giúp ông Diệm có phương tiện hoạt động ở nước ngoài.
Khi ông Ngô Đình Diệm nhận lãnh trọng trách lãnh đạo Quốc Gia, ông Ngô Đình Cẩn không tham gia chính quyền, nhưng vẫn giữ nhiệm vụ yểm trợ các anh trong vị thế một người dân. Ông đã tích cực đóng góp tâm trí, công sức trong công tác xây dựng và củng cố Chế Độ Cộng Hòa, chống lại tham vọng thôn tính miền Nam của cộng sản miền Bắc, như quý độc giả đã thấy trong phần ‘'công việc'' của ông.
Tóm lại, từ những bước đầu trên con đường tranh đấu, đến khi nắm chính quyền, cho đến lúc bị lật đổ, ba anh em: Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, không khi nào xa rời nhau trong nhiệm vụ thực hiện lý tưởng cách mạng của dòng tộc họ. Họ đã cùng chia sẻ những khó khăn vất vả trong cuộc sống, cùng có những hy sinh lớn lao trong đời sống riêng tư, cùng trải qua mọi gian nguy hiểm trên các chặng đường tranh đấu, cùng nhận lãnh những vinh quang của sự thành công bước đầu: Khai sinh, xây dựng, phát triển Chế Độ Cộng Hòa cho Việt Nam, và đã cùng chết trong uất nghẹn vì ước mơ ‘'Cải Tạo Xã Hội Việt Nam'' chưa đạt.
Từ khi ông Ngô Đình Cẩn bị bắt giam cho đến sau khi ông bị giết, những danh từ ‘'Cậu Út Trầu'', ‘'Ông Cố Vấn'', ‘'Lãnh Chúa Miền Trung'', đã khá phổ biến trên một số mặt báo tại Sài Gòn. Từ những danh từ này, người ta đã tô vẽ thành những chiếc ‘'mặt nạ thật ghê tởm'' chụp lên mặt ông Cẩn.
Nhưng qua phần ‘'công việc'' của ông Ngô Đình Cẩn mà tôi đã kể lại với sự thú nhận của đối phương, và những lời tường thuật, nhận xét, của Luật Sư Võ Văn Quan và ông Huỳnh Văn Lang, quý độc giả chắc đã nhận ra con người thật Ngô Đình Cẩn.
Qua con người thật và bản lãnh của ông Cẩn, hy vọng các thế hệ đến sau, đặc biệt là những người chọn con đường chính trị để dấn thân phục vụ Đất Nước và Dân Tộc, có thể rút ra được những bài học hữu ích.