Đồng Hồ Xương

Lượt đọc: 991 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngày Đầu Năm, 1992

Sáng hôm nay tôi thức dậy trong căn gác xép ở nhà Chetwynd-Pitt và biết rằng điện thoại ở phòng khách cách hai tầng bên dưới, sẽ đổ chuông sau sáu mươi giây nữa, và rằng người bên kia đầu dây là bố, gọi báo tin xấu. Đương nhiên không phải vậy; đương nhiên chỉ là ác mộng vương vấn; chứ chẳng lẽ tôi có khả năng tiên báo sao, thật vô lý. Đương nhiên rồi. Nếu bố gọi hỏi chuyện Penhaligon thì sao? Thể nhỡ Penhaligon bép xép trong thư tuyệt mệnh, và một sĩ quan cảnh sát ở Truro đã nói chuyện với bố? Đương nhiên đây chỉ là cảm giác hoang mang hậu-cocaine, nhưng biết đâu đấy, chỉ để phòng khi, tôi bước xuống giường, khoác áo choàng Thổ rồi đi xuống phòng khách ở tầng hầm, nơi điện thoại ngụ im lìm, và sẽ im lìm như thế, đương nhiên rồi. Bài In a Silent Way của Miles Davis văng vẳng từ phòng Chetwynd-Pitt, rõ là hắn muốn khoe anh đây cũng sành nhạc đen. Phòng khách không có người nhưng đầy tàn tích: ly rượu, gạt tàn, giấy gói thức ăn, và một chiếc quần đùi lụa vắt vẻo trên súng trường chiến tranh Bower. Khi tôi về đến nhà tối qua, Ba chàng lính ngự lâm và các cô hát bè vẫn còn vừa phởn vừa phê, vậy là tôi đi ngủ luôn.

Kê mông trên lưng ghế sofa, tôi quan sát chiếc điện thoại.

09:36, đồng hồ hiển thị. 08:36 ở Anh.

Bố nhướng mắt qua kính, nhìn số điện thoại tôi để lại.

+36 mã Thụy Sĩ; mã vùng; số nhà nghỉ…

Vâng, tôi sẽ nói, thi thoảng Jonny có chơi bài.

Chỉ vài đứa bạn thôi. Chơi thư giãn, sau mỗi tuần học hành căng thẳng. Mỗi lần cùng lắm chỉ năm mươi bảng là nhiều. Tiền bia bọt ấy mà.

Bao nhiêu? Hàng nghìn? Tôi bật cười ngay lập tức, sửng sốt không tin nổi. Chơi kiểu đó đâu phải thư giãn nữa bố. Chơi vậy thì điên à. Ý con là…

Chắc cậu ấy bị bạn xấu lôi kéo.

09:37. Chiếc điện thoại nhựa đúc ngồi im, hiền lành.

Nếu 09:40 mà chuông không đổ, rõ là tôi đã thần hồn nát thần tính…

09:45, tốt đẹp cả. Tạ ơn Chúa. Tôi sẽ nhịn cocaine một thời gian – có lẽ là khá lâu. Chẳng phải vụ dã nhân ăn mày đã là bài học về chứng hoang tưởng đó sao? Điểm tâm, nước cam, một buổi trượt tuyết ra trò sẽ tống hết những thứ độc hại của đêm qua, vậy…

Điện thoại đổ chuông. Tôi chụp lấy. “Bố à?”

“A lô… Hugo? Con đấy hả?”

Chết tiệt, đúng là bố. “Bố, bố khỏe không?”

“Hơi bị choáng. Kiểu gì mà anh biết bố gọi?”

Câu hỏi hay. “Điện thoại của Rufus có hiển thị số gọi,” tôi nói dối. “À, chúc mừng năm mới. Ở nhà ổn cả chứ bố?”

“Bố cũng chúc mừng năm mới anh. Bây giờ nói chuyện được không?”

Tôi để ý thấy bố hạ giọng. Có chuyện rồi. “Bố nói đi.”

“À. Hôm qua có chuyện kỳ khôi quá đỗi. Bố đang xem bản tin kinh tế buổi trưa thì có cuộc gọi của cảnh sát – nữ điều tra viên chứ chẳng chơi – từ trụ sở Scotland Yard.”

“Lạy thánh.” Động não, động não, động não mau lên. Chẳng tích sự gì.

“Sĩ quan Sheila Young bên Ban phục hồi tác phẩm nghệ thuật và đồ cổ. Bố còn không biết trên đời có ban đấy, nhưng đại để nếu bức Hoa súng của Monet bị ăn trộm, thì chính họ phải đi tìm về.”

Hoặc Bernard Kriebel chơi tôi, hoặc ai đó chơi Kriebel. “Một công việc hay ho. Nhưng tại sao lại gọi bố?”

“À, thực ra cô ấy muốn nói chuyện với anh đấy, Hugo à.”

“Chuyện gì mới được chứ? Rõ là con đâu có thó tranh Monet.”

Khẽ bật cười, nhưng lo lắng. “Cô ấy không nói gì. Bố giải thích anh đang ở Thụy Sĩ, rồi cô ấy nói phiền anh gọi lại khi về đến nhà. ‘Để hỗ trợ cho một chuyên án mở’.”

“Bố chắc không, nhỡ đứa ngốc nào chơi khăm mình thì sao?”

“Nghe có vẻ rất thật. Bên kia đầu dây có tiếng văn phòng bận rộn.”

“Vậy con sẽ điện cho Điều tra viên Sheila Young ngay khi về nhà. Chắc là di cảo trong thư viện trường Humber bị thó? Thư viện có vài bản như thế. Hay là… chịu, con chịu, nhưng con ngứa ngáy muốn biết quá.”

“Được rồi. Bố… bố nói thật, bố chưa nói gì với mẹ anh.”

“Khéo đấy, nhưng nói cũng được thôi. Mà này, nếu con đi tù Wormwood Scrubs, mẹ tha hồ mở chiến dịch vận động ‘Trả tự do cho Hugo.’”

Tiếng cười của bố nghe sáng sủa hơn. “Bố cũng sẽ đến, cầm theo biểu ngữ đàng hoàng.”

“Tuyệt vời. Vậy, ngoài chuyện Interpol tra khảo bố về cậu con trùm tội phạm, ở nhà ổn cả chứ?”

“Cũng ổn. Bố đi làm lại ngày ba tháng Giêng, còn mẹ anh thì đang bận tối mắt ở nhà hát, mùa kịch panto mà. Anh có chắc là không cần bố ra sân bay đón không?”

“Cảm ơn bố nhưng lái xe của nhà Fitzsimmons sẽ đưa con về. Hẹn gặp bố tám ngày nữa nhé, lúc đấy bí mật sẽ được bật mí.”

Tôi đi lên lầu, trong đầu hiện ra đủ cảnh tượng tốc độ hai mươi bốn hình trên giây: ông Chuẩn tướng chết, người thừa hành di chúc hỏi, “Tem quý nào nhỉ?”; Y tá Purvis được hỏi về những người hay ghé thăm ông Chuẩn tướng; Kriebel chỉ ngón tay vào Marcus Anyder; băng ghi hình từ camera theo dõi được xem lại; tôi bị nhận dạng; tôi bị Sheila Young phỏng vấn, có ghi âm lại; tôi phủ nhận cáo buộc, nhưng Kriebel xuất hiện từ phía sau tấm gương hai chiều - “Chính hắn.” Kết án chính thức; không được bảo lãnh tại ngoại, Cambridge đuổi học, bốn năm tù cho tội ăn trộm và lừa đảo, hai năm hưởng án treo; nếu ngày hôm đó không có tin tức gì nổi bật tôi sẽ được lên trang nhất – Cựu học sinh trường Richmond ăn trộm tài sản của bệnh nhân đột quỵ; được thả sau mười tám tháng nhờ cải tạo tốt, dính tiền án cả đời. Lúc đấy nghề nghiệp duy nhất tôi còn làm được là khóa bánh xe đậu trái phép.

Trong gác xép, tôi lau một khoảng trên cửa sổ mờ hơi nước. Những mái nhà phủ tuyết, khách sạn Hôtel Le Sud, những đỉnh núi thẳng đứng. Tuyết chưa rơi, nhưng bầu trời xám đá như nguyền rủa. Ngày 1 tháng Giêng.

Kim la bàn đang xoay chiều. Tôi cảm nhận được.

Kim chỉ hướng nhà tù chăng? Hay còn nơi nào khác?

Cô Constantin không chọn người ngẫu nhiên.

Tôi hi vọng. Có tiếng phịch nhau thình thịch ở dưới: Quinn chứ ai.

Hắn dứt điểm nhanh chóng, như chú khủng long ăn cỏ tiu nghỉu.

Điều tra viên Sheila Young không phải là một cái bẫy: cô ta là nhân tố xúc tác.

Xếp đồ vào túi, linh tính lên tiếng. Chuẩn bị sẵn sàng. Đợi đấy. Tôi làm theo, rồi mở cuốn Núi Thần đang đọc dở.

Biệt thự Hành Lạc trở mình. Tôi nghe tiếng Fitzsimmons ở tầng một bên dưới: “Để anh tắm một cái…” Nồi hơi thức dậy, ống sưởi gầm gừ, vòi nước tắm bắn tung tóe; giọng nữ nói một thứ ngôn ngữ châu Phi; tiếng cười trần tục; tiếng Chetwynd-Pitt vang như chuông, “Chào buổi sáng, Oliver Quinn! Bác sĩ kê đúng toa rồi chứ gì!” Giọng nữ – Shandy chăng? - hỏi, “Rufus cưng à, em gọi cho người đại diện, để ổng biết tụi em ô kê hết nhé?” Tiếng bước chân đi xuống phòng khách ở tầng ngầm; vào bếp, radio lại phát bài “One Night In Bangkok”; Fitzsimmons vừa tắm xong bước ra; có tiếng đàn ông rì rầm ở đầu cầu thang: “Sinh viên xuất sắc vẫn còn thức, ở trên chuồng… Hồi sáng sớm có xuống nghe điện thoại… Nếu hắn muốn dỗi, cứ để hắn dỗi…” Tôi nửa muốn hét xuống, “Anh chẳng dỗi gì cả, anh mừng cho các chú vừa được sướng!” nhưng cớ gì tôi phải phí sức giải thích với chúng? Có người huýt gió; ấm đun vừa sôi; rồi tôi nghe tiếng người, nửa the thé, nửa lạo khạo, nửa hét: “Cô giỡn gì kỳ vậy!”

Tôi tập trung chú ý. Một vài giây im lặng… Lần thứ hai trong buổi sáng kỳ quặc này tôi có linh tính cực mạnh, không thể giải thích được về những gì sắp đến. Như thể đã được lên kịch bản. Lần thứ hai, tôi làm theo linh tính, đóng cuốn Núi Thần và cất nó vào ba lô. Một cô ca sĩ đang nói nhanh, giọng trầm, tôi không thể nghe ra cô ta đang nói gì, nhưng theo sao đó là tiếng thịch-thịch-thịch từ bậc thang xuống sàn, nơi Chetwynd-Pitt buột miệng hét, “Một nghìn đô la! Bọn chúng đòi một nghìn đô la! Mỗi đứa!”

Coong, coong, coong, đồng xu tỉnh ngộ rơi xuống. Hoặc đồng đô la. Như trong những bài hát hay nhất, ta không thể đoán được câu nhạc tiếp theo, nhưng một khi đã nghe, thì làm sao có thể khác được?

Fitzsimmons: “Chắc chúng đang đùa.”

Chetwynd-Pitt: “Đùa mẹ gì.”

Quinn: “Nhưng các em… chúng có nói là gái đâu!”

Chetwynd-Pitt: “Trông còn chẳng giống gái chút nào.” Fitzsimmons: “Tớ không có một nghìn đô. Không có ở đây!”

Quinn: “Tớ cũng thế, mà nếu tớ có, thì việc gì tớ phải đưa ra?”

Lúc này tôi rất muốn bước ra khỏi phòng, thong thả xuống nhà rồi hớn hở “Các chàng Romeo thích ăn trứng chiên hay trứng bác nào?” Cú điện của Shandy gọi cho “người đại diện” chẳng khác gì tiếng còi hụ với đèn chớp nhoáng, hét lên, ma cô, ma cô, ma cô. Chuyện tôi có sẵn một đôi giày bốt Timberland mới cứng trong phòng lúc này, nhiều người hẳn sẽ cho là “tình cờ may mắn”, nhưng vậy thì nói làm gì.

Chetwynd-Pitt: “Thật cắt cổ. Tớ đề nghị, kệ mẹ chúng.”

Fitzsimmons: “Tớ đồng ý. Chúng thấy bọn mình có tiền, rồi nghĩ, cớ gì không xà xẻo?”

Quinn: “Nhưng, tớ thấy, nếu mình không trả, thì, thì chúng…”

Chetwynd-Pitt: “Đánh chết bọn mình bằng băng vệ sinh và son à? Không, mình phải dứt khoát, phắn là phắn, đây là châu Âu chứ không phải Mombasa hay cái xứ khỉ gió gì, rồi chúng sẽ tỉnh ra. Cảnh sát Thụy Sĩ sẽ về phe ai? Bọn mình, hay bộ ba ca ve vùng hạ Sahara?”

Tôi nghe mà muốn rúm ró cả ruột. Từ Ngân hàng Ván Sàn tôi rút hết tài sản rồi cất xấp tiền trong túi đựng hộ chiếu. Túi này tôi cất cẩn thận bên trong áo khoác trượt tuyết, vừa cất vừa ngẫm ngợi, thực ra bọn nhà giàu có lẽ không đần độn bẩm sinh hơn bọn nghèo là bao. Nhưng được ăn sung mặc sướng lại khiến chúng đần thêm, trong khi một tuổi thơ chật vật thì làm người ta khôn ra, nếu chỉ vì những lý do tiến hóa sinh tồn. Đấy chính là lý do tại sao bọn thượng lưu lại cần có một vành đai những trường công tệ hại, để ngăn ngừa những đứa trẻ thông minh xuất thân gia đình lao động hất cẳng chúng ra khỏi Chiếu Trên. Những giọng nói giận dữ, tiếng Anh và tiếng Phi lao xao bên dưới. Từ ngoài đường tôi nghe có tiếng bíp. Tôi nhìn qua cửa sổ, thấy một chiếc Hyundai màu xám nóc phủ đầy tuyết đang tiến về phía nhà này, trông chẳng hay ho gì. Xe dừng lại, đương nhiên, ngay trước cửa Lâu đài Chetwynd-Pitt, chặn ngay lối vào. Từ trong xe bước ra hai gã to xác mặc áo khoác da cừu. Rồi Candy, Shandy hay Mandy gì đó xuất hiện, mời chúng vào…

Vụ cãi cọ trong phòng khách im bặt. “Mày, thằng chết tiệt nào,” Rufus Chetwynd-Pitt hét lên, “ra khỏi nhà tao ngay, nếu không tao sẽ gọi cảnh sát!”

Pê-đê-biến-thái-người-Đức với giọng mũi: “Các chú ăn nhà hàng xịn. Giờ đã đến lúc giả tiền.”

Chetwynd-Pitt: “Bọn chúng có nói là gái đâu!”

Pê-đê-biến-thái-người-Đức: “Chú cũng có nói là chú nhũn như con chi chi đâu, nhưng đúng vậy. Chú là Rufus, nhỉ.”

“Tao là gì đếch phải chuyện của mày… đồ…”

“Ăn nói xấc láo chẳng hay ho gì cả, Rufus.”

“Đi-ra-ngay!”

“Không may là, chú nợ bọn này ba nghìn đô la.”

Chetwynd-Pitt: “Thật sao? Để xem cảnh sát…”

Tôi đoán là cái TV vừa tới số, choang một tiếng. Kệ sách đập lên tường đá? Rầm, xoảng, lục đục: chai lọ, dao nĩa, ảnh ót, gương; chắc Henry Kissinger cũng không thoát. Rồi có tiếng Chetwynd-Pitt rít lên,

“Chết mẹ, tay… tay tao!”

Một câu trả lời lặng thầm cho một câu hỏi lặng thầm.

Pê-đê-biến-thái-người-Đức: “ANH KHÔNG NGHE CHÚ NÓI GÌ, RUFUS!”

“Tụi này sẽ trả,” Chetwynd-Pitt lí nhí, “Tụi này sẽ trả…”

“Chắc chắn rồi. Tuy nhiên, chú làm Shandy phải gọi các anh ra đây, vậy nên giá có cao hơn. Tiếng Anh gọi là ‘phí giao dịch’, nhỉ. Đã làm ăn thì phải tính toán chi phí. Chú. Đúng rồi, chú đấy. Chú tên gì?”

“O-O-Olly,” Olly Quinn đáp.

“Con vợ thứ hai của anh từng nuôi một con Chihuahua tên Olly. Nó cắn anh. Anh ném nó xuống một cái… Scheisse, gọi là cái gì nhỉ, cho thang máy đi lên, đi xuống ấy? Cái lỗ to đùng ấy. Olly- anh đang hỏi chú một từ tiếng Anh.”

“Cái… giếng thang máy?”

“Chính xác. Anh đã ném Olly xuống giếng thang máy. Vậy, Olly, chú đừng cắn anh nhé. Đồng ý? Vậy. Giờ chú đi gom tiền.”

Quinn nói, “Gom… gom… gom… gì kia?”

“Tiền. Ngân quỹ. Tài sản. Của chú, của Rufus, của bạn chú đây. Nếu đủ để trả phí thanh toán, bọn anh để các chú yên thân mà chúc mừng năm mới. Nếu không, bọn anh sẽ phải tính xem các chú trả nợ cách gì.”

Một cô gái lên tiếng, lại xì xầm. Vài giây sau Pê-đê-biến-thái-người-Đức gọi vọng lên cầu thang. “Beatle số bốn! Xuống đây. Nếu không làm trò anh hùng thì sẽ không bị ăn đòn.”

Êm như mèo, tôi mở cửa sổ – lạnh quá!- rồi vắt chân qua bệ cửa sổ. Một khoảnh khắc như phim Vertigo của Hitchcock: mái nhà Alpine lúc tôi sắp trượt xuống trông dốc hơn nhiều so với khi ngắm từ bên dưới. Mặc dù mái nhà Chetwynd-Pitt thoải hơn chỗ bếp, vẫn có khả năng là trong vòng mười lăm giây tới, tôi sẽ phải ôm cả hai chân gãy mà gào. “Lamb?” Fitzsimmons gọi vọng lên gác. “Chỗ tiền cậu thắng của Rufus ấy… Nó cần mượn lại. Bọn này có dao, Hugo. Hugo?”

Tôi hạ người xuống những tấm ngói lợp, bám chặt tay lên bệ cửa sổ. Năm, bốn, ba, hai, một…

Le Croc đã khóa cửa, tối om, không có bóng dáng Holly Sykes đâu cả. Có lẽ tối nay quán đóng cửa nên mãi sáng mai Holly mới đến lau dọn. Tại sao tôi không hỏi số điện thoại của nàng? Tôi lê lết đến quảng trường thị trấn nhưng ngay cả trung tâm La Fontaine Sainte-Agnès cũng có một tâm trạng kiểu tận-cùng-thế-giới: hầu như không có khách du lịch, không xe cộ, tay bán bánh kếp mặc đồ gorilla không thấy đâu, hầu hết các cửa hàng đều treo biển Fermé. Cớ làm sao nhỉ? Mùng một tháng Giêng năm ngoái khá là nhộn kia mà. Bầu trời như sà xuống, một màu xám xịt của những tấm nệm sũng ướt. Tôi bước vào hiệu bánh La Pâtisserie Palance de la Cretta, gọi một cà phê và một bánh carac, rồi ngồi lọt thỏm trong góc bên cửa sổ, không để tâm đến mắt cá chân đang nhức nhối. Thôi thì ít ra điều tra viên Sheila Young cũng sẽ không nghĩ đến tôi trong hôm nay. Giờ sao? Làm gì nữa? Kích hoạt Marcus Anyder? Tôi có hộ chiếu của hắn ta cất trong hộp lưu giữ đồ ở ga Euston. Xe buýt đến Geneva, tàu qua Amsterdam hay Paris; tàu đệm khí qua eo biển; đáp máy bay đến Panama; đến Ca-ri-bê… Làm việc trên du thuyền.

Vậy sao? Gói lại cuộc đời cũ, như thế thôi sao?

Không bao giờ gặp lại gia đình nữa sao? Đột ngột quá.

Dường như kịch bản đâu phải thế.

Olly Quinn đi ngang cửa sổ, chỉ cách chỗ tôi ngồi ba bước chân và một tấm gương, cùng với một gã đàn ông mặc áo da cừu mặt mày hớn hở. Hẳn là cánh tay phải của Pê-đê-biến-thái-người-Đức. Trông Quinn mặt tái nhợt, chợn chạo. Hai đứa bước qua buồng điện thoại, chỗ mới hôm qua Olly còn quỵ vì tình dưới tay Ness, rồi bước vào sảnh tự động của Ngân hàng Thụy Sĩ nơi có đám máy rút tiền. Tại đấy Quinn rút tiền ba lần, dùng ba thẻ khác nhau, trước khi bị áp giải về nhà. Tôi nấp sau một tờ báo nhặt được gần đó. Nếu là Người Thường, hẳn tôi sẽ thấy áy náy hoặc đắc chí: nhưng tôi chỉ thấy như mình vừa xem một tập phim Thanh Tra Morse chan chán.

“Ê, Chảnh công tử,” Holly lên tiếng, tay cầm tách sô cô la nóng. Nàng đẹp. Nàng hoàn toàn tự nhiên. Nàng đội mũ beret màu đỏ. Nàng thật tinh ý. “Vậy, anh đang gặp rắc rối gì hả?”

Tôi không biết tại sao mình lại đi phủ nhận. “Đâu có.”

“Tôi ngồi đây được không, hay anh đang đợi ai?”

“Được. Không có. Cô ngồi đi. Không đợi ai cả.”

Nàng cởi áo khoác trượt tuyết, chiếc áo màu xanh bạc hà, ngồi xuống đối diện tôi, đặt mũ beret lên bàn, tháo khăn quàng màu kem khỏi cổ, quấn lại thành quả bóng rồi đặt lên trên mũ beret.

“Tôi mới qua quán,” tôi thú thật, “nhưng đoán chắc cô đang đi trượt tuyết.”

“Đường trượt đóng cửa rồi. Vì bão tuyết đó.”

Tôi nhìn ra ngoài một lần nữa. “Bão tuyết nào kia?”

“Anh nên nghe đài radio địa phương thường xuyên.”

“Tôi ngán bài ‘One Night In Bangkok’ lắm rồi.”

Nàng khuấy tách sô cô la nóng. “Anh nên về gấp – dự báo có bão trắng luôn, chỉ trong vòng một tiếng nữa. Bão trắng thì tầm nhìn chưa tới ba mét. Như bị mù vậy.” Nàng nhâm nhi một muỗng đầy bọt kem, vừa ăn vừa đợi tôi thú thật mình đang gặp rắc rối gì.

“Tôi mới trả phòng ở khách sạn Chetwynd-Pitt.”

“Nếu là anh Tôi sẽ về mà nhận phòng lại ngay. Thiệt đó.”

Tôi ậm ừ, rù rì. “Có vấn đề.”

“Cơm không lành canh không ngọt với Rufus Rởm rít-Nhăng nhít sao?” Tôi nghiêng người về trước. “Đám ghệ tụi nó cặp từ Club Walpurgis hóa ra là gái cả. Bọn ma cô đang nạo sạch từng centime của ba thằng đó, ngay lúc này đây. Tôi chuồn được qua cửa thoát hiểm.”

Holly chẳng ngạc nhiên mấy khi nghe câu chuyện vốn quen thuộc ở chốn này.

“Vậy giờ anh tính sao?”

Tôi nhìn vào đôi mắt nghiêm nghị của nàng. Một viên đạn đum đum của hạnh phúc xuyên xé gan ruột tôi. “Tôi không biết.”

Nàng nhấp sô cô la nóng, tôi ước gì mình là món đấy. “Anh chẳng có vẻ lo lắng gì, gặp tôi, tôi sẽ lo đấy.”

Tôi nhấp cà phê. Có tiếng bơ xèo trên chảo trong bếp. “Tôi không giải thích được. Một… một sự hóa thân đang cận kề.” Tôi thấy ngay là nàng không hiểu, và tôi không trách nàng. “Cô có bao giờ biết… biết trước không hả Holly? Những thứ mà cô không thể nào… Hoặc -hoặc -mất đi cả hàng tiếng đồng hồ. Không phải kiểu , ‘trời, mới đó mà đã’, mà là…” tôi bẻ ngón tay “-tự dưng mất đi một tiếng đồng hồ. Y như vậy, chỉ giữa hai nhịp tim. Ừ thì có lẽ chuyện đó chẳng là gì, nhưng tôi biết cuộc đời mình đang thay đổi. Một sự hóa thân. Tôi chỉ nghĩ ra được từ đó… Cô vẫn còn giữ được bình tĩnh, nhưng hẳn là lúc này cô đang thấy tôi nói năng cực kỳ, cực kỳ, cực kỳ điên khùng.”

“Làm gì mà ba cái cực kỳ luôn. Tôi chỉ là dân chạy bàn, nhớ không?”

Tôi cố kìm lại, không chồm tới mà hôn nàng. Nàng sẽ tát tôi mất. Tôi mớm một viên đường cho tách cà phê. Rồi nàng hỏi, “Vậy anh định ở đâu trong khi đang ‘hóa thân’ hả?”

Tôi nhún vai. “Chuyện đó đang xảy đến với tôi. Chứ không phải tôi đang đến đó.”

“Nghe hay đó, nhưng đâu có trả lời câu hỏi của tôi. Xe buýt giờ này không chạy, khách sạn nào cũng kín phòng.”

“Chậc, bão tuyết chẳng đúng lúc gì cả.”

“Vẫn còn có chuyện gì đó mà anh không nói với tôi, đúng không?”

“Ôi, còn khối. Nhiều chuyện tôi chẳng bao giờ nói với ai cả, thật.” Holly nhìn ra xa, quyết định…

• • •

Khi chúng tôi rời quảng trường thị trấn, tuyết chỉ mới rơi lất phất ngang mái nhà, nhưng đi thêm chín chục mét và sau vài ngã rẽ, cảnh tượng như thể có vòi phun tuyết to như núi đang ngồn ngộn đổ tuyết tưng bừng khắp thung lũng. Tuyết vào mũi, tuyết vào mắt, tuyết vào nách tôi, tuyết gào rú sau lưng chúng tôi khi đi qua một cổng vòm đá dẫn vào khoảng sân trông thảm não với đám thùng rác đã bị chôn đến nửa thân trong tuyết, tuyết, tuyết. Holly lóng ngóng với chìa khóa rồi cả hai bước vào, tuyết rít qua khe cửa, gió hú hít sau lưng cho tới khi nàng đóng cửa đánh rầm, rồi đột nhiên yên tĩnh hoàn toàn. Lối sảnh ngắn, xe đạp leo núi, cầu thang dẫn lên. Hai má Holly ửng sắc hồng đậm. Gầy quá: nếu là mẹ nàng tôi sẽ ép nàng ăn những món tráng miệng vỗ béo. Cả hai cởi áo khoác, tháo giày rồi nàng đưa tay ra hiệu cho tôi đi lên cầu thang bọc thảm trước. Phía trên là một căn hộ sáng sủa, thoáng khí với chụp đèn bằng giấy và ván sàn đánh bóng kin kít. Căn hộ của Holly đơn sơ hơn phòng của tôi ở trường Humber, và rõ là phong cách những năm 1970 chứ không phải 1570, nhưng tôi thật ghen tị với nàng. Căn hộ ngăn nắp, đồ đạc rất ít: căn phòng lớn có một chiếc tivi cổ lỗ sĩ và đầu máy video, ghế sofa đồ cũ, ghế lười nhồi hạt xốp, bàn con, chồng sách ngay ngắn trong góc phòng, gần như chỉ có thế. Nhà bếp nhỏ cũng hết sức tối giản: Đĩa ăn, đĩa con, tách, dao, nĩa và muỗng, mỗi món chỉ một, đang nằm hong khô cạnh bồn rửa. Hương thảo và xô thơm trồng trong chậu con trên kệ. Ba mùi nổi bật nhất là bánh mì nướng, thuốc lá và cà phê. Chút trang trí duy nhất là một bức tranh sơn dầu nho nhỏ, vẽ ngôi nhà nhỏ màu xanh dương, nằm trên đồi cỏ nhìn ra đại dương ánh bạc. Cửa sổ lớn, ngày thường hẳn quang cảnh tuyệt vời, nhưng hôm nay bị cơn bão tuyết che hết, như màn hình đầy tiếng ồn trắng chớp giật trên tivi đang mất tín hiệu. “Thật không thể tin được,” tôi nói. “Chừng đó tuyết.”

“Bão trắng mà.” Nàng đổ nước vào ấm. “Cũng thường. Mắt cá chân anh bị sao vậy? Anh đi cà nhắc.”

“Tôi rời khỏi nhà cũ à la Người Nhện.”

“Rồi tiếp đất à la Bị Khoai.”

“Hồi học Hướng đạo, tôi nghỉ ngay trúng tuần được học bài Nhảy Từ Trên Gác Xuống Chạy Trốn Ma Cô.”

“Tôi có băng gạc co giãn cho anh mượn. Nhưng trước hết…” Nàng mở cửa một căn phòng chứa đồ, có cửa sổ chỉ bằng nắp hộp giày. “Em gái tôi ngủ ở đây ngon lành hồi tháng rồi, thêm gối tựa sofa và mấy cái chăn.”

“Phòng ấm, khô ráo.” Tôi thả ba lô vào trong. “Tuyệt.”

“Tốt. Tôi ngủ phòng tôi, anh ngủ đây. Rõ chứ?”

“Rõ rồi.” Khi đã thích ta, nàng sẽ cho ta biết ngay: nếu không, sẽ không có món nước hoa, quà tặng hay lời lẽ nào giúp ta khiến nàng đổi ý. “Tôi rất cảm kích, thật đấy. Có Chúa mới biết tôi sẽ ra sao nếu cô không rủ lòng thương hại.”

“Anh cũng sẽ sống sót. Loại như anh lúc nào chẳng vậy.” Tôi nhìn nàng. “Loại như tôi?” Nàng hừ mũi một tiếng.

“Trời đất, Lamb, băng bó thôi, chứ không phải buộc ga-rô.” Holly dường như không ấn tượng mấy với kỹ năng tự cứu thương của tôi. “Rõ là anh còn không học bài Bác sĩ nhí. Vậy anh học gì ở Hướng đạo? Mà thôi, quên đi. Được rồi,” nàng đặt điếu thuốc xuống. “Tôi sẽ làm – nhưng nếu anh dám mở miệng trêu y tá y tiếc gì thì mắt cá còn lại sẽ bị ăn nguyên cái thớt.”

“Thề không trêu y tá gì hết.”

“Đặt chân lên ghế. Tôi không quỳ dưới chân anh đâu.”

Nàng tháo rời tác phẩm vụng về của tôi, lẩm bẩm chê bai. Bàn chân không tất của tôi trông xa lạ, trần trụi, gớm ghiếc khi đặt cạnh những ngón tay của Holly. “Đây nè, xoa kem kim sa trước – trị sưng và bầm tím rất tốt.” Nàng đưa cho tôi một tuýp kem. Tôi vâng lời, khi mắt cá chân tôi bóng thuốc, nàng quấn băng quanh cổ chân, khéo léo đủ căng, đủ kín. Tôi ngắm ngón tay nàng, mái tóc đen mời gọi, cách gương mặt nàng che giấu hay thể hiện nội tâm. Đây đâu còn là dục vọng nữa. Dục vọng chỉ thèm muốn, hành sự rồi ngoắc đuôi trở về rừng. Tình yêu tham lam hơn thế. Tình yêu muốn luôn được chăm sóc; muốn bảo vệ; nào nhẫn, nào hẹn ước, nào tài khoản chung; nến thơm nhân dịp sinh nhật; bảo hiểm sinh mạng. Con trẻ. Tình yêu là một kẻ độc tài. Tôi biết thế, nhưng lò lửa lòng tôi đang cháy phừng phựt, gào thét Em em em em em em em, mà tôi bất lực không thể làm gì khác. Gió đập lên cửa sổ.

“Không chặt quá chứ?” Holly hỏi.

“Vừa y, hoàn hảo,” Tôi đáp.

“Trông giống tuyết trong cầu tuyết chặn giấy,” Holly nói, ngắm trận bão tuyết bên ngoài. Rồi nàng kể chuyện những người săn UFO thường hay đến Sainte-Agnès, rồi tự dưng qua chuyện đi hái dâu ở Kent, hái nho ở Bordeaux; rồi tại sao Vấn đề Bắc Ireland sẽ không dứt nếu người ta cứ phân chia trường học theo tôn giáo; chuyện nàng từng trượt qua một thung lũng chỉ ba phút trước một trận tuyết lở. Tôi châm điếu thuốc rồi kể chuyện tôi bị lỡ xe buýt ở Kashmir, chính chiếc xe này sau đó trượt bánh trên đường Ladakh và rơi xuống từ độ cao một trăm rưỡi mét; đến chuyện tại sao dân địa phương Cambridge ghét bọn sinh viên; tại sao bàn cò quay có số zero; chuyện chèo thuyền trên sông Thames lúc sáu giờ sáng mùa hè tuyệt ra sao. Cả hai kể về đĩa đơn đầu tiên tự mua, The Exorcist và The Shining, các cung thiên văn và bảo tàng Madame Tussauds. Khá nhiều chuyện nhảm nhí, nhưng ngắm Holly Sykes nói chuyện thật thú vị. Tôi đi đổ gạt tàn. Nàng hỏi tôi về ba tháng học ở trường Blithewood phía bắc bang New York. Tôi kể lại những điểm nhấn chọn lọc, bao gồm vụ bị thợ săn bắn nhầm vì tưởng tôi là nai. Nàng kể chuyện Gwyn bạn nàng, hồi năm ngoái đi làm trong trại hè ở Colorado. Tôi góp chuyện Bart Simpson gọi Marge từ trại hè và tuyên bố, “Con không còn sợ chết nữa,” nhưng Holly hỏi Bart Simpson là ai, vậy là tôi phải giải thích. Nàng nói về ban nhạc Talking Heads, như một tín đồ Công giáo nói về những vị thánh yêu thích. Nhoáng cái mà hết cả buổi sáng. Dùng một nửa bao bột mì, và những thứ vụn vặt còn trong tủ lạnh tôi làm bánh pizza cho hai người, tôi thấy nàng rõ là bị ấn tượng, nhưng cố không tỏ ra mặt. Cà tím, cà chua, phô mai, sốt pesto và mù tạt Dijon. Trong tủ lạnh có một chai rượu nhưng tôi chỉ dọn nước lọc, phòng khi nàng nghĩ tôi muốn chuốc nàng say. Tôi hỏi có phải nàng ăn chay không, sau khi để ý đến cả viên xúp cũng chay. Đúng thế, rồi nàng kể hồi mười sáu tuổi nàng đến thăm bà cô Eilísh ở Ireland, “con cừu cái bước qua, be be, rồi tự dưng tôi nhận ra, ‘Khốn thật, tôi sắp ăn thịt con của nó!’.” Tôi bình rằng con người rất giỏi cái khoản né tránh những sự thật bất tiện. Sau khi tôi rửa bát - “coi như tôi trả tiền trọ” - tôi phát hiện ra nàng chưa bao giờ chơi cờ tào cáo, vậy là tôi làm bàn cờ, tận dụng mặt trong hộp ngũ cốc Weetabix và bút lông. Nàng tìm được hai viên xúc xắc trong hũ cất trong ngăn kéo, quân cờ là đồng xu màu bạc và màu đồng. Đến ván thứ ba nàng chơi đã khá, tôi có thể để nàng thắng mà không quá lộ liễu.

“Chúc mừng,” tôi nói. “Cô học nhanh thật.”

“Vậy tôi không phải cảm ơn anh đã nhường tôi sao?”

“Không, không có chuyện đó! Thật đấy, cô thắng tôi, công bằng…”

“Còn anh là đồ ba xạo có nghề, Chảnh công tử à.”

Sau đó cả hai thử xem TV nhưng sóng bị ảnh hướng bão, màn hình tivi trông chẳng khác gì cửa sổ. Holly tìm được một bộ phim đen trắng của người thuê nhà trước để lại. Nàng nằm dài trên sofa, tôi ngồi lọt thỏm trong ghế hạt xốp, gạt tàn thuốc đặt lắt lẻo trên tay ghế giữa hai người. Tôi cố gắng tập trung vào phim, thay vì nghĩ đến thân hình nàng. Phim Anh, tôi đoán là làm khoảng cuối thập niên 1940. Mấy phút đầu bị mất nên không biết tiêu đề, nhưng cũng khá hấp dẫn, mặc dù đài từ diễn viên giống kiểu Noël Coward. Các nhân vật trong phim đang đi trên tàu băng qua một vùng sương mù, phải một lúc sau hành khách trên tàu, Holly và tôi mới nhận ra là họ đều đã chết. Mỗi nhân vật được khai thác sâu thêm bằng chuyện đời tư – một tập hợp nhân vật mang màu sắc Chaucer – rồi Kẻ Phán Xét xuất hiện, quyết định số phận của mỗi hành khách sau khi đã mãn phần. Ann, nữ chính cốt cách như thánh, được đi thẳng lên Thiên Đàng, nhưng ông Henry chồng bà này, nam chính (nghệ-sĩ-dương-cầm-người-Áo-từng-tham-gia-kháng-chiến), tự sát (đun đầu vào bếp lò gas) nên có kết cục là phải làm chiêu đãi viên trên một con tàu du lịch tương tự, nhưng đi giữa các thế giới khác nhau. Người vợ nói với Kẻ Phán Xét rằng bà ta sẵn sàng bỏ qua Thiên Đàng để được ở với chồng. Holly hừ mũi, “Sến vừa thôi!” Ann và Henry sau đó nghe thấy tiếng gương vỡ và thức dậy trong căn hộ của mình, nhờ có không khí tràn qua cửa sổ vỡ mà không bị ngạt khí gas, thoát chết. Tiếng đàn dây mạnh dần, hai vợ chồng ôm nhau, cuộc đời mới mở ra. Hết phim.

“Nhảm thôi rồi,” Holly lên tiếng.

“Nhưng mà nó cũng khiến mình xem bằng hết còn gì.”

Bên ngoài cửa sổ là một màu tím nhạt, mờ mờ, điểm xuyết những bông tuyết bay đập vào khung kính. Holly đứng dậy kéo rèm nhưng cứ đứng đấy, mê mẩn nhìn tuyết. “Việc ngu ngốc nhất anh đã từng làm là gì hả Chảnh công tử?”

Tôi loay hoay trên ghế lười. Cái ghế kêu sột soạt. “Tại sao?”

“Anh tự tin vô đối.” Nàng kéo rèm rồi quay lại, gần như kết tội tôi. “Mấy người giàu thường vậy, nhưng anh tự tin ở một mức độ khác nữa. Anh có bao giờ làm những thứ ngu ngốc, mà mỗi lần nghĩ lại chỉ muốn rùng mình vì xấu hổ hay nhục nhã chẳng hạn?”

“Nếu tôi cứ kể hết hàng trăm chuyện ngu ngốc tôi đã làm thì đến Tết sang năm mình vẫn còn ngồi đây.”

“Tôi chỉ hỏi có một chuyện thôi.”

“Được rồi, vậy thì…” Tôi đoán nàng muốn có cảm giác nắm thóp tôi một tí – giống như câu hỏi phỏng vấn xin việc ngớ ngẩn ấy, “Lỗi lầm tệ hại nhất của bạn là gì?” Việc gì đây ta, việc gì đủ ngốc để trả lời câu hỏi, nhưng không đến nỗi ghê tởm về mặt đạo đức (à la Cú nhảy cuối cùng của Penhaligon) khiến một Người Thường phải rúm ró vì kinh hãi? “Được thôi. Tôi có thằng em họ, tên Jason, ở Worcestershire, sống một cái làng có tên là Black Swan Green. Có một lần, hồi tôi khoảng mười lăm tuổi, nhà tôi đến thăm nhà nó, mẹ của Jason sai hai đứa chạy ra cửa hàng ngoài làng. Thằng bé nhỏ hơn tôi, vẫn rất chi là ‘non nớt dễ dụ’. Là ông anh họ sành điệu từ London, tôi làm gì để tự giải khuây? Tôi thó một bao thuốc trong cửa hàng, dụ dỗ Jason tội nghiệp đi vào rừng rồi dạy thằng nhỏ rằng nếu muốn thay đổi cuộc đời tồi tệ, suốt ngày bị bắt nạt thì nó phải học hút thuốc. Thật đấy. Cứ như nhân vật hung thủ trong một chiến dịch chống hút thuốc. Thằng em họ hiền lành của tôi chỉ nói, ‘Được rồi,’ và mười lăm phút sau, nó quỳ gối trên cỏ ngay dưới chân tôi, nôn ra hết tất cả những gì đã ăn trong vòng sáu tháng trước đó. Đấy. Một hành động độc ác, ngu ngốc. Lương tâm tôi lên tiếng, ‘Đồ cà chớn,’ mỗi khi tôi nghĩ đến chuyện cũ,” tôi nhăn mặt, vờ vĩnh, “mỗi lần vậy tôi chỉ biết nhủ thầm ‘Xin lỗi, Jason’.”

Holly hỏi, “Giờ thằng nhỏ có hút thuốc không?”

“Tôi nghĩ là nó chưa bao giờ hút cả.”

“Có lẽ hôm đó anh đã khiến nó miễn nhiễm.”

“Có lẽ thế. Vậy ai dạy cô hút thuốc?”

“Tôi cứ đi mãi, qua đầm lầy Kent. Không tính toán gì hết. Cứ đi…” Holly huơ tay về phía xa xa. “Đêm đầu tiên, tôi ngủ trong một nhà thờ giữa đồng không mông quạnh… đó cũng là lúc chuyện xảy ra. Đêm Jacko mất tích. Ở quán Thuyền Trưởng Marlow đêm đó nó đi tắm, Sharon đọc truyện cho nó nghe, má vào chúc ngủ ngon. Chẳng có gì khác thường – trừ chuyện tôi đã bỏ nhà đi. Sau khi đóng cửa quán, ba lên phòng Jacko như mọi hôm để tắt đài radio – thằng nhỏ hay ngủ quên, vừa ngủ vừa nghe đài tiếng nước ngoài rổn rảng. Nhưng, đến sáng Chủ Nhật, Jacko không còn ở trong phòng. Trong quán cũng không. Cửa nẻo đều đã được khóa từ bên trong, cứ như một trò đánh đố truy tìm thủ phạm vớ vẩn, Đầu tiên cảnh sát – ngay cả ba má cũng vậy, nghĩ rằng tôi đã âm mưu gì đó với Jacko, vậy nên chỉ đến lúc…” Holly dừng lại để bình tĩnh “…người ta tìm ra tôi, một buổi chiều thứ Hai, đang đi làm thợ hái ở trang trại trái cây trên đảo Sheppey, mãi cho tới khi đó thì cảnh sát mới mở cuộc tìm kiếm đàng hoàng. Ba mươi sáu tiếng đồng hồ sau khi thằng nhỏ mất tích. Đầu tiên là chó nghiệp vụ và đưa tin trên đài radio…” Holly xoa tay quanh mặt “…rồi người dân địa phương đi tìm khắp những bãi đất hoang quanh Gravesend, thợ lặn cảnh sát thì tìm ở những chỗ… anh biết đó, những nơi nhiều khả năng. Họ không tìm thấy gì cả. Không có xác, không có nhân chứng. Ngày này qua ngày khác, mọi tung tích cũng tắt ngóm. Ba má tôi đóng cửa quán hàng tuần liền, tôi nghỉ học, Sharon cứ khóc mãi…” Holly nấc. “Cứ cầu nguyện cho điện thoại đổ chuông, rồi đến khi chuông đổ thật thì không dám nhấc máy vì sợ phải nghe tin xấu. Má xơ xác, ba thì… Trước đó ba tôi lúc nào cũng đùa giỡn. Sau chuyện đó, ba như … xác… không… hồn. Mấy tuần liền tôi không đi đâu. Tôi bỏ học. Nếu lúc đó mà chị Ruth, chị dâu của tôi không nhảy vào giúp một tay, bắt má phải đi Ireland mùa thu đó thì thật lòng tôi không nghĩ má tôi sống nổi tới giờ. Ngay cả bây giờ, sau bảy năm, mọi thứ vẫn… Nói cái này ra thì thật khủng khiếp, nhưng giờ đây mỗi khi tôi nghe tin có đứa bé nào bị giết hại, tôi cứ nghĩ trong đầu, thật kinh khủng, cứ như cơn ác mộng tệ hại nhất, nhưng ít ra cha mẹ đứa bé ấy cũng đã biết. Ít ra họ còn khóc thương được. Nhà tôi thì không. Tôi biết nếu còn sống hẳn Jacko đã tìm đường về, nhưng trừ khi có bằng chứng, trừ khi…” Holly nghẹn ngào “…tìm ra xác, thì trí tưởng tượng không ngừng quay cuồng. Tôi cứ nghĩ thầm, nếu chuyện này, chuyện kia xảy ra thì sao? Nếu thằng nhỏ vẫn còn sống trong tầng hầm của một kẻ loạn trí nào đó, cầu nguyện ngày hôm nay sẽ là ngày người ta tìm ra nó? Nhưng đó cũng chưa phải là chuyện tồi tệ nhất…” Nàng nhìn ra xa để tôi khỏi thấy mặt. Không cần phải nhắc nàng cứ thong thả, mặc dù chiếc đồng hồ nhỏ trên kệ đã chỉ chín giờ bốn mươi lăm phút tối. Tôi châm một điếu thuốc và đặt giữa ngón tay nàng. Nàng rít thuốc đầy phổi, rồi chậm rãi thở ra. “Nếu cuối tuần đó tôi không bỏ nhà đi – chỉ vì một gã bạn trai ngớ ngẩn – liệu Jacko có tìm cách đi ra khỏi quán Thuyền trưởng Marlow tối hôm đó không?” Nàng vẫn quay mặt đi. “Không, câu trả lời là không. Có nghĩa rằng lỗi tại tôi. Gia đình tôi cứ nói không phải, bác sĩ tâm lý điều trị cho tôi cũng nói y chang, ai cũng nói vậy. Nhưng họ đâu bị câu hỏi ‘Lỗi tại tôi phải không?’ đay nghiến đầu óc mỗi giờ, mỗi ngày. Và cả câu trả lời nữa.”

Gió đập như người điên đang chơi hợp âm trên cây đại phong cầm. “Tôi không biết phải nói gì, Holly…” Nàng uống cạn ly vang trắng.

“… trừ câu ‘Thôi đi. Cô thật tệ.’”

Nàng quay về phía tôi, mắt nàng đỏ ngầu, vẻ mặt kinh ngạc. “Đúng thế,” Tôi nói. “Cô tệ lắm. Tệ với Jacko.” Rõ là chưa ai nói vậy với nàng.

“Thử đổi chỗ. Giả sử Jacko bỏ đi đâu đó; giả sử cô đi tìm nó, nhưng… quỷ ma đâu đấy giữ chân cô, không để cô trở về. Liệu cô có muốn Jacko sống cả đời tự trách móc mình, bởi vì chỉ một lần, một ngày nọ, nó đã hành động thiếu suy nghĩ, khiến cô phải lo lắng?”

Holly trông như không thể tin được là tôi dám nói thế. Thực tình, tôi cũng không tin nổi. Nàng dường như sắp đá tôi ra khỏi nhà.

“Hẳn nếu là cô, cô muốn Jacko sống thật trọn vẹn,” tôi tiếp. “Phải vậy không? Muốn nó sống nhiều hơn, chứ không phải ít đi. Cô hẳn đã muốn nó sống giùm cả cuộc đời của mình.”

Đầu máy tự dưng chọn ngay lúc đấy để nhả cuộn băng ra. Giọng Holly giật giật run rẩy: “Vậy tôi phải làm như chuyện chưa bao giờ xảy ra?”

“Không. Nhưng đừng tự hành hạ mình nữa, chỉ vì cô không thể biết được một đứa bé bảy tuổi sẽ phản ứng như thế nào trước hành động bồng bột thiếu niên của mình hồi năm 1984. Đừng chôn đời mình ở quán Le Croc Cứt-Khô nữa. Cơn sám hối của cô không giúp gì cho Jacko cả. Đương nhiên chuyện nó mất tích đã thay đổi cuộc đời cô, làm sao lại không thay đổi được, nhưng tại sao việc đó lại trở thành lý do để cô phí phạm tài năng và tuổi trẻ đi bưng bê cocktail cho những đứa như Chetwynd-Pitt và tôi, và làm giàu cho cái thể loại buôn ma túy, ngủ với nhân viên như Günter?”

Holly bật lại, “Vậy thì tôi phải làm gì?”

“Tôi không biết, làm sao tôi biết được? Tôi đâu phải chịu những chuyện cô đã chịu. Tuy vậy, tại cô đã hỏi thẳng, thì tôi cũng nói, còn vô số những Jacko ở London cô có thể giúp đỡ. Trẻ dạt nhà, thanh thiếu niên vô gia cư, nạn nhân của những thứ có Chúa-mới-biết. Hôm nay cô kể với tôi rất nhiều, Holly, và tôi thấy rất vinh dự, ngay cả khi cô nghĩ rằng tôi đã phản lại lòng tin của cô bằng cái giọng này. Nhưng tôi vẫn chưa nghe được bất kỳ một điều gì có thể ngăn cô sống một cuộc sống hữu ích, và thậm chí là hạnh phúc.”

Holly đứng dậy, giận dữ, mắt sưng húp. “Tôi nửa muốn lấy cái gì bằng sắt đánh anh.” Giọng nàng nghiêm túc. “Nửa kia cũng vậy. Cho nên tôi đi ngủ. Sáng mai anh nên đi sớm. Tắt đèn trước khi anh đi ngủ.”

Cửa hé mở, mảnh sáng mờ mờ đánh thức tôi, đầu óc tôi mơ màng như trôi trong sương mù, cơ thể thì vặn vẹo trong túi ngủ bùi nhùi. Một căn phòng bé tí như tủ đựng quần áo; bóng một cô gái mặt áo rugby của đàn ông, áo phủ, tóc buông thả từng lọn… Là Holly: tốt rồi. Holly, người mà tôi đã lay tỉnh sau bảy năm khóc thương cho đứa em mất tích bé bỏng –mà nhiều khả năng đã chết và bị chôn kỹ càng – Holly giờ đến đây để hất cẳng tôi, chưa kịp ăn sáng, vào một thứ tương lai bất định… Tệ thật. Nhưng cửa sổ bé xíu vẫn tối đen như màn đêm. Mắt tôi lừ đừ vì mệt mỏi. Miệng khô khốc, sặc mùi thuốc lá và vang trắng pinot, tôi lào khào, “Sáng rồi sao?”

“Chưa,” Holly đáp.

Hơi thở của nàng sâu hơn, khi nàng chìm vào giấc ngủ. Tấm nệm của nàng như bè trôi bồng bềnh, còn giấc ngủ là dòng sông. Tôi lọc tìm qua hết thảy mùi hương. “Cũng lâu rồi, nên tôi dở lắm,” nàng nói với tôi, giữa rối ren tóc tai, áo quần và da thịt. Tôi đáp tôi cũng thế, rồi nàng nói, “Xạo quá đi” Một nghệ sĩ vĩ cầm quá cố đang chơi một bản partita của Bach trên chiếc radio kiêm đồng hồ. Cái loa cà tàng cứ giật giật ở những nốt cao, nhưng tôi không bao giờ muốn đánh đổi khoảnh khắc này để lấy một buổi hòa nhạc riêng tư của Ngài Yehudi Menuhin chơi đàn Stradivarius. Tôi cũng không muốn quay lại cuộc đàm đạo sặc mùi sinh viên với đám đồng môn Humber đêm đó ở quán Le Croc về bản chất của tình yêu, nhưng nếu quay lại, tôi sẽ nói với Fitzsimmons et al rằng tình yêu là tinh chất cốt lõi của mặt trời. Tình yêu là đám đại từ nhân xưng rối ren. Tình yêu vừa là chủ thể vừa là khách thể. Sự khác biệt giữa lúc tình yêu hiện diện và lúc nó vắng mặt chính là sự khác biệt giữa sự sống và cái chết. Dò dẫm, lặng lẽ, tôi mở miệng không thành tiếng, Anh yêu em với Holly, hơi thở của nàng dạt dào như đại dương. Lần này tôi thì thầm, âm lượng bằng với tiếng đàn vĩ cầm: “Anh yêu em.”

Không ai nghe, không ai thấy, nhưng cây cối trong rừng cũng từng ngã xuống lặng thầm như thế.

Vẫn còn tối. Sự thinh lặng ở dãy Alpine như sâu đến hàng dặm. Ánh sáng bên ngoài ở đầu giường Holly bị tuyết che, nhưng giờ đây khi cơn bão tuyết dừng lại tôi đoán hẳn sao đang lên. Tôi muốn mua tặng nàng một ống kính viễn vọng. Liệu tôi gởi cho nàng một chiếc được không? Gởi từ đâu? Cơ thể tôi nhức nhối, cảm giác bềnh bồng nhưng tâm trí tôi cứ nghĩ đến đêm qua và ngày trước, như một người sưu tập lật giở ngắm nghía chồng đĩa LP. Trên chiếc radio kiêm đồng hồ, một người dẫn chương trình ma mị tên là Antoine Tanguay đang chạy chương trình Giờ Đêm từ ba đến bốn giờ sáng. Như những DJ giỏi nhất, Antoine Tanguay dường như không nói gì cả. Tôi hôn lên tóc

Holly, ngạc nhiên vì nàng đã thức: “Gió tắt khi nào vậy?”

“Khoảng một tiếng trước. Cứ như có người vừa tháo phích cắm.”

“Anh thức đã một tiếng rồi sao?”

“Cánh tay tôi tê cứng, nhưng tôi không muốn đánh thức cô.”

“Đồ ngốc.” Nàng trở người để tôi rút tay ra.

Tôi quấn một lọn tóc thật dài của nàng quanh ngón cái rồi miết lên môi. “Hồi tối tôi lỡ lời. Về chuyện em trai cô. Xin lỗi.”

“Tha cho anh đó.” Nàng nghịch dây chun quần đùi của tôi. “Đương nhiên rồi. Mà có lẽ tôi cần nghe những lời đó.”

Tôi hôn mớ tóc rối của nàng, rồi lần tháo nó ra. “Vô phép cô, cô còn thuốc lá không?”

Trong bóng tối như nhung, tôi thấy nàng mỉm cười: một lưỡi dao hạnh phúc trượt vào sườn tôi. “Gì kia?”

“‘Vô phép cô’, ở Gravesend mà ăn nói cảnh vẻ như anh thì chắc bị đóng đinh giữa giao lộ Ebbsfleet, cái tội bầu đảng Bảo thủ. Hết thuốc lá rồi. Hôm qua tôi đi ra ngoài mua thêm, nhưng tôi gặp một cha ma xó hơi bảnh, vậy là tôi về nhà tay không.”

Tôi lần theo đường xương gò má của nàng. “Hơi bảnh thôi sao? Đáo để nhỉ.”

Nàng ngáp nguyên một quãng tám. “Hi vọng là ngày mai mình có thể đào được đường ra ngoài.”

“Tôi thì không. Tôi thích bị kẹt ở đây với cô.”

“Hay đó, nhưng có người còn phải đi làm đó, biết không. Günter nói quán sẽ đông kín. Khách du lịch phè phỡn chỉ chực tiệc tùng.”

Tôi vùi đầu vào bờ vai trần của nàng. “Không.”

Tay nàng vuốt ve bả vai tôi. “Không gì kia?”

“Không, ngày mai cô không được đi ra Le Croc. Xin lỗi. Một là, bởi vì giờ tôi đã là người đàn ông của cô, tôi cấm.”

Tiếng sss-sss của nàng nghe như tiếng cười. “Hai là?”

“Hai là, nếu cô đi, tôi sẽ phải bắn hạ hết thảy đàn ông trong độ tuổi từ mười hai đến chín mươi đã dám nói chuyện với cô, cộng thêm dân đồng tính nữ nữa. Như vậy là bảy mươi lăm phần trăm khách hàng của Le Croc. Báo chí ngày mai sẽ toàn là ‘Tắm máu ở dãy Alp’ và ‘Lamb- tên đồ tể’. Tôi biết là cô vốn là tuýp ăn chay yêu hoa bình, cô sẽ không muốn dự phần vào một cuộc thảm sát, vậy nên cô cứ ngồi yên đó…” Tôi hôn nàng, mũi, trán, thái dương… “với tôi cả ngày.”

Nàng ép tai vào be sườn tôi. “Anh có nghe tim mình đập không? Cứ như tay trống Keith Moon đang ở trong đó. Thiệt tình. Tôi vừa ngủ với dị nhân chắc?”

Tấm chăn trượt khỏi vai nàng: tôi kéo nó trở lại. Cả hai không nói gì một lúc lâu. Antoine thì thầm trong phòng thu ở đài phát thanh, chẳng biết là nơi nào, rồi chơi bản In a Landscape của John Cage. Âm nhạc thong thả tuôn, lừng lững. “Nếu thời gian có nút dừng,” tôi nói với Holly Sykes, “tôi sẽ bấm nó. Ngay…” tôi ấn một điểm giữa chân mày nàng, hơi chếch lên trên “…bây giờ.”

“Nhưng nếu anh làm vậy, cả thế gian sẽ ngừng lại, kể cả anh nữa, vậy là anh không thể bấm nút chạy trở lại. Tụi mình sẽ bị kẹt mãi mãi.” Tôi hôn lên miệng nàng, máu chảy rần rật khắp cơ thể.

Nàng thì thầm, “Anh chỉ biết quý điều gì đó nếu anh biết nó sẽ mất đi.”

Lần tới tôi tỉnh giấc, căn phòng của Holly tuyền màu xám, như nằm dưới lỗ của tảng băng trôi. Antoine không còn thì thầm nữa: radio giần giật nhạc rap Pháp-Algeria và đồng hồ hiển thị 08:15. Nàng đang tắm. Ngày hôm nay tôi hoặc sẽ thay đổi đời mình, hoặc không. Tôi tìm áo quần, giũ thẳng chiếc chăn vặn vẹo và vứt chỗ khăn giấy vào giỏ rác bằng mây nho nhỏ. Rồi tôi để ý thấy một thứ đồ trang trí kiểu mặt dây chuyền lớn bằng bạc, hình tròn, lồng vào tấm bưu thiệp được dính lên tường, ngay trên chiếc hộp được dùng làm tủ cạnh giường. Mặt dây chuyền kiểu bản đồ mê cung, đầy những chỗ lồi lõm. Hàng thủ công, rất tỉ mỉ, nhưng quá nặng để đeo thường xuyên, và rất dễ gây sự chú ý vì quá lớn. Tôi thử giải mê cung bằng mắt, nhưng bị lạc một lần, hai lần, ba lần. Chỉ đến khi cầm trong tay, dùng ngón tay dò đường tôi mới đến được điểm chính giữa. Nếu mê cung này có thật và nếu bị kẹt trong đó thì cần cả thời gian lẫn may mắn. Khi nào tiện, tôi sẽ hỏi Holly về món này.

Còn tấm bưu thiếp? Một cây cầu dây văng nào đó trên thế giới. Holly vẫn còn đang tắm, vậy là tôi giật tấm bưu thiếp xuống rồi lật mặt sau…

Hôm nay qua cầu Bosphorus! Người ta không cho đi bộ qua đó nên phải đi giữa hai châu lục chung chuyến xe buýt với đám con nít và mấy bà già. Coi như đã tới châu Á rồi đó! Istanbul hay lắm. Đền thờ, tháp minaret, xe cộ như làm xiếc, buổi trưa nóng kinh dị, con nít bụi đời bán thuốc lá lậu (Rothmans ở đây chỉ có 25 xu một bao), chợ búa có những thứ trái cây lạ hoắc, quảng trường râm mát với chim bồ câu, ly trà chanh, sở thú với những con vật chán đời (có chó săn nữa), hội chợ đông vui, nhà trọ tường mỏng và giường kêu kẽo kẹt, những đường nhỏ lúc nào cũng dẫn ra biển, hàng trăm con thuyền nhỏ (chắc cũng giống sông Thames hồi xưa ha) và những con tàu chở hàng – không biết có tàu nào sẽ đi ngang qua quán Thuyền Trưởng Marlow về cảng Tilbury? Chặng tới: Athens. Mến chào, bảo trọng nha, Ed x

Hugo Lamb, xin giới thiệu: Ghen tuông. Ui chao. “Ed”. Hắn là ai mà dám to gan gởi bưu thiếp cho Holly? Hay tệ hơn nữa, hắn đã gởi nguyên một chuỗi bưu thiếp? Liệu có thêm cái nào sau đó gởi từ Athens không? Hắn ta là bạn trai? Vậy hóa ra đây là lý do tại sao bọn Người Thường vướng tình gây tội. Tôi muốn lấy đầu tên Ed này cột vào cọc, rồi quẳng hai kilogram tượng thạch cao Chúa Cứu Thế vào đó cho đến khi mặt nó tan tành. Olly Quinn hẳn cũng sẽ muốn làm thế với tôi nếu hắn biết tôi đã chấm mút Ness. Rồi tôi để ý thấy ngày trên bưu thiếp 1985 – ngày nhận bưu thiếp! Tạ ơn Chúa. Nhưng khoan đã: tại sao Holly phải mang theo tấm bưu thiếp của hắn ra ròng rã suốt sáu năm trời?

Thằng ngốc còn không biết tháp minaret còn gọi là “spinaret”. Hay đó là một kiểu đùa riêng giữa hai người. Còn tệ hơn nữa. Hắn dám đùa riêng với Holly? Liệu có phải Ed tặng cho nàng chiếc mặt dây chuyền đó không? Cũng có lý. Khi tôi trong nàng, liệu nàng có tưởng tượng tôi là hắn? Tôi biết, tôi biết, tôi biết, những suy nghĩ giận dữ ấy thật nực cười và sặc mùi đạo đức giả, nhưng tôi vẫn thấy xót. Tôi muốn bật lửa đốt luôn tấm bưu thiếp của Ed, đốt luôn cầu Bosphorus trên đó, những ngày nắng tưng bừng và kiểu viết lách học sinh cấp ba cho tới khi cháy trụi, tan tác. Rồi tôi sẽ đổ tro tàn xuống cống, như người Nga từng làm với tàn dư của Adolf Hitler. Không. Thở sâu, bình tĩnh, đừng đả động đến Hitler, hãy nghĩ đến dòng “Mến chào, Ed”. Bạn trai thật sự đã viết “Yêu, Ed”. Nhưng còn dấu “x” thì sao. Thêm nữa nếu năm 1985 Holly ở Gravesend nhận bưu thiếp thì hẳn Ed đâu thể vui vẻ với nàng trên một tấm nệm kêu kẽo kẹt ở châu Âu được. Chắc Ed là thể loại không-hẳn-bồ-không-hẳn-bạn. Chắc vậy.

“Nhà tắm đó, anh cứ tự nhiên,” nàng nói từ sau cửa, rồi tôi gọi với ra, “Cảm ơn,” cũng thản nhiên như thế. Thông thường tôi thích kiểu lạnh lùng, không ràng buộc vào buổi sáng hôm sau, nhưng với cú đòn mang tên “Tình Yêu” ghim trong ngực, tôi thèm bằng chứng của sự gần gũi, phải kìm lắm tôi mới không đi ra và hôn Holly. Nếu nàng từ chối thì sao? Đừng ép. Tôi tắm nước nóng muốn bỏng da, thay đồ sạch – những kẻ đang chạy trốn thường tắm giặt kiểu gì nhỉ?- rồi đi ra bếp, nơi tôi tìm thấy một mẩu giấy:

Hugo – tôi rất ngại màn tạm biệt, vậy nên tôi đi thẳng ra Le Croc bắt đầu lau dọn. Nếu anh muốn ở lại đêm nữa thì mua đồ ăn sáng đem ra, tôi sẽ tìm cho anh một cái chổi lông gà và một cái tạp dề đăng ten. Nếu anh không ra, thì cũng chẳng sao, đời là vậy, chúc anh hóa thân hóa thiếc gì đó may mắn. H.

Không phải thư tình, nhưng mẩu giấy này của Holly còn quý giá hơn tất cả thư từ mà tôi từng có. Chữ H ba gạch phong cách Zorro vừa gần gũi vừa bí ẩn. Chữ viết tay của nàng không được nữ tính lắm, về mặt thư pháp mà nói thì xấu như gà bới, nhưng nhìn kỹ cũng đọc được, và đúng là của nàng. Tuyệt vời. Tôi gấp mẩu giấy vào ví, chụp áo khoác rồi lục đục đi xuống cầu thang và ra ngoài, lần theo dấu chân Holly mười phút trước trên nền tuyết ngập đến đầu gối trong sân, cái lạnh buổi sáng như muốn nhúng chìm tất cả; nhưng bầu trời xanh ngắt, xanh như màu Trái Đất nhìn từ không gian, và hơi ấm từ mặt trời như hơi thở người yêu; và cột băng nhỏ long tong những giọt sáng lóa trên con đường dốc đứng như trong những câu chuyện có người qua đường mang linh hồn của núi; đám trẻ con vui vẻ chộn rộn và bóng tuyết bay vèo từ hai bên lề đường; tôi đưa tay lên rồi nói, “Je me rends!” nhưng một quả bóng tuyết bay thẳng trúng đích; tôi quay lưng tìm thằng oắt con rồi ôm lấy ngực – giả vờ chết - “Il est mort! Il est mort!” tên sát thủ hét lên, nhưng khi tôi đứng dậy bọn chúng đã đi đâu cả, như gió cuốn lá bay; ngay góc đường chính là quảng trường, quảng trường yêu thích nhất của tôi ở Thụy Sĩ, nếu không phải là trên khắp thế gian; Hôtel Le Sud, mái chìa đầu hồi; mỗi hướng đều có đỉnh núi nhô ra; người bán bánh kếp đang dọn hàng ra đối diện hiệu bánh, nơi hôm qua mọi thứ bắt đầu; ban nhạc 10CC hát rằng “I’m Not In Love”, nhưng, au contraire, tôi biết mình đang yêu; người bán bánh kếp dường như biết rằng tôi nhìn đâu cũng thấy gương mặt Holly; in dấu khắp nơi; gáy nàng, môi nàng, khuôn miệng, áo quần và tóc tai; tôi nghe giọng nàng “kiểu vậy”, “ba xạo”, “thiệt đó”; nhớ lại đôi tai hơi nhọn ấy; làn da mềm mại; mũi hơi tẹt; cặp mắt xanh biếc dè chừng; dầu gội đầu Body Shop hương tràm; cứ mỗi bước chân tôi lại đến gần nàng hơn; tôi tự hỏi nàng đang nghĩ gì… Đang nghĩ xem tôi có đến không? Xe cộ khá chậm rãi nhưng tôi sẽ đợi cho tới khi đèn đi bộ chuyển xanh…

Một chiếc Landcruiser màu kem vấy tuyết dừng lại ngay chỗ tôi đứng. Trước khi tôi kịp bực mình vì phải đi vòng qua nó, cửa gương chỗ tài xế hạ xuống, tôi đoán hẳn là khách du lịch hỏi đường. Nhưng không, tôi lầm. Tôi biết tay lái xe này, đậm người, da ngăm mặc áo len dày cộm. “Chào Hugo. Trông yêu đời thế.”

Giọng New Zealand rõ ràng. “Elijah D’Arnoq, quán quân câu lạc bộ xạ thủ Cambridge.” Có một người khác ngồi ở đằng sau xe, nhưng tôi không được giới thiệu.

“Anh không ngạc nhiên gì,” tôi nói với D’Arnoq, “chứng tỏ không phải tình cờ mà gặp.”

“Chính xác. Cô Constantin gởi lời hỏi thăm.”

Tôi hiểu rồi. Tôi được chọn giữa hai con đường hóa thân. Một con đường được đánh dấu “Holly Sykes” còn con đường kia là… Chính xác là gì mới được chứ?

Elijah D’Arnoq vỗ vào thân xe Landcruiser. “Nhảy lên đi. Rồi sẽ biết cả, bằng không đến chết vẫn còn thắc mắc. Hoặc bây giờ hoặc không bao giờ.”

Qua khỏi hiệu bánh, dọc theo con ngõ, tôi đã thấy bảng hiệu vẽ hình cá sấu treo trên quán của Günter. Năm mươi bước là cùng? “Theo nàng đi!” Tôi-say-tình, gã Scrooge sám hối trong tôi khuyên răn. “Tưởng tượng gương mặt nàng khi mày bước vào quán!”. Tôi-tỉnh-táo-hơn đứng khoanh tay, nhìn D’Arnoq rồi tự hỏi, “Rồi sao nữa?” Ừ rồi thì cả hai sẽ ăn sáng; tôi sẽ giúp Holly lau chùi quán; ẩn náu chỗ nàng cho đến khi đám đồng môn Humber bay về nhà; hai người sẽ phịch nhau như thỏ đến khi đi không nổi; và lúc hơi thở dồn dập, hồng hộc, tôi sẽ buột miệng, “Anh yêu em,” thành thật, và nàng cũng sẽ buột miệng, “Em cũng yêu anh, Hugo,” cũng thành thật như thế, ngay lúc đó, tại nơi đó. Rồi sao nữa? Tôi sẽ gọi cho phòng giáo vụ ở trường Humber nói rằng tôi bị suy sụp tinh thần và muốn bảo lưu năm cuối cùng. Tôi sẽ nói với gia đình – bịa chuyện gì đó, không cần biết chuyện gì, tôi sẽ bịa được thôi – và mua tặng Holly một chiếc kính viễn vọng. Rồi sao nữa? Rồi tôi sẽ nhận ra tôi không còn nghĩ đến nàng từng giây từng phút. Cách nàng nói “kiểu vậy” hay “thiệt đó” bắt đầu làm tôi chướng tai, và đến một ngày cả hai hiểu rằng “All You Need Is Love”[36] chỉ là một nửa sự thật. Rồi sao nữa? Cho đến lúc đấy, điều tra viên Sheila Young đã lần ra dấu vết tôi, và đồng nghiệp của cô ta ở Thụy Sĩ sẽ mời tôi đến đồn mà tra hỏi, chỉ cho về nhà Holly nếu tôi chịu nộp hộ chiếu. “Chuyện gì vậy, Chảnh công tử?” Rồi tôi sẽ phải thú nhận, hoặc là, đã ăn cắp bộ sưu tập tem quý giá của một bệnh nhân đột quỵ, hoặc là, đã từng dụ dỗ bạn học ở Humber lún sâu vào nợ nần đến nỗi hắn ta phải tự sát. Hoặc cả hai, thì có khác gì, bởi Holly sẽ trả lại chiếc kính viễn vọng và đổi khóa nhà. Rồi sao nữa? Đồng ý trở về London để tiếp tục bị tra hỏi nhưng lấy hộ chiếu của Marcus Anyder và đặt một chuyến bay giá rẻ đến Đông Á hay Trung Mỹ. Rồi sao nữa? Ăn dè tiền của Anyder rồi chuyện gì đến sẽ phải đến, hết tiền, tôi mở quán bar cho bọn nhóc đi phượt và trở thành một phiên bản của Günter. Tôi để ý thấy một chiếc áo khoác parka màu bạc trên ghế hành khách cạnh D’Arnoq. “Tôi có thể hỏi thêm…”

“Không được. Chú phải tin thì mới bỏ đời cũ lại phía sau được. Hóa thân đích thực đâu có đi kèm với sơ đồ giải thích.”

Quanh đó cuộc sống tiếp diễn, như không hề biết đến cái thế tiến thoái lưỡng nan của tôi.

“Nhưng để tôi nói cho chú nghe,” gã người New Zealand lên tiếng. “Tất cả bọn tôi đều được tuyển trực tiếp, trừ người sáng lập.” D’Arnoq hất đầu về phía người đàn ông khuất mặt ngồi đằng sau.” Vậy nên tôi biết chú đang cảm thấy ra sao, Hugo à. Khoảng không đó, giữa lề đường và chiếc xe này, chẳng khác gì một vực thẳm. Nhưng chú đã được xác minh và được lập hồ sơ, nếu chú bước qua vực thẳm đó, chú sẽ tiến xa. Chú sẽ trở nên đáng gờm. Muốn gì, ngay bây giờ và mãi mãi, chú sẽ luôn có được.” Tôi hỏi gã, “Nếu được chọn lại, liệu anh có chọn như cũ không?”

“Nếu biết được những gì tôi đang biết, thì tôi sẵn lòng giết người chỉ để được lên xe, nếu phải làm thế thật. Những gì chú thấy cô Constantin làm – bấm nút dừng thời gian ở trường King’s, điều khiển thằng ăn mày như con rối – đó chỉ mới là màn dạo đầu của bài học đầu tiên. Còn rất nhiều thứ nữa, Hugo à.”

Tôi nhớ lại cảm giác ôm Holly trong tay, mới chỉ lúc nãy.

Nhưng ta chỉ yêu cái cảm giác được yêu: ta nào có yêu con người.

Chính là thứ cảm giác ngất ngây mà tôi vừa trải nghiệm, chỉ mới đây thôi.

Khi ta thấy mình là kẻ được lựa chọn, được khao khát, được quan tâm. Nhưng tỉnh ra, nghĩ lại, ta mới thấy cái cảm giác ấy thật đáng thương.

Vậy đây. Một thứ giao ước của Faust[37] đang bày ra trước mắt tôi.

Tôi gần như mỉm cười. Những trò mặc cả với quỷ dữ như thế thường không kết thúc có hậu.

Nhưng kết thúc có hậu như của ai? Chuẩn tướng Philby chăng?

Ông thanh thản ra đi, bên gia đình thân quyến.

Nếu đó là cái kết có hậu, thì tôi nhường tất.

Suy cho cùng, Faust là gì nếu không có trò mặc cả ấy?

Không là gì cả. Không là ai cả. Ta hẳn còn không biết chàng là ai. Quinn. Dominic Fitzsimmons. Lại một cậu cử khôn ngoan.

Một người đi tàu đóng bộ xám, mệt mỏi dật dờ trên tuyến District Line. Cửa sau của chiếc Landcruiser mở ra vài phân.

Người đàn ông – người sáng lập – ngồi ở phía sau, ông ta làm như không có tôi trong xe, D’Arnoq cũng không nói gì khi lái xe ra khỏi quảng trường thị trấn, vậy là tôi ngồi im, quan sát người ngồi cùng trong gương: chừng bốn lăm tuổi, kính không gọng, tóc dày nhưng ngả bạc; cằm chẻ, mày râu nhẵn nhụi, và một vết sẹo trên xương hàm, hẳn có căn nguyên sự tích gì đó. Thân hình ông ta rắn rỏi, săn chắc. Lính cựu Mitteleuropa? Áo quần của ông ta cũng chẳng có gì đặc biệt: giày bốt cao đến mắt cá chắc chắn, quần đen nhung môletkin, áo khoác da màu đen đã sờn bạc. Nếu bắt gặp gã trong đám đông hẳn ta sẽ đoán là “kiến trúc sư” hay “giáo sư triết học”; nhưng có lẽ ta cũng chẳng để ý gã làm gì.

Chỉ có hai con đường ra khỏi La Fontaine Saint-Agnès. Một đường leo thẳng lên làng La Gouille, nhưng D’Arnoq chọn đường còn lại, đi thẳng xuống thung lũng về phía Euseigne. Xe đi qua ngã rẽ về nhà của Chetwynd-Pitt, và tôi tự hỏi giờ này liệu bọn chúng có lo lắng cho sự an nguy của tôi không, hay chỉ bực mình vì tôi để mặc chúng đối phó với tay ma cô. Tự hỏi vậy, nhưng tôi không quan tâm. Một phút sau xe chạy qua biên giới thị trấn. Hai bên đường tuyết đắp bờ thành những bức tường lên cao xuống thấp, D’Arnoq lái xe rất cẩn trọng – xe có lốp chuyên đi tuyết, đường cũng đã được rải muối tan tuyết, nhưng đây vẫn là Thụy Sĩ tháng Giêng. Tôi mở phéc-mơ-tuya áo khoác, nghĩ đến Holly đang nhìn lên đồng hồ phía trên quầy bar, nhưng nuối tiếc chỉ dành cho Người Thường.

“Tối hôm qua tụi này mất dấu anh,” người đi cùng xe lên tiếng, giọng châu Âu gia giáo. “Bão tuyết che anh khuất mắt tụi này.”

Bây giờ tôi mới nhìn thẳng người này. “Vâng, tôi có chút bất đồng với chủ nhà. Xin lỗi nếu đã có gì phiền… ông.”

“Cứ gọi tôi là Pfenninger, anh Anyder à. ‘Anyder’. Một cái tên khéo chọn. Dòng sông chính trên đảo Utopia.” Người đàn ông ngắm nhìn bức tranh một màu bên ngoài cửa xe, những vách núi thung lũng, những cánh đồng ngập tuyết và những ngôi nhà trại. Một con sông chạy dọc theo đường đi, đen thẫm và chảy xiết.

Cuộc phỏng vấn bắt đầu. “Tôi có thể hỏi làm thế nào mà ông biết về Anyder được không?”

“Tụi này đã điều tra anh. Tụi này cần biết mọi thứ.”

“Vậy ông làm việc cho bên an ninh sao?”

Pfenninger lắc đầu. “Hiếm lắm thì hai bên mới có người quen chung.”

“Vậy ông không dính gì đến chính trị sao?”

“Nếu người ta để tụi này yên thì không dính gì cả.”

D’Arnoq lái chậm lại, hạ xuống một số khi xe qua một khúc quanh hiểm hóc.

Đến lúc nói thẳng: “Ông là ai, ông Pfenninger?”

“Tụi này là Ẩn Sĩ của Nhà nguyện Bóng tối của thầy Cathar ở Tu viện Thomasite trên Đèo Sidelhorn. Mỏi cả mồm, hẳn anh cũng thấy thế, nên gọi tắt là Ẩn Sĩ.”

“Tôi thấy có vẻ giống kiểu Hội Tam Điểm. Phải vậy không?”

Mắt ông ta như đang cười. “Không.”

“Vậy, ông Pfenninger, nhóm của ông có mục đích gì?”

“Duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của cả nhóm bằng cách tuyển thành viên cho môn Tâm Biệt Năng của U Minh Phái.”

“Vậy ông là… người sáng lập của… nhóm này?”

Pfenninger nhìn về phía trước. Dây điện nhấp nhô từ cột này đến cột khác. “Tôi là Ẩn Sĩ Đầu Tiên, đúng thế. Anh D’Arnoq là Ẩn Sĩ Thứ Năm. Cô Constantin, người anh từng gặp, là Ẩn Sĩ Thứ Hai.” Dè dặt, D’Arnoq vượt qua một chiếc xe tải đang rải muối.

“Tâm Biệt Năng,” tôi nói. “Tôi không hiểu”

Pfenninger trích dẫn: “Giữa chiêm bao hồn ta rủ màn, ta không còn ngại nhân gian.”[38] Trông ông ta như vừa nói ra một câu gì đó vô cùng thâm thúy, rồi tôi nhận ra ông ta đã nói mà không mở miệng. Cặp môi vẫn khép chặt. Không thể nào. Hẳn tôi đã nhầm. “‘Mà nàng như chẳng đổi dời, mặc cho năm tháng đất trời chuyển xoay.’”[39] Lại lần nữa. Giọng ông ta vang lên trong đầu tôi, một chất giọng trong rõ, đầy đặn, như thể tôi đang đeo tai nghe loại xịn. Gương mặt ông ta như đang thách tôi dám nghĩ rằng ông ta đang làm trò. “‘Giờ nàng bất động, u sầu; mắt nàng đâu thấy tai nàng đâu hay’”.[40] Không có tiếng nói nghèn nghẹn như bị bịt miệng, cần cổ không rung lên, không có dấu hiệu gì nơi khóe miệng của ông ta. Thu âm sẵn? Dò dẫm, tôi đặt hai tay lên tai nhưng giọng của Pfenninger vẫn trong rõ như cũ: “‘Sâu trong lòng đất đêm ngày, rễ cây đá sỏi về đây ngủ cùng.’”[41]

Tôi há hốc miệng. Tôi ngậm chặt miệng. Tôi hỏi. “Làm sao?”

“Anh đang nghĩ đến một từ,” Pfenninger nói lớn. “Cứ nói ra đi.”

Vậy là tôi run rẩy lẩm bẩm: “Ngoại cảm.”

Pfenninger nói với người lái xe: “Anh có nghe gì không, anh D’Arnoq?”

Elijah D’Arnoq nhìn cả hai trong kính chiếu hậu. “Có, ông Pfenninger, tôi có nghe.”

“Anh D’Arnoq đây từng nghĩ tôi làm trò nói bụng, khi tôi tuyển anh ấy vào. Làm như tôi là cái thể loại diễn viên trong gánh xiếc lưu động.”

D’Arnoq phản đối: “Tôi đâu có được học hành như anh Anyder, và nếu lúc đó người ta đã nghĩ ra từ ‘ngoại cảm’ thì chắc là nó vẫn chưa được phổ biến đến các đảo Chatham. Với cả tôi còn đang bị choáng bom. Hồi đó là năm 1922.”

“Chúng tôi tha thứ cho anh cả mấy chục năm rồi, anh D’Arnoq, tôi với cả con rối gỗ hàm mấp máy đều đồng ý tha cho anh.” Pfenninger liếc về phía tôi, cặp mắt thích thú, nhưng câu đùa của hai người chỉ khiến mọi thứ thêm kỳ dị. 1922? Tại sao D’Arnoq lại nói “1922”? Hay ông ấy nói nhầm, chứ ý là 1982? Nhưng cũng chẳng quan trọng: ngoại cảm có thật. Ngoại cảm tồn tại. Trừ khi tôi bị ảo giác trong sáu mươi giây vừa rồi. Xe đi qua một garage, tay thợ cơ khí đang xúc tuyết. Cả ba lại qua tiếp một cánh đồng, một con cáo màu xám đứng trên mẩu gỗ, khịt mũi hít khí trời.

“Vậy,” miệng tôi khô khốc, “Tâm Biệt Năng là ngoại cảm?”

“Ngoại cảm chỉ là một ngành phụ đơn giản hơn của môn đó thôi,” Pfenninger đáp.

“Ngành phụ đơn giản hơn? Vậy Tâm Biệt Năng làm được những gì?” Một đám mây trôi qua, dòng sông lóe sáng.

Pfenninger hỏi, “Hôm nay là ngày mấy, anh Anyder?”

“Ừm…” Tôi phải suy nghĩ mới ra câu trả lời. “Ngày hai tháng Giêng.”

“Đúng rồi. Ngày hai tháng Giêng. Anh nhớ đấy.” Ông Pfenninger nhìn tôi: hai đồng tử trong mắt ông ta teo lại rồi tôi thấy nhói trên trán. Tôi…

… nháy mắt, và chiếc Landcruiser không còn đó, tôi đang ngồi trên một phiến đá rộng, dài trên sườn núi dốc, trong ánh nắng núi non. Lý do duy nhất khiến tôi không ngã lăn quay là tôi đã ngồi sẵn trên một phiến đá lạnh lẽo. Tôi thở mạnh mấy cái, hoảng hốt: hơi thở tôi như treo lơ lửng, như những đám mây chứa lời thoại trong truyện tranh. Làm sao tôi đến đây? Đây là đâu? Chung quanh tôi là một tàn tích đổ nát tốc mái, có lẽ ngày trước là một nhà nguyện. Có lẽ là tu viện – đằng xa còn nhiều bức tường nữa. Mặt đất tuyết phủ đến đầu gối: phiến đá chỗ tôi ngồi chạy về phía bức tường thấp, trước tôi vài bước chân. Đằng sau đống đổ nát là một mặt núi lừng lững. Tôi mặc áo khoác trượt tuyết, gương mặt và tai đều rần rần, ấm nóng, như thể tôi vừa bị kiệt sức. Nhưng những chi tiết đó không là gì cả, khi đặt bên cạnh sự thật khổng lồ, rành rành trước mắt: ngay đây thôi tôi còn ngồi sau xe với ông Pfenninger. D’Arnoq lái xe. Rồi bây giờ… bây giờ…

“Mừng chú trở lại,” Elijah D’Arnoq lên tiếng, ngay bên phải tôi.

Tôi há hốc, “Lạy Chúa!” rồi nhảy dựng lên, trượt chân, nhảy lên rồi rúm ró lại trong tư thế sẵn sàng bỏ chạy.

“Bình tĩnh nào, Lamb! Tôi biết là quái lắm…” gã ngồi xuống, mở phích “…nhưng chú an toàn rồi.” Áo khoác parka màu bạc của gã ánh lên trong nắng. “Miễn là chú đừng hoảng quá rồi chạy thẳng xuống vực như gà mắc tóc.”

“D’Arnoq, đây… Chuyện gì đã xảy ra, ta đang ở đâu thế này?”

“Ở nơi mọi thứ bắt đầu,” Pfenninger lên tiếng, tôi ngả về phía bên kia, suýt nữa lại lên cơn đau tim. Ông ta đội mũ lông kiểu Nga và mang giày ủng đi tuyết. “Tu viện Thomasite trên đồi Sidelhorn. Hay đúng ra là những gì còn lại của nó.” Ông ta đá tuyết xuống bức tường thấp, rồi nhìn sững.

“Nếu sống cả đời trên này hẳn người ta cũng sẽ tin vào thần thánh.” Họ đánh thuốc rồi lôi cổ tôi lên đây. Nhưng tại sao? Và bằng cách nào? Lúc ở trong xe Landcruiser tôi đâu có ăn uống gì. Thôi miên chăng? Pfenninger đã nhìn chằm chằm vào tôi trước khi tôi bất tỉnh.

Không. Thôi miên là trò mèo trong những bộ phim nhảm nhí. Quá vớ vẩn.

Rồi tôi nhớ lại cô Constantin và nhà nguyện ở trường King’s. Nếu cô ta đã làm tôi ngất đi, như cách Pfenninger vừa làm thì sao?

“Chúng tôi phải đặt đoạn lệnh với anh, anh Anyder,” Pfenninger nói, “để xem có kẻ nào trốn trong anh không. Xâm phạm hơi quá, nhưng phải cẩn thận thế.”

Nếu những lời đó có nghĩa với ông ta hay với D’Arnoq thì với tôi chúng chẳng có nghĩa lý gì cả. “Tôi chẳng hiểu các ông đang nói gì.”

“Nếu lúc này anh hiểu được thì tôi mới thấy lo lắng.”

Tôi sờ trên đầu xem thử có bị thương không. “Vậy tôi bất tỉnh bao lâu?” Pfenninger rút ra tờ báo Die Zeit rồi đưa tôi. Trên trang nhất Helmut Kohl đang bắt tay với vua Ả rập Saudi. Thì sao chứ? Đừng nói là thủ tướng Đức cũng có dính dáng đến vụ này. “Xem ngày ấy, anh Anyder. Xem ngày đi.”

Đây, ngay dưới dòng nhan đề: 4 Januar 1992.

Làm sao thế được: hôm nay là ngày 2 tháng Giêng năm 1992.

Pfenninger bảo tôi nhớ lấy lúc ở trong xe. Ngay mới đây.

Ngay mới đây. Nhưng tờ Die Zeit vẫn khăng khăng hôm nay là ngày 4 tháng Giêng năm 1992.

Tôi thấy mình đang ngã xuống. Bất tỉnh trong hai ngày? Không, chắc tờ báo là đồ giả. Tôi lật trang báo, vô vọng tìm bằng chứng giả mạo.

“Thì cũng có thể là giả,” Pfenninger đấu dịu, “nhưng tại sao phải dựng lên một thứ giả tạo rẻ tiền như vậy?”

Tôi thấy choáng váng rồi tôi nhận ra mình đang đói cồn cào. Tôi sờ cằm. Tôi vừa cạo râu sáng nay, ở nhà Holly. Đã lún phún. Tôi lảo đảo đi giật lùi, thấy sợ Elijah D’Arnoq và lão Pfenninger này, hai… hai kẻ… lạ thường… mà có là đồ khốn nạn gì đi nữa, tôi phải đi khỏi đây, đi tới… tới…

… tới đâu? Dấu vết xe trên tuyết biến mất sau một khúc cua. Biết đâu có một bãi đậu xe với trạm nghỉ và điện thoại ở khuất tầm mắt, hoặc chỉ là ba mươi cây số đầy sông băng và vực tuyết. Ở phía ngược lại, khe núi hẹp nơi cả ba đang đứng thu nhỏ lại, chạy về phía một bụi cây linh sam lì lợm, rồi sau đó là băng giá gần như dựng đứng và đá núi. Pfenninger quan sát tôi, trong khi D’Arnoq đổ một thứ chất lỏng sền sệt vón cục ra nắp phích. Tôi muốn hét lên “Tưởng đi picnic sao?” Hai tay tôi ôm đầu, như muốn bóp nghiền hộp sọ. Bình tĩnh nào, bình tĩnh.

Trời đã về chiều. Mây tản ngang trời, bắt đầu chuyển ánh kim. Đồng hồ… tôi đã để lại trong phòng tắm nhà Holly. Tôi bước đến bức tường thấp, cách Pfenninger vài bước chân, rồi mặt đất hạ xuống năm mươi mét, đổ ra một con đường. Một cây cầu hiện đại xấu xí bắc qua vực sâu, có gắn bảng chỉ đường nhưng tôi không thể đọc từ khoảng cách này. Con đường chạy từ phía bên kia cầu chừng nửa cây số, qua những dốc núi hắt bóng. Qua cầu, con đường biến mất sau sườn núi nơi cả ba đang đứng, gần một thác nước như thủy tinh, tiếng thác đổ nổi lên giữa im lặng thăm thẳm. Ba người, bảng chỉ đường, cây cầu và mặt đường: ngoài ra không có dấu hiệu nào của thế kỷ hai mươi. Tôi hỏi, “tại sao mang tôi đến đây?”

“Tiện thể,” Pfenninger đáp, “vì đằng nào cũng đang ở Thụy Sĩ. Nhưng đầu tiên lót dạ đã: từ Thứ Năm đến giờ anh đã ăn gì đâu.” D’Arnoq đứng cạnh tôi, tay cầm tách bốc khói. Tôi ngửi thấy mùi thịt gà và lá xô thơm, dạ dày tôi rên rỉ. “Coi chừng bỏng lưỡi.”

Tôi thổi súp rồi húp từ từ. Ngon thật. “Cảm ơn.”

“Để tôi cho công thức nấu nhé.”

“Bị di chuyển dưới đoạn lệnh cũng tương đương với nổ lựu đạn trong não, nhưng…” Pfenninger khỏa lớp tuyết trên bức tường thấp rồi ra hiệu cho tôi ngồi xuống bên cạnh “…nhưng phải cách ly một thời gian trước khi anh nhập hội. Từ buổi trưa ngày mùng hai anh ở trong một nhà nghỉ gần Oberwald, cách đây không xa, sáng nay tụi tôi mang anh đến đây. Đỉnh núi này là Galmihorn; đỉnh kia là Leckihorn; xa đằng kia chính là Sidelhorn.”

Tôi hỏi gã, “Vậy ông quê ở đây sao, ông Pfenninger?”

Pfenninger quan sát tôi. “Quê ở bang này. Tôi sinh ở Martigny, năm 1758. Đúng vậy, năm 1758. Tôi học nghề kỹ sư rồi mùa xuân 1799, thừa lệnh chính quyền Cộng hòa Helvetica tôi đến đây để giám sát sửa cầu, chính là cây cầu ông bà tổ tiên của cầu này, bắc qua vực bên dưới.”

Nếu Pfenninger tin những điều đó, hẳn ông ta đã loạn trí. Tôi quay về phía D’Arnoq, hi vọng gã vẫn còn sáng suốt.

“1897, năm sinh của tôi,” D’Arnoq lên tiếng, giọng màu mè, “tôi là phận con dân xa xôi của Nữ Hoàng Victoria, sinh ra trong một ngôi nhà đắp đất đá ở trên đảo Pitt – cách New Zealand ba trăm cây số về phía đông. Năm hai mươi tuổi, tôi đi theo tàu chở cừu đến Christchurch với anh họ. Lần đầu lên đất liền, lần đầu đi nhà thổ, lần đầu đăng lính. Tôi gia nhập Anzacs[42] – lựa chọn của tôi khi đó là, hoặc phiêu lưu ra nước ngoài chiến đấu vì Đức vua và đế chế, hoặc sáu mươi năm cuộc đời chăn cừu, dầm mưa và loạn luân trên đảo Pitt. Tôi đến Gallipoli, và chú đã học lịch sử rồi, nên chú cũng biết chuyện gì chờ tôi ở đó. Ông Pfenninger tìm ra tôi trong bệnh viện gần Lyme Regis, sau chiến tranh. Tôi trở thành Ẩn Sĩ lúc hai mươi tám tuổi, vì vậy mà tôi vẫn còn trẻ trai đẹp mã thế này. Nhưng tuần tới tôi tròn chín mươi tư tuổi. Vậy đó. Nghe như một lũ điên cả, Lamb nhỉ.”

Tôi nhìn Pfenninger. Nhìn D’Arnoq. Rồi nhìn Pfenninger. ngoại cảm, đoạn lệnh, rồi dã nhân Yeti đều khiến tôi phải suy nghĩ lại về khả năng của tâm trí: nhưng những lời hai người vừa nói đã phạm phải một điều luật căn cơ nhất. “Ý anh là…”

“Đúng thế,” Pfenninger đáp.

“Ẩn Sĩ…”

“Đúng vậy,” D’Arnoq tiếp.

“Không chết?”

“Không phải,” Pfenninger nhướng mày. “Đương nhiên tụi này cũng chết chứ, nếu bị tấn công hoặc bị tai nạn. Nhưng tụi này không già đi. Ít ra là về mặt giải phẫu học.”

Tôi nhìn ra xa về thác nước. Hai người này điên, hoặc nói láo, hoặc… khó nghe nhất, là không điên mà cũng chẳng láo. Đầu nóng ran, tôi bỏ mũ ra. Cổ tay tôi có gì đó cắt ngang – dây buộc tóc màu đen của Holly. Tôi tháo nó ra. “Thưa quý vị,” tôi nhìn quanh, “tôi chẳng biết phải nói hay nghĩ gì lúc này đây.”

“Sáng suốt đấy,” Pfenninger đáp, “chẳng việc gì phải vội cả. Để tụi này dẫn anh đến Nhà Nguyện Bụi Tối.”

Tôi nhìn quanh, xem còn tòa nhà nào không. “Ở đâu vậy?”

“Không xa lắm,” Pfenninger nói. “Thấy cái cổng vòm bị gãy đó không. Xem nhé.”

Elijah để ý thấy vẻ bồn chồn của tôi. “Tụi tôi sẽ không để chú bất tỉnh nữa đâu. Hứa danh dự đấy.”

Cổng vòm đã nứt đóng khung cảnh trí, bao gồm một cây thông, mặt đất tuyết phủ tinh khôi và mặt đá dốc đứng. Thời khắc trôi đi, như chim bay. Bầu trời xanh biếc, như một nốt cao và những dãy núi gần như trong suốt. Tiếng thác nước tuôn chảy, tung tóe và gầm gừ. Tôi liếc D’Arnoq, mắt gã dán chặt vào nơi đáng ra tôi phải tập trung nhìn. “Nhìn đi.” Vậy là tôi tuân theo, rồi tôi thấy một ảo ảnh. Quang cảnh bên kia cổng vòm bắt đầu dịch chuyển, như thể được vẽ trên một tấm màn rủ, vừa có gió thổi qua, rồi giờ đây tấm màn được kéo sang một bên bởi một bàn tay thon thả trắng muốt, cổ tay áo gọn gàng màu xanh dương đậm. Cô Constantin, da trắng tóc vàng, nhìn ra, hơi chùn bước trước cái lạnh chói đột ngột. “Khê Môn,” Elijah D’Arnoq lẩm bẩm. “của tụi này.”

Tôi đầu hàng. Cổng thần hiện ra giữa không khí. Con người có nút gián đoạn. Ngoại cảm có thật, như ngoại tệ.

Những gì không thể đã thành có thể.

Những gì có thể thì lại rất dễ thay đổi.

Cô Constantin hỏi tôi, “Anh theo chúng tôi chứ, anh Anyder?”

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của david mitchell