Trong bùn đất của chiêm bao, những kẻ ác tâm đang chặn đường thoát của tôi, đến khi lối ra duy nhất là đường thẳng đứng. Tôi không thể nhớ mình đang ở lưu thể nào, cho đến khi nhìn ra con số “05:09” sáng đèn trên nền tối nóng rực. Cách đó một dặm, phía bên kia công viên Central Park, trên tầng chín của khách sạn Empire, Arkady đang chuẩn bị để cấy mộng cho Holly Sykes, Ōshima đứng canh gác. Tôi cầu mong anh không cần phải làm gì. Cứ ở đây khiến tôi bứt rứt khó chịu, nhưng nếu đến Empire giúp một tay thì có khi lại rút dây động rừng. Từng phút chậm chạp trôi qua khi linh hồn tôi lượn lờ trong màn đêm ong ong của New York, tìm kiếm một thứ ý nghĩa nào đó…
Vô ích. Tôi bật đèn đọc sách, nhìn quanh căn phòng. Chiếc lư hương Việt Nam, câu thư pháp về con khỉ soi gương, cây dương cầm cổ điển của Lucas Marinus từ Nagasaki, do Xi Lo tặng tôi sau một cuộc truy tìm vất vả kỳ khôi… Tôi đọc tiếp De Rerum Natura của Lucretius, nhưng tâm trí, nếu không phải linh hồn, vẫn ở cách đó một hai dặm về phía tây. Một cuộc chiến đáng nguyền rủa, triền miên. Trong những ngày yếu lòng, tôi tự hỏi tại sao chúng tôi - những Vô Thời Khách của Trắc Thời Phái, những kẻ được thừa hưởng quyền tái sinh từ khi lọt lòng, những kẻ có được thứ mà Ẩn Sĩ phải xuống tay giết chóc chỉ để có được một phiên bản méo mó hơn; tại sao chúng tôi không quay lưng bỏ đi? Tại sao chúng tôi liều lĩnh đánh đổi mọi thứ chỉ vì người dưng, những người sẽ không bao giờ biết chúng tôi đã làm gì, thắng hay bại? Tôi hỏi con khỉ đang bận lòng vì bóng mình trong gương: “Tại sao?”
Thánh Linh nhập vào Oscar Gomez trong thánh lễ Chúa Nhật tuần rồi tại nhà thờ Ngũ Tuần ở Vancouver, ngay lúc cả giáo đoàn đang đọc Thánh Vịnh 139. Vài tiếng sau đó gã đã tả lại với Adnan Buyoya bạn tôi, rằng cảm giác ấy như thể “biết được điều gì nằm trong trái tim của các anh chị em về Thiên Chúa, biết những tội lỗi mà họ vẫn chưa ăn năn và sám hối.” Gomez có lòng tin không suy suyển rằng Thiên Chúa đã ban cho gã món quà đó, và gã lên đường phụng sự Thiên Chúa ngay, không chút trì hoãn. Gã đáp tàu điện trên cao SkyTrain đến Metropolis, một khu mua sắm lớn ở ngoại ô thành phố và bắt đầu thuyết giáo ở lối vào. Những tay thuyết giáo đường phố ở những thành phố phi tôn giáo thường bị làm ngơ, hoặc trêu chọc, chứ ít khi được người ta lắng nghe. Nhưng không lâu sau một đám đông đã tụ tập quanh gã đàn ông Canada gốc Mexico thấp người, ăn nói tha thiết. Những người hoàn toàn xa lạ ở Metropolis bỗng dưng trở thành cá dính câu, choáng váng trước những tình tiết cụ thể mà Gomez nói ra. Chẳng hạn như người đàn ông nọ, được Gomez thúc giục thừa nhận chính mình là cha đẻ của em bé do người chị dâu tên Bethany sinh ra. Một cô thợ uốn tóc được gã nài nỉ khuyên nên trả lại bốn ngàn đô la đã lấy trộm từ bà chủ ở tiệm Curl Up and Dye[58]. Gomez nói với một tay bỏ học tên Jed rằng chỗ cần sa mà cậu ta đang trồng trong nhà kho ngoài vườn ở nhà người bà ốm yếu sẽ phá hủy cuộc đời cậu ta, chỉ có thể dẫn đến cảnh tù tội mà thôi. Người thì tái mặt đi, há hốc miệng rồi chuồn ngay. Người thì giận dữ vu rằng Gomez đã lẻn vào máy bảng của họ, hay đang làm việc cho cơ quan tình báo NSA; gã đáp, “Thiên Chúa giám sát hết thảy chúng ta.” Người thì bắt đầu khóc và cầu xin tha thứ. Khi đội bảo vệ của khu mua sắm đến bắt Gomez, vài tá máy bảng đã sẵn sàng quay lại quy trình bắt giữ, người đứng xem làm thành một vòng vây bảo vệ quanh “Thị Nhân Phố Washington”. Cảnh sát thành phố được gọi đến. Những đoạn băng tải lên YouTube cho thấy Gomez yêu cầu một trong những người bắt mình hãy thú nhận đã giẫm lên đầu một di dân người Eritrea - có nêu tên - đúng ba đêm trước, rồi cầu khẩn người còn lại hãy cố tìm bác sĩ chữa bệnh nghiện hình ảnh ấu dâm, gã còn đọc ra tên đăng nhập và trang web Nga mà viên cảnh sát đó dùng. Ta có thể đoán ra câu chuyện sau đó trong xe cảnh sát, nhưng trên đường đến đồn cảnh sát khu vực, điểm đến được đổi thành Bệnh viện Tâm thần Coupland Heights.
Thề có Chúa, Iris, Adnan email cho tôi trong đêm đó, tôi bước vào phòng phỏng vấn và suy nghĩ đầu tiên là, Một thị nhân? Anh chàng này trông còn nghiêm túc hơn kế toán của tôi. Ngay lập tức - như thể tôi vừa buột miệng nói ra - Oscar Gomez nói với tôi, “Cha tôi là kế toán, thưa bác sĩ Buyoya, nên có lẽ tôi thừa hưởng vẻ nghiêm túc từ ông ấy.” Sau câu đó, tôi làm sao mà khám đánh giá anh ta được. Tôi nghĩ (hay hi vọng) rằng tôi đã buột miệng nói ra suy nghĩ đầu tiên đó, nhưng chẳng lâu sau Gomez bắt đầu nhắc đến những sự kiện từ thời thơ ấu của tôi ở Rwanda mà tôi chỉ kể với chị và người phân tâm cho mình hồi còn học y khoa. Trong email thứ hai của Adnan, gởi hai giờ sau đó, bệnh nhân ở Coupland Heights đã bắt đầu sùng bái bệnh nhân mới như thể anh ta là chúa giáng thế. Cứ như trong ‘Vấn đề Voorman’ ấy,” Adnan kể, nhắc đến một truyện dài của Crispin Hershey mà cả hai đều ngưỡng mộ. Tôi biết ông bà mình ở Yoruba sẽ gọi Gomez là gì, nhưng tôi không thể nói chuyện ma thuật bằng tiếng Anh mà không sợ mất việc. Xin chị đấy, Iris. Chị giúp tôi được không?
• • •
Veni, vidi, non vici. Đến khi tôi tìm ra xe mình trong bãi đỗ xe ngút ngàn giữa trời mưa, cả người tôi ướt sũng, tất da rách một đường khi tôi chui vào xe. Tôi thấy giận dữ, tuyệt vọng và bất lực. Tôi đã thất bại. Máy tay líu lo, có tin nhắn:
quá trễ rồi marinus quá trễ rồi. bà gomez có tin lời cô không?
Những câu trả lời và suy đoán xoay trượt vào đúng chỗ, như một khối Rubik tự giải. Khả năng lớn nhất, cũng dễ đoán nhất, là máy tay của tôi đã bị một Thực Nhục Khách xâm phạm - một Ẩn Sĩ đang hả hê, có lẽ không thận trọng và thiếu kinh nghiệm nên để lộ chân tướng của mình. Tôi nhắn lại, nửa vờ vĩnh:
hugo lamb đã chôn cất lương tâm của hắn, nhưng lương tâm ấy chưa bao giờ chết
Có thể “Thánh Mark” từng hứa sẽ đi cùng Oscar Gomez lên Chiếc Thang của Jacob chính là “Marcus Anyder”, tên Ẩn Sĩ của Hugo Lamb. Máy nằm yên trong bàn tay nhớp nháp mồ hôi một phút, rồi hai, rồi ba. Ngay lúc tôi định bỏ cuộc, một tin nhắn nữa gởi đến.
lương tâm là thứ của bọn đồng hồ xương, marinus, còn cô là một mụ đàn bà no đòn
Trò vờ vĩnh của tôi có tác dụng, trừ khi tôi đang bị lừa cú đúp trở lại. Nhưng không, một kẻ thanh linh khát máu hành sự đơn độc sẽ không bỏ qua cơ hội làm nhục tôi nếu tôi đoán sai, và chỗ “mụ đàn bà no đòn” kia cũng khớp với thói kỳ thị phụ nữ trong hồ sơ Hugo Lamb của L’Ohkna. Khi tôi còn đang suy nghĩ làm thế nào để tận dụng mối liên hệ này (chắc chắn không được Constantin hay Pfenninger cho phép), thì tin nhắn thứ ba gởi đến:
nhìn tương lai của cô đi marinus nhìn kính chiếu hậu đi
Theo bản năng, tôi thụp người xuống rồi quay nghiêng kính chiếu hậu cho đến khi tôi có thể thấy qua kính chắn gió phía sau. Mặt kính lấm tấm mưa. Tôi khởi động xe, rồi bật cần gạt, để lau…
Kính cửa bên vỡ ra thành nghìn mảnh như mưa đá, còn gương chiếu hậu trên đầu tôi nổ tan tành như sao băng vụt qua, li ti nhựa và thủy tinh. Một mảnh nhựa vụn trông giống mẩu móng tay ghim vào má tôi. Tôi co người lại, sợ hãi. Một phần sáng suốt trong tâm trí tôi vẫn đang cãi rằng nếu xạ thủ chủ ý giết tôi thì giờ đây tôi đã ngồi nhìn Bụi Tối. Nhưng tôi cúi người thêm vài phút nữa. Vô Thời Tính có thể vô hiệu hóa nọc độc của cái chết, nhưng không hề bẻ gãy nanh vuốt của nó, và những phản xạ sinh tồn vẫn còn mãi, ở cả những kẻ như chúng tôi.
Và đó là lý do tại sao ta phải theo đuổi Chiến Tranh, tôi tự nhắc mình ở nhà 119A, bốn ngày sau. Cửa sổ phòng tôi đã trở màu xám băng giá. Chúng tôi phải bận lòng chứ, vì Oscar Gomez, vì vợ và ba đứa con của gã. Bởi vì không ai khác tin vào tội diệt chủng của một tập đoàn cướp bóc linh hồn như Ẩn Sĩ, hay của những kẻ hành sự tự do, chuyên săn mồi một mình. Nếu chúng tôi dành trọn những cuộc đời siêu linh để thu gom của cải từ các đế chế và say sưa ngây dại trong thứ ma túy của tiền bạc và quyền lực, nếu biết những điều chúng tôi biết mà không làm gì cả; thì chính chúng tôi cũng là đồng phạm khi những người vô tội bị tàn sát bằng tâm biệt năng.
Máy của tôi rung lên. Là chuông riêng Ōshima. Tôi loay hoay với máy như một thí sinh hồi hộp, lóng ngóng đánh rơi, cúi nhặt, rồi đọc:
Đã xong. Không có sự cố. Arkady trở về bây giờ. Sẽ tiếp tục theo sát Hi Vọng Ốm Yếu.
Tôi hít ô xy đầy buồng phổi, thấy nhẹ nhõm hàm ơn. Sứ Mệnh Thứ Hai đã gần thêm một bước. Ánh sáng của ngày mới len lỏi quanh khung cửa sổ. Ống nước cũ kỹ trong nhà 119A rùng mình tỉnh dậy, kêu lang cang. Tôi nghe có tiếng bước chân, tiếng xả nước và tiếng mở cửa tủ. Cách hai hay ba phòng, Sadaqat vừa thức dậy.
“Xô thơm, hương thảo, xạ hương…” Sadaqat, người bảo vệ, quản gia và kẻ-sắp-phản-bội của chúng tôi ngắt một cọng cỏ từ bồn đất “…tôi có trồng rau mùi nữa, để ta có thể ăn cả ‘Hội Chợ Scarborough’[59] nhưng nó không sống nổi qua đợt sương giá vừa rồi. Cây cỏ cũng mạnh được yếu thua. Tôi sẽ thử trồng lại. Rau mùi rất giàu chất sắt. Chỗ này tôi trồng hành và tỏi tây, cứng cáp lắm, tôi cũng rất trông vào đám đại hoàng. Bác sĩ còn nhớ ta có trồng đại hoàng ở Bệnh viện Dawkins không?”
“Tôi vẫn nhớ món bánh ấy,” tôi đáp.
Chúng tôi nói chuyện nhỏ nhẹ. Mặc cho mưa bụi và sau một đêm bận rộn, Arkady Trắc Sĩ đồng nghiệp của tôi vẫn đang tập Thái Cực Quyền giữa tán tường vi và phỉ ở bên kia sân thượng. “Chỗ này sẽ là một khóm dâu,” Sadaqat chỉ, “còn ba cây anh đào này tôi sẽ thụ phấn bằng đầu chổi sơn, vì ở phía Đông rất hiếm ong. Nhìn này! Một con hồng tước, trên cây phong momiji. Tôi có mua một cuốn sách về chim, nên tôi biết. Mấy con chim trên mái là cu gáy nỉ non. Ta còn có sáo đá làm tổ dưới mái chìa, trên kia. Vì tụi nó mà tôi phải luôn tay cọ rửa trên này, nhưng phân chim dùng bón cũng rất tốt, nên tôi không than phiền gì. Còn đây là góc tỏa hương. Lạp mai, lan sáp, còn đám cành đầy gai này sẽ trở thành hoa hồng thơm. Giàn mắt cáo dành cho dây kim ngân và hoa nhài.”
Tôi để ý thấy giọng Anh-Pakistan lên bổng xuống trầm của Sadaquat đang nhỏ dần. “Thực sự, anh đã hóa phép cho nơi này.”
Người quản gia nhún nhường sung sướng. “Cây cối muốn sống mà. Chỉ cần để chúng sống.”
“Đáng ra ta phải nghĩ đến một khu vườn ở đây từ hàng thập kỷ trước.”
“Các vị quá bận đi cứu linh hồn, làm sao nghĩ đến những việc thế được, hả bà bác sĩ. Mái nhà cần được gia cố, đúng là một thử thách…”
Coi chừng đó, Arkady ngầm-cảnh báo tôi, không thì anh ta bắt đầu làm nguyên bài về tường và rầm chịu lực, đến khi chị không thiết sống nữa.
“…nhưng tôi thuê một kỹ sư người Ba Lan, anh này đề nghị làm tường và rầm chịu lực…”
“Đúng là một ốc đảo yên bình,” tôi cắt ngang, “chúng tôi sẽ trân quý nó trong nhiều năm tới.”
“Nhiều thế kỷ chứ,” Sadaqat nói, phủi những giọt sương đọc trên mái tóc bạc nhưng vẫn mướt mát của anh ta, “chỉ dành cho Trắc Sĩ.”
“Hãy hi vọng thế.” Qua một bình phong bằng sắt mỹ nghệ tinh xảo ốp vào tường bao quanh sân, chúng tôi nhìn xuống đường phố dưới đó bốn tầng. Xe nối đuôi nhau bò chậm chạp, bấm còi vô vọng. Những chiếc dù đi vượt lên, tách ra để nhường chỗ cho những người chạy bộ ngược chiều. Cùng cao độ với chúng tôi, ở tòa nhà cao hơn bên kia đường, một bà cụ đeo nẹp cổ đang tưới bồn hoa vạn thọ bên cửa sổ. Những tòa nhà chọc trời ở New York biến mất trong mây ở tầng thứ mười ba. Nếu King Kong đang ở trên Tòa nhà Empire State ngay hôm nay, những kẻ đang đứng cùng cao độ tầm thường với tôi sẽ không bao giờ tin nổi sự thật.
“Môn Thái Cực của ông Arkady,” Sadaqat rì rầm, “làm tôi nhớ đến phép thuật của bà. Cách bà dùng tay kéo không khí ấy, bà biết không?” Cả hai cùng ngắm anh ấy. Arkady cao nghều, là người Hungary và buộc tóc đuôi ngựa, nhưng dường như dáng dấp lưu thể võ sư Việt Nam vẫn còn khá rõ ở nơi anh.
Tôi hỏi bệnh nhân cũ của mình, “Anh vẫn hài lòng với cuộc sống ở đây chứ?”
Saqadat giật mình. “Vâng! Nếu tôi có làm gì sai trái…”
“Không. Không có chuyện đó. Đôi khi tôi chỉ thấy lo, rằng vì chúng tôi mà anh không có bạn bè, bạn đời, gia đình… những ràng buộc của một cuộc sống bình thường.”
Sadaqat gỡ kính ra, lau mắt kính trên áo sơ mi nhung kẻ. “Trắc Thời Phái là gia đình của tôi. Bạn đời? Tôi bốn mươi lăm tuổi. Tôi thà đi ngủ với chương trình The Daily Show trên máy bảng, hoặc một cuốn tiểu thuyết của Lee Childs và tách trà hoa cúc. Cuộc sống bình thường?” Anh ta hừ mũi. “Tôi có đại nghĩa của quý vị, một thư viện để tha hồ khám phá, một khu vườn để chăm sóc, và thơ của tôi dạo này cũng đỡ dở tệ hơn. Tôi thề, thưa bà bác sĩ, mỗi ngày khi tôi cạo râu tôi đều nói với mình trong gương, ‘Sadaqat Dastaani, ngươi là kẻ tâm thần phân liệt trung niên, hói đầu người Anh gốc Pakistan may mắn nhất ở Manhattan’.”
“Nếu anh có bao giờ,” tôi cố nói bình thường, “nghĩ khác đi…”
“Không, bác sĩ Marinus. Cỗ xe của tôi đã cột chặt vào xe của Trắc Thời Phái.”
Cẩn thận đấy, Arkady ngầm-cảnh báo tôi, coi chừng hắn đánh hơi thấy mùi tội lỗi.
Tôi không thể dừng được. “Sứ Mệnh Thứ Hai, Sadaqat. Ta không thể đảm bảo an toàn cho bất kỳ ai. Cả anh, cả chúng tôi.”
“Nếu bà muốn tôi bỏ 119A mà đi, thưa bác sĩ, xin bà cứ phù phép tự nhiên, vì tôi sẽ không tự mình bỏ đi đâu. Ẩn Sĩ săn những kẻ yếu đuối về tâm thần, đúng không? Nếu tôi có loại…” Sadaqat vỗ lên đầu “…linh hồn thích hợp, có khi họ đã mang tôi đi rồi, đúng không? Thế thì, cuộc chiến của Trắc Thời Phái cũng là cuộc chiến của tôi. Đúng thế, tôi chỉ là một con tốt, nhưng thế trận một ván cờ có thể phụ thuộc vào nước đi của một con tốt.”
Marinus, khách đến rồi, Arkady ngầm-thông báo với tôi.
Lương tâm day dứt, tôi nói với Sadaqat, “Tôi chịu thua anh.”
Người quản gia của chúng tôi mỉm cười. “Tôi rất vui, thưa bác sĩ.”
“Khách của chúng ta đã đến.” Chúng tôi đi trở lại chỗ tấm bình phong, nhìn xuống thấy Holly với khăn quấn đầu Jamaica. Bên kia đường, tôi nhận ra dáng vẻ của Ōshima đứng trong căn phòng của chúng tôi mua, ngay phía trên phòng của nghệ nhân làm đàn vĩ cầm: Tôi sẽ quan sát đường phố, anh ngầm-đề nghị, phòng khi có bên liên quan đi ngang. Holly bước đến cánh cửa với chiếc chìa khóa mà xanh tôi đưa hôm qua ở quán Santorini Café. Buổi sáng hôm nay của người phụ nữ Anh quốc đã và đang diễn biến thật kỳ lạ. Trên cành liễu gần sát vai tôi, một con chim hét cánh đỏ, xù lông cất lên một tràng hợp âm rải. “Ai mà xinh trai vậy ta?” Sadaqat thầm thì.
Tôi lên tiếng. “Chúng tôi đã chờ sẵn chị ở đây, chị Sykes. Quả có thế.”
“Chào mừng chị đến 119A.” Giọng Arkady vẫn còn chất khàn khàn của cậu trai mới lớn.
“Bà đã được an toàn, thưa bà Sykes,” Sadaqat nói. “Đừng sợ.”
Holly đỏ phừng mặt sau khi leo cầu thang, nhưng khi thấy Arkady, mắt cô mở to: “Đúng là cậu… cậu… phải không?”
“Vâng, tôi sẽ phải giải thích một vài chuyện.” Arkady đồng ý.
Dưới con hẻm, một con chó cất tiếng sủa. Holly run rẩy. “Tôi đã nằm mơ thấy cậu. Sáng hôm nay! Chính... chính là cậu. Làm sao cậu làm thế được?”
“Mặt mụn, đúng không?” Arkady vuốt má. “Không thể nào quên.”
“Trong giấc mơ của tôi! Cậu ngồi ở bàn, trong phòng tôi, tại khách sạn nơi tôi ở…”
“Viết ra địa chỉ này trên giấy ghi chú.” Arkady tiếp lời. “Rồi tôi nhờ chị mang chìa khóa màu xanh của Marinus đến đây và bước vào. Tôi nói, ‘Hẹn gặp chị trong hai tiếng nữa.’ Và bây giờ ta đang ở cả đây.” Holly nhìn tôi, nhìn Arkady, nhìn Sadaqat, rồi nhìn tôi.
“Cấy mộng,” tôi tiếp, “là một trong những sở trường của Arkady.”
“Tầm cấy của tôi còn tệ lắm,” đồng nghiệp tôi lên tiếng, khoe tính khiêm tốn. “Phòng tôi ở đối diện phòng chị, chị Sykes à, vậy nên tôi không phải vận linh đâu xa. Rồi sau đó, khi linh hồn tôi về lại thân xác, tôi vội trở lại đây. Bằng taxi. Cấy mộng với thường dân là đi ngược Phái Luật của chúng tôi, nhưng chị cần có bằng chứng về những điều hoang đường mà Marinus đã nói hôm trước, mà chúng tôi đang có Chiến Tranh, vậy nên tôi e là mình không còn cách nào khác. Thứ lỗi cho chúng tôi. Xin chị.”
Holly hoang mang, bối rối. “Cậu là ai?”
“Tôi? Arkady Thaly, trong lưu thể này. Chào chị.”
Một đám mây sà thấp, một chiếc máy bay ầm ầm kéo qua.
“Đây là người quản gia của chúng tôi,” tôi quay về phía Sadaqat, “ông Dastaani.”
“Ôi, tôi chỉ là hạng tép riu thôi, thật đấy,” Sadaqat nói, “và là người bình thường, như chị… a ha, ‘bình thường’ nhỉ? Cứ gọi tôi là Sadaqat. Đọc như ‘Sa-dar-cutt’, nhấn ở chữ ‘dar’. Cứ nghĩ tôi như Alpak Alfred.” Holly vẫn ngơ ngác. “Alfred? Quản gia của Người Dơi ấy? Tôi coi sóc nhà 119A khi ông bà chủ đi vắng. Tôi nấu ăn. Bà ăn chay, tôi đã được dặn thế, đúng không? Trắc Sĩ cũng ăn chay. Là…” anh ta đưa ngón tay chỉ vòng vèo trong không khí “sự hòa hợp thân thể và linh hồn, đại để thế. Ai đói bụng nào? Tôi vừa học thạo món trứng Benedict và đậu phụ xông khói, một bữa điểm tâm ngon lành cho một buổi sáng rối reng. Bà có muốn thử không?”
Chiếm ngự phòng khách ở tầng một nhà 119A là một bàn gỗ hình bầu dục có sẵn khi Xi Lo mua nhà hồi những năm 1890. Ghế ngồi đủ kiểu, thuộc những thời đại khác nhau kể từ khi đó. Ánh nắng ngọc ngà đổ vào qua ba cửa sổ khung vòm. Tranh treo trên bức tường dài là quà tặng Xi Lo hay Holokai từ chính các họa sĩ: một buổi bình minh sa mạc ửng hồng của Georgia O’ Keeffe, quang cảnh Cảng Radium của A.Y. Jackson, bức Hoàng Hôn Trên Cầu San Luis Rey của Diego Quispe Tito và bức Gái điếm và John trong Nghĩa Địa Đá Hoa của Faith Nulander. Cuối dãy là bức Venus, Cupid, Dại Khờ và Thời Gian của Agnolo Bronzino. Bức họa ấy trị giá cao hơn cả ngôi nhà và khu lân cận cộng lại. “Tôi biết tác phẩm này,” Holly nói, nhìn vào họa phẩm của Bronzino. “Tranh gốc treo ở Bảo tàng Quốc gia ở London. Ngày trước tôi vẫn hay ra đó xem khi nghỉ trưa, thời còn làm trung tâm hỗ trợ người vô gia cư ở St-Martin-in-the-Fields.”
“Đúng thế,” tôi đáp. Holly không cần nghe thêm câu chuyện về phiên bản của Bảo tàng Quốc gia và bản gốc bị đánh tráo ở Vienna năm 1860. Hơn nữa, cô vừa đảo mắt đến món tép riu cạnh bức Bronzino, tức Chân dung tự họa của Yu Leon Marinus, 1969. Holly nhận ra gương mặt đó và quay lại phía tôi, ánh nhìn tố cáo. Tôi gật đầu, ngượng ngùng. “Lố bịch thật, đương nhiên rồi, và vô cùng kiêu căng khi dám treo giữa những tác phẩm này, nhưng Xi Lo, người sáng lập của chúng tôi cứ khăng khăng muốn thế. Chúng tôi treo nó vì anh ấy.”
Sadaqat bước vào qua cánh cửa cạnh đĩa kính trắc tinh, mang theo khay đồ uống. Chẳng ai có bụng dạ nào cho món trứng Benedict cả. Anh ta hỏi, “Cả nhà ngồi đâu nhỉ?” Holly ngồi xuống chiếc ghế gondola ở cuối bàn, gần nhất với lối ra. Sadaqat hỏi khách, “Trà Điểm Tâm Ireland nhé, bà Sykes? Thân mẫu bà là người Ireland, theo như tôi biết.”
“Đúng vậy, mẹ tôi đã mãn phần.” Holly đáp. “Cảm ơn anh.”
Sadaqat đặt xuống tấm lót bàn một ấm trà và tách có hoa văn liễu rủ đồng bộ, thêm bình sữa và chén đường. Trà xanh của tôi đang được hãm trong một ấm sắt đen, là ấm của Choudary Marinus, hai lưu thể về trước. Arkady uống cà phê đựng trong bát. Sadaqat đặt một cây nến đã châm vào tách thủy tinh màu, làm tâm điểm trên bàn. “Để sáng sủa hơn chút. Phòng này đôi lúc ảm đạm như lăng tẩm.”
Trong một vũ trụ song song, có khi anh ta là một kẻ cuồng nội thất, Arkady ngầm-nói.
“Thật đúng là cái chúng tôi cần, Sadaqat,” tôi nói. Anh ta đi ra, hài lòng. Holly khoanh tay lại. “Cô làm ơn nói thẳng luôn. Tôi đã quá…”
“Chúng tôi mời chị đến đây sáng nay,” tôi nói, “để biết về chúng tôi, về câu chuyện của chúng tôi. Về Vô Thời Khách và tâm biệt năng.”
Nghe như hội thảo kinh doanh ấy, Marinus, Arkady ngầm-nói.
“Gượm đã,” Holly nói. “Tới chỗ Vô Thời Khách thì tôi không theo kịp nữa.”
“Nếu bị đâm, chúng tôi chảy máu,” Arkady nói, bàn tay ôm bát cà phê, “bị cù, chúng tôi cười, bị đầu độc, chúng tôi chết, nhưng sau khi chết, chúng tôi quay lại. Marinus đây đã kinh qua như thế được… ba mươi chín mạng, đúng không?”
“Bốn mươi, nếu tính thêm Heidi Cross đáng thương ở căn nhà gần đảo Sheppey.” Tôi để ý thấy Holly đang nhìn tôi chăm chú, như thể tôi sắp mọc thêm một cái đầu nữa, hoặc sẽ phá ra cười man dại.
“Tôi vẫn còn non nớt,” Arkady nói, “tôi đang ở lưu thể thứ năm. Chết vẫn khiến tôi sợ hãi, khi ở trong Bụi Tối, nhìn về phía Cồn Cát…”
“Bụi tối gì kia?” Holly hỏi. “Cồn cát gì?”
“Bụi Tối,” Arkady nói, “giữa sự sống và cái chết. Chúng tôi thấy nó từ Rặng Cao. Một quang cảnh tuyệt đẹp đến rùng mình. Tất cả các linh hồn, những ánh sáng nhạt màu, băng qua đó, được Gió Hướng Biển thổi về Bể Cuối. Đương nhiên, Bể Cuối không phải là biển thực sự mà…”
“Khoan đã, khoan đã.” Holly chồm người ra trước. “Cậu nói là cậu đã từng chết? Từng tận mắt thấy hết những thứ đó?”
Arkady uống cà phê từ trong bát, rồi chặm môi. “Đúng thế, thưa chị Sykes, với cả hai câu hỏi của chị. Nhưng Gió Hướng Đất lại thổi linh hồn chúng tôi trở lại, bất kể chúng tôi có muốn hay không. Trở lại qua Rặng Cao, về lại trong Ánh Sáng của Ngày, và rồi chúng tôi nghe một tiếng động như… một thành phố vừa mới rơi xuống, và mọi thứ vỡ tan tành.” Arkady hỏi tôi, “Mô tả vậy được không?”
“Cũng được. Rồi chúng tôi thức dậy trong một thân xác mới, một thân xác trẻ con, thường đang nguy kịch, ngay sau khi người chủ cũ vừa rời đi.”
“Ở quán cà phê,” Holly quay sang tôi, “cô nói rằng đồng bọn của Hugo Lamb, tức Ẩn Sĩ, là những kẻ trường sinh bất tử ‘có điều kiện’. Các người cũng giống vậy sao?”
“Không. Chúng tôi bị buộc sống trong sự luân hồi tái sinh này. Chúng tôi không hiểu làm thế nào, cũng không biết tại sao lại là mình. Chúng tôi chưa bao giờ tìm kiếm điều đó. Lưu thể đầu tiên chết theo cách thông thường, rồi chúng tôi nhìn thấy Bụi Tối như Arkady vừa tả, và bốn mươi chín ngày sau chúng tôi quay lại.”
“Sau đó,” Arkady lần tay qua tóc buộc đuôi ngựa, “chúng tôi cứ bị mắc kẹt như vậy, lặp đi lặp lại. Lưu thể thứ hai lớn lên, già đi, rồi chết: bùm chúng tôi trở lại trong Bụi Tối; rồi, huýt, bốn mươi chín ngày sau đó, chúng tôi thức dậy trên Trái Đất - trong một cơ thể có giới tính khác, thật muốn bể cả đầu.”
“Quan trọng là,” tôi nói với Holly, “không ai phải trả giá cho Vô Thời Tính của chúng tôi. Chúng tôi tự trả. Về mặt phân ngành mà nói, thì chúng tôi là động vật ăn cỏ, chay giới.”
Từ đường phố bên dưới có tiếng thắng xe ken két.
“Vậy,” Holly hỏi, “Ẩn Sĩ là động vật ăn thịt, thực nhục giới chăng?”
“Chính xác.” Arkady miết ngón tay quanh miệng bát.
Holly xoa tay lên thái dương. “Ở đây ta đang nói chuyện… ma cà rồng chăng?”
Arkady rền rĩ. “Ôi, lại ba tiếng đó! Cứ thế mãi thôi.”
“Thực nhục ở đây chỉ giống ma cà rồng theo nghĩa bóng,” tôi nói với Holly. “Họ trông bình thường, hoặc khác biệt như những tập hợp dân số khác - thợ sửa ống nước, chuyên viên nhà băng, bệnh nhân tiểu đường. Đáng tiếc nữa là không phải ai trong số họ cũng trông giống như nhân vật phản diện của David Lynch. Nếu được vậy thì công việc của chúng tôi đã dễ hơn biết bao nhiêu.” Tôi hít hơi nước từ trà xanh đắng chát và chờ câu hỏi tiếp theo của Holly. “Họ sống bằng linh hồn, chị Sykes à. Thực Nhục giới thanh lọc linh hồn kẻ khác, tức là đi bắt cóc con mồi, lý tưởng nhất là trẻ em,” tôi nhìn Holly, ánh nhìn của cô vừa lộ vẻ bất an khi nghĩ đến Jacko, “cũng có nghĩa là giết chóc.”
“Tức là không tốt đẹp gì,” Arkady nói. “Vậy là tôi, Marinus cùng một vài cá nhân không được cảm tạ - hầu hết là Vô Thời Khách, và một số cộng sự hữu thời khác - nhận lấy công việc… diệt trừ bọn họ. Những Thực Nhục Khách hành sự riêng rẽ thường không có gì đáng lo - họ thường nghĩ rằng mình là người duy nhất, và ra tay bất cẩn như những kẻ trộm vặt không tin là có người thị sát cửa hàng. Vấn đề bắt đầu khi họ đi săn thành bầy, Chiến Tranh cũng bắt đầu từ đó.”
“Cũng là lý do chúng tôi ở đây, chị Sykes,” tôi nhấp trà, “chung quy vì một toán thợ săn như thế. Ẩn Sĩ Nhà Nguyện Bụi Tối của Thầy Cathar Mù ở Tu Viện Thomasite trên đèo Sidelhorn.”
“Dài quá không in hết lên danh thiếp được.” Arkady đan ngón tay, bẻ ngược bàn tay và nhấc cánh tay lên. “Nên với bạn bè chỉ gọi tắt là Ẩn Sĩ.”
“Sidelhorn là một ngọn núi,” Holly nói. “Ở Thụy Sĩ.”
“Một ngọn núi khá là khó leo,” tôi nhận xét. “Nhưng Sidelhorn cũng là tên của một con đèo ở phía bắc Italy, một con đường vốn đã cũ xưa ngay từ lúc quân La Mã đi qua. Tu viện Thomasite cũng là lữ quán trên đèo, nằm về phía bang Valais của Thụy Sĩ, từ thế kỷ thứ chín đến năm cuối cùng của thế kỉ mười tám. Tại đó, những năm 1210, một nhân vật được biết đến với cái tên Thầy Cathar Mù đã hóa thân thành đường dẫn vào Bụi Tối.”
Holly soát lại bài học lịch sử vừa nghe qua. “Bụi Tối nằm giữa…”
“Sự sống và cái chết,” Arkady nói. “Tốt, vậy là chị có lắng nghe.”
Holly hỏi, “Cathar là gì?”
“Cathar là các tu sĩ dị giáo thế kỉ mười hai, mười ba,” tôi đáp, “ở Languedoc. Họ giảng rằng thế giới được tạo ra không phải bởi Chúa Trời, mà bởi cái ác, rằng Jesus, vì là người thường, nên không thể là Con của Chúa Trời. Tòa Thánh không chấp nhận họ. Năm 1198 Giáo Hoàng Innocent III khởi xướng cuộc chiếm đất mà sau này được biết đến với tên Cuộc Thập Tự Chinh Albigensian. Vua Pháp khi đó còn bận việc khác, nhưng đã đồng ý cho các nam tước ở miền bắc lên đường nam tiến, giết tu sĩ Cathar, tịch thu đất đai và đàn áp một vùng bất trung với triều đình Pháp. Tuy nhiên, dị giáo không ngừng sinh sôi nảy nở. Những gì bị đập vỡ lại tiếp tục chia nhỏ và lan ra. Cho đến chừng năm 1205, 1206, Thầy Cathar Mù của chúng ta đã an vị tại một tu viện Thomasite ở Valais xa xôi. Tại sao ông ấy chọn Sidelhorn, không ai biết. Tên của ông ấy, cũng không ai hay. Động cơ nào khiến ông ấy tìm tòi nghiên cứu về vật chất, vật-tự-thân, thần ngôn, tâm trí, linh hồn, Bụi Tối, ta cũng chịu. Ông ấy chỉ xuất hiện trong một nguồn sử liệu duy nhất, là lịch sử của Tòa án dị giáo giám mục chừng những năm 1270 của tác giả Mecthild xứ Magdeburg, theo đó, năm 1215, Tòa án dị giáo kết án tử hình ‘Thầy Cathar mù ở đèo Sidelhorn’ vì tội làm phù thủy. Đêm trước ngày hành hình, ông bị nhốt trong một buồng giam ở tu viện. Đến buổi bình minh,” tôi nghĩ đến Oscar Gomez, “ông ta đã biến mất. Mecthild kết luận rằng chính Satan đã ra tay che chở cho con dân mình.”
“Đừng lo,” Arkady nói. “Chúng tôi không làm phép Satan gì đâu.”
“Bài học lịch sử này gần hết rồi,” tôi hứa. “Trái đất quay quanh trục, mặc cho Tòa án dị giáo có khăng khăng cãi ngược lại, cho đến năm 1799.” Tôi để đầu ngón tay lên ấm sắt. “Một nhát bút của Napoleon đã sáp nhập các bang Thụy Sĩ kiêu hãnh thành nước Cộng Hoà Helvetica. Tuy nhiên, không phải người Thụy Sĩ nào cũng chấp nhận chuyện trở thành chư hầu của Pháp, và khi những hứa hẹn về tự do tín ngưỡng bị bội phản, nhiều người bắt đầu đốt nhà thờ và chống lại những lãnh chúa do Paris bổ nhiệm. Kẻ thù của Napoleon đổ thêm dầu vào lửa. Đầu tháng Tư một đại đội pháo binh Áo đến đèo Sidelhorn từ Piedmont. Hai trăm thùng thuốc súng chứa trong chuồng bò của tu viện, hoặc vì bất cẩn hoặc vì cố ý phá hoại, đã phát nổ. Phần lớn tu viện bị phá hủy, đá lở cuốn phăng cây cầu bắc qua vực sâu bên dưới. Sự kiện đó chỉ là một dòng chú thích nhỏ trong Chiến tranh Cách mạng Pháp, nhưng vụ nổ đó, trong Chiến Tranh của chúng tôi, lại có ý nghĩa tương đương với vụ ám sát Đại công tước Franz Ferdinand ở Sarajevo. Dư chấn của nó bắn thẳng lên Nhà Nguyện Bụi Tối, và thế là giấc ngủ dài của Thầy Cathar Mù chấm dứt.
Chiếc đồng hồ trên bệ lò sưởi đong tám tiếng chuông thánh thót.
“Dòng tu Thomasite lúc đó chỉ còn là bóng ma của chính nó trước thời Cải Cách Tin Lành, thiếu tiền bạc, phương tiện và ý chí để tái thiết lại cơ sở ở Alpine. Tuy vậy chính quyền Helvetica ở Zürich đã bỏ phiếu đồng ý sửa chữa cây cầu Sidelhorn và đặt một trại lính để canh gác con đèo huyết mạch chiến lược. Baptiste Pfenninger, một kỹ sư từ Martigny được điều đến hiện trường để giám sát công việc sửa chữa, và trong một đêm cuối hè, khi Pfenninger nằm trằn trọc trong phòng riêng tại đồn lính, ông ta nghe thấy có người gọi tên mình. Giọng nói nghe vừa như cách xa hàng dặm, vừa như chỉ trong gang tấc. Cửa phòng đã chốt ở bên trong, nhưng Pfenninger thấy một dải không khí đong đưa dưới chân giường. Ông kỹ sư chạm vào đó. Ông ta thấy dải không khí mở ra, như một tấm màn, và xuyên quá đó ông thấy một sàn nhà hình tròn và một cây nến cao bằng đầu người, giống như loại nến người ta vẫn còn dùng ở bàn thờ Công giáo hay Chính thống giáo ngày nay. Xa nữa là những bậc đá, dẫn lên một nơi tối tăm. Baptiste Pfenninger là một người thực dụng, không say xỉn, đầu óc sáng suốt. Phòng ông ta ở tầng hai trong tòa nhà hai tầng. Nhưng ông ta vẫn đi xuyên tấm rèm phi lý đó trong không khí, tiện thể, nó còn được gọi là Khê Môn, rồi ông ta trèo lên những bậc thang phi lí đó. Đến đây chị cảm thấy như thế nào, chị Sykes?”
Ngón cái Holly đặt trên xương đòn. “Tôi không biết.”
Arkady mân mê nốt mụn, không ý kiến gì, để tôi tiếp tục nói.
“Baptiste Pfenninger trở thành người khách đầu tiên đến Nhà Nguyện Bụi Tối. Ông ta thấy bức chân dung, hay hình tượng của Thầy Cathar Mù. Chân dung không có mắt, nhưng khi Pfenninger đứng đó, nhìn chăm chăm vào nó, hoặc bị nó nhìn chăm chăm, ông ta thấy một chấm hiện ra trên trán của hình tượng và lớn dần thành đồng tử màu đen của một con mắt không có mí và…”
“Tôi đã thấy cái đó! Ở đâu ra vậy?”
Tôi nhìn Arkady, anh chỉ nhún nhẹ vai thay lời đáp. “Hình tượng Thầy Cathar Mù làm vậy trước khi thanh lọc một linh hồn.”
Holly quay sang tôi, đột nhiên nôn nóng. “Cô nghe đây. Đợt cuối tuần Jacko bị mất tích. Vụ chấm-biến-thành-mắt trên trán đó, tôi đã thấy. Tôi… tôi… tôi bị một… cơn ác mộng ban ngày trong đường hầm, gần Rochester. Tôi không cho vào cuốn Người Trên Đài vì nghe rất vớ vẩn, như kể chuyện ngáo ma túy. Nhưng có chuyện đó thật.”
Arkady ngầm-hỏi tôi, Nếu Xi Lo truyền hình ảnh qua linh tuyến đến cô ta trong suốt Sứ Mệnh Thứ Nhất thì sao?
Thế thì tại sao không nói với chúng ta? Tôi cố nghĩ ra một ý hay hơn. Nếu linh tuyến của Jacko và Holly đã được nối sẵn với nhau thì sao, như hai chị em có tâm biệt năng?
Arkady cắn khớp ngón cái, một thói quen từ lưu thể trước. Cũng có thể. Dấu vết linh tuyến có thể đã dẫn Esther đến Holly khi mọi người chạy khỏi Nhà Nguyện. Như Hansel và Gretel lần theo vụn bánh mì.
“Xin lỗi,” Holly lên tiếng, “nhưng tôi vẫn còn ngồi đây. Jacko thì có liên quan gì tới tu sĩ thời trung cổ và kỹ sư thời Napoleon?” Ngọn lửa nến trong tách kính màu dỏng cao và tĩnh tại.
“Thầy Cathar Mù và ông kỹ sư trò chuyện,” tôi tiếp, “và đồng ý một giao kèo, một thỏa thuận đôi bên cùng có lợi. Ta không biết chắc…”
“Khoan, khoan, khoan. Ông thầy tu đã ở trong Nhà Nguyện Bụi Tối được… chừng sáu trăm năm? Rồi ông ta mời khách tới, nói chuyện làm ăn. Vậy ông ta ăn gì để sống từ thời Trung Cổ?”
“Cố nhiên, Thầy Cathar Mù đã hóa thể,” tôi giải thích.
Holly dựa ra sau. “Hóa thể hóa thiếc cái gì kia chứ?”
“Thân xác của Thầy Cathar Mù đã chết,” Arkady nói, “nhưng tâm trí và linh hồn của ông ấy, mà trong phạm vi câu chuyện hôm nay, ta giả định là một; đã hòa vào kết cấu của Nhà Nguyện. Thầy Cathar mù giao tiếp với Pfenninger qua hình tượng.”
Holly ngầm nghĩ. “Vậy người xây nhà trở thành ngôi nhà?”
“Trong chừng mực nào đó,” Arkady đáp. “Chị có thể nói như vậy.”
“Cây cầu và đồn trú tại Đèo Sidelhorn hoàn thành trước mùa đông,” tôi tiếp tục câu chuyện, “và Baptiste Pfenninger trở về với gia đình ở Martigny. Nhưng mùa xuân tiếp đó ông ta đi câu cá ở hồ Lac d’Emosson. Một đêm ông ta bơi thuyền ra hồ. Người ta tìm thấy chiếc thuyền, nhưng không bao giờ tìm thấy xác.”
“Tôi hiểu rồi,” Holly nói. “Giống Hugo Lamb.”
Mưa rì rầm trên cửa sổ nhà 119A. “Tua nhanh đến sáu năm sau, tức năm 1805. Một trại mồ côi mới mở cửa ở quận Marais, Paris. Người sáng lập kiêm giám đốc là một người đàn ông Pháp rắn rỏi tên Martin Leclerc, cha ông ta từng gầy dựng cơ nghiệp ở thuộc địa châu Phi. Giờ đây ông ta muốn nuôi nấng, lo chỗ ở và dạy dỗ kinh thánh cho trẻ mồ côi vì chiến tranh ở thủ đô. Năm 1805 là thời điểm khó khăn với một người ngoại quốc ở Paris, tiếng Pháp của Leclerc có âm hưởng Đức, nhưng bạn bè ông ta nghĩ rằng chất ngoại quốc ấy là từ người mẹ dân Phổ và những năm tháng theo học ở Hamburg. Cũng chính những người bạn này - nhiều người trong số đó thuộc tầng lớp tinh hoa của xã hội đế quốc, không hề biết rằng tên thật của Martin Leclerc là Baptiste Pfenninger. Ta có thể hình dung họ sẽ thấy thật điên rồ làm sao, nếu có người gợi ý rằng Leclerc lập ra trại mồ côi để săn và chăn dắt trẻ em có biệt năng. Tức là những đứa trẻ thể hiện tâm áp hoặc có một mắt chakra động.”
Holly nhìn Arkady, anh nheo mắt như một phiên dịch viên đang ngẫm ngợi. “Tức là có khả năng ngoại cảm. Như chị, lúc chị tám tuổi.”
“Tại sao một… một kỹ sư Thụy Sĩ, một người từng ngụy tạo cái chết của mình rồi giờ đây là chủ trại mồ côi Pháp, đúng thế không… tại sao ông ta muốn tìm trẻ em có khả năng ngoại cảm?”
Arkady nói, “Ẩn Sĩ nuôi dưỡng Vô Thời Tính của họ bằng linh hồn kẻ khác, như Marinus nói. Nhưng không phải linh hồn nào cũng có thể dùng được: chỉ có linh hồn của những người có tâm biệt năng mới có thể được thanh lọc. Như hiến tạng, thường chỉ có một trong số hàng nghìn tạng hiến là phù hợp để ghép. Vào những ngày đông chí, hạ chí, xuân phân và thu phân, chủ nhân của linh hồn phải được dẫn lên Thạch Đạo, vào Nhà Nguyện. Một khi đã đến đó, vị khách kém may mắn nhìn vào hình tượng của Thầy Cathar Mù - người sẽ thanh lọc linh hồn vị khách đó thành Hắc Tửu. Thân xác sẽ bị vứt bỏ qua cửa sổ Nhà Nguyện, và Mười Hai Ẩn Sĩ tụ hội tại một nghi thức gọi là Ngày Tái Sinh để cùng uống Hắc Tửu - trong chừng ba tháng sau đó tế bào cơ thể họ ngừng phân chia. Vì thế mà cơ thể Hugo Lamb vẫn còn ở giai đoạn hai lăm tuổi, trong khi tâm trí và linh hồn hắn đã hơn năm mươi tuổi.”
Holly tạm thôi phán xét. “Vậy tại sao Pfenninger bây giờ lại ở Paris, trong khi muốn đến ‘Nhà Nguyện’ phải đi qua một tu viện Thụy Sĩ đổ nát?”
“Mọi Ẩn Sĩ đều có thể gọi được Khê Môn ở bất cứ đâu.” Arkady hạ bàn tay che ngọn lửa nến. “Và có thể mở nó ra ở bất kỳ đâu, từ bên trong. Khê Môn chính là lý do tại sao Chiến Tranh đã diễn ra hơn một trăm sáu mươi năm. Thực tế là Ẩn Sĩ có thể biến hiện từ nơi này đến nơi khác. Vừa là một phương tiện chạy trốn tuyệt vời, vừa có thể dùng để tấn công bất ngờ.”
Giọng Holly chững lại khi cô nhận ra điều gì đó. “Cô Constantin?”
“Immaculée Constantin là cấp phó của Pfenninger. Ta không biết tại sao Ẩn Sĩ Đầu Tiên nhất lại chiêu mộ ả làm Ẩn Sĩ Thứ Hai, nhưng ả là cô giáo phụ trách nữ sinh của trại mồ côi Marais. Không ai khác hơn là Talleyrand từng gọi Madame Constantin là ‘Luyến Thần Seraphim múa gươm trong lốt đàn bà’. Mười tám thập kỷ trôi qua và ta thấy ả ở Gravesend, chăn dắt Holly Sykes. Tuy nhiên ả đã phạm một lỗi hiếm hoi trong trường hợp của chị khi làm chị hoảng sợ, vậy là người học trò cũ của tôi đã mang chị đến với tôi. Tôi chủng ngừa cho chị bằng cách rút hết tâm áp biệt năng của chị, làm chị không còn thích hợp để cất Hắc Tửu. Constantin rất bực, đương nhiên rồi, và mặc dù ả không bao giờ quên Holly Sykes hay đứa em trai Jacko đầy hứa hẹn, ả đã tiếp tục đi săn những con mồi khác.”
“Lịch trình tính toán đó giữ cho Ẩn Sĩ luôn bận rộn,” Arkady nói. “Ẩn Sĩ duy trì số lượng mười hai người, vậy là cứ ba năm mỗi Ẩn Sĩ phải săn tìm một vị khách có thể thanh linh. Không được đánh thuốc con mồi, cho vào bị và kéo lên Nhà Nguyện. Ẩn Sĩ phải kết bạn với con mồi, như cách Constantin kết bạn với chị. Nếu con mồi không tỉnh táo và bình tâm trong quá trình thanh linh, Hắc Tửu sẽ không được thuần khiết. Đó đúng là một loại rượu quý tinh tế.”
Những nhân vật trong tranh nhìn chúng tôi. Thật là những câu chuyện lạ lùng.
“Vậy ý của cậu là,” Holly cố gắng hết sức, “Cô Constantin và Ẩn Sĩ đã bắt cóc Jacko và… uống linh hồn nó? Ý các người là vậy sao?” Tiếng đồng hồ tích tắc, là tĩnh, hay là động, tùy tâm.
“Vấn đề ở chỗ Jacko là…” tôi nhắm mắt lại và ngầm-nói Chúc tôi may mắn đi với Arkady “…anh ấy là một người trong chúng tôi” Đâu đó có tiếng sấm sét, hay có lẽ là tiếng xe rác.
“Jacko là em trai tôi.” Holly nói chậm rãi. “Nó chỉ mới bảy tuổi.”
“Thân xác của anh ấy bảy tuổi,” Arkady nói. “Nhưng thân xác ấy cũng chính là lưu thể của linh hồn Xi Lo, một Trắc Sĩ. Xi Lo lớn tuổi hơn nhiều, hơn rất nhiều.”
Holly lắc đầu, chật vật với ý tưởng kỳ quái đó.
Tôi hỏi, “Chị còn nhớ lúc Jacko bị viêm màng não không, lúc lên năm?”
“Đương nhiên tôi nhớ. Suýt nữa thì nó đã chết.”
Đến nước này chỉ có cách tiếp tục nói. “Chị Sykes, Jacko thực đã chết hôm đó.”
Lời nói ấy là một sự sỉ nhục, là đòn chà đạp lên vết thương, và Holly đã chịu hết nổi. “À, xin lỗi… nhưng lúc đó nó không chết! Tôi có ở đó mà!”
Không còn cách nào khác. “Linh hồn của Jack Martin Sykes rời bỏ thân xác lúc hai giờ hai mươi ba phút buổi sáng ngày mười sáu tháng Mười năm 1982. Đến hai giờ hai mươi bốn phút, linh hồn của Xi Lo, tức Trắc Sĩ lớn tuổi nhất và giỏi nhất của Trắc Thời Phái đã có được lưu thể mới. Ngay lúc cha chị hét gọi cấp cứu, thân xác của Jacko đã hết nguy hiểm. Nhưng linh hồn Jacko khi đó đã băng qua Bụi Tối.”
Im lặng đáng sợ. “Vậy…” cánh mũi Holly phập phồng “…em trai tôi là thứ sống dở chết dở, ý cô là vậy?”
“Jacko có thân xác của Jacko,” Arkady tiếp, “với những thói quen tâm trí của Jacko, nhưng có linh hồn và ký ức của Xi Lo.”
Holly rùng mình, choáng váng. “Tại sao lại đi nói những chuyện như vậy?”
“Câu hỏi hay,” Arkady tiếp. “Tại sao chúng tôi lại nói thế, nếu đó không phải là sự thật?”
Holly đứng dậy, ghế cô ngồi ngã ra sau. “Thường chung quy cũng vì tiền.”
“Trắc Thời Phái được sáng lập vào năm 1598.” Arkady nói bâng quơ. “Chúng tôi đã đầu tư ở một vài nơi qua năm tháng. Chị yên tâm, không ai đụng gì đến của để dành của chị.”
Cẩn thận đấy, tôi ngầm-lệnh Arkady. “Chị hãy nhớ lại những nết lạ thường ở Jacko,” tôi hỏi Holly, “Tại sao một cậu bé người Anh lại nghe đài tiếng Hoa?”
“Bởi vì… Jacko thấy êm tai.”
“Tiếng Quan Thoại là tiếng mẹ đẻ của Xi Lo,” tôi giải thích.
“Tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ của Jacko! Mẹ tôi là mẹ của nó! Quán Thuyền Trưởng Marlow là nhà nó. Chúng tôi là gia đình nó. Chúng tôi đã rất yêu thương nó. Đến giờ vẫn vậy.” Holly chớp mắt, đẩy ngược nước mắt vào trong. “Đến tận hôm nay.”
“Và Xi Lo-trong-Jacko cũng yêu chị,” tôi nhẹ nhàng đáp. “Yêu chị rất nhiều. Anh ấy cũng yêu cả Newky, con chó hôi nhất Kent. Tất cả tình cảm đó là thật. Nhưng tất cả những gì chúng tôi đang nói cũng là thật. Linh hồn của Xi Lo lớn tuổi hơn quán nhà chị. Lớn tuổi hơn nước Anh. Lớn tuổi hơn cả Thiên Chúa giáo.”
Holly đã nghe quá đủ. Cô dựng chiếc ghế bị ngã lên. “Chuyến bay về lại Dublin cất cánh chiều nay, tôi sẽ đáp chuyến bay đó. Những chuyện cô nói, có những chỗ… tôi tin, chỗ tôi không thể tin. Phần lớn, tôi không biết. Vụ cấy mộng thật đáng kinh ngạc. Nhưng… mất rất lâu tôi mới thôi tự đổ lỗi cho mình về Jacko, mà giờ đây cô lại khơi ra vết thương cũ đó.” Cô mặc áo khoác vào. “Tôi sống một cuộc đời yên tĩnh với sách vở và mèo ở Tây Ireland. Toàn những thứ bình thường, gần gũi, nhỏ nhặt.
Cái cô Holly Sykes viết Người Trên Đài, có lẽ cô ta tin được vào Vô Thời Khách, vào thầy tu ma thuật, nhưng tôi không còn là cô ta nữa. Nếu cô là Marinus, chúc cô may mắn với… gì gì nữa.” Holly lấy túi xách, đặt chìa khóa màu xanh lên bàn và ra cửa. “Chào. Tôi đi đây.” Tôi huấn lệnh cho cô ta ở lại nhé? Arkady ngầm-hỏi.
Nếu sự hợp tác của cô ấy bị ép buộc, thì đâu còn là hợp tác nữa. “Chúng tôi hiểu,” tôi nói với Holly. “Cảm ơn chị đã đã ghé thăm.” Arkady ngầm-nhắc tôi, Còn Esther thì sao?
Quá nhiều, quá nhanh, quá sớm. Nói gì tử tế đi.
“Xin lỗi chị, tôi đã ăn nói hàm hồ,” Arkady nói. “Vẫn còn nông nổi mới lớn.”
Holly nói, “Gởi lời chào quản gia của Người Dơi.”
“Tôi sẽ nhắn lại,” tôi đáp, “và au revoir, chị Sykes.”
Holly đã đóng cửa lại. Lúc này hẳn Ẩn Sĩ đã biết cô ấy đến đây, Arkady ngầm-nói. Hay ta bảo Ōshima đi theo sát cô ấy?
Tôi không nghĩ thế. Pfenninger sẽ không từ bỏ kế hoạch tinh vi của mình chỉ vì một đòn tấn công vội vã.
Nếu họ nghi ngờ rằng Esther Little náu bên trong đầu Holly, ngón tay Arkady làm hình khẩu súng, họ sẽ tấn công ngay, thật mạnh.
Tôi uống trà nguội lạnh, cố nhìn những sự việc sáng nay qua con mắt Ẩn Sĩ. Làm sao họ biết được Esther náu trong Holly?
Họ không biết chắc. Arkady lau mắt kính bằng tay áo sơ mi Nehru. Nhưng họ có thể đoán, và quyết định khử luôn cô ta cho chắc ăn.
““Khử luôn cô ta” Xem nhiều phim xã hội đen quá đấy, Arkady.” Máy của tôi đổ chuông. Màn hình hiện NGƯỜI GỌI ẨN và tôi có linh cảm tin xấu, ngay cả trước khi nghe giọng Elijah D’Arnoq: “Tạ ơn Chúa, Marinus. Tôi đây, D’Arnoq đây. Nghe này, tôi vừa nghe được: Constantin mới điều động một nhóm đi bắt cóc và phân linh Holly Sykes. Họ sẽ không đợi cô ấy đồng ý đâu. Hãy chặn họ lại.” Những lời đó như ngấm vào tâm trí tôi. “Bao giờ?”
“Ngay bây giờ,” D’Arnoq trả lời.
“Ở đâu?” tôi hỏi.
“Có lẽ là ở khách sạn của cô ấy. Nhanh lên.”
Ōshima đợi bên kia đường khi tôi đến, cổ áo khoác anh dựng lên, chiếc mũ vành lấm tấm nước mưa nghiêng xuống thấp. Anh hất đầu về hướng đại lộ Park Avenue, ngầm-nói, Tôi đoán là phỏng vấn đã thất bại.
Tôi nhận ra Holly từ phía sau nhờ có chiếc áo khoác đen dài và khăn quấn đầu. Sai lầm của tôi. Tôi nói với cô ấy rằng Jacko lớn tuổi hơn cả chúa Jesus. Tôi đứng qua một bên nhường đường cho một tay trượt ván. Việc khẩn đây, D’Arnoq vừa liên lạc, tôi ngầm đáp, để báo rằng một nhóm vừa được điều động để đi đón cô ấy về phân linh. Tôi mở cây dù màu cầu vồng ra như giương khiên, rồi cả hai bắt đầu đi, Ōshima bước cùng nhịp với tôi và giữ vị trí về phía nam của con phố, còn tôi ở phía bắc.
Thế thì nhắc tôi lần nữa, Ōshima ngầm-nói, tại sao ta không huấn lệnh, để cô ấy làm một giấc thật sâu, rồi đi vào đó mà ngầm-hò lơ gọi Esther?
Một, làm vậy trái với Phái Luật. Hai, mắt chakra của cô ấy vẫn còn tiềm ẩn, cô ấy có thể phản ứng mạnh với phân linh và tự xóa ký ức, xóa luôn những kẻ đang náu trong đó. Ba… chừng đó đủ rồi. Nhưng ta sẽ cần thiện chí của cô ấy. Ta chỉ nên đặt huấn lệnh nếu không còn cách nào khác.
Hình người trên đèn giao thông chớp xanh khi Holly đến đại lộ Park Avenue, vậy là Ōshima và tôi bước vội, né xe cộ và bị nhấn còi inh tai khi cố không bị kẹt lại trên tiểu đảo giữa đường. Chúng tôi sải bước dài hơn, đến cách Holly chừng hai mươi bước. Ōshima ngầm-hỏi, Ta có chiến lược gì ở đây không hả Marinus, hay ta chỉ đi theo cô ấy như một cặp ma xó?
Từ đây đến khách sạn cứ giữ một khoảng cách để cô ấy nghĩ lại những điều vừa mới biết. Lá mới và cây cũ nhỏ giọt, máng xối ào ạt, ống cống rột rạt. Nếu may mắn, phép màu của công viên sẽ tác động lên cô ấy. Nếu không, ta phải tự xoay. Một người canh cửa ngước nhìn màn mưa từ dưới mái hiên. Chúng tôi đến đại lộ Madison, Holly đợi trong mưa bụi, tôi đứng ở lối đi của một cửa hiệu nhỏ, ngắm người dẫn chó đi dạo, người Do Thái phái Hasidic, doanh nhân trông có vẻ là dân Ả rập ở đằng kia. Một vài chiếc taxi chạy chậm lại, khấp khởi chờ một cuốc xe nhưng Holly chỉ nhìn chăm chăm vào công viên Central Park như hình chữ nhật màu xanh lá ở cuối dãy phố. Tâm trí cô ấy hẳn đang rối bời. Viết một cuốn hồi ký kể lại những điều lạ lùng thi thoảng xảy đến là một chuyện, nhưng để những điều lạ lùng đó cấy mộng, mời trà Ireland và đặt ra cả một lý thuyết vũ trụ mới, lại là chuyện khác. Có lẽ Ōshima đã nói đúng: có lẽ tôi nên huấn lệnh, đưa cô ấy về lại nhà 119A. Một cuộc đời siêu linh dài một ngàn bốn trăm năm vẫn không thể đảm bảo rằng ta luôn biết được phải làm gì.
Đèn hiệu DỪNG BƯỚC chuyển thành BƯỚC và tôi bị nhỡ mất cơ hội. Băng qua đại lộ Madison, tôi nếm mùi hoang tưởng, cứ liếc nhìn người trong xe cộ đang đứng đợi, chỉ chực thấy Pfenninger hay Constantin nhìn chằm chằm lại với con mắt sát thủ. Ở dãy phố cuối cùng trước công viên người đi bộ đông lên, vậy là tôi càng nôn nao. Người chạy bộ mang kính iShades với xe đẩy em bé kia có phải đang chạy bộ thật không? Chẳng phải tấm rèm cửa đó hơi giật lên khi Holly đi ngang qua sao? Tại sao tay nhân viên đo đạc trẻ tuổi với giá tripod đó lại nhìn một phụ nữ gầy gò năm mươi tuổi chăm chú đến vậy? Anh ta cũng nhìn cả tôi nữa, nên có lẽ chỉ đơn giản là không khó tính kén chọn gì. Ōshima giữ nhịp với tôi trên vỉa hè đối diện, anh hòa vào dòng người buổi sáng tốt hơn tôi nhiều. Chúng tôi qua Nhà thờ Thánh James, gác chuông gạch đỏ một thời từng cao nhất ở vùng Manhattan quê mùa. Yu Leon Marinus từng dự một đám cưới ở đây năm 1968. Cô dâu và chú rể hẳn bây giờ đã ngoài tám mươi, nếu còn sống.
Trên đại lộ số Năm, xe cộ rối reng, con người cáu kỉnh. Holly đứng sau một nhóm khách du lịch Trung Quốc. Họ đồng ý với nhau, lớn giọng bằng tiếng Quảng Đông rằng New York nhỏ hơn, tồi tàn hơn, tệ hại hơn họ tưởng. Bên kia đường. Ōshima thoải mái dựa người vào góc trước bảo tàng Frick Collection, mũ che kín mặt. Một xe buýt chạy qua với quảng cáo công nghệ số về bộ phim mới ra dựa trên Tiếng Vọng Phải Chết của Crispin Hershey, nhưng Holly nhìn trân trân về phía công viên. Tôi bình tĩnh lại. Bản năng tôi cho biết từ đây đến khách sạn trên Broadway vẫn còn an toàn. Nếu đến lúc đó mà cô ấy vẫn không quay lại, tôi sẽ phải lờ đi lương tâm và huấn lệnh Holly, để đảm bảo an toàn cho chính cô ấy. Ẩn Sĩ sẽ không ra tay vội vàng. Hậu quả của một vụ ám sát nơi công cộng sẽ vô cùng rắc rối. Hiện thực trên đại lộ số Năm buổi sáng mưa bụi này vẫn tiếp diễn như tôi đang thấy.
Một chiếc xe hai cầu của cảnh sát New York dừng trên vỉa hè, một nữ cảnh sát trẻ nhảy ra, chìa thẻ căn cước. “Thưa bà, bà có phải là Holly Sykes không?”
Holly bị kéo về với thực tại. “Vâng, tôi… vâng… là…”
“Và bà là mẹ của Aoife Brubeck?”
Tôi tìm Ōshima, anh đã bắt đầu băng qua đường. Một nam cảnh sát to con đến gần chỗ đồng nghiệp. “Holly Sykes?”
“Vâng.” Tay Holly đưa lên miệng. “Aoife không sao chứ?”
“Bà Sykes,” nữ cảnh sát nói như súng bắn liên thanh, “đơn vị của chúng tôi có nhận một cuộc gọi từ văn phòng lãnh sự Anh quốc, nhờ phát cảnh báo toàn đơn vị tìm bà - chúng tôi nhỡ mất bà chỉ trong vòng vài phút ở khách sạn hồi sớm. Tôi e là con gái bà bị tai nạn xe hơi ở Athens tối hôm qua. Cô ấy đã qua phẫu thuật, hiện giờ đã ổn định, nhưng bà được yêu cầu trở về nhà trên chuyến bay sớm nhất. Bà Sykes? Bà có nghe tôi nói gì không?”
“Athens?” Holly dựa người vào đầu xe cảnh sát. “Nhưng Aoife đang ở trên đảo… Gì kia… Vậy nó bị…”
“Thưa bà, chúng tôi thực sự không có thông tin chi tiết, nhưng chúng tôi sẽ lái xe đưa bà về khách sạn Empire để thu dọn hành lý. Rồi chúng tôi sẽ đưa bà ra sân bay.”
Tôi bước đến một bước nữa để nhận ra mình không biết phải làm gì, nhưng Ōshima kéo tôi lại: Tôi rà thấy tâm áp cực mạnh trong xe; nếu đó là một Ẩn Sĩ bậc cao và ta giao đấu ngay trên đại lộ số Năm, mọi thùy não cá ngựa trong vòng bán kính năm mươi mét sẽ tan tác, kể cả não của Holly. FBI, Bộ An ninh nội địa, ai biết rồi kẻ nào sẽ đi rà những đoạn băng ghi hình chúng ta, sẽ trông vô cùng khả nghi, đi theo Holly từ 199A đến đây?
Ōshima nói đúng, nhưng Ta không thể đứng im mà để họ mang cô ấy đi.
Trong khi đó Holly nửa bị dỗ dành, nửa bị lùa vào xe cảnh sát. Cô cố hỏi thêm nhưng vừa trải qua một buổi sáng cực kỳ rối reng, cô sợ hãi đến bị động. Cũng có thể cô đang bị áp huấn lệnh. Đau đớn bất lực, tôi nhìn cửa xe đóng sầm và xe lướt đi, hòa vào dòng xe cộ, băng qua giao lộ trước khi đèn chuyển màu đỏ. Cửa sổ xe bị che tối nên không thể biết ta đang đối mặt với ai, bao nhiêu người. Đèn hiệu báo BƯỚC và khách bộ hành bắt đầu qua đường. Sáu mươi giây là đủ để bỏ lỡ và phá hủy Sứ Mệnh Thứ Hai của chúng tôi.
Ōshima đi trước tôi ở giao lộ. “Tôi sẽ vận linh.”
“Không, Ōshima, là sai lầm phán đoán của tôi, vậy nên…”
“Đợi sau hẵng mặc áo gai sám hối. Tôi vận linh tốt hơn, và tôi tàn bạo hơn. Chị biết mà.” Không có thời giờ mà tranh cãi. Chúng tôi bước qua bức tường thấp ở công viên cạnh khu tưởng niệm Richard Morris Hunt, rồi ngồi xuống một băng ghế ẩm ướt. Một tay anh giữ lấy tay vịn ghế, tay kia nắm lấy tay tôi. Chị nối linh tuyến với tôi đi, Ōshima ngầm-đề nghị. Tôi sẽ cần lời khuyên của chị, dù muốn dù không.
“Thôi thì đành vậy. Nhưng tôi sẽ luôn ở bên anh.”
Anh siết bàn tay tôi, nhắm mắt lại, cơ thể anh hơi rũ xuống khi xuất linh qua mắt chakra. Ngay cả đối với những kẻ có tâm biệt năng, linh hồn vẫn nằm ở ranh giới của những gì có thể thấy được, như một hòn bi thủy tinh trong suốt trong lọ nước, và linh hồn của Ōshima biến mất trong tích tắc khi anh vận linh lên giữa những cành cây đang nhỏ giọt và khu tượng đài dãi dầu mưa nắng. Tôi kéo mũ của Ōshima xuống che gương mặt anh rồi giương dù che cả hai. Một thân xác không linh hồn trông giống với một ca cần cấp cứu, và đã lắm bận trong suốt cuộc đời siêu linh của mình, khi nhập linh trở lại tôi thấy mũi mình đầy muối ngửi, hoặc một động mạch đang chảy máu, hay một người có bệnh hôi miệng đang làm hô hấp nhân tạo chuệch choạc cho mình. Lại nữa, khi tôi hòa mắt chakra của cả hai, Ōshima và tôi trông giống một cặp tình nhân. Ngay cả với chuẩn mực phóng khoáng của New York, hẳn người qua đường cũng được một phen há hốc miệng.
Tôi nối linh tuyến với Ōshima…
… và hình ảnh từ linh hồn Ōshima truyền thẳng vào tâm trí tôi. Anh đang lượn qua một kính vạn hoa lập thể của những đèn thắng, giá trần xe, nóc xe, cành cây và những chiếc lá non vừa nhú. Rồi chúng tôi sà xuống, qua cửa sau của một chiếc xa tải, giữa những xác lợn đong đưa trên móc treo, qua buồng phổi ám khói thuốc của lái xe, rồi ra ngoài qua kính chắn gió, bay vòng lên qua xe tải chở bưu kiện United Parcels, và cao hơn nữa, khiến một con bồ câu cổ vòng đang đậu trên đèn đường giật mình sảy chân. Ōshima lơ lửng một lúc, tìm chiếc xe cảnh sát. Chị có đấy không, Marinus?
Tôi đây, tôi ngầm-đáp.
Chị thấy chiếc xe cảnh sát ở đâu không?
Không. Một xe rác tiến tới và tôi thấy màu vàng của xe buýt trường học: Tìm gần chiếc xe buýt đó xem sao.
Ōshima bay xuống thấp, qua cửa sổ phía sau của xe buýt, dọc theo lối đi giữa hai hàng ghế, giữa bốn mươi đứa trẻ đang cãi nhau, nói chuyện, túm tụm quanh một máy bảng 3D, nhìn mông lung và vượt qua khỏi tài xế và…
… còi hụ và đèn của xe cảnh sát, đang chậm rãi né tránh xe cộ. Ōshima vào trong qua kính chắn gió phía sau, lơ lửng trong giây lát, lượn vòng, để tôi thấy hết những gì mà chúng tôi đang phải đối mặt. Bên trái Holly là nữ cảnh sát - hoặc một người giả định là cảnh sát. Lái xe là người đàn ông lực lưỡng từng giúp lùa Holly vào xe. Ngồi bên phải Holly là một người đàn ông mặc đồ vét và đeo siêu kính râm Samsung, che hết nửa mặt, nhưng chúng tôi biết người này. Drummond Brzycki, Ōshima ngầm-lên tiếng.
Một lựa chọn lạ lùng. Brzycki là Ẩn Sĩ mới nhất và yếu nhất.
Có lẽ họ nghĩ sẽ không có vấn đề gì, Ōshima đoán.
Có lẽ hắn là con tốt thí, tôi ngầm-đáp.
Tôi sẽ nhập linh vào cô ả, Ōshima ngầm-nói, xem ả được lệnh làm gì. Anh nhập vào mắt chakra của nữ cảnh sát và tôi bắt đầu có cảm giác của ả. “Em gái à, tụi tui chỉ biết,” ả đang nói với Holly, “những thứ tui vừa nói đó. Nếu biết nhiều hơn tui đã nói rồi. Thiệt tui cũng sốt ruột lắm. Tui cũng là mẹ mà. Hai con nhỏ.”
“Nhưng xương sống của Aoife ổn chứ? Có nguy hiểm…”
“Bà đừng căng thẳng quá, bà Sykes à.” Drummond Brzycki lật mắt kính lên. Brzycki có vẻ bảnh bao của một tay thủ môn Địa Trung Hải, tóc đen mướt mát và giọng mũi, nghe như ong vò vẽ mắc kẹt trong ly rượu.
“Ông lãnh sự họp xong lúc mười giờ. Chúng tôi sẽ gọi máy trực tiếp cho ông ấy, nên ông ấy biết được chuyện gì thì bà cũng sẽ biết. Được không?”
Xe dừng ở đèn đỏ, người đi bộ băng qua đường thành dòng. “Có thể tôi sẽ tìm được số điện thoại của bệnh viện,” Holly nói, rút máy từ trong túi xách ra. “Athens đâu phải là thành phố lớn…”
“Nếu bà nói tiếng Hi Lạp,” Brzycki đáp, “thì cứ gọi, chúc may mắn. Còn không thì nên giữ máy sẵn sàng nhận cuộc gọi. Đừng vội nghĩ chuyện không may. Chúng tôi sẽ dùng làn xe khẩn cấp để bà đáp được chuyến mười một giờ bốn mươi lăm phút đến Athens. Bà sẽ sớm gặp Aoife.”
Holly bỏ máy trở lại vào túi. “Cảnh sát ở nước tôi không bao giờ cất công đến vậy.” Một xe đạp đưa thư chạy vèo qua, dòng xe cùng đổ về phía trước. “Nhưng làm sao các anh chị tìm được tôi vậy?”
“Tôi là thanh tra Marr,” Brzycki đáp. “Kim đáy bể có khi vẫn tìm được. Đơn vị tôi phát lệnh Mười Lăm và mặc dù ‘phụ nữ da trắng người gầy, chừng năm mươi tuổi, mặc áo khoác đi mưa màu đen dài đến gối’ rất khó khoanh vùng vào một ngày mưa ở Manhattan, nhưng bà đúng là có ơn trên phù hộ. Thực lòng, có lẽ nói lúc này không phải phép, nhưng Hạ Sĩ Lewis ngồi đằng trước, anh ấy là một người rất hâm mộ bà. Anh ấy chở tôi từ đường số 98 xuống vòng xoay Columbus, rồi Lewis nói, ‘Lạy Chúa, là bà ấy!’ Có đúng thế không hả Tony?”
“Đúng vậy. Tôi đã xem bà nói chuyện ở trung tâm Symphony Space, bà Sykes, lúc Người Trên Đài vừa mới ra,” tay lái xe tiếp. “Sau khi vợ tôi chết, cuốn sách của bà như ngọn lửa trong bóng tối. Nó đã cứu tôi.”
“Ôi, tôi…” Holly rối reng đến nỗi câu chuyện kỳ khôi này nghe cũng lọt tai “…rất mừng là nó cũng có ích.” Xe rác chạy đến bên cạnh. “Và tôi xin chia buồn với mất mát của anh.”
“Cảm ơn bà, bà Sykes. Thật lòng.”
Sau một giây, Holly mở máy. “Tôi sẽ gọi cho Sharon, em gái tôi. Nó ở Anh, nhưng có lẽ ta có thể biết thêm về Aoife từ đó.”
Dòng truyền chợt nhấp nháy và mờ dần. Linh tuyến đang yếu dần, tôi ngầm-cảnh báo Ōshima. Anh biết gì về lưu thể này rồi?
Tên là Nancy, ghét chuột, đã giết người tám lần, câu trả lời chậm trễ truyền đến. Một đứa bé đi lính ở Nam Sudan. Đây là lần đầu tiên làm cho Brzycki… Marinus, ‘Curarequinoline’ là gì thế?
Tin xấu. Một chất độc. Một milligram có thể làm trụy phổi trong trong mười giây. Điều tra viên không bao giờ thử tìm chất đó khi khám tử thi. Tại sao?
Nancy và Brzycki có curarequinoline trong súng bắn thuốc mê. Ta có thể kết luận không phải vì lý do tự vệ.
“Tôi sẽ gọi về sở lần nữa,” Brzycki nói, vẻ chu đáo. “Để xem họ có tên bệnh viện của con gái bà ở Athens không. Ít ra bà cũng sẽ liên lạc trực tiếp được.”
“Tôi không biết làm sao để cảm ơn anh.” Holly tái mặt, như sắp nôn.
Brzycki đẩy kính xuống. “Số Hai? Đơn vị hai mươi tám, nghe rõ không, số Hai?”
Đột ngột, tai nghe trong mũ bảo hiểm của Nancy được kích hoạt, và tôi nghe giọng Immaculée Constantin. “Rõ như chuông. Tóm lại, ta nên chọn phương án an toàn. Loại trừ khách của ngươi đi.”
Sốc đến choáng nhưng tôi cố gọi: Ōshima, đưa cô ấy ra! Nhưng đáp lại lời tôi chỉ là một loạt tiếng động như bão tuyết ở cuối linh tuyến đã bị kéo giãn quá mức. Ōshima không nghe được tiếng tôi, hoặc không đáp được, hoặc cả hai.
Tín hiệu rõ trở lại. “Rõ rồi, số Hai,” Brzycki đang nói, “nhưng vị trí hiện thời của chúng tôi là đường số Năm và phía đông đường số 68, giao thông vẫn còn ngừng trệ. Vậy tôi đề nghị ta trì hoãn hiệu lệnh cuối cùng cho đến…”
“Cho ả Sykes đó một liều thuốc mê vào mỗi cánh tay,” Constantin ra lệnh bằng giọng mềm mại. “Không hoãn gì cả. Làm đi.”
Tôi ngầm-hét thật lớn, Ōshima, đưa cô ấy ra đưa cô ấy ra!
Nhưng không có lời đáp nào từ linh hồn của anh ấy, hay từ thân xác trơ trơ đang dựa vào tôi trên ghế, chỉ cách chiếc xe cảnh sát một dãy phố. Giờ tôi chỉ có thể quan sát qua linh tuyến cảnh tượng một phụ nữ vô tội bị giết chết, chính là người tôi đã túm cổ kéo vào Chiến Tranh. Tôi không thể vận linh xa như vậy, và ngay cả khi làm được, cũng sẽ quá trễ.
“Hiểu rồi, số Hai, sẽ tiến hành như lệnh.” Brzycki gật đầu với Lewis qua gương, rồi với Nancy.
Holly hỏi, “Có tìm được số điện thoại bệnh viện không, Thanh tra Marr?”
“Thư kí của tụi tôi đang tìm.” Brzycki mở túi súng thuốc mê, tháo chốt an toàn; trong khi đó, từ tầm nhìn hiện tại của tôi, Nancy (thuận tay trái) cũng làm thế.
“Tại sao,” giọng Holly thay đổi, “các người lại cần súng?”
Theo phản xạ, tôi cố huấn lệnh cho Nancy dừng lại, nhưng không thể huấn lệnh dọc theo linh tuyến và tôi chỉ còn biết kinh hãi mà nhìn Nancy bắn súng thuốc mê vào… cổ họng Brzycki, một chấm đỏ tí xíu xuất hiện trên trái cổ hắn. Ẩn Sĩ sờ lên chấm đỏ, sửng sốt, nhìn vết đỏ trên ngón tay, rồi nhìn Nancy, thốt lên “Cái quái…”
Brzycki gục xuống, chết tại chỗ. Lewis đang la hét, như ở dưới nước, “Nancy, cô điên mẹ nó rồi sao?” hay Nancy nghĩ mình đã nghe thấy vậy, khi ả cầm súng của Brzycki và không nói năng gì, bắn thẳng vào má của Lewis. Lewis hắt ra một tiếng the thé kinh hãi. Nancy - người đang bị Ōshima huấn lệnh không thương tiếc, tự dưng sau đó thấy mình leo qua người Holly, vào ghế trước trong khi Lewis lẩy bẩy trút hơi thở cuối cùng. Cô ta tự còng tay mình vào vô-lăng và mở khóa cửa sau. Để kết, Ōshima xóa sạch một vùng ký ức hiện tại hoàn thành của Nancy rồi cho ả bất tỉnh trước khi xuất linh khỏi ả và nhập linh vào Holly đang choáng váng. Ōshima tâm-gây mê lưu thể mới ngay lập tức và tôi nhìn bằng con mắt của Holly khi cô đeo kính râm, kiểm tra lại khăn quấn đầu, chui ra khỏi xe cảnh sát rồi bình thản đi bộ ngược trở lại đại lộ Park Avenue về phía bảo tàng Frick Collection. Linh tuyến dội tiếng sột soạt, giọng Ōshima trở lại: Marinus, chị có nghe tôi không?
Tôi cho phép mình thở phào nhẹ nhõm. Vô cùng ngoạn mục, Ōshima.
Chiến tranh mà, chiến binh già ngầm-đáp, rồi bây giờ đến vấn đề hậu cần. Ta đang có một nhà văn đã về hưu quấn khăn màu nổi bước ra khỏi xe tuần tra của cảnh sát, trong xe có hai cảnh sát giả vừa chết và một cảnh sát giả còn sống. Chị có cao kiến gì không?
Đem Holly về đây và quay trở lại, tôi ngầm-khuyên Ōshima. Trong khi anh làm vậy, tôi sẽ gọi L’Ohkna và nhờ anh ấy xóa sạch mọi máy ghi hình ở khu Upper East Side.
Ōshima-trong-Holly sải bước. Tay nghiện ngập ấy có làm được không?
Nếu có cách làm được, anh ấy sẽ tìm ra. Nếu không, anh ấy sẽ tự tạo ra cách.
Rồi sao nữa? 119A rõ không phải là pháo đài an toàn như ngày xưa.
Đồng ý. Ta sẽ đáp tại nhà của Unalaq. Tôi sẽ nhờ chị ấy đến cứu chúng ta. Tôi tháo linh tuyến đây, gặp anh sau. Tôi mở mắt ra. Chiếc dù của tôi vẫn đang che nửa thân thể Ōshima và tôi, nhưng một con sóc xám đang ngửi giày tôi, vẻ tò mò. Tôi xoay bàn chân. Con sóc biến mất.
“Về tới nhà rồi,” Unalaq thông báo. Chị dừng xe ngay trước cửa, cạnh Hiệu sách Ba Cuộc Đời[60] ở góc đường Waverley Place và đường số 10 phía Tây. Unalaq để nguyên đèn báo nguy hiểm trên xe, tôi dìu Holly trên vỉa hè, Ōshima đứng canh như thầy tu sát thủ. Holly vẫn còn lơ mơ từ liều tâm-gây mê, và chúng tôi thu hút sự chú ý của một người đàn ông cao gầy có râu, đeo kính gọng thép. “Ê, Unalaq, ổn cả chứ?”
“Ổn cả, Toby,” Unalaq đáp. “Bạn tôi vừa đáp máy bay từ Dublin, chị ấy vốn sợ đi máy bay, vậy là uống một viên thuốc ngủ. Thuốc hơi bị tốt.”
“Rõ rồi. Nên giờ vẫn còn bay trên độ cao hai mươi nghìn foot.”
“Lần tới chị ấy sẽ chỉ uống một ly vang trắng thôi, tôi nghĩ thế.”
“Lát nhớ xuống cửa hàng. Sách tiếng Phạn của cô về rồi đó.”
“Sẽ xuống, Toby, cảm ơn nhé.” Unalaq tìm ra chìa khóa nhưng Inez đã kịp mở cửa trước. Gương mặt cô căng thẳng lo lắng, như thể Unalaq mới là người thường yếu đuối, chứ không phải chính cô. Inez gật đầu với Ōshima và tôi, rồi liếc nhìn Holly, lo lắng.
“Cô ấy sẽ ổn sau khi ngủ vài tiếng,” tôi nói.
Vẻ mặt của Inez như muốn nói, Tôi mong là chị nói đúng, rồi cô đi đỗ xe ở bãi ngầm gần đó. Unalaq dẫn chúng tôi lên cầu thang, vào bên trong, đi dọc lối sảnh và vào thang máy bé tí. Không có đủ chỗ cho Ōshima. Anh chạy lên theo thang bộ. Tôi bấm nút lên. Nghĩ gì vậy, nói đi, tôi cho một đô la, Unalaq ngầm-nói Thời tôi là Yu Leon thì chỉ được một xu thôi.
Lạm phát mà, Unalaq nhún vai, tóc chị nảy lên. Liệu có chuyện Esther còn sống đâu đó trong cái đầu này không?
Tôi nhìn gương mặt Holly, một gương mặt cân đối, có nếp nhăn, căng thẳng. Cô rên rỉ như một người ngủ mơ bị quấy rầy, không thể tỉnh giấc được. Tôi hi vọng thế, Unalaq. Nếu Esther luận được đúng Kịch Bản. Tôi không biết tại sao Constantin muốn Holly chết. Cũng không biết liệu Elijah D’Arnoq có nói thật không. Hay phải chăng ta đã xử lý sai vụ Sadaqat. “Thực lòng, tôi không biết gì cả,” tôi thổ lộ với người bạn năm trăm năm tuổi của mình.
“Ít ra,” Unalaq thổi cọng tóc màu đồng vương trên mũi, “Ẩn Sĩ không thể lợi dụng tính tự đắc của chị.”
Holly đang ngủ, Ōshima xem Bố già phần II, Unalaq làm món rau trộn và Inez mời tôi chơi chiếc piano đứng hiệu Steinway, vì người chỉnh đàn vừa đến hôm qua. Gác mái đặt đàn nhìn ra quang cảnh đường Waverley Place, căn phòng nhỏ thơm mùi cam và chanh trong những kiện gỗ mà mẹ Inez gởi từ Florida. Một tấm ảnh chụp Inez và Unalaq đặt trên chiếc Steinway. Trong ảnh hai người mặc đồ trượt tuyết trên đỉnh núi phủ trắng, như những nhà thám hiểm gan dạ. Unalaq hẳn đã không nói về Sứ Mệnh Thứ Hai với bạn đời, nhưng Inez vốn không ngốc và hẳn đã linh cảm sắp có chuyện lớn. Một kẻ Hữu Thời yêu một kẻ Vô Thời thì cũng ngang trái không kém gì một kẻ Vô Thời yêu một kẻ Hữu Thời. Quyết định của tôi trong tuần này không chỉ ảnh hưởng đến tương lai của Trắc Thời Phái, mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của những người thân, đồng nghiệp, bệnh nhân, tất cả những người sẽ bị tổn thương nếu chúng tôi không trở về, cũng như cuộc đời Holly đã bị tổn thương vì cái chết của Xi Lo-trong-Jacko hồi Sứ Mệnh Thứ Nhất. Một khi ta đã yêu thương và được yêu thương, việc gì ta làm cũng sẽ ảnh hưởng đến kẻ khác.
Vậy là tôi lật qua mấy tờ nhạc bướm của Inez rồi chọn Preludes and Fugues tinh nghịch của Shostakovich. Cực khó nhưng thật đáng chơi. Rồi tôi chơi bản Hughe Ashton’s Ground của William Byrd để tráng khẩu vị, rồi đến vài bản dân gian Thụy Điển của Jan Johannson, chơi chỉ để mà chơi. Từ trí nhớ tôi chơi K32, K212, và K9 của Scarlatti. Những bản sonata của nhạc sĩ người Ý cũng là Sợi Chỉ của Nàng Ariadne, nối kết Iris Marinus-Fenby, Yu Leon Marinus, Jamini Marinus Choudary, Pablo Antay Marinus, Klara Marinus Koskov và Lucas Marinus- lưu thể đầu tiên khám phá ra Scarlatti, từ những ngày tháng ở Nhật Bản. Tôi đổi chác với Zoet để có tờ nhạc bướm, tôi còn nhớ, và vẫn chơi K9 chỉ vài giờ trước khi chết vào tháng Bảy năm 1811. Vài tuần trước đó tôi đã cảm thấy cái chết đang tới gần, và đã thu vén việc riêng, như người ta vẫn thường nói. Eelattu bạn tôi cho tôi ngất đi bằng một ống morphine đã trữ sẵn cho dịp ấy. Tôi cảm thấy linh hồn mình trôi lên từ Ánh Sáng của Ngày, lên Rặng Cao, và tự hỏi tôi sẽ tái sinh ở đâu. Trong lều của người da đỏ hay trong cung điện hay trong lều tuyết của người Eskimo, trong rừng rậm hay trên đồng rêu hay trên giường bốn cột, trong thân xác của một công chúa hay con gái của tội nhân treo cổ, hay cô hầu bếp, khi Trái Đất quay trọn bốn mươi chín vòng nữa…
…trong một mớ giẻ rách và rơm mục, trong cơ thể một bé gái đang bừng bừng cơn sốt. Muỗi hút máu cô bé, chấy rận nhung nhúc khắp người, lại còn có kí sinh trùng đường ruột. Bệnh sởi đã tống tiễn linh hồn của Klara, chủ cũ của lưu thể này, và phải mất ba ngày tôi mới tự tâm-chữa đủ để nhận rõ xung quanh. Klara tám tuổi, thuộc sở hữu của Kiril Andreyevich Berenovksy, một lãnh chúa thường xuyên vắng mặt với cơ ngơi có đường biên giới là một đoạn vòng vèo của con sông Kama, Hạt Oborino, Tỉnh Perm, Đế quốc Nga. Berenovksy chỉ trở về quê cha đất tổ mỗi năm một lần để bắt nạt giới chức địa phương, đi săn, ngủ với gái trinh và giục đám coi sóc lãnh địa đi đàn áp nông nô, mỗi năm một khốc liệt hơn. Hạnh phúc là khái niệm không tồn tại ở trẻ thơ thời phong kiến, và dù xét theo tiêu chuẩn thời đó thì Klara vẫn vô cùng đáng thương. Cha cô bé bị bò húc mà chết, người mẹ bị vắt kiệt sức bởi sinh nở, việc nhà nông và thứ rượu lậu gọi là rvota, tức “thổ tả”. Klara nhỏ nhất, yếu đuối nhất trong số chín anh chị em. Ba người chị đã chết khi còn ẵm ngửa, hai người thì đi làm nhà máy ở Ekaterinburg để trả nợ cho Berenovksy và ba anh trai của cô bé đã bị gởi vào Quân đội Nga, vừa kịp lúc để mất mạng ở trận Eylau. Sự hồi phục kì diệu của Klara được lạnh lùng đổ cho số phận. Thực là một cuộc đổi đời đến chóng mặt, từ Lucas Marinus, một học giả- bác sĩ, đến Klara trong đói rách nghèo khổ, mạnh được yếu thua, và tôi biết mình sẽ phải lội ngược dòng một chặng đường dài, trắc trở và mỏi mệt để trở lại giới thượng lưu, đặc biệt là trong thân xác nữ giới ở đầu thế kỷ mười chín. Lúc đó tôi vẫn chưa biết được những phương cách dùng tâm biệt năng để tự giúp mình thăng tiến nhanh hơn. Klara chỉ có thể dựa vào Nhà thờ Chính thống giáo Nga.
Đức cha Dmitry Nikolayevich Koskov quê ở St Petersburg. Cha là người rửa tội, giảng đạo, làm lễ cưới xin và chôn cất cho ba trăm nông nô cùng với ba tá dân làm công tự do sinh sống trên lãnh địa Berenovksy. Dmitry và vợ Vasilisa sống trong một căn nhà nhỏ ọp ẹp nhìn ra sông. Nhà Koskov dọn đến Hạt Oborino mười năm trước, với sức trẻ phơi phới và nhiệt huyết thương người, hăng hái muốn giúp dân quê đổi đời. Từ lâu trước khi tôi-trong-Klara bước vào cuộc sống của họ, nhiệt huyết ấy đã bị giết sạch bởi cảnh đời vất vả và tàn khốc ở Miền Đông Hoang Dã. Vasilisa Koskov bị chứng trầm cảm nặng nề, lại có mặc cảm sâu sắc rằng cả thế giới đang cười nhạo sau lưng mình vì hiếm muộn. Bạn bè duy nhất của bà trên lãnh địa là những cuốn sách, mà sách thì có thể kể chuyện nhưng không thể lắng nghe. Nỗi lòng của Dmitry Koskov cũng chua chát không kém gì vợ; đức cha cứ tự nguyền rủa mình, hàng ngày nếu không phải hàng giờ, vì đã từ chối cơ hội sống đời mục sư ở St Petersburg, nơi mà cả vợ lẫn sự nghiệp của ông hẳn đã tươi tắn hơn nhiều. Hàng năm đức cha gởi đơn lên giáo hội xin một chỗ gần với văn minh hơn, nhưng vô vọng. Như cách ta hay nói ngày nay, đức cha đúng là bị cô lập thông tin. Dmitry có Chúa Trời, nhưng tại sao Chúa lại buộc ông và Vasilisa phải chịu cảnh đọa đày ở cái chốn dị đoan, hận thù và tội lỗi như Hạt Oborino, phục vụ cho một lãnh chúa như Berenovksy, kẻ quan tâm đến chó săn nhiều hơn nông nô của mình, hẳn Ơn Trên không thể thuận lòng.
Với tôi-trong-Klara, nhà Koskovs thật hoàn hảo.
Một trong những công việc của Klara, ngay khi cô bé khỏe mạnh trở lại, là giao trứng cho người coi sóc lãnh địa, thợ rèn và linh mục. Một buổi sáng năm 1812, khi tôi đưa cho Vasilisa Koskov giỏ trứng ở cửa bếp, tôi ngập ngừng hỏi bà liệu khi lên Thiên Đàng tôi có gặp được các chị đã chết không. Vợ linh mục ngạc nhiên, vì cô bé nông dân tưởng như câm vừa cất tiếng nói, và vì câu hỏi thật sơ đẳng. Vậy tôi không nghe Cha Koskov giảng trong nhà thờ mỗi Chúa Nhật sao? Tôi giải thích rằng bọn con trai cứ nhéo tay tôi và kéo tóc tôi, khiến tôi không nghe được Lời của Chúa, nên mặc dù muốn nghe về Jesus, tôi không thể nghe được. Đúng thế, tôi đã ma mãnh lợi dụng một người đàn bà cô đơn để tiến thân, nhưng nếu không thế thì lựa chọn còn lại là một cuộc đời cực như trâu bò, tù túng như lợn và những mùa đông lạnh cóng cả mật. Vasilisa dẫn tôi vào trong bếp, để tôi ngồi xuống và dạy tôi rằng Jesus Christ, Đấng Kitô đã xuống trần thế trong thân thể người phàm để những kẻ tội lỗi như chúng ta có thể lên Thiên Đàng sau khi chết đi, miễn là ta năng cầu nguyện và luôn sống theo lời răn của Chúa.
Tôi nghiêm nghị gật đầu, cảm tạ bà rồi hỏi có thật là nhà Koskov đến từ Petersburg không. Chẳng mấy chốc Vasilisa hồi tưởng về những vở opera, về nhà hát Anichkov, về những vũ hội vào ngày tên thánh của vị đại công tước ấy, pháo hoa ở vũ hội của nữ bá tước nọ. Tôi nói tôi phải đi thôi, vì mẹ sẽ đánh tôi nếu đi giao trứng quá lâu, nhưng lần tiếp theo khi tôi giao trứng, Vasilisa cho tôi uống trà đích thực pha từ ấm samovar, thêm một thìa mứt mơ. Đúng là rượu tiên! Chẳng mấy chốc bà vợ u sầu của vị linh mục u sầu đã bắt đầu trút bầu tâm sự. Cô bé nông nô lắng nghe với sự sâu sắc vượt quá tuổi đời lên tám của mình. Một ngày đẹp trời, tôi đánh liều kể với Vasilisa về một giấc mộng. Tôi kể rằng trong mộng có một quý bà đeo mạng xanh, da trắng như sữa và có nụ cười hiền hậu. Bà hiện ra trong túp lều của mẹ con tôi, và nói rằng tôi phải học đọc và viết, để tôi có thể mang thông điệp của con trai bà đến với nông nô. Kỳ lạ hơn, quý bà tử tế ấy đã nói những lời thật lạ kỳ bằng một thứ ngôn ngữ mà tôi không hiểu, nhưng những lời ấy vẫn rõ rệt trong tâm trí tôi.
Giấc mộng ấy liệu có ý nghĩa gì, thưa bà Vasilisa Koskov?
Mặc dù vui khi thấy tinh thần vợ mình có phần tốt lên, Dmitry Nikolayevich vẫn không khỏi lo lắng rằng Vasilisa lại một lần nữa bị một đứa nông dân xảo quyệt dụ dỗ. Vậy là vị linh mục gọi tôi vào hỏi chuyện trong nhà thờ vắng. Tôi ra vẻ bối rối, nhút nhát khi được chú ý, chứ chưa nói là được hỏi chuyện bởi một người đáng kính đến thế, trong khi cố thúc cho Dmitry nghĩ rằng đứa trẻ này đã được định cho một mục đích cao cả hơn, một mục đích mà chính ông ta, Cha Dmitry Koskov đã được lựa chọn để trông coi. Ông hỏi tôi về giấc mộng ấy. Tôi có thể tả lại quý bà trong mộng được không? Tôi tả được chứ. Bà có tóc nâu sẫm, một nụ cười dễ mến, đeo mạng màu xanh - không, không phải màu trắng, không phải màu đỏ mà là màu xanh, xanh như da trời mùa hè. Cha Dmitry nói tôi lặp lại “những lời lạ lùng” mà quý bà đã nói. Klara bé bỏng nhíu mày, và bẽn lẽn thú thật rằng những lời ấy nghe không giống tiếng Nga. Được rồi, được rồi Cha Dmitry đáp, vợ của ông cũng nói thế: nhưng những lời ấy là gì? Tôi còn nhớ chút nào không? Klara nhắm mắt và đọc, bằng tiếng Hi Lạp, Matthew 19:14: Song Đức Chúa Jesus phán rằng: Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn trở; vì nước thiên đàng thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy.
Hai mắt và miệng của vị linh mục mở to, rồi cứ mở thế.
Run rẩy, tôi nói tôi mong là những lời đó không có ý nghĩa gì xấu xa.
Lương tâm tôi trong sạch. Tôi là giống biểu sinh, chứ không phải ký sinh.