Đồng Hồ Xương

Lượt đọc: 1034 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7 Tháng Tư

Inez lái xe. Cô đeo kính râm để che hậu quả của mất ngủ. Cứ vài giây cần gạt nước lại rít lên. Chúng tôi không nói gì nhiều, mà cũng không có gì nhiều để nói. Unalaq ngồi đằng trước và Ōshima, Holly, Arkady và tôi chen chúc ở ghế sau. Ōshima hôm nay mang Esther. New York ẩm ướt, tất bật, thờ ơ với chuyện các Trắc Sĩ chúng tôi và Holly đang đánh cược những cuộc đời siêu linh và cuộc đời bình thường cho những người xa lạ, những đứa con có tâm áp của họ và cho cả những đứa trẻ chưa sinh ra, cha mẹ còn chưa gặp nhau. Tôi để ý những chi tiết thường ngày vẫn bỏ qua. Những gương mặt, những bề mặt, chất liệu, dấu hiệu, dòng chảy. Có những ngày New York như đang làm trò ảo thuật với tôi. Tất cả những thành phố lớn đều và luôn luôn quay ngược trở lại thành rừng rậm, thành lãnh nguyên hay những bãi lộ triều dâng, nếu ta đợi thật lâu, và hơn ai hết tôi phải biết điều đó. Nhưng hôm nay, New York như ở mãi đây, không thể chối cãi, như thể thời gian phụ thuộc vào thành phố, chứ không phải thành phố phụ thuộc vào thời gian. Bàn tay, con mắt bất tử nào có thể mường tượng những dặm dài vuông vức, những rầm cầu vững chắc, những vỉa hè tấp nập, và những viên gạch còn nhiều hơn cả sao trời? Người ta làm sao hình dung được những tòa nhà dựng đứng sừng sững, như những hẻm núi lù lù vào thời của Klara Koskov, khi tôi lần đầu tới đây với Xi Lo và Holokai - những người bạn nhà Davydov? Vậy mà những thứ đó đã ở sẵn đây, chen chúc nhau như những món đồ trong kho của kẻ cắp vặt, như một cây sồi ngủ trong hạt sồi hay như tòa nhà Chrysler gấp lại đủ bé để vừa trong bộ não của William Van Alen. Nếu ý thức tồn tại ngoài Bể Cuối và hôm nay tôi sẽ đến đó, tôi sẽ nhớ New York, nhiều như nhớ bất kỳ nơi nào khác.

Inez rẽ từ Đại lộ số 3 vào con phố của chúng tôi. Lần cuối cùng chăng? Những suy nghĩ này thật vô ích. Liệu tôi sẽ chết mà chưa đọc xong Ulysses chăng? Nghĩ đến những hồ sơ bệnh án tôi còn để lại Toronto, nào giấy tờ, những email, những xúc cảm mà đồng nghiệp, bạn bè, hàng xóm và bệnh nhân sẽ phải trải qua nếu trạng thái của tôi thay đổi từ “Bác sĩ Fenby vắng mặt không phép” đến “Bác sĩ Fenby mất tích” đến “Bác sĩ Fenby, được cho là đã chết.” Không, đừng nghĩ thế. Xe dừng trước nhà 119A. Nếu Trắc Thời Phái có một chốn đi về, đây chính là nơi đó, ngôi nhà gạch đỏ như màu món xúp đuôi bò và những ô cửa sổ đủ dạng với khung màu sẫm. Inez nói với chiếc xe, “Đỗ xe,” và đèn báo nguy hiểm bật lên.

“Cẩn thận,” Inez nói với Unalaq. Unalaq gật đầu.

“Hãy mang cô ấy trở về,” Inez nói với tôi.

“Tôi sẽ cố hết sức,” tôi nói. Giọng tôi nghe yếu ớt.

Nhà 119A nhận ra Trắc Sĩ và để chúng tôi vào. Sadaqat chào cả đoàn từ sau linh chắn bên trong ở tầng một. Người quản gia trung thành của chúng tôi ăn vận như diễn trò sắp tận thế đến nơi, áo quần rằn ri, cả tá túi, cổ đeo la bàn. “Chào mừng bà đã về nhà, thưa bác sĩ.” Anh ta cầm lấy áo khoác của tôi. “Ông L’Ohkna đang ở trong thư phòng. Ông Arkady, Bà Unalaq, Ông Ōshima. Và bà Sykes.” Vẻ mặt Sadaqat chùng xuống. “Tôi chỉ hi vọng bà đã hồi phục từ trò tấn công hèn nhát mà tàn ác của kẻ thù. Ông Arkady có kể với tôi.”

Holly: “Tôi đã được chăm sóc chu đáo. Cảm ơn anh.”

“Ẩn Sĩ thật ghê tởm. Chúng là giống vô lại.”

“Cuộc tấn công của họ đã thuyết phục tôi về phe Trắc Thời Phái,” Holly nói.

“Tốt,” Sadaqat đáp. “Đúng thế. Trắng đen rõ như ban ngày.”

“Holly sẽ cùng tham gia Sứ Mệnh Thứ Hai với chúng ta,” tôi nói với anh quản gia.

Sadaqat ra vẻ ngạc nhiên, rồi một thoáng bối rối. “Ồ? Tôi không biết là bà Sykes đây đã học cả phương cách Dòng Sâu nữa?”

“Cô ấy chưa học,” Arkady nói, treo áo khoác lên. “Nhưng hết thảy chúng ta đều có một vai trò trong những giờ tới, phải không Sadaqat?”

“Đúng vậy, người anh em.” Sadaqat nằng nặc đòi cất áo khoác vào tủ cho tất cả mọi người. “Thật thế. Sứ Mệnh còn có… thay đổi phút cuối nào khác không?”

Sadaqat đã được chuẩn bị kỹ càng, nhưng anh ta không giấu được nỗi thèm khát trong giọng nói.

“Không,” Tôi nói. “Không có gì nữa. Ta sẽ hành động vô cùng cẩn trọng, nhưng ta tin lời Elijah D’Arnoq - trừ khi hắn phản bội ta.”

“Và Trắc Thời Phái còn có vũ khí bí mật nữa.” Sadaqat hí hửng. “Là chính tôi. Nhưng vẫn chưa đến mười giờ, mà ông D’Arnoq sẽ không xuất hiện cho đến mười một giờ, nên tôi đã làm bánh muffin. Các vị chắc cũng đã nghe được mùi, nhỉ?” Sadaqat mỉm cười như một nghệ nhân sô cô la đẫy đà đang dụ dỗ một đám bệnh nhân tiểu đường đã xiêu lòng. “Chuối và quả anh đào morello. Một đội quân không thể bụng đói mà lên đường được, thưa quý bằng hữu.”

“Tôi rất tiếc, Sadaqat,” tôi chen vào, “nhưng ta không nên ăn uống gì. Thạch Đạo có thể khiến ta buồn nôn. Bụng đói thực ra lại là tốt nhất.”

“Nhưng mà, thưa bà bác sĩ, một mẩu bé tí teo thì chắc không sao chứ? Bánh nóng hôi hổi mới ra lò. Tôi còn cho cả vụn sô cô la trắng vào nữa đấy.”

“Đến lúc về ăn vẫn ngon mà.” Arkady nói.

Sadaqat thôi không nài nỉ. “Vậy để sau. Để ăn mừng.”

Anh ta mỉm cười, để lộ hai mươi ngàn đô la chi phí điều trị nha khoa Mỹ, do Trắc Thời Phái chi trả, đương nhiên rồi. Sadaqat hầu như chẳng có gì ngoài những thứ được trả hay được chu cấp bởi Trắc Thời Phái. Nhưng làm sao có gì được? Anh ta dành phần lớn cuộc đời trong một bệnh viện tâm thần gần Reading, Anh quốc. Một Thực Nhục Khách hành sự tự do tìm được việc thư ký trong bệnh viện, đã chăn dắt một bệnh nhân có tâm áp, người này từng thổ lộ tâm tình với Sadaqat trước khi bị thanh linh. Tôi vứt xác Thực Nhục Khách sau một trận song đấu căng thẳng trong khu vườn trũng của ả, nhưng thay vì xóa sạch những gì Sadaqat đã biết từ thế giới Vô Thời, tôi quyết định cô lập phần não bị tâm thần phân liệt của anh ta, cắt đứt những đường dẫn thần kinh đến những phần khỏe mạnh. Anh ta khỏi bệnh, nói theo một cách nào đó, và khi anh ta thề thốt sẽ biết ơn tôi mãi mãi, tôi mang anh ta đến New York và cho làm quản gia ở nhà 119A. Việc đã năm năm trước. Năm ngoái, người cận vệ trung thành của chúng tôi đã thay lòng đổi dạ sau một loạt những cuộc gặp gỡ hẹn hò vô hình trong công viên Central Park, chính là nơi Sadaqat ngày nào cũng đến tập thể dục, bất quản nắng mưa. Ōshima là người đầu tiên nhận ra vân tay của Ẩn Sĩ để lại trên người quản gia, cứ khăng khăng muốn xóa sạch sáu năm trong ký ức của Sadaqat và áp huấn lệnh cho anh ta lên một con tàu chở hàng đến miền viễn đông Nga. Vừa thương hại, vừa dự cảm mơ hồ rằng ta có thể dùng tên gián điệp của Ẩn Sĩ để chống lại người chủ mới của anh ta, tôi đã cản Ōshima. Mười hai tháng qua khá là nguy nan, chúng tôi phải liên tục dò dẫm, đoán chừng ý định của kẻ thù, và L’Ohkna phải cài đặt lại hệ thống nhận biết của 119A để phát hiện chất độc, phòng khi Sadaqat được lệnh đầu độc chúng tôi, nhưng tất cả đến hồi kết ngay sáng nay, bất quản tốt hay xấu.

Tôi căm ghét cuộc Chiến Tranh làm sao.

“Lại đây,” Ōshima nói với Sadaqat. “Ta kiểm tra lại máy móc lần cuối nào…”

Cả hai đi lên lầu, để đảm bảo món vũ khí đã sẵn sàng. Arkady đi lên vườn tập Thái Cực Quyền trong màn mưa bụi yếu ớt. Unalaq lùi vào phòng sinh hoạt chung, gởi chỉ dẫn cho mạng lưới ở Kenya. Tôi vào thư phòng, chuyển các giao thức của Trắc Thời Phái cho L’Ohkna. Khá là nhanh chóng. Trắc Sĩ trẻ nhất bắt tay tôi và nói rằng anh hi vọng ta sẽ gặp lại, và tôi nói, “Tôi còn hi vọng nhiều hơn cả anh.” Rồi anh rời 119A bằng lối thoát bí mật. Ba mươi phút nữa D’Arnoq mới đến. Thơ? Nhạc? Một ván billiard.

Tôi xuống tầng hầm, Holly đang sửa soạn bàn billiard. “Hi vọng không phiền các vị. Mọi người dường như tản đi hết, nên tôi…”

“Đương nhiên. Cho tôi tham gia được không?”

Cô ngạc nhiên. “Cô cũng chơi sao?”

“Khi không phải cân não với cái ác, không gì khiến ta bình tĩnh bằng tiếng đầu cây cơ chạm bóng nhựa phenolic.”

Holly xếp bóng rồi nhấc tam giác xếp bóng ra. “Tôi hỏi thêm một câu về Vô Thời Khách được không?” Tôi nhìn cô, ra ý cứ tự nhiên. “Các vị có gia đình không?”

“Chúng tôi thường được tái sinh vào gia đình. Một Lưu Khách thường có bà con máu mủ, như Jacko chẳng hạn. Chúng tôi có bầu bạn, như Unalaq và Inez. Cho đến thế kỷ hai mươi, phụ nữ độc thân không dễ gì đi lại một mình được.”

“Vậy cô cũng từng kết hôn?”

“Mười lăm lần, nhưng kể từ năm 1870 đến nay thì không. Hơn cả Liz Taylor và vua Henry thứ Tám cộng lại. Chị muốn biết liệu chúng tôi có sinh con đẻ cái được không.” Tôi khua tay, để cô đỡ bối rối. “Không. Chúng tôi không sinh nở được. Điều khoản kèm theo.”

“Hiểu rồi,” Holly xoa phấn lên đầu cây cơ. “Có con hẳn rất khó, vì…”

“Vì cứ phải sống, mà biết rằng con cái mình đã già đi mà chết hàng chục năm trước. Hay chúng không chết, nhưng không muốn gặp kẻ điên khùng trên bậc thềm, cứ khăng khăng rằng anh ta là bố hay mẹ chúng, vừa tái sinh. Hay tình cờ phát hiện ra vừa ngủ với chắt gái của mình. Đôi khi chúng tôi nhận con nuôi, thường thế cũng tốt. Thời nào cũng có trẻ con cần mái ấm. Vậy nên tôi chưa bao giờ sinh nở hay làm cha, nhưng những gì chị cảm thấy với Aoife, cái cảm giác sẵn sàng nhảy vào tòa nhà đang bốc cháy ấy, tôi cũng từng trải qua. Mà tôi cũng từng chạy vào nhà đang cháy. Và một lợi thế đáng kể của vô sinh là những lưu thể nữ của tôi không bị thành cái máy đẻ suốt đời, như số phận của hầu hết phụ nữ sống giữa Thời Đồ Đá và Phong Trào Nữ Quyền.” Tôi huơ tay về phía bàn. “Ta chơi nhé?”

“Vâng. Ed vẫn hay nói rằng tôi có tật nhiều chuyện. Thật là ông nhà báo bẻm mép.” Cô lấy ra một đồng xu từ trong ví. “Ngửa hay sấp?”

“Cho tôi ngửa.”

Cô tung đồng xu. “Sấp. Hồi xưa tôi còn đoán được.” Holly nhắm cơ và phá bóng. Cây cơ lướt qua mớ bóng, bóng chạy thẳng đến băng cuối, nảy ra, lăn ngược trở lại.

“Tôi đoán cú đó không phải ăn may.”

“Brendan, Jacko và tôi hay chơi ở quán Thuyền trưởng Marlow, vào Chủ Nhật khi quán đóng cửa. Cô đoán xem thường thì ai thắng?”

Tôi bắt chước cú đánh của Holly, nhưng không đạt bằng. “Anh ấy đã chơi từ những năm 1750, chị nhớ cho. Gần đây cũng chơi. Xi Lo và tôi gần như ngày nào cũng chơi ở đây, hồi năm 1969.”

“Thật sao? Chơi ở ngay bàn này?”

“Bàn đã được thay vải hai lần kể từ đó, nhưng đúng vậy.”

Holly miết ngón tay cái dọc theo băng. “Khi đó Xi Lo trông ra sao?”

“Hơi thấp, chừng năm mốt năm hai tuổi hồi những năm 1969, có râu, người Do Thái. Anh ấy đã lập ra khoa nhân chủng học so sánh ở Đại học New York. Trong kho lưu trữ có hình anh ấy, nếu chị muốn xem.”

Cô cân nhắc. “Để khi khác, lúc ta không bận làm sứ mệnh tự sát. Xi Lo khi đó cũng là nam giới sao?”

“Đúng vậy. Lưu Khách thường chuộng một giới tính. Esther chuộng làm nữ giới. Còn Hồi Khách như chúng tôi thì sau mỗi lần tái sinh lại đổi giới tính, dù muốn dù không.”

“Vậy điều đó không làm cô đau đầu à?”

“Ở vài lưu thể đầu tiên thì hơi kỳ quặc, nhưng dần cũng quen.”

Holly đánh bi chủ dội khỏi băng cuối và băng cạnh bàn, thúc vào mớ bi đã vương vãi. “Cô nói những chuyện như vậy, như thể nó… bình thường.”

“Bình thường là những gì ta cho là hiển nhiên. Với tổ tiên ta sống vào năm 1024, cuộc sống năm 2024 rất không tưởng, bí hiểm, toàn những điều kỳ diệu.”

“Ừ, nhưng… không hẳn là vậy. Với tổ tiên đó và tôi, khi chúng tôi chết đi, chúng tôi chết hẳn. Còn cô… Như thế nào, hả Marinus?”

“Vô Thời Tính?” Tôi phủi bụi phấn xanh bám ở gốc ngón cái. “Chúng tôi già cỗi, ngay cả khi còn trẻ. Chúng tôi thường bỏ đi, hoặc bị bỏ lại. Chúng tôi sợ những mối ràng buộc. Cho đến năm 1823, khi được Xi Lo và Holokai tìm ra, tôi cô đơn không tả xiết nhưng cũng chỉ biết chịu đựng. Ngay cả bây giờ, thứ mà tôi gọi là ‘Nỗi sầu Vĩnh Cửu’ vẫn có thể làm tôi gục ngã. Nhưng công việc của một bác sĩ và Trắc Sĩ đã cho tôi mục đích sống.”

Holly chỉnh lại khăn quấn đầu màu xanh rêu, tháo nửa vòng khăn, để lộ da đầu lơ thơ tóc. Đây là lần đầu tiên cô làm vậy trước mặt tôi, và tôi thấy cảm động. “Câu hỏi cuối cùng: tại sao có Vô Thời Khách? Ý tôi là, Hồi Khách và Lưu Khách đã tiến hóa như vậy, như loài vượn hay cá voi? Hay các vị được… ‘tạo ra’? Có phải là bởi một điều gì đó từng xảy ra trong cuộc đời đầu tiên?”

“Ngay cả Xi Lo cũng không có câu trả lời. Đến Esther cũng không biết.” Tôi đánh bi số 5 màu cam xuống góc trái. “Tôi bi chấm, chị bi sọc.”

Mười giờ năm lăm, Holly đưa bi đen vào lỗ, thắng tôi một bi. “Tôi sẽ chơi ván trả với cô sau,” cô nói. Chúng tôi đi lên gác, vào phòng khách, nơi những người còn lại đã có mặt. Ōshima hạ rèm cửa. Holly đi vào bếp để lấy một ly nước lọc - Chỉ dùng nước vòi, đừng đụng vào nước đóng chai. Có thể đã bị can thiệp, tôi ngầm-gọi với theo. Một phút sau cô quay lại, đeo túi đi đường nhỏ, như thể chúng tôi sắp đi dạo trong rừng. Tôi không lòng dạ nào mà hỏi cô đã gói ghém gì theo - một phích trà, một chiếc áo len, một thỏi bánh bạc hà Kendal tăng lực? Đây đâu phải là chuyến đi bộ leo núi như thế. Chúng tôi nhìn những bức tranh. Còn nói gì được nữa đây? Chúng tôi đã thảo luận chiến lược hết nước hết cái trong thư viện của Unalaq: chia sẻ nỗi sợ hãi lúc này thật vô ích, mà cũng không ai muốn những phút cuối cùng lại nói chuyện tầm phào vẩn vơ. Bức Venus, Cupid, Dại Khờ và Thời Gian gọi tôi đến. Xi Lo từng nói rằng anh rất hối hận đã không tráo lại với bản chép ở London, nhưng anh không thể đối mặt với chừng đó Huấn Lệnh, những trò bịp, mưu mẹo cần có để sửa sai. Năm mươi năm sau tôi đứng đó, với cùng một nỗi hối tiếc. Với Vô Thời Khách, những ngày mai như một thứ tài nguyên vô tận. Mà giờ đây tôi thấy cạn kiệt.

“Khê Môn,” Unalaq nói, “Tôi có cảm giác nó đang mở ra.” Sáu người chúng tôi nhìn quanh, tìm đường thẳng vừa mở ra…

“Kia kìa,” Arkady nói, “cạnh bức Georgia O’ Keeffe.”

Một đường cắt thẳng đứng màu đen hiện ra ngay trước những dải ngang màu vàng và hồng của buổi bình minh New Mexico. Một bàn tay hiện ra, đường cắt mở rộng thành vết chém, và Elijah D’Arnoq lộ mặt. Holly khẽ buột miệng chửi thề rồi nói, “Ông ta ở đâu ra vậy?” và Arkady lẩm bẩm, “Từ chỗ ta sẽ tới.”

Elijah D’Arnoq cần cạo râu, mớ tóc như gai của hắn trông rối bời. Đúng thế, sự căng thẳng của một kẻ phản bội phải được thể hiện ra ngoài. “Các vị rất đúng giờ.”

“Trắc Sĩ không thể đi trễ được,” Arkady đáp.

D’Arnoq nhận ra Holly. “Bà Sykes. Tôi rất mừng là bà đã được giải cứu hôm nọ. Constantin vẫn xem bà như việc dang dở.”

Holly vẫn chưa thể nói chuyện với người đàn ông vừa hiện ra từ không khí.

“Bà Sykes sẽ tham gia đội phá hủy của chúng ta,” Tôi nói với D’Arnoq. “Unalaq sẽ truyền tâm áp tâm biệt năng của bà ấy vào linh chắn.”

Elijah D’Arnoq có vẻ nghi ngờ, và tôi tự hỏi Sứ Mệnh Thứ Hai phải chăng đang bị đe dọa. “Tôi không đảm bảo an toàn cho bà ấy được.”

“Tôi tưởng anh đã lường hết mọi việc?” Arkady lên tiếng.

“Chiến tranh chẳng đảm bảo được gì. Anh cũng biết thế mà, Arkady.”

“Và ông Dastaani đây,” tôi chỉ Sadaqat, “cũng sẽ đi cùng ta. Tôi đoán anh biết người quản gia của chúng tôi ở nhà 119A?”

“Ai cũng do thám mà,” D’Arnoq nói. “Vai trò của ông Dastaani là gì?”

“Là đặt mông ngồi xuống,” Ōshima nói, “ở đoạn giữa lối lên Thạch Đạo và tháo kíp nổ để gây ra trận bão lửa cấp mười nếu có ai đi theo sau chúng tôi. Hữu Thời, Vô Thời - bất kỳ ai trên đường dẫn vào cũng sẽ thành tro.”

D’Arnoq nhướng mày. “Đó cũng là một lệnh Dòng Sâu hay sao?”

“Không,” Ōshima nói. “Chỉ là cách tôi diễn tả hậu quả nếu quả bom được làm từ N9D - chất nổ nano từ Israel nổi tiếng, hiện thời nằm trong ba lô của ông Dastaani phát nổ bên trong Thạch Đạo.”

“Một thứ bảo hiểm chống tấn công từ sau lưng,” tôi nói, “khi ta phá hủy Nhà Nguyện.”

“Một sự thận trọng khôn ngoan,” Elijah D’Arnoq nói, có vẻ bị ấn tượng. “Dù thế tôi vẫn cầu Chúa rằng các vị không phải dùng đến nó.”

“Anh cảm thấy ra sao?” Ōshima hỏi. “Đào ngũ là chuyện lớn đó chứ.”

Thực Nhục Khách một trăm ba mươi hai tuổi nhìn Ōshima tuổi đời tám thế kỉ với vẻ thách thức. “Tôi đã dự phần vào hàng thập kỉ của tội ác vô độ, ông Ōshima. Nhưng hôm nay tôi cũng sẽ dự phần vào việc chặn đứng nó.”

“Nhưng không có Hắc Tửu,” Ōshima nhắc anh ta, “anh sẽ già đi, yếu đi, anh sẽ chết trong một nhà an dưỡng.”

“Sẽ không có chuyện đó nếu Pfenninger hay Constantin chặn đường chúng ta trước khi ta kịp đập tan Nhà Nguyện Bụi Tối. Vậy thì. Còn chần chờ gì nữa?”

Từng người một, chúng tôi đi qua Khê Môn tối tăm vào sàn đá tròn bề ngang cỡ mười bước chân. Ngọn Nến La Bàn đứng im, trắng như giấy và cao như một đứa trẻ. Tôi đã quên cái cảm giác ngột ngạt và rờn rợn nơi đây, cái mùi của những gian phòng khóa kín và không khí loãng. Màu sắc và ánh sáng rớt lại từ phòng khách tràn qua Khê Môn, được D’Arnoq giữ hé mở như một tấm rèm cho Holly vào, rồi giữ cho Sadaqat cùng với ba lô thuốc nổ. Gương mặt Sadaqat mang vẻ choáng ngợp hồi hộp, trong khi Ōshima, người cuối cùng bước qua lại có vẻ hờ hững dằn dỗi. “Đây đâu phải là Nhà Nguyện, đúng không?” Holly thầm thì. “Mà tại sao giọng tôi nhỏ vậy?”

“Đây là La Bàn ở Thạch Đạo,” tôi đáp. “Những bước đầu tiên dẫn lên Nhà Nguyện. Rìa của La Bàn hấp thụ ánh sáng và âm thanh, nên chị phải lớn tiếng hơn một chút để bù lại.”

“Không có màu sắc gì cả,” Holly nhận xét, “Hay chỉ tôi thấy vậy?”

“Ngọn Nến chỉ có một màu,” tôi đáp. “Đã cháy sáng qua tám thế kỷ.” Đằng sau, Elijah D’Arnoq đóng lại Khê Môn. Tôi thoáng thấy Venus của Bronzino, nhẹ nhàng cầm lấy quả táo vàng, trước khi lối trở về biến mất. Không có ngục tối nào lại kiên cố đến thế. Chỉ có Esther hay một người theo U Minh Phái có thể mở Khê Môn và đưa chúng tôi về nhà. Tôi nhói lòng khi nhớ lại lần cuối ở La Bàn, trong trạng thái vô thể, linh hồn của tôi và Esther tơi tả, Joseph Rhîmes đuổi theo sau chị, càng lúc càng tới gần. Esther thu mình náu kỹ trong đầu Ōshima, hẳn cũng đang nhớ lại ngày đó.

“Trên đá có khắc chữ,” Holly nhận xét.

“Chữ cái Cathar,” tôi nói. “Không còn ai đọc được nữa, kể cả những nhà nghiên cứu dị giáo. Chữ cái này có gốc gác từ Oc, một ngôn ngữ còn lâu đời hơn cả Basque.”

“Pfenninger nói với tôi,” D’Arnoq lên tiếng, “rằng ký tự đó là lời cầu nguyện trước Chúa, cầu xin Người giúp đỡ để dựng lại Chiếc Thang Của Jacob. Nghe đâu hồi ấy Thầy Cathar Mù tin rằng mình đang làm việc đó. Đừng chạm vào tường. Không biết từ vật liệu gì, nhưng vật liệu ấy và vật chất nguyên tử…” gã lấy ra một đồng xu từ trong túi “…không hợp với nhau lắm.” Gã tung đồng xu ra khỏi chu vi La Bàn. Nó tan biến, trong một khoảng khắc lân quang. “Đừng để sảy chân trên Thạch Đạo.”

“Tức là chỗ nào?” Ōshima hỏi.

“Nó được chắn kỹ,” D’Arnoq nhắm mắt và mở mắt chakra, “và luôn chuyển động, để tránh đám hạ lưu. Đợi một lát.” Gã đi những bước ngắn, chậm rãi ra rìa La Bàn, rất đúng phong cách nhạc ngắt âm của U Minh Phái và lẩm bẩm một Hiển Lệnh. Quay lưng về phía Nến, gã đi ngang quanh rìa. “Được rồi.” Ở mép La Bàn, cao chừng ba tấc, một phiến đá hiện ra, dài và rộng như mặt bàn. Phiến đá thứ hai theo sau đó, rồi thứ ba, thứ tư, cao hơn nữa, dẫn vào màu đen.

“Marinus,” Holly hỏi bên tai tôi, “cái này là công nghệ? Hay là…”

Tôi biết từ điền vào chỗ bỏ lửng ấy. “Nếu ta chữa cho vua Henry thứ Bảy khỏi bệnh lao phổi bằng phác đồ sử dụng ethambutol, hay cho Issac Newton một giờ với kính viễn vọng Hubble, hay đưa một máy in 3D sẵn cho những người khách quen ở quán Thuyền Trưởng Marlow hồi những năm 1980, người ta cũng sẽ buột miệng hai tiếng Ma Thuật với chị. Nhiều món ma thuật là những thứ bình thường mà ta vẫn chưa quen.”

“Nếu giáo sư ngôn ngữ không phản đối,” Ōshima nói, “phiền bà để sau hẵng giảng nốt bài?”

Elijah D’Arnoq đi trước, rồi đến tôi, rồi Holly, Arkady, Unalaq và Sadaqat với mười kilo N9D trong túi, và cuối cùng là Ōshima, chốt sau cùng. Đến phiến đá thứ năm hay sáu tôi quay lại nhìn qua đầu của những người đồng hành, nhưng La Bàn đã khuất khỏi tầm mắt. Đến cả tính bất thường của Thạch Đạo cũng vô cùng bất thường. Có những đoạn các bậc thang vặn xoắn lên trên, dốc và sắc lẻm, một cầu thang nằm trong vòng xoắn ốc. Rồi có những đoạn các phiến đá dài làm thành một con đường leo núi nhẹ nhàng. Thậm chí có cả đoạn mà người leo phải nhảy từ phiến đá này sang phiến đá kia, như nhảy lên đá giữa dòng sông. Cố không nghĩ đến chuyện trượt chân. Chẳng mấy chốc mồ hôi tôi đầm đìa. Tầm nhìn rất kém, gần với leo núi trên đường hẹp ban đêm, trong sương mù lợn cợn. Những phiến đá sáng một thứ ánh sáng tai tái, như ánh lửa trên Nến La Bàn, nhưng chỉ sáng lên khi chúng tôi tới gần, tạo ra ảo giác rằng Thạch Đạo đang dần tự xây khi chúng tôi đi lên. Bóng tối chung quanh vô cùng ngột ngạt, và dường như đang cất lên những giọng nói từ suốt cuộc đời siêu linh của tôi. Tôi nghe giọng cha đẻ mình, giải thích bằng thứ tiếng Latin thông dụng thời cuối cách cho chim cắt ăn chuột sóc. Giờ đến Sholeetsa, một bà lang của tộc Duwamish, mắng tôi đã luộc rễ quá lâu. Rồi đến tiếng cười như quạ rú của Arie Grote, người quản kho ở Dejima. Thân xác của những người đó đã thành cát bụi từ lâu, linh hồn của họ đã ra đến Bể Cuối. Trắc Sĩ bọn tôi đã đồng ý không ngầm-nói, phòng khi bị nghe lén, nhưng tôi tự hỏi liệu các Trắc Sĩ khác có đang nghe thấy những giọng nói từ những cuộc đời trước đó. Tôi không hỏi, sợ sẽ làm họ mất tập trung vào bước đi. Kẻ nào rơi khỏi Thạch Đạo sẽ rơi vào hư không.

• • •

Chúng tôi đến phiến đá hình tam giác duy nhất trong suốt hành trình. Phiến đá lõm vào giữa, đủ để sáu người có thể đứng trên đó. “Chào mừng đến Trạm Giữa,” D’Arnoq nói, và tôi nhớ lại Immaculée Constantin cũng gọi nó như thế với Jacko trong Sứ Mệnh Thứ Nhất. “Tôi nghĩ ta đã tìm được điểm canh cho anh rồi, Sadaqat,” Ōshima nói. “Từ đây nhìn xuống là tốt nhất rồi. Nằm ở chỗ lõm, ngay chính giữa, anh sẽ thấy bất kỳ người khác nào trước khi họ thấy anh.” Sadaqat gật đầu, nhìn tôi và tôi gật đầu đáp lại. “Được rồi, ông Ōshima”. Cẩn thận tỉ mỉ, Sadaqat ngồi xuống và lấy từ trong ba lô ra một khối iCube đã được sửa khá nhiều và một ống kim loại mảnh. Anh ta đặt khối iCube ở góc nhìn xuống của phiến đá.

“Quả bom lửa đó sao?” D’Arnoq hỏi, tò mò nghề nghiệp.

“Đây là máy phát linh chắn Dòng Sâu,” Sadaqat mở màn hình điều khiển của khối vuông trong không khí, lướt qua các lựa chọn, “cũng là máy báo động linh hồn. Tiếng động này sẽ phát ra…” một tín hiệu như tiếng ngỗng trời quang quác “…khi nó rà thấy một linh hồn chưa được nhận diện, chẳng hạn như của ông, ông D’Arnoq…” Ngón tay Sadaqat quẹt ngang và màn hình trong không khí lay động khi lưu lại dấu hiệu nhận biết não của D’Arnoq. “Giờ nó biết ai bạn ai thù.”

“Một cái máy khôn ngoan,” D’Arnoq nói, “và khôn khéo nữa.”

“Máy phát ngăn ngừa một người có tâm biệt năng dùng Huấn Lệnh để buộc tôi vô hiệu hóa thuốc nổ N9D”. Sadaqat tháo nắp của ống kim loại. “Máy rà báo tôi biết là có người đã cố làm vậy, đó cũng là lúc cho nổ bom lửa, tức là cái này.” Chân tripod bật ra từ đáy của ống kim loại và Sadaqat đặt nó dựng đứng. “Mười kilo N9D đã được nén trong ống - đủ để biến Thạch Đạo thành đường dẫn lửa ở năm trăm độ C. Nếu con ngỗng kêu ‘oang’, Sadaqat nhìn D’Arnoq, “cũng có nghĩa là tâm-bom sẽ nổ.”

“Hãy tỉnh táo nhé,” Ōshima nói. “Chúng tôi trông cậy vào anh đấy.”

“Tôi đã tuyên thệ, thưa Ông Ōshima. Tôi ở đây là để làm việc đó.”

“Quý vị quả có một cận vệ trung thành,” D’Arnoq nói với tôi. “Sẵn lòng hi sinh… ở mức cao nhất.”

“Tôi biết chúng tôi đã may mắn thế nào,” tôi nói với Sadaqat.

“Đừng rầu rĩ thế, bà bác sĩ!” Sadaqat đứng dậy và bắt tay với tất cả. “Ta sẽ gặp lại nhau sớm mà các bằng hữu. Tôi biết chắc Kịch Bản đã viết thế.” Khi đến chỗ tôi, anh ta vỗ tay lên trái tim. “Ngay ở đây.”

Chúng tôi leo tiếp, đá rồi lại đá rồi lại đá, nhưng thật khó để biết chúng tôi đã đi bao xa, hay đã lên cao bao nhiêu kể từ La Bàn Thạch Đạo, hay đã bao nhiêu phút trôi qua kể từ khi chúng tôi để Sadaqat lại làm nhiệm vụ canh giữ ở Trạm Giữa. Máy tay và đồng hồ đều đã để lại ở nhà 119A. Thời gian tồn tại ở đây nhưng nó không được đo đếm dễ dàng, ngay cả trong tâm trí của một Trắc Sĩ. Quyết tâm đếm bước của tôi đã bị gạt qua một bên, bởi những tiếng nói của những người đã khuất từ lâu. Vậy là tôi chỉ đi theo lưng Elijah D’Arnoq, cố giữ tỉnh táo cho đến khi cuối cùng chúng tôi đến phiến đá hình tròn thứ hai, gần như giống hệt La Bàn ở bên dưới. “Đá Đỉnh, là tên chúng tôi gọi chỗ này,” D’Arnoq, hồi hộp ra mặt. “Đến nơi rồi.”

“Nhưng chẳng phải đây là chỗ ta bắt đầu đi sao?” Holly hỏi. “Cây nến, hình tròn, đá tròn, chữ khắc…”

“Chữ khắc trên đá khác với ở dưới,” Tôi nói. “Phải vậy không thưa ông D’Arnoq?”

“Chưa bao giờ nghiên cứu cái đó,” kẻ đào ngũ thú thật. “Pfenninger rất mê văn chương chữ nghĩa, và Joseph Rhîmes ngày trước cũng thế, nhưng với hầu hết bọn tôi, Nhà Nguyện chỉ là một… cái máy có tri giác liên quan đến mình.”

“‘Đừng đổ lỗi cho tôi, tôi chỉ là tép riu?’, vậy chăng?” Arkady nói.

D’Arnoq trông bực bội. “Vâng. Có lẽ thế. Có lẽ bọn tôi đã tự nói thế với chính mình.” Gã dụi mắt cho khỏi hạt bụi tưởng tượng. “Được rồi, giờ tôi sẽ Cổng Đen - lối vào - nhưng cảnh báo trước: Thầy Cathar Mù phải được giữ ở thái tĩnh, trong hình tượng, ở góc phía bắc. Các vị sẽ cảm thấy ông ấy. Nhưng ông ấy về lý thuyết sẽ không cảm thấy được chúng ta. Vậy nên…”

“‘Về lý thuyết’?” Ōshima thắc mắc. “Vụ ‘về lý thuyết’ này là sao?”

“Sát thánh cũng có rủi ro đi kèm,” D’Arnoq cau mặt, “chứ không thì đâu còn là sát thánh nữa. Nếu sợ, Ōshima, anh đi mà đứng cùng Sadaqat dưới kia. Nhưng ở đây có ba cách làm giảm rủi ro: chú ý không nhìn vào mặt Thầy Cathar Mù trên hình tượng; không gây ra tiếng ồn lớn hay đột ngột di chuyển; không áp các lệnh tâm biệt năng của Dòng Sâu, kể cả ngầm-nói. Tôi có thể áp các lệnh của U Minh Phái mà không quấy rối Nhà Nguyện, nhưng Thầy Cathar sẽ phát hiện được ngay tâm biệt năng từ phe bên kia. Nhà 119A của các vị có đủ báo động, linh chắn và tấm choàng, chánh điện của bọn tôi cũng thế, và nếu Thầy Cathar Mù biết rằng Trắc Sĩ có mặt tại đây trước khi những bức tường sụp đổ, thì kết cục sẽ rất tồi tệ với tất cả chúng ta. Hiểu chứ?”

“Hiểu,” Arkady đáp. “Ác quỷ dracula chỉ có thể được đánh thức khi cọc đã đâm vào tim hắn.”

D’Arnoq hầu như không nghe câu trả lời khi hắn áp Hiển Lệnh. Một cổng ba nhánh khiêm tốn, cao bằng đầu người, lấp lánh hiện ra ở rìa của Đá Đỉnh. Cổng Đen. Qua cổng chúng tôi thấy Nhà Nguyện, tôi thấy chợn chạo, ngay cả khi theo Elijah D’Arnoq tiến về trước. “Ta vào thôi,” ai đó lên tiếng.

Nhà Nguyện Bụi Tối của Thầy Cathar Mù là thân xác của một chủ thể còn sống. Ta cảm nhận được nó, ngay lập tức. Nếu Cổng Đen là phía nam, thì gian giữa giáo đường hình thoi của Nhà Nguyện nằm chừng sáu mươi bước dọc theo trục bắc-nam, ba mươi bước từ đông sang tây và có chiều cao lớn hơn độ dài. Mọi mặt phẳng đều chỉ đến, đều gợi về hay phản chiếu hình tượng Thầy Cathar Mù, treo ở góc hẹp phía “bắc”, ta phải tập trung cao độ để không nhìn vào hình tượng. Những bức tường, sàn nhà và trần nhà dạng kim tự tháp đều làm từ chất đá lửa xám, đùng đục như sữa. Những thứ đồ đạc ít ỏi trong Nhà Nguyện là một cái bàn gỗ sồi dài đặt theo trục bắc- nam, hai bên có băng ghế dài, trên mỗi tường treo một bức tranh lớn. Lần trước Immaculée Constantin đã giải thích ý nghĩa những bức tranh ngộ đạo ấy với Jacko: Những Quả Táo Xanh Dương Ở Eden Buổi Ban Trưa Trong Ngày Tạo Dựng Thứ Tám; Ác Quỷ Asmodeus, bị Solomon lừa để xây Đền Vua; Mẹ Đồng Trinh thực sự, đang cho một đôi Chúa Jesus bú; và Thánh Thomas đang đứng trong một căn phòng hình thoi giống hệt Nhà Nguyện Bụi Tối. Lơ lửng bên dưới đỉnh mái là một con rắn quằn quại bằng đá đủ màu; đang tự nuốt lấy đuôi mình. Kết cấu đá của Nhà Nguyện hoàn hảo, hợp nhất và tạo ra ảo giác rằng căn phòng đã được khoét từ trong lòng núi, hay đã kết tinh mà thành. Không khí ở đây không tươi cũng không héo, không ấm cũng không mát, mặc dù vương vấn những ký ức tồi tệ. Holokai đã chết ở đây, và mặc dù chúng tôi đã gieo hi vọng vào Holly, tôi vẫn không có bằng chứng rằng Xi Lo không chết ở đây.

“Đợi tôi một phút,” D’Arnoq rầm rì. “Tôi phải hủy Miễn Lệnh, để ta có thể hòa tâm áp.” Gã nhắm mắt lại. Tôi bước về góc chếch phía tây, nơi có cửa sổ nhìn ra một dặm hay một trăm dặm Cồn Cát, đến Rặng Cao và Ánh Sáng Của Ngày. Holly theo tôi. “Thấy trên đó không?” Tôi nói. “Đó là chỗ ta ra đi.”

“Vậy những đốm sáng nhạt” Holly thì thầm, “đang băng qua cát, là linh hồn sao?”

“Vâng. Hàng nghìn, hàng nghìn linh hồn, ở bất kỳ thời điểm nào.” Chúng tôi bước về phía cửa sổ hướng đông, nơi Cồn Cát thoai thoải vô chừng qua ánh nhập nhoạng tối dần ra Bể Cuối. “Và đó là nơi họ sẽ đến.” Chúng tôi nhìn những đốm sáng nhỏ tiến vào bóng tối không một ánh sao và bước ra, từng đốm từng đốm một.

Holly hỏi, “Bể Cuối có thật là biển không?”

“Tôi không nghĩ thế. Chỉ là cái tên chúng tôi gọi thôi.”

“Vậy điều gì sẽ xảy ra khi họ đến đó?”

“Rồi chị sẽ biết, Holly à. Có lẽ một ngày nào đó tôi cũng thế.” Hôm nay chăng?

Cả hai về lại giữa phòng, D’Arnoq vẫn đang tập trung. Ōshima chỉ về đỉnh Nhà Nguyện, lần ra một đường vô hình chạy xuống góc phía bắc, nơi hình tượng trông như đang quan sát chúng tôi. Tôi nhắm mắt, mở mắt chakra và rà khắp trần nhà tìm khe nứt mà Esther đã nhắc đến.

Mất một lúc, nhưng tôi tìm ra. Đằng kia, bắt đầu từ đỉnh và chạy cong xuống những cái bóng ở góc phía bắc.

Đúng là có vết nứt, nhưng quá mỏng manh để mang ra đánh cược với những cuộc đời siêu linh của năm Vô Thời Khách và một cuộc đời hữu thời.

“Là tôi, hay…” Holly đang hỏi, và tôi nhắm mắt chakra, mở mắt thường, “hay chính bức tranh đó như… như đang kéo ta vào?”

“Không phải chỉ mình bà đâu,” Elijah D’Arnoq đáp, vừa quay lại. Chúng tôi nhìn vào hình tượng. Tu sĩ mặc áo choàng trắng, mũ áo phủ vai để lộ đầu và một gương mặt với hai khoảng trống ở đôi mắt. “Nhưng đừng nhìn vào ông ta,” D’Arnoq nhắc chúng tôi. Trên Thạch Đạo, âm thanh bị nhòa đi nên phải nói to gấp đôi. Ở đây trong Nhà Nguyện, những lời thì thầm, bước chân và đến cả tiếng áo quần sột soạt cũng được phóng đại, như thể đã được thu vào những chiếc micro giấu kín. “Nhìn ra chỗ khác đi, Bà Sykes. Hiện tại ông ta có thể đang mơ ngủ, nhưng ông ta là người dễ tỉnh giấc.”

Holly cố nhìn ra hướng khác. “Hai chỗ trống trong hốc mắt ấy. Chính chỗ đó như kéo mắt ta vào.”

“Chỗ này như có một thứ tâm trí bệnh hoạn.” Arkady nhận xét.

“Vậy hãy để ta giải thoát cho nó,” D’Arnoq nói. “Mê Lệnh đã hoàn tất. Theo kế hoạch: Marinus và Unalaq, các chị đoạn lệnh cho hình tượng, để đảm bảo ông ta không thức dậy trong khi Arkady, Ōshima và tôi tập trung tâm áp để tâm-đốt hình tượng.”

Chúng tôi tiến đến góc phía bắc, nơi hình tượng không mắt ánh lên tai tái như bụng cá mập. “Vậy ra tất cả những gì chị phải làm để phá chỗ này,” Holly hỏi tôi, “là phá bức tranh đó?”

“Chỉ bây giờ, ở điểm này trong chu kỳ,” D’Arnoq thay mặt tôi trả lời, “khi linh hồn của Thầy Cathar Mù được giữ kín bên trong hình tượng. Ở những lúc khác, ông ta lưu trong kết cấu của nhà nguyện, sẽ dò được ý đồ của chúng ta và nung chảy chúng ta như những món đồ chơi nhựa dưới lửa đèn hàn. Marinus: bắt đầu đi.”

Nếu Elijah D’Arnoq đang phản chúng tôi, gã rõ là diễn rất đạt đến phút cuối. “Chị bên trái,” tôi nói với Unalaq “Tôi bên phải.” Chúng tôi đứng trước Thầy Cathar Mù và nhắm mắt lại. Tay chúng tôi đồng loạt áp lệnh. Xi Lo đã dạy Đoạn Lệnh cho Klara Koskov-Marinus ở St Petersburg, và khi ở lưu thể Ấn Độ, Choudary, tôi đã dạy cho Unalaq. Để lệnh mạnh hơn và sâu hơn, môi chúng tôi im lặng đọc lệnh từ trong trí nhớ; như mắt của một người chơi piano lần tìm giữa một bản nhạc phức tạp nhưng quen thuộc. Tôi cảm thấy ý thức của Thầy Cathar Mù đang nổi lên bề mặt hình tượng, như một bầy ong. Chúng tôi đẩy nó lại. Thành công. Một phần. Tôi nghĩ thế. “Nhanh lên,” tôi nói với Elijah D’Arnoq. “Chúng tôi chỉ gây tê chứ không làm hôn mê sâu.”

Unalaq và tôi đứng qua một bên. D’Arnoq đứng trước người chủ cũ, hay người chủ hiện tại, tôi không biết, và đưa tay ra hai bên, lòng bàn tay ngửa. Bên trái và bên phải gã, Arkady và Ōshima ấn chakra ở bàn tay vào chakra của D’Arnoq. “Đừng có mà đổi ý bây giờ,” Ōshima lẩm bẩm.

Mặt tái và mồ hôi nhễ nhại, D’Arnoq nhắm hai mắt, mở mắt chakra, và truyền ánh sáng màu đỏ như than hồng rực của U Minh Phái vào ngay cổ họng của Thánh Thiêng.

Thầy Cathar Mù không còn trong giấc mơ nữa. Ông ta biết mình đang bị tấn công. Như một người khổng lồ say thuốc, như ngôi nhà của tôi ở Kleinburg giữa trận gió bão phương Bắc, Nhà Nguyện căng mình, quằn quại. Tôi lảo đảo, dường như chỉ trong chớp mắt, miệng của Thầy Cathar Mù méo mó giận dữ. Mắt chakra của ông ta bắt đầu nở ra, một chấm đen hiện ra trên trán ông ta, to dần lên như một vết mực loang. Nếu nó mở hết cỡ, chúng tôi sẽ gặp rắc rối trầm trọng. Một trận động đất nhốt trong tường Nhà Nguyện, và Elijah D’Arnoq kêu lên the thé, không giống tiếng người. Truyền quá nhiều tâm áp, gã đang chết dần. Vụ đào ngũ của gã hẳn là thật: gã sẽ chết mất. Lại dường như chỉ trong chớp mắt, hình tượng sáng lên như có lửa đốt, bốc khói, tu sĩ gầm rú trong cơn đau đớn khi những ngọn lửa hai chiều thiêu sống ông ta, mắt chakra của ông ta nhạt nhòa chớp nháy, nhạt nhòa khi ẩn khi hiện, khi hiện khi ẩn…

Biến mất. Im lặng. Hình tượng Thầy Cathar Mù chỉ còn là một hình vuông bằng than và Elijah D’Arnoq đang thở hồng hộc, cúi gập người xuống. “Ta đã làm được rồi,” gã há hốc. “Ta đã làm được rồi.” Im lặng, Trắc Sĩ chúng tôi nhìn nhau…

…và Unalaq khẳng định lại. “Ông ấy vẫn còn đó.” Những lời của chị là án tử của chúng tôi. Thầy Cathar Mù chỉ rời khỏi hình tượng và đã chuyển vào sàn, tường và trần Nhà Nguyện. Chúng tôi đã tham gia vào một trò hề để cho phép Ẩn Sĩ có đủ thời gian đi lên Thạch Đạo. Hẳn bọn chúng sắp đến rồi. Cuộc đào ngũ của D’Arnoq thực ra là một cái bẫy và Sứ Mệnh Thứ Hai đã trở thành một cuộc tấn công cảm tử kamikaze. Tôi muốn ngầm-gởi một lời xin lỗi đến Inez và Aoife nếu có thể, nhưng thế giới của họ đã nằm ngoài tầm với. “Holly? Đứng ra sau chúng tôi đi.”

“Đã xong chưa? Jacko sẽ… sẽ hiện ra chứ?”

Tôi muốn đoạn lệnh cho cô ngay bây giờ để cô khỏi phải hận tôi khi chết. Kịch Bản đã bỏ rơi chúng tôi. Tại nghĩa trang Blithewood đáng ra tôi phải quay bước, gọi Wendy Hanger và giải thích là đã có sự nhầm lẫn, rồi trở về ga Poughkeepsie. “Tôi không biết,” tôi nói với Holly, người mẹ, người chị em, người con gái, góa phụ, nhà văn, người bạn. “Nhưng cứ đứng sau chúng tôi đi.”

Lời nhắn từ Esther, Ōshima ngầm-báo. Chị ấy đã bắt đầu Lệnh Cuối. Chị ấy cần chừng mười lăm phút.

“Ta đã phải cố,” Unalaq nói. “Khi vẫn còn hi vọng.”

Elijah D’Arnoq vẫn còn vờ vịt: “Các vị nói gì thế?” Gã còn mỉm cười. “Ta đã thắng! Thầy Cathar Mù đã chết. Không có ông ấy duy trì kết cấu Nhà Nguyện, chỗ ta đang đứng đây sẽ trở thành Cồn Cát và Bụi Tối trong vòng sáu tiếng.”

Tôi nhìn cái thứ mà gọi theo ngôn ngữ tiểu thuyết tình báo, là điệp viên hai mang kiểu truyền thống. Tôi thậm chí còn không cần phân linh để biết chắc. Elijah D’Arnoq không phải là kẻ nói dối giỏi như gã tưởng. Trong phần đầu của vụ lừa đảo, tại nhà tôi ở ngoại ô Toronto, gã đã thật sự bị “chuyển” thành một penitento, một kẻ sám hối thật sự, nhưng một lúc nào trong những ngày vừa qua, Pfenninger và Constantin đã đưa gã về lại với U Minh Phái.

“Để tôi nhé, Marinus?” Ōshima hỏi. “Làm ơn?”

“Cứ như anh quan tâm tôi có đồng ý hay không. Nhưng được thôi. Mạnh tay vào.”

Ōshima giả vờ hắt hơi, vận công ném D’Arnoq trượt dọc theo bàn, rơi xuống đất ở cuối bàn. Gã chỉ dừng lại ngay ở Cổng Đen.

Xi Lo đã làm như thế với Constantin, tôi ngầm-nói, nhưng anh ấy chỉ ném ả đi được một nửa bàn thôi.

“D’Arnoq nhẹ cân hơn mà,” Ōshima nói. “Rõ thế còn gì: bàn thì dài, trơn; một tên quấy rối. Ai mà kìm lòng được?”

“Tôi… đoán vậy có nghĩa là ông ấy phải là người của mình,” Holly nói. “Mày…” Elijah D’Arnoq đứng dậy và hét từ phía bên kia Nhà Nguyện, “chúng mày…”, gã chỉ tay, “sẽ bị chết ngạt và quắt queo trong lửa” Chín người đàn ông và một người đàn bà hiện ra từ trong không khí quanh gã.

“Khách quý, khách quý” Baptiste Pfenninger vỗ tay và mỉm cười. Ẩn Sĩ đầu tiên là một người cao ráo, phong thái ung dung, cơ thể cường tráng, ăn vận bảnh bao. Lão để một bộ râu tỉa kỹ, hơi ánh bạc. “Chốn xưa mới hiếu khách làm sao… mà thật nhiều khách!” Tôi đã quên mất cái giọng trầm như diễn viên ấy. “Thường mỗi quý chỉ tiếp một khách, vậy ra hôm nay là một dịp vô cùng đặc biệt. Dịp vô cùng đặc biệt lần thứ hai.” Tất cả những người đàn ông đều mặc áo vét dự tiệc, đủ kiểu và đủ phong cách. Áo của Pfenninger trông như kiểu thời vua Edward đầu thế kỷ hai mươi. “Marinus, Marinus, mời vào. Vị khách duy nhất hai lần đến thăm trong lịch sử Nhà Nguyện Bụi Tối, mặc dù, đương nhiên, lần trước cô để lại thân xác trên Trái Đất. Ōshima, trông anh già cả, kiệt sức, mệt mỏi, cần được tái sinh. Sẽ không có chuyện đó đâu. Nhân tiện, cảm ơn anh đã giết Brzycki: hắn bắt đầu để lộ dấu hiệu của bọn ăn chay. Còn ai nữa? ‘Unalaq’ - ta phát âm thế đúng không? Nghe kinh quá, như một loại keo dính ấy, đọc kiểu gì cũng thế. Arkady, Arkady, cậu đã cao hơn nhiều kể từ lần bị ta cưa đứt chân. Nhớ đám chuột không? Lisbon dưới thời Salazar, đấy, độc tài là phải thế. Mất đến bảy mươi hai tiếng cậu mới chịu chết cho. Để xem tôi làm hơn thế được với Inez không, nhỉ?” Pfenninger tặc lưỡi, “Tiếc thay L’Ohkna và Roho không thể đến đây, nhưng ông D’Arnoq đây,” Ẩn Sĩ Thứ Nhất quay về phía tên điệp viên hai mang, “đã kéo lưới được những con cá béo nhất. Giỏi lắm! Ồ! Cuối cùng và yếu ớt nhất, Holly Sykes, nữ nhà văn bí hiểm chuyển ngành nuôi gà lấy trứng. Hai ta chưa từng gặp. Tôi là Baptiste Pfenninger, hướng dẫn viên của bộ máy…” lão chỉ trỏ về phía những bức tường và vòm trần “…thần kỳ này, ối giời danh hiệu với cả tên tuổi, dài dòng luộm thuộm như dây xích của Marley ấy, Jacob chứ không phải Bob[63]. Có hai người ở đây còn nôn nóng gặp cô hơn tôi đây, Holly…”

Trong xiêm y nhung đen và đeo chằng chịt kim cương, Immaculée Constantin bước về phía trước. “Cô bé xuất chúng ngày nào của ta đã lớn rồi nhỉ… mãn kinh, ung thư, rồi cặp kè với bạn xấu. Vậy. Trông ta có hợp với giọng nói ấy không?”

Holly nhìn nhân vật không rõ mặt từ thời thơ ấu, không thốt lên được tiếng nào.

Nụ cười của Constantin tắt dần, mặc dù từ đầu đã giả tạo. “Jacko còn nói năng được. Nhưng đến khi ấy nó đâu còn là Jacko nữa, nhỉ? Nói thử xem, Holly, người có tin lời Marinus không, lúc ả nói rằng em trai ngươi đổ bệnh mà chết còn Xi Lo chỉ tình cờ lảng vảng gần đó, mmm?”

Vài giây trôi qua. Giọng Holly khô khốc. “Bà nói gì kia?”

“Thôi rồi.” Nụ cười của Constantin chuyển thành sự thương hại. “Ngươi tin lời chúng sao? Quên ta vừa nói gì đi, quên đi. Những chuyện ngồi lê khác gì đài phát thanh của quỷ dữ, mà ta sẽ không làm phát thanh viên đâu, nhưng… cố nghĩ cho kỹ trước khi ngươi chết. Ta sẽ lo cả Aoife nữa. Để mà, ngươi biết đó, nó sẽ không nhớ ngươi. À mà, đã thế sao không giết luôn Sharon và Brendan cho đủ bộ nhà Sykes? Nhỉ.”

Esther đã có chừng ba phút. Cái kết của Sadaqat sẽ tốn chừng năm phút, nếu Pfenninger ưa dài dòng. Tôi tính toán cơ hội sống sót của cả đoàn khi cuộc tâm song đấu bắt đầu. Ba Ẩn Sĩ mới nhất có lẽ sẽ không rắc rối gì, nhưng Nhà Nguyện không có gì để dùng làm vũ khí động lực và bốn chống lại mười một thì vẫn là bốn chống lại mười một. Ta cần kéo thêm bảy phút nữa cho Esther. Ta có thể chặn bước chúng lâu thế chăng?

“Bà sẽ hối tiếc là đã đe dọa gia đình tôi,” Holly nói. “Tôi thề đấy. Tôi thề có Chúa.”

“Ôi, ngươi thề kia đấy, hả? Thề có Chúa nữa kia?” Immaculée Constantin ra vẻ bận tâm. “Nhưng Chúa chết rồi. Nhưng để ta kiểm tra với với Người Trên Đài đã, liệu ta sẽ hối tiếc những gì vừa hứa với ngươi không?” Ả khum tay trên tai đeo kim cương, giả vờ lắng nghe. “Không, Holly, không. Ngươi lầm rồi. Ta sẽ chẳng hối tiếc gì cả: nhưng ngươi, ngươi sẽ quằn quại mà hối tiếc vì đã bỏ rơi Cô Constantin người bạn bí mật khi ngươi còn là đứa bé bảy tuổi đáng yêu có khả năng ngoại cảm. Nghĩ đi. Đáng ra chỉ có một người nhà Sykes phải chết, thay vì năm người nhà Sykes và một người nhà Brubeck. Người sẽ vô cùng hối tiếc, sẽ la lối om sòm! À, ông Anyder? Ả góa phụ xương giòn này có phải loại ưa la hét không, thời thanh niên đầy pheromone ấy?”

Hugo Lamb bước ra. Cằm chẻ, thân xác hắn vẫn như thời hai lăm tuổi, cặp mắt khinh miệt. “Ả là loại im lặng. Chào Holly. Thật chẳng ngờ được chuyện gì, nhỉ?”

Holly bước lùi lại. Nghe kể về ma là một chuyện, thấy ma lại là chuyện khác. “Họ đã làm gì với anh vậy?”

Vài Ẩn Sĩ phá ra cười. Hugo nhìn người yêu rất cũ của mình. “Họ…” hắn nhìn quanh Nhà Nguyện “…chữa bệnh cho tôi. Họ chữa tôi khỏi một thứ bệnh suy nhược tồi tệ, gọi là tử tính. Bệnh này phổ biến lắm. Người trẻ chống chọi được một thời gian, nhưng cuối cùng, ngay đến những bệnh nhân kiên cường nhất cũng thành một thứ phôi thai tan tác, một người Struldbrug… một thứ đồng hồ xương gân guốc, xương xẩu, dãi dớt, bị chính gương mặt mình phản bội, vì nó cho thấy rõ mình chẳng còn sống được bao lâu nữa.

“‘Phản bội’?” Pfenninger bước đến. “Nhân tiện, Marinus. Cô có biết trong hàng ngũ thân cận của mình có cả gián điệp không?”

Tôi kìm lại, cố không nói “Đã biết cả năm rồi.”

“Không phải ông D’Arnoq,” Pfenninger tiếp. “Ông ấy chỉ bịp các vị có bảy ngày thôi. Có người đã biến các vị thành trò hề nguyên một năm qua.”

Tôi không hề muốn chứng kiến cảnh này. “Đừng, Pfenninger.”

“Đúng thế, đau đớn thật, nhưng veritas vos liberabit[64] - và nhớ cho, làm trò tiêu khiển cho tôi lúc này là cách câu giờ duy nhất của cô…”

Đúng vậy. Tôi nghĩ đến Esther vô thể, đang vận công làm cơn tâm hỏa thiêu bên trong đầu Ōshima. Mỗi giây đều đáng quý. “Ngươi cứ tự nhiên.”

Pfenninger búng ngón tay về phía Cổng Đen, Sadaqat bước vào, điệu bộ của anh ta đã đổi từ quản gia khiêm nhường sang đội trưởng đội hành quyết. “Xin chào, các bằng hữu yêu quý. Lựa chọn của tôi là thế này: một bên là thêm hai mươi năm làm việc nhà, giặt giũ, nhổ cỏ, già cả, ống thông tiểu, bệnh tiền liệt tuyến; một bên là hay cuộc sống vĩnh hằng, được đào tạo miễn phí trong U Minh Phái và giấy tờ nhà 119A. Mmmm. Cho tôi thời gian suy nghĩ. Chừng hai mươi giây. Ấy dà, hóa ra Hầu Hạ Phái không hợp với tôi lắm.”

Holly sốc: “Họ đã tin tưởng anh! Họ là bạn anh kia mà!”

“Nếu bà biết Trắc Thời Phái lâu hơn năm ngày, bà Sykes,” Sadaqat bước đến đầu bàn phía kia và dựa lên như thể đấy là bàn nhà anh ta, “thì cuối cùng bà cũng sẽ ngộ ra rằng Trắc Thời Phái là câu lạc bộ của những kẻ bất tử chuyên ngăn cản người khác tìm cách có được cái đặc quyền của họ. Họ là tầng lớp quý tộc. Giống như một đất nước của người da trắng vậy đó - xin lỗi đã mang chuyện chủng tộc vào đây, nhưng phép so sánh hoàn toàn chính xác - một thành lũy giàu có, dân da trắng, đế quốc, chuyên bóc lột, sẵn sàng lật úp những chiếc thuyền của người tị nạn từ Xứ Thường Dân Da Nâu Lộn Xộn. Việc tôi vừa làm là chọn phương án sống sót. Mọi sinh vật đều sẽ làm như thế.”

“Chúc mừng anh đã có việc mới, Sadaqat.” Arkady ra vẻ chân tình, trơn tuột. “‘Kẻ gặt linh hồn’. Thật là xứng đáng quá đỗi.”

Sadaqat cười đểu: “Tên quản gia Pakistan cung cúc mà cũng biết nhận ra lối mai mỉa của Arkady đấy.”

Ōshima hỏi, “Thế biệt hiệu mới của anh là gì, Sadaqat? Thiếu tá Trung Thực? Gián Điệp Tạo Phản? Hay Judas McJanus[65]?”

“Nhưng tên tôi không phải là thế này: Ông Đừng-lo-cho-Sadaqat-hắn-sẵn-lòng-nổ-bom-tan-xác-mình-để-bảo-vệ-bọn-Vô-Thời-Khách-đức-độ.”

“Sadaqat đã làm tròn vai,” Tôi nói với Pfenninger. “Hãy để anh ta đi.”

Pfenninger búng nhẹ nơ cà vạt. “Đừng giả vờ đọc ý tôi, Marinus. Lẽ nào cô biết mà lại đi nuôi ong tay áo.”

“Được thôi, tôi chẳng biết gì cả. Anh ta đã làm theo lệnh của ông. Đã do thám chúng tôi. Đã ném đi mười kí nhựa dán Blu Tack. Hãy để anh ta đi.”

Sadaqat gào lên, kể từ lần đầu tiên tôi chữa bệnh cho anh ta ở Bệnh viện Dawkins, Berkshire, Anh Quốc, anh ta chưa bao giờ gào như thế. “Không phải là Blu Tack! Là N9D. Chất nổ cực mạnh, chính các người cột vào ngực tôi!”

“Marinus, thực ra anh ấy cũng có phần đúng,” Arkady lên tiếng. “Công ty Blu Tack sản xuất thứ đó, nhưng chính xác thì thương hiệu là White Tack kia.”

Sadaqat đứng trên ghế băng. “Đồ dối trá! Chính các người kéo tôi theo để làm mìn sống!”

“Tôi đã ba lần cố thuyết phục anh đừng tham gia Sứ Mệnh Thứ Hai kia mà Sadaqat,” tôi nhắc cho anh ta nhớ.

“Nếu muốn thì bà đã phân linh tôi. Còn ông Pfenninger sẽ không ‘để tôi đi’ đâu! Tôi là Ẩn Sĩ Thứ Mười Hai.”

“Xin lỗi vì lại mang chuyện chủng tộc ra đây,” Arkady nói, “nhưng anh nhìn Ẩn Sĩ từ Một đến Mười Một thử xem. Anh thấy có điểm chung chủng tộc gì không?”

Sadaqat gần như bị miễn nhiễm với nghi ngờ. “Tôi đã được chiêu mộ để cải thiện sự… sự cân bằng của Ẩn Sĩ.”

Cái phì cười của Arkady chuyển thành ho. “Xin lỗi, có chút nước miếng chạy sai chỗ. Và tại sao cả băng Người Da Trắng lại chọn anh?”

“Vì tâm áp của tôi cực mạnh, vì vậy đó!”

“Thật tội nghiệp.” Ōshima ngáp. “Tôi đã từng ăn những đĩa dim sum có tâm biệt năng còn mạnh hơn anh.”

“Ta tò mò thật đấy, Marinus,” Immaculée Constantin lên tiếng. “Bệnh nhân tâm thần cưng của ngươi vừa bán đứng ngươi. Chẳng lẽ không có gì khiến ngươi khinh bỉ con người sao?”

“Có chứ, tội giết chóc chẳng hạn. Nhưng ở đây là chính cô, vì cô đã méo mó nỗi sợ chết của Sadaqat thành sự phản bội. Tôi xin lỗi, Sadaqat. Đây là chiến tranh. Tôi phải để cho họ tin rằng anh là tay trong của họ. Ít ra cũng xin cảm ơn anh về khu vườn. Điều đó không thay đổi.”

“Tôi là Ẩn Sĩ Thứ Mười Hai. Nói cho họ biết đi, Bà Constantin, những gì bà đã nói với tôi ấy. Về tiềm năng của tôi để theo U Minh Phái.”

“Ngươi có tiềm năng rên rỉ ỉ ôi khiến người ta hết muốn sống, Sadaqat.” Khi Constantin giở giọng dịu dàng, tôi biết chúng tôi không còn nhiều thời gian nữa. “Nói về tâm biệt năng, ngươi là thể loại bắn đạn giả. Tệ hơn nữa, ngươi là một kẻ phản bội. Một kẻ phản bội bất tài, không có chakra, da nâu.”

Sadaqat nhìn quanh đám Ẩn Sĩ da trắng cao lớn, không tin vào mắt mình. Tôi không thể nhìn vào vẻ mặt vừa đổi của anh ta. Nhưng tôi đã nợ anh ta vụ này. Rồi, thật nhân từ, anh ta quay lưng về phía chúng tôi, run rẩy tiến vài bước đến Cổng Đen. Hai người gác ở sau chặn lại. Sadaqat cố chạy trốn ra cửa nhưng Pfenninger vận linh tóm anh ta lại, kéo thật lực rồi ném lên cao cả sáu mét. Tôi không thể can thiệp. Sứ Mệnh Thứ Hai đòi hỏi chúng tôi dành từng volt tâm áp cho trận song đấu. Constantin dùng tay ra dấu để áp Bạo Lệnh, và đầu của Sadaqat bị vặn ba trăm sáu mươi độ. “Rồi,” Constantin gừ hừ sung sướng. “Bọn này có ác ôn gì lắm đâu? Nhẹ nhàng nhanh chóng. Gà còn tội nghiệp hơn khi bị vặn cổ, phải không Holly?”

Xác của Sadaqat rơi xuống mặt đất, và một Ẩn Sĩ mọn vận công ném xác qua cửa sổ phía đông, như người ta ném túi rác. Ít ra linh hồn của anh ta cũng sẽ tìm được đường ra Bể Cuối, chứ không như những “vị khách” khác, bị mang đến đây để thanh linh.

Chúng chuẩn bị tấn công, Unalaq ngầm-cảnh báo tôi.

Cảm giác như một nhạc trưởng chuẩn bị giơ gậy lên để chỉ huy dàn nhạc Ngày Tận Thế, tôi nói. “Bắt đầu.”

Unalaq dựng một khiên linh chắn nối giữa hai bức tường, cô lập góc phía bắc Nhà Nguyện. Cách đến ba mươi bước, cường độ linh chắn vẫn khiến Pfenninger, Constantin, Hugo Lamb và D’Arnoq bị đẩy lùi vài bước. Khiên linh chắn bắt rễ từ đôi tay Unalaq đang đưa lên, lấp lánh, một thấu kính xanh biếc của lực Dòng Sâu. Pfenninger và Constantin nhìn vào từ rìa ngoài của linh chắn, ánh mắt khinh khỉnh. Tại sao vậy? Elijah D’Arnoq chắp tay thành loa và hét về phía chúng tôi. Mất vài giây tiếng của hắn mới xuyên qua được khiên của Unalaq, đến tai rời rạc nhưng vẫn nghe rõ: “Ở đằng sau ấy!”

Tôi quay lại. Thật ghê gớm, hình tượng cháy đen của Thầy Cathar Mù đang tự phục hồi. Làn da của vị tu sĩ nổi lên, vòng hào quang vàng bắt đầu sáng lấp lánh. Tệ hơn, chấm đen mắt chakra đang trở lại. Một khi nó nở ra hết cỡ, Thầy Cathar sẽ thanh linh chúng tôi, từng người một.

Pfenninger trêu ngươi: “Xem các ngươi vừa tự nhốt mình với ai!”

“Để tôi,” Ōshima gọi với ra. “Marinus, Arkady, giữ khiên ở đó. Tạm biệt Esther.” Linh hồn Esther rời khỏi Ōshima, chuyển về một phía, sôi sục khi chị gọi Lệnh Cuối. Rồi người chiến binh tóc hoa râm quay lại, nắm chặt lấy mép hình tượng và giữ đầu cách đầu của Thầy Cathar Mù một bước. Anh nhắm mắt thường lại và truyền tâm áp Dòng Sâu từ mắt chakra đang rực sáng thẳng vào đồng tử màu đen trên trán của hình tượng. Ōshima không thể nào đánh thắng kẻ khởi nguồn vô thể của U Minh Phái, nhưng anh có thể kéo dài thời gian, cho chúng tôi thêm một phút quý giá.

Tuy nhiên, Pfenninger đã kịp thấy được linh hồn đang ẩn nấp, và hét ra lệnh. Các Ẩn Sĩ tiến về khiên của chúng tôi, hai hàng năm từ mỗi cạnh bàn, bàn tay liên tục áp lệnh dữ dội. Giọng Constantin truyền đến tai tôi: “Đập cái khiên và giết đứa đang nấp trước!” Arkady, Unalaq, Holly và tôi bị đẩy lùi lại bởi một hàng rào lửa âm ỉ cháy lởm chởm, roi laser và đạn siêu thanh. Tôi cảm giác hệ thần kinh của Unalaq đang gào thét dưới mỗi nhát đòn. Arkady và tôi phản công, phóng đạn Dòng Sâu từ chakra trên bàn tay xuyên qua khiên của Unalaq. Khi đến mục tiêu, đạn sẽ đoạn lệnh, gây mê hay xóa đi một Ẩn Sĩ khỏi cuộc giao tranh, nhưng bom cháy của U Minh Phái sẽ rán thịt chúng tôi. Kiểu như Ẩn Sĩ có súng phun lửa, trong khi chúng tôi chỉ có phi lao gây mê và một cái khiên chống bạo động, mà khiên đã bắt đầu nứt. Qua ánh lửa bập bùng tôi thấy Arkady và tôi đã may mắn trúng hai mục tiêu. Cammerer Ẩn Sĩ Thứ Tám ngã quỵ và Osterby Ẩn Sĩ Thứ Sáu bị đoạn lệnh, mất thăng bằng, lăn quay như một súc thịt lợn, nhưng Du Nord đã kịp dựng một khiên U Minh Phái để ngăn ngừa tổn thất tiếp theo.

Chúng tôi vẫn đang bị áp đảo trong thế trận chín đánh ba, bị nhốt chung với một á thần ác độc mà chắc chắn Ōshima không thể chống đỡ lâu hơn nữa. Holly khom người bên tường. Tôi không có thời gian để đoán xem cô đang nghĩ gì. Unalaq rùng mình khi khiên đỏ của kẻ thù đập vào khiên của chị, với cường độ của một đoàn tàu và tiếng rít của máy mài đá. Sắc xanh Dòng Sâu chuyển thành một thứ màu tím lở lói ở điểm tiếp xúc, và Unalaq bị đẩy lùi một bước, bước nữa, bước nữa, rồi bước nữa, khiến lãnh địa tam giác của chúng tôi rút lại chỉ còn một vài mét vuông. Tôi không có thời gian để kiểm tra xem Holly đã lùi lại để vẫn còn đứng ở phía chúng tôi không, bởi vì hai Ẩn Sĩ nữa vừa đưa chakra bàn tay lên, và xuyên qua một loạt tâm-đạn rạt rạt, tôi nghe tiếng Constantin hét: “Nghiến chết chúng như kiến đi.”

Arkady trút tâm áp của anh vào khiên của Unalaq, tạm thời củng cố khiên, nhưng hỏa lực của Ẩn Sĩ tiếp tục tuôn, cường độ tăng gấp hai, gấp ba, gấp bốn. Trận tâm song đấu trở nên quá sáng khiến tôi bị chói, qua mắt chakra tôi thấy chiếc bàn dài bay lên chừng ba mét, lơ lửng ở đó trong giây lát như chim săn mồi, rồi vụt thẳng về phía Arkady và Unalaq. Theo phản xạ, tôi ra dấu áp lệnh hủy thật nhanh, và chặn được khi nó chỉ cách gương mặt đang nghiến chặt của Arkady có một nắm tay, hai đầu bàn nằm hai phía của hai tấm khiên đang kình nhau. Rồi trò kéo co, mà thật ra là chống đẩy bắt đầu, Pfenninger cố đánh Unalaq và Arkady để làm rơi khiên, trong khi tôi cố chặn lão. Hai bên vật lộn giành quyền kiểm soát cái bàn trong một giây chới với, ngỡ thật lâu, nhưng các Ẩn Sĩ vừa tiếp viện cho Pfenninger và đột nhiên tôi bị áp đảo và cái bàn đập vào đầu của bác sĩ Iris Marinus-Fenby. May sao, bàn rơi sau khiên của chúng tôi, vậy là không thể được tiếp tục dùng làm vũ khí, nhưng sọ tôi đã bị móp vào một nửa và tôi xuất linh trước khi chết não. Nguyên nhân chết: Bàn Bay. Đó là lần đầu tiên và, sau khi tôi chết-chết trong Bụi Tối, cũng là lần cuối cùng.

Qua màu tím mỗi lúc một đỏ dần tôi thấy Pfenninger, Constantin và những bóng dáng khác chỉ cách có vài bước, tập trung hỏa lực vào Unalaq cho đến khi một vết nứt xé toang khiên của chúng tôi. Baptiste Pfenninger mỉm cười như một người cha tự hào, đưa bàn tay ra trước Unalaq, và một chấm đầu kim sáng rực thiêu đốt một đường trong không khí giữa tay lão và tim của Unalaq. Viên tâm đạn đum đum lộn trái một nửa thân xác của người đồng nghiệp, giờ đây là thân xác cũ của người đồng nghiệp đã chết, cho đến khi xác ấy bẹp xuống chỉ còn là một mớ héo rũ toàn xương và nội tạng. Pfenninger và Constantin sáng mắt hớn hở. Arkady vẫn vô vọng cố sức sửa khiên linh chắn màu xanh nhợt nhạt của chúng tôi trong khi Ōshima bị nhốt trong một cuộc đấu tay đôi với hình tượng đang tỏa sáng của Thầy Cathar Mù.

Thấy xác chết của tôi dựa vào tường, Ẩn Sĩ luận rằng không còn kẻ có tâm biệt năng nào có thể tấn công chúng được nữa, tấm khiên đỏ của chúng chớp tắt. Chúng sẽ phải trả giá cho sai lầm đó. Ở trạng thái vô thể, tôi trút tâm áp vào một tâm cầu và phóng nó về phía kẻ thù. Tâm cầu đập vào Imhoff và Westhuizen, Ẩn Sĩ Thứ Năm và Thứ Bảy, cả hai quỵ xuống. Ba chống bảy. Tôi nhập linh vào Arkady để giúp anh sửa chữa khiên linh chắn, khiên đổi màu xanh sẫm và đẩy lùi đám Ẩn Sĩ còn lại. Tuy nhiên, khi Arkady liếc về phía Ōshima, tôi thấy anh đang thua cuộc. Thân xác anh đang dần bốc hơi. Đi tới chỗ Holly đi, Arkady ngầm-ra lệnh cho tôi. Tôi tuân theo mà thậm chí không nói lời tạm biệt, một sai sót khiến tôi áy náy ngay cả khi tôi vận linh vào Holly, nhập linh, áp Huấn Lệnh tuyệt đối và… Và làm gì đây?

Giận dữ vì mất Imhoff và Westhuizen, bảy Ẩn Sĩ còn lại dồn hết sức lực ra đòn với Arkady, tấm khiên xanh lụi dần. Arkady đã cạn kiệt. Anh đứng thẳng dậy, chĩa ngón tay thối về phía Baptiste Pfenninger. Thầy Cathar Mù khiến anh bốc hơi từ phía sau bằng một tâm chớp sắc lẻm, nhanh chóng. Trận chiến đã kết thúc. Chúng sẽ giết Holly hay biết đâu sẽ cố thanh linh cô. Tôi không thấy mà cũng không thể giao tiếp với Esther, nhưng chỉ trong vài giây nữa Thầy Cathar Mù sẽ tâm-định vị linh hồn của cô, hủy diệt nó và Trắc Thời Phái sẽ thua trong cuộc chiến trăm năm với Ẩn Sĩ, những kẻ…

Ánh sáng ngập Nhà Nguyện, xuyên qua những bàn tay che lên mắt, xuyên qua mí mắt sau những bàn tay đó, xuyên qua giác mạc và dịch thủy tinh, qua thân xác, qua linh hồn… Một màu trắng, thật trắng đến thành đen. Esther đã làm được. Esther đã chiến thắng. Tôi chờ tiếng gãy đổ như xương vụn khi Nhà Nguyện sụp xuống ngay đoạn giữa. Tôi chờ tiếng la hét của Ẩn Sĩ khi cỗ máy trường sinh tan tành quanh chúng.

Những giây trôi qua… Nhiều giây trôi qua.

Màu đen trên cả trắng nhạt dần thành màu trắng.

Màu trắng tuột dần các lớp, trở lại thứ màu đá lửa xám, đùng đục như sữa.

Thị giác quay trở lại. Tôi mở mí mắt của Holly, nhìn lên từ chỗ cô nằm, lên nóc Nhà Nguyện. Vẫn chưa sụp xuống.

Tôi nghĩ, Lệnh Cuối của Esther đã không đủ mạnh.

Tôi nghĩ, Thầy Cathar Mù đã phản công.

Lý do tại sao Esther thất bại chẳng còn quan trọng nữa. Sứ Mệnh Thứ Hai là cơ hội cuối cùng. Trắc Thời Phái nay chỉ còn L’Ohkna - hacker và Roho - vệ sĩ. Trắc Thời Phái đã thua cuộc và Ẩn Sĩ đã thắng.

Cơ thể Holly muốn rên rỉ và nôn thốc tháo, nhưng tôi cố giữ nó trong một trạng thái tĩnh, như đã chết, trong khi cố suy nghĩ… Nghĩ gì? Tôi không còn đủ tâm áp cho một lần phóng tâm đạn. Cố cứu lấy linh hồn mình? Xuất linh khỏi Holly, cố ngụy trang và lơ lửng gần đó khi cô bị giết hay bị thanh linh, cho đến khi Thầy Cathar Mù nhận ra chú lợn con sợ sệt đang nấp trong góc? Tôi gần như ghen tị với Esther. Ít ra chị đã chết trong cái niềm tin lầm lạc rằng chị đã mang về thắng lợi cuối cùng cho Trắc Thời Phái.

Những Ẩn Sĩ sống sót định thần lại. Pfenninger vẫn đứng ngay ở gian giữa giáo đường hình thoi. Constantin, D’Arnoq, Hugo Lamb, Rivas-Godoy, Du Nord và O’Dowd còn đó. Một hay hai trong số những kẻ đã ngã gục có thể sẽ tỉnh trong lát nữa, có thể không. Ẩn Sĩ sẽ bị giảm quân số, nhưng hẳn chúng có danh sách của những Thực Nhục Khách tiềm năng, và chỉ trong chừng một hai thập kỷ, chúng sẽ lại hoạt động, và lại săn mồi hết công suất. Nhà Nguyện Bụi Tối không hề xây xước. Ngoài bàn ghế bị lật ngửa, và một hình tượng méo mó, bị treo lệch góc, không có dấu hiệu gì khác của trận giao tranh dữ dội cách đây chỉ mới một phút. Tôi không biết phải làm gì, vậy là tôi cứ ở nguyên trong đầu Holly, tê liệt trong cảm giác do dự bất lực.

Elijah D’Arnoq hỏi, “Ánh sáng đó là gì vậy?”

“Một Lệnh Cuối,” Pfenninger nói. “Rất mạnh. Câu hỏi là, đứa nào đã gọi lệnh đó?”

“Esther Little,” Constantin đáp, “trong trạng thái vô thể. Phản Kịch Bản không hề công nhận cái chết của ả, như ông cũng biết. Tôi cảm nhận được ả. Ả đã tấn công nghi-tuyến của Nhà Nguyện, với hi vọng dùng nó đánh sập Nhà Nguyện, để Bụi Tối tràn vào. Còn ai nữa nếu không phải ả có thể tính toán được vụ tấn công này? Ta may mắn là vụ nổ cuối cùng của ả không mạnh như ả đã mong đợi.”

“Vậy ta đã thắng Cuộc Chiến?” Rivas-Godoy hỏi.

Pfenninger nhìn Constantin. Đồng thanh, chúng tuyên bố, “Đúng vậy.”

“Thôi thì,” Pfenninger thừa nhận, “ta sẽ phải thu dọn bãi chiến trường. Cũng có vài vết thương phải liếm, nhưng Trắc Thời Phái đã chết. Nuối tiếc duy nhất của tôi? Rằng Marinus đã không sống đủ lâu để biết rằng ả đã thất bại hoàn toàn, thất bại thê thảm ra sao. Thầy Cathar Mù hẳn đã thủ tiêu ả giữa lúc giết Ōshima và Arkady.”

“Vất luôn ả Sykes ra chỗ Sadaqat đi,” Constantin nói, bước về phía chúng tôi. Ả hỏi D’Arnoq, “Tại sao Marinus lại mang ả theo? Ta không… Đợi một phút nào.” Ả nhìn tôi, cặp mắt man dại không hẳn giống người. “Ông Pfenninger. Tôi tin ta còn có món kẹo bạc hà tráng miệng nữa.” Constantin thận trọng tiến thêm vài bước. Ả mỉm cười. “Thật là quý hóa, Holly Sykes đang… gọi là gì nhỉ?…chơi trò giả chết. Làm thế nào…?”

Một tiếng KA-BOOOOOOOMMM vang dội, gào rú… phủ lên Nhà Nguyện, Constantin ngã xuống nền nhà, đám còn lại cũng ngã theo. Tôi-trong-Holly nhìn vào đường nứt, nỗi sợ hãi chuyển thành hi vọng, rồi thành niềm vui tột cùng khi tiếng thân-tàu-sắt-va-đá-ngầm chấn động, xé gió gào lên, mỗi lúc một lớn và đường nứt như sợi tóc trở thành một đường màu đen chạy zig-zag từ mái phía bắc đến đằng sau hình tượng. Âm thanh ghê gớm chầm chậm tắt dần, nhưng để lại phía sau một sự im lặng chết chóc, đe dọa sẽ còn nữa… Từ chỗ tôi-trong-Holly đang khom người, tôi thấy con rắn thần trông như hào quang đang quay vòng, rồi rơi xuống. Nó vỡ ra như một nghìn đĩa sứ vỡ, mảnh vỡ tung tóe vương vãi khắp trên sàn đá, như mười nghìn sinh vật nhỏ đang chạy trốn. Một mảnh lớn bằng quả bóng cricket suýt va vào đầu Holly. Tôi nghe tiếng Baptiste Pfenninger vang như chuông điệu đà “Chết thật! Cô có thấy không, Constantin?” Tôi nghĩ đến việc kiểm tra tâm áp của Holly, và thấy dự trữ tâm áp nhiều hơn tôi đã đoán.

“Đấy đã ăn thua gì,” Constantin gằn giọng. “Ông không thấy vết nứt sao?” Im lặng, tôi áp Ngụy Lệnh. Nếu một người có tâm biệt năng nhìn trực tiếp vào tôi lúc này, họ sẽ chỉ thấy một đường biên nhạt nhòa, nhưng được vậy còn hơn không, và bảy Ẩn Sĩ giờ đây mải lo lắng về kết cấu Nhà Nguyện. Đáng lo đấy chứ. Đi dọc theo bức tường về cửa sổ phía tây, chúng tôi nghe tiếng rít của đá bị ép.

Elijah D’Arnoq là người đầu tiên nhận ra. “Ả Sykes!”

O’Dowd, Ẩn Sĩ Thứ Mười Một, hỏi, “Ả đi đâu rồi?”

“Ả đang chứa một đứa,” Du Nord ồm ồm. “Có đứa đã ngụy trang ả.”

“Chặn Cổng Đen lại!” Constantin lệnh cho Rivas-Godoy. “Là Marinus! Đừng để ả đi ra! Tôi sẽ áp Hiển Lệnh và…”

Tiếng quái vật gầm rú trên đầu, đá rơi như mưa từ vết nứt, giờ đây đã thành một vết cắt lởm chởm. Tôi hiểu rồi. Lệnh Cuối của Esther đã hiệu nghiệm, và chỉ có Thầy Cathar Mù giữ cho Nhà Nguyện được toàn vẹn. Nhưng đến giờ sức mạnh cổ xưa ấy cũng đang lụi dần.

“Pfenninger, TRÁNH RA!” Constantin hét lên.

Nhưng bản năng sống sót của Ẩn Sĩ Thứ Nhất có lẽ đã bị ru ngủ bằng hai thế kỷ uống Hắc Tửu, khỏe mạnh và giàu có, lão ta nhìn vào chỗ Constantin đang nhìn trước khi, chứ không phải sau khi hụp xuống cho an toàn. Một phiến đá từ mái Nhà Nguyện bằng cỡ xe ô tô là thứ cuối cùng mà Baptiste Pfenninger trông thấy trước khi bị nghiến nát, như quả trứng dưới búa tạ. Sàn đá tiếp tục bùng nổ. Tôi rút ngụy lệnh và dựng một khiên che thân. Du Nord, một thuyền trưởng người Pháp đã theo U Minh Phái từ năm 1830 đến ngày nay, đã không kịp tự bảo vệ mình trước loạt đạn của những mảnh vỡ, và mặc dù Du Nord không bị giết chết, bà vợ hiện tại hẳn sẽ không nhận ra ông chồng mình. Ba bốn hình bóng có khiên che thân đang chạy về phía Cổng Đen; như một phiến băng vỡ ra thành những tảng băng trôi, mái phía nam trượt xuống, chặn lối thoát. Hầm mộ của chúng tôi xem như đã được đóng lại.

Qua những khe nứt nẻ trên mái nhà, những ngọn khói Bụi Tối đục ngầu, sàn sạn chảy vào, dò dẫm và lan tỏa bên trong Nhà Nguyện. Bụi Tối rì rầm, không hẳn giống tiếng ong bay, và lầm bầm, không hẳn giống tiếng đám đông, rồi thầm thì, không hẳn giống tiếng cát chảy. Một tua khói xoắn giãn ra phía sau Elijah D’Arnoq khi gã lùi lại để né phiến đá rơi. Không bị khiên che thân ngăn cản, Bụi Tối quét qua cổ D’Arnoq, và gã bị biến thành một đám mây Bụi Tối hình người, hình dạng ấy chỉ giữ được trong giây lát.

“Marinus, là chị ở trong đó phải không?” Holly hỏi.

Xin lỗi, tôi áp huấn lệnh cho chị mà không hỏi xin phép. “Ta đã đánh bại chúng rồi, phải không? Aoife đã được an toàn.” Tất cả đều được an toàn, Ẩn Sĩ không làm gì được họ lúc này.

Chúng tôi nhìn quanh Nhà Nguyện đầy đất đá và xác người. Chỉ có ba bóng người che khiên đỏ là còn thấy được. Tôi nhận ra Constantin, Rivas-Godoy và Hugo Lamb. Trong góc, hình tượng Thầy Cathar đang bong tróc và xói mòn, như thể bị rưới acid. Nhà Nguyện mỗi lúc một tối dần. Lúc này, những cánh tay của Bụi Tối đã phủ được ít nhất một phần tư Nhà Nguyện.

“Cái món Bụi Tối đó,” Holly nói. “Trông không đau đớn gì lắm hả.” Xin lỗi đã kéo chị vào rắc rối này.

“Không sao. Đâu phải chị, mà là Chiến Tranh.” Chỉ còn một vài khoảnh khắc nữa thôi.

Một tiếng động inh tai từ góc phía bắc chuyển thành tiếng rung chuông hỗn loạn. Ở chỗ treo bức tranh hình tượng, một hình elip mở ra, ánh trăng tái nhạt chiếu vào. “Tiếng động đó,” Holly nói, “nghe như tiếng rung chuông báo hết giờ ở quán Thuyền Trưởng Marlow. Là gì vậy, Marinus?”

Cách đó vài bước, một lưỡi Bụi Tối liếm thân xác bị tâm-mê của Imhoff vào hư vô.

Tôi chịu, tôi ngầm-thừa nhận. Một hi vọng chăng?

Rõ là ba Ẩn Sĩ sống sót cũng nghĩ tương tự và ngay lập tức hướng về góc phía bắc. Tôi-trong-Holly chạy theo, hay cố chạy theo, nhưng một vệt Bụi Tối dài quét qua cửa sổ phía đông, giờ đã mất khiên chắn. Tôi trượt chân trong vũng lầy tàn tích của Baptiste Pfenninger, và kịp nấp vào một vùng không khí sạch tràn đến gian giữa giáo đường, trước khi cột Bụi Tối màu xám như đàn ong vỡ tổ đẩy tôi về bức tường phía Tây. Nhà Nguyện giờ đã quá nửa là Bụi Tối, và ba mươi bước đến hình elíp như một bãi mìn mù mịt rung chuyển. Tôi vấp lên thân xác cũ của chính mình, đang nằm tênh hênh, nhưng chỉ trong vài giây bác sĩ Fenby sẽ không còn nữa. Như có phép màu, chúng tôi vẫn còn may mắn và đến được chỗ hình elíp. Constantin và hai người đồng hành đã đi đâu mất. Một lối thoát khẩn cấp chăng? Chẳng có vẻ ăn nhập gì với thiết kế của Thầy Cathar Mù cả. Hình elip sáng lên khi Nhà Nguyện tối dần. Trông nó như một lớp màng, qua đó ta thấy mây bay, như cả bầu trời đang dịch chuyển. Tôi nhìn Nhà Nguyện một lần cuối, giờ đã ngập Bụi Tối. Mái phía đông trượt vào. “Mình còn gì để mất nữa đâu?” Holly hỏi. Tôi hít một hơi thật sâu vào buồng phổi của chủ thể, rồi bước vào…

…và bước ra một lối đi, chỉ vừa một người đi, cao hơn đầu người một chút, thắp sáng bằng ánh sáng đang chết dần trong Nhà Nguyện và bề mặt sáng trăng mà chúng tôi vừa bước qua, dường như không hề bị thương tích. Vẫn còn nghe được tiếng Nhà Nguyện đang sụp đổ, nhưng nghe như cách chỗ chúng tôi cả dặm, chứ không chỉ vài mét. Lối đi thoải dốc xuống mười bước, dẫn đến một bức tường, rồi chia nhánh ra trái và phải. Ở đây ấm hơn. Tôi chạm lên tường. Nhiệt độ da người, có màu đỏ như Sao Hỏa và bề mặt như gạch sống. Nếu âm thanh, ánh sáng và da thịt có thể bước qua tấm màng đó, tôi e rằng Bụi Tối cũng sẽ nhanh chóng đuổi theo chúng tôi. Một khiên che thân lúc này là khôn ngoan, đặc biệt là với ba Ẩn Sĩ ở phía trước, nhưng tâm áp của Holly xuống thấp, phần tôi gần như cạn kiệt, vậy là tôi bước dọc theo lối đi ngắn ra đến cuối. Cả hành lang bên trái và phải đều uốn vào bóng tối. Chỗ này có cảm giác như bãi tha ma, tôi ngầm-nói với Holly, nhưng…

“Thầy Cathar Mù đâu có thiết gì xác chết, phải không?”

Đúng vậy. Như xác của Sadaqat, những xác đã thanh linh đều bị vứt đi. Tôi nhìn lên hành lang phía sau. Hình elip nhạt dần khi Nhà Nguyện tàn lụi. Tôi ngầm-hỏi Holly, Chị nghĩ sao? Trái hay phải?

“Marinus, tôi nghĩ là tôi vừa thấy có chữ viết, trên tường, cao cỡ thắt lưng.”

Tôi nhìn xuống và thấy, khắc như dấu hiệu của thợ điêu khắc: JS

“JS?” Holly nói. “Jacko? Marinus, hồi đó Jacko vẫn hay ký tên…”

Một âm thanh như tiếng chuông đổ dưới nước cắt ngang lời cô, và chúng tôi nhận ra sự thay đổi trong không khí, biết rằng Bụi Tối đang đuổi theo. “Trái, Marinus,” Holly ra lệnh. “Rẽ trái.”

Không có thời gian để hỏi liệu cô ấy có chắc không, hay làm sao mà biết. Tôi tuân lệnh, vội vã chạy dọc lối đi hẹp đen như than, uốn lượn và tù túng. Trái tim năm-mươi-sáu-tuổi của Holly đập thình thịch và tôi nghĩ tôi đã khiến cô bị trặc cổ chân khi chạy qua Nhà Nguyện lần cuối. Holly lớn hơn Iris mười tuổi, tôi cần phải nhớ điều đó. “Dò ngón tay tôi dọc theo bức tường,” cô nói với tôi, gần như thì thầm.

Nếu chị muốn lái xe, tôi sẽ giao lại cho chị.

“Ừ. Làm vậy đi.” Cô dựa người vào tường một lúc, đến khi có cảm giác thăng bằng trở lại. “Lạy Chúa, thật là kỳ dị.”

Tôi có thể thắp một ngọn tâm-đăng, nhưng làm vậy dễ gây sự chú ý.

“Nếu cú đoán đại của tôi là đúng, tôi sẽ không cần đèn. Nếu tôi sai, có đèn cũng chẳng ích gì. Tôi sẽ biết ngay thôi. Lối này vẫn đi theo đường cong, cô có thấy vậy không?”

Đúng thế. Nó là một vòng cung. Đã được chừng một trăm bước rồi.

Holly dừng lại. Chúng tôi nghe hơi thở cô dập dồn, tim đập thình thịch và âm thanh rì rầm của Bụi Tối. Cô nhìn phía sau, và một tia sáng yếu ớt đơn sắc rực lên trong bóng tối. Holly đưa tay lên và chúng tôi chỉ thấy đường biên đen hình bàn tay, loáng thoáng ánh sáng của chiếc nhẫn. Bụi Tối có lân quang riêng, tôi báo. Nó đang tràn vào lối đi sau lưng ta, tốc độ của người đi bộ. Cứ đi tiếp.

“Hắc ám,” Holly nói. Cô bắt đầu đi tiếp mà mặc dù tôi rất muốn phân linh để biết cô đang nghĩ gì, tôi quyết định sẽ tin tưởng Holly. Thêm năm mươi bước và Holly dừng lại, thở không ra hơi. Nỗi sợ hãi của cô giờ đã được thế chỗ bằng hi vọng. “Tôi đang tưởng tượng sao, Marinus?

Đầu ngón tay phải của tôi đang chạm vào cái gì thế?”

Tôi kiểm tra, rồi lại lần nữa. Không có gì cả.

Cô quay về bên phải, đưa lòng bàn tay ra giữa khoảng không. Cô chạm hai bên lối đi và chúng tôi cảm thấy có một lối hẹp trổ ngay vào tường. “Một chút ánh sáng bây giờ được không, chỉ cần ánh diêm thôi?”

Tôi bán-xuất linh khỏi mắt chakra của Holly và gọi đến một đốm sáng yếu. Chủ lưu thể của tôi hôm nay đã thấy quá nhiều việc kỳ khôi, không còn ngạc nhiên khi có ánh sáng phát ra từ giữa trán mình nữa. Phía trước, một đường hầm nối dài năm bước, dẫn ra một giao lộ trái-phải nữa. Về bên trái, lối đi ban đầu uốn cong chạy ra xa. Về bên phải, Bụi Tối đang ngấp nghé ở khúc quanh, không xa lắm. “Ta đang ở bên trong,” Holly thì thầm. “Tắt đèn đi. Lúc này tôi tin tưởng trí nhớ hơn mắt mình.” Nếu chị vừa đi vừa nói được thì, tôi ngầm-nói, tôi đang rất, rất tò mò.

Holly bước về trước qua đường hầm nối đến khi tay cô chạm vào tường của một hành lang trái-phải mới. Holly rẽ phải. “Lần cuối cùng gặp Jacko,” cô hạ giọng, “tôi đang xếp đồ để đi khỏi nhà. Xi Lo có bao giờ kể chuyện này với cô không?”

Có lẽ đã kể… tôi không biết. Quá lâu rồi mà.

Chúng tôi bước thêm chừng mười bước trong bóng tối, tay trái Holly lại cảm giác thấy không khí. Một cái cổng nối nữa. Cô bước vào, bước chừng năm bước đến một lối trái-phải, rồi rẽ trái. Những hành lang này dường như đều có cùng tâm. “Ngay lúc tôi đang xếp đồ, Jacko xuất hiện, với một… một cái mê cung. Nó thường vẽ những mê cung, mê lộ lớn và rắc rối, chỉ để chơi cho vui vậy. Sắp đến một cổng nữa rồi…” Sau chừng mười bước trong bóng tối trên đường uốn cong, Holly tìm được một khoảng trống bên phải và đi qua đó. Để không làm Holly nản lòng, tôi không nói gì về mê cung mà Xi Lo từng thiết kế cho Vua William nhà Orange. Xuyên qua cổng là một nhánh rẽ trái-phải nữa. Holly rẽ phải. “Cái mê cung mà hôm đó Jacko đưa cho tôi, nó đơn giản hơn nhiều. Chỉ là một ổ năm hình tròn, với một vài khoảng trống nối kết giữa chúng. Nó bắt tôi hứa phải học cho thuộc. Học thuộc đến nỗi, khi cần, tôi có thể tìm đường trong đó trong bóng tối, mà không mắc sai lầm nào…”

Và bây giờ ta đang ở ngay trong đó, tôi tiếp lời.

“Giờ mình đang ở trong đó. Chắc chẳng nên thắc mắc tại làm sao?”

Quá trình Truyền Linh Chất. Linh hồn Thầy Cathar Mù trở thành Nhà Nguyện Bụi Tối. Linh hồn của Xi Lo, tôi đoán, đã nhập vào kết cấu của Nhà Nguyện giữa Sứ Mệnh Thứ Nhất. Một khi vào bên trong, Xi Lo trở thành mê lộ này. Như một thứ ung thư lành tính, có lẽ thế?

Holly bước nhanh hơn. “Nhưng tại sao anh ấy lại làm vậy?”

Để tạo ra một con đường trở lại thế giới sau Sứ Mệnh Thứ Hai, nhưng chỉ có chị mới biết được. Những người khác… Cả Holly và tôi nghĩ đến ba Ẩn Sĩ đã vào đây trước chúng tôi, có lẽ đang mắc kẹt trong một ngõ cụt, với Bụi Tối lăm le đến.

“Jacko có biết ta đang ở đây không, cô nghĩ sao?”

Truyền Linh Chất là một lệnh bí truyền và rất mạnh. Tôi không thể áp lệnh đó, cũng không biết cơ chế của nó. Xi Lo chưa bao giờ kể với tôi là anh ấy có học lệnh đó. Thầy Cathar Mù đã biết khi chúng ta vào Nhà Nguyện, vậy nên, cũng có lý khi nói rằng đúng thế - Xi Lo -Jacko biết chị đang ở đây.

Holly tìm được một cổng vòm khoét vào bức tường bên phải, và bước qua đó.

Nếu mê lộ hình tròn, tôi ngầm - chỉ ra, chúng ta đang đi xa khỏi tâm của nó.

“Mình phải đi ra mới đi vào trở lại được. Giao lộ tiếp theo sẽ là một ngã tư. Cho tôi ít ánh sáng?” Tôi xuất linh và thắp đèn một lúc. Một ngã tư. Holly rẽ trái. Tôi nhập linh, tắt đèn.

Vậy chị đã giữ lời hứa, tôi ngầm-nói, đã học thuộc mê lộ.

“Đúng vậy. Đó là những lời cuối cùng Jacko nói với tôi. Tôi đùng đùng bỏ qua nhà bạn trai, không bao giờ gặp lại đứa em nhỏ nữa. Ruth, chị dâu tôi từng thích làm trang sức, chị đã chuyển phác họa của nó thành mặt dây chuyền bạc. Khi đi làm xa tôi mang theo bên mình. Gần như mỗi tuần tôi đều học thuộc nó. Chuẩn bị rẽ trái.”

Chúng tôi rẽ trái, và đầu đau nhói. Holly lăn lông lốc khi cô ngã xuống, lộn nhào. Cơn đau chạy khắp cổ chân và đầu gối, võng mạc chúng tôi bị thiêu đốt, hoa lên trước những cánh màu trong chớp mắt. Qua đó, khi chủ lưu thể ngẩng đầu lên, tôi thoáng thấy Constantin, mắt chakra của ả đỏ rực, đang đứng trước mặt chúng tôi. “Chỉ đường ra cho ta,” Ẩn Sĩ Thứ Hai giở giọng như mẹ dỗ con, “nếu không ta sẽ biến ngươi thành đuốc sống để soi đường.” Hai mắt chakra ở lòng bàn tay của ả đang đỏ rực, tâm-lao chờ sẵn trên tay đầy đe dọa. Holly run rẩy, lí nhí, “Làm ơn đừng giết tôi làm ơn đừng giết tôi.” Tôi không biết Constantin đã nghe được gì, ả biết gì, và sau cuộc giao tranh ả còn bao nhiêu tâm áp. Tôi đoán là còn đủ để giết chúng tôi vài bận. Tôi quyết định sẽ đánh lạc hướng ả khỏi Holly, trở lại Bụi Tối, để Holly ít nhất cũng có một cơ hội sống sót.

Tôi xuất linh, tỏa sáng.

Lạnh lùng mà thiêu đốt, Constantin lên giọng, “Ngươi là đứa nào?” Marinus, tôi ngầm-tuyên bố.

“Marinus. Còn ai nữa. Không còn nhiều thời gian. Dẫn đường mau.” Nếu cô giết cả hai chúng tôi, cô cũng sẽ chết.

“Nhưng ta sẽ chết mà vui lòng hơn, vì biết được ta đã giết ai cuối cùng.”

Trước khi tôi nghĩ ra một câu trả lời chiến lược, mắt chakra của Constantin tắt lịm, đầu ả ngả ra sau, ả gục xuống sàn. “TÔI NÓI RỒI MÀ!” Holly hét một tiếng điên loạn, rát cổ và giáng một vật trông như cây gậy xuống đầu kẻ gây hấn thêm lần thứ hai. “KHÔNG AI ĐƯỢC ĐE DỌA GIA ĐÌNH TÔI!” Và lần thứ ba. Tôi cố sáng hơn, thấy Holly đang thở hổn hển trên cái xác rũ của Immaculée Constantin. Đầu của Ẩn Sĩ Thứ Hai giờ là một mớ hỗn độn máu me, tóc vàng óng và kim cương. Tôi nhập linh trở lại vào Holly, cảm nhận một cơn giận dữ vừa bùng nổ, đang tan chảy thành nhiều xúc cảm khác. Một vài giây sau đó, Holly nôn thốc tháo, ép sạch dạ dày ba lần liền.

Không sao, Holly, tôi nói. Tôi ở đây, không sao.

Holly nôn lần thứ tư.

Tôi tổng hợp một giọt tâm-an thần vào tuyến yên của cô. Được rồi, tôi nghĩ chị đã nôn hết rồi.

“Tôi đã giết người.” Holly đang run rẩy. “Tôi đã giết người. Cứ như… cứ như… không phải là tôi. Nhưng tôi biết chính tôi làm.”

Tôi chỉnh một chút hóc-môn dopamine. Ả có thể còn sống… Chị có muốn tôi kiểm tra không?

“Không. Không. Tôi không muốn biết.” Được rồi, nhưng vũ khí là cái gì vậy? Holly thả món ấy xuống. “Cây cán bột.” Chị lấy đâu ra cây cán bột ở đây?

“Tôi chôm từ bếp của cô ở nhà 119 A. Thủ trong túi xách.” Holly đứng dậy. Tôi gây tê đầu gối và cổ chân cho cô. Tại sao?

“Các vị toàn nói chuyện Chiến Tranh, nhưng tôi còn không có lấy một con dao nhíp. Vậy nên… tôi biết chứ, phụ nữ quá khích, cây cán bột, thật là sáo hết chỗ nói, Crispin mà còn sống chắc sẽ trợn mắt mà bình rằng, ‘Sáo thôi rồi’ nhưng tôi muốn… cô biết đó… có thứ gì đó cầm theo. Tôi ghét máu nên tôi để lại dao trong ngăn kéo và… Vậy nên. Trời đất, Marinus. Tôi vừa làm gì thế này?”

Giết một Thực Nhục Khách Vô Thời hai-trăm-năm-mươi-tuổi với một dụng cụ làm bếp năm- mươi- đô-la, sau khi giả vờ đóng vai một phụ nữ trung niên sợ hãi, khóc lóc ỉ ôi.

“Vụ khóc lóc ỉ ôi dễ mà.”

Bụi Tối đang tới, Holly. Đi đường nào bây giờ?

Cô định thần lại. “Cho tôi ít ánh sáng.” Tôi thắp sáng, chiếu rọi ngã tư phía trước nơi có người đàn bà đang nằm chết, chết khi đang phục kích chúng tôi. “Ta đi lối nào đây?”

Khi ngã xuống chúng tôi đã bị quay vòng vòng. Và Constantin di chuyển quanh Holly khi dọa nạt. Tôi cố sáng hơn, nhưng chúng tôi chỉ thấy rõ thêm kẻ mai phục đã chết và một bãi nôn mửa. Tôi không chắc.

Holly bắt đầu hoảng loạn. Tôi tâm-an thần cho cô.

Cả hai nghe có tiếng rì rầm của Bụi Tối. Để tôi lái nhé? “Vâng,” Holly lào khào. “Cô cứ làm.”

Tôi nhìn bốn lối đi. Chúng giống hệt nhau.

Nhưng không phải. Một lối trông có vẻ sáng hơn. Holly, chỉ có một lối duy nhất qua mê lộ, đúng không?

“Đúng vậy.”

Tôi chọn lối dẫn ra ánh sáng, rẽ phải, và trước mặt chúng tôi, chỉ cách mười bước là Bụi Tối, đang tràn vào đường hầm như một thứ nước chảy chậm, lấm tấm sao. Trong sự gào thét âm ỉ của nó có nhiều giọng nói. Không đau đớn gì cả, họ hứa hẹn bằng những thứ ngôn ngữ không xác định, không đau mà…

“Mình làm gì đây?” Giọng Holly vang lên.

Tôi quay lại. Đây là lối ta đã đi vào. Bụi Tối đang theo ta. Ta đến chỗ ngã tư - ngay ở đây. Tôi cho cả hai bước qua xác Constantin. Chị cố hình dung lại mê lộ của Jacko trong đầu một lần nữa. Cái mặt dây chuyền ấy.

“Tôi nhớ rồi. Đi thẳng.” Tôi làm theo. “Trái. Sẽ có một ngã rẽ tay phải nhưng bỏ qua đi, chỗ đó là ngõ cụt… Cứ đi nữa. Qua ngã phải tiếp theo.” Tôi đi xuyên qua đường hầm, nghĩ đến Bụi Tối chảy tràn qua xác của Constantin. “Trái. Thêm vài bước… Vài bước nữa, ta đang ở gần tâm, nhưng ta phải đi ra ngoài theo vòng tròn để tránh bẫy phía trước. Ngã trái tiếp theo. Đi đi, qua cổng vòng… Rồi bây giờ rẽ phải.” Tôi bước vài bước, vẫn còn nghe tiếng rào rạt của Bụi Tối vì những đường hầm và ngõ cụt càng lúc càng ngắn đi, hấp thụ càng ít khối lượng và năng lượng. “Bỏ qua khoảng trống bên tay trái… Bây giờ rẽ phải. Qua ngã tư. Nhanh lên! Rẽ phải, rẽ trái và ta phải đến…” Cổng vòng phía trước màu đen, không phải đen như bóng, mà đen sẫm, đen như màu đen Bể Cuối, một màu đen hút trọn ánh sáng từ chakra tôi thắp ở bàn tay Holly, không phản chiếu gì cả.

Tôi bước vào…

… một căn phòng có trần vòm, tường màu đỏ Sao Hỏa chết chóc như mê lộ, nhưng sống động với nhiều bóng chim chóc. Căn phòng được chiếu sáng bởi một quả táo vàng, một thứ đèn đêm. “Lạy…” Mặc dù đã chứng kiến quá nhiều chuyện hôm nay, Holly vẫn kinh ngạc đến nghẹn giọng. “Nhìn nó kìa, Marinus.” Quả táo treo giữa căn phòng, ở độ cao bằng đầu người, không có gì nâng đỡ cả. “Nó còn sống không?” Holly hỏi.

Tôi đoán, tôi ngầm-giả định, nó là một linh hồn.

Những quả táo vàng tôi đã từng biết đến trong thi ca văn chương suốt cả phần đời siêu linh. Những quả táo vàng tôi từng thấy trong tranh, mà không chỉ quả táo do Venus cầm trong bức Bronzino nguyên bản mà Xi Lo đã biết rất rõ, mặc dù quả táo ấy khiến tôi càng thêm nghi ngờ quả táo này. Thậm chí tôi đã từng cầm trong tay một quả táo bằng vàng Kazakh hồi thế kỷ mười một do một nghệ nhân của triều Suleiman VI chế tác, có lá bằng ngọc bích Ba Tư khảm lục bảo và những hạt sương là ngọc trai đảo Mauritius. Nhưng sự khác biệt giữa những quả táo vàng ấy và quả táo này cũng như như khác biệt giữa đọc một bài thơ tình và đang yêu thực sự.

Mắt Holly rưng rưng. “Marinus…”

“Đó là lối trở về đấy, Holly. Chạm vào nó đi.”

“Chạm vào? Tôi không thể làm thế được. Nó quá…” Xi Lo đã tạo ra nó cho chị, cho lúc này.

Cô tiến thêm vài bước gần hơn. Chúng tôi nghe có tiếng lao xao. “Chỉ cần chạm một lần thôi, Holly. Chạm đi. Bụi Tối đang đến.” Holly với bàn tay trầy xước hanh hao ra.

Khi tôi xuất linh khỏi lưu thể, tôi nghe có tiếng bồ câu rền. Holly đã đi khỏi.

Những bóng chim cũng biến mất cùng quả táo, và gian phòng có vòm trần giờ đây như một thứ lăng tẩm tối tăm. Giờ đây tôi sẽ chết. Tôi chết-chết. Nhưng tôi chết mà biết rằng Holly Sykes đã an toàn, rằng món nợ mà Trắc Thời Phái với cô đã được trả. Một cách ra đi thanh thản. Aoife vẫn còn một người mẹ. Tôi thắp tâm-đăng yếu ớt, và ngầm hỏi Hugo Lamb, Nhưng tại sao phải chết một mình?

Hắn bỏ ngụy lệnh và hiện ra giữa không khí. “Đúng thế, tại sao kia chứ?” Hắn đưa tay sờ lên gò má đầy thương tích. “Chết thật, trông tôi này! Áo với chả xống. Thợ may của tôi là tay người Bangladesh ở Savile Row, cực tài, nhưng mỗi năm chỉ may đúng hai mươi bộ. Tại sao Xi Lo chỉ để lại có mỗi một tấm vé thần trở lại thế giới?”

Tôi vận linh trở lại chỗ quả táo lúc nãy. Mỗi hạt hạ nguyên tử của nó đều đã biến mất. Truyền Linh Chất là một quá trình rất hao tổn. Thầy Cathar Mù được ăn thịt tươi thường xuyên, nhớ không. Xi Lo duy trì tất cả những thứ này chỉ bằng năng lượng dự trữ. Tại sao anh không giành lấy chiếc vé thần duy nhất để quay về?

Hắn né câu hỏi. “Có thuốc lá không, Marinus?” Tôi đang vô thể. Tôi còn không có thân xác nữa.

Bụi Tối rỉ rả len vào cánh cửa tối, như cát.

Anh đã săn mồi, đã lừa dối, tôi ngầm-nói, chăn dắt, dụ dỗ, giết chóc… “Mấy vụ đó đều chuyên nghiệp. Ai cũng vui vẻ chết. Nói chung là vui.”

… trong vai Marcus Anyder, anh thậm chí còn giết cả chính phiên bản cũ của mình.

“Cô thực sự muốn dành những phút cuối cùng để phỏng vấn tôi sao? Cô muốn gì? Một màn ăn năn tự thú kịch tính?”

Tôi chỉ tò mò là tại sao một kẻ săn mồi, tôi-ngầm nói toạc ra, kẻ từng đã chỉ nghĩ đến mình qua thật nhiều năm, ngay tuần vừa rồi còn huênh hoang sau khi giết Oscar Gomez, bây giờ lại…

“Đừng nói cô vẫn còn giận dữ vụ đó chứ?”

…bây giờ lại hào hiệp hi sinh cuộc đời thanh xuân của mình cho một cái đồng hồ xương tầm thường. Nói đi. Tôi hứa sẽ không kể với ai cả.

Tiếng rì rầm của Bụi Tối càng lúc càng lớn hơn. Tôi gạt những giọng nói ra.

Hugo Lamb phủi bụi trên tay áo. “Cô đã phân linh Holly, tôi đoán thế?” Rất kỹ. Tôi phải làm thế, để định vị Esther Little.

“Vậy cô có thấy chúng tôi ở La Fontaine Saint-Agnès không? Holly và tôi ấy?”

Tôi ngập ngừng quá lâu.

“Vậy là cô đã thấy rõ. Vậy đó. Giờ cô đã có câu trả lời.”

Bụi Tối tiếp tục tuôn vào, hứa hẹn với chúng tôi sẽ không đau đớn, không đau đớn, không đau đớn gì cả. Một phần ba sàn nhà đã bị che phủ. “Cô có thấy cô ấy ra tay với Constantin không? Máu Ireland, cơ bắp Gravesend. Đúng là con nhà.” Anh đứng mà nhìn vậy sao?

“Tôi đâu phải thể loại anh hùng cứu mỹ nhân.” Constantin đã chiêu mộ anh. Ả là Ẩn Sĩ Thứ Hai.

“Tôi luôn có vấn đề với những người có quyền uy. Rivas-Godoy rẽ phải khi chúng tôi vào mê lộ, vậy là tiêu ngay từ đầu, nhưng tôi đi theo Constantin. Đúng thế, ả đã chiêu mộ tôi, nhưng ả hơi bị lậm cái học thuyết ưu tiên phụ nữ và trẻ con. Vậy là tôi áp ngụy lệnh cho mình, đi lạc, nghe tiếng Holly, đi theo cô… Và giờ ta ở đây. Đôi bạn cùng chết. Ai mà nghĩ ra được chứ?” Cả hai nhìn Bụi Tối như cát tràn vào căn phòng có vòm trần, mỗi lúc một sâu hơn. Tôi thấy bứt rứt như đã bỏ lỡ mất điều gì đó. Hugo Lamb khẽ ho. “Cô ấy cũng yêu tôi chứ, Marinus? Ý tôi hỏi không phải sau khi cô ấy biết vụ tôi… dan díu với tà phái, từng để lại sẹo tâm lý cho gia đình cô ấy và tìm cách giết em trai cô. Ý tôi là trong cái đêm đó. Ở Thụy Sĩ. Khi chúng tôi còn trẻ. Còn trẻ thực sự. Khi Holly và tôi bị kẹt trong nhà giữa trận bão tuyết.”

Hai phần ba sàn nhà đã bị che phủ. Lamb kẻ hữu thể có đúng sáu mươi giây nữa, trước khi Bụi Tối chạm đến hắn. Tôi có thể lượn lờ thêm một lúc nữa, cho đến khi cả vòm trần bị lấp đầy, nếu tôi thực sự muốn thế.

Rồi tôi sực nghĩ ra, điều mà tôi đã bỏ lỡ. Hugo Lamb cũng bỏ lỡ. Ngay cả Constantin cũng vậy. Mải tìm cánh né đá rơi, cố tránh Bụi Tối, chúng tôi đều quên đi một lối thoát hiểm khác. Tôi muốn ngầm-bật cười. Có được không? Nếu Bụi Tối đã len vào Thạch Đạo và xóa sạch đường dẫn thì không… Nhưng đường đi xuống khá dài.

Tôi ngầm-hỏi Lamb, Anh còn bao nhiêu tâm áp?

“Không nhiều lắm. Tại sao? Muốn làm một cuộc tâm song đấu chăng?” Nếu tôi nhập linh vào anh, ta có thể có đủ. Hắn bối rối. “Để làm gì?” Để gọi Khê Môn.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của david mitchell