Ngày hôm sau, bình minh vẫn rực sáng, nhưng dường như tôi không nhận thấy điều đó. Khi tôi thức dậy, anh ấy đã rời giường.
Tôi ghét bản thân, bởi tôi nhớ chính xác khoảnh khắc ấy - không, đúng vào giây phút ấy, khi tôi làm trái tim Sam tan vỡ. Tôi giống như một con khốn tồi tệ, mặc dù vậy, tôi biết chính xác điều mình đang làm và tại sao tôi làm vậy.
Sam không làm gì mà không có lý do… nhưng thỉnh thoảng anh ấy không thực sự nhận ra điều ấy. Tôi thì có. Lời cầu hôn là một bước đi bốc đồng, vội vã. Một phần là bởi anh ấy nghĩ như vậy thật… và một phần là bởi nó giúp anh ấy chạy trốn khỏi điều gì đó mà anh ấy không muốn đối mặt. Khỏi Melvin. Tôi cảm nhận được điều ấy lúc đó. Tôi cảm nhận được điều ấy vào lúc này. Tôi không thể để anh ấy tiến tới chuyện hôn nhân vô cùng trọng đại khi mà cả hai chúng tôi đều không thành thật về lý do tại sao chúng tôi nên kết hôn.
Đúng vậy, nếu tôi thành thật với bản thân mình thì… tôi có lẽ vẫn chưa sẵn sàng. Mất nhiều tháng để tôi có thể hạ bớt hệ thống phòng thủ của bản thân, vừa đủ để thừa nhận rằng tôi yêu Sam. Những tổn thương nặng nề mà Melvin gây ra cho tôi vẫn còn đó, giằng xé và ám ảnh tôi. Tôi vẫn đang cố gắng để chữa lành. Nhưng Sam không cần thiết phải là phương pháp điều trị của tôi, người bảo vệ cuộc sống hay ân nhân giải cứu của tôi.
Tôi phải tự mình làm tất cả điều đó, nếu chúng tôi tiến tới hôn nhân.
Sam đang pha cà phê khi tôi bước vào bếp. Tôi dõi theo anh một cách đầy lo lắng, để ý xem có bất kỳ dấu hiệu nào của sự tức giận, buồn bực hay thất vọng không… Nhưng tôi không thấy gì cả. Anh ấy quá cảnh giác, và anh ấy quá giỏi che giấu những gì mà anh ấy thực sự cảm thấy. Chúa ơi, tôi đã thực sự làm thế. Tôi đã nói không với anh ấy.
“Chào buổi sáng…” Anh ấy nói. Không có dấu hiệu nào cho thấy anh ấy đang đau khổ. Anh ấy rót cho tôi một cốc. Anh ấy đã tắm rửa sạch sẽ và mặc lên người chiếc quần bò nặng trịch, đôi bốt đi làm và một chiếc áo phông mỏng. “Hôm nay anh nhận một công việc liên quan đến làm mái. Chắc anh sẽ quay về vào bữa tối. Em thì sao?”
Cuộc hội thoại này gần như giả tạo một cách đau đớn. Tôi với lấy cốc cà phê và nhấp một ngụm. “Không có gì nhiều…” Tôi nói. “Em có thể sẽ đến trường tập bắn và luyện tập một chút. Thực hành cũng tốt, phải không? Đề phòng trường hợp xấu xảy ra?”
“Chắc chắn rồi.” Anh ấy nói. “Em chuẩn bị tới địa chỉ ở Virginia, đúng chứ?”
“Vâng.”
Sam ngả người về phía tôi để hôn nhẹ, và trước khi anh ấy kịp thu người về, tôi thì thầm vào tai anh ấy. Không phải vì sợ có ai nghe thấy, đơn giản là vì tôi nên làm thế trong trường hợp này.
“Em xin lỗi…” Tôi nói với anh. “Xin hãy trở về nhà nhé.” Bởi vì tôi thực sự sợ rằng khi bước khỏi ngưỡng cửa kia, anh ấy sẽ đi mãi, đi mãi.
Sam chậm rãi thu người lại, ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Từ khoảnh khắc đó, chúng tôi nói chuyện rất nhiều. Rất nhiều. Và anh ấy nói: “Anh sẽ gặp em vào tối nay.”
Như vậy là thoải mái lắm rồi. Lần này, nụ hôn không phải là để cho có lệ nữa. Và tôi không phải lo sợ khi Sam đi làm.
Tôi dành ra hai tiếng tiếp theo tập trung vào cách mà Melvin dùng để đe dọa chúng tôi. Bước đầu tiên khá dễ dàng: địa chỉ ở mặt trên của phong bì đựng cuốn nhật ký của em gái Sam đưa tôi đến với công ty chuyển phát Pack ‘N Ship ở phía bắc Richmond. Tôi gọi điện. Không có ai nhấc máy. Tôi tìm kiếm thông tin đại lý và tìm được một số điện thoại khác, khác với số được cung cấp trên website. Lần này, ai đó đã nhấc máy. “Pack ‘N Ship xin nghe. Tôi có thể giúp gì được cho quý khách?” Câu thứ hai của người nhân viên chứa chan sự nhẫn nhục khi sắp bị hỏi một câu hỏi ngớ ngẩn nào đó. Một gã chán đời, chán nghề.
“Xin chào, tôi đang muốn cập nhật thông tin hộp thư số bảy chín một…” Tôi nói. Nếu hỏi ai là người sở hữu nó, tôi sẽ không bao giờ nhận được câu trả lời. “Tôi cần phải cập nhật thông tin thẻ tín dụng nữa.”
“Ồ, được rồi.” Anh ta nói. “Vui lòng đợi chút.” Có tiếng nhấn chuột. “Có vẻ như đến cuối năm chị mới cần cập nhật.”
“Ồ, nếu anh không phiền, tôi muốn làm ngay bây giờ. Tôi có thể sẽ quên mất. Và tôi đã chuyển nhà rồi, nên là…”
“Chắc chắn rồi. Số thẻ tín dụng của chị vẫn giữ nguyên chứ?”
“Đúng. Ngoài ra, tôi đã kết hôn. Tôi không nhớ mình đã cập nhật tên trên thẻ tín dụng chưa nữa.” Tôi nói. “Cái tên hiện giờ mà anh đang có là gì?”
Đôi khi, mọi người phát hiện ra tôi đang nói dối, nhưng tôi cá là vì sự buồn chán và căm ghét cùng cực đối với công việc, anh chàng này không phải là một nhân viên mẫn cán và tỉnh táo. Và tôi đã đúng, bởi anh ta nói: “Vâng, là Dan O’Reilly.” Tôi không nhận ra cái tên này.
“Ồ, đó là thẻ của chồng tôi, vậy là không có vấn đề gì.” Tôi nói, và đảm bảo rằng giọng tôi có vẻ hụt hơi và pha chút mệt mỏi. “Thật khó để theo dõi sát sao tất cả các thay đổi, anh biết đấy. Ừm… Anh có địa chỉ hiện tại của chúng tôi chứ? Chúng tôi đã rời khỏi căn hộ rồi.”
“Hai nghìn hai trăm đường Alfalfa Lane…” Anh ta nói.
“Vâng, đúng rồi. Cảm ơn anh rất nhiều. Nếu cái thẻ đã chính xác rồi, anh có thể sử dụng nó để thanh toán khi cần thiết.”
“Được rồi. Tôi cần bổ sung thêm cô vào hồ sơ, cô O’Reilly. Tên cô là?”
“Frances.” Tôi nói. “Fran, gọi ngắn gọn là vậy.”
“Điện thoại của cô?”
“Giống với chồng tôi.” Tôi nói. Tôi rất hứng thú với việc làm xáo trộn cuộc sống của anh chàng O’Reilly một chút. “Cảm ơn. Anh đã giúp tôi rất nhiều.”
“Không vấn đề gì.” Anh ta nói và kết thúc cuộc gọi.
Tôi quay trở lại trang web và tìm kiếm thông tin về Dan O’Reilly kèm theo địa chỉ của hắn.
Hắn ta là một kẻ tấn công tình dục đã bị lưu lại trong hồ sơ tội phạm. Tôi cảm thấy tiếc cho người vợ giả tưởng Frances của hắn. Khi tôi trả phí để có được hồ sơ của hắn, tôi phát hiện ra là Dan muốn những nạn nhân của hắn phải thật trẻ để không thể phản kháng lại. Thật là buồn nôn. Tôi tìm thấy một đường dẫn. Em trai của hắn ta, Farrell, hiện đang bị giam giữ trong cùng một nhà tù mà Melvin từng ở. Và bị kết án tử hình vì tội bắt cóc và giết người.
Dòng máu tội phạm đôi khi được di truyền trong gia đình.
Tôi đoán rằng một trong những kẻ đồng lõa với Dan - nếu hắn không thực hiện vụ này một mình - sẽ nằm trong danh sách những người tới thăm Farrell. Melvin đã kết thêm rất nhiều bằng hữu dơ bẩn trong khi chờ đến lượt mình bị luận tội. Hắn có thể đã đút tiền cho Farrell, để Farrell tuồn đống đồ ra ngoài nhà tù cho anh trai mình.
Nhưng rồi tôi suy nghĩ lại. Bởi vì như thế thì quá dễ dàng. Chỉ mất tất cả hai giờ đồng hồ để lần ra dấu vết hòm thư của Dan. Và tại sao Dan lại để cho người ta mò ra địa chỉ, tên tuổi của mình dễ dàng như vậy được?
Có hai khả năng. Một là: hắn ta đã không làm thế. Kẻ khác mới là chủ mưu, và Dan O’Reilly chỉ dùng để đánh lạc hướng tôi.
Hai là: hắn đã làm thế, tin rằng mình đã được ngụy trang hoàn hảo bởi một hộp thư bưu điện, vì lũ tội phạm thường không phải những bộ não thiên tài. Dan là kẻ đáng khinh bỉ, và em trai hắn cũng ở trong khu nhà dành cho tử tù, cùng với chồng cũ của tôi… Âu cũng là hợp lý thôi. Không thể thay đổi được.
Có thể ai đó muốn Dan O’Reilly gánh hết tội trong chuyện này. Tôi cần phải nghiên cứu kĩ càng hơn, nhưng hiện giờ thì cứ tạm hài lòng với thông tin thu được đã.
Tôi gọi cho Kez. Tôi cung cấp cho cô ấy toàn bộ thông tin và nói cô ấy nghe về sự hồ nghi của mình. Lẽ ra Melvin có thể làm tốt hơn trong việc che giấu đường đi nước bước của hắn.
Đương nhiên, cô ấy hỏi có gì trong cái phong bao đó. Tôi chần chừ, bởi tôi không thể mở cuốn sổ nhật ký ra xem. Tôi giữ máy, và khi tôi hì hục mở nhật ký, tôi thoáng nhìn lên. Con gái tôi đang đứng ở hành lang nơi cửa phòng làm việc, và con bé trông… rất lạ. Nó đang nhìn tôi và cứ chuyển trọng tâm từ chân này sang chân khác. Tôi cười với con bé, nhưng nó không cười đáp lại.
“Vào đi, con yêu…” Tôi nói với Lanny. Con bé bước vào, nhưng bước chân thì lưỡng lự. Thật kỳ cục. Tôi tự hỏi liệu con bé có đang cãi nhau với Dahlia không. “Mẹ đang nói chuyện với cô Kezia. Cho mẹ thêm một phút nữa, được chứ?”
Lanny gật đầu.
“Gwen?” Đó là Kez, nhắc tôi rằng cô ấy vẫn đang đợi. “Bên trong phong bì thư là gì?”
Tôi đã nói dối. Tôi phải làm vậy. Tôi không thể đề nghị Sam từ bỏ di vật cuối cùng gợi nhớ về Callie, cho nó vào trong một chiếc túi đựng bằng chứng và gửi cho Kez. Cuốn nhật ký sẽ không bao giờ được lấy ra nữa. Melvin đã chết rồi; hắn sẽ không bao giờ phải trả giá cho những đau thương mà mình gây ra. “Đó là một bức thư…” Tôi nói. Điều này thật ngu xuẩn, bởi tôi đã mở hết đống thư mà hắn gửi. Trừ bức mà tôi nhận được ngay khi trở về từ lạch Killman, và bức thư đó hiện giờ đang ở dưới đáy hồ.
“Mẹ à…” Lanny nói. Tôi liếc mắt nhìn con bé. Đôi mắt nó mở to.
“Tôi sẽ cần bức thư đó.” Kezia nói.
Lanny hít vào một hơi, lùi ra sau và lấy ra một thứ gì đó từ trong túi áo nỉ.
Đó là một phong thư. Một phong thư đã được mở. Và khi cầm lên và lật xem, tôi suýt nữa đã đánh rơi nó. Lá thư từ Melvin. Địa chỉ người nhận là tôi.
“Làm thế nào mà mẹ biết được? Con xin lỗi.” Con bé thì thầm. “Con… Con đã nghĩ là…”
Theo bản năng, tôi tắt âm thanh cuộc gọi với Kezia. Tôi muốn nói với Lanny rằng sẽ ổn thôi. Không ổn chút nào. Tôi cảm nhận được một cơn tuyệt vọng tột đỉnh và kinh hãi tột cùng đang quét qua. “Con đã lấy… con đã lấy thứ này ở đâu?” Giọng của tôi run rẩy giống với con gái mình.
“Nó ở trong hòm thư ạ. Mẹ đừng giận.”
“Mẹ không giận.” Tôi nói. “Mẹ chỉ… Thứ này được gửi đến vào lúc nào?”
“Hôm qua ạ…” Con bé nói. “Con biết mẹ sẽ không cho con…” Giọng con bé nhỏ dần, giống như đốm sáng trong đôi mắt của nó, và tôi biết tại sao. Tôi cảm nhận được cảm giác của Lanny. Và tôi có thể làm bất cứ điều gì, bất cứ điều gì, để con bé không phải chịu đựng điều đó. “Con chỉ nghĩ là…” Con bé quệt nước mắt. “Ôi trời ạ, mẹ ơi, những điều mà ông ta đã nói…”
Tôi ôm con bé vào lòng cứ như thể hành động này sẽ bảo vệ được con bé khỏi mọi thứ vậy. Lấy thân mình che chở cho con bé, lấy đi hết nỗi đau đến từ những câu chữ ghê tởm ấy. Nhưng tôi không thể; và tôi biết điều đó. Tôi hôn vào trán con bé và thì thầm: “Mẹ xin lỗi, con yêu.”
Rồi tôi quay trở lại điện thoại, mở tiếng lên và đưa mắt nhìn Lanny, nói: “Xin lỗi vì gián đoạn, Kez. Tôi có bức thư. Đến lấy nhé.”
Rồi tôi cúp máy.
Tôi đặt bức thư cùng phong bì màu vàng kem đựng trong cặp tài liệu của Sam lên bàn làm việc. Lanny tới ngồi cạnh tôi, tựa đầu vào vai tôi và khóc trong câm lặng. Tôi xoa đầu con bé. Chúng tôi không ai nói gì.
Sau nửa giờ, tôi nói: “Đứng dậy nào.” Tôi kéo con bé đứng dậy. “Chúng ta sẽ chạy bộ.”
Con bé sụt sịt và nhìn tôi với đôi mắt đỏ lừ. Không tin vào những gì tôi vừa nói.
“Chúng ta cần phải chạy…” Tôi nói với con bé. “Con cần phải chạy. Hãy chuẩn bị đi.”
Cuối cùng con bé cũng gật đầu, ngả vào vòng tay tôi một lần nữa và hôn vào má tôi. “Con yêu mẹ…” Con bé nói rồi rời đi.
Tôi ngồi lọt thỏm giữa ghế và nhìn chăm chú vào bóng lưng của Lanny.
Tôi nhìn xuống lá thư trên bàn làm việc, bức thư đã khiến con gái tôi đau khổ thật nhiều, đến nỗi tôi phải lấy hết sức bình sinh để không hét lên, để không xé rách nó thành từng mảnh và quăng nó xuống dưới hồ, nhấn chìm nó, nhấn chìm hắn ta, khiến cho hắn phải câm miệng vĩnh viễn.
Tôi không làm như thế. Tôi đứng dậy. Tôi rời khỏi phòng. Tôi thay quần áo.
Và chúng tôi chạy.
•§•
Khoảng một tiếng sau thì Kezia tới để lấy bức thư. Javier đi cùng cô ấy, hôm nay là ngày nghỉ của cậu ấy. Cậu ấy cụng nắm đấm với bọn trẻ. Javier hỏi thăm Sam và tôi giải thích rằng anh ấy đang làm việc ở công trường. Javier gật đầu. “Ừ… Tôi có thể nói chuyện với chị một lúc không?” Cậu liếc nhìn bọn trẻ. “Riêng hai ta?”
Chúng tôi đi bộ về phía hồ. Kez ở lại với bọn trẻ. Javier đá qua đá lại một vài viên đá trước khi nói: “Không chắc tôi có nên nói với chị chuyện này không, nhưng một người đàn ông đã ghé qua vào sáng nay để mua mấy viên đạn Remington Magnum 7mm.”
“Nó có nghĩa là?” Tôi không nhận ra loại đạn này.
“Đạn bắn tỉa…” Cậu nói. “Ông ta muốn đạn bắn tỉa. Tôi không có. Tôi đã nói với ông ta rằng ông ta phải đặt hàng trước.”
“Cậu có biết ông ta không?”
“Spud Belldene. Bác của Jesse. Ông ta phục vụ trong cuộc chiến tranh Iraq lần thứ nhất.”
“Với tư cách là?”
“Tôi không rõ. Chị nghĩ gì về chuyện này?”
Không phải là tin tốt. “Họ có thể giết chúng tôi trong khi choảng nhau vì say xỉn không?”
“Họ là nhà Belldene…” Cậu ấy nói như thể đó là câu trả lời. “Có khả năng ông ta chỉ mua đạn về để luyện tập thôi. Đôi khi ông ta muốn giữ cho đôi tay mình hoạt bát và không ngơi nghỉ.”
Ở ngoài này thật nóng, và tôi đang đổ mồ hôi như mưa. “Ông ta xuất hiện vào thời điểm này thì thật kỳ quặc. Đúng lúc chúng ta đang tìm kiếm một tay bắn tỉa.”
“Đúng vậy…” Cậu ấy nói. “Đó là lý do vì sao tôi đề cập đến chuyện này.” Cậu ấy chuyển trọng tâm từ chân này sang chân kia, hai tay khoanh vào nhau. “Cảnh sát liên bang đã ập vào nơi trú ẩn của nhà Belldene cách đây ba tháng nhưng không tìm thấy bất cứ thứ gì; họ nghĩ rằng nhà Belldene đang điều chế chất cấm. Bọn họ không hề. Ít nhất thì không phải ở đó. Nhưng… vấn đề là, nếu như Spud có ý định làm hại chị, tôi không nghĩ ông ta sẽ mua đạn dược từ chỗ tôi. Ông ta biết chúng ta là bạn. Ông ta biết tôi đã cảnh báo chị về chuyện đó.” Cậu ấy xoa tay lên đầu; mái tóc được cắt tỉa ngắn và gọn, một phong cách đậm chất quân đội khiến cậu ấy trông như sắp ra trận đến nơi. “Nhưng chết tiệt, có lẽ đó là điều mà ông ta đang dự tính. Ông ta chỉ muốn làm cho chị rối trí mà thôi. Tôi cũng không biết nữa.”
“Chuyện này sẽ không chỉ liên quan đến việc Sam đã làm gãy răng của thằng cha đó đâu.”
“Ờ thì…” Javier nói. “Những cuộc chiến nổ ra vì nhiều nguyên do. Không bao giờ có thể biết được mọi người đang suy tính chuyện riêng gì. Đặc biệt là những người như nhà Belldene. Bọn họ sống vì lòng kiêu hãnh. Chết cũng vì lòng kiêu hãnh. Sam là một người lạ mặt đối với họ, một cư dân thành thị. Chị cũng vậy.”
“Và nó không liên quan đến chồng cũ của tôi ư?”
“Hãy nghi ngờ chuyện đó. Chị, bọn trẻ… đều là mối đe dọa phát sinh bất ngờ đối với họ. Gây ra một vài ảnh hưởng. Họ thích bám theo người khác để phục vụ thú vui của mình.”
Nực cười làm sao, thực sự đấy. Trong một khoảng thời gian dài, tôi đã luôn cận kề nguy hiểm bởi những gì Melvin đã gây ra. Và giờ, tôi lại lâm vào tình cảnh này một lần nữa, phải bảo vệ bản thân khỏi những kẻ lạ mặt vì điều gì đó mà tôi chẳng hề dính líu đến. Điều này thật nực cười theo một cách đen tối và kinh tởm.
“Làm cách nào để tôi có thể dừng chuyện này lại?” Tôi hỏi Javier. Tôi không thực sự mong đợi một câu trả lời.
Cậu ấy lắc đầu. “Tôi không biết chị có thể không…” Cậu ấy nói với tôi. “Có lẽ đây là lúc thích hợp để nghĩ đến chuyện rời khỏi thị trấn này một thời gian. Tránh xa mối đe dọa của nhà Belldene và bộ phim tài liệu mà tất cả mọi người đang bàn tán…”
“Mọi người đang bàn tán về nó sao?”
“Đây là chủ đề nóng hổi ở Norton đấy. Và nó gợi lại khá nhiều chuyện cũ khốn nạn khác, về chị, tội giết người của chị. Danh dự của chị sẽ bị vấy bẩn.”
Tuyệt vời. Lẽ ra tôi phải nghĩ đến chuyện này. “Tôi nên giải quyết như thế nào?”
“Chị không thể chống lại núi cao biển rộng. Hãy rời đi cho đến khi cơn lũ trôi qua.” Cậu ấy tỏ ra khó chịu. Và điều đó cũng làm tôi khó chịu theo. “Coi chừng những kẻ đâm sau lưng. Tôi sẽ làm những gì có thể để xoa dịu tình hình.”
Chúng tôi không cụng nắm đấm. Chúng tôi ôm nhau. Tôi rất quý Javi. Tôi tin tưởng cậu ấy, giống như tôi tin tưởng Kez. Cậu ấy khiến tôi cảm thấy an tâm ngay từ buổi đầu, kể từ cái ngày mà tôi bước vào trường tập bắn của cậu ấy, và tôi biết cậu ấy là người nói được làm được.
Nhưng khi họ rời đi, tôi vẫn cảm thấy trống trải. Và vô dụng. Nó khiến tôi bực tức.
Chúng tôi ở trong nhà cả ngày. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, tìm kiếm chiếc xe van màu trắng, đoàn quay phim, nhưng họ không có ở đây. Họ sẽ không ở nơi mà tôi có thể nhìn thấy. Tôi ngứa ngáy khó chịu khi nghĩ về việc họ đang trốn ở đâu đó trong những bụi cây, ngay bây giờ, quay chụp tôi, quay chụp căn nhà. Tôi cố gắng tập trung vào cuốn sách đang đọc, nhưng tôi không thể ngừng nhìn lên, đưa mắt kiểm tra một lượt xung quanh căn nhà như thể tôi đang ở trong chòi canh chứ không phải ở trong chính căn nhà của mình. Tìm kiếm ánh sáng lóe lên từ ống kính máy quay sau những bụi cây.
Hoặc là ánh sáng lóe lên từ ống ngắm của một tay bắn tỉa.
Có cảm giác như hôm nay là một ngày bình thường, nhưng có thứ gì đó lẩn khuất khiến tôi không muốn kiểm tra quá kĩ.
Tôi gọi bọn trẻ vào, hứa hẹn một chuyến đi ngắn vào thị trấn để ăn bánh và kem. Chúng trông hạnh phúc với kế hoạch đó, mặc dù gần đây Lanny có hơi ám ảnh một chút với lượng calorie nạp vào. Con bé đã chạy khoảng một nghìn mét, tôi nghĩ là con bé sẽ ổn.
Khi chúng tôi lái xe đến Norton, mọi thứ vẫn có vẻ bình thường. Một người đàn ông lớn tuổi đang lái chiếc máy kéo giữa phố Main, xả hàng đống khói bụi ra tứ phương tám hướng, điều này xảy ra ít nhất một lần một tuần. Tôi lò dò theo sau ông ta cho tới khi chúng tôi rẽ vào điểm đỗ đầu tiên. Chúng tôi thường bắt đầu ở tiệm kem và kết thúc bữa tiệc ở cửa hàng bánh, nhưng ngay khi tôi tấp vào lề, tôi để ý thấy một chiếc van trắng tinh lượn vào ngay sau đó. Không có bất kỳ logo nào ở bên hông của xe. Nhìn miếng dán trên nắp thùng xe, tôi biết đó là một chiếc xe đi thuê. Có hai người ngồi trong chiếc van, và ngay khi tắt máy, tôi tiếp tục quan sát họ xuống xe và vòng ra phía đằng sau.
Tôi không biết mình đang chờ đợi điều gì từ họ, nhưng khi trông thấy người đàn ông Mỹ gốc Phi cao to đem theo một máy quay phim và người phụ nữ đang cắm dây micro, tôi hiểu chính xác chuyện gì đang xảy ra.
Đó chính là đội quay phim.
Họ đã tìm thấy chúng tôi.
“Mẹ?” Lanny nói, tay mở cánh cửa được một nửa. “Có chuyện gì sao ạ?”
“Đóng cửa lại đi…” Tôi nói với con bé. Âm vực trong giọng nói của tôi khiến Connor cũng rụt người lại vào trong xe. “Hãy đợi thêm một phút nữa.”
“Chuyện gì đang xảy ra vậy ạ?” Connor bắt đầu nhìn xung quanh và người quay phim tiến hành điều chỉnh ống kính.
Anh ta nhanh tay chụp được phần đuôi chiếc SUV của tôi, bao gồm cả biển số xe.
“Ở trong này đang nóng dần lên…” Lanny nói. “Chúng ta có thể đi ăn kem bây giờ không ạ?”
“Không…” Tôi nói. “Xin lỗi, nhưng mẹ nghĩ tốt nhất là chúng ta nên về nhà.”
“Tại sao chứ?”
Từ chỗ bọn trẻ ngồi, chúng không thể trông thấy cái xe van. Tôi có thể giải thích tình hình hiện tại với Lanny nếu chúng tôi ở riêng với nhau. Con bé hiểu rõ hơn Connor tình trạng bấp bênh của chúng tôi mỗi khi chúng tôi ra ngoài và xuất hiện ở nơi đông người. Nhưng tôi chưa sẵn sàng trong việc đặt thêm một tảng đá khác trong trái tim nặng trĩu của Connor, vết thương của thằng bé khá sâu; ký ức tồi tệ với cha đẻ của mình không lâu trước đó khiến thằng bé ngày càng hướng nội hơn. Tôi nhớ những ngày mà Connor thường tụ tập với đám bạn mọt sách cùng tuổi, say mê trò chơi điện tử, phim ảnh và cuộc thi Dungeons & Dragons. Tôi nghĩ những sở thích đó vẫn còn tồn tại bên trong thằng bé, nhưng nó không cảm thấy an toàn để thể hiện chúng ra ngoài.
Thêm một lý do nữa để căm ghét người chồng cũ của tôi. Chết cháy dưới địa ngục đi, Melvin. Tốt hơn cả là chết một cách từ từ.
“Mẹ sẽ nói cho con biết khi chúng ta về đến nhà.” Tôi nói. Tôi khởi động động cơ và lùi xe. Thật không may mắn, tôi phải đi qua cái xe van để tới được lối ra, và điều đó có nghĩa là tên quay phim kia sẽ hướng ống kính về phía chúng tôi một cách hoàn hảo để bắt trọn khoảnh khắc. Tôi có một hy vọng mong manh là bọn trẻ sẽ không nhìn thấy điều đó, nhưng đương nhiên, Lanny có thấy, ngay lập tức.
Con bé chỉ thẳng vào bọn họ. “Họ đang làm cái quái gì vậy chứ?”
“Đang quay chúng ta…” Tôi nói. “Thả tay xuống đi Lanny, làm ơn.”
Con gái tôi không hề thả tay xuống. Thay vào đó, con bé quay lại và bình thản giơ ngón tay thối lên đầy tự hào. “Hy vọng là họ quay được cảnh đó…” Con bé nói. “Lũ khốn. Tại sao họ lại làm điều đó chứ?”
Tôi không muốn nói với bọn trẻ điều này, nhưng tốt nhất là chúng nên chuẩn bị tinh thần. “Con nhớ người phụ nữ trên chương trình Howie Hamlin Show chứ?”
“Miranda Tidewell…” Connor nói. “Bà ta giàu có.” Khi chúng tôi cùng hướng mắt về phía thằng bé, nó nhún vai. “Con đã kiểm tra lý lịch của bà ta rồi. Kể từ khi bà ta thực hiện bộ phim tài liệu về bố. Tại sao bà ta lại làm vậy chứ?”
“Mọi người muốn biết về ông ta, thật không may là như vậy. Và chúng ta nữa. Vì vậy mà chúng ta cần phải cẩn thận.”
“Đúng vậy…” Lanny nói. “Em sẽ nhận ra điều đó nếu em không vùi đầu vào đống sách nữa.”
Tụi nó lại cãi nhau nữa. Tôi ước gì chúng không như vậy, nhưng tôi biết đó là biểu hiện của tình cảm chị em ruột thịt, đặc biệt là vào lứa tuổi này. Lanny đã chăm sóc Connor rất tận tâm trong vòng hai tháng sau khi tôi quay trở về từ lạch Killman và thông báo cho bọn trẻ tin dữ về cái chết của bố chúng - cái chết do chính tôi đem tới, nhiệm vụ đầy đau đớn mà tôi phải hoàn thành. Tuy nhiên, hiệp ước hòa bình giữa Connor và Lanny không kéo dài được bao lâu. Trên thực tế, điều đó gần như đã trở thành dĩ vãng. Chúng tôi đã trò chuyện, nhưng tôi không nghĩ rằng Lanny có thể bỏ qua được chuyện em trai mình đã trao đổi qua lại với bố trong suốt thời gian ấy. Melvin, tên khốn, đã thuyết phục con trai tôi tin tưởng vào hắn và Lanny không thể nào hiểu nổi. Có một vết thương âm ỉ trong lòng hai đứa, và tôi hy vọng rằng cuối cùng, nó sẽ được chữa lành. Nhưng chắc chắn là chưa phải lúc này.
Chúng tôi đang ở cửa ra khu vực đỗ xe, và thật không may, các phương tiện giao thông di chuyển ở cả hai hướng, vì vậy mà tôi bị kẹt. Gã quay phim bước sang bên cạnh, vẫn đang quay. Tôi chắc chắn rằng hắn vô cùng tập trung vào khuôn mặt của ba chúng tôi. Tôi ghét điều đó. Nó giống như một sự xâm phạm đời tư vậy, ngay cả khi nó không vi phạm pháp luật. Hoặc có lẽ nó có vi phạm pháp luật? Tôi không biết luật lệ ở bang này đối với lỗi quay chụp trẻ em mà không xin phép thì sẽ như thế nào. Cần phải nghiên cứu một chút đây.
Tôi nhìn đoàn xe đang đi tới và ước gì bọn họ di chuyển nhanh hơn, nhưng giờ còn có thêm một chiếc máy kéo kêu ầm ầm phía trước chúng tôi, đi với tốc độ rùa bò đến điên người. Con mắt tối đen của chiếc máy ghi hình lọt thỏm trong tầm nhìn của tôi dường như trở nên sâu hơn, giống như tôi đang ngã vào miệng của một cái giếng sâu hun hút. Tôi chớp mắt, và tôi có thể thấy cái máy quay phim ở trường quay của Howie Hamlin, cảm giác như mình bị đóng băng và thật vô dụng.
Tôi chớp mắt lần nữa, và tôi trông thấy một căn nhà bẩn thỉu, ẩm thấp ở vùng Louisiana. Một căn phòng toàn máu. La liệt những dây xích.
Và một cái máy ghi hình đang quay, quay, quay. Cũng giống với chiếc máy ghi hình mà Melvin đã lắp đặt để trình chiếu hình ảnh tôi đang cận kề cái chết cho các khán giả trả tiền để được xem cảnh đó.
Tôi nghe thấy âm thanh gì đó như một tiếng hét vọng tới.
“Kìa mẹ!” Giọng nói cảnh báo của Lanny khiến tôi giậm mạnh chân phanh, và tôi nhận ra mình đã để xe trượt đi, gần như lao vào dòng phương tiện đang đi tới theo chiều ngược lại, và tiếng hét là tiếng còi của một chiếc xe tải lướt qua. Con bé gạt mấy lọn tóc vương trước mặt và nhìn tôi ái ngại. “Mẹ ổn chứ?”
“Mẹ không sao…” Tôi thốt ra một cách tự nhiên, đó là câu mà tôi thường nói với Lanny. Và với bản thân mình. Nhưng chẳng cần đến một bác sĩ tâm lý để phát hiện ra tôi không ổn một chút nào. Tôi đang nhớ lại mọi chuyện. Mồ hôi lạnh. Những cơn ác mộng. Và giờ là chuyện quay phim này, nó gợi nhớ toàn bộ ký ức. Tôi cần phải nói chuyện với Tiến sĩ Marks.
Tôi hít thở mấy hơi thật sâu và đánh vô lăng sang trái khi mật độ phương tiện thưa dần. Nơi khóe mắt, tôi trông thấy người đàn ông chỉnh góc chiếc máy quay theo hướng đi của chúng tôi.
Tôi không thực sự cảm thấy an toàn cho đến khi chúng tôi đi hết ngọn đồi, rẽ vào đường cao tốc chính và hướng ra khỏi Norton.
Lanny bồn chồn trong yên lặng một lúc lâu, chờ đợi một lời giải thích hoàn chỉnh mà tôi không hề sẵn sàng để nói ra. Cuối cùng, con bé đeo tai nghe và nhìn ra ngoài cửa sổ. Connor chìm đắm trong những trang sách và biến mất khỏi thế giới.
Tôi lấy làm vui mừng vì sự yên tĩnh này cho đến khi Lanny ném cái tai nghe sang bên cạnh và hỏi: “Mẹ không định kết hôn lần nữa, đúng không?” Ồ, chẳng biết câu hỏi này đến từ đâu.
“Con hỏi nghiêm túc đấy à?” Tôi nói. “Mẹ không chắc về điều đó.”
“Kể cả với chú Sam ạ?”
“Kể cả với chú Sam.”
“Tại sao chứ? Hai người chia tay rồi à?”
Tôi không muốn cuộc đối thoại này. Tôi quay đi chỗ khác. Connor trông không có vẻ như đang lắng nghe.
“Mẹ và chú ấy không chia tay.” Tôi nói với con bé. “Chẳng có gì thay đổi cả. Chỉ là… Mẹ cảm thấy hạnh phúc với tình trạng bây giờ, thế thôi. Mẹ không nghĩ có bất kỳ lý do nào để nâng tầm mối quan hệ này cả, phải không?”
“Miễn là hai người không chia tay.” Con bé nhún vai, cứ như thể nó chẳng quan tâm. Tôi biết nhiều hơn thế. Con bé yêu mến Sam rất nhiều, và trên tất cả, con bé thích những lúc Connor ở bên cạnh Sam. Sẽ rất khó khăn để thằng bé có thể tin tưởng người khác, nhưng khi nó ở cạnh Sam, tôi nhìn thấy một đứa trẻ đang sống một cuộc đời… bình thường. Được trông chừng. Được yêu thương bởi một ai đó mà khi ở bên cạnh, thằng bé cảm thấy an toàn. Điều đó rất đặc biệt và thực sự cần thiết.
Vì vậy mà tôi nói: “Chú Sam luôn luôn là chính mình, Lanny, và chú ấy có những quyết định của riêng mình. Nhưng mẹ không nghĩ là chú ấy sẽ rời bỏ mẹ con mình trong tương lai gần. Nếu mẹ biết, mẹ sẽ nói với con.”
Lanny lại nhún vai một lần nữa, cứ như thể điều đó chẳng có ý nghĩa gì với con bé. Nó lại đeo tai nghe.
Chúng tôi gần như đã về đến nhà khi tôi có một cuộc gọi từ Sam. Anh ấy đang ở nhà rồi. “Mọi chuyện ổn chứ?” Tôi hỏi.
“Đều tốt…” Anh ấy nói, nhưng với một sự quả quyết, tôi tự hỏi tại sao. “Em đang về nhà à?”
“Vâng. Không còn xa nữa. Sao vậy?”
“Bởi vì chúng ta có một tờ giấy ghi chú ở trước cửa. Một đoàn làm phim đã ở đây tìm kiếm em.” Anh ấy nói. “À tranh thủ, chúng ta hết rau kinh giới rồi.”
“Một tờ giấy ghi chú á? Đoàn làm phim?” Tôi nhắc lại lời Sam nói, ngoại trừ chuyện rau kinh giới. “Ôi lạy Chúa, họ đang ngày càng trở nên to gan. Em cũng vừa mới bắt gặp họ ở thị trấn xong.”
Anh ấy im lặng trong một vài giây. “Chúng ta có lẽ cần phải nói chuyện về vấn đề này đấy.”
“Có lẽ vậy.” Tôi không mong chờ cuộc nói chuyện đó, hoặc cuộc nói chuyện khác mà chúng tôi cần phải có với nhau.
•§•
Cả buổi tối, tôi có thể cảm nhận được có một bức tường bằng đá dựng lên giữa hai chúng tôi, và tôi muốn vươn tay xuyên qua nó, để cảm nhận bàn tay của anh ấy cũng đặt lên trên bức tường… Nhưng tôi không biết mình có nên làm vậy không. Hoặc tôi có thể hay không.
Thời gian, tôi nói với bản thân khi chúng tôi rửa bát đĩa cùng nhau trong im lặng; tôi rửa và anh ấy lau khô. Cho anh ấy thời gian. Nhưng thời gian có thể khiến anh ấy suy suyển, vậy thì tôi phải làm thế nào? Không ai cảnh báo trước cho tôi biết rằng yêu một người sẽ đáng sợ đến nhường nào, thực sự yêu một người.
Điện thoại bàn của tôi đổ chuông, kéo tôi ra khỏi dòng suy nghĩ, và tôi cảm thấy nửa khó chịu, nửa nhẹ nhõm. Tôi lau khô tay và với lấy nó bởi tôi nhận ra người gọi. Đó là Marlene, từ Wolfhunter.
Tôi nhận được sự im lặng sau lời chào hơi thô lỗ, cộc cằn của bản thân. Đầu dây bên kia có tiếng ồn. Tiếng hít thở. Tôi chuẩn bị dập máy thì nghe thấy giọng của một người phụ nữ trẻ tuổi nói rằng: “Cứu tôi.”
Tôi dừng lại, nghi ngờ. “Xin chào? Ai vậy?”
“Vee…” Cô bé nói. “Vera Crockett. Mẹ nói cô sẽ giúp người khác. Và số của cô ở trong máy của mẹ.”
Giọng này rất quen, tên họ cũng vậy. Marlene Crockett là người phụ nữ đã gọi cho tôi sau thảm họa Howie Hamlin. Người này rõ ràng có gì đó khó xử, nhưng bản thân lại không thể nói ra đó là gì. Cô ấy muốn tôi chấp nhận giúp đỡ và lái xe tới một thị trấn khỉ ho cò gáy nào đó để thảo luận riêng về chuyện này.
Tôi ngay lập tức cảnh giác. Sử dụng một đứa trẻ, thật hèn hạ. Tôi phải kiềm chế thôi thúc muốn ngắt máy. “Xin hãy để mẹ cháu nghe máy đi.”
“Cháu không thể…” Vee nói. Giọng cô bé nghe buồn nản một cách lạ lùng. “Bà ấy chết rồi.”
“Xin lỗi?” Một cách bản năng, tôi quay sang nhìn Sam, hai môi hé mở. Tôi lắc đầu để nói với anh ấy rằng tôi không biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng tông giọng tôi cảnh báo điều gì đó không bình thường. “Khi nào? Chuyện gì đã xảy ra?”
“Cô nên tới đây…” Vee nói. “Bọn họ chuẩn bị đến bắt cả cháu rồi. Mẹ cháu chết trên sàn nhà, và họ sẽ tới giải quyết cháu tiếp theo.”
“Vera? Vee? Cháu đang nói là mẹ cháu đang nằm trên sàn nhà ngay lúc này sao?”
“Vâng.”
Tôi có cảm giác thế giới đang sụp đổ xung quanh tôi, thực tại bị dồn nén vào trong giọng nói vang lên trên điện thoại. “Được rồi, cô cần cháu gọi 911, Vee.”
“Nếu cháu làm thế, họ sẽ giết cháu mất.” Giọng cô bé nghe có vẻ bình tĩnh, nhưng bị gián đoạn một cách tồi tệ. Tôi không biết mình đang phải đối mặt với chuyện gì nữa. “Bắn cháu gục trên nền đất như chim gãy cánh.”
Tôi ra hiệu cho Sam, tay che ống nói và bảo: “Hãy gọi điện cho Kezia đi. Nói với cô ấy hãy điều động cảnh sát Wolfhunter tới nhà của Marlene Crockett. Em không biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng đứa con gái nói rằng người mẹ đã chết rồi.”
Sam không hề ngập ngừng hay hỏi bất kỳ câu hỏi nào; anh ấy vớ lấy điện thoại của mình và bước về phía góc phòng để thực hiện cuộc gọi.
“Vee…” Tôi nói. “Mẹ cháu… Cháu có biết bà ấy còn thở hay không không?”
“Bà ấy chết rồi.” Giọng cô bé cạn khô cảm xúc. Không cảm nhận được gì hết. Sốc ư? Điều gì đó khác? Tôi không biết nữa.
“Cháu có thể kiểm tra mạch đập giúp cô không?”
“Bà ấy chết rồi.” Lần đầu tiên, tôi nghe thấy trong giọng nói ấy có cảm xúc. Nó bực tức và khiến tôi choáng váng. “Bà ấy đang nằm trên sàn nhà, và…”
Tôi nghe thấy Vee Crockett đang ngần ngừ. Trở nên yên lặng.
Khi cất tiếng một lần nữa, cô bé thì thầm: “Họ đang quay trở lại.”
“Vee? Vee!”
Cô bé đặt điện thoại xuống, hoặc là đánh rơi nó. Tôi nghe thấy tiếng gì đó giống như tiếng bước chân, hoặc tiếng đập, rồi một tiếng nổ xé màng nhĩ khiến tôi giật nảy mình và nhìn chằm chằm vào ống nghe, hy vọng một thứ gì đó nhảy ra thay vì chỉ có âm thanh.
Tôi đưa ống nghe trở lại sát tai. “Vee? Vera! Nói chuyện với cô! Chuyện gì đang xảy ra vậy?”
Sam vẫn đang nghe điện thoại, dõi theo tôi. Tôi giơ tay lên một cách vô vọng. Vee Crockett không còn nói chuyện nữa. Nhưng chờ đã… Chuyển động? Tiếng hét từ xa? Thứ gì đó tương tự vậy.
Và rồi, ngay lập tức, giọng nói đều đều, bình tĩnh của cô bé quay trở lại. “Cái đó sẽ đuổi hắn chạy đi.”
“Vera, chuyện gì vừa xảy ra vậy?”
“Cháu vừa nổ súng…” Cô bé nói. “Xuyên qua cánh cửa. Cháu đoán là viên đạn bay về phía mấy ngọn đồi.”
“Cháu ổn chứ?”
“Vâng.”
“Vee…” Tôi không biết phải làm gì khác ngoài việc để cho cô bé nói chuyện. “Vee, mẹ cháu nói rằng bà ấy đã lo lắng về điều gì đó. Có phải về cháu không?”
“Không… Mẹ cháu không bao giờ lo lắng về cháu. Nếu bà ấy có lo lắng đi chăng nữa, bà ấy chắc chắn đã từ bỏ một thời gian trước rồi. Không thể trách bà ấy được.”
Thật vô lý. Tôi không biết làm thế nào để đọc vị được cô gái trẻ này. “Vee, cháu bao nhiêu tuổi?”
“Mười lăm ạ.” Cô bé nói. Điều đó thật đau đớn. Tôi nhắm mắt lại một chút.
“Cô có một đứa con gái bằng tuổi cháu…” Tôi nói với cô bé. “Cô biết rằng cô có thể làm mọi thứ vì con bé. Cô chắc chắn mẹ cháu cũng cảm nhận được điều đó.” Tôi nuốt xuống một cách khó khăn. Tôi cần phải giữ cho cô bé luôn nói chuyện. Chúa ơi, cô bé vẫn còn quá nhỏ. “Nói cho cô biết về mẹ của cháu, Vee. Chuyện gì đã xảy ra vào lần cuối khi cháu nói chuyện với bà ấy?”
“Cháu không nhớ nữa…” Vee nói. “Bây giờ thì đó không phải là vấn đề nữa. Bà ấy đã chết rồi. Bà ấy đã chết, và cháu…”
Cô bé chưa kết thúc câu nói, nhưng tôi đã cảm thấy một cảm giác buồn nôn và sởn gai ốc dâng lên trong người. Có phải câu nói ấy sẽ kết thúc là “cháu đã giết bà ấy” không? Marlene đã rất úp mở về chuyện đang xảy ra. Cô ấy không đề cập cụ thể đến chuyện nào cả, nhưng có lẽ cô ấy không muốn thừa nhận bản thân cảm thấy sợ hãi chính con gái của mình. Đó quả là một điều tồi tệ khi phải đối mặt.
Tôi nghe thấy tiếng vọng từ xa. Tiếng còi báo động.
“Vee? Cháu vẫn đang giữ khẩu súng chứ?” Tôi hỏi cô bé.
“Vâng.”
“Cô cần cháu làm việc này…” Tôi nói. Tôi giữ cho giọng mình thật bình tĩnh, dứt khoát và quan tâm nhất có thể. Sam dập máy và đứng đối diện với tôi, quan sát từng biểu cảm trên gương mặt và ngôn ngữ cơ thể tôi. Nhưng anh ấy không thể làm được gì cả. Tôi phải là người giải quyết tất cả chuyện này. “Cô muốn cháu đặt khẩu súng lên sàn nhà. Làm điều đó ngay bây giờ, làm ơn.”
Tôi nghe thấy tiếng di chuyển. Sột soạt. Tiếng rơi loảng xoảng của đồ vật. “Được rồi…” Vee nói. “Cháu làm xong rồi. Nhưng họ chuẩn bị bắn cháu đấy. Họ đang tìm một cái cớ.”
“Họ sẽ không làm thế đâu.” Tôi nói. “Giờ thì cô muốn cháu mở cửa trước, giơ hai tay lên thật cao và đứng ở trước hiên nhà. Nhà cháu có khoảng hiên, đúng chứ?” Phần lớn mọi người đều có, ở vùng nông thôn phía nam.
“Vâng…” Cô bé nói. “Nhưng nếu cháu đi ra ngoài kia, bọn họ sẽ bắn chết cháu mất.”
“Cô hứa là họ sẽ không làm thế nếu cháu giơ hai tay lên cao.”
“Nếu làm thế, cháu sẽ không thể nghe thấy cô qua điện thoại…” Cô bé nói. Nghe hợp lý một cách hoàn hảo, nhưng vẫn là giọng nói kỳ lạ, vô cảm đó.
“Cháu có thể bật loa ngoài và nói chuyện với cô không?”
“Ồ. Được chứ ạ.” Cô bé làm thế, và tôi nghe thấy sự thay đổi trong môi trường, như có một màn sương mù mờ mịt xung quanh cô bé. “Được rồi. Cháu đang đi ra phía cửa trước.” Thật không tin nổi, nó cười khúc khích. “Gã đàn ông còn sống, cháu đã để lại một cái lỗ xuyên qua cánh cửa! Cháu có thể nhìn thấy rõ.”
Tôi cảm thấy buồn nôn, đoán rằng có một xác chết khác nằm trên hiên nhà, ở phía bên kia của cánh cửa, nhưng tôi không nói ra điều đó. Tôi chỉ nói rằng: “Được rồi, giờ hãy mở cửa trước, chậm thôi, và giơ cả hai tay lên cao. Cháu có đang làm điều đó không, Vee?”
Tôi nghe thấy tiếng bản lề kêu lên. Giờ thì giọng của Vee trở nên xa lạ hơn. “Vâng.”
“Bước ra một cách chậm rãi, và giữ cho tay cháu giơ lên cao.”
Đây chính là khoảnh khắc mấu chốt. Tôi nghe thấy tiếng còi báo động não nề bên ngoài tắt dần. Tôi nghe thấy tiếng cánh cửa xe ô tô mở ra. Tôi có thể nhắm mắt lại và tưởng tượng toàn bộ khung cảnh ở một góc ba trăm sáu mươi độ: Vee đang đứng ở trên hiên nhà. Cái lỗ trên cánh cửa đằng sau cô bé. Ai đó bị thương nằm trên đất, hoặc thậm chí là đã chết rồi. Hai, đúng hơn là ba chiếc xe cảnh sát - ắt hẳn đó chính là lực lượng cảnh sát được huy động tối đa ở vùng Wolfhunter rồi, tụ tập xung quanh căn nhà. Những cảnh sát với súng được rút ra, lo lắng và sẵn sàng bóp cò.
“Vứt nó xuống!” Một trong số họ hét lên, và tôi nhận ra anh ta đã nhầm chiếc điện thoại cô bé đang cầm trên tay với một thứ vũ khí.
“Vứt cái điện thoại xuống đi, Vee.” Tôi nói với cô bé.
“Được rồi.” Nó nói, giọng nói bình thản như mặt hồ ngày đông.
Tôi nghe thấy tiếng điện thoại rơi xuống.
Một tiếng đập mạnh.
Rồi ba tiếng bíp vang lên, chiếc điện thoại tắt ngóm.
•§•
Không cần phải bàn cãi về những điều mà tôi sắp làm. Tôi cố gọi lại cho số đó. Nó chỉ đổ chuông liên hồi và chuyển sang hòm thư trả lời tự động mà thôi. Tôi có thể mường tượng ra chiếc điện thoại đã bị đập xuống hiên nhà và vỡ tan tành… Ngay cả khi nó không bị vỡ, sớm thôi, nó sẽ được nằm trong một chiếc túi đựng bằng chứng và sẽ không có ai trả lời cuộc điện thoại. Vee Crockett hoặc là đã bị bắn, hoặc là bị còng tay ngay lúc này.
Mười lăm tuổi.
Tôi ném một vài bộ quần áo vào cái túi vải thô trong khi nói chuyện với Sam. “Em phải đi đây… Mẹ của nó đã gọi điện cầu cứu em. Và giờ thì em là một nhân chứng, việc em ở lại đây hay rời đi cũng không có gì khác biệt. Vee đã gọi điện cho em trước khi cảnh sát ập đến; họ sẽ cần lời khai của em để lưu vào hồ sơ. Em không muốn họ đến đây và tạo nên một cảnh quay ngoạn mục cho đoàn làm phim của Miranda.”
Tôi trông thấy Sam giật mình khi nghe điều đó. Hoặc có lẽ chỉ vì tôi đề cập đến Miranda. “Em không biết chuyện gì sẽ xảy ra đâu.”
“Em có chứ…” Tôi nói với anh ấy. “Những người quay phim đang lượn lờ quanh đây như mấy con kền kền. Và họ sẽ chộp lấy thời cơ đắt giá này nếu như cảnh sát kéo đến trước cửa nhà chúng ta. Tốt hơn hết là em sẽ lo liệu mọi thứ ở một nơi xa.”
Tôi muốn nói với anh ấy về những dòng chữ của Melvin trên cuốn nhật ký của Callie, về cú sốc tồi tệ mà nó mang lại cũng như sự tổn thương, vụn vỡ mà tôi gây ra tối qua, nhưng tôi biết rằng điều ưu tiên lúc này là Vera Crockett và đoàn làm phim của Miranda.
Sam đóng sầm cánh cửa phòng ngủ đằng sau mình. “Gwen. Dừng lại.”
Ít nhất thì tôi có dừng lại. Tôi ngẩng lên nhìn anh ấy, không ngừng gấp đi gấp lại một cái áo phông.
“Em là một mục tiêu…” Anh ấy nói. Anh ấy bước đến chỗ tôi. “Em không thể để bản thân rơi vào một tình huống mập mờ, khi mà em còn chẳng hiểu điều gì đang xảy ra ở tận chỗ đó được.”
“Em cũng không thể để một cô bé mười lăm tuổi ở ngoài đó một mình được. Cô bé đã gọi em…” Tôi nói với anh ấy. “Mẹ cô bé đã chết rồi. Nếu đó là Lanny…”
“Nhưng cô bé không phải là Lanny, không phải…” Anh ấy đặt tay lên vai tôi, và tôi muốn được kéo vào trong vòng tay anh, nhưng anh không làm thế. Anh ấy giữ lấy hai cánh tay tôi. “Em không thể rước lấy rắc rối ở một thị trấn xa xôi được. Em không biết những kẻ đứng sau mọi chuyện, hoặc người dân sống ở đó. Và em chẳng liên quan quái gì đến chuyện này hết.”
“Nhưng em có.” Tôi bắt gặp ánh nhìn của anh ấy, và anh ấy chớp mắt trước. “Sam, em biết anh đang lo lắng cho em. Em biết những nguy cơ có thể xảy ra. Em biết. Nhưng ở đây em cũng không an toàn hơn là bao. Rời đi và tránh né những cái máy quay phim…” Tôi có một giây hoảng loạn tới tận xương tủy, cảm thấy như mình không thể thở nổi. Tôi như quay trở lại Louisiana, trong một căn phòng với một chiếc máy quay phim và máu, cùng với thi thể của một người phụ nữ và người chồng cũ của mình. Tôi đang ở trên trường quay của Howie Hamlin, mắc kẹt bên trong một cơn ác mộng.
Nếu tôi phải đối mặt với một chiếc máy quay phim khác ngay bây giờ, tôi sẽ rơi vào trạng thái không thể cứu vãn nổi.
“Chết tiệt thật…” Sam nói, nhưng không tức giận. Chỉ là cảm thấy bị khước từ. Anh ấy tựa đầu vào đầu tôi, hai trán nhẹ nhàng chạm nhau. Và rồi anh ấy trao cho tôi một nụ hôn ngọt ngào, lặng im, cứ như thể tôi chưa từng làm tan vỡ trái tim Sam vào buổi tối hôm qua. “Được rồi. Nhưng em sẽ không đi một mình.”
“Nhưng bọn trẻ…”
“Bọn trẻ cũng sẽ đi cùng…” Anh ấy nói. “Tất cả chúng ta sẽ cùng đi, hoặc em không đi nữa.”
Điều mà anh ấy không nói, chính là: Chúng ta cùng đi như một gia đình, nhưng tôi có thể cảm nhận được điều đó. Tôi cần điều đó. Tôi hôn anh ấy một lần nữa, một cách mãnh liệt hơn. Sam gạt tóc khỏi trán tôi, nhìn tôi như thể anh đang cố gắng khắc sâu vào trí nhớ.
Rồi anh ấy bước lùi lại. “Anh sẽ nói với lũ trẻ sắp xếp đồ đạc.”
Nụ hôn vẫn còn vương trên đôi môi, khiến tôi cảm thấy bình yên và dịu dàng. Sam Cade chưa bao giờ nằm trong dự tính của tôi, hết lần này đến lần khác. Nhưng tôi muốn xóa tan khoảng cách giữa chúng tôi. Tôi cần phải làm vậy.
Một cảm giác lạ lẫm ùa tới. Dường như anh ấy… nhẹ nhõm.
Như thể anh ấy muốn thoát khỏi hồ Stillhouse ngay lập tức, nhiều như tôi vậy.
•§•
“Nhưng chúng ta đang đi đâu ạ?” Connor hỏi, trong lúc nhét hàng tá sách vào trong túi của mình. “Nơi nào đó thú vị sao mẹ?”
“Chắc không phải rồi, con yêu…” Tôi nói với thằng bé. “Một nơi được gọi là Wolfhunter.”
Thằng bé dừng lại. Tôi phát hiện ra là nó chưa bao giờ nghe nói về địa danh này. “Nghe hay đấy.”
“Mẹ không biết nữa. Mẹ chưa bao giờ tới đó cả. Nhưng nó nằm ở rìa của khu rừng Daniel Boone.” Rừng Quốc gia Daniel Boone là một dải đất khổng lồ với những khu rừng tối, và điều này tạo ra một sự kích thích nhất định. Connor mở rộng hai mắt. Đương nhiên là chúng tôi đã từng tới khu rừng ấy; đó là một trong những điều đầu tiên tôi làm với bọn trẻ khi chuyển nhà tới đây.
“Chúng ta đang đi cắm trại ạ?” Thằng bé hỏi.
“Mẹ không nghĩ thế. Ở đó hẳn phải có một nhà nghỉ mà chúng ta có thể ở lại. Mẹ hy vọng chúng ta sẽ chỉ mất một hoặc hai ngày thôi.”
Thằng bé lưỡng lự, rồi nhét thêm một quyển sách khác. Tôi phải giấu đi một nụ cười. Thằng bé thật tệ trong việc đó, y như tôi khi phải đối phó với cơ chế tự bảo vệ của bản thân vậy. Cây gậy ba khúc nằm ở dưới đáy ba lô của tôi nặng ít nhất gấp ba lần đống giấy của thằng bé, và đó không phải là thứ duy nhất tôi mang theo.
“Tại sao chúng ta lại phải đi ạ?” Thằng bé hỏi.
“Con có nhớ người phụ nữ đã gọi cho mẹ để nhờ giúp đỡ không?” Nó gật đầu. “Con gái của cô ấy đang gặp rắc rối.”
“Bạn ấy bao nhiêu tuổi ạ?”
“Bằng tuổi Lanny.”
“Ồ, con tưởng đó là bạn khác.”
“Bạn nào khác?” Tôi hỏi.
“Người xuất hiện trên chương trình ti vi ấy ạ.” Thằng bé vớ lấy điện thoại và đưa cho tôi. Trên màn hình là bức ảnh của một cô bé người Mỹ gốc Phi xinh xắn, khoảng tầm sáu hay bảy tuổi, tươi cười bên chiếc máy ảnh và có phong thái đầy duyên dáng. “Mẹ nhớ chứ? Bố mẹ của cô bé này đã ở trường quay của Howie. Cô bé đã bị bắt cóc từ trường của mình. Họ đã ở trong phòng chờ cùng với chúng con.”
Giờ thì tôi nhớ ra cặp đôi bị sang chấn tinh thần trong phòng chờ của Howie. Không có nhiều thứ về họ đọng lại trong đầu tôi. Tôi quá tập trung vào suy nghĩ phải chuồn khỏi đó nên chẳng còn quan tâm tới lý do vì sao những người khác xuất hiện trong căn phòng đó nữa. Tôi chỉ muốn thoát ra ngoài. “Ồ.” Tôi ngồi xuống mép giường của Connor. “Cô bé đã mất tích bao lâu rồi?”
“Gần một tuần nay ạ… Cô bé có lẽ sẽ không quay trở lại, đúng không mẹ?”
Tôi không muốn thằng bé biết về những chuyện này. Không phải ở độ tuổi của nó. Nhưng theo số liệu thống kê, thằng bé nói đúng. Phần lớn những đứa trẻ nhỏ tuổi bị bắt cóc không sống sót quá một vài giờ. “Có ai nói về tiền chuộc hay thứ gì tương tự không, Connor?” Tôi đang chắt lọc thông tin. Bắt cóc một học sinh từ trường là một nỗ lực tinh vi và có tổ chức. Đây không phải hành vi bột phát do ham muốn nhất thời, mà là một quá trình được điều phối và lên kế hoạch tỉ mỉ. Không thể khẳng định chắc chắn là cô bé còn sống, nhưng ít ra cơ hội sống sót của cô bé vẫn ở mức trên trung bình.
Connor sốt sắng giúp tôi bổ sung thông tin. Rõ ràng là thằng bé luôn dõi theo vụ án này. “Các diễn đàn thảo luận nói rằng người cha đã thanh toán khoản tiền chuộc, nhưng tất cả chỉ là giả thuyết…” Nó nói. “Có lẽ đã có một khoản chi bí mật để đưa cô bé trở về.”
“Đợi đã, Connor: các diễn đàn thảo luận sao?”
Sự hào hứng biến mất phần nào nơi thằng bé. “Con xin lỗi. Nhưng con không tham gia vào những diễn đàn nói về bố đâu. Con hứa đấy.”
“Đừng có tham gia vào bất kỳ cái nào trong số chúng.” Tôi yêu cầu. “Và con thừa biết là những thứ đọc được trên Reddit không đáng tin cậy… Tránh xa mấy cái diễn đàn ra, được chứ?”
“Con không đăng gì cả, con chỉ đọc thôi.”
“Đừng để mẹ phải đưa đống đấy vào danh sách chặn, Connor.”
Thằng bé nhướn lông mày: “Con không còn là một thằng nhóc vắt mũi chưa sạch, nhưng mẹ vẫn luôn cấm con tìm hiểu mọi thứ.”
Đúng, tôi phải làm thế. Thật lòng đấy. Connor phải tránh xa những vụ bắt cóc trẻ em, và sự ghê tởm tột cùng trong tâm hồn con người. Những chuyện liên quan đến bố của thằng bé nữa, ngay cả khi tôi biết nó đã ý thức được nhiều điều. “Mẹ muốn con tìm hiểu thế giới. Nhưng mẹ muốn chắc chắn rằng con đã sẵn sàng để biết…” Tôi nói, và thực sự có ý như vậy. “Mẹ cũng không muốn con có một cái nhìn cong vẹo về thế giới. Phần lớn thời gian, mọi người rất tử tế. Đôi khi họ tồi tệ. Nếu đánh giá thế giới thông qua internet, con sẽ hiểu rằng mạng xã hội thường xuyên phơi bày và đào sâu mặt xấu xa nhất của con người.”
“Như thế không đúng, mẹ ơi…” Thằng bé nói. “Mọi người cùng nhau tạo nên nguồn khích lệ lớn trên mạng. Họ giúp đỡ lẫn nhau. Người lạ giúp người lạ. Không phải tất cả đều xấu xa đâu.”
Đương nhiên rồi, thằng bé nói đúng. Con trai tôi biết cách cân bằng tốt hơn tôi nhiều. “Được rồi. Nhưng ý của mẹ là thế. Đừng bị cuốn vào những điều tưởng như là đúng, và những điều tưởng như là sai. Hiểu chứ?”
“Giống như những lời nói dối mà bố đã nói với con… Vâng. Con hiểu rồi.”
“Mẹ xin lỗi, con yêu.” Tôi nói với thằng bé. Nó cúi xuống nhìn cuốn sách đang giở trên tay. “Ông ta không nên làm như thế với con.”
Thằng bé nhún vai, hai vai xoay nhẹ. “Vâng, thì, nó chẳng là gì so với những gì mà bố đã làm với mẹ, có lẽ là vậy.”
Tôi chớp mắt. Tôi trông thấy ống kính đen ngòm lạnh lẽo của chiếc máy quay phim đang tập trung vào tôi. Cổ họng tôi thít lại, và tôi biết mình phải đối mặt với cú sang chấn tinh thần này càng sớm càng tốt, bằng một phương thức mang tính xây dựng nhiều hơn là chối bỏ. Nhưng ngay lúc này, một cô bé ở Wolfhunter đang đơn độc. Một người phụ nữ đã chết cầu xin sự giúp đỡ của tôi.
“Mẹ rất tiếc về cô bé đó…” Tôi nói. “Mẹ ước gì mình có thể giúp cả bạn ấy nữa. Nhưng trước hết chúng ta phải hướng tới cô bé ở Wolfhunter, được chứ?”
Thằng bé gật đầu và nhét thêm nhiều cuốn sách hơn vào trong cái túi đã quá tải của mình. Connor dựng lên bức tường bảo vệ từ những câu chuyện, những trang sách. Nhưng khi bắt chước và làm theo những câu chuyện, thằng bé có thể đi chệch hướng. Tôi đã từng như vậy.
Tôi kiểm tra Lanny. Con bé đã xếp đồ xong, tất cả trong một chiếc ba lô. Ít hơn những gì tôi mang theo. Con bé đang rảo bước trong phòng khách, hai tay khoanh lại. Khi tôi gọi tên con bé, nó nhảy lên và nở một nụ cười mà tôi biết là giả. “Này mẹ, đừng hù con như thế chứ.” Con bé trông thực sự phiền muộn.
“Con ổn chứ?’ Tôi hỏi. Câu hỏi đó khiến Lanny lùi lại một bước, dựng lên tấm lá chắn đầy châm biếm và bực dọc.
“Ồ, chắc chắn rồi. Con siêu ổn với một chuyến đi đột xuất mà chẳng đến đâu cả, chẳng để làm gì cả, đúng lúc con đang định đến gặp Dahlia vào ngày mai! Mẹ biết con muốn đi gặp cậu ấy như thế nào mà, đúng không?”
Tôi chưa bao giờ để con bé ở một mình, nhưng trong một khoảnh khắc ngắn thôi, tôi có suy tính đến việc giao con bé cho mẹ của Dahlia Brown là Mandy Brown chăm sóc… Nhưng nếu Lanny và Dahlia xảy ra vấn đề, việc ở cùng một căn nhà, trong vòng một hoặc hai ngày có thể phá vỡ hoàn toàn mối quan hệ đó. Tôi không muốn phải chịu trách nhiệm cho việc đó. Vì vậy mà tôi nói: “Xa nhau sẽ khiến ta gắn kết hơn, yêu thương hơn.”
“Nghe thật lố bịch.”
“Lanny.”
“Vâng, được rồi, tốt thôi. Nào ta đi!” Con gái tôi đang điên tiết và bực bội, và tôi tự hỏi tại sao. Tôi muốn hỏi, nhưng tôi biết tỏng rồi. Đây không phải là lúc thích hợp. Lanny không muốn ngồi đó và gặm nhấm niềm tin. Con bé muốn được hành động. Con bé xách đồ và đi ra ngoài, còn tôi đi tập hợp Sam và Connor, sau đó quay trở lại phòng khách và cửa trước.
Tất cả chúng tôi cùng dừng lại khi chuông cửa kêu lên. Sam đứng gần bảng điều khiển nhất; anh ấy lùi lại một bước để nhìn vào màn hình camera. “Đó là Kezia…” Anh ấy nói, và tôi mở cửa.
Kez trông có vẻ mệt mỏi. Cô ấy gật đầu với tôi, và tôi bước lùi lại để cô ấy vào trong. Cô ấy ôm Lanny, cụng nắm đấm với Connor, và lũ trẻ rất vui mừng khi gặp lại Kez. Tôi không chắc là mình đang có cùng cảm xúc với bọn trẻ. Tôi đóng và khóa cửa lại, liếc mắt nhìn Sam.
“À, vậy là, tôi nghĩ mình nên ghé qua và đi ngay…” Cô ấy nói. “Mọi người đang chuẩn bị xuất phát?”
Câu hỏi quá đỗi hiển nhiên và không cần suy luận gì cao siêu. Cả bốn chúng tôi đều đang vác ba lô.
“Đúng vậy.” Tôi nói. Tôi ngờ ngợ là cô ấy sẽ phản đối, nhưng cô ấy trông có vẻ nhẹ nhõm.
“Tốt, bởi vì cuộc nói chuyện ngắn ngủi của tôi với Sở Cảnh sát Wolfhunter không thực sự suôn sẻ. Mấy thằng cha om sòm và thô lỗ ấy hình như đã tuyên bố mở cuộc điều tra và dập máy, nhưng bọn họ muốn chị phải tới đó để cung cấp lời khai - không chỉ về những chuyện đã xảy ra, mà còn về lý do chị liên hệ với người phụ nữ tử vong trên sàn nhà.” Cô ấy muốn hỏi rõ hơn, nhưng cô ấy cũng đã nắm được tình hình. Kezia hiểu rõ những kẻ thường hay gọi điện nhờ tôi giúp đỡ, và tình trạng thường thấy của họ: tồi tệ khủng khiếp. Cô ấy không muốn thảo luận điều đó trước mặt bọn trẻ. Bởi vậy Kez nói: “Gọi cho tôi khi chị đến đó nhé. Tôi không có niềm tin vào mấy tay cảnh sát đó…” Nếu chúng tôi ở một mình, cô ấy sẽ gọi bọn họ bằng mấy danh từ tệ hơn thế nhiều. “Dường như chỉ có một vài luật sư ở gần Wolfhunter thôi, vì vậy mà tôi đã nhắn tin cho chị số của họ. Nếu chị không muốn phải ghi nhớ chúng, hãy ghi lên cánh tay bằng bút.”
Đây là hành động đề phòng mà các nhà hoạt động xã hội thường làm trong các cuộc biểu tình. Tôi không biết đống ác cảm mà những cảnh sát Wolfhunter đem tới cho Kez là như thế nào, và thế quái nào mà tôi lại phải lôi lũ trẻ vào chuyện này. Tôi nhìn Sam và nhận thấy sự e dè tương tự, nhưng anh ấy sẽ không để tôi đi một mình. Còn tôi, tôi sẽ không để bọn họ phải ở đây chống đỡ đám người quay phim mà Miranda Tidewell cử đến để phá hủy chút danh tiếng còn sót lại của tôi. Dù có điều gì xảy ra ở Wolfhunter đi chăng nữa, chúng tôi cũng sẽ giải quyết nó theo cách mà chúng tôi đã đối mặt với mọi khó khăn trước đây: cùng nhau.
Tôi để Sam và bọn trẻ đi trước đến chỗ đỗ chiếc SUV; tôi đưa Sam cái túi vải thô của mình, và anh ấy gật đầu. Anh ấy biết rằng tôi muốn một cuộc đối thoại cá nhân. Vì vậy mà tôi đóng cửa và quay sang Kez: “Khi chúng tôi đến gặp cô, cô đã không thông báo cho tôi biết về sự hiện diện của đoàn làm phim trong thị trấn. Tại sao chứ?”
“Khi tôi làm việc, tôi là đầy tớ của người dân…” Cô ấy trả lời. “Ở góc độ của tôi, đoàn làm phim không hề vi phạm bất cứ luật lệ gì, và thật lòng mà nói, báo cho chị biết chẳng khác nào thổi bùng lên ngọn lửa giận dữ trong chị, điều này không tốt cho chị và cho bất kỳ ai. Chị sẽ tấn công họ, và như thế, chính chị đã góp phần hoàn thành bộ phim của họ. Họ sẽ thắng được cả đống giải thưởng, và cuộc sống của chị sẽ chẳng khác nào một bãi rác. Hãy tránh xa họ ra. Đó là điều tốt nhất chị có thể làm: đừng tạo cơ hội cho họ làm càn.”
Đương nhiên rồi, cô ấy nói đúng. “Lời cô nói chứng minh rằng việc đi khỏi thị trấn là một điều tốt.” Tôi nói. “Bởi vì khi họ chĩa máy quay về phía tôi, tôi không thể đảm bảo rằng mình sẽ đủ bình tĩnh để không ném thẳng chiếc máy quay vào mặt họ.”
“Đúng. Đó chính là điều mà tôi lo lắng đấy.” Kez dò xét, sắc lẹm như miếng kính vỡ, giống như bố của cô ấy. “Chị vẫn đi gặp bác sĩ tâm lý đấy chứ?”
“Tại sao? Trông tôi không ổn hay sao?”
“Không hẳn là vậy, trong mắt của đại đa số. Nhưng chị đã từng đi qua địa ngục, Gwen. Hãy để cho mình có khoảng nghỉ. Để cho bản thân được chữa lành trước khi lao mình vào một cuộc chiến khác.”
“Tôi rất biết ơn sự quan tâm của cô, nhưng Kez ạ, tôi thậm chí còn không hề có sự lựa chọn.”
Cô ấy lắc đầu. “Chỉ là hãy cố gắng tránh xa rắc rối. Làm ơn. Chị biết là tôi sẽ hỗ trợ chị trong mọi việc nếu tôi có thể mà, Javi cũng vậy, nhưng có một giới hạn mà tôi không thể bước qua, và chị sắp sửa đi quá xa thẩm quyền của tôi.”
“Tôi biết…” Tôi nói với cô ấy. Chúng tôi ôm nhau. Hai người phụ nữ đeo bao đựng súng trên vai, giấu trong chiếc áo khoác - điều đó đã nói lên cách mà chúng tôi nhìn nhận thế giới. “Coi chừng đó.”
“Chị cũng vậy.”
Tôi đặt chế độ cảnh báo, khóa cửa và hướng về phía chiếc SUV; Kezia bước lại chiếc sedan, cái xe trông chẳng khác nào một chiếc hộp di động mua ở một thành phố lớn. Cô ấy lái xe bám theo chúng tôi dọc theo con đường, cho đến khi ngã rẽ xuất hiện: bên phải là lối dẫn vào đường cao tốc, bên trái là đường hướng sang nửa bên kia của hồ. Ánh đèn ở đuôi xe của cô ấy biến mất ở ngã rẽ phía bên kia, và chúng tôi dừng lại ở đường cao tốc. Sam nhìn vào bản đồ đang hiển thị trên chiếc điện thoại được gắn trên bảng điều khiển của ô tô.
“Một tiếng rưỡi nữa…” Anh ấy nói, liếc nhìn tôi dưới ánh sáng hắt hiu của bảng điều khiển. “Em chắc chứ?”
“Em chắc.” Tôi nói với anh ấy. “Đi thôi.”
Khi chúng tôi rời khỏi hồ Stillhouse, tôi cảm thấy một chút nhẹ nhõm xen lẫn tội lỗi lướt qua. Giống như thể tôi đang chạy trốn khỏi những vấn đề của mình, trút bỏ chúng và chạy đến nơi không ai hay biết, theo cái cách mà tôi đã từng làm trước đây.
Nhưng nó không hề đúng, cảm giác ấy. Chạy trốn luôn là giải pháp tạm thời. Các vấn đề sẽ luôn bám lấy tôi.
Vậy nhưng, tôi nhắc nhở bản thân, tôi không làm điều này vì chính mình.
Không phải lần này.
•§•
Những con đường dẫn tới Wolfhunter khá chật hẹp và uốn lượn; dù có ánh trăng soi sáng, chúng vẫn rất u tối. Đèn xe trở nên mờ mịt, và tôi mừng là Sam đang lái xe, chứ không phải tôi. Những cái cây mọc san sát ở một trong hai bên đường dần biến mất, nhường chỗ cho một khoảng đất đặc quánh. Không khí sặc mùi giam hãm và cầm tù.
Chúng tôi hiếm khi nhìn thấy ô tô hay xe tải khác trên đường; một vài chiếc vụt qua chúng tôi thì đi quá tốc độ cho phép, và một số khác thì đi về hướng ngược lại. Một tay tài xế non trẻ đánh lái khiến chiếc xe mười tám bánh trôi theo một khúc cua rộng, và Sam giảm tốc độ để không va chạm với chiếc xe kia. Đây không phải là cung đường thân thiện với những chiếc xe có tải trọng lớn. Thậm chí chiếc SUV khi được điều khiển bởi một tài xế điệu nghệ như Sam cũng gặp không ít khó khăn.
Không có bất kỳ trạm xăng nào còn hoạt động, chỉ có một vài khoảng đất trơ trụi lọt thỏm giữa những hàng cây và những căn nhà trống hơ trống hoác, dãi dầu sương gió cùng mấy tấm biển báo đã nhòe mờ. Chúng tôi không nhìn thấy gì khác. Lanny chọn cách chợp mắt, đầu dựa vào cửa sổ bên cạnh phía dưới Sam; khi kiểm tra kính chiếu hậu, tôi trông thấy Connor đang đọc sách nhờ vào ánh đèn phát ra từ điện thoại. “Con làm thế sẽ hỏng mắt đấy…” Tôi nói với thằng bé. Nó thậm chí còn chẳng thèm nhìn lên.
“Điều đó chẳng đúng tí nào.” Thằng bé nói.
“Ai bảo thế?”
“Khoa học.”
“Này, con có thể giúp mẹ một việc không?”
Connor nhìn tôi, cặp lông mày nhíu lại, và giờ lại rướn lên: “Chuyện gì ạ?”
“Tìm kiếm về Wolfhunter. Tìm hiểu xem có thông tin gì về thị trấn này.”
Thằng bé hạ cuốn sách xuống. “Nghiêm túc ạ?”
“Ừ, nghiêm túc. Mẹ muốn biết chúng ta đang dấn thân vào nơi nào. Con là một trong những nhà nghiên cứu giỏi nhất mà mẹ biết đấy.”
“Đợi đã, một trong những ư?”
“Ờ thì, được rồi. Có lẽ là giỏi nhất.”
Điều đó khiến thằng bé hài lòng, mặc dù nó không hề muốn tôi nhìn thấy. Thằng bé đặt quyển sách sang một bên và bắt đầu gõ gõ trên chiếc điện thoại với tốc độ sấm sét. Tôi không thể hy vọng làm được như thế với những ngón tay già nua hơn và to lớn hơn. Sam nhìn qua và dành cho tôi một nụ cười. Tôi cười đáp lại. Khiến cho Connor cảm thấy có ích là rất quan trọng; thằng bé dành quá nhiều thời gian để tự vấn bản thân dạo gần đây. Giúp thằng bé tập trung vào chuyện khác là điều cần thiết.
Nụ cười của Sam tắt dần, và anh ấy lại nhanh chóng hướng sự chú ý của mình trở lại con đường. Tôi biết trong lòng anh ấy đang đau đớn, không chỉ vì những gì xảy ra giữa hai chúng tôi, mà còn vì cuốn nhật ký kia nữa. Melvin sẽ không bao giờ dàn xếp vụ gửi bưu kiện nếu như đó không phải là một quả bom hẹn giờ được thiết kế để làm tổn thương, thậm chí là hủy diệt. Và tôi không biết trong đó viết gì nữa.
Tôi đột nhiên thắc mắc liệu Sam có mang theo nó không. Suy nghĩ này khiến tôi hoảng sợ, thứ gì đó mà Melvin tạo ra đang di chuyển cùng chúng tôi ngay bây giờ, giống như một con ký sinh trùng đang chờ đợi để hút máu vật chủ.
Tôi không thể hỏi. Tôi không thể mở lời nhắc đến chuyện đó ở đây trước mặt bọn trẻ.
Nhà nghỉ số 6 lờ mờ hiện ra ở phía bên trái giống như một ốc đảo phát sáng trong màn đêm; nó không thuộc địa bàn Wolfhunter, nhưng ở gần đó, một vài dặm từ nơi có vẻ là trung tâm của thị trấn. Chúng tôi rẽ vào, và Sam đỗ lại trước cửa văn phòng. “Hai phòng?” Anh ấy hỏi. Tôi gật đầu.
“Phòng có cửa thông nhau thì càng tốt…” Tôi nói với anh. “Chắc chắn là phải ở gần kề nhau rồi.”
“Anh không nghĩ đó là vấn đề đâu.” Sam nói. Chỉ có bốn chiếc xe trong bãi đỗ, và nhiều khả năng một trong số chúng thuộc về ai đó đang làm việc ở quầy tiếp tân. Đây là một nơi có diện tích khiêm tốn, chỉ có một tầng và không quá mười lăm hoặc mười sáu phòng quy hoạch theo hình chữ L xung quanh bãi đỗ xe. Không có bể bơi, phần lớn các nhà nghỉ đã dẹp bỏ việc xây dựng chúng. Dù sao thì tôi cũng không muốn bọn trẻ lởn vởn xung quanh một cái bể bơi. “Anh sẽ trở lại ngay.”
Anh ấy lướt nhanh ra ngoài và bước vào văn phòng. Tôi chờ đợi, quan sát anh ấy đang đứng bên trong thông qua tấm kính tối màu của xe, rồi chợt giật nảy khi Connor bất thình lình rướn người lên và nói to: “Mẹ!”
“Thôi nào, điều chỉnh âm lượng đi!” Lanny rên rỉ, kéo cái áo khoác nỉ lên trên mặt. “Cái quái gì vậy?”
Tôi quay sang con trai mình. Thằng bé làm ngơ chị mình, hoàn toàn tập trung vào tôi. Nó đưa chiếc điện thoại cho tôi, và tôi nhận lấy.
Thằng bé kéo lên một cái blog. Sự thật về vụ án, tôi không thực sự chú ý đến tựa đề của trang web khi nhận ra mình đang đọc những ý kiến của một kẻ không chuyên… Cho tới khi tôi nhìn thấy bài báo trên trang chủ của blog.
NGƯỜI PHỤ NỮ THỨ HAI MẤT TÍCH TẠI WOLFHUNTER, TENNESSEE. ĐIỀU GÌ ĐANG BỊ CHE GIẤU?
Thôi được rồi, nó đã thu hút sự chú ý của tôi. Tôi bắt đầu đọc.
Như các bạn còn nhớ, vào cuối năm ngoái, tôi đã kín đáo đăng tải vụ án của Tarla Dawes, một cô gái mười tám tuổi, người đã rời chiếc xe moóc của mình ở nơi đồng quê rìa vùng Wolfhunter, Tennessee, để đi mua đồ tạp hóa… rồi biến mất vào không khí. Dawes có tiền sử lạm dụng ma túy và bị căng thẳng nghiêm trọng, cảnh sát nhanh chóng cho rằng đây là một hành động rời đi tự nguyện, nhưng làm thế nào mà một cô gái rời đi chỉ với một cái túi xách cũ, không mang theo bất kỳ tư trang gì? Đó vẫn còn là một bí ẩn mà sở cảnh sát Wolfhunter (cứ coi như cơ quan này là một sở cảnh sát thứ thiệt đi) dường như luôn né tránh. Mẹ của Tarla không chịu tin rằng con gái mình rời đi theo ý muốn cá nhân, bất chấp hàng nghìn lý do để tin rằng Tarla và người chồng mười chín tuổi vô công rồi nghề của cô đang trên bờ vực ly hôn. Ít nhất thì một cuộc gọi thông báo về vấn đề bạo hành gia đình đã được ghi lại trong hồ sơ.
Nhưng làm sao mà một cô gái mười tám tuổi lại biến mất mà không đăng tải hay nhắn nhủ điều gì cho bạn bè chứ? Ít nhất thì cũng phải gọi điện thoại cho mẹ, phải không?
Giờ thì chúng ta có thêm một người phụ nữ nữa biến mất. Bethany Wardrip, hai mươi mốt tuổi. Một người nữa với tiền án tiền sự: vài lần bị tạm giam, nổi tiếng ở Wolfhunter vì tàng trữ ma túy, say rượu và gây rối nơi công cộng. Đêm đó, cô ấy bám theo một đồng nghiệp và nói rằng mình muốn rời thị trấn, không bao giờ quay trở lại nữa. Có thật là như thế không? Bethany không có xe riêng. Cô ấy thường đi bộ hoặc quá giang bạn bè, hàng xóm. Nhưng không ai thừa nhận đã nhìn thấy cô ấy vào đêm hôm đó, hoặc cho cô ấy đi nhờ ra khỏi thị trấn. Bethany, giống như Tarla, rời đi với duy nhất một chiếc túi xách. Quần áo vẫn treo trong tủ. Ba đôi giày của cô ấy - một đôi Converse cao cổ cũ, một đôi ủng leo núi nặng trịch và một đôi guốc cao gót đen đã sờn màu, đều bị bỏ lại. Đáng chú ý hơn cả là chi tiết chiếc cốc uống cà phê được tìm thấy trong chạn bát đĩa ở căn bếp nhỏ, bên trong là một cuộn tiền 462 đô la.
Đó là một số tiền kha khá đối với một người phụ nữ sống bằng lương cơ bản, cũng là khoản tiết kiệm, dành dụm của một người phụ nữ ít khi mua sắm và hiếm khi ra ngoài với những người bạn cũ của mình, theo lời kể của những người quen biết Bethany.
Có lẽ là tôi đã nghĩ nhiều, nhưng dường như có thứ gì đó đang mục ruỗng ở Wolfhunter.
Tôi đọc qua bài viết hai lần, và có cảm giác như tim mình đang đập thình thịch trong lồng ngực. Người viết bài này có lẽ đã linh cảm được vài điều bất ổn. Cũng giống như Marlene cảm nhận được sự bất thường và cầu xin giúp đỡ. Tôi không biết tại sao, như thế nào, mà đứa con gái của Marlene lại dính vào bi kịch khủng khiếp đó, nhưng có cảm giác như chuyện gì đó đang diễn ra. “Cảm ơn, cục cưng.” Tôi nói với thằng bé. “Thông tin hữu ích đấy.”
“Con biết là thế mà…” Nó nói mà không có chút gì tự mãn. “Con đã nói với mẹ là con có thể đào bới thông tin hay ho.”
“Ừ đúng rồi, con có thể.” Tôi nói với Connor. “Đó chính là công việc của con từ giờ về sau, được chứ? Nhà nghiên cứu tiên phong! Ngày mai mẹ muốn con tìm thêm tất cả thông tin có liên quan đến một trong hai người phụ nữ này nhé, được chứ? Ngày mai, không phải tối nay. Đừng thức khuya, hứa nhé?”
“Con hứa…” Thằng bé nói. “Con có thể mượn laptop của chị Lanny không?”
“Hỏi Lanny ấy.” Con gái tôi nói mà không thèm bỏ cái áo hoodie đang che mặt ra. “Chị mày ở ngay đây này, tên ngốc.”
“Được rồi…” Connor đáp, quay sang chị mình. “Em có thể mượn laptop của chị vào ngày mai không?”
“Không.”
“Mẹ ơi?”
“Đó là laptop của chị con.” Tôi nói. “Nếu chị ấy không muốn giúp đỡ tìm kiếm những người phụ nữ trẻ đang mất tích và gặp rắc rối, đó là quyền của chị ấy.”
Điều đó đã khiến Lanny nổi nóng, giật mạnh cái hoodie ra đằng sau và trợn mắt với tôi. “Mẹ. Như thế là không công bằng!”
“Nếu cả hai con cùng hợp tác với nhau, các con có thể hoàn thành công việc. Hai đứa luôn luôn làm được như vậy.” Tôi nói. “Mẹ sẽ phải có mặt ở sở cảnh sát vào ngày mai. Sam sẽ ở lại với các con. Mẹ biết là chú ấy sẽ rất vui khi cả hai đứa hòa hợp trong vòng một ngày đấy.”
“Bọn con hòa thuận mà…” Lanny nói. “Phần lớn thời gian.”
“Hợp tác với nhau.”
Điều đó chẳng khiến bọn chúng hài lòng chút nào, cả bên ngoài lẫn bên trong. Lanny đảo mắt. Connor thì thở dài.
Nhưng tôi biết chúng sẽ chớp lấy cơ hội để làm điều gì đó có ích cho tôi.
Sam đi ra khỏi văn phòng, quay trở lại chiếc SUV và lái xe vào trong bãi đỗ. Đèn trước rọi thẳng vào hai cánh cửa: số năm và số sáu.
“Được rồi.” Sam nói và đưa một chiếc chìa khóa cho Lanny. Wolfhunter vẫn chưa hiện đại hóa bằng việc sử dụng những chiếc thẻ từ. Có một chiếc thẻ nhựa dài ghi số phòng được gắn vào chìa khóa. “Lanny là người giữ chìa khóa. Làm mất nó, cả hai đứa sẽ phải góp tiền đền. Hiểu chứ?”
“Bọn cháu sẽ không làm mất nó đâu.” Connor nói. “Tại sao chị ấy lại được cầm chìa khóa chứ?”
“Chị lớn hơn.” Con bé nói, và nhận lấy khóa. “Bọn cháu ở phòng số sáu. Vậy hai người…”
“Chú và mẹ các cháu ở phòng số năm…” Anh ấy nói. Bữa sáng vào tám giờ, được chứ?”
“Chúng ta có phải đi săn bữa sáng ở trong rừng không ạ?” Lanny thở dài. “Mang về nhà một con sóc hay cái gì đó.”
“Có một cửa hàng McDonald’s trong vòng nửa dặm nữa. Nhưng nếu cháu muốn thịt sóc xông khói…”
“Êu. Không. Ghê quá, chú Sam.”
Chúng tôi đảm bảo rằng bọn trẻ đã sắp đồ xong và khóa cửa, trước khi di chuyển sang căn phòng bên cạnh. Hai phòng có cửa thông nhau, và tôi phải chắc chắn rằng nó hoạt động trơn tru trước khi tôi có thể thư giãn. Ít nhất thì không có trận cãi vã nào từ phía bên kia.
“Hai giường.” Anh ấy nói. “Sự lãng mạn vẫn chưa tắt ngóm.” Chẳng có gì thân quen trong căn phòng này cả, nhưng nó gợi nhớ một cách mãnh liệt đến căn phòng mà chúng tôi đã ở cùng nhau nhiều tháng trước, sau khi Melvin trốn thoát khỏi nhà tù, trước khi mọi thứ kết thúc trong cái dinh thự đổ nát màu xanh lá cây chết tiệt. Căn phòng này sạch sẽ, gọn gàng và cực kỳ đơn sơ. Tôi đặt cái túi vải thô của mình xuống cùng với túi xách. Sam ném túi đồ xuống một trong hai chiếc giường và mở ra để lấy bộ dụng cụ nhà tắm của mình.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế đơn cứng ngắc bị nhét vào góc nhà, cạnh chiếc máy điều hòa nhiệt độ. Nó đang thổi ra những luồng gió mát. “Anh có muốn em đặt cho anh một câu hỏi không?” Tôi giữ cho câu hỏi ấy thật bình thản và mềm mỏng. “Em sẽ không làm thế nếu anh không muốn.”
Anh ấy như đóng băng, bất thình lình ôm chặt đống đồ trên tay. “Về cái gì cơ?”
“Lạy Chúa, Sam, thật vậy sao?” Tôi giữ cho âm lượng của mình ở mức thấp. Lũ trẻ đang ở phòng bên cạnh và tôi chắc chắn không muốn chúng phải nghe thấy bất cứ điều gì. “Anh biết chính xác ý em là gì mà.”
“Ừ.” Anh ấy nói. Chất giọng dữ dằn.
“Ừ? Vậy có nghĩa là?”
“Có nghĩa là anh muốn em hỏi.”
Tôi đứng dậy, lấy cái túi da khỏi tay Sam và đặt nó lên trên giường. Rồi tôi úp hai tay mình lên má anh ấy. Gò má ương bướng chạm vào lòng bàn tay tôi. Không có bất kỳ khoảng cách nào giữa chúng tôi cả. “Hắn ta đã viết gì trong cuốn nhật ký?” Tôi đã thề là sẽ không bao giờ muốn biết bất kỳ điều gì nữa về Melvin Royal, đặc biệt là khi hắn ta đã chết và bị chôn vùi dưới một nấm mồ không bia, không tên tuổi. Nhưng Sam cần phải tống khứ “di sản” của hắn, giống như loại bỏ một vết thương bị nhiễm trùng vậy. Tôi đã có tên của người gửi bức thư, và chúng tôi sẽ đặt dấu chấm hết cho sự tra tấn mà Melvin tạo ra sau khi chết.
Anh ấy kéo tôi vào lòng, như đang muốn che chở tôi khỏi những gì mà anh ấy định kể ra. “Hắn ta cho anh biết toàn bộ câu chuyện.” Anh ấy nói. “Làm thế nào mà hắn bắt cóc con bé. Con bé đã chống trả thế nào. Làm thế nào mà hắn… Bao lâu mà con bé…”
Miệng tôi khô khốc. Dù đã chết, Melvin vẫn luôn biết thứ gì sẽ gây sát thương lớn nhất cho chúng tôi. Thứ gì phá hủy chúng tôi. “Dừng lại…” Tôi nói với anh ấy. “Sam, đây là điều hắn mong muốn. Em đã nói với anh là một trong những thanh tra cảnh sát thẩm vấn hắn đã tự tử sau sáu tháng rồi đúng không? Melvin độc hại như thế đấy, như thể hắn thở ra chất độc giết chết hệ thần kinh. Anh không thể để hắn kiểm soát tâm hồn anh, Sam, anh không thể. Mọi thứ hắn viết ra chỉ là ảo vọng bệnh hoạn và kinh hãi. Chúng ta không thể hiểu được. Chúng ta không nên hiểu. Và em cầu Chúa anh đã không đọc nó.”
Tôi cảm nhận được luồng hơi thở mà anh ấy hít vào. Nó giống như một bàn tay níu lấy cái phao cứu sinh. “Anh phải làm thế.” Anh nói. “Mọi thứ hắn nói dường như là thật, Gwen. Nếu con bé trải qua mức độ đau đớn như vậy… Anh không biết phải làm gì nữa. Hắn ta đã chết rồi. Anh không biết phải trút nỗi kinh tởm này vào đâu.”
Tôi đã khóc rất nhiều khi ngồi nghe từng bản báo cáo khám nghiệm pháp y của các nạn nhân chết dưới tay Melvin trong phiên tòa xét xử của chính mình. Tôi đã ép bản thân phải lắng nghe, phải biết được họ đã chịu đựng những gì dưới đôi tay của người đàn ông đã ăn cùng bàn, ngủ cùng giường với tôi và là cha của những đứa trẻ mà tôi yêu thương. Tôi đã ép bản thân chịu đựng nỗi đau mà gia đình các nạn nhân đang trải qua. Tôi biết điều gì đã xảy ra với Callie, và nó tồi tệ đúng như báo cáo pháp y. Tôi chưa bao giờ trực tiếp lắng nghe những miêu tả man rợ từ chính miệng của Melvin. Hắn cảm thấy sung sướng khi tường thuật mọi chi tiết. Sung sướng khi tìm cách diễn đạt.
“Trút nó lên em đi.” Tôi nói với Sam. “Nói cho em biết.”
Chúng tôi ngồi cạnh nhau trong căn phòng trống trải, đơn sơ, và Sam cố gắng để nói ra. Bên ngoài, bầu trời tối đen như mực, một vài ngôi sao lấp lánh le lói. Tôi nhìn đăm đăm vào khung cảnh đó, nước mắt ứa ra và nặng nề rơi xuống hai bên gò má. Thật tồi tệ, lắng nghe sự tức giận âm ỉ mà Sam đang có và những gì Melvin đã làm. Tôi ước gì nó vượt xa tầm hiểu biết của tôi, nhưng nó thật quen thuộc làm sao. Tôi có thể hình dung ra mỗi hành động, mỗi vết cắt và tiếng hét. Sau khi nói xong, anh ấy như hết hơi và cả người run rẩy. Tôi ước gì chúng tôi có rượu ở đây. Tôi cảm thấy rã rời và sầu não, miệng không thốt nên lời. Tôi biết, đối với anh ấy, giãi bày tất cả thay vì chất chứa trong lòng là vô cùng quan trọng.
Mặc cho mọi biện pháp ứng phó, Melvin vẫn chui lên từ những tấc đất và làm tổn thương chúng tôi. Và tôi không biết khi nào thì bi kịch mới dừng lại. Đó hẳn là kế hoạch của hắn ta, biến chúng tôi thành những con rối để hắn thỏa sức điều khiển khi còn có thể. Có lẽ người đàn ông ở Richmond chính là chiếc chìa khóa để kết thúc tất cả.
Và có lẽ còn nhiều chiếc chìa khóa như thế. Melvin luôn có người hâm mộ.
“Điều cuối cùng mà hắn viết…” Sam nói. “Là con bé van xin hắn hãy giết nó đi. Van xin nhiều giờ liền. Hắn ta đã ghi lại cảnh đó. Hắn ta nói hắn sẽ gửi anh cuốn băng.” Anh ấy nuốt nước bọt. “Cứ như hắn vẫn còn sống ấy nhỉ? Hắn đã lên kế hoạch cho tất cả rồi, và có ai đó ngoài kia gửi các phong bì thư cho hắn. Vì vậy mà cảm giác như hắn vẫn còn sống vậy.”
Tôi giật mình, bởi vì một lần nữa Melvin lại tra tấn người khác bằng sự tàn bạo không thể nói hết bằng lời. Tôi đợi đến khi giọng mình ổn định trở lại và nói: “Em đã tìm ra danh tính và địa chỉ của kẻ gửi thư ở Richmond. Kez đang theo sát vụ đó, và chúng ta sẽ ngăn chặn hắn gây ra thêm đau thương. Melvin muốn biến anh thành nạn nhân cuối cùng của hắn. Đừng để hắn làm thế với anh.”
Anh ấy gật đầu một cách chậm rãi.
Tôi không chắc anh ấy có thể kiềm chế được.
Sau một vài phút yên lặng, anh ấy đứng dậy, vớ lấy bộ dụng cụ vệ sinh cá nhân và đi vào phòng tắm. Tôi nghe tiếng nước bắt đầu chảy. Tôi nằm trên giường và nhìn chằm chằm lên trần nhà. Nó sạch bong, không có dấu vết bị dột, đó quả là một điều tuyệt vời. Tôi ghét điều này. Tôi căm ghét bức tường vô hình mà Melvin tạo ra giữa hai chúng tôi, căm ghét hình ảnh hắn cười toét miệng như một cái đầu lâu.
Tôi mặc một chiếc áo thun mỏng cùng quần dài, rồi leo lên giường. Không khí thật nóng bức và ẩm thấp, vậy nên tôi ném chăn bông ra đằng sau và chỉ để lại ga trải giường. Anh ấy tắm thật lâu, thật lâu. Ở trong đó sẽ dễ dàng hơn; tôi nhớ tất cả những lần tôi đã cố gắng để rũ bỏ cơn đau, cảm giác tội lỗi, sự tức giận không nói thành lời. Anh ấy cần cảm thấy bản thân được gột rửa một lần nữa, nhưng tôi không nghĩ Sam sẽ tìm được cảm giác ấy trong phòng tắm.
Cuối cùng, khi anh ấy bước ra ngoài, tôi nghe thấy tiếng anh ấy dừng lại một chút. Cố xác định xem tôi đã ngủ chưa, tôi nghĩ vậy. Vì vậy mà tôi nói: “Không sao đâu, nếu anh muốn ngủ ở giường còn lại thì cứ việc. Em hiểu mà.”
Anh ấy tắt đèn và ngồi giữa hai chiếc giường. Tôi cảm nhận được hơi ấm dịu dàng và sức nặng của anh ấy. Tôi ngoái đầu về phía sau rồi quay người lại. Nụ hôn anh trao tôi thật dịu dàng, gần như là day dứt. Từ khoảnh khắc này, tôi sẽ luôn ghi nhớ hình hài của nỗi đau và mất mát.
Chúng tôi ôm nhau trong bóng tối, và không ai nói một lời nào. Tôi gần như không dám hít thở. Giữa chúng tôi có một thứ gì đó thật mong manh, dễ vỡ, đến nỗi một cú chạm nhẹ cũng đủ khiến nó vỡ tan.
•§•
Sau bữa sáng và cuộc cãi vã với con gái tôi về việc mặc quần ngủ đen McDonald’s có vô duyên hay không, Sam đèo chúng tôi tới địa phận Wolfhunter.
Chẳng có gì nhiều để thăm thú. Trung tâm thị trấn - chính xác là toàn bộ thị trấn, chỉ là một mạng lưới các tòa nhà mười tầng xếp cạnh nhau, những mặt tiền cửa hàng bám đầy bụi bẩn, những căn nhà gỗ nhỏ xiêu vẹo như sắp đổ sập, tựa vào mấy cái hàng rào hoen gỉ.
Nó trông giống một thị trấn đã bị bỏ hoang từ xa lắc xa lơ vậy. Tôi nghi là không có quá một nghìn người gọi đây là quê hương của mình. Giá trị duy nhất của Wolfhunter là ở gần Rừng Quốc gia rộng lớn và xanh mát; tôi cho rằng những vị khách du lịch ghé qua đây đã cung cấp một khoản hỗ trợ duy trì sự sống cho thị trấn.
Con phố chính có khung cảnh giống với con phố mà bạn nhìn thấy ở các thị trấn nhỏ phía nam khác… Nó là tập hợp của những thứ rác rưởi dưới vỏ bọc một thị trấn cổ; cửa hàng phục vụ khách du lịch rởm rít với hàng đống cờ Liên bang và mấy miếng dán khẩu hiệu được thiết kế đầy xúc phạm; một tiệm cà phê tuyên bố mình có NHỮNG CHIẾC BÁNH NƯỚNG NGON NHẤT Ở TENNESSEE và chắc hẳn là điều ngoa bốc phét rồi. Những chiếc xe cần cẩu và SUV cũ bị buộc dây chằng chịt, bám đầy bụi bặm như thể không được tắm rửa trong vòng một năm. Đánh giá qua tình trạng bị ăn mòn bởi gió sương của vạn vật nơi đây, tôi có thể thấy việc quét sơn tu bổ là không hề có. Việc trang hoàng nhà cửa đòi hỏi gia chủ phải thực sự có một nỗ lực nhất định.
Sở cảnh sát chỉ cách một con phố nếu đi từ trung tâm, xét về khoảng cách địa lý, mặt tiền trông giống như một cửa hàng đang hoạt động, điều này nhắc tôi nhớ về những vùng viễn tây xa xôi thuở xưa, với một ngôi sao được sơn bằng tay trên những tấm kính cửa sổ lớn. Trông không giống một boong ke kiên cố chống khủng bố trong những thành phố hiện đại lắm.
Sau khi tắm rửa xong xuôi vào sáng nay, tôi đã tiếp thu lời khuyên của Kez: tôi viết các số điện thoại lên mặt trong của cánh tay bằng bút dạ màu đen. Có vẻ như hơi đa nghi quá, nhưng cẩn tắc vô áy náy. Khi tiến vào thị trấn này, tôi gần như đang bước chân vào một căn phòng tối thui không có nổi một ánh đèn. Tôi không biết phải tin ai. Nói quá lên một chút thì khéo bên dưới mặt đất còn có một tầng hầm bí mật chứa đựng vô vàn cạm bẫy ấy chứ. Tốt nhất là cứ chuẩn bị tinh thần cho một cú ngã.
Sam đỗ xe ngay trước cửa sở cảnh sát và nói: “Em có thể gọi anh nếu cần. Được chứ?”
“Cảm ơn người đầy tớ của em.” Tôi cố nặn ra một nụ cười. Bỗng nhiên tôi cảm thấy chuyện này không ổn. “Được rồi. Mọi người, hãy quay trở về làm việc cho kế hoạch tác chiến ở Wolfhunter đi nào. Em sẽ gọi khi chuẩn bị rời khỏi sở cảnh sát. Vậy nhé?”
“Được…” Sam nói và hôn tôi. Anh ấy hớt mấy sợi tóc trên mặt tôi ra sau. “Bảo trọng, Gwen.”
“Bảo trọng.” Tôi nói và hôn bọn trẻ trước khi vùi mình vào trong không khí đặc quánh, ẩm ướt của buổi sáng. Mùi hương của những lùm cây thật mạnh mẽ, lấn át bất kỳ mùi khói xe nào; thực ra cũng không có nhiều xe ở trên đường. Lúc ban đầu thì đó là một mùi dễ chịu, nhưng khi ngửi kĩ, tôi phát hiện ra mùi của sự chết chóc, mục ruỗng bên dưới những chiếc lá. Mùi của dòng sông ứ đọng và những con muỗi đen sì đậu trên mặt nước. Tôi sẽ không tưởng tượng đâu.
Thị trấn này có mùi của cái chết.
Tôi cố hít thở bình thường, chậm rãi, thành công trong việc nặn ra một nụ cười và vẫy tay chào Sam và lũ trẻ khi anh lùi chiếc SUV. Tôi dõi theo họ cho đến khi họ đi khuất ngọn đồi, hướng trở lại nhà nghỉ. Chỉ có một vài người đang ở trên đường, và tôi nhận ra rằng tôi đang thu hút những ánh nhìn. Hoặc là cái liếc nhìn. Rất khó để phân biệt được sự khác nhau, nhưng họ chắc chắn là đang chú ý đến tôi.
Tôi đẩy cánh cửa ra, tiến vào đồn cảnh sát và đi thẳng vào bên trong. Khu vực tiếp tân nhỏ tí xíu, chắc chỉ cỡ phòng ngủ của tôi. Có vài ba chiếc ghế gỗ cũ mèm dựng tựa vào bức tường, và một băng ghế vốn xuất thân là một cái ghế dài phục vụ trong nhà thờ. Cũng có một cái quầy làm bằng gỗ, và một người phụ nữ ngồi phía bên kia quầy đang gõ chữ trên một chiếc máy tính cổ lỗ sĩ chắc không bắt nổi internet. Bà ta khoảng năm mươi tuổi, không có một sợi tóc bạc nào với lớp trang điểm hoàn hảo và cặp kính mắt mèo. “Tôi giúp được gì cho cô?” Bà ta hỏi trong lúc đánh máy.
“Tôi ở đây với tư cách một nhân chứng…” Tôi nói với bà ta. “Cho vụ án Marlene Crockett.”
Tiếng gõ bàn phím dừng lại. Bà ta xoay cái ghế để đối diện với tôi, nghiên cứu tôi kĩ càng và trượt người về phía trước trên cái ghế để lấy điện thoại. “Tên của cô là gì, quý cô dễ thương?”
Tôi kiềm nén lại thôi thúc muốn nói với bà ta rằng đừng gọi tôi bằng mấy danh xưng gần gũi khi mà chúng tôi chỉ mới gặp mặt. “Gwen Proctor.”
Bà ta nhận ra cái tên. Tôi trông thấy một cái chớp mắt chậm rãi, sự biến đổi ngay lập tức trong sắc mặt. Như thể cái cổng thành đang được kéo xuống. “Ngồi xuống đi…” Bà ta nói. “Tôi sẽ báo cho thanh tra biết.”
Tôi chọn lấy một trong những chiếc ghế gỗ, trông nó có vẻ dễ chịu hơn một chút so với cái ghế dài. Bà ta lầm bầm điều gì đó trên điện thoại mà tôi không thể nghe rõ, cúp máy và nở một nụ cười xảo trá vô cùng. “Chỉ một phút thôi.” Bà ta nói và quay trở lại làm việc với cái máy tính của mình. Nếu bà ta đang viết email về chuyện đó, thì chắc hẳn là để báo cho mọi người biết là tôi đã đến Wolfhunter.
Tôi mừng vì mình có số điện thoại của luật sư ghi trên cánh tay. Tôi không biết được điều gì sẽ xảy ra ở đây; họ chắc sẽ không quy kết tôi vào một tội danh nào đó. Nhưng tôi đã học được một bài học cay đắng rằng vô tội không có nghĩa là bạn sẽ không bị còng tay.
Chưa đầy một phút, một cánh cửa gỗ cũ kĩ nặng nề mở ra ở bức tường phía sau, và một người đàn ông bước ra, cúi người xuống để tránh bị va đầu vào khung cửa. Tôi nhìn chằm chằm, bởi lẽ những gì tôi thấy không được bình thường cho lắm: anh ta hẳn phải đạt chiều cao tiêu chuẩn của một vận động viên giải bóng rổ nhà nghề NBA… Hai mét, hoặc hai mét mốt, có lẽ là hơn thế. Vóc dáng thanh mảnh với đôi chân dài. Bộ đồ đang mặc chắc là được may tay vì nó trông vừa vặn với dáng người anh ta. Nó có màu xám nhạt, điều này làm dịu đi cái nóng hầm hập.
“Cô Proctor đây à? Tôi là thanh tra Fairweather thuộc cục điều tra Tennessee.” Anh ta chìa tay ra khi tôi đứng dậy, và tôi có cảm giác mình là một người lùn khi chúng tôi bắt tay. Anh ta rất cẩn trọng và chuyên nghiệp trong chuyện này. Làn da màu sáng hồng của anh ta không ăn nhập lắm với mùa hè ở quanh đây, và mái tóc của anh ta có màu vàng bạch kim, cắt ngắn kiểu quân đội. “Cô thế nào, thưa cô? Tôi hy vọng là việc lái xe không quá khó khăn.”
Tôi phải cho điểm anh ta vì đã sử dụng danh xưng “cô” chứ không phải “bà” hay “quý cô”; Tôi thường phải sửa lại người khác ít nhất là một lần. Chất giọng của anh ta chắc chắn là giọng miền nam, nhưng không đậm chất vùng Tennessee. Virginia à? Khó nói lắm.
Anh ta giữ cửa và ra dấu cho tôi đi vào trong. Tôi dừng lại một nhịp. “Vậy là anh không thực sự làm việc cho sở cảnh sát Wolfhunter à?” Tôi hỏi anh ta.
“Chúng tôi cùng hợp tác trong vụ án này…” Anh ta nói. “Tôi là điều tra viên chính. Mời vào, thưa cô.”
Anh ta lịch sự một cách đau đớn. Điều đó lẽ ra nên khiến tôi cảm thấy thoải mái, nhưng thay vào đó, tôi trở nên thận trọng hơn. Nhưng tôi không có nhiều lựa chọn; anh ta sẽ không để tôi ra khỏi đây mà không có bất kỳ cuộc đối thoại nào. Tôi bước lên trước và tiến vào một hành lang hẹp và tối. Nó trông tơi tả đúng như tôi đã dự đoán. Anh ta dẫn tôi vào một căn phòng khuất ở một bên và đóng cánh cửa đằng sau tôi lại.
Căn phòng thẩm vấn điển hình. Tôi yên vị ở một bên mà tôi biết là anh ta sẽ muốn tôi ngồi xuống, vị trí sẽ bắt trọn khung hình của tôi vào ống kính máy quay. Như vậy cũng dễ khiến tôi hợp tác hơn khi tình hình êm thấm.
Thanh tra Fairweather lấy cái ghế ở phía đối diện chiếc bàn nhỏ và ngồi xuống như thể anh ta sợ rằng cái ghế sẽ gãy. “Thưa cô, cô không phiền nếu tôi ghi âm cuộc đối thoại của chúng ta chứ? Nó phục vụ cho việc lưu trữ tài liệu của tôi.” Anh ta đặt cái máy điện thoại xuống. Nó hoàn toàn không cần thiết, nếu cái máy quay hoạt động hiệu quả… Hoặc anh ta lo lắng rằng Sở Cảnh sát Wolfhunter không hoàn toàn đáng tin cậy. Tôi gật đầu trả lời, và anh ta nhấn cái nút đỏ trên màn hình. “Được rồi, để phục vụ cho việc ghi âm, thưa cô, xin hãy nói lại tên của mình.”
“Tôi là Gwen Proctor.”
“Cô từng là Gina Royal? Vợ của Melvin Royal?” Hỏi không hay chút nào, ngài thanh tra.
“Đó là tên gọi khi kết hôn trước đây của tôi, đúng vậy.”
“Thưa cô, cô sống ở đâu vậy?”
“Ở hồ Stillhouse, gần Norton.”
“Và cô sống ở đó một mình?”
“Không…” Tôi nói. “Tôi có hai đứa con, Lanny và Connor. Và Sam Cade cũng sống ở đó.”
“Sam Cade.” Giờ thì anh ta dựa người ra đằng sau, đặt hai cánh tay dài lên trên mặt bàn và đan các ngón tay vào nhau. “Và sống ở đó kiểu gì, một cách chính xác ấy?”
“Tôi không chắc là mình hiểu câu hỏi.” Đúng là như vậy thật, hoàn toàn không hiểu. Tôi cũng muốn hỏi thẳng anh ta.
“Anh ta đang thuê phòng ở chỗ cô, hay…”
“Chúng tôi cùng chia sẻ một phòng ngủ.” Tôi nói với anh ta. Lẽ ra tôi nên trả lời một cách bình thường là Chúng tôi là tình nhân hay Chúng tôi là đối tác yêu đương. Nhưng thậm chí cho đến bây giờ, tôi vẫn ghét phải thúc ép mối quan hệ của chúng tôi đi xa như vậy. Thật là ngu ngốc, tôi cho là vậy.
Phân tích từ ngữ cũng bằng thừa, bởi vị thanh tra đã nắm bắt một cách chính xác hướng đi của tôi. “Chà, điều đó hơi bất thường nhỉ? Phải chăng nó liên quan đến việc người chồng cũ của cô đã giết hại em gái anh ấy một cách dã man?”
Tôi im lặng trong vài giây dài dằng dặc. Sự im lặng của tôi có uy lực mạnh mẽ. Khi tôi thực sự trả lời, giọng nói của tôi trở nên sắc bén và mang tính phòng thủ - hoàn toàn ngược lại với ý chí của tôi. “Những câu hỏi bên trên của anh liên quan gì đến việc tôi nói chuyện qua điện thoại với các thành viên nhà Crockett?”
Fairweather đưa hai tay lên cao trong tư thế đầu hàng, xin tha thứ. “Xin lỗi. Đó chỉ là mấy câu hỏi ngoài lề thôi.” Không, đó là một mưu đồ nhằm khiến tôi mất thăng bằng và cả hai chúng tôi đều biết điều ấy. “Được rồi, hãy tiếp tục và bỏ qua chuyện đó đi. Tôi cần hỏi cô một vài câu hỏi về Marlene và Vee Crockett.”
“Tôi không biết họ…” Tôi nói. Hoàn toàn là sự thật. Tôi cố ép bản thân mình phải thư giãn. Ngôn ngữ cơ thể có sức nặng ngang với lời nói, đặc biệt là trước ống kính máy quay.
Những chiếc máy quay.
Dù không muốn nhưng tôi liếc mắt nhìn lên một chiếc máy quay đặt ở góc phòng. Nó đã được ngụy trang, nhưng không được tốt lắm, chỉ bằng cách sơn màu lên cho trùng với màu của bức tường trống trải. Không hề có tín hiệu sáng đèn, nhưng tôi vẫn có thể cảm nhận được ánh nhìn chằm chằm, trống rỗng và bâng quơ của nó.
Tôi chớp mắt, dìm xuống những hình ảnh ác mộng và cố gắng tập trung vào Fairweather một lần nữa. Anh ta đã hỏi một câu hỏi mà tôi đã bỏ qua. “Xin lỗi, anh hỏi gì nhỉ?”
“Cô đã nói chuyện với cô Crockett, chúng ta đều biết điều đó. Cuộc gọi mà cô ấy thực hiện đã kéo dài một hồi lâu. Không chỉ là nhầm số.”
“Tôi không hề nói rằng cô ấy không gọi cho tôi. Tôi đã nói là tôi không biết cô ấy.”
Đôi lông mày vàng lợt của anh ta cong lên. “Cô thường xuyên có những cuộc nói chuyện với một vài người lạ mà cô không hề quen biết?”
Mặc cho cách dùng từ miền quê cổ lỗ, tôi vẫn ngửi thấy mùi máu tanh phảng phất trong câu hỏi đó. “Thỉnh thoảng…” Tôi nói. Tôi giữ sự điềm tĩnh. “Khi họ gặp rắc rối.”
“Kiểu giúp đỡ nào mà cô mang tới cho họ, một cách chính xác ấy?”
“Lời khuyên.” Tôi rất muốn bỏ lửng ở đó và khiến anh ta phải chơi trò đuổi bắt, nhưng tôi không làm thế. “Xem này, anh biết tôi là ai và chồng cũ của tôi là ai. Mọi người - phần lớn là phụ nữ - thỉnh thoảng lại tìm cách liên hệ với tôi để giải quyết những tình huống khó khăn.
“Ví dụ như?”
“Một người phụ nữ có chồng sắp bị bắt giam với tội danh quấy rối trẻ em. Cô ấy đã không biết phải đối mặt với chuyện đó, cũng như đối diện với kết cục của người chồng như thế nào. Có người phụ nữ thì muốn làm như tôi: thay đổi danh tính của mình để bảo vệ những đứa con khỏi bị quấy rối. Thỉnh thoảng tôi có thể giúp đỡ họ. Phần lớn thì không thể. Đôi khi tôi nhận được những cuộc gọi mà người ấy chỉ muốn nói ra hết cho thỏa nỗi lòng mà thôi.”
“Và cô Crockett?”
“Cô ấy không trình bày cụ thể vấn đề của mình. Cô ấy rõ ràng là cảm nhận được điều gì đó không ổn, nhưng tôi không hề nghĩ rằng nguy hiểm đang đe dọa đến cô ấy. Cô ấy đã muốn tôi đến Wolfhunter. Cô ấy nói rằng sẽ thảo luận việc đó ở đây.” Tôi hít vào một hơi, rồi thở ra. “Thật lòng mà nói, tôi đã nghĩ cô ấy nghi ngờ ai đó quanh mình phạm tội. Thường thì là như vậy.”
“Cô có đi không? Gặp Marlene ấy?”
Tôi trông thấy ánh sáng lóe lên qua mắt anh ta, giống như một cây đèn hoa tiêu bùng lên vậy. Anh ta sẽ thăng tiến nhiều thế nào trong sự nghiệp nếu có thể gán cái chết của một người phụ nữ cho vợ cũ của Melvin Royal chứ?
“Không, tôi đã không làm thế.” Tôi nói. Vẫn bình tĩnh. “Tôi rất mừng nếu như anh kiểm tra lịch sử điện thoại di động của tôi, điều đó sẽ cho anh biết một cách chính xác tôi đã ở đâu trong suốt khoảng thời gian từ hồi đó đến giờ, và tôi sẽ gửi cho anh danh sách chi tiết những hoạt động của tôi, viết tay nhé. Tôi chưa bao giờ đến Wolfhunter trước tối muộn hôm qua.”
Nếu như cảm thấy thất vọng, anh ta sẽ không để lộ điều đó ra ngoài mặt. Biểu hiện sẵn sàng giúp đỡ của anh ta vẫn luôn bất biến. “Nếu cô có thể viết tất cả những điều đó ra thì sẽ thật sự có ích đối với tôi đấy…” Anh ta nói. Anh ta mở ngăn kéo phía bên bàn của mình và lấy lên một tập giấy màu vàng có dòng kẻ cùng một cái bút máy. “Tôi sẽ phải hỏi anh Cade về những hoạt động của anh ấy kể từ lần đầu tiên Marlene gọi điện, cho đến khi cô nhận được cú điện thoại thứ hai.”
“Đương nhiên rồi. Anh ấy sẽ rất vui khi được hợp tác điều tra, đồng thời cho anh quyền truy cập vào lịch sử cuộc gọi của mình nữa.” Thường thì tôi không hứa hẹn lăng nhăng kiểu vậy thay cho Sam, nhưng quả thật tay thanh tra này không hề ngu ngốc; anh ta sẽ chuẩn bị thủ tục và lôi chúng tôi ra tòa, dù chúng tôi có thích hay không. Việc chấp thuận sẽ khiến chúng tôi chiếm được lòng tin.
“Vậy thì chính xác là cô Crockett đã nói gì khi cô ấy gọi cho cô?” Anh ta hỏi, dịch chuyển người về phía trước một chút. Một lời mời gọi rằng hãy tự tin lên nào. Anh ta điều khiển ngôn ngữ cơ thể của mình rất tốt, tôi cũng sẽ làm điều tương tự.
“Không nhiều. Cô ấy đã gọi sau khi chúng tôi trở về từ Knoxville, sau bữa tối.”
“Knoxville.” Anh ta nhắc lại. “Và tại sao cô lại tới Knoxville một lần nữa?”
“Tôi phải ghi hình cho chương trình Howie Hamlin Show. Nó được quay ở đó.” Giọng nói của tôi thể hiện sự sắc sảo. Anh ta gật đầu nhẹ với tôi.
“Đúng rồi, thưa cô, giờ thì tôi sẽ ghi nhớ thật kĩ.” Anh ta hẳn là đã tra thông tin về tôi trên Google rồi; đó là quy trình cơ bản trước khi bước vào một cuộc phỏng vấn. “Và chính xác thì cô ấy đã nói gì khi gọi điện?”
Tôi nghĩ lại. Trí nhớ của tôi không phải là hoàn hảo, nhưng nó tốt vì nhiều lý do, và tôi nghĩ mình đã tường thuật lại khá ổn. Anh ta nghe mà không đưa ra bất kỳ nhận xét nào. Khi tôi ngừng lại, anh ta nói: “Và tại sao cô đã không đến Wolfhunter ngay khi Marlene đề nghị cô làm thế?”
“Bởi vì tôi không ngu ngốc…” Tôi nói. “Tôi không chạy đi xa tít chỉ để bí mật gặp gỡ người mà tôi không hề biết. Trừ khi tôi có thể đưa ra điều kiện và yêu cầu người khác tuân theo. Đó có thể là một cái bẫy.”
“Một cái bẫy?” Giờ thì anh ta ngồi lui lại. “Được tạo ra bởi ai chứ, chính xác ấy?”
Tôi bắt đầu kiểm tra một lượt danh sách. “Những kẻ hâm mộ chồng cũ của tôi. Những thành viên Absalom đã bị bắt. Những kẻ theo dõi ngẫu nhiên trên mạng internet, tính ra thì tôi có hàng tá. Đấy là còn chưa kể gia đình của các nạn nhân, một vài người trong số họ vẫn tin rằng tôi là kẻ đồng lõa. Ồ, còn tất cả những người điên khùng bị kích động bởi mớ hỗn độn diễn ra trong chương trình Howie Hamlin đổ bể kia nữa; giờ đây tôi có hẳn một đội quay phim do Miranda Tidewell dẫn đầu bám theo mình. Vì vậy… khá là nhiều kẻ tình nghi đó.”
“Nghe có vẻ như cuộc sống của cô khá khó khăn nhỉ.”
“Không khó khăn bằng những người đã mất đi người thân yêu của mình một cách tồi tệ đâu…” Tôi nói. “Không khó khăn bằng cuộc sống của những đứa trẻ nhà tôi, khi chúng phải chịu đựng những thứ mà tôi không thể tưởng tượng nổi. Tôi không đắm chìm trong sự thương hại bản thân hay hoang tưởng đâu. Tôi rất thực tế khi nghĩ đến số lượng người muốn thấy tôi bị nhục mạ hay đau đớn. Có thể là chết nữa. Nhưng tôi vẫn đang sống mà, đúng không? Chúng ta có thể quay lại chủ đề Marlene Crockett không?”
Anh ta để tôi thay đổi thế trận. “Được thôi. Vậy là sau cuộc nói chuyện mở màn ấy, cô không hề có thêm bất kỳ liên hệ nào với cô ấy, đúng không?”
“Đúng vậy.”
“Cho đến khi cô nhận được cuộc gọi từ di động của Marlene?”
“Vâng.” Tôi nhớ lại cảm giác ghê rợn khi nhận ra mọi thứ đã trở nên tồi tệ ở đầu dây bên kia.
“Tôi muốn cô miêu tả cuộc điện thoại đó một cách chi tiết, thưa cô. Chi tiết nhất có thể.”
Tôi làm theo. Tôi nói cho anh ta những gì Vee Crockett đã nói, ở mức độ chi tiết nhất mà tôi có thể nhớ được; tôi miêu tả cách nói chuyện đáng lo ngại của cô bé. Sự hoảng loạn khi súng nhả đạn và nghĩ rằng cô bé đã bị giết.
“À…” Anh ta nói. “Chà, đó chính là người đưa thư đứng ở trước hiên nhà, giao đến một món hàng. May mắn là anh chàng đã cúi người để đặt món đồ xuống đất khi cô bé bóp cò.”
“Anh ấy không bị thương chứ?”
“Thoát chết trong gang tấc.” Fairweather nói với tôi. “Viên đạn bay xuyên qua cánh cửa, để lại một cái lỗ với kích thước bằng cái đầu của người đưa thư. Anh chàng thật quá may mắn.”
Tôi đồng ý. Vee đã có ý định giết bất cứ ai đứng ở phía bên kia cánh cửa. “Nhưng điều đó không có nghĩa là cô bé đã giết mẹ mình.”
“Tôi chưa hề nhắc tới chuyện đó.” Fairweather nói. “Và tôi không ở đây để chia sẻ với cô suy nghĩ của mình. Tiếp tục đi. Chuyện gì xảy ra sau đó?”
“Tôi yêu cầu con bé đặt khẩu súng xuống, chuyển cuộc gọi ở chế độ loa ngoài và giơ hai tay lên trời sau khi mở cửa trước.”
“Tại sao không nói với con bé hãy dập máy? Hoặc là tự cô dập máy?”
“Bởi vì con bé không nên ở một mình.” Tôi nói với anh ta. “Con bé mới mười lăm. Nó đã trải qua một trận sang chấn.”
“Cô vừa nói rằng con bé chẳng hề mảy may suy nghĩ đấy thôi.”
“Anh biết là đôi khi người ta phản ứng với sang chấn theo những cách kỳ cục mà. Con bé đã gọi cho tôi. Tôi cần phải tìm hiểu thật kĩ. Tôi lo rằng…” Tôi dừng lại, nghĩ xem mình có nên nói ra không. “Tôi lo rằng con bé hành động sai lầm và ai đó sẽ phản ứng thái quá.”
“Liệu có khả năng con bé kích động lực lượng cảnh sát? Cố tình đe dọa, khiến cảnh sát nổ súng?”
“Tôi không thể khẳng định. Tôi chỉ có cảm giác rằng con bé đã không nghĩ thông suốt. Con bé cần sự giúp đỡ.”
Anh ta chuyển hướng. “Dân bản địa sống quanh khu vực Wolfhunter nói rằng Marlene có một mối quan hệ cơm không lành, canh không ngọt với Vee. Cô bé đã uống rượu nhiều và còn sử dụng thuốc nữa. Gây chuyện ở trường. Marlene có nói với cô về điều đó không?”
“Không…” Tôi nói với anh ta. “Không có gì cụ thể cả. Giống như tôi đã kể cho anh nghe đó. Tôi không thể trả lời gì thêm. Nhưng thực lòng mà nói, có rất nhiều đứa trẻ như Vee, đúng chứ?”
“Những đứa trẻ của cô sao?”
Chà, đó là một cú đâm sắc bén vào điểm trọng yếu. “Không.” Lũ trẻ của tôi không uống rượu và dùng thuốc, ít nhất là như vậy. “Hãy tập trung vào chủ đề đi nào, làm ơn.”
Anh ta xoay trở lại các dòng sự kiện, và tôi kể với anh ta từng mốc thời gian cho tới đoạn điện thoại rơi xuống khỏi tay của Vera, và nhưng gì tôi đã làm sau đó. Một vài chi tiết chắc chắn sẽ không thể kiểm chứng được, nhưng khi khớp lại với lịch sử trên điện thoại, tôi nghĩ là sẽ ổn thôi.
Anh ta hỏi tôi rồi ghi chép hết lại. Tôi biết mưu đồ ở đây là gì, hỏi các câu hỏi, lắp ghép với dòng thời gian, sau đó xác định sự khác biệt. Rồi kiểm tra lại mọi thứ.
“Anh thanh tra…” Tôi hỏi. “Cô ấy thế nào rồi?”
“Marlene sao? Cô ấy đã chết rồi.”
“Thế còn Vera?”
“Bệnh viện đã kiểm tra sức khỏe. Nó ổn. Chỉ là không hợp tác thôi.”
“Anh đã bắt giữ con bé chưa?”
“Chỉ có kẻ ngu mới không làm vậy.” Anh ta nói. “Trên điện thoại, con bé không hề nói với cô rằng nó không gây ra án mạng. Sau đó, những bằng chứng pháp y cho thấy dấu vân tay của con bé ở trên vũ khí; máu cùng dư lượng thuốc súng được phát hiện khắp người nó.”
“Dư lượng thuốc súng đến từ phát đạn mà tôi đã nghe thấy.”
“Có lẽ. Có lẽ đó là mục tiêu thứ hai của con bé. Hai vỏ đạn, và khẩu súng thì rỗng khi chúng tôi mang về.”
Ngay cả tôi cũng không tin tưởng vào sự vô tội của đứa tré. Điều này khiến tôi phiền muộn. “Con bé có luật sư không?”
“Thưa cô, tôi cảnh báo cô, đừng can thiệp quá sâu vào vấn đề này. Chúng ta có lẽ không bao giờ biết được tại sao người mẹ lại gọi cho cô; có lẽ là bởi dự cảm chẳng lành về thảm kịch này, và bởi người mà cô ấy sợ hãi chính là con gái ruột của mình.”
“Đó không phải câu hỏi của tôi.”
“Tòa án đã chỉ định ai đó…” Anh ta nói. “Hector Sparks. Anh ta là người địa phương.”
Nhiều khả năng, Sparks sẽ là một trong hai số điện thoại viết trên cánh tay tôi. “Tôi có thể gặp con bé không?
Anh ta ngả người ra sau, cứ như thể anh ta muốn tránh xa câu hỏi hết mức có thể. “Tại sao cô muốn làm thế, cô Proctor? Cô không biết đứa trẻ này. Cô cũng không hề biết mẹ của con bé.”
“Vee cùng tuổi với con gái tôi…” Tôi nói. “Và… con bé có thể nói chuyện với tôi. Con bé đã làm thế qua điện thoại.”
Anh ta suy nghĩ về chuyện đó, và tôi tin rằng anh ta đang lung lay, nhưng rồi anh ta lắc đầu. “Tôi không thể cho phép người không làm trong ngành Luật tới thăm, cho đến khi cô bé được xét xử trước tòa.”
“Sẽ thế nào nếu như luật sư của con bé đến thăm?”
“Chà…” Anh ta nói. “Nếu như luật sư của con bé đến thăm, và cô có sự cho phép của anh ta, vậy thì sẽ có một cuộc nói chuyện ưu tiên cho cả ba người trong chừng mực quy định. Tuy nhiên, mặt khác, không một luật sư chuyên nghiệp nào cho phép điều đó đâu.”
Có một sự nhấn mạnh kỳ lạ ở đây, một động thái mà tôi không thể lý giải. Tôi bỏ qua. “Được rồi.” Tôi nói. “Nếu như con bé yêu cầu được gặp tôi thì sao?”
“Đừng có áp đặt suy nghĩ lên cô gái đó. Con bé không nhỏ nhoi, mong manh, dễ vỡ như cô nghĩ đâu. Và tôi đảm bảo với cô là con bé không hề cần sự bảo vệ từ cô.”
“Hài hước đấy.” Tôi nói. “Tôi nhớ là người ta cũng từng nói thế khi tôi ở trong tù, chờ đợi phiên tòa xét xử của mình.”
Fairweather không phản ứng lại. Anh ta dừng đoạn ghi âm trên điện thoại, cất thiết bị vào túi và đứng dậy mở cửa. “Được rồi, thưa cô.” Anh ta nói. “Chà, tôi chân thành cảm ơn cô vì sự hỗ trợ này. Cô có phiền không nếu như tôi liên lạc lần nữa với cô, nếu tôi có thêm câu hỏi?”
“Không, ngài thanh tra, tôi hoàn toàn đồng ý.” Đây chính là hình ảnh tiêu biểu cho tình bằng hữu ở vùng đất phương nam phải không?
Anh ta đưa cho tôi danh thiếp của mình. “Hãy nhớ gửi email cho tôi và xác nhận rằng tôi được phép khai thác lịch sử điện thoại di động của cô, báo với anh Cade gửi luôn cho tôi các mốc thời gian và email xác nhận tương tự nhé. Điều này sẽ giúp mọi việc tiến triển nhanh hơn đáng kể.”
“Tôi không chắc rằng đẩy nhanh mọi việc sẽ đem tới lợi ích tối đa cho con bé…” Tôi nói với anh ta. “Anh có vẻ đang đốt cháy giai đoạn một cách tồi tệ đấy.”
“Đừng lo, vụ án này khá đơn giản và rõ ràng, nhưng không vì thế mà tôi xử lý ẩu thả đâu. Tôi không hy vọng sẽ có bất kỳ bước ngoặt nào trong câu chuyện này, cô Proctor. Mâu thuẫn với con gái, Marlene tìm đến cô để cầu xin sự giúp đỡ, nhưng bi kịch ập đến trước khi cô ấy nhận được sự giúp đỡ.” Biểu hiện này khiến cho sự duyên dáng của một người đàn ông miền thôn dã bị giảm đi chút đỉnh. “Dành quá nhiều thời gian cho vụ này, tôi sẽ không có thời gian để tìm kiếm một cô bé khác.”
“Ellie White…” Tôi nói. “Nạn nhân của vụ bắt cóc. Anh cũng thuộc nhóm phụ trách vụ này sao?”
“Đúng, nhưng đó là trước khi mớ hỗn độn nhà Crockett xảy ra.” Anh ta nói.
“Tôi hy vọng anh tìm được cô bé.”
“Với tất cả sự tôn trọng, thưa cô, tôi hy vọng rằng mình không phải là người tìm ra cô bé…” Anh ta nói. “Bởi vì khả năng cao là cô bé chết rồi.”