“Vinh quang quá khứ chỉ là ảo ảnh. Vinh quang hiện tại cũng vậy.”
EDWARD JOHNSTON
*
Chiếc trực thăng bay phành phạch xuyên qua màn sương xám dày đặc. Phía hàng ghế sau, Diane Kramer nhấp nhổm không yên. Cứ khi nào sương mỏng đi một chút, cô lại thấy những ngọn cây rừng ngay sát bên dưới máy bay. Cô nói, “Chúng ta có bắt buộc phải bay thấp thế không?”Ngồi ở hàng ghế trước cạnh phi công, André Marek cười. “Đừng lo, cực kỳ an toàn đấy.” Nhưng Marek chẳng giống kiểu người lo lắng về bất cứ thứ gì. Anh ta hai mươi chín tuổi, cao và rất mạnh mẽ; cơ bắp cuộn lên bên dưới chiếc áo phông. Chắc chắn bạn sẽ không tài nào nghĩ nổi anh ta lại là giáo sư dự khuyết sử học ở Đại học Yale. Hay nhân vật số hai của dự án Dordogne, nơi họ đang tới.
“Màn sương này sẽ tan ngay trong một phút nữa thôi mà,” Marek nói, giọng vẫn còn lưu lại chút khẩu âm Hà Lan. Kramer biết mọi chuyện về anh ta: tốt nghiệp Đại học Utrecht, Marek thuộc típ nhà sử học mới ưa “trải nghiệm”, người luôn sẵn sàng tái tạo lại từng phần của quá khứ, sẵn sàng trải nghiệm quá khứ để có thể hiểu nó rõ hơn. Marek là một gã cuồng quá khứ: anh ta đã nghiên cứu trang phục, ngôn ngữ, và những phong tục thời Trung Cổ cực kỳ kỹ lưỡng; có khi anh ta còn biết cưỡi ngựa đấu thương nữa ấy chứ. Nhìn anh ta, cô có thể tin thế lắm.
Cô nói, “Tôi rất ngạc nhiên là Giáo sư Johnston không đi cùng chúng ta.” Kramer đã thực sự mong được nói chuyện với chính Giáo sư Johnston. Cô, gì thì gì, cũng là một quản lý cấp cao của cái công ty đã cấp tiền cho dự án của họ. Điều khoản ghi rõ là chính bản thân Johnston phải đứng ra hướng dẫn chuyến đi này. Và cô đã dự định sẽ tìm cách tác động đến ông trên máy bay.
“Tiếc quá, Giáo sư Johnston đã có hẹn trước mất rồi.”
“Ồ?”
“Với François Bellin, Bộ trưởng Bộ Di tích và Cổ vật. Ông ta sẽ từ Paris ghé thăm.”
“Tôi hiểu rồi.” Kramer cảm thấy dễ chịu hơn. Dĩ nhiên Johnston phải nói chuyện với các nhà chức trách trước. Dự án Dordogne phải phụ thuộc hoàn toàn vào mối quan hệ với chính phủ Pháp. Cô nói, “Có vấn đề gì không vậy?”
“Tôi nghĩ không có vấn đề gì đâu. Họ là bạn cũ của nhau. À, ta tới rồi đây.”
Chiếc trực thăng xuyên qua màn sương, bay vào ánh mặt trời buổi sớm rực rỡ. Những ngôi nhà trong nông trại xây bằng đá đổ bóng dài trên mặt đất.
Khi họ bay qua một trang trại, những con ngỗng trong sân đập cánh phần phật, và một người phụ nữ đeo tạp dề giơ giơ nắm đấm về phía họ.
“Bà ấy chẳng vui vẻ gì với sự có mặt của chúng ta nhỉ,” Marek nói đồng thời hướng cánh tay lực lưỡng của anh ta về phía đó.
Ngồi ở băng ghế phía sau anh ta, Kramer đeo cặp kính râm lên và nói, “Ồ, giờ mới sáu giờ sáng. Sao chúng ta phải đi sớm thế chứ?”
“Để có ánh sáng,” Marek nói “Bóng buổi sớm giúp ta thấy được hết những đường đồng mức, chỉ dấu khảo cổ12 và tất cả những thứ kiểu như thế.” Anh ta chỉ xuống dưới chân mình. Ba chiếc hộp màu vàng nặng nề được gắn vào thanh chống trước của trực thăng. “Giờ chúng ta đang mang theo dụng cụ vẽ địa đồ lập thể, ra đa hồng ngoại, tử ngoại và quét mặt cắt.”
Kramer chỉ về phía cửa sổ phía sau, một cái ống bạc dài gần một mét tám lủng lẳng bên dưới phần cuối trực thăng. “Và nó là cái gì vậy?”
“Từ kế proton.”
“Vậy à? Cái đó dùng để làm gì?”
“Tìm kiếm những dị thường của từ trường dưới lòng đất, từ những dị thường này có thể chỉ ra được vị trí của những bức tường, mảnh sứ hay kim loại bị chôn vùi.”
“Có thứ dụng cụ nào cần thiết mà anh chưa có không?”
Marek mỉm cười. “Không, thưa cô Kramer. Chúng tôi đã có tất cả những thứ cần thiết rồi, cảm ơn cô.”
Chiếc trực thăng đang bày là là ở bìa khu rừng rậm rạp. Nhưng giờ cô thấy những khối đá xám, những vách đá trảỉ dài trước mặt. Cô nhận ra Marek đang hướng dẫn mình một cách rất chuyên nghiệp, anh ta nói gần như không ngừng.
“Những vách đá vôi kia là những thứ còn sót lại của một bờ biển cổ,” anh ta nói. “Hàng triệu năm trước, phần này của nước Pháp bị biển bao phủ. Nước rút đi đã để lại bờ biển này. Bị ép nén qua hàng niên kỷ, bờ biển đã trở thành đá vôi. Đá rất mềm. Vách đá lỗ chỗ những hang động lớn nhỏ.”
Kramer thực sự có thể nhìn thấy rất nhiều cửa hang, những lỗ sâu hoắm trong lòng đá. “Nhiều hang động quá,” cô nói.
Marek gật đầu. “Khu vực ở miền Nam nước Pháp này là một trong những nơi định cư lâu đời nhất trên trái đất. Con người đã sống ở đây ít nhất bốn trăm nghìn năm rồi. Lịch sử đã được ghi nhận trải dài từ thời người Neanderthal tới tận thời hiện đại mà không bị ngắt quãng.”
Kramer sốt ruột gật đầu. “Còn cái dự án đó thì tiến hành ở đâu vậy?”
“Sắp tới rồi.”
Khu rừng kết thúc ở chỗ những nông trại rải rác, những cánh đồng trải dài. Giờ họ đang hướng về phía một ngôi làng trên đỉnh đồi; cô nhìn thấy những ngôi nhà đá, những con đường hẹp, và tòa tháp đá của một lâu đài nào đó vươn lên trên nền trời.
“Đó là Beynac,” Marek nói mà không quay lại nhìn cô. “Và đây là tín hiệu Doppler của chúng ta.” Kramer nghe thấy mấy tiếng bíp bíp trong tai nghe của mình, càng lúc càng nhanh hơn.
“Sẵn sàng nhé,” viên phi công nói.
Marek gạt nút những dụng cụ của mình. Nửa tá đèn chuyển sang màu xanh.
“Được rồi,” viên phi công nói. “Cắt ngang lần một nào. Ba… hai… một.”
Ngọn đồi um tùm cây cối đổ xuống một miệng vực dựng đứng, và Diane Kramer nhìn thấy thung lũng Dordogne trải rộng ra dưới chân họ.
*
Sông Dordogne uốn lượn như một con rắn nâu trong cái thung lũng mà nó đã cắn nát từ hàng trăm nghìn năm trước. Sáng sớm thế này mà đã có những người chèo xuồng trên sông.
“Vào thời Trung Cổ, Dordogne từng là giới tuyến quân sự ở khu vực này,” Marek nói. “Phần sông này là của người Pháp và phần bên kia là của người Anh. Cứ đánh qua lại như thế. Ngay phía dưới chúng ta là Beynac, một pháo đài của Pháp.”
Kramer nhìn xuống một thị trấn du lịch đẹp như tranh với những tòa nhà bằng đá lạ lùng và những mái nhà đá sẫm màu. Những con phố ngoằn ngoèo, chật hẹp chẳng có lấy một bóng du khách. Thị trấn Beynac được xây tựa vào vách đá, bắt nguồn từ bờ sông và kéo dài tới chỗ tường thành của một lâu đài cổ.
“Và ở đằng kia,” Marek nói, chỉ tay về phía sông, “cô sẽ thấy thị trấn Castelnaud ở phía đối diện. Một pháo đài của Anh.”
Tít phía trên ngọn đồi đằng xa, Kramer thấy tòa lâu đài thứ hai, được xây hoàn toàn bằng đá vàng. Lâu đài tuy nhỏ nhưng được phục chế lại rất đẹp, ba tòa tháp tròn được liên kết bằng những bờ tường cao duyên dáng nổi bật giữa trời. Dưới chân lâu đài cũng có một thị trấn độc đáo được xây dựng cho khách du lịch.
Cô nói, “Nhưng đây có phải dự án của chúng ta đâu…”
“Phải,” Marek nói “Tôi chỉ đang cho cô xem địa thế chính ở đây thôi. Dọc sông Dordogne, cô sẽ thấy những cặp lâu đài đối chọi nhau như thế này. Dự án của chúng ta cũng bao gồm hai tòa lâu đài đối địch, nhưng đó là xuôi xuống hạ nguồn vài dặm nữa. Chúng ta sẽ tới đó ngay bây giờ.”
*
Chiếc trực thăng chao nghiêng, hướng thẳng về phía Tây, vượt qua những ngọn đồi uốn lượn. Họ bỏ khu du lịch lại phía sau; Kramer rất hài lòng khi thấy phía dưới mình hầu như chỉ toàn rừng. Họ bay qua một thị trấn nhỏ có tên là Envaux ở gần sông rồi lại bay lên đồi. Khi họ bay qua một triền đồi, cô bất ngờ nhìn thấy một cánh đồng xanh rộng mở. Giữa cánh đồng là phế tích của những ngôi nhà đá đổ nát, những bức tường tựa vào nhau tạo ra những góc kỳ quái. Nơi đây rõ ràng đã từng là một thị trấn, nhà cửa đều được xây dưới chân tường thành một tòa lâu đài. Những bức tường giờ chỉ còn là một đống gạch vụn nối tiếp nhau, và hầu như chẳng còn chút tàn tích nào của tòa lâu đài hết; cô chỉ thấy duy nhất nền của hai tòa tháp tròn và một phần của bức tường đổ nát nối liền chúng lại với nhau. Đó đây là những túp lều căng bạt trắng được dựng lên giữa đống phế tích. Cô cũng thấy vài chục người đang làm việc quanh đó.“Tất cả chỗ này thuộc sở hữu của một người nuôi dê, cho tới cách đây ba năm,” Marek nói. “Người Pháp gần như đã quên mất sự tồn tại của di tích bị rừng che phủ này. Chúng tôi đang phát quang và xây mới một ít. Thứ cô đang nhìn thấy là pháo đài Castelgard nổi tiếng một thời của người Anh.”
“Đây là Castelgard sao?” Kramer thở dài. Hầu như chẳng còn sót lại thứ gì. Vài bức tường còn đứng đó như cho thấy ở đây từng có một thị trấn. Và phần chính của lâu đài, gần như chẳng còn gì hết.
“Tôi đã nghĩ là sẽ có nhiều thứ hơn thế,” cô nói.
“Rồi sẽ có mà. Vào thời hoàng kim của nó, Castelgard từng là một thị trấn lớn với một tòa lâu đài rất đồ sộ,” Marek nói. “Nhưng cũng phải mất vài năm mới phục dựng hoàn toàn lại được.”
Kramer đang băn khoăn không biết phải giải thích thế nào cho Doniger. Dự án Dordogne chưa tiến xa được như gã nghĩ. Bắt tay thực hiện những công đoạn tái thiết hoành tráng là việc cực kỳ khó khăn khi khu vực này vẫn còn quá đổ nát. Và cô chắc chắn rằng Giáo sư Johnston cũng sẽ từ chối mọi đề xuất hòng bắt đầu khôi phục lại di tích này.
Marek nói, “Chúng tôi đã dựng đại bản doanh tại nông trại đằng kia.” Anh ta chỉ tay về phía một trang trại có vài tòa nhà bằng đá, không xa khu phế tích là mấy. Một chiếc lều xanh đứng cạnh một tòa nhà. “Cô có muốn lượn vòng nhìn Castelgard thêm nữa không?”
“Không,” Kramer nói, cố gắng giấu vẻ thất vọng trong giọng nói. “Đi tiếp đi.”
“Được thôi, vậy chúng ta sẽ đi tới chỗ cối xay nhé.”
Chiếc trực thăng quay đầu về phía Bắc, bay về phía dòng sông. Đồi thoai thoải đổ xuống, rồi phẳng lì dọc hai bên bờ dòng Dordogne. Họ vượt qua con sông rộng có màu nâu thẫm và tới một hòn đảo cây cối rậm rì gần bờ bên kia. Giữa hòn đảo và bờ Bắc là một dòng chảy hẹp và xiết hơn, có lẽ rộng khoảng bốn mét rưỡi. Và ở đây cô lại thấy phế tích của một công trình khác – quá đổ nát đến nỗi khó có thể biết được nó đã từng là cái gì. “Còn cái này?” cô nói trong khi nhìn xuống. “Nó là cái gì vậy?”
“Đó là cối xay nước. Đã từng có một cây cầu bắc ngang qua sông, với bánh xe nước phía dưới. Họ đã dùng sức nước để xay thóc, thổi ống bễ rèn thép.”
“Chưa có gì được phục dựng ở đây hết,” Kramer nói. Cô lại thở dài.
“Chưa,” Marek nói. “Nhưng chúng tôi đang nghiên cứu. Chris Hughes, một trong những nghiên cứu sinh trường chúng tôi đã xem xét nó khá kỹ. Giờ Chris đang ở dưới đó với giáo sư.”
Kramer nhìn thấy một thanh niên tóc đen, dáng người săn chắc, đang đứng bên cạnh bóng người cao to mà cô nhận ra là Giáo sư Johnston. Chẳng người nào ngước lên nhìn chiếc trực thăng đang bay qua đầu mình hết, họ còn đang bận tập trung cho công việc.
Giờ chiếc trực thăng đã bỏ dòng sông lại phía sau, hướng về phía vùng đất bằng phẳng phía Đông. Họ bay qua một tổ hợp những bức tường thấp vuông vắn, hiện lên như những đường nét sẫm màu giữa ánh sáng chiếu xiên trên nền trời lúc mờ sáng. Kramer đoán rằng mấy bức tường ấy chẳng cao được đến chục xăng ti mét đâu. Nhưng nó rõ ràng đã phác họa hình ảnh của một thành phố nhỏ.
“Còn cái này? Một thị trấn khác à?”
“Gần như thế. Đây là tu viện Sainte-Mère,” Marek nói. “Một trong những tu viện giàu có và có ảnh hưởng lớn nhất ở Pháp. Nó bị cháy ra tro vào thế kỷ mười bốn.”
“Dưới ấy đào xới nhiều quá,” Kramer nói.
“Phải, đó là khu quan trọng nhất.”
Khi họ bay qua, cô có thể nhìn thấy những hố vuông lớn mà họ đã đào dẫn xuống những hầm mộ dưới chân tu viện. Kramer biết đội nghiên cứu đã dành rất nhiều công sức ở đây vì họ hy vọng có thể tìm được thêm vài bản ghi chép bị chôn giấu của tu viện; họ cũng đã tìm được kha khá rồi.
Chiếc trực thăng lượn đi, tiến tới những vách đá vôi bên phía người Pháp và rồi tiếp cận một thị trấn nhỏ. Chiếc trực thăng vút lên đỉnh vách đá.
“Chúng ta đã tới địa điểm thứ tư và cũng là địa điểm cuối cùng,” Marek nói. “Pháo đài trên thị trấn Bezenac. Vào thời Trung Cổ nó được gọi là La Roque. Trên sông thì nó nằm bên phía người Pháp nhưng thực ra người Anh đã xây dựng nó. Họ đã định cố thủ lâu đài trong lãnh địa của người Pháp. Như cô cũng thấy đấy, nó khá là rộng.”
Và thực sự là thế: một tổ hợp quân sự khổng lồ trên đỉnh đồi, với hai vòng tường thành đồng tâm bao lấy nhau, trải rộng trên hơn hai mươi héc ta. Cô thở phào nhẹ nhõm. Pháo đài La Roque còn tương đối nguyên vẹn so với các địa điểm khác trong dự án, số lượng các bức tường đứng đó vẫn còn nhiều, giúp người ta di dàng nhận ra nó đã từng là gì.
Nhưng du khách cũng đang nườm nượp ra vào khu vực này.
“Các anh để khách du lịch vào đây à?” cô hỏi với vẻ khó chịu.
“Không hẳn là quyết định của chúng tôi,” Marek nói. “Cô biết đấy, đây là một địa điểm mới và chính phủ Pháp muốn mở cửa cho dân chúng. Nhưng dĩ nhiên là chúng tôi sẽ cho đóng cửa khi bắt đầu tái thiết.”
“Khi nào thì các anh sẽ tiến hành tái thiết?”
“À… trong khoảng hai đến năm năm nữa.”
Cô không nói gì. Chiếc trực thăng lượn vòng tròn và bay lên cao hơn.
Marek nói: “Thế là chúng ta đã đi hết rồi. Từ trên đây cô có thể nhìn được toàn cảnh dự án: pháo đài La Roque, tu viện ở vùng bình nguyên, cối xay nước, và bên kia sông là pháo đài Castelgard. Có muốn xem lại nữa không?”
“Không,” Kramer nói. “Chúng ta có thể quay về. Tôi đã xem đủ rồi.”
*
Edward Johnston, giáo sư sử học của Đại học Yale do Hoàng gia Anh bổ nhiệm, nheo mắt nhìn chiếc trực thăng đang phành phạch trên đầu. Nó đang bay theo hướng Nam về phía Domme, ở đó có chỗ hạ cánh. Johnston ngó qua chiếc đồng hồ đeo tay và nói, “Tiếp tục thôi, Chris.”
“Vâng,” Chris Hughes nói. Anh quay lại phía chiếc máy tính kết nối với hệ thống định vị toàn cầu đặt trên một cái chạc ba chân trước mặt họ và bật máy. “Phải mất một phút mới khởi động xong.”
Christopher Stewart Hughes là một trong những nghiên cứu sinh của Johnston. Giáo sư – ông thường được gọi bằng cái tên ấy, có năm nghiên cứu sinh đang làm việc tại đây, cùng với hai tá sinh viên đại học đã đem lòng ái mộ ông sau những bài giảng của môn Văn minh phương Tây.
Chris nghĩ, rất dễ yêu quý Edward Johnston. Dù đã trên sáu mươi, Johnston có bờ vai rộng và nom rất khỏe mạnh; ông di chuyển lanh lẹ, tạo cảm giác tràn đầy năng lượng và sức sống. Da rám nắng, mắt thẫm màu và cách ứng xử thì đầy tính mỉa mai châm biếm, ông trông giống ác quỷ Mephistopheles13 hơn là giáo sư đại học.
Nhưng ông vẫn mặc đồ khá đúng phong cách giáo sư: thậm chí cả ở đây, giữa cánh đồng này thì hằng ngày ông vẫn mặc một chiếc áo sơ mi cài cúc và thắt cà vạt. Sự nhân nhượng duy nhất cho công việc ngoài đồng là chiếc quần jean và đôi giày thể thao.
Điều khiến Johnston được học trò rất yêu quý là cách ông hòa mình vào cuộc sống của họ: ông mời họ đến nhà mình dùng bữa mỗi tuần một lần; ông quan tâm tới họ; nếu bất cứ ai có khó khăn gì với chuyện học hành, tài chính, hay gia đình, ông luôn sẵn sàng hỗ trợ họ giải quyết vấn đề, nhưng bản thân thì lại chẳng bao giờ tỏ vẻ là mình đang giúp đỡ gì.
Chris cẩn thận tháo chiếc hộp kim loại dưới chân ra, đầu tiên lấy ra một màn hình tinh thể lỏng trong suốt, dựng thẳng nó lên, lắp nó vào giá đỡ phía trên chiếc máy tính. Rồi anh khởi động lại máy tính để nó nhận màn hình.
“Chỉ còn vài giây nữa thôi,” anh nói. “Thiết bị định vị toàn cầu GPS đang đọc dữ liệu.”
Johnston gật đầu với vẻ kiên nhẫn và mỉm cười.
Chris là nghiên cứu sinh ngành lịch sử khoa học – một lĩnh vực vốn có nhiều luồng ý kiến trái chiều gay gắt – nhưng anh đã khéo léo tránh được tranh cãi khi bỏ qua khoa học hiện đại, và tập trung vào khoa học và kỹ thuật của thời kỳ Trung Cổ. Thế là anh đã trở thành chuyên gia về kỹ thuật luyện kim, chế tạo vũ khí, luân canh ba cánh đồng14, thuộc da, và hàng tá các lĩnh vực khác vào thời đó. Anh đã quyết định sẽ viết luận án tiến sĩ về chủ đề kỹ thuật của những nhà máy xay thời Trung Cổ – một lĩnh vực hấp dẫn nhưng vẫn chưa được nhiều người quan tâm.
Và dĩ nhiên, anh đặc biệt chú ý đến cối xay nước của Sainte-Mère.
Johnston bình tĩnh đứng đợi.
Khi Chris còn một năm nữa là tốt nghiệp thì cha mẹ anh mất vì tai nạn ô tô. Là con một, Chris cực kỳ tuyệt vọng; anh suýt nữa định bỏ học. Johnston chuyển cậu sinh viên trẻ đến ở nhà mình trong vòng ba tháng, ông làm cha nuôi của Chris trong suốt những năm sau đó, tư vấn cho anh mọi thứ từ giải quyết vấn đề tài sản của bố mẹ cho tới chuyện bạn gái. Và quả thật Chris có rất nhiều vấn đề với các cô bạn gái.
Sau khi cha mẹ mất, Chris đã quan hệ với rất nhiều phụ nữ. Hậu quả của việc này là vô số những rắc rối nảy sinh trong cuộc sống của anh – cái nhìn đầy khinh bỉ từ cô người yêu bị đá trong một nhóm nghiên cứu chuyên đề; những cuộc gọi điện hoảng loạn lúc nửa đêm vì lỡ kỳ kinh khi anh đang trên giường với một người khác; những cuộc gặp gỡ vụng trộm trong khách sạn với một phó giáo sư triết học đang chuẩn bị ly hôn – tất cả những thứ này đã thành một phần quen thuộc trong cuộc sống của anh. Chẳng lạ gì khi điểm số của anh tụt dốc thảm hại. Rồi Johnston lôi Chris ra nói chuyện riêng, dành vài buổi tối đả thông tư tưởng cho chàng trai trẻ.
Nhưng Chris nào có chịu nghe; không lâu sau, anh bị nhắc tên trong vụ ly hôn đó. Phải nhờ sự can thiệp riêng của Giáo sư thì anh mới không bị đuổi khỏi Yale. Phản ứng của Chris trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc bất ngờ đổ ụp xuống đầu này là lao vào học; điểm số nhanh chóng vọt lên; cuối cùng, anh tốt nghiệp với điểm số cao thứ năm trong lớp. Nhưng trong quá trình đó, anh đã trở nên bảo thủ. Giờ đây, hai mươi tư tuổi, anh ta dần có xu hướng màu mè kiểu cách và trở nên khó tính. Chỉ có với phụ nữ là anh vẫn hấp tấp mà thôi.
*
“Rồi.” Chris nói. “Đang hiện lên rồi.”
Màn hình tinh thể lỏng hiện những nét phác trên nền xanh lá cây tươi sáng.
Trên màn hình trong suốt, họ có thể nhìn thấy phế tích cối xay nước, với đường viền màu xanh được xếp chồng lên trên. Đây là công nghệ mới nhất giúp tái hiện những cấu trúc khảo cổ. Trước đây, họ phải dựa vào những mô hình khảo cổ thông thường, làm từ đá bọt, được cắt gọt và gắn lại bằng tay. Nhưng kỹ thuật đó rất mất thời gian và chỉnh sửa thì cũng rất khó khăn.
Giờ đây, tất cả các mẫu đều được thực hiện bằng máy tính. Chúng có thể được gắn kết nhanh chóng và dễ dàng sửa chữa. Bên cạnh đó, phương pháp này cho phép nhìn thấy vật mẫu trên thực địa. Máy tính được nhập những dữ liệu tọa độ theo dạng biểu đồ của phế tích; sử dụng hệ thống định vị toàn cầu đặt chắc trên giá ba chân, hình ảnh hiện lên trên màn hình hoàn toàn chính xác đến từng chi tiết.
Họ nhìn đường màu xanh đầy dần lên, hiện ra thành những hình dạng rõ ràng. Nó thể hiện một chiếc cầu vững chắc, xây toàn bằng đá tảng, với ba bánh xe nước bên dưới. “Chris,” Johnston nói, “em đã gia cố nó rồi đấy à.” Ông có vẻ rất hài lòng.
“Em biết cũng có rủi ro…” anh nói.
“Không, không,” Giáo sư nói, “thầy nghĩ làm thế hợp lý đấy.”
Sách vở cũng có nhiều lần nói tới những cối xay đã qua gia cố, và chắc chắn rằng đã có nhiều ghi chép về những trận chiến vì cối xay và các quyền đối với cối xay. Nhưng có rất ít cối xay đã gia cố thực sự được biết tới: một cái ở Buerge và một mới được phát hiện ở gần Montauban trong thung lũng kế bên. Hầu hết các nhà sử học chuyên nghiên cứu về thời kỳ Trung Cổ đều tin rằng những kết cấu cối xay kiên cố như thế là rất hiếm.
“Những đế cột ở sát mép nước đều rất lớn.” Chris nói. “Giống như tất cả mọi thứ xung quanh đây, một khi cối xay đã bị bỏ hoang, dân địa phương sẽ coi nó như một mỏ đá. Họ lấy đá từ đó để xây nhà. Nhưng đá ở đế cột thì bị bỏ lại, đơn giản là vì chúng quá lớn nên người ta không khênh đi được. Em nghĩ rằng đây là một cây cầu thực sự đồ sộ. Có lẽ đã được gia cố.”
“Có thể thế,” Johnston nói. “Và thầy nghĩ… “
Chiếc điện đàm giắt ở thắt lưng anh kêu lên. “Chris? Giáo sư có ở cùng cậu không? Ngài bộ trưởng đến rồi.”
Johnston nhìn sang bên kia chỗ đào bới của tu viện, về phía con đường đất chạy dọc bờ sông. Một chiếc xe Land Rover màu xanh lá cây với chữ trắng trên hai kính bên đang chạy thẳng tới chỗ họ, làm tung bụi mù mịt. “Phải, chắc là ông ấy rồi,” ông nói. “François đấy. Lúc nào cũng vội vã.”
“Edouard! Edouard!” François Bellin chộp lấy vai Giáo sư, hôn lên hai má ông. Bellin là một người đàn ông vạm vỡ, to con và hói đầu. Ông nói tiếng Pháp nhanh như gió. “Bạn thân mến của tôi, lâu lắm mới gặp. Vẫn khỏe chứ?”
“Vẫn, François,” Johnston nói, lùi lại một bước trước sự nồng nhiệt quá khích này. Bất cứ khi nào Bellin nhiệt tình thái quá là y như rằng lại có vấn đề. “Còn anh thì sao, hả François?” Johnston hỏi. “Mọi chuyện thế nào?”
“Vẫn thế, vẫn thế. Nhưng ở tuổi tôi, thế là đủ tốt rồi.” Ông nhìn quanh quất một lát rồi đặt tay lên vai Johnston đầy vẻ bí hiểm, “Edouard, tôi muốn nhờ anh một chút. Tôi có một rắc rối nho nhỏ.”
“Ồ?”
“Anh biết cô phóng viên này chứ, từ tờ L’Express…”
“Không,” Johnston nói. “Hoàn toàn không.”
“Nhưng Edouard…”
“Tôi đã nói chuyện điện thoại với cô ta rồi. Cô ta là một trong những người theo học thuyết âm mưu. Cái kiểu coi chủ nghĩa tư bản là xấu xa, tất cả các tập đoàn chỉ rặt một lũ ác quỷ ấy…”
“Phải, phải, Edouard, anh nói rất đúng.” Ông ngả người gần hơn. “Nhưng cô ta ngủ với Bộ trưởng Bộ Văn hóa.”
“Thế cũng chẳng làm phạm vi hẹp lại đâu,” Johnston nói.
“Edouard, xin đấy. Người ta bắt đầu để ý những gì cô ta nói rồi. Cô ta có thể gây rắc rối lớn đấy. Cho tôi. Cho anh. Cho dự án này.”
Johnston thở dài.
“Anh cũng biết là có những xì xào bàn tán rằng người Mỹ hủy diệt mọi nền văn hóa, và bản thân nước Mỹ thì chẳng có bản sắc văn hóa gì hết. Phim ảnh và âm nhạc đã gây nhiều vấn đề rồi. Và cũng đã có những thảo luận về việc cấm người Mỹ đào xới ở những địa điểm văn hóa của người Pháp. Sao nào?”
Johnston nói, “Đó là tin cũ rồi.”
“Và nhà tài trợ của chính anh, ITC, cũng đã đề nghị anh nói chuyện với cô ta.”
“Họ làm thế à?”
“Phải. Cô Kramer nào đó đề nghị anh nói chuyện với cô ta.”
Johnston lại thở dài thườn thượt.
“Chỉ mất vài phút quý giá của anh thôi, tôi hứa đấy,” Bellin nói, vẫy tay về phía chiếc Land Rover. “Cô ta đang trong xe kia kìa.”
Johnston nói, “Anh tự đưa cô ta đến đây à?”
“Edouard, tôi đang muốn nói với anh,” Bellin nói. “Phải nghiêm túc với người phụ nữ này. Cô ta tên là Louise Delvert.”
Khi cô ta ra khỏi xe, Chris thấy một người phụ nữ trên bốn mươi tuổi, thanh mảnh, da hơi ngăm, nét mặt sắc sảo, với những đường nét rất mạnh mẽ. Cô ta ăn mặc đúng kiểu phụ nữ châu Âu trưởng thành, quyến rũ một cách tinh tế và ý nhị: đồ thám hiểm, áo kaki và quần dài, đeo túi đựng camera, máy ghi hình và ghi âm quanh cổ. Cô ta cầm cuốn sổ tay và rảo bước về phía họ, quá chuyên nghiệp.
Nhưng khi đã tiến lại đủ gần, cô ta bắt đầu bước chậm lại.
Delvert chìa tay ra. “Giáo sư Johnston,” cô ta nói, với giọng Anh không chút pha tạp. Nụ cười chân thật và ấm áp. “Tôi hết sức cảm kích vì ông đã dành cho tôi chút thời gian.”
“Có gì đâu,” Johnston nói, bắt tay cô ta. “Cô đã đi cả một đoạn đường dài rồi, cô Delvert. Tôi rất sẵn lòng giúp cô trong khả năng của mình.”
Johnston tiếp tục nắm tay cô ta. Cô ta tiếp tục mỉm cười với ông. Việc này kéo dài thêm độ mười giây nữa, trong khi đó cô ta nói rằng ông thật tốt và ông đáp lại rằng đó là việc nhỏ nhặt nhất ông có thể làm cho cô ta.
*
Họ đi qua bãi đào xới bên tu viện, một nhóm nhỏ đi sát nhau: Giáo sư và cô Delvert đi trước, Bellin và Chris theo sau, không quá gần, nhưng cũng đủ để nghe được câu chuyện. Bellin cười thầm mãn nguyện; Chris nhận ra rằng có nhiều hơn một cách để xử lý một ngài Bộ trưởng Bộ Văn hóa rắc rối.Về phần Giáo sư, vợ ông đã mất nhiều năm trước, và dù có rất nhiều lời đồn đại, Chris chưa bao giờ thấy ông qua lại với bất cứ người phụ nữ nào hết. Anh rất thích thú nhìn ông lúc này. Johnston không hề thay đổi cách ứng xử; ông chỉ đơn giản là chú tâm hoàn toàn đến cô phóng viên mà thôi. Ông làm người khác có ấn tượng rằng cả thế giới này chẳng có gì quan trọng hơn cô ta hết. Và Chris có cảm giác rằng những câu hỏi của Delvert có vẻ kém sắc nhọn hơn những gì cô ta dự định hỏi.
“Như ông biết đấy, thưa Giáo sư,” cô ta nói, “tòa soạn của chúng tôi vẫn đang hoàn thành bài viết về công ty ITC của Mỹ.”
“Phải, tôi có biết chuyện đó.”
“Có đúng ITC tài trợ cho dự án này không, thưa Giáo sư?”
“Phải.”
Cô ta nói, “Chúng tôi nghe nói họ tài trợ một triệu đô la vào đây mỗi năm.”
“Cái đó cũng đúng.”
Họ đi tiếp một lúc. Cô ta dường như đang lên khung cho câu hỏi tiếp theo một cách cẩn thận.
“Có vài người ở tòa soạn,” cô ta nói, “nghĩ rằng đó là một số tiền khá lớn cho một dự án khảo cổ học thời Trung Cổ.”
“Ồ, cô có thể nói với mọi người ở tòa báo,” Johnston nói, “là không phải đâu. Thực tế, với một khu vực lớn như thế này thì là bình thường thôi. ITC đã trả thẳng cho chúng tôi hai trăm năm mươi nghìn đô la, một trăm hai mươi lăm nghìn cho các chi phí gián tiếp đóng cho trường đại học, thêm tám mươi nghìn nữa cho học bổng, lương tháng, chi phí đi lại và ăn ở, cùng với năm mươi nghìn nữa cho các chi phí thí nghiệm và lưu trữ.”
“Nhưng chắc chắn là phải còn nhiều hơn thế chứ,” cô ta nói, tay lấy bút nghịch ngợm mái tóc của mình, và chớp mắt liên tục. Chris nghĩ, cô ta đang nháy mắt với ông. Anh chưa bao giờ thấy một phụ nữ làm thế. Chắc chỉ người Pháp mới làm nổi cái trò đó.
Giáo sư có vẻ không để ý đến chuyện đó. “Phải, hiển nhiên là còn phải thêm nữa,” ông nói, “nhưng không phải là chi cho chúng tôi. Phần còn lại là chi phí tái thiết chính di chỉ này. Nó được tính riêng, vì cô cũng biết đấy, chi phí tái thiết được chia sẻ với chính phủ Pháp.”
“Dĩ nhiên.” cô ta nói. “Thế nửa triệu đô la cấp cho nhóm của ông thì theo ông có bình thường không?”
“Ồ, chúng ta có thể hỏi François,” Johnston nói. “Nhưng có hai mươi bảy di chỉ khảo cổ đang được khai quật ở cái góc nhỏ này của nước Pháp. Chúng trải dài từ khu thời kỳ Đồ đá cũ mà Đại học Zurich đang hợp tác với Carnegie-Mellon, tới những trại lính La Mã, pháo đài, mà Đại học Bordeaux đang liên kết thực hiện với Oxford. Chi phí trung bình hằng năm cho mỗi dự án thế này là khoảng nửa triệu đô la.”
“Tôi không biết điều đó.” Cô ta đang chăm chú nhìn vào mắt ông, ngưỡng mộ một cách không giấu giếm. Quá lộ liễu ấy chứ, Chris nghĩ. Đột nhiên, anh nghĩ rằng mình đã đánh giá sai mọi chuyện. Có lẽ đây đơn thuần chỉ là cách cô ta làm để có được bài báo mình cần mà thôi.
Johnston liếc lại về phía Bellin đang đi ngay phía sau. “François? Anh thấy sao?”
“Tôi tin là anh biết mình đang làm gì – ý tôi là, đang nói gì,” Bellin nói. “Ngân sách dao động từ bốn tới sáu trăm nghìn đô la. Những thứ liên quan đến Scandinavi, Đức, Mỹ tốn kém hơn. Thời kỳ Đồ đá cũ tốn kém hơn. Nhưng, đúng thế, nửa triệu có lẽ là con số trung bình.”
Delvert vẫn tiếp tục tập trung chú ý vào Giáo sư Johnston: “Và với số tiền tài trợ này, thưa ông Johnston, ông có cần phải liên hệ với ITC nhiều không?”
“Gần như không.”
“Gần như không? Thật vậy ư?”
“Chủ tịch công ty họ, Robert Doniger, xuất hiện từ hai năm trước. Anh ta là một con nghiện lịch sử, và cực kỳ nhiệt tình, cứ y như một đứa trẻ vậy. Cứ khoảng một tháng thì ITC lại cử một phó chủ tịch tới kiểm tra. Một người đang ở đây rồi. Nhưng nói chung thì họ cứ để kệ chúng tôi làm việc của mình.”
“Thế ông biết gì về bản thân công ty ITC không?”
Johnston nhún vai. “Họ tiến hành những nghiên cứu về vật lý lượng tử. Họ chế tạo các chi tiết cho các máy MRI, thiết bị y tế, vân vân. Và họ đang phát triển một số công nghệ xác định niên đại dựa trên lý thuyết lượng tử, để biết chính xác niên đại của bất kỳ cổ vật nào. Chúng tôi đang giúp họ trong nghiên cứu đó.”
“Tôi hiểu rồi. Thế những công nghệ đó, chúng hoạt động tốt chứ?”
“Chúng tôi có những thiết bị mẫu trong văn phòng ở trang trại đằng kia. Tới giờ thì chúng vẫn còn quá sơ sài, chưa thể sử dụng ngoài thực địa được. Chúng toàn hỏng thôi.”
“Nhưng đây có phải là lý do ITC tài trợ cho các vị – để thử nghiệm các thiết bị của họ?”
“Không,” Johnston nói. “Ngược lại thì đúng hơn. Lý do ITC chế tạo máy xác định niên đại cũng là lý do ITC tài trợ cho chúng tôi – vì Bob Doniger rất hứng thú với lịch sử. Chúng tôi là một sở thích cá nhân của anh ta.”
“Một sở thích tốn kém quá.”
“Với anh ta thì không,” Johnston nói. “Anh ta là tỷ phú mà. Anh ta đã mua quyển Kinh Thánh của Gutenberg với giá hai mươi ba triệu đô. Anh ta đã mua tấm thảm thêu Rouen trong một buổi đấu giá với giá mười bảy triệu đô. Dự án của chúng tôi chỉ là chút tiền lẻ thôi.”
“Có lẽ thế. Nhưng ông Doniger cũng là một doanh nhân rất cứng rắn.”
“Phải.”
“Ông có thực sự nghĩ anh ta tài trợ cho mình chỉ vì sở thích cá nhân thôi không?” Giọng cô ta khá nhẹ nhàng, gần như trêu đùa.
Johnston nhìn thẳng vào cô ta. “Thưa cô Delvert, cô chẳng bao giờ biết được lý do thực sự của một người là gì đâu.”
Chris nghĩ, Bản thân ông ấy cũng đang nghi ngờ.
Delvert dường như cũng cảm nhận được điều đó, và cô ta ngay lập tức đổi giọng sang kiểu công việc. “Dĩ nhiên là thế rồi. Nhưng tôi hỏi là có lý do. Không phải là ông không được sở hữu thành quả nghiên cứu của mình hay sao? Tất cả những gì ông tìm thấy, tất cả những gì ông khám phá được, đều sẽ thuộc quyền sở hữu của ITC.”
“Đúng, chính xác là thế.”
“Điều này không làm ông phiền lòng sao?”
“Nếu tôi có làm việc cho Microsoft, Bill Gates cũng sẽ sở hữu thành quả nghiên cứu của tôi. Tất cả những gì tôi tìm được, tất cả những gì tôi khám phá ra, cũng đều sẽ thuộc quyền sở hữu của Bill Gates.”
“Phải. Nhưng hai chuyện này thực sự không giống nhau cho lắm.”
“Sao lại không? ITC là một công ty công nghệ, và Doniger lập ra quỹ này theo cách những công ty công nghệ khác đang làm. Tôi không thấy phiền lòng với thỏa thuận đó. Chúng tôi có quyền xuất bản những phát hiện của mình – họ thậm chí còn phải trả tiền xuất bản nữa ấy chứ.”
“Sau khi họ đã thông qua.”
“Phải. Chúng tôi gửi báo cáo đến cho họ trước. Nhưng họ chẳng bao giờ nhận xét gì hết.”
“Ông không thấy bất cứ kế hoạch nào lớn hơn của ITC ẩn sau chuyện này phải không?” cô ta hỏi.
Johnston nói, “Cô có thấy không?”
“Tôi không biết,” cô ta nói. “Đó là lý do tại sao tôi lại hỏi ông. Vì dĩ nhiên là có những khía cạnh rất khó giải đáp cho những hành động của ITC với tư cách là một công ty.”
“Khía cạnh gì cơ?”
“Ví dụ,” cô ta nói, “họ là một trong những công ty tiêu thụ xenon lớn nhất thế giới.”
“Xenon? Cô muốn nói tới khí xenon à?”
“Phải. Nó được dùng trong laser và các ống electron.”
Johnston nhún vai, “Họ có thể có tất cả lượng xenon họ muốn. Tôi không thấy sao mình lại phải quan tâm đến chuyện đó hết.”
“Việc họ có hứng thú với những kim loại hiếm thì sao? ITC gần đây đã mua một công ty Nigeria để bảo đảm nguồn cung niobi.”
“Niobi.” Johnston lắc đầu. “Niobi là cái gì?”
“Đó là kim loại tương tự như titan.”
“Nó được dùng để làm gì?”
“Nam châm siêu dẫn và các lò phản ứng hạt nhân.”
“Và cô băn khoăn không biết ITC dùng nó để làm gì?” Johnston lại lắc đầu. “Cô phải hỏi họ chứ, cô Delvert.”
“Tôi đã hỏi rồi. Họ nói nó là cho ‘nghiên cứu từ trường cao cấp’.”
“Thế đó. Cô có lý do gì để không tin họ không?”
“Không,” cô ta nói. “Nhưng như ông cũng vừa nói, ITC là một công ty chuyên về nghiên cứu. Họ thuê hai trăm nhà vật lý làm việc ở trụ sở chính của mình tại Black Rock, New Mexico. Nó rõ ràng là một công ty công nghệ cao. Chuyện dó chẳng cần phải bàn cãi.”
“Phải…”
“Thế nên tôi băn khoăn: tại sao một công ty công nghệ cao lại phải cần nhiều đất thế?”
“Đất ư?”
“ITC đã mua những lô đất lớn ở những khu vực hẻo lánh trên khắp thế giới: những rặng núi ở Sumatra, miền Bắc Campuchia, Đông Nam Pakistan, rừng rậm ở miền Trung Guatemala, cao nguyên ở Peru.”
Johnston chau mày. “Cô chắc chứ?”
“Chắc. Họ cũng đã mua đất ở cả châu Âu nữa. Phía Tây Rome, năm trăm héc ta. Ở Đức gần Heidelberg, bảy trăm héc ta. Ở Pháp, một nghìn héc ta chỗ những ngọn đồi đá vôi trên sông Lot. Và cuối cùng là ở ngay đây.”
“Ở đây?”
“Phải. Dùng các công ty cổ phần của Thụy Điển và Vương quốc Anh, họ đã lặng lẽ mua năm trăm héc ta quanh khu khảo cổ của ông. Hầu như đều là rừng và đất canh tác, hiện tại là thế.”
“Công ty cổ phần?” ông nói.
“Làm thế để cố lần ra cũng khó. Dù ITC có đang làm gì đi nữa thì họ đều thực hiện một cách hết sức bí mật. Nhưng tại sao công ty này lại tài trợ cho nghiên cứu của ông và mua luôn cả toàn bộ chỗ đất xung quanh nữa?”
“Tôi không biết,” Johnston nói. “Đặc biệt là khi ITC cũng chẳng sở hữu di tích này. Cô nên nhớ rằng họ đã trao trả toàn bộ khu vực này – Castelgard, Sainte-Mère và La Roque – cho chính phủ Pháp năm ngoái rồi.”
“Dĩ nhiên. Để được miễn thuế.”
“Tuy thế, ITC cũng đâu có sở hữu khu này. Sao họ lại phải mua chỗ đất bao quanh nó?”
“Tôi rất sẵn lòng cho ông xem qua tất cả những gì tôi thu thập được.”
“Có lẽ,” Johnston nói, “cô nên làm thế.”
“Những nghiên cứu của tôi ở ngay trong xe.”
Họ cùng nhau đi về phía chiếc Land Rover. Nhìn họ đi, Bellin chậc lưỡi. “Ôi trời ơi. Tin người thời nay thật khó.”
Chris vừa định dùng thứ tiếng Pháp dở tệ của mình để trả lời thì điện đàm của anh nháy, “Chris?” Đó là David Stern, kỹ thuật viên của dự án. “Chris, Giáo sư có ở chỗ anh không? Hỏi ông ấy xem ông ấy có biết ai tên là James Wauneka không?”
Chris ấn cái nút trên chiếc điện đàm. “Ngay lúc này thì Giáo sư đang bận. Có chuyện gì thế?”
“Anh ta ở Gallup. Anh ta đã gọi hai lần rồi. Muốn gửi cho chúng ta bức tranh về tu viện mà anh ta nói tìm được trong sa mạc.”
“Gì cơ? Trong sa mạc á?”
“Anh ta có lẽ hơi khùng một chút… Anh ta nói mình là cảnh sát và cứ lải nhải mãi về một nhân viên đã chết nào đó của ITC ấy.”
“Bảo anh ta gửi nó vào địa chỉ hòm thư của chúng ta,” Chris nói. “Anh xem qua nó nhé.”
Anh tắt máy. Bellin đang nhìn đồng hồ, lại tặc lưỡi, rồi nhìn về phía chiếc xe ô tô, nơi Johnston và Delvert đang đứng, đầu gần như chạm vào nhau khi xem xét đống giấy tờ. “Tôi còn có hẹn nữa,” ông nói một cách thật thiểu não. “Ai biết chuyện này sẽ kéo dài tới bao giờ chứ?”
“Tôi nghĩ là,” Chris nói, “có lẽ cũng không lâu đâu.”
*
Hai mươi phút sau, Bellin lái xe đi cùng với Delvert còn Chris đứng đó với Giáo sư, vẫy tay chào tạm biệt. “Thầy nghĩ mọi chuyện diễn ra khá tốt đẹp,” Johnston nói.
“Cô ta đã cho thầy xem gì vậy ạ?”
“Vài hồ sơ mua đất ở khu vực quanh đây. Nhưng nó không thuyết phục lắm. Bốn lô được một nhóm đầu tư ít người biết tới của Đức mua lại. Hai lô được một luật sư người Anh mua, nói rằng ông ta sẽ nghỉ hưu ở đây; một lô khác được một chủ ngân hàng người Hà Lan mua cho cô con gái lớn, vân vân.”
“Người Anh và người Hà Lan đã mua đất ở vùng Périgord hàng năm nay rồi. Có gì mới đâu.”
“Chính xác. Có vẻ như cô ấy nghĩ rằng tất cả mọi vụ mua bán đều dẫn tới ITC. Nhưng chuyện đó khá là mong manh. Anh phải là một người có niềm tin cơ.”
Chiếc xe đã đi khuất. Họ quay lưng lại và đi về phía sông. Mặt trời đã lên cao hơn, và không khí đang ấm dần lên.
Một cách thận trọng, Chris nói, “Một phụ nữ thật quyến rũ.”
“Thầy nghĩ,” Johnston nói? “là cô ấy dành quá nhiều sức cho công việc của mình.”
Họ lên chiếc thuyền con buộc bên sông và Chris chèo thuyền sang Castelgard.
*
Họ để chiếc thuyền lại và trèo lên đỉnh đồi Castelgard. Họ thấy dấu hiệu đầu tiên của những bức tường thành. Ở phía bên này, tất cả những gì còn lại của chúng là những vạt cỏ trải dài tới những tảng đá lộ thiên vỡ nát. Sau sáu trăm năm, nó trông gần như một nơi hoàn toàn tự nhiên. Nhưng thực tế, nó lại là phần còn lại của một bức tường thành.
“Em biết đấy,” Giáo sư nói, “thứ cô ấy thực sự không thích là nguồn tài trợ từ những tập đoàn. Nhưng những nghiên cứu khảo cổ luôn phải dựa vào những nhà hảo tâm bên ngoài. Một trăm năm trước, những nhà hảo tâm đều là các cá nhân: Camegie, Peabody, Stanford. Nhưng giờ đây, mọi nguồn vốn đều là từ các tập đoàn, thế nên Nippon TV tài trợ cho nhà nguyện Sistine, British Telecom tài trợ cho York, Philips Electronics tài trợ cho pháo đài Toulouse, và ITC tài trợ cho chứng ta.”
“Thiêng quá, vừa nhắc đã thấy rồi,” Chris nói. Khi đi qua bên kia đồi, họ thấy bóng của Diane Kramer, cô đang đứng với André Marek.
Giáo sư thở dài. “Hôm nay thế là mất toi cả ngày rồi. Cô ta định ở đây bao lâu nữa chứ?”
“Máy bay của cô ta ở Bergerac. Cô ta định đi lúc ba giờ chiều.”
*
“Tôi rất lấy làm tiếc vì chuyện người phụ nữ đó,” Diane Kramer nói khi Johnston đến gần chỗ cô. “Cô ta khiến tất cả mọi người khó chịu nhưng chúng tôi chẳng có cách nào ngán cô ta lại được hết.”
“Bellin nói với tôi là cô muốn tôi gặp cô ấy.”
“Chúng tôi muốn tất cả mọi người nói chuyện với cô ta,” Kramer nói. “Chúng tôi đang cố hết sức để cô ta thấy là chúng tôi chẳng có bí mật gì hết.”
“Cô ấy có vẻ rất quan tâm,” Johnston nói, “đến việc ITC đang mua đất ở khu này.”
“Mua đất? ITC ư?” Kramer cười. “Tôi chưa hề nghe thấy có chuyện như thế. Cô ta có hỏi gì về niobi và các lò phản ứng hạt nhân không?”
“Thực tế là có. Cô ấy nói công ty cô đã mua một công ty ở Nigeria để đảm bảo đủ nguồn cung ứng.”
“Nigeria,” Kramer lặp lại và lắc đầu. “Ôi trời. Nguồn niobi của chúng tôi là từ Canada. Niobi, chính xác ra, không phải là một thứ kim loại quý hiếm gì đâu, ngài biết đấy. Nó có giá một trăm sáu bảy đô một cân thôi.” Cô lắc đầu. “Chúng tôi đã mời cô ta tham quan trụ sở của chúng tôi, phỏng vấn chủ tịch của chúng tôi, cho cô ta mang theo thợ ảnh, các chuyên gia riêng, bất cứ thứ gì cô ta muốn. Nhưng không. Nghề báo hiện đại là thế: không để cho sự thật ngáng chân bạn.”
Kramer quay người lại, chỉ tay về phía phế tích Castelgard xung quanh họ. “Gì thì gì,” cô nói. “Tôi đã được vinh hạnh đi theo tua hướng dẫn tuyệt vời của Tiến sĩ Marek, cả bằng trực thăng lẫn đi bộ. Không có gì phải bàn cãi rằng mọi người đang thực hiện một công việc quá sức tuyệt vời. Tiến triển rất tốt, tất cả đều rất hàn lâm khoa học, phương thức lưu trữ hiện đại, mọi người trong đội ngài đều rất vui vẻ, di tích được quản lý tốt. Hoàn hảo. Tôi không thể hạnh phúc hơn. Nhưng Tiến sĩ Marek đã nói với tôi rằng anh ấy sẽ bị muộn – gì ấy nhỉ?”
“Buổi tập kiếm15 của tôi,” Marek nói.
“Buổi tập kiếm của anh ấy. Phải. Tôi nghĩ anh ấy chắc chắn phải đi tập thôi. Đó có vẻ không phải là thứ ta có thể thay đổi được, như một buổi tập piano vậy. Lúc này thì, chúng ta có nên cùng nhau đi vòng quanh khu này một lúc không nhỉ?”
“Dĩ nhiên là được,” Johnston nói.
Điện đàm của Chris kêu bíp một cái. Một tiếng nói cất lên, “Chris? Sophie muốn gặp cậu.”
“Tôi sẽ gọi lại cho cô ấy.”
“Không, không,” Kramer nói. “Anh cứ đi đi. Tôi nói chuyện một mình với Giáo sư được rồi.”
Johnston vội nói, “Tôi thường đi với Chris, cậu ấy ghi chép hộ tôi mà.”
“Tôi không nghĩ hôm nay chúng ta cần ghi chép gì đâu.”
“Được rồi. Tốt,” Ông quay sang Chris. “Nhưng đưa thầy cái điện đàm. Nhỡ có chuyện gì.”
“Không sao đâu ạ,” Chris nói. Anh tháo chiếc điện đàm khỏi thắt lưng và đưa cho Johnston. Khi Johnston cầm nó trong tay, ông gạt nút kích hoạt phát giọng nói rồi mới luồn nó vào thắt lưng.
“Cảm ơn em.” Johnston nói. “Giờ, em nên đến chỗ Sophie ngay đi. Em biết cô ấy không thích phải chờ đợi mà.”
“Vâng,” Chris nói.
Khi Johnston và Kramer bắt đầu bước vào khu phế tích, anh chạy vội qua cánh đồng về phía ngôi nhà bằng đá trong trang trại, là văn phòng quản lý dự án.
*
Ngay bên ngoài những bức tường thành đổ nát của thị trấn Castelgard, đội khảo cổ đã mua một nhà kho bằng đá tồi tàn và dựng lại mái, cũng như sửa những phần khung đá. Ở đây, họ cất giữ tất cả những đồ điện tử, thiết bị thí nghiệm và máy tính lưu trữ dữ liệu. Những bản ghi chép chưa được xử lý và những hiện vật các loại được trải ra khắp trên nền đất phía dưới chiếc lều to tướng màu xanh lá cây bên cạnh ngôi nhà chính.
Chris đi vào trong nhà kho, một căn phòng lớn được chia làm hai. Ở bên trái, Elsie Kastner, chuyên gia ngôn ngữ và chữ tượng hình, đang ngồi trong phòng riêng của mình, cúi rạp phía trước những tài liệu bằng giấy da. Chris phớt lờ cô và đi thẳng tới căn phòng chật ních những thiết bị điện tử. Ở đó, David Stern, chuyên gia kỹ thuật bốn mắt gầy gò của dự án, đang nói chuyện qua điện thoại.
“Ồ,” Stern đang nói, “anh sẽ phải scan tài liệu của mình với độ phân giải khá cao và gửi cho chúng tôi đấy. Anh có máy scan ở đó không?”
Chris vội vàng lục tung đống thiết bị trên bàn làm việc, cố tìm một chiếc điện đàm dự phòng. Anh chẳng thấy cái nào hết; tất cả những hộp sạc điện đều trống không.
“Sở cảnh sát không có máy scan sao?” Stern nói, đầy vẻ ngạc nhiên. “Ồ, anh không ở – thật ra, sao anh không đến đó và dùng máy scan của cảnh sát ấy?”
Chris chạm nhẹ vào vai Stern. Anh mấp máy môi, điện đàm.
Stern gật đầu và tháo chiếc điện đàm của mình ra khỏi thắt lưng.
“Ồ được, máy scan của bệnh viện cũng tốt. Có lẽ ở đó sẽ có người có thể giúp anh. Chúng tôi cần cỡ 1280×1024 pixel, định dạng JPEG. Rồi anh gửi nó cho chúng tôi…”
Chris chạy ra ngoài, vừa chạy vừa chuyển kênh trên điện đàm liên tục.
Từ cánh cửa nhà kho, anh có thể nhìn thấy toàn bộ khu khảo cổ. Anh thấy Johnston và Kramer đang đi dọc bình nguyên nhìn xuống tu viện. Cô đang mở một cuốn sổ tay và cho ông xem cái gì đó.
Và rồi anh tìm được họ trên kênh tám.
“… đẩy nhanh tốc độ nghỉên cứu,” cô đang nói dở.
Giáo sư liền nói, “Cải gì cơ?”
*
Giáo Sư Johnston nhìn người phụ nữ đang đứng trước mặt mình qua cặp kính gọng thép. “Điều đó là không thể,” ông nói.
Cô hít một hơi dài. “Có lẽ tôi vẫn chưa giải thích rõ ràng cho lắm. Mọi người đang tiến hành vài công đoạn tái thiết rồi. Điều Bob muốn,” cô nói, “là phát triển nó thành một chương trình tái thiết hoàn chỉnh.”
“Phải. Và đó là điều không thể.”
“Nói tôi biết lý do đi.”
“Vì chúng tôi chưa có đủ thông tin, đó là lý do,” Johnston giận dữ nói. “Cô nhìn xem: tất cả những công đoạn tái thiết chúng tôi thực hiện đến giờ này chủ yếu là vì an toàn. Chúng tôi dựng lại tường để chúng không đổ ụp xuống đầu các nhà nghiên cứu. Nhưng chúng tôi chưa sẵn sàng để thực sự xây dựng lại toàn bộ khu này.”
“Nhưng một phần thì chắc là được,” cô nói. “Tôi muốn nói là, nhìn vào tu viện đằng kia. Ngài rõ ràng là có thể xây lại nhà thờ và hành lang bên cạnh nó chứ, nhà ăn, và…?”
“Cái gì cơ?” Johnston nói. “Nhà ăn?” Nhà ăn dành cho các tăng lữ dùng bữa. Johnston chỉ xuống khu di tích, nơi những bức tường thấp và những hệ thống cống rãnh chằng chịt tạo thành một mạng lưới kỳ dị. “Ai nói hành lang đó nằm cạnh phòng ăn?”
“Thật ra, tôi…”
“Cô thấy chưa? Ý tôi chính xác là vậy đấy,” Johnston nói. “Chứng ta vẫn còn chưa thực sự chắc chắn là phòng ăn ở đâu hết. Chỉ gần đây chúng tôi mới bắt đầu nghĩ rằng nó ở gần hành lang, nhưng chúng tôi không chắc.”
Cô nói một cách khó chịu, “Giáo sư, những nghiên cứu học thuật có thể kéo dài vô tận, nhưng kết quả thực tiễn…”
“Tôi đang làm tất cả để có kết quả,” Johnston nói. “Nhưng ý nghĩa thực sự của toàn bộ việc đào xới này là để chúng ta không lặp lại những sai lầm trong quá khứ. Một trăm năm trước, một kiến trúc sư tên là Viollet-le-Duc đã cho xây lại những đài tưởng niệm trên khắp nước Pháp. Một số thì ông ấy làm rất tốt. Nhưng khi không có đủ thông tin thì ông ấy cứ thế là tự nặn ra thôi. Những công trình đó hoàn toàn là sản phẩm tưởng tượng của ông ấy.”
“Tôỉ hiểu là ngài muốn mọi thứ được chính xác…”
“Nếu tôi biết ITC muốn Disneyland thì tôi đã không bao giờ đồng ý.”
“Chúng tôi không muốn Disneyland.”
“Nếu giờ cô cho xây lại, đó sẽ là thứ cô nhận được đấy, thưa cô Kramer. Cô sẽ chỉ có một xứ sở Trung cổ trong tưởng tượng mà thôi.”
“Không,” cô nói. “Tôi có thể đảm bảo với ngài một cách chắc chắn nhất có thể. Chúng tôi không hề muốn một thứ ảo tưởng. Chúng tôi muốn tái thiết khu di tích này đúng như nó vốn có trong lịch sử.”
“Nhưng điều đó không thể thực hiện được.”
“Chúng tôi tin là có thể.”
“Bằng cách nào?”
“Với tất cả lòng kính trọng, thưa Giáo sư, ngài đang quá cẩn thận rồi. Ngài biết nhiều hơn là ngài nghĩ đấy. Ví dụ, thị trấn Castelgard, ngay bên dưới chân lâu đài. Nơi đó chắc chắn có thể dựng lại được.”
“Tôi đoán… một phần của nó, có thể được.”
“Và đó là tất cả những gì chúng tôi cần. Chỉ cần dựng lại một phần.”
*
Davld Stern lững thững đi ra khỏi nhà kho thì thấy Chris đang áp điện đàm vào tai, lắng nghe một cách chăm chú. “Nghe trộm hả, Chris?”
“Suỵttt,” Chris nói. “Chuyện quan trọng đấy.”
Stern nhún vai. Anh ta luôn có cảm giác hơi xa cách với thứ nhiệt tình thái quá của mấy cậu nghiên cứu sinh quanh mình. Những người khác là nhà sử học nhưng Stern được đào tạo để trở thành một nhà vật lý học, và anh ta có khuynh hướng nhìn mọi việc theo một cách khác. Anh ta không thể quá ư phấn khích khi tìm thêm được một cái lò sưởi thời Trung Cổ, hay vài khúc xương ở một nơi chôn cất nào đó. Trong bất cứ trường hợp nào, Stern chỉ làm công việc này – chạy các thiết bị điện, làm các phân tích hóa học, xác định niên đại dựa vào hàm lượng các bon, vân vân và vân vân – để được ở gần bạn gái mình, cô đang theo một khóa học hè ở Toulouse. Anh ta bị hấp dẫn bởi ý tưởng chế tạo những máy xác định niên đại dựa vào công nghệ lượng tử nhưng cho tới bây giờ thì các thiết bị đó đều thất bại.
Trên điện đàm, Kramer đang nói, “Và nếu có thể xây lại một phần thị trấn thì ngài sẽ có thể xây lại một phần của lớp tường thành bên ngoài, nơi gần thành phố nhất. Cái phần kia kìa.” Cô chỉ tay về phía một bức tường thấp, nứt nẻ chạy theo hướng Bắc-Nam dọc khu di tích.
Giáo sư nói, “Ồ, tôi nghĩ là chúng tôi có thể.”
“Và,” Kramer tiếp tục. “ngài có thể kéo dài bức tường sang hướng Nam, chạy vào khu rừng đằng kia. Ngài có thể phát quang khu rừng, và xây lại tháp.”
Stern và Chris nhìn nhau.
“Cô ta đang nói cái gì vậy?” Stern nói “Tháp nào cơ?”
“Chưa có ai đi khảo sát khu rừng hết,” Chris nói. “Chúng ta định sẽ phát quang nó vào cuối hè và khảo sát nó vào mùa thu cơ mà.”
Qua điện đàm, họ nghe thấy tiếng Giáo sư nói, “Đề nghị của cô rất hấp dẫn, thưa cô Kramer. Để tôi thảo luận với những người khác và chúng ta sẽ gặp lại nhau vào bữa trưa.”
Và rồi, trên cánh đồng bên dưới, Chris thấy Giáo sư quay lại, nhìn thẳng về phía họ và trỏ ngón tay về phía khu rừng.
*
Bỏ lại đằng sau cánh đồng đầy những di tích đổ nát, họ trèo lên một bờ đê xanh thẳm và tiến vào rừng. Cây cối khẳng khiu, nhưng lại đan khít vào nhau, và dưới vòm lá mọi thứ đều tối tăm, ẩm ướt. Chris Hughes đi dọc theo bức tường cổ bao ngoài thành cho tới khi nó dần biến mất: từ một bức tường cao tới ngang thắt lưng rồi chỉ còn lại một đống đá lổn ngổn, và cuối cùng chẳng còn gì hết, hoàn toàn biến mất vào những bụi cây thấp.Từ đó trở đi, anh phải vừa đi vừa cúi, lấy tay rẽ những bụi dương xỉ và cây nhỏ để có thể thấy hướng tường chạy.
Khu rừng càng lúc càng dày đặc xung quanh họ. Anh cảm thấy ở đây thật thanh bình. Anh nhớ lại lần đầu tiên mình được nhìn thấy Castelgard, gần như toàn bộ khu di tích đã chìm trong rừng y như thế này. Những bức tường ít ỏi còn sót lại đều bị rêu và nấm mốc bao phủ, và chúng dường như trồi lên khỏi mặt đất như những thực thể hữu cơ. Lúc ấy khu di tích thật bí ẩn. Nhưng tất cả đã mất đi khi họ phát quang khu đất và tiến hành đào xới.
Stern lê bước bám theo anh. Không mấy khi ra khỏi phòng thí nghiệm nên anh ta đang thực sự rất thích thú. “Sao cây cối đều bé tí thế này?” anh ta hỏi.
“Vì đây là một khu rừng mới,” Chris nói. “Hầu như tất cả các khu rừng trong vùng Périgord đều dưới một trăm tuổi. Tất cả khu đất này từng được phát quang để trồng nho.”
“Rồi sao?”
Chris nhún vai. “Sâu bệnh. Rệp phylloxera đã khiến nho lụi sạch trong khoảng đầu thế kỷ. Và rồi khu rừng lại mọc trở lại.” Anh nói thêm, “Ngành công nghiệp rượu vang của Pháp gần như biến mất. Họ thoát nạn nhờ nhập khẩu giống nho chống được phylloxera từ California, điều mà họ thà quên đi còn hơn.”
Vừa nói, anh vừa tiếp tục nhìn xuống mặt đất, tìm một mảnh đá ở chỗ này chỗ kia để có thể lần theo đường chạy của bức tường cổ.
Nhưng bất thình lình, bức tường biến mất. Anh đã hoàn toàn mất dấu nó. Giờ anh lại phải lần lại, tìm kiếm lần nữa.
“Khốn kiếp.”
“Gì thế?” Stern nói.
“Tôi không tìm thấy bức tường. Nó đang chạy thẳng theo hướng này mà” – anh xòe lòng bàn tay ra chỉ – “và giờ nó biến mất rồi.”
Họ đang đứng giữa một khu vực dày đặc những bụi cây thấp, dương xỉ cao vút xen lẫn với một loại dây leo gai góc cào hết vào cẳng chân trần của anh, Stern đang mặc quần dài, anh ta đi thẳng về phía trước, vừa đi vừa nói, “Tôi không biết đâu, Chris, nó phải ở đâu đó quanh đây…”
Chris biết mình sẽ phải quay lại. Anh vừa mới xoay người lại để lần theo vết chân mình thì nghe thấy tiếng Stern la thất thanh.
Chris nhìn lại.
Stern không còn ở đó nữa. Anh ta đã biến mất.
Chris đang đứng một mình giữa rừng.
*
“David?”
Có tiếng rên, “A… khốn nạn thật.”
“Chuyện gì đã xảy ra vậy?”
“Tôi ngã dập gối rồi. Đau thấy mẹ luôn.”
Chris không nhìn thấy anh ta đâu cả. “Anh đang ở đâu thế?”
“Trong hố đây,” Stern nói. “Tôi vừa ngã. Cẩn thận đấy, nếu anh đi theo đường này. Thực ra thì…” Một tiếng rên hừ hừ. Chửi thề. “Đừng bận tâm. Tôi có thể đứng lên được. Tôi ổn. Thực ra thì… này.”
“Gì thế?”
“Đợi chút.”
“Cái gì thế?”
“Đợi chút, được chứ?”
Chris thấy bụi cây chuyển động, những đám dương xỉ chuyển động khi Stern xoay sang trái. Rồi anh ta nói. Giọng nghe rất kỳ cục. “Ừm, Chris?”
“Gì đấy?”
“Một khoảnh tường này. Cong.”
“Anh đang nói gì đấy?”
“Tôi nghĩ mình đang đứng dưới chân của một cái tháp tròn từ thời xưa đấy, Chris ạ.”
“Đừng đùa chứ,” Chris nói. Anh nghĩ, làm sao Kramer có thể biết về điều đó được?
*
“Kiểm tra máy tính xem,” Giáo sư nói. “Xem liệu chứng ta có bản quét khảo sát bằng trực thăng nào – hồng ngoại hoặc ra đa – cho thấy hình ảnh một tòa tháp không. Có thể nó đã được ghi lại, nhưng chúng ta lại chưa bao giờ để ý tới.”“Những bản quét hồng ngoại lúc chiều muộn là khả quan nhất,” Stern nói. Anh ta đang ngồi trên ghế với một bọc đá chườm chân.
“Sao lại là chiều muộn?”
“Vì loại đá vôi này giữ nhiệt. Đó là lý do tại sao những người thời tiền sử lại thích ở đây đến thế. Thậm chí trong mùa đông, một hang đá vôi ở Périgord vẫn ấm hơn mười độ so với nhiệt độ bên ngoài.”
“Nên vào buổi chiều…”
“Bức tường vẫn giữ nhiệt khi nhiệt độ trong rừng hạ xuống. Và nó sẽ hiện lên trên lưới hồng ngoại.”
“Thậm chí cả khi đã bị chôn vùi?”
Stern nhún vai.
Chris ngồi bên bàn máy tính, bắt đầu nhấn các nút. Chiếc máy tính kêu bíp một cái. Hình ảnh trên đó vụt biến đổi.
“Úi. Chúng ta có email.”
Chris nhấp chuột vào hòm thư. Chỉ có duy nhất một thư, và tải nó xuống thì lâu thật là lâu. “Gì thế?”
“Tôi cá đó là thư của cái anh Wauneka kia,” Stern nói. “Tôi đã dặn anh ta gửi một cái ảnh cỡ lớn. Anh ta hẳn là đã không nén nó lại.”
Rồi bức ảnh hiện lên trên màn hình: một chuỗi những chấm nhỏ được sắp xếp theo dạng hình học. Tất cả bọn họ đều nhận ra nó ngay lập tức. Không nghi ngờ gì nữa, đó chính là tu viện Sainte-Mère. Khu khảo cổ của chính họ.
Với những chi tiết rõ ràng hơn bản trắc đạc của chính họ.
Johnston liếc nhìn bức hình. Ông gõ ngón tay trên mặt bàn. “Thật kỳ lạ,” cuối cùng ông cũng lên tiếng, “là cả Bellin và Kramer xuất hiện ở đây cùng trong một ngày.”
Hai nghiên cứu sinh nhìn nhau. “Thế thì có gì là lạ ạ?” Chris nói.
“Bellin không hề đòi được gặp cô ấy. Và ông ta thì luôn muốn gặp các nguồn gây quỹ.”
Chris nhún vai. “Ông ấy có vẻ rất bận.”
“Phải. Ông ta luôn có vẻ thế.” ông quay về phía Stern. “Dù sao thì cũng phải in bản vẽ ấy ra,” ông nói. “Chúng ta sẽ xem xem kiến trúc sư của ta nói gì.”
*
Katherine Erickson – tóc vàng xám tro, mắt xanh da trời, và da ngăm ngăm – đang treo người cách mặt đất hơn mười lăm mét, mặt chỉ cách trần nhà đổ nát được xây theo kiến trúc Gothic của nhà nguyện Castelgard có vài phân. Cô nằm ngửa trên dây an toàn, bình tĩnh ghi chép những thông tin về công trình ở phía trên đầu.
Erickson là nghiên cứu sinh mới nhất của khu khảo cổ; cô mới tham gia vào dự án vài tháng trước. Lúc đầu, cô đến Yale để học kiến trúc, nhưng rồi thấy chán ghét cái ngành mình đã chọn, cô chuyển sang khoa sử học. Ở đó, Johnston đã tìm ra cô, thuyết phục cô tham gia theo cùng cách ông đã thuyết phục những người khác: “Sao không vứt mấy cuốn sách cũ mốc ấy sang một bên và tận hưởng vài trải nghiệm lịch sử thực tế nhỉ? Vài trải nghiệm lịch sử nhìn tận mắt, bắt tận tay ấy?”
Nhìn tận mắt, bắt tận tay là thế này đây – lơ lửng tít trên này. Chẳng phải là cô phiền muộn gì: Kate lớn lên ở Colorado và là một vận động viên leo núi đầy nhiệt huyết. Chủ nhật nào cô cũng trèo lên những vách núi ở Dordogne. Hầu như chẳng có ai xung quanh hết, quá tuyệt: ở quê nhà cô, bạn phải xếp hàng chờ đến lượt ở những khu nổi tiếng.
Dùng cái dùi nhỏ, cô đục một ít mảng tường ở các vùng khác nhau để mang về phân tích dưới kính quang phổ. Cô thả mỗi loại vào từng khoang nhựa khác nhau như những chiếc hộp đựng phim máy ảnh, đeo chúng trên vai và vất ngang ngực như một băng đạn quấn quanh người.
Cô đang dán nhãn các hộp thì nghe thấy có tiếng nói: “Em xuống khỏi đó được không? Thầy có cái này muốn em xem.”
Cô liếc qua vai và nhìn thấy Johnston đang đứng bên dưới. “Dễ thôi ạ,” cô nói. Kate thả dây ra và nhẹ nhàng tụt xuống đất. Cô phủi những sợi tóc vương ra khỏi mặt. Kate Erickson không phải một cô gái xinh xắn như mẹ mình, hoa khôi của trường Đại học California; bà thường nói với cô như vậy– nhưng cô lại có những nét đặc trưng cực kỳ sống động và hoạt bát của con gái Mỹ mà đàn ông thấy rất hấp dẫn.
“Thầy nghĩ em có thể trèo lên được bất cứ thứ gì,” Johnston nói.
Cô tháo dây an toàn ra. “Chỉ có cách này mới lấy được dữ liệu thôi ạ”
“Em cứ nói thế.”
“Thật đấy ạ,” cô nói. “Nếu thầy muốn biết về lịch sử kiến trúc của nhà nguyện này thì em sẽ phải trèo lên đó và lấy vài mảnh vữa làm mẫu. Vì cái trần đó đã được xây đi xây lại rất nhiều lần rồi – có thể là do người ta xây không ra gì nên nó cứ bong ra, hai là có thể nó bị chiến tranh tàn phá, bị những thiết bị công thành phá hỏng.”
“Chắc chắn là thiết bị công thành rồi,” Johnston nói.
“Thật ra, em không chắc lắm,” Kate nói. “Cấu trúc chính của lâu đài – đại sảnh, các phòng trong – đều rất vững chãi, nhưng một vài bức tường lại không được kiên cố lắm. Ở vài chỗ, nó trông giống như tường được gắn thêm vào để làm những lối đi bí mật. Tòa lâu đài này có nhiều chỗ như vậy. Thậm chí có cả lối đi tới nhà bếp nữa! Người làm việc này, dù có là ai đi nữa, thì chắc chắn thần kinh cũng không bình thường. Và có lẽ họ đã làm việc đó một cách quá vội vã.” Cô lau tay lên chiếc quần soóc. “Thế thầy có gì cho em xem vậy ạ?”
Johnston đưa cho cô một mảnh giấy. Đó là một bản in máy tính, hàng loạt những chấm nhỏ được sắp xếp theo một cấu trúc hình học đều đặn. “Cái này là gì vậy ạ?” cô hỏi.
“Nói thầy nghe thử xem nào.”
“Nó trông giống như Sainte-Mère vậy.”
“Thật không?”
“Có thể là nó, vâng. Nhưng vấn đề là…?”
Cô đi ra khỏi nhà nguyện, nhìn xuống khu đào bới quanh tu viện, trải dài khoảng một dặm trên bình nguyên phía dưới. Nó mở ra gần như chính xác và rõ ràng như bản vẽ cô đang cầm trên tay vậy.
“Ừm.”
“Như thế nào em?”‘
“Có những điểm mà chúng ta vẫn còn chưa phát hiện ra,” cô nói. “Một nhà nguyện ngay cạnh nhà thờ, có hành lang thứ hai ở góc phần tư Đông Bắc, và… đây trông giống như một khu vườn bên trong những bức tường… Thầy có được bản vẽ này từ đâu vậy?”
*
Nhà hàng ở Marqueyssac tọa lạc bên rìa một cao nguyên, với tầm nhìn rộng khắp thung lũng Dordogne. Kramer ngước lên khỏi bàn ăn và ngạc nhiên khi thấy Giáo sư đang đi tới cùng cả Marek và Chris. Cô chau mày. Cô đã trông đợi một bữa trưa riêng tư. Và bản thân cũng đang ngồi bàn cho hai người.
Họ cùng nhau ngồi xuống. Marek mang thêm hai chiếc ghế từ bàn bên cạnh. Giáo sư ngả người về phía trước và đăm đăm nhìn cô.
“Cô Kramer,” ông nói, “sao cô lại biết được vị trí của nhà ăn?”
“Nhà ăn?” Cô nhún vai, “Ồ, tôi không biết. Không phải nó ở trong bản báo cáo hằng tuần sao? Không à? Vậy chắc Tiến sĩ Marek đã nói điều đó với tôi.” Cô nhìn vào những gương mặt nghiêm trang đang chằm chằm nhìn mình. “Thưa các vị, tu viện thực sự không phải chuyên môn của tôi, Tôi chắc đã nghe nó ở đâu thôi.”
“Còn chuyện tòa tháp trong rừng?”
“Chắc chắn là nó ở trong một bản trắc đạc nào đó. Hay những tấm ảnh cũ.”
“Chúng tôi đã kiểm tra rồi. Không hề có.”
Giáo sư đẩy bản vẽ trên bàn về phía cô. “Và tại sao một nhân viên ITC có tên Joseph Traub lại có bản vẽ của tu viện rõ ràng và hoàn thiện hơn cả chúng tôi?”
“Tôi không biết… Ngài có thứ này từ đâu vậy?”
“Từ một cảnh sát ở Gallup, New Mexico, người cũng có cùng câu hỏi tôi đang hỏi đây.”
Cô không nói gì hết. Cô chỉ nhìn chằm chằm vào ông.
“Cô Kramer,” cuối cùng, ông nói. “Tôi nghĩ cô đang có chuyện giấu chúng tôi. Tôi nghĩ công ty cô đã tự tiến hành nghiên cứu sau lưng chúng tôi và không hề chia sẻ những gì mọi người đã tìm được. Và tôi nghĩ lý do là vì cô và Bellin đã thỏa thuận khai thác khu di tích này trong trường hợp tôi không hợp tác. Và chính phủ Pháp sẽ rất mừng khi tống khứ được những người Mỹ ra khỏi di sản văn hóa của họ.”
“Giáo sư, đó hoàn toàn không phải sự thật. Tôi có thể đảm bảo với ngài…”
“Không, thưa cô Kramer. Cô không thể đảm bảo gì cả.” Ông nhìn đồng hồ. “Kế hoạch của cô là bay về ITC vào lúc mấy giờ nhỉ?”
“Ba giờ.”
“Tôi sẵn sàng đi rồi.”
Ông đẩy ghế ra và đứng dậy.
“Nhưng tôi đang chuẩn bị tới New York.”
“Thế thì tôi nghĩ cô nên thay đổi kế hoạch và đi tới New Mexico đi.”
“Ngài muốn gặp Bob Doniger nhưng tôi không biết lịch của anh ấy…”
“Cô Kramer.” Ông ngả người qua chiếc bàn. “Sắp xếp đi.”
*
Khi giáo sư đi khỏi, Marek nói: “Con cầu Chúa ban phước lành cho chuyến đi của thầy và đưa thầy trở lại an toàn”. Đó là điều anh ta luôn nói khi chia tay bạn bè. Đó từng là câu nói ưa thích của bá tước Geoffrey de la Tour sáu trăm năm trước.
*
Một số người nghĩ Marek đam mê lịch sử đến mức mê muội. Nhưng thực ra, đối với anh ta thì điều đó lại hết sức tự nhiên: ngay từ khi còn bé, Marek đã bị thời Trung cổ cuốn hút, và trên nhiều khía cạnh dường như bây giờ anh ta đang sống trong nó nữa. Trong một nhà hàng, anh ta có lần đã từng nói với bạn mình rằng anh ta sẽ không để râu vì nó không hợp thời. Cực kỳ bất ngờ, người bạn phản ứng, “Dĩ nhiên là rất hợp thời chứ, cậu thử nhìn tất cả bạn bè quanh mình mà xem.” Thế là Marek đã đáp lại thế này, “Không, không, tớ muốn nói là nó không hợp thời đại của tớ.” Thời đại anh ta muốn nói tới ở đây là khoảng thế kỷ mười ba, mười bốn cơ.Rất nhiều học giả nghiên cứu thời Trung cổ có thể đọc được các ngôn ngữ cổ, nhưng Marek còn nói được kia: tiếng Anh thời Trung cổ, tiếng Pháp cổ, tiếng Occitan16, và tiếng Latin. Anh ta là chuyên gia trong lĩnh vực thời trang và cung cách ứng xử thượng lưu. Và với thể hình cường tráng cùng khả năng thể thao tuyệt vời của mình, anh ta đặt mục tiêu phải thành thạo các kỹ năng chiến đấu của thời đại đó. Gì thì gì, anh ta nói, đó cũng là thời của những cuộc chiến tranh kéo dài liên miên. Anh ta đã có thể cưỡi được cả những con ngựa Percheron17 khổng lồ từng được dùng làm ngựa chiến. Và anh ta cũng rất thành thạo kỹ thuật đánh thương trên ngựa, anh ta dành hàng giờ tập luyện với những cây cột xoay gắn hình nộm mà người ta hay gọi là những cột hình nhân gỗ. Marek giỏi dùng cung dài đến nỗi anh ta đã bắt đầu dạy lại kỹ thuật đó cho những người khác. Và giờ anh ta đang học cách chiến đấu bằng kiếm.
Nhưng sự hiểu biết đến từng chi tiết về quá khứ đã làm anh ta trở nên lạc lõng với hiện tại. Chuyến đi bất ngờ của Giáo sư đã làm tất cả mọi người trong dự án cảm thấy thiêu thiếu một điều gì đấy và không thoải mái chút nào; những lời đồn đại không căn cứ cứ thế lan đi, đặc biệt là giữa những sinh vỉên đại học: ITC đang rút vốn. ITC đang chuyển dự án thành xây dựng một khu Xứ sở Trung cổ. ITC đã thủ tiêu ai đó trong sa mạc và đang gặp rắc rối. Mọi việc ngừng trệ; mọi người cứ đi loanh quanh bàn tán.
Cuối cùng, Marek quyết định rằng mình sẽ tổ chức một cuộc gặp gỡ để dập tắt những lời đồn thổi đó. Thế là vào đầu giờ chiều, anh ta đã gọi tất cả mọi người tới cái lều xanh khổng lồ đặt bên ngoài nhà kho. Marek giải thích rằng giữa Giáo sư và ITC đã xảy ra bất đồng và Giáo sư đã quay lại trụ sở ITC để giải quyết. Marek nói rằng đó chỉ là sự hiểu nhầm và tất cả sẽ xong xuôi trong vài ngày tới. Anh ta nóỉ rằng họ sẽ được liên lạc thường xuyên với Giáo sư; ông đã hứa, cứ sau mười hai tiếng, ông sẽ liên lạc với họ qua điện thoại một lần; anh ta tin rằng Giáo sư sẽ quay về sớm thôi, và tất cả mọi chuyện sẽ lại bình thường như cũ.
Chẳng ăn thua gì. Tâm trạng bứt rứt cứ ám ảnh mọi người. Vài sinh viên đại học bóng gió rằng buổi chiều nóng quá không làm việc được, và thời tiết đó phù hợp với việc chèo xuồng trên sông hơn; cuối cùng, Marek hiểu tình hình lúc này và anh ta bảo đám sinh viên đó cứ đi cũng được.
Từng người một trong nhóm nghiên cứu sinh quyết định nghỉ buổi chiều. Kate xuất hiện với vài cân kim loại lỉnh kỉnh quanh thắt lưng và thông báo rằng cô sẽ leo lên vách đá phía sau Gageac. Cô hỏi Chris có muốn đi cùng mình không (để gỉữ dây hộ – cô biết là anh chẳng chịu leo núi bao giờ), nhưng anh nói sẽ đi cưỡi ngựa với Marek. Stern thông báo anh ta sẽ lái xe tới Toulouse ăn tối. Rick Chang tới Les Eyziès để thăm đồng nghiệp đang làm ở khu khảo cổ thời kỳ Đồ đá cũ. Chỉ có Elsie Kastner, chuyên gia nghiên cứu văn tự vẫn còn ở lại trong nhà kho, kiên nhẫn xem xét các tài liệu. Marek hỏi cô có muốn đi cùng với anh ta không, Nhưng cô đã nói với anh ta, “Đừng có ngốc thế, André,” và tiếp tục làm việc.
*
Trung tâm cưỡi ngựa bên ngoàỉ Souillac cách đó bốn dặm và đây là nơi mà Marek đến tập hai lần một tuần. Ở góc xa nơi cánh đồng ít có người lai vãng, anh ta đã dựng một cây cột hình chữ T kỳ cục xoay trên một cái trụ đứng. Một đầu chữ T là một khung hình vuông được bọc đệm cẩn thận, đầu kia, một bao da hình giọt nước trông giống bao cát tập đấm bốc.Đây là hình nhân gỗ, một dụng cụ cổ đến mức một nghìn năm trước nó đã được các thầy tu vẽ vào lề những cuốn sách chép tay. Thực tế là phải nhờ vào những bức vẽ ấy thì Marek mới có thể tự tạo một phiên bản riêng cho mình.
Làm hình nhân gỗ thì khá dễ; kiếm được một cây thương tử tế mới là việc khó. Đây là loại khó khăn Marek thường gặp trong quá trình thực nghiệm của mình. Ngay cả những thứ đồ đơn giản và phổ biến nhất trong quá khứ cũng không thể tái tạo lại được trong thế giới hiện đại. Kể cả khi tiền bạc không thành vấn đề, nhờ vào nguồn tài trợ nghiên cứu từ ITC.
Vào thời Trung cổ, thương đấu được tiện gỗ dài tới hơn ba mét theo đúng độ dài tiêu chuẩn. Nhưng kỹ thuật tiện gỗ theo kích cỡ đó gần như không còn tồn tại nữa. Sau khi mất rất nhiều công sức nghiên cứu, Marek đã tìm được một xưởng chế tác gỗ đặc chủng ở miền Bắc nước Ý, gần biên giới với Áo. Họ có thể tiện gỗ thông theo kích thước anh ta yêu cầu, nhưng rất ngạc nhiên khi biết anh ta muốn đặt trước hai mươi cây liền. “Thương dễ gãy lắm,” anh ta nói với họ vậy. “Tôi sẽ cần rất nhiều.” Để tránh những mảnh vỡ, anh ta đã lồng một màn chắn vào lưới sắt của chiếc mũ bảo hiểm đội khi chơi bóng bầu dục. Khi đội cái mũ này cưỡi ngựa, anh ta đã thu hút được khá nhiều sự chú ý. Anh ta trông giống như một gã nuôi ong bị điên vậy.
Cuối cùng Marek cũng đầu hàng trước tiến bộ khoa học, và anh ta đã liên hệ với một công ty chế tạo gậy đánh bóng chày để làm những cây thương nhôm. Những cây thương nhôm giữ thăng bằng tốt hơn và có vẻ thật hơn dù chúng rất không phù hợp với thời đại đó. Và vì những mảnh thương gãy đã không còn là vấn đề, giờ anh ta chỉ cần đội một chiếc mũ bảo hiểm cưỡi ngựa thông thường.
Chính là thứ bây giờ anh ta đang đội.
Đứng ở cuối bãi, anh ta vẫy tay về phía Chris đang đứng cạnh hình nhân gỗ. “Chris? sẵn sàng chưa?”
Chris gật đầu và chỉnh thanh chữ T vuông góc với Marek. Anh vẫy tay. Marek hạ thấp chiếc thương xuống, và thúc ngựa phóng về trước.
Luyện tập với hình nhân gỗ trông cứ tưởng là dễ. Người kỵ sĩ phóng nước đại về phía thanh chữ T, cố gắng đâm mũi thương vào cái bọc đệm hình vuông. Nếu thành công, anh ta sẽ làm thanh chữ T xoay tít nhưng nó buộc anh ta phải thúc ngựa phóng thật nhanh qua trước khi chiếc túi da quật lại vào đầu mình. Marek biết rằng, thời xưa, cái túi nặng có thể quật ngã một tay kỵ sĩ trẻ khỏi lưng ngựa nhưng anh ta chỉ làm nó đủ nặng để tạo nên một cú phản đòn tê tê mà thôi.
Lần chạy đầu tiên, anh ta đã đâm trúng cái bọc hình vuông nhưng lại không đủ nhanh để né cái túi, nó đã quật trúng tai trái anh ta. Anh ta giật cương lên và lùi lại. “Sao cậu không thử một lần xem sao, Chris?”
“Có lẽ là để sau đi,” Chris nói, tay chỉnh lại thanh chữ T cho lần chạy tiếp theo.
Một hoặc hai lần trong những những ngày gần đây, Marek đã bắt Chris phải cưỡi ngựa chạy về phía hình nhân gỗ. Nhưng Marek ngờ rằng Chris nhượng bộ chẳng qua là do sự hứng thú đột ngột gần đây của anh đối với thuật cưỡi ngựa nói chung mà thôi.
Marek xoay ngựa, giật cương cho nó đứng bằng hai chân, rồi lại phóng về trước lần nữa. Khi mới bắt đầu, việc ngả người phóng nước đại nhắm trúng mục tiêu hình vuông có kích cỡ ba mươi xăng ti mét vuông kia dường như khó khăn một cách vô lý. Giờ anh ta đã nắm được phương pháp. Nói chung anh ta sẽ đâm trúng mục tiêu bốn trên năm lần.
Con ngựa phóng ầm ầm về phía trước. Anh ta hạ thấp cây thương xuống.
“Chris! Xin chào!”
Chris quay người lại và vẫy tay về phía cô gái đang cưỡi ngựa. Đúng lúc ấy, cây thương của Marek đâm trúng cái bọc; cái túi da văng ra và đập thẳng vào mặt Chris.
*
Chris nằm đó choáng váng, lắng nghe những tràng cười lanh lảnh của cô gái. Nhưng cô đã nhanh chóng xuống ngựa và đỡ anh dậy. “Ôi Chris, em xin lỗi vì đã cười,” cô nói giọng Anh thật thanh lịch. “Gì thì gì, tất cả là lỗi tại em. Lẽ ra em không nên làm anh phân tâm.”
“Anh không sao,” anh nói, có chút dằn dỗi. Anh phủi đất dính trên cằm, quay mặt về phía cô, cố nở nụ cười.
Như mọi khi, anh luôn bị vẻ đẹp của cô hớp hồn, đặc biệt là vào lúc này, khi mái tóc vàng óng của cô sáng lên trước ráng trời chiều và làm làn da hoàn hảo của cô dường như lấp lánh, làm rạng ngời thêm đôi mắt lóng lánh ánh tím của cô. Sophie Rhys-Hampton là cô gái đẹp nhất anh từng gặp trong đời Và cũng là người thông minh nhất. Người thành đạt nhất. Người quyến rũ nhất.
“Ôi, Chris, Chris,” cô nói, lấy những đầu ngón tay mát lạnh của mình phủi mặt cho anh. “Em thực sự xin lỗi. Đây nào. Có đỡ hơn không anh?”
Sophie là sinh viên trường Cheltenham, hai mươi tuổi, kém anh bốn tuổi. Cha cô, Hugh Hampton là một luật sư ở London; ông là chủ ngôi nhà mà dự án đã thuê vào mùa hè. Sophie đã xuống ở với bạn trong một ngôi nhà gần đó từ trước. Một ngày kia, cô tới để lấy ít đồ từ phòng làm việc của cha mình. Chris chỉ vì nhìn thấy cô mà đã đâm sầm vào một gốc cây.
Điều đó dường như đã tạo tiền đề cho mối quan hệ của họ, anh nghĩ một cách buồn bã. Giờ cô ấy nhìn vào anh và nói, “Em rất hãnh diện khi thấy có thể gây ảnh hưởng đến thế với anh, Chris. Nhưng em thực sự lo cho sự an toàn của anh đấy.” Cô cười khúc khích và hôn nhẹ lên má anh. “Hôm nay em đã gọi cho anh.”
“Anh biết, anh bận quá. Bọn anh dính vào một cuộc khủng hoảng.”
“Khủng hoảng? Thứ gì có thể gây ra một cuộc khủng hoảng khảo cổ được có chứ?”
“Ồ! em biết đấy, vấn đề vốn ấy mà.”
“À phải. Cái bọn ITC ấy. Từ New Mexico.” Cô nói nghe như chỗ đó ở tận cùng thế giới vậy. “Anh biết không, chúng dám hỏi mua trang trại của cha em đấy.”
“Thế à?”
“Chúng nói rằng chúng cần phải thuê nó trong nhiều năm nữa, vậy thì thà mua đứt luôn. Dĩ nhiên là cha em không đồng ý.”
“Dĩ nhiên rồi.” Chris mỉm cười. “Ăn tối với anh nhé?”
“Ôi, Chris. Tối nay thì không được. Nhưng chúng ta có thể cùng nhau cưỡi ngựa vào ngày mai. Được chứ?”
“Dĩ nhiên rồi em.”
“Sáng nhé? Mười giờ nhé?”
“Được,” anh nói. “Gặp em lúc mười giờ.”
“Em không chen ngang vào công việc của anh đấy chứ?”
“Em biết là em đang chen ngang mà.”
“Để hôm khác cũng được.”
“Không, không,” anh nói. “Mười giờ sáng mai.”
“Nhất trí,” cô nói, mỉm cười rạng rỡ.
Thực tế, Sophie Hampton quá xinh, hình thể quá đỗi hoàn hảo, cách ứng xử duyên dáng. Cô có vẻ không thực đến nỗi Marek thấy hơi dị ứng với cô.
Còn Chris thì thực sự bị cô hớp hồn.
Sau khi cô phóng ngựa đi, Marek lại thúc ngựa lần nữa. Lần này Chris tránh được cú ra đòn của cái túi da. Khi Marek phóng lại, anh ta nói, “Cậu đang bị người ta phỉnh phờ đấy, bạn tôi ạ.”
“Có lẽ,” Chris nói. Nhưng thật sự là, anh chẳng quan tâm.