Đúng Việc

Lượt đọc: 539 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2. Để làm được “người”, cần có những năng lực nào?

Có thể thấy rằng, nếu hiểu "con người" theo nghĩa "con người tự do" như trên thì không phải ai sinh ra cũng có sẵn "năng lực làm người". Vậy, "năng lực làm người" cụ thể là những năng lực gì? Thật khó để đưa ra một câu trả lời xác đáng. Trong phạm vi cuốn sách này, tôi muốn bàn về hai loại năng lực tạm gọi tên là "năng lực khai phóng" và "năng lực khai tâm".

Trước hết, hãy nói về năng lực khai phóng (khai minh và giải phóng) bản thân. Vậy "khai minh" là gì? Hiểu một cách nôm na, "minh" là sáng và "khai" là mở, nên "khai minh" có nghĩa là mở toang con người tăm tối, con người vô minh, giáo điều, ấu trĩ của mình ra để đưa ánh sáng của chân lý, sự thật và tự do vào. Lâu nay chúng ta thường quen dùng từ "khai sáng", nhưng về mặt ngữ nghĩa thì từ "khai minh" sẽ chính xác hơn. Triết gia Immanuel Kant từng định nghĩa một cách ngắn gọn về hai chữ "khai minh" như sau: "Khai minh là việc con người đi ra khỏi sự không trưởng thành do chính mình tự chuốc lấy" (cách dịch của học giả, dịch giả Bùi Văn Nam Sơn). Như vậy, con người cần phải thoát khỏi tình trạng "không trưởng thành" do chính mình tự gây ra cho bản thân, bắt đầu bằng việc tư duy lại, nhận thức lại những quan niệm của bản thân về những vấn đề quan trọng nhất trong cuộc đời.

Còn khai tâm, nói đơn giản, đó chính là ta có một trái tim "có hồn", một trái tim biết rung lên trước cái hay cái đẹp (nhất là cái đẹp vô hình, cái đẹp không nhìn thấy, không sờ thấy, mà chỉ có thể cảm thấy), biết thổn thức trước những nỗi đau, biết phẫn nộ trước cái sai, cái xấu và cái ác. Một người mà không còn xúc cảm, không còn tin vào điều gì, nhất là những điều tốt đẹp trong cuộc đời này, cũng như không còn biết đau chung nỗi đau của con người thì về cơ bản, người đó đã "chết lâm sàng" hay có vấn đề về "nhân tính".

Khai phóng: Để có một cái đầu sáng!

Hãy cùng bàn thêm về hai loại năng lực đặc biệt này của con người thông qua vài mẩu chuyện nhỏ dưới đây!

Ví dụ, hai gia đình nọ có hai cậu con trai ngang tuổi nhau, học cùng lớp, cùng trường, cả hai gia đình này đều rất giàu có và cùng ở trong một khu biệt thự sang trọng. Cậu con trai của gia đình A mỗi khi ra đường, nếu đi xe hơi thì ít ra phải là Lexus, nếu đi xe máy thì tệ lắm phải là SH, và mỗi lần sinh nhật thì phải tổ chức ở Hong Kong, Singapore, hoặc tệ lắm thì cũng phải ở một khách sạn 5 sao nào đó... Có như vậy thì cậu cảm thấy xứng tầm, xứng đáng với đẳng cấp của mình, và cậu ấy rất hạnh phúc, rất tự hào về cái "đẳng cấp" này. Tuy nhiên, cậu con trai của gia đình B (nhà B thậm chí còn giàu hơn cả nhà A) thì lại sống khá giản dị và hòa đồng, cậu hầu như không bận tâm đến chuyện đi xe gì hay tổ chức sinh nhật của mình ở đâu. Vậy cậu con trai nhà B có niềm tự hào hay niềm kiêu hãnh của mình không? Chắc là có! Niềm kiêu hãnh hay niềm tự hào đó là gì thì chưa cần biết, nhưng chắc chắn là nó không nằm ở nhà to hay xế xịn. Điều gì làm nên sự khác biệt trong cách hành xử của hai cậu con trai nhà giàu nói trên? Đó chính sự khác biệt trong quan niệm về điều gì làm nên giá trị của con người, điều gì là thứ đáng để tự hào của hai cậu bé và của hai gia đình mà các cậu bé đang sống. Nếu quan niệm rằng giá trị của một con người được đo bằng những của cải mà người đó sở hữu, lẽ đương nhiên là người ta sẽ ước muốn những thứ xa xỉ như vậy và tìm mọi cách để có được nó. Trái lại, nếu tin rằng giá trị của con người nằm ở những thứ khác thì cho dù được bao phủ bởi của cải, người ta cũng không màng đến việc dùng chúng để "tô điểm" cho bản thân mình. Nên sự khác biệt trong tư tưởng có thể dẫn đến sự khác biệt về số phận (như người ta vẫn thường nói "Tư tưởng quyết định số phận") là vậy! Bởi lẽ, theo cách hiểu của tôi, tư tưởng chính là hệ thống các quan niệm nền tảng làm cơ sở cho việc hình thành các ước muốn, cũng như các nguyên tắc và cách thức nhằm đạt được những ước muốn đó. Hệ thống các quan niệm nền tảng này cũng có thể gọi là "hệ điều hành" hay "hệ giá trị" hay "ý thức hệ" của mỗi người.

Những quan niệm nền tảng này thường là lời đáp cho những câu hỏi: Thế nào là con người? Thế nào là công dân? Thế nào là "đúng việc" trong công việc, nghề nghiệp hay sự nghiệp của mình?... Hay các câu hỏi bổ sung như: Thế nào là thành công? Thế nào là hạnh phúc? Sống để làm gì? Ý nghĩa của đời tôi nằm ở nơi đâu? Điều gì thật sự đáng tự hào?...

Do đó, cái mà chúng ta cần quan tâm không phải là thay đổi ước muốn của con người mà là khai thông quan niệm của họ/ của mình. Khi quan niệm, ý niệm, tâm niệm thay đổi thì ước muốn cũng thay đổi, kéo theo nguyên tắc và cách thức đạt được ước muốn cũng sẽ thay đổi tương ứng. Nếu ta có những quan niệm đúng đắn (gần với chân lý và tự do) về những vấn đề hệ trọng trong đời, và cả đời này sẽ sống đúng với những quan niệm đó thì ta sẽ có cuộc đời mong muốn, còn nếu ta mang trong mình những quan niệm sai lầm, lệch lạc (mà mãi đến cuối đời mới nhận ra là sai lầm, lệch lạc; hay thậm chí đến khi chết vẫn chưa nhận ra là sai lầm, lệch lạc) thì hậu quả sẽ ra sao, cuộc đời ta sẽ ra sao?

Nói cách khác, không phải thay đổi ước muốn ("tôi không nên ước muốn có nhiều của cải nữa") mà thay đổi quan niệm/ tâm niệm ("điều gì khiến tôi thực sự tự do và hạnh phúc") mới là thứ thực sự thay đổi gốc rễ số phận một con người.

Chẳng hạn như với cậu bé thích xài sang trong câu chuyện trên, mọi nỗ lực thay đổi ước muốn của cậu như "con mặc áo này đi, sao phải mặc áo hiệu đó", "sao con xài xa xỉ quá vậy, tiết kiệm bớt đi" sẽ là vô vọng (bởi bắt một ai đó từ bỏ điều khiến họ hạnh phúc thật là khó). Nhưng nếu cậu có thể hiểu được: Thế nào là con người? Thế nào tự do, tự trị? Thế nào là thành công? Thế nào là hạnh phúc? Sống để làm gì? Ý nghĩa cuộc đời mình nằm ở nơi đâu?... thì tự cậu sẽ "cải biến" mình và biết lựa chọn điều gì cho mình.

Chính là những quan niệm/ tâm niệm về những vấn đề trọng yếu nói trên sẽ quyết định con người ta được dẫn dắt đến gần hơn hay là bị đẩy lùi xa khỏi cái đích khai phóng (khai minh và giải phóng bản thân ra khỏi những giáo điều, ấu trĩ, u mê, vô minh để đến gần với chân lý và tự do).

Với cái đầu được khai minh, khai phóng (cái đầu "sáng"), con người sẽ có khả năng minh định được ai là ai, cái gì là cái gì, mình là ai.

Minh định ("minh" là "sáng" và định" là "phân") có nghĩa là có khả năng phân biệt một cách sáng suốt được "ai là ai", có khả năng nhìn nhận được sự khác biệt giữa người này với người khác. Chẳng hạn, nếu nhìn vào giới có học thì sẽ minh định được ai là trí thức, ai là trí ngủ, ai là trí dỏm, ai là trí gian và ai là trí nô; nhìn vào giới làm ăn thì sẽ minh định được ai là doanh nhân, ai là trọc phú, ai là con buôn; nhìn vào giới ca hát thì sẽ minh định được ai là nghệ sĩ và ai là thợ hát; nhìn vào báo giới thì minh định được ai là nhà văn và ai là bồi bút...

Trong những xã hội mà kim tiền lên ngôi, vàng thau đều khó phân, các thang giá trị bị đảo lộn, việc minh định được "cái gì là cái gì" (đâu là phải - trái, đúng - sai, lẽ sống - lẽ chết, chân - giả, thiện - ác, chính - tà, tốt - xấu, hay - dở, nên - không nên, đáng trọng - đáng khinh...) quả thật không dễ chút nào! Vậy làm sao để có thể minh định được "đúng - sai"? Dựa vào đâu để mà xác định là "đúng", dựa vào đâu để xác định là "sai"?

Mỗi người có thể có một "hệ quy chiếu" (chính là tư tưởng, hệ thống quan niệm, "hệ điều hành") riêng để dựa vào đó mà "vạch lằn ranh" cho mình. Tuy nhiên, có một hệ quy chiếu chung để minh định được đúng - sai, phải - trái, đó là, người ta thường sẽ dựa vào sự phù hợp với bốn cái "đạo" sau đây:

---❊ ❖ ❊---

"Đạo luật" (hiến pháp của nhân dân, pháp luật của nhà nước, luật pháp quốc tế)

"Đạo lý" (của gia đình, của tổ chức, của địa phương, của dân tộc, của thế giới tiến bộ)

"Đạo thiêng" (nếu theo một tôn giáo nào đó, như đạo Phật, đạo Hồi, đạo Thiên Chúa...)

"Đạo sống" (của bản thân - chính là "con người bên trong" của mình)

---❊ ❖ ❊---

Nếu việc gì, điều gì phù hợp với cả bốn cái đạo này thì thường được xem là “đúng"/"tốt", nhưng nếu chỉ cần vi phạm một trong bốn cái đạo này thường bị xem là "sai"/"xấu".

"Thường" là vậy, chứ không phải "luôn luôn", bởi vì cũng có những trường hợp người ta không dựa vào cả bốn cái "đạo", mà chỉ dựa vào một hay hai cái trong bốn cái "đạo" này để xác định "đúng - sai" hay để hành động mà thôi.

Câu chuyện về phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc trên xe buýt của nước Mỹ là một ví dụ tiêu biểu. Ở thành phố Montgomery, tiểu bang Alabama của Mỹ vào năm 1955, sẽ là phạm tội hình sự nếu như một người da đen từ chối nhường chỗ cho một người da trắng khi được đề nghị. Thế nhưng, vào một ngày nọ, một phụ nữ da đen tên là Rosa Parks đã nhất quyết không nhường chỗ cho một người đàn ông da trắng bước lên xe buýt và chấp nhận bị cảnh sát áp tải đi sau đó. Hành động thách thức của Rosa Parks đã làm dấy lên phong trào tẩy chay hệ thống xe buýt Montgomery và mở màn cho một phong trào rộng lớn hơn là tranh đấu nhân quyền cho người da màu tại Hoa Kỳ. Và lãnh tụ của những phong trào đó, bằng phương thức đấu tranh bất bạo động, không ai khác chính là vị mục sư vĩ đại Martin Luther King, Jr.

Thông thường thì "đạo luật" sẽ đi từ "đạo lý" và hai cái này thường không mâu thuẫn nhau. Nhưng trong câu chuyện trên cho thấy, đạo luật và đạo lý (hay nói cách khác, pháp lý và đạo lý) lại không khớp nhau và thậm chí lại trái nghịch nhau, vì pháp lý đã không xuất phát từ đạo lý.

Với những người làm cách mạng, họ thường chỉ quan tâm đến đạo sống mà họ theo đuổi chứ không quan tâm đến pháp lý hay đạo lý, vì họ không công nhận cái pháp lý hay đạo lý đó và họ muốn làm cách mạng để thay đổi nó. Đó cũng là lý do vì sao mà những người cách mạng lại sẵn sàng vi phạm pháp lý và chấp nhận tù đày, thậm chí hi sinh cả tính mạng hay chấp nhận bị bôi nhọ danh dự trong xã hội để đấu tranh cho đạo lý và đạo sống tốt đẹp mà họ tin theo.

"Đạo lý" của xã hội rất đa dạng, có thể là đạo lý của làng, đạo lý của nước, đạo lý của thế giới tiến bộ, và đạo lý của các "xã hội" này có khi lại rất mâu thuẫn nhau. Vậy mình phải minh định được đâu là "đúng - sai", "tốt - xấu" để chọn cho mình cách hành động phù hợp.

Và đôi khi, "đạo sống" của bản thân cũng không trùng với "đạo lý" của xã hội, không trùng với những cái mà xã hội xem là "bình thường". Chẳng hạn, ở một số xã hội thì việc ăn thịt chó được cho là bình thường, nhưng đối với một số người thì ăn thịt chó là hành động không thể chấp nhận được, vì chó được xem là "bạn" của con người, nên con người không thể ăn thịt "bạn" của mình được!

Ngoài ra, có những người chọn đạo lý của thế giới tiến bộ làm "đạo sống" cho mình, nhưng họ lại sống trong những xã hội mà "luân thường đạo lý" của xã hội đó lại khác xa với các chuẩn giá trị của thế giới văn minh, tiến bộ. Trong trường hợp này thì chắc chắn sẽ xảy ra mâu thuẫn giữa "đạo lý" của xã hội và "đạo sống" của bản thân. Khi đó, chắc hẳn là người đó sẽ chọn hành động theo đạo sống của bản thân, theo lẽ sống, giá trị sống, nguyên tắc sống... của chính mình.

Ngược lại, có những người sống lâu trong những xã hội mà "luân thường đạo lý" của xã hội đó lại khá xa lạ với các chuẩn giá trị của thế giới văn minh, và "đạo lý" của xã hội đó đã ngấm sâu vào mình và trở thành "đạo sống" của mình lúc nào không hay. Chuyện gì sẽ xảy ra khi người đó được chuyển đến sống trong thế giới văn minh, tiến bộ? Chắc hẳn để có thể tồn tại một cách bình thường thì người đó sẽ phải khai phóng bản thân để minh định được "đúng - sai" và điều chỉnh "đạo sống" của mình.

Nhiều người thường cho rằng chỉ cần sống với "đạo sống" của mình là đủ, mà không cần phải nghĩ nhiều đến ba cái đạo kia. Thực ra, những người suy nghĩ sâu xa thường sẽ biết cách xác lập và hình thành "đạo sống" của bản thân sao cho "đạo sống" này vừa "đúng" và "tốt" với mình, vừa không trái với "đạo luật" của nhà nước, không trái "đạo lý" của xã hội (nhất là xã hội văn minh, tiến bộ), và cũng không trái với giáo lý và đức tin tôn giáo mà họ đã chọn (vì khi đó Phật hay Chúa hay Thánh cũng đã ở trong lòng họ, và giáo lý cũng là một phần hiển nhiên trong nguyên tắc sống của họ). Khi đó họ chỉ cần "sống đúng với con người của mình" là đủ.

Nếu như việc minh định được "ai là ai" và "cái gì là cái gì" như đã phân tích ở trên là điều rất khó, thì việc minh định được “mình là ai" có lẽ là điều còn khó khăn hơn nữa với bất cứ ai.

Vì trong tất cả những ngộ nhận của con người thì ngộ nhận về bản thân mình là đáng sợ nhất. Ngộ nhận về sự hiểu biết của mình, ngộ nhận về tài năng của mình, ngộ nhận về văn hóa của mình, ngộ nhận về đóng góp của mình, ngộ nhận về uy tín và phẩm giá của mình... Và trong tất cả các ngộ nhận về bản thân thì có lẽ ngộ nhận về phẩm giá và ngộ nhận về sự hiểu biết của mình là nguy hại nhất.

Do vậy, minh định được "mình là ai", "đâu là mình", hiểu biết của mình ra sao, mình giỏi cái gì và giỏi cỡ nào, mình đóng góp được gì... là một phần trọng yếu trong năng lực "khai phóng" của mỗi người.

Khai tâm: Để có trái tim nóng!

Năm 2009, giáo sư Robert Sapolsky là nhân vật được đại học Stanford mời phát biểu trong buổi lễ tốt nghiệp của sinh viên trường này. Bài phát biểu của khách mời trong lễ tốt nghiệp của đại học Stanford luôn là tâm điểm chú ý của cộng đồng đại học thế giới, nhất là giới trẻ, chứ không chỉ của riêng sinh viên trường này, vì nó thường chứa đựng những thông điệp, những tư tưởng hết sức độc đáo. Chẳng hạn năm 2005, bài phát biểu của Steve Jobs tại lễ tốt nghiệp trường này với thông điệp “Hãy khát khao, hãy dấn thân!” đã làm trẻ khắp thế giới "dậy sóng". So với Steve Jobs, giáo sư Robert Sapolsky ít nổi tiếng hơn với đại chúng, nhưng trong giới thần kinh học, ông là cái tên hàng đầu. Bài phát biểu của ông năm đó có chủ đề "Thứ riêng có của giống người" (The uniqueness of humans), và nó cũng đã khiến không ít người phải suy ngẫm.

Bài phát biểu có đoạn:

"Chúng ta là người không phải bởi vì tế bào não bộ của chúng ta khác biệt, thực ra thì cấu trúc căn bản của bộ não chúng ta cũng giống như của một con ruồi mà thôi... Chúng ta độc đáo... không phải bởi vì chúng ta là sinh vật duy nhất có sức mạnh giết chóc, kể cả là giết chóc có tổ chức. Một nhóm tinh tinh cũng có khả năng tụ lại cùng nhau, tổ chức tuần tra ở biên giới lãnh địa của chúng và nếu phát hiện thấy một con ở nhóm khác xâm nhập thì chúng sẽ giết ngay kẻ xâm nhập đó..."

Robert Sapolsky còn nói rằng, điều khiến loài người chúng ta trở nên độc đáo không phải là khả năng " ăn quả nhớ kẻ trồng cây " (ai cho ta cái gì thì ta cho lại cái ấy), hay " kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân " (cái gì ta không muốn thì cũng đừng làm cho người khác); vì loài vật cũng có tập quán "có qua có lại" đó. Mà con người độc đáo vì chúng ta có thể không trả đũa lại người khác ngay cả khi họ làm điều tồi tệ với mình (biết tha thứ). Con người cũng không phải là sinh vật duy nhất biết đồng cảm với đồng loại của mình. Điều độc đáo của con người, thứ riêng có của giống người là chúng ta có khả năng đồng cảm với cả những giống loài khác, biết rung cảm trước những giá trị vô hình, chẳng hạn như có thể rơi nước mắt trước một bức tranh.

Và điều quan trọng nhất khiến chúng ta là con người, là khả năng khiến những điều tưởng chừng như không thể thành những điều có thể nhất... Có một vị nữ tu nọ tên là Helen Preịean, và bà đã dành cả đời mình để xoa dịu về tinh thần cho những phạm nhân đang chờ tử hình ở một nhà tù bang Louisiana. Ở đó có những phạm nhân là những sinh vật đáng sợ nhất, đáng lên án nhất trên trái đất này, và người ta thường hỏi bà: "Tại sao sơ lại dành thời gian cho những hạng người như vậy?". Bà thường trả lời một cách rất đơn giản rằng: "Hành động nào càng không thể tha thứ được, chúng ta lại càng phải tha thứ. Người nào càng đáng ghét, chúng ta lại càng phải tìm cách để yêu thương họ". Câu trả lời ấy đã khiến tôi kinh ngạc vì một thứ năng lực tuyệt vời đến mức không thể tin được của giống người".

Như vậy, bài phát biểu của giáo sư Robert Sapolsky đã nhắc đến một "năng lực làm người" quan trọng khác là năng lực khai tâm. Nói đơn giản, năng lực làm người, ngoài cái đầu khai phóng, còn cần có một trái tim "có hồn", một trái tim biết rung lên trước cái đẹp (không chỉ là cái đẹp hữu hình, mà đặc biệt là cái đẹp vô hình, cái đẹp không nhìn thấy và không sờ thấy), một trái tim biết thổn thức trước những nỗi đau, một trái tim biết biết phẫn nộ trước cái sai cái xấu và cái ác, một trái tim tràn đầy tình thương yêu và giàu lòng trắc ẩn. Một người mà không còn xúc cảm, không còn tin vào điều gì, nhất là những điều tốt đẹp trong cuộc đời này nữa, cũng như không còn biết đau chung nỗi đau của người khác thì về cơ bản, người đó đã "chết lâm sàng".

Năm 2011, cả đất nước Trung Quốc và nhiều người trên khắp thế giới đã rúng động trước câu chuyện một bé gái ba tuổi bị một xe tải cán rồi bỏ chạy, một xe tải thứ hai cán tiếp vào người em và lại bỏ chạy. Sau đó, trong bảy phút em nằm giãy giụa trên vũng máu, 18 người qua đường nhìn em rồi bỏ đi mà không một chút thương cảm, cứ thờ ơ như không hay biết chuyện gì. Chỉ tới khi người thứ 19, một bà nhặt ve chai xuất hiện, em mới được đưa vào bệnh viện nhưng đã không qua khỏi. Toàn bộ sự việc này đã được một camera đường phố ghi lại. Và việc này đã làm rúng động xã hội và báo động đỏ về vấn đề nhân tâm và nhân tính trong xã hội Trung Quốc ngày nay.

Nhưng đó vẫn chưa phải là giới hạn tận cùng của sự vô cảm của con người trong câu chuyện này.

"Bà Muội người có cử chỉ cao quý đã bị báo chí "săn lùng" ráo riết. Ai cũng hỏi tại sao bà làm thế trong khi bà không thể hiểu nổi tại sao họ lại hỏi thế. Những người hàng xóm đặt nghi ngờ, thậm chí là giễu cợt - "Bà làm thế để nổi tiếng à?”, "Bà kiếm được bao nhiêu trong vụ này?”. Những câu hỏi chế giễu ấy đeo bám bà hàng ngày. Người ta cười khẩy với bà ở bất cứ góc phố nào bà đi qua.

" Việc tôi làm là hết sức bình thường. Tôi thấy cháu bé nằm ngã ra như thế nên kéo lên. Ai ngã tôi cũng đến nâng dậy cả " - bà bày tỏ khi được phỏng vấn. Câu trả lời đơn giản đó như chưa làm các phóng viên hài lòng. Điện thoại của bà liên tục reo và các phóng viên quây lấy căn phòng trọ nhỏ bé của bà để phỏng vấn, khiến người chủ nhà đe dọa sẽ cắt hợp đồng thuê nhà... "

(Trích bài báo "Nỗi đau tận cùng về sự vô cảm" của tác giả Khải Nguyên, đăng trên báo Phụ nữ ngày nay số ra ngày 21/10/2011)

Có lẽ chưa bao giờ mà sự vô cảm lại tràn lan, còn sự rung cảm lại trở thành một thứ "dị thường" đến thế trong xã hội hiện nay. Chuyện một cô gái bị đánh đập ngay giữa phố đông người nhưng chẳng ai quan tâm đến, chuyện mọi người thản nhiên lao vào "nhặt của rơi" khi xe chở hàng bị đổ ra đường... đã trở thành "chuyện thường ngày ở huyện" trên mặt báo.

Rồi đỉnh điểm là năm 2014, vụ án thẩm mỹ viện Cát Tường ở Hà Nội làm chết và ném xác khách hàng xuống sông để phi tang đã làm cả xã hội Việt Nam bàng hoàng vì sự táng tận lương tâm đến cùng cực của nó. Nhưng có một chi tiết khiến tôi suy nghĩ mãi, đó là trên hành trình tìm kiếm thi thể của nạn nhân, chỉ trong khoảng một cây số trên sông Hồng và trong thời gian một vài tuần, người ta đã tìm thấy nhiều thi thể khác không rõ danh tính. Mỗi khi có tin tìm được một thi thể nghi là của nạn nhân như vậy, dư luận lại đổ xô vào theo dõi, bàn luận, rồi lại thở dài thất vọng khi biết đó không phải là nạn nhân của vụ Cát Tường. Tôi thường tự hỏi người ta sẽ làm gì với những thi thể chưa rõ danh tính đó, liệu có ai sẽ tiếp tục điều tra xem chuyện gì đã xảy ra với họ, hay họ sẽ lại bị lãng quên vì không phải là nạn nhân của vụ án nổi tiếng, không phải là đối tượng đang được chú ý. Lẽ nào chúng ta chỉ biết đồng cảm với những gì được đưa vào tâm điểm truyền thông, còn những gì "ngoài tầm chú ý" thì mặc kệ? Phải chăng đó cũng là một dạng vô cảm khác?

Albert Einstein, một nhà bác học vĩ đại, cũng là một hiền triết, từng nói: "Thế giới trở nên nguy hiểm, không phải bởi những kẻ gây ra tội ác, mà là vì những người chỉ đứng nhìn mà không làm gì cả". Nói một cách cụ thể hơn, trong bất kỳ một xã hội nào những người tử tế luôn nhiều hơn những kẻ ba trợn, nhưng nếu những người tử tế chỉ đứng nhìn mà không làm gì cả thì những kẻ ba trợn thiểu số đó sẽ quậy tan nát cái xã hội này. Do đó, thế giới này, xã hội này trở nên nguy hiểm chính là vì những người tử tế chỉ đứng nhìn và không làm gì cả.

Vì vậy, nếu con người chỉ sống vô hại (không làm gì xấu cho ai là được!) thì có khi vẫn chưa thực sự là "vô hại", bởi điều đó rất gần với "vô hồn", "vô tâm" và "vô cảm", thậm chí cả "vô minh" nữa. Hơn thế nữa, chúng ta có thể vô tình tiếp tay cho cái ác tràn lan bởi sự vô tâm, vô cảm đó của chính mình mà không hề hay biết.

Như vậy, có thể nói một cách hình tượng rằng để có thể "làm người" đúng nghĩa, mỗi cá nhân cần có một cái đầu sáng để minh định và một trái tim nóng để rung cảm. Và tất nhiên, chúng sẽ "sáng" và "nóng" hơn khi được cất giữ trong một cơ thể khỏe mạnh. Nhưng đáng tiếc là số đông loài người thường chỉ quan tâm đến việc "trang hoàng" cho sức vóc bên ngoài hay cho cái "túi vật chất" của mình mà dễ bỏ quên hai cái "túi" rất quan trọng là "túi văn hóa" (gồm hai ngăn là đầu "minh định" + tim "có hồn") và "túi chuyên môn" (gồm hai ngăn là đầu "chuyên gia” + tim "yêu nghề"). Nếu hai "túi" này nghèo nàn, thì dù có muốn làm người, e cũng không được, vì khi thiếu năng lực làm người, con người khó mà đạt được sự thăng hoa, viên mãn trên hành trình sống và làm việc của chính mình. Thêm nữa, nếu không có hai cái "túi" này mà kiếm được nhiều tiền, nhiều quyền hay nhiều danh thì chắc chắn là bằng con đường "tà đạo".

Có người hỏi rằng: Sao tôi thấy có khối người "đầu tối, tim nguội" mà họ vẫn cứ sống... nhơn nhơn, thậm chí là giàu có và đầy tự hào về bản thân mình đấy thôi? Đó là một thắc mắc rất phổ biến, ngay cả triết gia Socrates thời xưa cũng từng bị phản biện như vậy.

Chuyện kể rằng:

Triết gia Socrates đã tìm ra một nguyên lý tuyệt đối tối cao cho đức hạnh như sau:

Ăn ở đạo đức còn hơn là phạm tội. Khi đã phạm tội thì thà bị xử còn hơn lẩn trốn.

Các ngụy biện gia phản bác lại rằng: Người ta thấy rất nhiều kẻ phạm tội vẫn sống giàu có sung sướng ngoài vòng pháp luật.

Socrates bàn: Người có bệnh được bắt trúng bệnh có sướng hơn không?

Trả lời: Có!

Socrates: Người có bệnh được uống thuốc đắng để chữa trị có tốt hơn không?

Trả lời: Có!

Socrates: Kẻ có tội cũng giống người có bệnh vậy, nó được bắt đúng tội, được trừng trị đúng tội sẽ tốt hơn. Còn bảo nó giàu, nhưng lương tâm cắn rứt làm sao mà hạnh phúc?!

Khổ một cái, nếu một người không có lương tâm, không có "con người bên trong" thì lấy gì mà cắn rứt (như dân gian vẫn thường đùa: lương tâm nó bị... rụng hết răng rồi, nên không cắn hay không rứt gì được!). Nếu một người mà "bên trong" không có "tí lòng" nào cả thì làm gì có chuyện "thẹn với lòng’’ mình. Hoặc có lương tâm, có "tí lòng" nhưng lại không minh định được ai là ai, cái gì là cái gì và mình là ai thì có khi làm sai cũng không biết là sai (thậm chí còn tưởng là đúng), nói chi là cắn rứt lương tâm. Nên cũng chẳng có gì là lạ khi dù có gây họa cho mình và cho người thì có khi những người này vẫn bình thường, thậm chí có khi còn vui vẻ, thoải mái hay tự hào nữa.

Cuộc sống luôn tồn tại những mâu thuẫn và giằng xé lạ lùng như vậy. Chính vì vậy mà nó đòi hỏi con người phải thường xuyên dùng đến cái đầu khai phóng, trái tim có hồn, phải dùng đến cái đầu sáng và trái tim nóng, cũng như phẩm chất tự tin của mình để giải quyết những vấn đề của mình, mà không hẳn là lúc nào cũng giải quyết được. Nhưng đó chính là công việc của "nghề làm người", bởi như Pascal từng nói: "Con người là một cây sậy, nhưng là cây sậy biết suy nghĩ”. Chính khả năng minh định và trái tim rung cảm là thứ làm nên sức mạnh thượng đẳng của con người, của giống người, là thứ mà nếu không có nó thì con người sẽ chẳng khác gì so với những loài sinh vật khác.

« Lùi
Tiến »