Vào tháng Mười năm 1896, Albert Einstein (lúc đó 17 tuổi) ghi danh theo học trường Bách khoa Zurich, một trường cao đẳng chuyên ngành sư phạm và kỹ thuật có 841 sinh viên. Ngôi trường này không danh giá bằng Đại học Zurich bên cạnh và các đại học ở Geneva hay Basel, những trường có thể cấp bằng tiến sỹ (một vị thế mà ngôi trường bách khoa có tên chính thức là Eidgenössische Polytechnische Schule này chỉ có được vào năm 1911 khi đổi tên thành trường Eidgenössische Technische Hochschule hay ETH). Tuy nhiên, trường Bách khoa Zurich khá có tăm tiếng trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Trước đó không lâu, trưởng khoa vật lý của trường, thầy Heinrich Weber, đã mua một tòa nhà mới cho khoa nhờ tiền tài trợ của một ông trùm ngành điện (và cũng là đối thủ cạnh tranh với công ty của anh em nhà Einstein) – Werner von Siemens. Tòa nhà có những phòng thí nghiệm uy tín nổi tiếng về các phép đo chính xác.
Einstein là một trong 11 sinh viên năm nhất ghi danh vào ngành đào tạo “giáo viên chuyên ngành toán và vật lý”. Ông sống trong khu ký túc xá với mức chi tiêu là 100 franc Thụy Sĩ do những người họ hàng bên ngoại – họ nhà Koch chu cấp. Mỗi tháng, ông để dành 20 franc cho số phí mà sau này ông phải đóng để trở thành công dân Thụy Sĩ.
Vật lý lý thuyết đang phát triển thành một ngành học thuật vào những năm 1890, và theo đó, số giáo sư của ngành này tăng mạnh trên khắp châu Âu. Những nhà thực hành tiên phong của ngành – như Max Planck ở Berlin, Hendrik Lorentz ở Hà Lan và Ludwig Boltzmann20 ở Vienna – kết hợp vật lý và toán học để đề ra những con đường mà các nhà thực nghiệm vẫn còn phải đi theo. Vì thế, toán học được xem là một phần chính trong các môn học bắt buộc của Einstein tại trường Bách khoa.
Tuy nhiên, Einsten có khả năng trực giác với môn vật lý tốt hơn với môn toán, và ông chưa hiểu rõ hai môn học này liên quan chặt chẽ với nhau như thế nào trong việc khám phá các lý thuyết mới. Trong bốn năm học tại trường Bách khoa, ông được điểm 5 hoặc 6 (trên thang điểm 6) trong tất cả các môn học về vật lý lý thuyết, nhưng chỉ được điểm 4 ở các môn học về toán, đặc biệt là hình học. Ông thừa nhận: “Hồi sinh viên, tôi không hiểu rõ rằng kiến thức sâu hơn về các nguyên lý cơ bản của vật lý có liên quan với các phương pháp toán học phức tạp nhất.”
Một thập kỷ sau, ông mới rõ điều này khi vật lộn với phần hình học của thuyết hấp dẫn và buộc phải dựa vào sự giúp đỡ của một giáo sư toán học, người từng gọi ông là kẻ lười biếng. Năm 1912, ông viết cho một đồng nghiệp: “Tôi trở nên rất mực tôn trọng toán học, trong suy nghĩ đơn giản của mình trước đây tôi đã coi phần tinh tế hơn của toán học là sự xa xỉ thuần túy.” Lúc gần cuối đời, ông cũng bộc lộ điều tương tự trong một cuộc chuyện trò với một người bạn ít tuổi hơn. Ông tâm sự: “Hồi còn non trẻ, tôi đã tưởng rằng một nhà vật lý thành công chỉ cần biết toán học sơ cấp thôi. Sau này, với sự hối tiếc rất lớn, tôi nhận ra rằng giả định đó hoàn toàn sai.”
Giáo sư vật lý chính của ông là Heinrich Weber, người một năm trước ấn tượng với Einstein đến mức mặc dù Einstein thi trượt kỳ thi đầu vào trường Bách khoa, vẫn cố thuyết phục Einstein ở lại Zurich và dự thính các bài giảng của ông. Sự khâm phục lẫn nhau kéo dài suốt hai năm đầu của Einstein ở trường Bách khoa. Những bài giảng của Weber nằm trong số ít các bài giảng gây ấn tượng với Einstein. Trong năm thứ hai, Einstein viết: “Thầy Weber giảng về nhiệt rất hay. Từng bài giảng của thầy đều làm tôi thích thú.” Ông làm việc trong phòng thí nghiệm của Weber “với sự hăng hái và niềm say mê”, tham gia 15 học phần (năm học phần trong phòng thí nghiệm và mười học phần trên lớp) với người thầy này, và đạt điểm tốt ở tất cả các học phần.
Tuy nhiên, Einstein dần dà không thích Weber nữa. Ông thấy vị giáo sư này quá chú trọng vào các nền tảng lịch sử của vật lý, mà không bàn nhiều về các ranh giới đương đại. Một người cùng thời với Einstein phàn nàn: “Bất cứ điều gì sau thời của Helmholtz đều bị lờ đi. Sau khi học xong, chúng tôi biết tất cả về quá khứ của vật lý, nhưng chẳng biết gì về hiện tại và tương lai.”
Thiếu hẳn trong các bài giảng của Weber là sự khảo sát những đột phá vĩ đại của James Clerk Maxwell; từ năm 1855, nhà khoa học này đã bắt đầu phát triển những lý thuyết chuyên sâu và các phương trình toán học tài tình mô tả việc các sóng điện từ như ánh sáng truyền đi như thế nào. Một sinh viên khác viết: “Chúng tôi đã hoài công chờ đợi một bài trình bày về lý thuyết của Maxwell. Einstein thất vọng hơn ai hết.”
Với thái độ hỗn hào sẵn có, Einstein không che giấu cảm xúc của mình. Và với ý thức tự cao, Weber nổi giận trước sự xem thường không khéo che giấu của Einstein. Khi hết bốn năm cùng nhau, họ trở thành những người đối địch.
Sự tức giận của Weber là một ví dụ khác cho thấy đời sống khoa học cũng như đời sống riêng tư của Einstein chịu ảnh hưởng như thế nào từ những đặc tính sâu thẳm trong tâm hồn người Swabia của ông: sẵn sàng chất vấn người có thẩm quyền, thể hiện thái độ hỗn hào khi bị áp đặt và chẳng mấy xem trọng những hiểu biết được thừa nhận rộng rãi. Chẳng hạn, ông thường gọi Weber một cách tùy tiện là “ông Weber” thay vì “thưa thầy”.
Khi sự thất vọng át hẳn sự khâm phục trước đó, Giáo sư Weber có một nhận xét về Einstein tương tự lời người giáo viên bị chọc tức tại ngôi trường trung học ở Munich vài năm trước. Weber nói: “Em là một đứa rất thông minh, Einstein. Một đứa cực kỳ thông minh. Nhưng em có một khuyết điểm lớn là không bao giờ chịu để ai chỉ bảo bất kỳ điều gì.”
Đánh giá đó phần nào đúng. Thế nhưng, Einstein rồi sẽ chứng minh cho mọi người thấy rằng trong thế giới vật lý đầy tranh cãi vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, khả năng gạt bỏ những hiểu biết thông thường một cách vô tư như thế không phải là khuyết điểm lớn nhất.
Sự xấc xược của Einstein cũng khiến ông gặp rắc rối với giáo sư vật lý khác của trường Bách khoa, thầy Jean Pernet, người phụ trách các bài tập thực nghiệm và thực hành trong phòng thí nghiệm. Trong môn Thí nghiệm vật lý cơ bản, Pernet cho Einstein điểm 1, điểm thấp nhất, do đó cũng khiến mình nổi bật hẳn lên trong lịch sử vì đánh trượt Einstein ở một môn vật lý. Nguyên nhân một phần là vì Einstein hiếm khi có mặt trên lớp. Theo yêu cầu bằng văn bản của Pernet, tháng Ba năm 1899, Einstein nhận được “thông báo khiển trách chính thức của hiệu trưởng do thiếu chuyên cần trong môn vật lý thực hành”.
Một hôm, Pernet hỏi Einstein: “Tại sao em muốn học chuyên ngành vật lý thay vì ngành nào đó khác như y học hay thậm chí là luật?” Einstein trả lời: “Bởi vì mấy môn đó em học còn tệ hơn. Tại sao em không nên ít nhất là thử vận may của mình với môn vật lý chứ?”
Vào những dịp mà Einstein hạ cố có mặt ở phòng thí nghiệm của Pernet, bản tính độc lập của ông đôi khi khiến ông gặp rắc rối, chẳng hạn có lần ông được phát một tờ hướng dẫn thực hiện một thí nghiệm đặc biệt. Người bạn của ông, cũng là người viết tiểu sử đầu tiên cho ông, Carl Seelig, thuật lại: “Với sự độc lập vốn có của mình, Einstein ném tờ giấy hướng dẫn vào thùng rác một cách rất tự nhiên.” Ông tiếp tục tiến hành thí nghiệm theo cách riêng. Pernet hỏi một phụ tá: “Cậu nghĩ gì về Einstein? Cậu ta luôn luôn làm khác với những gì tôi yêu cầu.”
Người phụ tá trả lời: “Cậu ấy quả có như thế thật, thưa giáo sư, nhưng cậu ấy tìm ra đúng đáp án, và các phương pháp mà cậu ấy sử dụng vô cùng thú vị.”
Những phương pháp này rốt cuộc cũng gây chuyện. Tháng Bảy năm 1899, ông gây nổ trong phòng thí nghiệm của Pernet, khiến bàn tay phải bị “thương nặng” và buộc phải đến bệnh viện để khâu. Vết thương này khiến ông không viết được trong ít nhất là hai tuần, và phải nghỉ chơi vĩ cầm trong thời gian còn dài hơn. Ông viết cho một thiếu nữ từng trình diễn cùng mình ở Aarau: “Tôi phải dẹp cây vĩ cầm qua một bên. Tôi chắc rằng nó đang tự hỏi tại sao nó chẳng bao giờ được lấy ra khỏi chiếc hộp màu đen. Có lẽ nó nghĩ rằng mình có một ông cha dượng.” Ông sớm chơi vĩ cầm trở lại, nhưng tai nạn đó dường như khiến ông càng gắn chặt với vai trò nhà lý thuyết hơn là nhà thực nghiệm.
Mặc dù ông tập trung vào vật lý nhiều hơn toán học, nhưng vị giáo sư toán học có ảnh hưởng tích cực nhất đối với ông, Hermann Minkowski – một người Do Thái ưa nhìn, mặt vuông chữ điền, sinh ra ở Nga và chừng 30 tuổi. Einstein đánh giá rất cao cách Minkowski kết hợp toán học với vật lý, nhưng ông tránh những môn học khó hơn của Minkowski, do đó Minkowski gọi Einstein là kẻ lười biếng. “Cậu ta chẳng bao giờ để ý đến toán học.”
Tùy theo sở thích và đam mê, Einstein thích học với một hoặc hai người bạn. Mặc dù vẫn tự hào là “một kẻ phiêu bạt và một người cô đơn”, nhưng ông bắt đầu quanh quẩn ở các quán cà phê và tham gia các buổi dạ hội âm nhạc với nhóm bạn thân có máu nghệ sĩ và nhóm bạn học. Mặc dù nổi tiếng là sống tách biệt, nhưng ông cũng tạo được những tình bạn lâu bền ở Zurich, sau này những tình bạn này trở thành những mối gắn bó quan trọng trong cuộc đời ông.
Trong số đó có Marcel Grossmann, một tài năng toán học thuộc tầng lớp trung lưu Do Thái, cha ông là chủ một nhà máy gần Zurich. Grosmann chăm chỉ chép bài và chia sẻ chúng với Einstein, người kém chuyên cần hơn trong việc đi học. Về sau, Einstein không khỏi ngạc nhiên nói với vợ của Grossmann: “Các ghi chép của anh ấy đáng lẽ phải được in ra và công bố. Mỗi đợt ôn thi, anh ấy luôn cho tôi mượn những cuốn sổ ghi chép đó, và chúng là vị cứu tinh của tôi. Tôi không muốn nghĩ đến việc tôi sẽ làm thế nào nếu không có chúng.”
Einstein và Grossmann thường cùng nhau hút tẩu và uống cà phê đá trong khi trao đổi về triết học tại quán cà phê Metropole bên bờ sông Limmat. Grossmann dự đoán về Einstein khi nói chuyện với cha mẹ mình: “Cậu ta một ngày nào đó sẽ trở thành một vĩ nhân.” Về sau, Grossmann đã góp phần biến điều này trở thành sự thật khi giúp Einstein xin được công việc đầu tiên tại Cục Cấp bằng Sáng chế Thụy Sĩ, rồi sau đó hỗ trợ Einstein phần kiến thức toán học cần thiết để phát triển Thuyết Tương đối hẹp thành một lý thuyết tổng quát.
Vì nhiều bài giảng ở trường Bách khoa có vẻ đã lỗi thời nên Einstein cùng những người bạn của mình tự đọc thêm nghiên cứu của những nhà lý thuyết mới nhất. Ông nhớ lại: “Tôi bỏ học nhiều và say sưa nghiên cứu các bậc thầy vật lý lý thuyết ở nhà.” Trong số đó có Gustav Kirchhoff về bức xạ, Hermann von Helmholtz về nhiệt động lực học, Heinrich Hertz về điện từ học và Boltzmann về cơ học thống kê.
Ông cũng chịu ảnh hưởng khi đọc các nghiên cứu của một nhà lý thuyết ít được biết đến hơn, August Föppl; năm 1894, nhà khoa học này đã viết một cuốn sách nổi tiếng có nhan đề Introduction to Maxwell’s Theory of Electricity [Giới thiệu về lý thuyết điện của Maxwell]. Như nhà sử học khoa học Gerald Holton đã chỉ ra, cuốn sách của Föppl có những khái niệm mà chẳng bao lâu sau sẽ được lặp lại trong công trình của Einstein. Cuốn sách có một phần về “Điện động lực học của các vật dẫn điện chuyển động” mở đầu bằng việc xem xét lại khái niệm “chuyển động tuyệt đối”. Föppl viết rằng cách duy nhất để xác định chuyển động của một vật là đặt nó trong mối quan hệ với vật khác. Từ đó, ông tiếp tục xem xét vấn đề liên quan đến cảm ứng của một dòng điện do từ trường gây ra: “Liệu có hoàn toàn giống nhau khi một nam châm chuyển động gần một mạch điện đứng yên hay khi mạch điện đó chuyển động còn nam châm đứng yên không?” Einstein mở đầu bài báo về Thuyết Tương đối hẹp năm 1905 của mình bằng cách đặt ra cùng vấn đề tương tự đó.
Trong thời gian rảnh rỗi, Einstein cũng đọc Henri Poincaré21, một học giả người Pháp vĩ đại mà thiếu chút nữa đã phát minh ra các khái niệm cốt lõi của Thuyết Tương đối hẹp. Gần cuối năm thứ nhất của Einstein tại trường Bách khoa, mùa xuân năm 1897, có một hội nghị về toán học ở Zurich nơi Poincaré vĩ đại sẽ phát biểu. Vào phút cuối, nhà khoa học này không thể xuất hiện, nhưng một bài báo của ông được đọc ở đó chứa đựng điều mà về sau sẽ trở thành một tuyên bố nổi tiếng. Ông viết: “Không gian tuyệt đối, thời gian tuyệt đối, và kể cả hình học Euclid đều không phải là những điều kiện áp đặt lên cơ học.”
Con người Einstein
Một tối nọ, khi Einstein đang ở nhà với bà chủ nhà, ông nghe thấy ai đó đang chơi bản sonat của Mozart bằng piano. Khi ông hỏi đó là ai, bà chủ nhà trả lời rằng đó một phụ nữ lớn tuổi sống ở tầng gác mái của nhà bên và dạy piano. Vớ lấy cây vĩ cầm của mình, ông chạy ào ra mà chẳng thèm mặc áo có cổ hay thắt cà vạt. Bà chủ nhà kêu lên: “Cậu không thể đi như thế được, Einstein.” Nhưng ông lờ đi và chạy sang nhà hàng xóm. Người giáo viên dạy piano nhìn lên sửng sốt. Einstein nài nỉ: “Bác cứ chơi tiếp đi ạ.” Lát sau, bầu không khí tràn ngập âm thanh vĩ cầm đệm theo bản sonat của Mozart. Sau đó, bà giáo dạy nhạc hỏi kẻ chơi đệm vừa đột nhập nhà mình là ai. Người hàng xóm trấn an: “Chỉ là một sinh viên vô hại thôi.”
Âm nhạc tiếp tục giúp Einstein khuây khỏa. Nó không phải là sự trốn chạy vì nó là sự kết nối: với sự hài hòa của vũ trụ, với thiên tài sáng tạo của những nhà soạn nhạc vĩ đại và với những người cảm thấy dễ chịu khi kết nối bằng những điều không phải lời nói. Ông không khỏi trầm trồ thán phục trước vẻ đẹp của những sự hài hòa, cả trong âm nhạc và vật lý.
Suzanne Markwalder là một thiếu nữ ở Zurich, mẹ cô thường tổ chức những buổi tối trình diễn âm nhạc, chủ yếu là nhạc Mozart. Cô chơi piano còn Einstein chơi vĩ cầm. Cô nhớ lại: “Anh ấy rất kiên trì với những sơ suất của tôi. Lúc nào tệ lắm, anh ấy thường nói: ‘Đấy, em lại mắc kẹt như chú lừa trên núi rồi’, và dùng cây vĩ chỉ vào chỗ tôi phải chơi.”
Điều Einstein đánh giá cao ở âm nhạc của Mozart và Bach là cấu trúc kiến trúc rõ ràng, làm cho âm nhạc của họ dường như “tất định” và, giống như các lý thuyết khoa học mà bản thân ông ưa thích, nó cũng được cất lên ngẫu hứng từ vũ trụ hơn là được cố ý soạn ra. Einstein từng nói: “Beethoven tạo ra âm nhạc của ông ấy, nhưng âm nhạc của Mozart thì thuần khiết đến mức dường như luôn hiện hữu trong vũ trụ.” Ông cũng so sánh Beethoven với Bach: “Tôi cảm thấy không thoải mái khi nghe nhạc Beethoven. Tôi nghĩ rằng ông ta quá cá nhân, gần như là trần trụi. Thay vào đó, hãy cho tôi nghe Bach, và nhiều Bach hơn nữa.”
Ông cũng khâm phục Schubert vì “khả năng thể hiện cảm xúc vượt trội” của nhà soạn nhạc này. Trong một bảng câu hỏi từng điền, ông đã phê bình các nhà soạn nhạc khác theo một lối bình luận các quan điểm khoa học: Handel có “một độ nông nhất định”, Mendelssohn cho thấy “tài năng lớn nhưng lại thiếu độ sâu nào đó nên thường sa vào chỗ tầm thường”, Wagner “thì thiếu cấu trúc kiến trúc mà tôi xem đó là một sự suy tàn”, Strauss “tài năng đấy nhưng không có sự chân thật nội tại”.
Einstein cũng dành thời gian đi thuyền, một thú vui đơn độc hơn nữa của ông, ở hồ nước tuyệt đẹp thuộc dãy Alps quanh Zurich. Suzanne Markwalder nhớ lại: “Tôi vẫn nhớ khi gió thật nhẹ và cánh buồm rũ xuống như những chiếc lá úa, anh ấy lấy ra một cuốn sổ ghi chép nhỏ và bắt đầu viết nguệch ngoạc. Nhưng ngay khi lại có gió, anh ấy tức khắc sẵn sàng dong buồm”.
Những quan điểm chính trị mà ông bộc lộ khi còn là một cậu bé – sự xem thường quyền lực độc đoán, ác cảm với chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa dân tộc, sự tôn trọng tính cá nhân, sự khinh thường thói tiêu dùng của giới tư bản hay phô trương của cải, và mong muốn bình đẳng xã hội – đã được người chủ nhà và cũng là người cha thứ hai của ông ở Aarau, Jost Winteler, khuyến khích. Lúc đó, ở Zurich, ông gặp một người bạn của gia đình Winteler, đó là Gustav Maier, một chuyên viên ngân hàng người Do Thái, chính Maier đã giúp Einstein thu xếp chuyến đi đầu tiên tới trường Bách khoa, và sau này còn trở thành một người hướng dẫn về chính trị tương tự [như Jost Winteler]. Với sự hỗ trợ của Winteler, Maier đã thành lập chi nhánh của Hiệp hội Văn hóa Đạo đức ở Thụy Sĩ, và Einstein là vị khách thường xuyên trong những cuộc gặp gỡ thân mật tại nhà Maier.
Einstein cũng làm quen và quý mến Friedrich Adler, con trai của lãnh đạo Đảng Dân chủ Xã hội Áo, đang học ở Zurich. Về sau Einstein gọi Adler là “nhà duy tâm trong sáng nhất và nhiệt thành nhất” mà ông từng gặp. Adler cố gắng thuyết phục Einstein gia nhập Đảng Dân chủ Xã hội. Nhưng việc dành thời gian cho những cuộc họp của những thiết chế có tổ chức không phải là phong cách của Einstein.
Thái độ thờ ơ, phong cách ăn mặc xuề xòa với những bộ quần áo sờn và tính hay quên, những yếu tố về sau biến ông trở thành biểu tượng cho một giáo sư đãng trí, đã lộ rõ từ những ngày ông còn là sinh viên. Ông còn nổi tiếng với tính hay bỏ quên quần áo, đôi khi là cả chiếc va li khi ông phải đi xa, thậm chí không nhớ nổi mình đã để chìa khóa ở đâu – những điều đó đã trở thành những câu chuyện cười không dứt của bà chủ nhà. Có lần ông đến thăm nhà những người bạn của gia đình, và ông nhớ lại: “Tôi ra về mà quên mang theo va-li. Bác chủ nhà đã nói với bố mẹ tôi: ‘Anh chàng đó sẽ chẳng làm được gì đâu vì không thể nhớ được thứ gì.’”
Cuộc sống thảnh thơi thời sinh viên lại trở nên ảm đạm bởi một thất bại nữa về tài chính của cha ông, người đã không nghe lời khuyên của Einstein khi cứ cố gắng mở công ty riêng, thay vì đi làm công ăn lương cho một công ty ổn định, giống như chú Jakob. Ông viết cho em gái trong một thời khắc đặc biệt ảm đạm vào năm 1898 khi công ty của cha mình dường như thất bại một lần nữa: “Nếu cha nghe anh, thì có lẽ cha đã tìm được một công việc làm công ăn lương từ hai năm trước rồi.”
Bức thư này cho thấy sự tuyệt vọng khác thường, có lẽ còn tuyệt vọng hơn cả tình hình tài chính thật sự của cha mẹ ông:
Điều khiến anh buồn nhất là sự thiếu may mắn đến đáng thương của cha mẹ, suốt bao nhiêu năm, cả hai đã không có lấy một khoảnh khắc sung sướng. Điều khiến anh đau đớn hơn nữa là với tư cách một người đàn ông trưởng thành, anh phải đứng nhìn mà không thể làm được bất cứ điều gì. Anh chỉ là một gánh nặng với gia đình mà thôi… Anh nên chết đi cho rồi. Chỉ có ý nghĩ là anh luôn làm với toàn bộ sức lực nhỏ bé của mình và không cho phép bản thân vui thú hoặc xao nhãng việc học mới giúp anh đứng vững và đôi khi bảo vệ anh trước nỗi tuyệt vọng.
Có lẽ đây đơn thuần là nỗi lo thời trai trẻ. Bất kể chuyện gì xảy ra, cha ông dường như luôn vượt qua khủng hoảng bằng bản tính lạc quan. Vào tháng Hai năm sau đó, ông trúng thầu cung cấp đèn đường cho hai ngôi làng nhỏ gần Milan. Einstein viết cho Maja: “Anh thấy vui khi nghĩ rằng những lo lắng tồi tệ nhất đã qua với cha mẹ của chúng ta. Nếu mọi người sống theo cách như anh, thì chắc chẳng có tiểu thuyết nào được viết ra đâu.”
Lối sống mới tài tử và bản tính từ lâu đã coi mình là trung tâm của Einstein khiến ông khó có thể tiếp tục mối quan hệ với Marie Winteler, cô con gái đáng yêu và có phần thất thường của gia đình mà ông đã ở trọ ở Aarau. Lúc đầu, qua đường bưu điện, ông vẫn gửi cho cô những giỏ quần áo mà cô sẽ giặt rồi gửi lại. Đôi khi, thậm chí chẳng có lấy một bức thư kèm theo, nhưng cô vẫn sẵn lòng làm ông vui. Trong một bức thư, cô kể lại việc “băng qua cánh rừng trong cơn mưa như trút nước” để đến bưu điện gửi lại những bộ quần áo đã giặt sạch. “Em đã căng mắt tìm một lá thư nhỏ mà vô ích, nhưng chỉ cần nhìn thấy nét chữ của anh trong phần địa chỉ cũng đủ làm em hạnh phúc rồi.”
Khi Einstein viết ông dự định về thăm cô, Marie đã ngây ngất vui mừng. Cô viết: “Cảm ơn anh nhiều lắm vì anh muốn về Aarau, Albert, và em không nói chắc anh cũng biết rằng em sẽ đếm từng phút giây cho đến lúc đó. Em chẳng bao giờ nói cho hết được, bởi không từ ngữ nào có thể tả được em cảm thấy thật hạnh phúc đến thế nào kể từ khi tâm hồn thân yêu của anh đến sống cùng và hòa quyện vào tâm hồn em. Mãi yêu anh, anh yêu.”
Nhưng ông lại muốn cắt đứt mối quan hệ này. Ở một trong những lá thư đầu tiên ông viết cho cô sau khi vào học trường Bách khoa Zurich, ông đề nghị họ nên hạn chế viết thư cho nhau. Cô hồi đáp: “Anh yêu của em, em không hiểu lắm một đoạn trong bức thư của anh. Anh bảo anh không muốn liên lạc với em nữa, nhưng tại sao lại thế, anh yêu?... Nếu anh có thể viết thẳng thừng như thế thì chắc hẳn anh đã phải khó chịu với em lắm rồi.” Sau đó, cô cố gắng cười xòa che đi chuyện này: “Nhưng cứ đợi đấy, anh sẽ bị mắng ra trò khi em về nhà.”
Bức thư sau đó của Einstein thậm chí còn kém thân thiện hơn nữa, và ông phàn nàn cả về ấm trà mà cô gửi cho ông. Cô trả lời: “Việc em gửi cho anh ấm trà nhỏ đó tất nhiên là không làm anh vừa lòng chừng nào mà anh chưa dùng nó để pha một ấm trà ngon. Đừng làm bộ mặt giận dữ nhìn em từ mọi góc cạnh của lá thư như thế.” Cô kể có một cậu bé ở trường cô dạy có tên là Albert, nó trông giống ông. Cô viết: “Em yêu cậu bé ấy lắm. Em cảm được điều gì đó khi cậu bé đó nhìn em, và em luôn tin đó là anh đang nhìn người yêu bé nhỏ của mình.”
Nhưng sau đó, Einstein bặt vô âm tín, bất chấp những lời cầu xin của Marie. Cô thậm chí còn viết thư cho mẹ ông hỏi xin lời khuyên. Bà Pauline Einstein trả lời: “Thằng nhóc đó đã trở nên lười biếng một cách đáng sợ. Ba ngày qua, cô đã hoài công chờ đợi tin tức. Khi nào nó về đây, cô sẽ phải mắng nó một trận.”
Cuối cùng Einstein tuyên bố chấm dứt mối quan hệ này trong một bức thư gửi cho mẹ của Marie, ông nói, ông sẽ không về Aarau trong kỳ nghỉ xuân năm đó. Ông viết: “Cháu sẽ còn là một kẻ đáng khinh hơn nếu bắt con gái yêu quý của cô phải chịu nỗi đau mới để đổi lấy vài ngày hạnh phúc; cháu đã gây ra quá nhiều lỗi lầm và đau đớn cho cô ấy.”
Ông tiếp tục đưa ra một đánh giá nội tâm – và đáng nhớ – về việc ông đã bắt đầu tránh nỗi đau từ các gánh nặng tình cảm cùng những yếu tố gây sao nhãng, những gì mà ông cho là “thuần túy cá nhân”, bằng cách rút vào khoa học:
“Việc đó mang đến cho cháu một cảm giác mãn nguyện và bây giờ cháu phải nếm trải phần nào nỗi đau mà cháu đã mang đến cho Marie yêu quý vì sự vô tâm và thờ ơ của cháu trước tính đa cảm của em. Hoạt động trí óc vất vả và việc tìm hiểu bản tính của Thượng đế là những thiên thần hòa giải, củng cố, nhưng cũng rất đỗi nghiêm khắc, sẽ dẫn dắt cháu qua tất cả những rắc rối trong cuộc đời. Giá như cháu có thể chia sẻ phần nào cảm giác ấy cho người con ngoan hiền đó. Thế nhưng, cách vượt qua cơn bão cuộc đời này mới kỳ lạ làm sao – có lúc tỉnh táo mà cháu vẫn như một chú đà điểu vùi đầu vào cát sa mạc để không phải cảm nhận cơn nguy hiểm22.”
Sự lạnh lùng của Einstein đối với Marie Winteler, từ góc nhìn của chúng ta, có vẻ khá tàn nhẫn. Thế nhưng, các mối quan hệ tình cảm, đặc biệt là ở những người vị thành niên, khó có thể đánh giá từ bên ngoài được. Họ rất khác nhau, đặc biệt là về mặt trí tuệ. Những bức thư của Marie, đặc biệt là khi cô cảm thấy bất an, thường biến thành nói nhảm. Trong một bức thư, cô viết: “Em đang viết nhiều điều thật ngớ ngẩn phải không, và cuối cùng anh thậm chí sẽ chẳng đọc hết (nhưng em không tin thế đâu).” Trong một bức thư khác, cô lại viết: “Em không nghĩ về bản thân nữa, anh yêu, điều đó hoàn toàn đúng, nhưng lý do duy nhất là em không biết phải nghĩ gì cả, trừ khi nó liên quan đến phép tính cực kỳ xuẩn ngốc đòi hỏi phải có một sự thay đổi mà em biết rõ hơn các học sinh của mình.”
Bất kể ai là người đáng trách, nếu có, thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi cuối cùng họ cũng đường ai nấy đi. Sau khi mối quan hệ này kết thúc, Marie bị suy nhược thần kinh, cô thường xuyên bỏ dạy, và vài năm sau thì lấy giám đốc của một nhà máy sản xuất đồng hồ. Còn Einstein thì hồi phục từ mối quan hệ này bằng việc rơi vào vòng tay của một người khác hẳn so với Marie.
Mileva Marić
Mileva Marić là đứa con đầu lòng được cưng chiều nhất của một nông dân đầy tham vọng người Serbia từng tham gia quân ngũ, kết hôn vì một món tài sản khiêm tốn, và dành cả đời để đảm bảo cô con gái thông minh của mình có thể vượt trội trong giới toán học và vật lý vốn toàn nam giới. Gần suốt thời thơ ấu, Maríc sống ở Novi Sad, một thành phố của Serbia về sau bị Hungary chiếm giữ, và học ở nhiều trường có đòi hỏi khắt khe, nhưng ở trường nào bà cũng đứng nhất lớp, đỉnh điểm là khi cha bà thuyết phục được trường trung học nam sinh Classical ở Zagreb nhận bà vào học. Sau khi tốt nghiệp với số điểm cao nhất về vật lý và toán học, bà đến Zurich, tại đây bà trở thành cô gái duy nhất trong lớp của Einstein trước khi bước sang tuổi 21.
Lớn hơn Einstein ba tuổi, khổ sở với dị tật bẩm sinh sai khớp hông khiến bà đi khập khiễng, dễ lên cơn ho lao và hay suy nhược, Mileva Marić được biết đến không phải vì vẻ ngoài hay tính cách. “Rất thông minh, nghiêm chỉnh, nhỏ nhắn, không khỏe mạnh, tóc màu hạt dẻ, xấu xí” là miêu tả về bà của một trong những người bạn nữ của bà ở Zurich.
Nhưng bà có những phẩm chất mà Einstein, ít nhất trong những năm học lãng mạn của mình, thấy cuốn hút: niềm đam mê toán học và khoa học, chiều sâu tư duy và tâm hồn lôi cuốn. Đôi mắt buồn sâu thẳm của bà có sự mãnh liệt đến ám ảnh và gương mặt luôn có nét buồn cuốn hút. Theo thời gian, bà trở thành nguồn cảm hứng, cộng sự, người yêu, người vợ, kẻ đáng ghét nhất, người đối địch với Einstein và gây ra cho ông những cảm xúc mạnh mẽ hơn bất kỳ ai trong đời ông. Nó liên tiếp hút ông vào, rồi lại đẩy ông ra bằng một lực mạnh đến nỗi mà một nhà khoa học thuần túy như ông không bao giờ hiểu được.
Họ gặp nhau khi cả hai vào học tại trường Bách khoa tháng Mười năm 1896, nhưng phải mất một thời gian thì mối quan hệ của họ mới tiến triển. Không có dấu hiệu nào, từ những bức thư hay hồi ức của họ, cho thấy tình cảm của họ đã trên mức bạn bè trong năm đầu. Tuy nhiên, họ quyết định đi bộ đường dài cùng nhau vào mùa hè năm 1897. Mùa thu năm đó, “do thấy sợ những cảm xúc mới mà mình đang cảm thấy” trước Einstein, Marić quyết định tạm rời trường Bách khoa, chuyển sang dự thính các lớp tại Đại học Heidelberg.
Bức thư đầu tiên còn giữ được mà bà gửi cho Einstein được viết vài tuần sau khi bà chuyển đến Heidelberg cho thấy những ý nghĩ mơ hồ về cảm giác bị tình cảm thôi thúc, nhưng có cả sự hờ hững đầy tự tin của bà. Bà gọi Einstein là Sie(bạn) – một từ tiếng Đức mang tính trang trọng, thay vì du mang tính thân mật hơn. Khác với Marie Winteler, bà chọc ông rằng bà không bận tâm đến ông mặc dù ông đã viết một bức thư cực dài cho bà. Bà nói: “Tôi đã nhận được thư của bạn một thời gian và lẽ ra tôi đã hồi đáp ngay để cảm ơn bạn đã bỏ công viết bốn trang giấy dài, lẽ ra tôi đã kể cho bạn nghe về niềm vui mà bạn mang đến cho tôi suốt chuyến đi của chúng ta, thế nhưng bạn lại bảo rằng khi nào buồn chán thì hãy viết thư cho bạn. Mà tôi là người nói sao nghe vậy, nên tôi cứ thế chờ đến lúc thấy buồn, nhưng cho đến giờ thì sự chờ đợi của tôi vẫn hoài công.”
Điểm khác biệt giữa Marić với Marie Winteler là mức độ tri thức thể hiện trong những bức thư của bà. Trong bức thư đầu tiên, bà ca ngợi những bài giảng mà bà được nghe từ Philipp Lenard, khi đó đang là phó giáo sư ở Heidelberg, về lý thuyết động học chất khí, giải thích các tính chất của chất khí là do tác dụng của hàng triệu phân tử riêng lẻ. Bà viết: “Ôi, bài giảng của giáo sư Lenard hôm qua thật rõ ràng. Bây giờ giáo sư đang giảng lý thuyết động học về nhiệt và chất khí. Hóa ra các phân tử ôxy chuyển động với vận tốc trên 400 m/s, sau đó vị giáo sư rất giỏi đó tính và tính… và cuối cùng thì ra là mặc dù các phân tử chuyển động với vận tốc này, nhưng lại chỉ đi được một quãng đường bằng 1/100 đường kính của sợi tóc thôi.”
Lý thuyết động học chất khí chưa được tổ chức khoa học nào thật sự chấp nhận (cả sự tồn tại của nguyên tử và phân tử cũng vậy), và bức thư của Marić cho thấy bà chưa hiểu sâu về nó. Ngoài ra, có một sự trớ trêu đáng buồn: Lenard tuy là một trong những nguồn cảm hứng ban đầu của Einstein, nhưng về sau lại là một trong những kẻ gieo rắc đau khổ theo chủ nghĩa bài Do Thái mà ông căm ghét nhất.
Marić cũng bình luận về những ý tưởng được Einstein chia sẻ trong bức thư trước đó của ông về khó khăn mà con người gặp phải trong hành trình tìm hiểu cái vô hạn. Bà viết: “Tôi không tin rằng cấu trúc của não người có lỗi đối với việc con người không nắm bắt được tính vô hạn. Con người vốn rất giỏi tưởng tượng ra hạnh phúc vô hạn, và đáng lẽ nó phải có khả năng hiểu sự vô hạn của không gian – việc đó lẽ ra phải dễ dàng hơn mới phải.” Điều này có chút tương đồng với việc Einstein trốn tránh chuyện “thuần túy cá nhân” để nấp vào chỗ an toàn của tư duy khoa học: thấy việc tưởng tượng ra không gian vô hạn dễ hơn là hạnh phúc vô hạn.
Nhưng Marić cũng nói rõ trong bức thư rằng bà cũng nghĩ về Einstein theo hướng riêng tư hơn. Bà thậm chí đã nói về Einstein với người cha đáng kính và luôn che chở của mình. Bà nói: “Cha đã đưa cho tôi một ít thuốc lá để mang đi và tôi định tự tay mang cho bạn. Cha rất muốn gợi lên trong bạn ý định về thăm vùng đất nhỏ bé của những kẻ ngoài vòng pháp luật như chúng tôi. Tôi đã kể với cha tất cả về bạn – một ngày nào đó bạn nhất định phải cùng tôi về đấy nhé. Cả hai người sẽ có nhiều chuyện để nói với nhau lắm đấy.” Không giống như ấm trà của Marie Winteler, số thuốc lá đó là món quà mà Einstein có vẻ muốn được nhận, nhưng Marić trêu chọc rằng bà sẽ không gửi. “Bạn sẽ phải trả tiền thuế cho nó đấy, và lúc đó bạn sẽ rủa tôi mất.”
Sự pha trộn đầy mâu thuẫn giữa tính khôi hài và nghiêm túc, tính vô tâm và mãnh liệt, thân mật và xa cách – đây cũng là điểm đặc biệt rõ ràng nơi Einstein – chắc hẳn đã cuốn hút ông. Ông thúc giục bà quay lại Zurich. Tháng Hai năm 1898, bà quyết định nghe theo, điều đó làm ông cảm thấy phấn khích. Ông viết: “Anh chắc chắn em sẽ không hối tiếc về quyết định này đâu. Em nên trở lại càng sớm càng tốt.”
Ông nói qua cho bà biết từng giáo sư dạy ra sao (bảo rằng ông thấy giáo sư dạy môn hình học “hơi khó tiếp thu”), và ông hứa sẽ giúp bà theo kịp bằng sự trợ giúp của những phần ghi chép bài giảng của ông và Marcel Grossmann. Có một vấn đề là bà sẽ không thể có lại được “căn phòng vừa ý trước đây” ở nhà trọ gần đó nữa. “Đáng đời em chưa, kẻ trốn chạy bé bỏng.”
Tháng Tư, bà quay lại, ở trong một nhà trọ cách chỗ ông vài dãy nhà, khi đó họ đã là một đôi uyên ương. Họ chia sẻ những cuốn sách, nhiệt huyết trí tuệ, những cử chỉ âu yếm và chìa khóa căn hộ của nhau. Một hôm, khi ông lại quên chìa khóa của mình và phải đứng ở ngoài, ông tới căn hộ của bà và mượn cuốn sách vật lý. Ông viết một tờ giấy nhỏ để lại cho bà: “Đừng giận anh nhé”. Cuối năm đó, một tờ giấy nhắn tương tự được để lại cho bà: “Nếu em không phiền thì tối nay anh muốn ghé qua đọc sách cùng em.”
Bạn bè ngạc nhiên khi thấy một người đàn ông cuốn hút và đẹp trai như Einstein, người có thể làm xiêu lòng hầu như mọi thiếu nữ, lại có tình cảm với một cô gái Serbia thấp bé, không xinh đẹp, chân đi khập khiễng và toát ra vẻ u buồn. Một người bạn học nói với ông: “Tôi sẽ chẳng bao giờ đủ dũng cảm để cưới một thiếu nữ nếu cô ấy không hoàn toàn khỏe mạnh.” Einstein trả lời: “Nhưng giọng cô ấy thật hay.”
Mẹ của Einstein, người quý mến Marie Winteler, cũng nghi ngờ tương tự về cô gái trí thức tóc sẫm màu đã thay thế vị trí của Marie. Einstein viết từ Milan, trong lần về thăm cha mẹ mình vào kỳ nghỉ xuân năm 1899: “Tấm ảnh của em gây ấn tượng với mẹ anh đấy. Trong khi mẹ xem kỹ tấm ảnh đó, anh đã nói với sự đồng cảm sâu sắc nhất: ‘Vâng, cô ấy chắc chắn là một người thông minh.’ Anh đã phải chịu bị trêu chọc về việc này nhiều rồi.”
Dễ thấy tại sao Einstein lại cảm thấy bị Marić hấp dẫn đến thế. Họ có tâm hồn đồng điệu, đều tự cho mình là những người học thức, bàng quan và là kẻ ngoài cuộc trước thời thế. Đều hơi nổi loạn trước những kỳ vọng của giới tư sản trung lưu, họ là hai trí thức tìm kiếm một người có thể là bạn, là đồng nghiệp và người đồng hành với mình. Einstein viết cho bà: “Chúng ta hiểu rõ bí mật của nhau, cùng nhau uống cà phê và ăn xúc xích, vân vân.”
Ông có cách làm cho từ vân vân nghe có vẻ tinh nghịch. Trong một bức thư khác, ông kết thúc: “Chúc em những lời tốt đẹp nhất, và vân vân – đặc biệt là chữ vân vân.” Sau vài tuần xa nhau, ông liệt kê những việc ông muốn làm với bà: “Chẳng bao lâu nữa anh sẽ lại được ở bên người yêu của anh và ôm cô ấy, hôn cô ấy, pha cà phê với cô ấy, rầy la cô ấy, học với cô ấy, cười với cô ấy, đi bộ với cô ấy, nói chuyện với cô ấy và cứ thế mãi!” Họ lấy làm kiêu hãnh về việc chia sẻ thói quen. Ông viết: “Anh vẫn là con người như trước đây, có nhiều ý thích cùng những trò nghịch ngợm và vẫn hay buồn như trước.”
Trên hết, Einstein yêu Marić vì trí tuệ của bà. Ông từng viết cho bà: “Anh sẽ tự hào biết mấy khi có một tấm bằng tiến sỹ nhỏ cho người yêu anh.” Khoa học và sự lãng mạn dường như đan xen nhau. Trong kỳ nghỉ với gia đình vào năm 1899, Einstein than thở trong một bức thư gửi Marić: “Khi anh đọc Helmholtz lần đầu, anh đã không thể – và giờ vẫn không thể – tin rằng mình làm như thế mà không có em ở bên. Anh thích mình làm việc cùng nhau và anh thấy như thế dễ chịu và đỡ nhàm chán hơn.”
Quả thực, phần lớn những bức thư của họ pha trộn giữa sự lãng mạn với nhiệt huyết khoa học, và khoa học thường được nhấn mạnh nhiều hơn. Chẳng hạn, trong một bức thư, ông không chỉ nói trước nhan đề, mà còn đề cập một số khái niệm trong bài báo vĩ đại của ông về Thuyết Tương đối hẹp. Ông viết: “Anh ngày càng tin rằng điện động lực học của các vật chuyển động như được trình bày hiện nay không đúng với thực tế, và có thể trình bày nó bằng cách đơn giản hơn. Việc đưa thuật ngữ ‘ê-te’ vào các lý thuyết về điện đã dẫn tới quan niệm về một môi trường mà chuyển động của nó có thể được mô tả nhưng lại không thể quy cho nó ý nghĩa vật lý được.”
Mặc dù sự pha trộn giữa trí tuệ và tình cảm này thu hút ông, nhưng thỉnh thoảng ông cũng nhớ tới sức hấp dẫn của mong ước giản đơn hơn ở Marie Winteler. Với sự không khéo léo mà ông tưởng là tính thật thà của mình (hoặc có lẽ vì ý thích tinh nghịch muốn khiến người khác phải ưu tư của ông), ông để Marić biết điều đó. Sau kỳ nghỉ hè năm 1899, ông quyết định đưa em gái mình đến học tại một ngôi trường ở Aarau, nơi Marie sống. Ông viết cho Marić và đảm bảo với bà rằng ông sẽ không dành nhiều thời gian bên bạn gái cũ của mình, nhưng lời hứa đó được viết một cách, có lẽ là cố ý, để gây lo lắng hơn là làm yên lòng. Ông viết: “Anh sẽ không tới Aarau thường xuyên nữa vì bây giờ người con gái anh từng yêu say đắm bốn năm trước sắp về nhà. Phần nhiều anh cảm thấy mình vẫn sẽ bình tĩnh được. Nhưng anh hiểu rằng nếu anh thấy cô ấy một vài lần nữa, anh chắc chắn sẽ phát điên lên mất. Anh chắc chắn về điều đó và sợ nó như sợ lửa vậy.”
Nhưng thật hạnh phúc cho Marić, bức thư tiếp tục với việc mô tả những gì họ sẽ làm khi đoàn tụ ở Zurich, trong đó có một đoạn Einstein chứng minh một lần nữa tại sao mối quan hệ của họ lại rất đặc biệt. Ông đề cập về một ngọn núi cao ở ngoại thành: “Điều đầu tiên chúng ta sẽ làm là leo lên ngọn Ütliberg.” Ở đó, họ có thể “vui vẻ hồi tưởng lại” về những việc họ đã cùng nhau làm trong những chuyến đi trước. Ông nói: “Anh có thể tưởng tượng được niềm vui chúng mình sẽ có”. Cuối cùng, với một đoạn bay bướm mà chỉ hai người mới hiểu hết ý nghĩa, ông kết luận: “Và rồi chúng mình sẽ bắt đầu với lý thuyết điện từ về ánh sáng của Helmholtz.”
Trong những tháng sau đó, những bức thư của họ trở nên thân mật và say đắm hơn. Ông bắt đầu gọi bà là Doxerl (Dollie), “cô gái bé nhỏ liều lĩnh của anh” và “cô gái lang thang của anh”. Bà gọi ông là Johannzel (Johnnie) và “người yêu nhỏ bé tinh quái của em”. Đầu năm 1900, họ sử dụng từ du thân mật với nhau, giai đoạn này bắt đầu với một bức thư bà gửi có nội dung đầy đủ như sau:
Johnnie nhỏ bé của em,
Vì em yêu anh quá nhiều và vì anh ở xa quá nên em không thể trao anh nụ hôn bé nhỏ. Em viết lá thư này để hỏi xem anh có thích em như em thích anh không? Trả lời em ngay nhé.
Ngàn chiếc hôn từ Dollie của anh.
Tốt nghiệp, tháng Tám năm 1900
Về mặt học thuật, mọi thứ đều diễn ra suôn sẻ với Einstein. Ông kết thúc kỳ thi giữa kỳ vào tháng Mười năm 1898 và đứng nhất lớp, với điểm trung bình là 5,7 theo thang điểm 6. Đứng thứ hai, với điểm trung bình 5,6, là người bạn và cũng là người ghi chép môn toán cho ông, Marcel Grossmann.
Để tốt nghiệp, Einstein phải thực hiện một đề tài nghiên cứu. Ban đầu, ông đề xuất với giáo sư Weber rằng ông sẽ tiến hành thí nghiệm đo tốc độ di chuyển của Trái đất qua ê-te, đây là chất giả định cho phép sóng ánh sáng truyền trong không gian. Hiểu biết được thừa nhận rộng rãi lúc đó, mà sau này ông bác bỏ bằng Thuyết Tương đối hẹp của mình, là nếu Trái đất chuyển động qua ê-te về phía nguồn tia sáng hoặc ra xa nguồn, ta có thể phát hiện sự khác biệt trong tốc độ ánh sáng quan sát được.
Trong suốt chuyến thăm Aarau cuối kỳ nghỉ hè năm 1899, ông nghiên cứu vấn đề này với Hiệu trưởng trường cũ của mình ở đó. Ông viết cho Marić: “Anh có một ý tưởng hay cho việc nghiên cứu cách thức mà chuyển động tương đối của một vật đối với ê-te ảnh hưởng tới vận tốc truyền ánh sáng.” Ý tưởng của ông bao gồm việc lắp đặt một thiết bị sử dụng các gương chéo “để ánh sáng từ một nguồn duy nhất sẽ được phản chiếu theo hai hướng khác nhau”, các gương này sẽ truyền một phần tia sáng theo hướng chuyển động của Trái đất, và phần còn lại của tia sáng sẽ vuông góc với nó. Trong một bài giảng về việc mình khám phá ra Thuyết Tương đối như thế nào, Einstein nhớ lại rằng ý tưởng của ông là tách ánh sáng, phản chiếu nó theo những hướng khác nhau, để xem có “sự khác biệt nào về năng lượng phụ thuộc vào việc hướng đó có cùng chiều với chuyển động của Trái đất qua ê-te hay không”. Ông cho rằng việc này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng hai pin nhiệt điện để kiểm tra sự khác biệt của nhiệt được sinh ra trong chúng.
Weber bác bỏ đề xuất này. Điều Einstein hoàn toàn không biết là có nhiều người đã tiến hành những thí nghiệm tương tự rồi, trong đó có hai người Mỹ là Albert Michelson23 và Edward Morley24, và chưa ai có thể phát hiện bất cứ bằng chứng nào về chất ê-te khó hiểu này – hay phát hiện rằng tốc độ ánh sáng thay đổi phụ thuộc vào chuyển động của người quan sát hay của nguồn sáng. Sau khi trao đổi đề tài này với Weber, Einstein đã đọc một bài do Wilhelm Wien25 mang tới năm trước, bài báo này mô tả ngắn gọn 13 thí nghiệm đã từng được tiến hành để phát hiện ê-te, bao gồm cả thí nghiệm của Michelson-Morley.
Einstein đã gửi cho giáo sư Wien bài báo theo hướng phỏng đoán của mình về chủ đề đó và đề nghị Wien hồi đáp. Einstein kể với Marić phỏng đoán của mình: “Ông ấy sẽ viết thư và gửi đến trường Bách khoa cho anh. Nếu em thấy có thư gửi cho anh ở đó, em có thể đến lấy và mở nó ra.” Không có bằng chứng nào cho thấy Wien viết thư trả lời.
Đề xuất nghiên cứu tiếp theo của Einstein liên quan tới việc khám phá mối liên kết giữa khả năng dẫn nhiệt và dẫn điện của các chất khác nhau, một đề tài được gợi ý bởi thuyết electron. Weber rõ ràng cũng không thích ý tưởng đó, vì vậy Einstein buộc phải thực hiện một nghiên cứu đơn thuần về dẫn nhiệt, một trong những chuyên môn của Weber, cùng với Marić.
Sau này, Einstein thường gạt những bài nghiên cứu tốt nghiệp này đi và cho là chúng “không hề hấp dẫn” ông. Weber cho Einstein và Marić điểm luận văn thấp nhất lớp, lần lượt là 4,5 và 4 còn Grossmann được 5,5. Weber gây khó chịu thêm bằng cách nói rằng Einstein không viết bài nghiên cứu trên loại giấy chuẩn theo quy định, và bắt Einstein phải chép lại toàn bộ luận văn.
Mặc cho điểm luận văn thấp, ông vẫn đạt điểm trung bình tốt nghiệp là 4,9, giúp ông đứng thứ tư trong lớp năm người. Mặc dù lịch sử bác bỏ huyền thoại hấp dẫn rằng ông bị trượt môn toán ở trường trung học, nhưng ít nhất nó cũng mang tới một điều thú vị như là một niềm an ủi rằng ông tốt nghiệp cao đẳng với điểm số gần như thấp nhất lớp.
Chí ít thì ông cũng tốt nghiệp được. Điểm trung bình 4,9 của ông vừa đủ để ông nhận được tấm bằng chính thức vào tháng Bảy năm 1900. Tuy nhiên, Mileva Marić chỉ được 4,0, thấp nhất lớp và không được tốt nghiệp. Bà quyết tâm sẽ cố gắng thi lại vào năm sau.
Chẳng có gì ngạc nhiên, những năm tháng của Einstein tại trường Bách khoa được đánh dấu bằng niềm tự hào của ông khi tự cho mình là người bất phục tùng. Một người bạn cùng lớp nhớ lại: “Một ngày nọ, tinh thần độc lập của anh ấy đã bộc lộ trong lớp khi giáo sư nhắc đến biện pháp kỷ luật nhẹ mà các lãnh đạo trường áp dụng.“ Einstein đã phản đối. Ông cảm thấy rằng yêu cầu cơ bản của giáo dục phải là “đảm bảo tự do học thuật”.
Trong suốt cuộc đời mình, Einstein luôn dành cho trường Bách khoa Zurich những lời tốt đẹp, nhưng ông cũng viết rằng ông không thích kỷ luật gắn liền với hệ thống thi cử. Ông nói: “Tất nhiên, vướng mắc ở đây là người ta phải nhồi nhét tất cả kiến thức vào đầu của sinh viên để phục vụ cho kỳ thi bất kể sinh viên có thích hay không. Sự ép buộc này có tác hại là gây trở ngại lớn đến độ, sau khi vượt qua kỳ thi cuối cùng, tôi vẫn thấy việc phải xem xét bất cứ vấn đề khoa học nào cũng khiến mình khó chịu trong suốt một năm.”
Trên thực tế, điều này không thể nào xảy ra và cũng không đúng. Sau vài tuần là ông đã hồi phục, và ông rốt cuộc đã mang theo một số cuốn sách khoa học, trong đó có những cuốn sách của Gustav Kirchhoff và Ludwig Boltzmann khi cùng mẹ và em gái đi nghỉ hè tại dãy Alps ở Thụy Sĩ vào cuối tháng Bảy. Ông viết cho Marić: “Anh đã nghiên cứu được rất nhiều, chủ yếu là những nghiên cứu nổi tiếng của Kirchoff về chuyển động của vật rắn.” Ông thừa nhận rằng sự bực mình của ông đối với kỳ thi không còn nữa. Ông viết: “Anh đã lấy lại bình tĩnh rồi, vì vậy anh có thể vui vẻ làm việc trở lại. Còn công việc của em thì sao?”