GÃ HỀ MA QUÁI

Lượt đọc: 10396 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19
đêm khuya thanh vắng
1

Thư viện công cộng Derry/ 1 giờ 15 phút sáng

Khi Ben Hanscom kể xong câu chuyện về những viên đạn bạc, cả nhóm đều muốn trao đổi tiếp nhưng Mike đề nghị mọi người về ngủ cho lại sức. “Các cậu đón nhận thế này là đủ rồi,” anh nói, song trông Mike mới là người đã phải đón nhận nhiều thứ nhất, khuôn mặt anh mệt mỏi rã rời, đến độ Beverly còn nghĩ anh như đổ bệnh đến nơi.

“Nhưng chúng ta đã xong đâu,” Eddie lên tiếng. “Phần ký ức còn lại thì sao? Tớ vẫn chưa nhớ…”

“Mike nói đ-đ-đúng đấy,” Bill ngắt lời. “Chúng ta sẽ nhớ ra hoặc kh-không. Tớ nghĩ s-sớm muộn ta sẽ nhớ thôi. Ta đã nhớ ra những gì c-cần nhớ.”

“Có lẽ đó là những ký ức hữu dụng với chúng ta?” Richie nêu ý kiến.

Mike gật đầu. “Ngày mai mình gặp nhau nhé.” Đoạn anh liếc nhìn đồng hồ. “Ý tớ là lát nữa.”

“Ở đây à?” Beverly hỏi.

Mike chậm rãi lắc đầu. “Tớ nghĩ bọn mình nên hẹn nhau ở đường Kansas, nơi Bill hay giấu xe đạp ngày trước.”

“Chúng ta sẽ đi vào Vùng Đất Cằn sao?” Eddie nói và chợt rùng mình.

Mike lại gật đầu.

Có một khoảng lặng trong lúc mọi người đưa mắt nhìn nhau. Đoạn Bill đứng dậy, cả nhóm lục tục đứng dậy theo.

“Tớ muốn tất cả các cậu hết sức cẩn trọng trong đêm nay,” Mike dặn dò. “Nó đã đến đây rồi! Nó có thể xuất hiện ở bất cứ nơi nào các cậu có mặt. Nhưng cuộc gặp này khiến tớ thấy tươi sáng hơn.” Anh nhìn Bill. “Tớ xin khẳng định là ta vẫn có thể ra tay, cậu có cho là vậy không Bill?”

Bill chậm rãi gật đầu. “Ừ. Tớ cũng nghĩ rằng bọn mình vẫn có thể ra tay.”

“Nó cũng sẽ biết điều đó,” Mike nói, “và Nó sẽ không từ thủ đoạn để chiếm thế thượng phong mà dễ bề lộng hành.”

“Vậy nếu Nó xuất hiện thì chúng ta làm gì?” Richie hỏi. “Bịt mũi, nhắm mắt, quay tới quay lui ba lần và nghĩ đến những điều tốt đẹp à? Hay thổi bụi ma thuật vào mặt Nó? Hát mấy bài hát xưa của Elvis Presley? Hay gì?”

Mike lắc đầu. “Nếu tớ có thể cho cậu câu trả lời thì đã chẳng có vấn đề rồi, đúng không? Tất cả những gì tớ biết là có một thế lực khác - chí ít lúc chúng ta còn bé là thế – muốn chúng ta sống sót và thực hiện nhiệm vụ này. Có thể thế lực ấy vẫn còn tồn tại.” Anh nhún vai đầy bải hoải. “Tớ đã nghĩ hai hay thậm chí ba người trong số các cậu sẽ biến mất lúc chúng ta bắt đầu buổi gặp tối nay. Mất tích hoặc có khi mất mạng. Nhưng nhìn thấy các cậu bình an vô sự xuất hiện như thế này, tớ có thêm lý do để nuôi hy vọng.”

Richie nhìn đồng hồ. “1 giờ 15 rồi. Thời gian trôi như con thoi khi ta vui chơi, Haystack nhỉ?”

“Bíp bíp, Richie,” Ben nói và khẽ mỉm cười.

“Cậu có muốn đi bộ về Nh-Nh-Nhà nghỉ với tớ không, Beverly?” Bill hỏi.

“Được thôi.” Cô khoác áo. Giờ đây, thư viện sao thật tĩnh lặng, tối tăm và đáng sợ. Bill cảm thấy hai ngày vừa rồi vồ vập ập đến cùng lúc, đè nặng lên lưng anh. Nếu chỉ là mệt mỏi thì chẳng nói làm gì, đằng này nó không dừng lại ở đó: anh cảm thấy mình như phát rồ, nằm mơ, gặp ảo giác hay hoang tưởng. Anh có cảm giác mình đang bị theo dõi. Khéo thật ra mình chẳng có mặt ở đây, anh nghĩ. Có khi mình đang ở trong bệnh viện tâm thần của bác sĩ Seward, ngay sát căn nhà đổ nát của Bá tước Dracula, Renfield đứng bên kia phòng, hắn bày đủ trò với đám ruồi, còn mình chống chọi với quái vật, cả hai bọn mình đều đinh ninh bữa tiệc sắp diễn ra, ăn diện hết sức bảnh bao, nhưng không phải điện áo đuôi tôm mà là áo của bệnh nhân tâm thần.

Bill đang nhắc tới các nhân vật trong tiểu thuyết Dracula của Bram Stoker. Bác sĩ Seward là một nhân vật chuyên thí nghiệm trên người, Renfield là một bệnh nhân tâm thần ăn ruồi và dùng ruồi để bẫy các động vật khác để ăn thịt.

“Còn cậu thì sao, R-Richie?”

Richie lắc đầu. “Tớ sẽ nhờ Haystack và Kaspbrak đưa tớ về nhà,” anh nói. “Nhỉ, các bạn hiền?”

“Được thôi,” Ben đáp. Anh liếc nhìn Beverly, lúc ấy đang đứng gần Bill, và cảm thấy lòng mình khẽ nhói đau, một cảm giác anh đã quên bẵng từ lâu. Mảnh ký ức mới rung lên, suýt chút nữa trong tầm tay anh nhưng lại trôi dạt đi xa.

“Cậu thì sao, M-M-Mike?” Bill hỏi. “Cậu có muốn đi bộ cùng Bev và t-tớ không?”

Mike lắc đầu. “Tớ phải…”

Đúng lúc ấy, bỗng dưng Beverly thét lên, tiếng gào rít đầy tổn thương giữa màn đêm tịch mịch. Mái vòm trên đầu đưa tiếng thét lên cao, âm vang tựa tiếng cười của nữ thần báo tử, lượn vòng vòng, vỗ cánh quanh họ.

Bill quay sang nhìn cô; Richie đánh rơi áo khoác lúc nhấc áo khỏi lưng ghế; đoạn tiếng choang chát chúa vang lên khi tay của Eddie thả chai rượu gin trống không xuống sàn.

Beverly lùi khỏi nhóm bạn, hai tay chìa ra phía trước, mặt cắt không còn một giọt máu. Đôi mắt trũng sâu trong hai hốc mắt tím đen trợn trừng. “Tay tớ!” Cô gào lên. “Tay tớ!”

“Có chuyện…” Bill nói chưa hết câu thì nhìn thấy máu chảy ra từ những ngón tay run cầm cập của cô. Dợm tiến lại, chợt anh cảm nhận được những đường rạch ấm nóng và nhói đau trong tay mình. Cơn đau không nhức nhối mà âm ỉ như thỉnh thoảng ta cảm nhận từ vết thương cũ đã lành.

Những vết sẹo cũ trong lòng bàn tay anh, đột nhiên xuất hiện trở lại lúc anh còn ở Anh Quốc, đã toác máu. Anh đưa mắt nhìn sang bên thì thấy Eddie Kaspbrak ngẩn ngơ nhìn xuống hai tay mình. Tay của bạn anh đang chảy máu. Tay Mike, Richie và Ben cũng tương tự.

“Chúng ta sẽ chiến đấu đến tận cùng, phải không?” Beverly hỏi. Nước mắt tuôn rơi trên má cô. Tiếng khóc như khuyếch đại trong thư viện trống trải tĩnh lặng, cả tòa kiến trúc như đang khóc than cùng cô. Bill thầm nhủ trong đầu, nếu phải nghe âm thanh này suốt khoảng thời gian dài, chắc anh sẽ phát điên mất. “Chúa giúp chúng ta, vì chúng ta sẽ chiến đấu đến cùng.” Cô nghẹn ngào rơi lệ, không chỉ nước mắt mà cả nước mũi cũng trào ra ở một bên. Cô đưa mu bàn tay đang run cầm cập của mình lên chùi khiến máu càng thêm lỏng tỏng xuống sàn.

“Nh-Nh-Nhanh lên!” Bill lên tiếng, đoạn chộp lấy tay của Eddie.

“Sao kia…”

“Nhanh lên?”

Anh chìa tay còn lại ra, và giây sau, Beverly nắm lấy. Nước mắt cô vẫn không ngừng lã chã.

“Phải, Mike nói. Anh có vẻ mơ màng - tựa hồ người đang phê thuốc. “Phải, là vậy phải không? Mọi chuyện sắp tái diễn phải không Bill? Mọi chuyện lại sắp xảy ra rồi.”

“Ph-Ph-Phải, tớ ngh-nghĩ vậy…”

Mike nắm tay Eddie, Richie nắm tay còn lại của Beverly. Ben chỉ ngây ra nhìn mọi người, đoạn anh bần thần như kẻ mộng du giơ hai bàn tay đầy máu của mình sang hai bên và bước vào giữa Mike và Richie. Anh nắm chặt lấy tay bạn. Vòng tròn khép kín.

(Ôi Chüd đây là nghi thức Chüd và con Rùa chẳng thể nào giúp chúng ta)

Bill toan thét lên nhưng cổ họng cứng đờ. Anh thấy đầu của Eddie ngửa ra sau, gân cổ nổi lên bần bật. Bev đánh hông hai lần đầy mạnh bạo, như thể cô đang lên đỉnh thật nhanh và bén như khẩu súng 22 vừa phát nổ. Miệng của Mike méo xệch dị dạng, trông như nửa cười nửa nhăn mặt. Trong thư viện yên tĩnh, cửa bập bùng mở ra rồi đóng sập, tiếng động phát ra như quả bóng bowling lăn. Trong phòng Đọc, tạp chí ào ào bay dù tịnh không một cơn gió. Trong văn phòng của Carole Banner, máy đánh chữ IBM của thư viện rẹt rẹt khởi động và tự chạy chữ:

anhđấm

tayvào

cột nhàlaoaioáirằng mìnhgặp

maanhđấmtayvào

Viên bi đánh chữ bị kẹt. Máy đánh chữ xoèn xoẹt và phát ra tiếng điện tử thô kệch khi mọi thiết bị bên trong trở nên quá tải. Trong dãy số 2, kệ sách chứa đầy các đầu sách huyền bí chợt đổ nhào, khiến sách của Edgar Cayce, Nostradamus, Charles Fort và kinh Ngụy tác vương vãi khắp nơi.

Bill cảm thấy quyền uy trào dâng trong người mình. Anh lờ mờ nhận ra mình đang cương lên, và tóc anh dường như dựng đứng. Cảm giác quyền uy trong vòng tròn khép kín này thật vô tiền khoáng hậu.

Bất thình lình, mọi cánh cửa trong thư viện đóng sầm cùng lúc.

Đồng hồ quả lắc rất to dựng đằng sau bàn mượn sách đánh chuông.

Và rồi cảm giác ấy biến mất, như thể vừa có người gạt công tắc.

Cả nhóm buông tay, đưa mắt nhìn nhau, choáng váng. Không ai nói gì. Khi cảm giác quyền uy rút đi như con sóng, Bill thấy lòng mình úa màu sợ hãi. Anh nhìn những khuôn mặt trắng bệch, mệt mỏi của các bạn rồi cúi xuống nhìn hai bàn tay mình. Máu vẫn vương ở đó, nhưng vết thương mà Stan Uris từng rạch bằng mảnh chai Coca-Cola sắc nhọn vào tháng Tám năm 1958 đã khép miệng, chỉ để lại những đường màu trắng ngoằn ngoèo như sợi dây xoắn vào nhau. Anh thầm nghĩ: Hôm ấy là lần cuối cùng bảy người bọn mình có mặt cùng nhau… cái ngày Stan rạch tay cả bọn ở Vùng Đất Cằn. Stan không có mặt ở đây, cậu ấy mất rồi. Và đây là lần cuối cùng sáu người bọn mình được tụ hội bên nhau. Mình biết điều đó, hay nói đúng hơn, mình cảm nhận được điều đó.

Beverly tiến sát đến bên anh, người run cầm cập. Bill vòng một tay ôm lấy cô. Mọi người đều nhìn anh, đôi mắt mở to, sáng bừng trong ánh đèn dìu dịu, cái bàn dài nơi họ ngồi ban nãy lộn xộn chai rượu đã cạn, ly thủy tinh, gạt tàn đầy ắp, tựa hồ một hòn đảo ánh sáng tí hon.

“Thế là đủ rồi,” Bill khàn khàn lên tiếng. “Đủ vui thú cho cả đêm rồi. Bọn mình để dành buổi khiêu vũ cho dịp tới nhé.”

“Tớ nhớ ra rồi,” Beverly nói. Cô ngước nhìn Bill, hai mắt trừng trừng, gò má ươn ướt nhợt nhạt. “Tớ nhớ ra tất cả rồi. Bố tớ phát hiện các cậu. Chúng mình chạy trốn. Bowers, Criss và Huggins. Tớ thoát thân ra sao. Đường cống ngầm… đám chim… Nó… tớ nhớ ra tất cả rồi .”

“Ừ” Richie lên tiếng. “Tớ cũng vậy.”

Eddie gật đầu. “Trạm bơm…”

“Và giờ Eddie…” Bill nói.

“Về thôi,” Mike chen ngang. “Các cậu nghỉ chút đi. Khuya lắm rồi.”

“Thôi. Tớ phải khóa cửa thư viện. Và tớ phải viết vài điều… Nếu muốn, các cậu có thể gọi đó là biên bản cuộc họp. Tớ viết nhanh rồi về ngay. Các cậu cứ đi trước đi.”

Cả nhóm tiến về phía cửa, chẳng ai nói lời nào. Bill và Beverly đi cùng nhau; Eddie, Richie và Ben ở phía sau. Bill giữ cửa và cô thì thầm cảm ơn. Khi cô bước xuống bậc tam cấp bằng đá granite rộng thênh thang, anh chợt nghĩ sao cô trông trẻ trung đến thế, mỏng manh đến thế… Anh ái ngại nhận ra lòng mình đang chếnh choáng men tình trước cô. Anh cố nghĩ về Audra nhưng sao bóng hình vợ anh lại xa xôi đến thế. Khéo lúc này, khi vầng đông ửng hồng và người giao sữa bắt đầu công việc, cô đang khóc nỉ non trong căn nhà của họ ở Fleet.

Bầu trời Derry lại đầy mây, màn sương bảng lảng như những con suối trắng muốt trườn qua nẻo đường vắng ngắt. Xa xa là Nhà Cộng đồng Derry, tòa nhà xây theo lối Victoria vừa cao vừa hẹp, trầm mặc trong đêm tối. Bill thầm nhủ, Bất kể thứ gì bước đi trong Nhà Cộng đồng thì chỉ bước đi đơn côi. Anh phải ngăn mình không phá lên cười khúc khích. Tiếng chân của họ vang vọng quá. Tay của Beverly chạm vào tay anh, và Bill nắm lấy, lòng đầy biết ơn.

Ở đây Bill đang nhắc đến câu văn trong tác phẩm The Haunting of Hill House của Shirley Jackson.

“Mọi chuyện bắt đầu khi chúng ta còn chưa kịp sẵn sàng,” cô trầm ngâm.

“Liệu chúng ta có kh-khi nào s-sẵn sàng ư?”

“Cậu thì có, Bill ạ.”

Cái nắm tay của cô chợt trở nên tuyệt vời và cần thiết xiết bao. Anh tự hỏi cảm giác sẽ ra sao nếu anh được chạm vào ngực cô lần thứ hai trong đời, anh đồ rằng mình sẽ biết câu trả lời trước khi đêm nay kết thúc. Khuôn ngực cô sẽ đầy đặn hơn, trưởng thành hơn… tay anh sẽ chạm vào lớp lông khi anh ấp ủ gò vệ nữ của cô. Anh thầm nghĩ trong đầu mình: Tớ yêu cậu, Beverly ạ… Tớ yêu cậu. Ben cũng yêu cậu… ngày trước hay bây giờ cũng vậy. Tất cả mọi người từ trước đến nay đều yêu cậu. Phải yêu thôi, vì mọi thứ đang bắt đầu. Chúng ta chẳng còn đường lui nữa rồi.

Anh liếc ra sau và trông thấy mình đã cách thư viện nửa dãy nhà. Richie và Eddie đứng ở bậc tam cấp trên cùng; Ben đứng dưới, nhìn theo bọn họ. Anh đút hai tay vào túi quần, vai khuỳnh khuỳnh, qua những dải sương mờ là là trên mặt đất, trông anh như trở lại thành cậu bé mười một tuổi năm xưa. Nếu có thể thần giao cách cảm với Ben, Bill sẽ nói: Nó chẳng quan trọng đâu, Ben ạ. Tình yêu mới là thứ quan trọng, nâng niu… khát khao mới là yếu tố tiên quyết chứ không phải thời điểm. Có lẽ chúng ta chỉ cần mang theo chừng đó thứ khi bước ra khỏi sắc xanh và tiến vào đêm tối. Cảm giác dễ chịu ấy lạnh lẽo quá, nhưng có còn hơn không.

“Ngày ấy, bố tớ phát hiện,” Beverly chợt lên tiếng. “Tớ trở về từ Vùng Đất Cằn được một ngày thì bố tớ phát giác. Tớ đã bao giờ kể với cậu lời ông ấy bảo với tớ khi ông ấy tức giận chưa nhỉ?”

“Ông ấy nói gì?”

“Bố lo cho con lắm, Bevvie.” Ngày xưa, ông ấy hay nói thế. “Bố lo cho con rất nhiều .” Cô vừa phá lên cười vừa run lẩy bẩy. “Tớ nghĩ ông ấy đã cố tình tấn công tớ, Bill ạ. Ý tớ là… trước đó, ông ấy từng đánh đập tớ rồi, nhưng lần ấy, lần cuối cùng ấy lại khác. Nói sao nhỉ… lúc đó, bố tớ lạ lắm. Tớ thương bố. Tớ thương ông ấy rất nhiều, nhưng…”

Cô nhìn anh, dường như muốn anh nói hộ tiếng lòng mình. Song anh không lên tiếng, bởi đó là điều sớm muộn chính cô phải thốt lên, vì bản thân mình. Nói dối và tự lừa bản thân chẳng khác nào những hòn đá tảng sẽ trì bạn xuống.

“Tớ cũng căm ghét ông ấy,” cô tiếp tục, tay run rẩy ghì lấy tay Bill suốt một lúc lâu. “Chưa lần nào trong đời tớ nói với ai điều đó. Tớ cứ nghĩ Chúa sẽ cho sét đánh chết tớ nếu tớ dám phát ngôn như vậy.”

“Vậy cậu hãy nói thêm một lần nữa đi.”

“Không, tớ…”

“Nào. Nói ra rất đau, nhưng có khi nó đã mưng mủ trong lòng cậu lâu lắm rồi. Cậu nói ra đi.”

“Tớ căm ghét bố tớ,” cô nói, không kìm nổi nước mắt. “Tớ căm ghét ông ta, tớ sợ ông ta, tớ căm ghét đến tận xương tủy, tớ chẳng bao giờ là đứa con ngoan vừa mắt bố tớ, tớ ghét ông ta lắm, ghét lắm, nhưng tớ cũng thương ông ấy.”

Anh dừng chân và ôm chặt cô vào lòng. Tay cô hoảng sợ bấu víu lấy anh. Nước mắt cô ướt đầm cổ anh. Anh cảm nhận thật rõ cơ thể cô, căng tràn và săn chắc. Anh khẽ dịch người khỏi cô vì không muốn cô phát hiện anh đang dần cương lên… nhưng rồi cô tiến tới, áp sát vào anh.

“Ngày hôm ấy, bọn mình ở Vùng Đất Cằn suốt buổi sáng,” cô nói, “chơi đuổi bắt hay gì đó thì phải. Một trò chơi vô hại. Thậm chí bọn mình còn không nói gì về Nó, chí ít là lúc đó… mà có một khoảng thời gian, mở miệng ra là bọn mình lại bàn về Nó. Cậu có nhớ không?”

“Ừ,” anh đáp. “Có một kh-kh-khoảng như thế. Tớ nhớ.”

“Trời giăng đầy mây… nóng bức. Bọn mình chơi cả buổi sáng. Sau đó, chừng 11 giờ 30 phút, tớ về nhà. Tớ định ăn bánh bánh mì kẹp hoặc chén canh trước khi tắm táp rồi quay lại chơi với mọi người. Lúc ấy đang là giờ làm việc của bố mẹ tớ. Vậy mà bố tớ lại có mặt ở nhà. Ông ta

2

Đường Chính Phố Dưới/ 11 giờ 30 phút trưa

hất cô văng qua căn phòng lúc cô còn chưa kịp bước chân qua cửa. Cô giật mình thét lên thất thanh, nhưng tiếng hét nghẹn lại khi vai đập phải bức tường đau đến tê tái. Cô ngã vật ra chiếc ghế sô pha lún lõm trong phòng, cuống cuồng đưa mắt nhìn quanh. Cánh cửa dẫn ra sảnh trước đóng sập lại. Bố cô đang đứng ngay cửa.

“Bố lo cho con lắm, Bevvie,” lão nói. “Thỉnh thoảng, bố lo cho con rất nhiều . Con biết vậy mà. Bố hay nói với con như vậy, có đúng không? Con biết rõ điều đó.”

“Bố ơi, có chuyện…”

Lão từ từ bước qua phòng khách, tiến lại gần cô, nét mặt trầm tư, buồn rầu và đầy chết chóc. Cô không muốn thấy vẻ mặt ấy kéo dài, nhưng nó cứ ở đó, như bụi bẩn lóe lên trên mặt nước phẳng lặng. Lão gặm khớp ngón tay phải đầy tư lự. Lão mặc bộ đồ ka ki, và khi liếc xuống, cô trông thấy đôi giày cao cổ của lão dây bẩn lên tấm thảm của mẹ. Mình phải hút bụi cho sạch, cô mơ hồ ngẫm nghĩ. Hút cho sạch đất cát. Nếu bố để mình hút bụi. Nếu bố…

Đó là bùn. Bùn đen. Tâm trí cô cuống lên cảnh báo. Ban nãy, cô chơi ở Vùng Đất Cằn với Bill, Richie, Eddie và mọi người trong nhóm. Dưới Vùng Đất Cằn có loại bùn đen lầy nhầy giống y như bùn dính trên giày của bố cô, ở khu vực đầm lầy nơi những bụi cây mà Richie hay gọi là tre mọc ken dày, trắng hếu như xương. Khi gió thổi qua, thân cây cọ vào nhau lạch cạch vô hồn, tạo nên thứ âm thanh tựa như trống trong nghi lễ tà thuật, và lẽ nào bố cô đã xuống Vùng Đất Cằn? Lẽ nào bố cô…

CHÁT!

Tay lão vụt như tên bắn theo một quỹ đạo thật rộng và giáng xuống mặt cô. Đầu cô bật ngửa vào tường. Lão móc ngón trỏ vào thắt lưng rồi nhìn cô với vẻ mặt tò mò, xa rời thực tại và nguy hiểm chết người. Cô cảm nhận máu nóng hổi rỉ xuống khóe môi bên trái của mình.

“Bố đã nhìn con khôn lớn,” lão lên tiếng, và cô cứ tưởng lão sẽ nói thêm gì đó, nhưng không, câu nói chỉ bỏ lửng ở đó.

“Bố, bố đang nói gì vậy?” cô run run thều thào hỏi.

“Nếu con nói dối bố, bố sẽ đập con thừa sống thiếu chết, Bevvie,” lão nói, và cô hãi hùng nhận ra lão không nhìn thẳng vào mặt mình mà chĩa mắt qua đầu cô, lom lom vào bức tranh treo tường của nhà in Currier and Ives trên sô pha. Tâm trí cô quay cuồng trong điên loạn, rồi cô thấy cảnh tượng lúc mình bốn tuổi, ngồi trong bồn tắm với cái thuyền nhựa màu xanh và cục xà phòng Popeye; bố cô, to lớn, đong đầy tình thương, quỳ gối bên cạnh cô, mặc quần vải chéo xám và áo ba lỗ, một tay cầm khăn, tay kia cầm ly sô-đa cam, vừa cọ lưng cho cô vừa nói, Để bố xem tai cho con nào, Bevvie; lấy ráy tai để mẹ còn đem nấu chứ. Và cô có thể nghe thấy cô bé con ngày xưa cười khúc khích, ngước nhìn khuôn mặt dạn dày sương gió của bố; khuôn mặt mà lúc bé, cô cứ ngỡ sẽ mãi trường tồn.

“Con… con sẽ không nói dối,” cô nói. “Có chuyện gì vậy bố?” Hình ảnh bố trước mắt cô dần nhòe đi khi lệ trào khóe mi.

“Con xuống Vùng Đất Cằn với một đám con trai phải không?”

Cô đứng tim; mắt nhìn xuống đôi giày bám đầy bùn của bố mình. Thứ bùn đen thui, bết dính. Nếu bước sâu vào đó, bùn lầy sẽ kéo giày của ta tuột ra ngay… Richie với Bill đều cho rằng nếu tiến sâu vào trong, đầm lầy sẽ biến thành bùn lún.

“Thỉnh thoảng con xuống chơi ở…”

Chát! Bàn tay chai sần của lão lại giáng xuống mặt cô. Cô thét lên đau đớn và đầy sợ hãi. Vẻ mặt của lão làm cô phát hoảng, và việc lão không buồn nhìn vào mặt cô lại càng khiến cô sợ hãi hơn. Lão ta có vấn đề rồi. Bố cô càng lúc càng kinh khủng… Nhỡ đâu lão ta thật sự muốn giết cô thì sao? Nhỡ đâu

(ôi dừng lại ngay Beverly ông ấy là BỐ mày và CÁC ÔNG BỐ không giết CON GÁI của mình)

lão ta mất kiểm soát thì sao? Nhỡ đâu…

“Con để chúng nó làm gì rồi?”

“Làm gì là sao ạ…” Cô chẳng hiểu ý lão là gì. “Cởi quần ra.”

Cô càng lúc càng bối rối. Lời bố nói chẳng ăn nhập gì với nhau. Nội việc chạy theo những gì lão thốt ra đã đủ khiến cô… xây xẩm, phải, chính là cảm giác ấy.

“Gì kia ạ… tại sao…?”

Lão giơ tay lên; cô rụt người lại. “Cởi ra ngay, Bevvie. Tao muốn xem mày còn nguyên vẹn hay không.”

Và rồi một hình ảnh mới, điên rồ hơn tất thảy hiện lên trong tâm trí cô: cô hình dung mình đang cởi quần jean thì một chân đứt ra. Bố cô chạy quanh phòng đánh đập cô trong lúc cô cố nhảy lò cò thoát thân bằng chân còn lại, lão la hét ỏm tỏi: Tao biết mày không còn nguyên vẹn mà! Tao biết ngay! Tao biết ngay!

“Bố ơi, con không biết…”

Tay lão nhào xuống, nhưng lần này cô không ăn tát mà bị siết thật mạnh. Tay lão bấu vào vai cô cuồng nộ. Cô hét lên. Lão kéo cô đứng dậy, và lần đầu tiên, lão nhìn thẳng vào mắt cô. Một lần nữa, cô bất giác thất thanh khi thấy cảnh tượng trong mắt bố. Hoàn toàn trống rỗng. Đây không còn là bố cô nữa rồi. Và Beverly chợt hiểu cô đang ở một mình trong căn nhà này với Nó, một mình với Nó trong buổi sáng tháng Tám biếng nhác ấy. Cô không cảm nhận được sức mạnh đặc quánh và độc ác thuần túy như trong căn nhà trên đường Neibolt một tuần rưỡi trước đó – cái ác nghiệt của Nó đã bị căn tính của bố cô dung hòa ít nhiều – nhưng Nó vẫn hiện diện ở đây, phát lộ qua con người lão.

Lão hất cô sang một bên. Cô đập người vào bàn, vấp té và ngã nhào xuống sàn với tiếng la. Mọi chuyện xảy ra như thế, cô thầm nghĩ. Mình sẽ nói với Bill để cậu ấy hiểu. Nó hiện diện khắp nơi ở Derry. Nó… Nó tràn vào những nơi trống rỗng, chỉ có thế mà thôi.

Cô lộn một vòng. Bố đang tiến lại về phía cô. Cô lê đũng quần jean lùi khỏi lão, tóc vương cả vào mắt.

“Tao biết mày xuống đó,” lão lên tiếng. “Người ta mách tao. Nhưng tao không tin. Tao không tin cô con gái Bevvie của tao lại đàn đúm với một đám con trai. Và rồi sáng nay, tao tận mắt chứng kiến con gái tao chơi bời với cả nhóm toàn con trai. Còn chưa mười hai tuổi mà mày đã học đòi chơi với một đám con trai rồi cơ đấy!” Dường như suy nghĩ ấy khiến lão nổi cơn tam bành mới; phẫn nộ rần rật chạy khắp thân người gầy gò của lão như điện giật. “Mày còn chưa mười hai tuổi!” Lão gầm lên rồi đá một cú vào đùi cô khiến cô la lớn. Hàm lão nghiến ken két trước sự thật hoặc ý niệm hay bất kể suy nghĩ gì mà lão đang ngẫm trong đầu như hàm con chó đói chực chờ miếng thịt. “Mày còn chưa mười hai tuổi! Chưa mười hai tuổi! Chưa MƯỜI HAI tuổi!”

Lão lại tung cú đá. Beverly loạng choạng chạy trốn. Hai bố con bước vào nhà bếp. Giày lao động của lão đập vào ngăn tủ dưới lò khiến xoong nồi chén bát bên trong lanh canh.

“Ai cho mày chạy trốn tao hả Bevvie,” lão nói. “Mày mà làm thế thì tao sẽ cho mày biết thế nào là lễ độ. Mày liệu mà tin đi. Mày liệu mà tin bố mày đi. Chuyện này rất nghiêm trọng. Mày đàn đúm với cả đám con trai và để cho chúng làm đủ trò với mày – trong khi mày còn chưa mười hai tuổi – tình hình rất nghiêm trọng, có Chúa chứng giám.” Lão chộp lấy cô và kéo vai bắt cô đứng dậy.

“Mày xinh xắn thế này kia mà,” lão thủ thỉ. “Có khối người sẽ sướng rơn khi chăn được một đứa con gái xinh. Và đầy những đứa con gái xinh sẵn sàng để kẻ khác chăn mình. Mày có tỏ ra đàng điếm trước mặt chúng nó không đấy, Bevvie?”

Cuối cùng, cô đã hiểu Nó tiêm nhiễm vào đầu bố cô thứ gì… có điều một phần trong cô biết suy nghĩ ấy đã bén rễ ở đó bấy lâu nay; Nó chỉ tận dụng những công cụ sẵn có, mong chờ được phát huy tác dụng mà thôi.

“Không có, bố ơi. Con không có…”

“Tao đã thấy mày hút thuốc!” Lão gầm lên. Lần này, gã quất lòng bàn tay vào người cô, mạnh đến độ cô lảo đảo lùi lại như kẻ say về phía bàn bếp rồi ngã sõng soài, thắt lưng nhói đau như lửa đốt. Lọ muối và tiêu rơi xuống sàn. Lọ tiêu vỡ tan tành. Những bông hoa màu đen nở bung rồi biến mất trước mắt cô. Âm thanh nghe thật sâu. Cô trông thấy bố. Trên mặt lão có nét gì đó, Lão đang nhìn vào ngực của cô. Cô chợt ý thức áo cánh mình mặc đã phanh ra, vài cái nút bị bung mà cô lại không mặc áo ngực… hay nói đúng hơn là chưa mặc, cô chỉ có mỗi một chiếc áo lá. Tâm trí cô nhớ lại lúc cả bọn bước vào căn nhà trên đường Neibolt, khi Bill đưa áo của cậu cho cô. Cô biết ngực mình nhô lên qua lần áo bông mỏng, nhưng ánh nhìn thỉnh thoảng vượt qua của các bạn không khiến cô phiền lòng: cô thấy chúng hoàn toàn bình thường. Còn ánh nhìn của Bill có gì đó đặc biệt hơn: ấm áp, khát khao, thậm chí âm ỉ mãnh liệt.

Và rồi trong lòng cô ngổn ngang cảm giác tội lỗi xen lẫn sợ hãi. Bố cô có sai không? Phải chăng cô đã

(mày có tỏ ra đàng điếm trước mặt chúng nó không)

có những suy nghĩ không hay? Những suy nghĩ bậy bạ? Những suy nghĩ về thứ mà bố cô đang nói tới?

Nó không hề giống nhau! Nó không giống cách

(mày có tỏ ra đàng điếm)

bố đang nhìn mình lúc này! Không giống!

Cô kéo áo lại.

“Bevvie?”

“Bố, bọn con chỉ chơi với nhau thôi. Bọn con chơi đùa thôi… Bọn con… bọn con không làm gì… không làm gì bậy bạ cả. Bọn con…”

“Tao thấy mày hút thuốc,” lão lặp lại và lừ lừ tiến lại gần cô. Đôi mắt lão di chuyển từ ngực xuống phần hông thon gầy của cô. Chợt lão ông ổng hát vang lên bằng cái giọng chẳng khác nào nam sinh, và điều này càng khiến cô sợ hãi: “Con gái nhai kẹo cao su thể nào cũng rít thuốc! Con gái rít thuốc thể nào cũng bia rượu! Con gái bia rượu thì ai cũng biết sẽ làm trò gì!”

“CON KHÔNG LÀM GÌ CẢ!” Cô hét lên cãi lại khi hai tay của lão chộp lấy vai cô. Lão không siết cô, cũng không làm cô đau. Hai tay của lão rất nhẹ nhàng. Và chẳng hiểu sao đó là điều làm cô sợ nhất.

“Beverly,” lão cuồng dại nói như kẻ bị ma nhập. “Tao đã thấy mày với một đám con trai. Giờ mày nói tao nghe xem một đứa con gái thậm thụt làm trò gì với cả đám con trai trong rừng ngoài nằm ra dâng cỗ cho chúng nó?”

“Để con yên!” Cô thét lên. Phẫn nộ lóe lên từ cái giếng hun hút mà cô không hề hay biết. Phẫn nộ phừng lên ngọn lửa vàng xanh trong đầu cô. Nó đe dọa suy nghĩ của cô. Bao lần bố đã làm cô sợ; bao lần bố đã lăng mạ cô; bao lần bố đã làm cô bị thương. “Bố hãy để con yên!”

“Tao cấm mày nói chuyện với bố mày như thế,” lão đe nẹt, giọng thoáng giật mình.

“Con không làm điều bố nói! Con không bao giờ làm thế!”

“Có thể có. Có thể không. Tao sẽ kiểm tra cho chắc. Tao biết cách. Mày cởi quần ra mau.”

“Không.”

Lão trợn mắt, để lộ giác mạc vàng khè xung quanh mống mắt xanh thẳm. “Mày nói cái gì ?”

“Con bảo không .” Mắt lão dán chặt vào cô, và có lẽ lão đã trông thấy cơn thịnh nộ phừng phừng ở đó, cơn nổi loạn đầy bộc phát. “Ai đã mách bố?”

“Bevvie…”

“Ai mách bố bọn con chơi ở đó? Một người lạ phải không? Có phải gã đàn ông mặc đồ màu cam và bạc không? Hắn mang găng tay phải không? Trông hắn như tên hề dù hắn không phải gã hề đúng không? Tên hắn ta là gì?”

“Bevvie, mày thôi ngay…”

“Không: bố mới là người phải dừng lại,” cô nói.

Lão vung tay, nhưng lần này lão không xòe tay mà siết lại thành nắm đấm như muốn đập bể thứ gì đó. Beverly rụt người né. Nắm đấm của lão vụt trên đầu cô, cắm thẳng vào tường. Lão gầm lên, buông cô ra và đưa nắm tay lên miệng. Cô nhanh chân lùi thật xa.

“Mày quay lại đây ngay!”

“Không,” cô đáp. “Bố muốn đánh con. Con rất thương bố, nhưng con ghét bố như vậy. Bố không thể thượng cẳng tay với con nữa đâu. Nó sai khiến bố làm vậy, nhưng chính bố là người cho Nó vào.”

“Tao chẳng hiểu mày lải nhải cái gì,” lão nói, nhưng mày quay lại đây ngay cho tao. Tao không nói nhiều lần đâu.”

“Không,” cô đáp, nước mắt lại tuôn rơi.

“Đừng để tao đến tận nơi xách cổ mày, Bevvie. Nếu tao làm vậy thì mày chỉ có nước hối hận thôi. Đến đây ngay.”

“Nói con nghe ai đã mách bố,” cô đáp, “thì con đến.”

Lão nhảy bổ về phía cô nhanh như cắt, đến độ dù lường được lão sẽ lao về phía mình nhưng cô suýt nữa vẫn bị bắt. Cô quơ quang chộp lấy tay nắm cửa nhà bếp, kéo cửa mở vừa đủ để mình lọt qua rồi cắm đầu chạy xuống hành lang về phía cửa chính, đầu óc hoảng loạn đến mụ mẫm, chạy giống như cách cô trốn khỏi bà Kersh vào hai mươi bảy năm sau. Đằng sau cô, Al Marsh tông đánh rầm vào cánh cửa khiến nó đóng sập lại và nứt ở ngay giữa.

“TRỞ LẠI ĐÂY NGAY, BEVVIE!” Lão lồng lên, giật tung cánh cửa và rượt theo cô.

Cửa trước đang cài chốt, ban nãy cô về nhà bằng cửa sau. Một tay cô lúng túng mở khóa, tay kia giật nắm cửa trong vô vọng. Đằng sau, bố cô lại gầm lên, tiếng gầm của một

(cởi quần ra đồ đàng điếm)

con thú. Cô xoay tay nắm cửa, và cuối cùng, cửa chính cũng bật mở. Hơi thở nóng bừng rần rật trong cổ họng. Nhìn qua vai, cô thấy bố mình ngay phía sau, lão đang lao tới, vừa nhe nhởn cười vừa nhăn mặt, hàm răng vàng khè lởm chởm như bẫy gấu trong miệng.

Ba chân bốn cẳng chạy qua cửa ngoài hiên, Beverly cảm nhận được những ngón tay của lão sượt qua lưng áo cánh nhưng không chụp được mình. Vội vàng nhào xuống bậc tam cấp, cô mất thăng bằng và ngã xuống vỉa hè xi măng, trầy trụa hết cả hai đầu gối.

“QUAY TRỞ LẠI ĐÂY NGAY BEVVIE KẺO TAO LỘT DA MÀY BÂY GIỜ!”

Lúc lão chạy xuống bậc tam cấp, cô loạng choạng đứng dậy, quần jean thủng lỗ,

(cởi quần ra)

đầu gối chảy máu, đầu mút thần kinh lộ ra hát vang bài ca “Tinh binh Giê-su tiến lên”. Quay ra sau, cô thấy lão đang bám sát nút. Al Marsh, lao công và bảo vệ, gã đàn ông tóc lấm tấm bạc mặc quần ka ki, áo ka ki với hai chiếc túi có nắp, chùm chìa khóa móc vào thắt lưng, tóc bay tứ tung. Nhưng trong mắt bố cô không còn hình bóng của lão nữa – căn tính của người bố từng chà lưng cho cô, từng đấm vào bụng cô, từng làm cả hai điều như thế vì lo cho cô, lo cho cô rất nhiều , người bố từng cố gắng tết tóc cho cô năm cô lên bảy tuổi rồi cột thành mở bùng nhùng, khúc khích cười với cô vì mái tóc chĩa bốn phương tám hướng, người bố biết làm món cocktail trứng sữa vị quế vào Chủ nhật ngon hơn bất cứ món đồ uống nào bán ở Quầy kem Derry với giá hai mươi lăm xu, người bố của cô, người đàn ông nhất trong bao người đàn ông của đời cô, phô diễn những mặt tốt xấu lẫn lộn của khác giới. Tất cả đã không còn trong mắt lão. Cô chỉ thấy mắt lão đơn thuần sát khí. Cô thấy Nó ở đó.

Vậy nên cô chạy. Cô chạy trốn khỏi Nó.

Ông Pasquale giật mình nhìn lên khi đang đứng tưới nước trong khu vườn đầy cỏ dại và nghe tường thuật trận đấu của đội Red Sox trên đài cầm tay đặt ở thành hiện trước. Những đứa con nhà Zinnerman đứng sau chiếc xe Hudson Hornet cũ mua với giá hai mươi lăm đô-la và hôm nào cũng lôi ra chà rửa. Một đứa cầm vòi nước, đứa còn lại cầm xô xà phòng. Cả hai há hốc mồm. Bà Denton nhìn từ chung cư tầng hai, đặt chiếc váy của một trong sáu đứa con gái trong lòng, còn những bộ đồ khác cất trong rổ quần áo để trên sàn, miệng ngậm đầy kẹp. Cậu bé Lars Theramenius nhỏ bé nhanh nhẹn lôi chiếc xe kéo Red Ball Flyer ra khỏi vỉa hè lởm chởm và đứng trên bãi cỏ xơ xác của ông Bucky Pasquale. Mùa xuân năm ấy, có một hôm, Bevvie đã kiên nhẫn bỏ cả buổi sáng để dạy cậu cách cột dây giày sao cho không bị tuột. Cậu òa lên khóc khi cô vừa chạy vừa la hét thật to, hai mắt trợn trừng. Giây sau, bố cô chạy qua, gầm lên chửi rủa, và Lars, cậu bé lúc ấy mới ba tuổi và mười hai năm sau sẽ mất mạng trong một vụ tai nạn xe gắn máy, nhìn thấy một thứ tàn tệ, không chút tính người trên khuôn mặt của Marsh. Sau vụ đó, cậu bé gặp ác mộng suốt ba tuần liền. Cậu nằm mơ thấy lão Marsh biến thành con nhện chui vào quần áo cậu.

Beverly cắm đầu cắm cổ chạy. Thâm tâm cô biết rõ tính mạng mình như chỉ mành treo chuông. Nếu bắt được cô, còn lâu lão mới màng đến chuyện hai bố con đang ở ngoài đường. Thỉnh thoảng, người ta lại làm đủ trò điên rồ ở Derry; cô chẳng cần phải đọc báo hay biết lịch sử kì dị của thị trấn này mới hiểu điều đó. Nếu thộp được cô, lão sẽ bóp cổ cô hoặc đánh đập cô. Và sau khi tẩn cô, ai đó sẽ đến gô cổ lão lại, lão sẽ vào tù bóc lịch giống như bố dượng của Eddie Corcoran, đầu óc mơ màng, xa rời thực tại.

Cô chạy về phía trung tâm thị trấn, ngang qua càng lúc càng nhiều người. Họ trố mắt nhìn – đầu tiên là nhìn cô, sau đó nhìn ông bố đang rượt theo sau – ai nấy đều tỏ vẻ ngạc nhiên, thậm chí nhiều người còn bàng hoàng. Nhưng nét mặt họ chỉ đến đấy chứ không hơn. Nhìn xong, họ tiếp tục việc mình đang làm. Không khí lưu thông trong phổi cô càng lúc càng nặng nề.

Cô băng qua Kênh Đào, chân đạp bồm bộp trên mặt xi măng trong lúc xe cộ ầm ì chạy qua cây cầu gỗ phía bên tay phải. Phía bên trái, cô có thể trông thấy phần đá bán nguyệt ở đoạn Kênh Đào chui xuống trung tâm thị trấn. Bất thình lình, cô băng qua đường Chính, mặc kệ tiếng còi ầm ĩ và tiếng phanh kin kít vang lên. Cô rẽ phải vì Vùng Đất Cằn nằm ở hướng đó. Nó còn cách cô hơn một cây rưỡi, và nếu muốn chạy đến đó, cô phải làm mọi cách để bỏ xa bố cô trên triền dốc tức của đồi Dặm Trên (hoặc con phố nào đó thậm chí còn dốc hơn). Đó là cách duy nhất.

“QUAY LẠI ĐÂY CON KHỐN TAO CẢNH CÁO MÀY!”

Lúc bước qua vỉa hè phía bên kia đường, cô liếc thật nhanh về sau khiến suối tóc đỏ hất lên vai. Bố cô đang băng qua đường, chẳng buồn để tâm đến xe cộ y như cô ban nãy, mặt lão đỏ bừng, mồ hôi mồ kê nhễ nhại.

Cô thụp người xuống ở con hẻm đằng sau dãy Nhà kho. Đây là mặt sau của các nhà máy với mặt tiền quay ra đồi Dặm Trên: Star Beef, Đóng gói thịt Armour, Kho và Nhà chứa Hemphill, Eagle Beef & Kosher Meats. Con hẻm chật hẹp trải sỏi, đã vậy còn lổn ngổn cả đống thùng rác bốc mùi nồng nặc nên lại càng trở nên nhỏ hơn. Sỏi nhơm nhớp thứ rác rưởi gớm ghiếc chẳng rõ là gì. Đủ thứ mùi hỗn tạp, nhạt nhẽo có, thối um có, choáng váng có… nhưng mùi nào mùi nấy đều tanh tưởi mùi thịt tươi và máu me. Ruồi bay thành đàn. Từ bên trong một số nhà máy, cô có thể nghe thấy tiếng cưa xương rít lên rợn da gà. Chân cô loẹt quẹt chới với trên mặt sỏi nhớp nhúa. Hông cô húc vào thùng rác mạ kẽm, khiến đống lòng mề bọc trong giấy báo rơi ra như những khóm hoa rừng bằng thịt khổng lồ.

“MÀY QUAY LẠI ĐÂY NGAY CHO TAO BEVVIE! TAO KHÔNG ĐÙA ĐÂU NHÉ! ĐỪNG ĐỔ THÊM DẦU VÀO LỬA NỮA!”

Hai người đàn ông ngồi nghỉ ở cửa khuân vác hàng của nhà máy Đóng gói Kirshner, gặm lấy gặm để chiếc bánh mì kẹp to ụ, cặp lồng đựng bữa tối đang để mở bên cạnh. “Chết mày chưa nhóc ơi,” một người bâng quơ lên tiếng. “Xem ra mày sắp bị bố mày tẩn cho một trận lên bờ xuống ruộng rồi.” Người còn lại phá lên cười.

Bố cô đang tăng tốc. Cô có thể nghe thấy tiếng chân nên thình thịch và tiếng thở nặng nề ngay phía sau, nhìn sang phải, cô trông thấy bóng lão vùn vụt chạy dọc hàng rào bằng gỗ cao cao.

Đoạn lão tức tối thất thanh khi bị trượt và đo ván lên mặt đường trải sỏi. Nhưng lão ngay lập tức bật dậy, không la hét ỏm tỏi nữa mà chỉ gào rú những tiếng chẳng rõ nghĩa đầy thịnh nộ trong lúc hai gã đàn ông đứng ở cửa ha hả cười và vỗ bồm bộp lên lưng nhau.

Con hẻm ngoặt sang trái… và Beverly phanh kít lại, miệng há to thảng thốt. Một xe rác đang đậu chắn ngay miệng con hẻm. Hai bên còn không hở đến hai mươi phân. Động cơ xe ầm ì chạy. Lẫn trong tiếng xe, cô có thể nghe thấy tiếng trò chuyện rì rầm trong buồng lái. Bọn họ đang nghỉ trưa. Chưa đầy ba, bốn phút nữa là đến trưa, chẳng mấy chốc, chiếc đồng hồ của tòa án sẽ điểm.

Bev có thể nghe thấy tiếng bố mình đang chạy đến, càng lúc càng gần. Cô thụp người chui xuống dưới gầm xe, lồm cồm bò bằng khuỷu tay và đầu gối rách. Mùi khói xe, mùi xăng trộn với mùi thịt sống khiến cô xây xẩm mặt mày. Cô di chuyển tương đối dễ dàng, nhưng không vì thế mà bớt gớm ghiếc: cô trượt trên mặt đất nhớp nhúa, rác đóng thành lớp trơn tuột. Cô trườn tiếp, có lúc nhổm lưng cách mặt sỏi quá xa và đập thẳng vào ống bô nóng rẫy của chiếc xe. Cô phải cắn răng để không thét lên.

“Beverly? Mày ở dưới đó đúng không?” Từng tiếng rời rạc vang lên vì bố cô hổn hển hớp lấy hớp để không khí. Quay lại, cô trông thấy hai con người lúc lão cúi xuống nhìn bên dưới chiếc xe.

“Để… con yên!” Cô chật vật nói.

“Con khốn kiếp,” lão gằn từng lời, sặc nước bọt. Lão nằm thụp xuống, chìa khóa leng keng đánh vào nhau rồi bắt đầu bò đuổi theo cô, trườn bằng động tác như bơi lội trông rõ là gớm ghiếc.

Beverly vươn tay từ dưới gầm xe và móc vào bánh xe to tướng rãnh xe ngập lên tận đốt thứ hai của ngón tay cô – rồi lấy đà vươn người lên. Cô đập xương cụt vào thanh cản trước của xe rác rồi co giò chạy tiếp đến đồi Dặm Trên, áo quần nhầy nhụa và hôi đến điếc mũi. Quay ra sau, cô trông thấy bàn tay và cánh tay lốm đốm tàn nhang của bố vươn ra từ dưới gầm xe rác như móng vuốt của một con quái vật tưởng tượng thò ra từ gầm giường.

Không kịp nghĩ ngợi, cô vội vàng lao vào khoảng trống giữa Nhà kho Feldman và Xưởng phụ của anh em Tracker. Khoảng trống này quá nhỏ, chẳng bằng một con hẻm, đầy thùng gỗ nham nhở, um tùm cỏ dại, rậm rì hoa hướng dương và tất nhiên, ngập ngụa cơ man nào là rác. Beverly thụp xuống đằng sau đống thùng gỗ và chồm hổm núp. Chốc sau, cô trông thấy bố cô chạy ngang qua khoảng trống giữa hai tòa nhà rồi tiếp tục chạy lên đồi.

Beverly đứng dậy và vội chạy đến cuối khe hẹp. Cuối đường có hàng rào mắt cáo. Cô lồm cồm trèo qua rào. Giờ cô đang ở trong khu đất của Chủng viện Thần học Derry. Cô chạy lên bãi cỏ được cắt tỉa gọn gàng bọc đằng sau và bên hông tòa nhà. Cô có thể nghe thấy tiếng ai đó chơi nhạc cổ điển bằng đàn organ ở bên trong. Những nốt nhạc trầm bổng như khắc vào không gian tĩnh mịch sự du dương và da diết.

Có một bờ giậu rất cao ngăn giữa Chủng viện và đường Kansas. Cô đưa mắt nhìn qua thì trông thấy bố mình ở phía bên kia con đường, thở phì phò, mồ hôi túa ra như tắm khiến hai nách áo lao động xám ngả tối. Lão dáo dác nhìn quanh, hai tay chống nạnh. Chùm chìa khóa của lão lấp lánh dưới ánh nắng.

Beverly quan sát, hơi thở cũng hổn hển chẳng kém gì lão, tim như ngựa phi nước đại trong lồng ngực. Cô khát đến khô họng, và thứ mùi thối hoẵng làm cô phát tởm. Nếu mình được vẽ trong mẩu truyện tranh, cô bâng quơ nghĩ, thể nào cũng có những đường gợn sóng mô tả mùi hôi tỏa ra từ người mình.

Bố cô từ từ bước đến Chủng viện.

Beverly nín thở.

Chúa ơi, con xin Người, con hết chạy nổi rồi. Chúa ơi, cứu con với. Đừng để bố phát hiện ra con.

Al Marsh chậm rãi bước dọc vỉa hè, băng qua ngay chỗ cô con gái đang nấp phía bên kia bờ giậu.

Chúa ơi, đừng để bị đánh hơi thấy mùi của con!

May sao lão không phát hiện – có lẽ là sau cú vồ ếch ở hẻm và lăn lê bò toài dưới xe rác, Al cũng thối nồng nặc như cô con gái của mình. Lão bước tiếp. Cô nhìn theo bóng lão đi xuống đồi Dặm Trên cho đến khi khuất mắt.

Beverly từ từ đứng dậy. Quần áo của cô dính đầy rác rến, mặt dơ như hủi, lưng nhói đau vì ban nãy bỏng ống bô của xe chở rác. Nhưng những điều bên ngoài này chẳng là gì so với bao suy nghĩ rối như tơ vò đang cuộn trào trong đầu - cô cảm thấy mình đã rời xa thế giới và cách cư xử bình thường không còn ăn thua nữa. Cô không tài nào tưởng tượng được cảnh mình về nhà, nhưng không về nhà thì biết xoay xở thế nào đây. Cô đã chống đối bố mình, phải, cô đã chống lại lão ta…

Cô phải gạt suy nghĩ ấy đi vì nó khiến cô bủn rủn tay chân, ốm đến phát mửa. Cô thương bố lắm. Chẳng phải một trong Mười Điều Răn có nói “Ngươi hãy thảo kính mẹ bố, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa ban cho ngươi” đó sao? Phải. Nhưng bố cô bình thường không như thế. Đó không phải bố cô mà là một người hoàn toàn khác lạ. Một kẻ giả dạng bố cô. Là Nó…

Bỗng nhiên cô thấy lạnh người khi một câu hỏi khủng khiếp trờ đến. Liệu tai ương giống thế này có xảy ra với các bạn của cô hay không? Có phải cảnh báo họ. Họ đã làm Nó bị tổn hại, nên có lẽ Nó đang ra tay để bọn họ vĩnh viễn không còn cơ hội tấn công Nó nữa. Và thật ra mà nói, cô còn chỗ nào để bấu víu kia chứ? Họ là những người bạn duy nhất mà cô có. Bill. Bill sẽ biết phải hành động ra sao. Bill sẽ biết cô nên làm gì, Bill sẽ cho cô hay nước đi kế tiếp.

Đứng ở chỗ giao giữa lối đi của Chủng viện với vỉa hè đường Kansas, cô nhìn qua bờ giậu. Bố cô đã hoàn toàn mất dạng. Cô quay sang phải và đi dọc theo đường Kansas về phía Vùng Đất Cằn. Có lẽ giờ này chưa ai xuống đó; chắc mọi người đang ở nhà ăn trưa. Nhưng chẳng mấy chốc, họ sẽ đến. Trong lúc đó, cô sẽ chui xuống phòng sinh hoạt nhóm mát mẻ của cả bọn và tìm cách lấy lại bình tĩnh. Cô sẽ mở toang ô cửa sổ con con để ánh nắng tràn vào, và nếu được, có khi cô sẽ chợp mắt một lát. Cơ thể mệt bã và tâm trí căng như dây đàn của cô hào hứng trước suy nghĩ ấy. Phải, giờ mà được ngủ thì còn gì bằng.

Vừa rụt cổ, cô vừa đi ngang qua những căn nhà cuối cùng trước khi mặt đất dốc hẳn, không thể xây nhà, và từ đó dẫn xuống Vùng Đất Cằn - Vùng Đất Cằn, nơi bố đã lén lút theo dõi cô, điều mà đến lúc này, cô vẫn chưa tài nào tin nổi.

Cô không nghe thấy tiếng bước chân phía sau. Đám du côn bám theo cô đang vận lực để rón rén hết mức có thể. Chúng đã bị cho hít khói một lần và đừng hòng chúng để mình ăn quả đắng lần nữa. Chúng dần dần tiến lại, tịnh không tiếng động. Ợ Hơi và Victor toe toét cười, còn khuôn mặt Henry đờ đẫn và nghiêm túc đến sợ. Đầu tóc hắn bù xù như tổ quạ. Mắt hắn trống rỗng như mắt của Al Marsh lúc ở trong nhà. Hắn giơ ngón tay cáu cần lên môi, ra hiệu suỵt trong lúc ba kẻ du côn rút ngắn khoảng cách từ hai mươi mét xuống còn mười lăm mét, rồi mười mét.

Mùa hè năm ấy, Henry càng lúc càng chơi vơi bên bờ vực loạn trí, cây cầu hắn chênh vênh bước đi ngày một hẹp. Vào cái ngày hắn cho phép Patrick Hockstetter ve vuốt mình, cây cầu ấy chỉ còn là sợi dây thừng. Sáng nay, sợi dây ấy đã đứt phựt. Sớm hôm ấy, hắn trần truồng bước ra sân, mặc độc mỗi chiếc quần con rách nát, vàng ố rồi ngước đầu nhìn bầu trời. Bóng trăng mờ vẫn còn đó, và khi hắn ngẩng lên, bỗng dưng Mặt Trăng biến thành khuôn mặt xương xẩu nham nhở cười. Henry khuỵu gối trước khuôn mặt ấy, tôn kính trong sợ hãi và hân hoan. Những giọng nói ma vẳng xuống từ Mặt Trăng. Giọng nói biến thiên không ngừng, có lúc hòa vào tiếng léo nhéo chẳng rõ thanh âm… nhưng hắn cảm nhận được chân lý, chân lý duy nhất: tất cả những giọng nói này là một, là giọng của đấng quyền năng. Giọng nói ấy ra lệnh cho hắn huy động Ợ Hơi và Victor đến góc đường Kansas giao với Đại lộ Costello trưa nay. Giọng nói ấy bảo hắn phải làm gì sau đó. Và ô kìa, con khốn ấy đã câng câng xuất hiện. Hắn đợi xem giọng nói sẽ bảo mình làm gì tiếp theo. Câu trả lời đến khi bọn chúng rút ngắn khoảng cách với cô. Giọng nói không truyền xuống từ Mặt Trăng mà từ lưới sắt che cống mà bọn chúng đi ngang qua. Giọng nói trầm nhưng rất rõ ràng. Ợ Hơi và Victor liếc về phía lỗ cống một cách đờ đẫn, gần như bị thôi miên, đoạn lại quay sang nhìn Beverly.

Giết nó, giọng nói từ trong cống gọn lỏn.

Henry Bowers thò tay vào túi quần jean, lấy ra một thứ thuôn dài chừng hơn hai mươi phân với những đường khảm giả ngà dọc hai bên thân. Có nút bằng crôm nhỏ loang loáng ở cuối món đồ trang trí kỳ cục này. Henry ấn vào nút thì lưỡi dao dài mười lăm phân bật ra khỏi khe ở cuối tay cầm. Hắn mân mê con dao bấm trong lòng bàn tay, đoạn sải chân nhanh hơn. Victor và Ợ Hơi cũng guồng chân để theo kịp, khuôn mặt vẫn còn vẻ ngu dại.

Nói chính xác thì Beverly không nghe thấy tiếng bọn chúng; đó không phải lý do cô quay đầu lại lúc Henry Bowers tiến sát đến đằng sau. Gập đầu gối, rón rén bước đi, nụ cười ghim cứng trên mặt, Henry không phát ra tiếng động. Không, đơn giản chỉ là cảm giác, quá rõ, quá thẳng thừng và quá mãnh liệt nên lồ lộ: cô đang

3

Thư viện công cộng/1 giờ 55 phút sáng

bị theo dõi.

Mike Hanlon đặt bút xuống rồi nhìn qua mái vòm tranh tối tranh sáng của gian chính thư viện. Anh thấy những quầng sáng chiếu từ đèn tròn thả từ trần nhà, anh thấy những cuốn sách như nhòa vào bóng tối, anh thấy cầu thang sắt duyên dáng uốn lượn theo đường xoắn ốc lên các kệ sách. Anh thấy chẳng có gì bất thường.

Nhưng đồng thời, anh cảm nhận anh không phải người duy nhất có mặt ở đây. Không còn như vậy nữa.

Sau khi nhóm bạn ra về, Mike dọn dẹp theo thói quen. Cơ thể anh cứ thế tự hoạt động, còn đầu óc anh đang cách xa cả triệu cây số – cách đây hai mươi bảy năm trước. Anh đổ gạt tàn, vứt vỏ chai rượu rỗng (anh còn xếp một lớp rác lên trên để Carole không thất kinh), chai nào trả lại được thì anh xếp trong cái hộp đằng sau bàn làm việc của mình. Đoạn anh lấy chổi quét dọn những miếng chai rượu gin mà Eddie làm vỡ.

Khi bàn đã ngăn nắp trở lại, anh vào phòng Đọc và nhặt những tờ tạp chí vương vãi. Trong lúc làm những công việc đơn giản này, đầu óc anh sàng lọc những câu chuyện mà mọi người kể - tập trung nhất vào những chi tiết mà họ đã bỏ qua. Mọi người cho rằng mình đã nhớ lại tất cả, anh thấy Bill và Beverly đã nhớ ra gần hết. Nhưng vẫn còn những mảng ký ức khác, rồi chúng sẽ trở về với họ… dần dà theo thời gian. Năm 1958, họ không có cơ hội chuẩn bị. Họ trao đổi liên tu bất tận – cuộc thảo luận chỉ bị gián đoạn bởi trận ném đá và lần cả nhóm cùng nhau xông pha ở căn nhà số 29 đường Neibolt – và có khi họ chỉ bàn bạc chứ chẳng làm được gì khác. Rồi ngày 14 tháng 8 trờ đến, Henry cùng bè lũ ác ôn kia đuổi đánh họ vào cống ngầm.

Có lẽ ban nãy, mình nên kể với mọi người, anh thầm nghĩ trong lúc đặt nốt mấy cuốn tạp chí còn sót lại về chỗ cũ. Nhưng thế lực nào đó đã phản đối ý tưởng ấy - anh đồ rằng đó là giọng nói của con Rùa. Có lẽ đó là một phần của nó, và có lẽ cái vòng luân hồi này cũng là một phần của nó. Phải chăng rồi đây, hồi cuối cùng sẽ lặp lại theo một cách mới. Anh đã cẩn thận chuẩn bị sẵn đèn pin và mũ thợ mỏ cho ngày mai, anh đã cuộn sẵn bản đồ hệ thống cống thoát nước của Derry, cột bằng dây thun rồi cất trong tủ. Nhưng ngày họ còn bé, bao nhiêu trao đổi, bao nhiêu kế hoạch, dù nửa mùa hay không, cuối cùng đều như dã tràng xe cát; kết cục đơn giản là họ bị rượt đuổi vào đường cống ngầm, dồn vào cuộc đối đầu sau đó. Liệu điều này có xảy ra lần nữa hay không? Dần dà, anh đã ngộ ra niềm tin và sức mạnh tuy hai nhưng một. Phải chăng sự thật cuối cùng còn đơn giản hơn thế? Rằng ta chẳng thể nào giải phóng niềm tin cho đến khi bị quẳng vào mớ bùng nhùng đảo điên, tựa như đứa trẻ mới sinh rơi ra khỏi bụng mẹ mà chẳng có dù để hạ cánh? Một khi đã rơi, ta buộc phải tin rằng cái dù có tồn tại để nó hiện diện trên đời, chẳng phải sao? Kéo mở dù trong lúc rơi chính là tuyên bố cuối cùng của ta về vấn đề ấy, theo cách này hay cách khác.

Chúa ơi, mình đang giảng đạo như giám mục Fulton Sheen vậy, Mike nghĩ và khẽ phá lên cười.

Mike dọn dẹp gọn gàng, đăm chiêu suy nghĩ, đâu đó trong đầu, anh cứ đinh ninh khi xong xuôi, anh sẽ mệt bã, chỉ muốn về nhà và đánh một giấc vài tiếng. Nhưng sau khi xong việc, anh lại thấy mình tỉnh như sáo. Thế nên anh đi đến khu chứa sách đặc biệt phía sau phòng làm việc. Anh dùng chìa khóa mở cổng lưới rồi bước vào trong. Được thiết kế để chống lửa nếu đóng kín và khóa cánh cửa kiên cố chẳng khác nào cửa hầm, phòng chứa đặc biệt này lưu trữ ấn bản đầu các cuốn sách quý của thư viện, những cuốn sách có chữ ký của tác giả quá cố (trong ấn bản chữ ký phải kể đến Moby Dick Leaves of Grass của Whitman), các tài liệu lịch sử liên quan đến thị trấn, các giấy tờ cá nhân của một số tác giả từng sống và làm việc ở Derry. Mike hy vọng nếu mọi chuyện kết thúc êm đẹp, anh có thể thuyết phục Bill gửi gắm bản thảo của cậu ấy ở Thư viện công cộng Derry. Bước xuống dãy thứ ba của kho chứa bên dưới bóng đèn với chụp bằng thiếc, ngửi thứ mùi quen thuộc của thư viện, trộn hòa của mùi bụi, thoảng mùi quế, mùi giấy cũ, anh thầm nhủ: Nếu mình chết, mình đoán mình sẽ ra đi với một tay cầm thẻ thư viện, tay kia cầm dấu mộc QUÁ HẠN. Chậc, chí ít như thế còn tốt chán so với việc mình chết với khẩu súng trên tay, mọi đen ạ.

Anh dừng chân ở giữa dãy thứ ba. Cuốn sổ tốc ký quăn góc chứa những câu chuyện về Derry mà anh vội vàng ghi lại cùng những ưu tư phiền não chất chứa trong anh, được nhét giữa cuốn Thị trấn Derry xưa của Fricke và Lịch sử Derry của Michaud. Trước đó, anh đẩy cuốn sổ sâu vào trong đến mức nó gần như khuất khỏi tầm mắt. Không ai có thể tình cờ tìm thấy cuốn sổ này trừ khi họ cố tình lục lọi.

Sau khi lấy cuốn sổ rồi tắt đèn trong phòng chứa sách và khóa lại cửa lưới, Mike trở lại chiếc bàn mà tối nay mọi người cùng quây quần. Anh ngồi xuống, lật qua những trang sách mà mình đã viết, thầm nhủ bản thân đã tạo nên một bản khai kỳ lạ và chắp vá đến nhường nào: phần ghi lịch sử, phần lưu lại những mảng tối, phần ghi nhật ký, phần bộc bạch cõi lòng. Từ ngày mùng 6 tháng 4 đến giờ, anh chưa viết dòng nào. Chắc phải mua cuốn mới sớm thôi, anh nghĩ trong lúc lướt qua vài trang giấy trắng còn sót lại. Trong một thoáng, anh thích thú nghĩ đến bản thảo đầu tiên của tác phẩm Cuốn theo chiều gió của Margaret Mitchell, viết bằng tay trong hàng chồng, hàng chồng vở học sinh. Đoạn anh mở nắp bút, chừa hai dòng từ đoạn cuối và viết Ngày 31 tháng 5 . Anh dừng lại, bâng quơ đưa mắt nhìn khắp thư viện không bóng người rồi viết lại những chuyện đã xảy ra trong ba ngày vừa qua, mở đầu bằng cuộc điện thoại anh gọi cho Stanley Uris.

Anh cẩn thận viết suốt mười lăm phút, sau đó, sức tập trung của anh bắt đầu bị lung lạc. Anh dừng bút hết lần này đến lần khác. Hình ảnh cái đầu lìa khỏi cổ của Stan Uris trong tủ lạnh cứ len vào tâm trí anh, cái đầu máu me, miệng mở to, nhét đầy lông vũ, rời khỏi tủ lạnh, lăn đến chỗ anh. Anh cố gắng gạt hình ảnh ấy đi để tiếp tục viết. Năm phút sau, anh giật mình ngước lên và nhìn quanh, đoán chắc mình sẽ thấy một cái đầu lăn qua những ô gạch đỏ đen đã cũ ở gian phòng chính, hai con ngươi như thủy tinh, sáng quắc như mắt con nai trưng trên tường. Nhưng chẳng có gì. Không có thủ cấp, cũng chẳng có tiếng động nào ngoài tiếng trống ngực thình thịch của anh.

Bình tĩnh lại đi nào, Mikey. Lại thần hồn nát thần tính rồi. Chẳng có gì mà cứ quýnh cả lên.

Nhưng vô ích. Ngôn từ cứ thế rời bỏ anh, suy nghĩ như tuột khỏi tầm với. Áp lực chợt đè lên gáy anh, càng lúc càng nặng nề.

Bị theo dõi.

Anh đặt bút xuống rồi đứng dậy khỏi bàn. “Có ai ở đây không?” Anh cất tiếng, giọng nói của bản thân vang vọng trở lại từ mái vòm khiến anh giật nảy. Anh liếm môi và gọi lần nữa. “Bill? … Ben?”

Bill-ill-ill… Ben-en-en…

Bỗng dưng Mike muốn về nhà ngay lập tức. Anh sẽ đem cuốn sổ theo. Đúng lúc vươn tay tới cuốn sổ, anh chợt nghe một tiếng bước chân rất nhẹ.

Anh lại ngẩng đầu lên. Biển ánh sáng đan xen bởi những đầm phá bóng tối thăm thẳm. Chẳng còn gì khác… chí ít là trong tầm mắt thì chưa. Anh chờ đợi, tim đập rộn.

Tiếng bước chân lại vang lên, và lần này anh xác định được vị trí. Trong hành lang bằng kính nối giữa thư viện người lớn và thư viện trẻ em. Có người. Hoặc thứ gì đó.

Mike nhẹ nhàng di chuyển về phía bàn mượn sách. Cửa đôi dẫn vào hành lang được chặn mở bằng nêm gỗ nên anh có thể nhìn thấy bên trong một chút. Anh nhìn thấy đôi chân, và trong cơn hoảng sợ thiếu điều lăn đùng ra ngất, anh tự hỏi lẽ nào Stan đã tới, lẽ nào Stan sẽ bước ra khỏi bóng tối với cuốn từ điển toàn thư về các loài chim trong tay, mặt trắng bệch, môi tím tái, cổ tay và cánh tay bị cứa nát. Tớ đến rồi đây, Stan sẽ lên tiếng. Hơi mất thời gian vì tớ phải đào mồ sống dậy, nhưng tớ đến rồi đây…

Tiếng bước chân lại vang lên và giờ Mike dám chắc mình nhìn thấy đôi giày - chân mang giày, ống quần rách rưới - vải denim, sợi vải loe ngoe trên mắt cá không mang tất. Và trong bóng đêm bên trên hai đầu gối ấy, cách chừng một mét tám, anh có thể trông thấy đôi mắt đang lóe lên.

Anh quơ quàng trên mặt bàn hình bán nguyệt và đưa tay mò mẫm mà không rời mắt khỏi hai con mắt bất động sáng quắc kia. Ngón tay của anh mò được góc chiếc hộp gỗ con con – hộp đựng thẻ quá hạn. Một hộp giấy đựng ghim và dây thun. Đoạn anh chạm vào một thứ kim loại nên vội chộp lấy. Là con dao chuyên dùng để mở phong thư với dòng chữ CHÚA CỨU RỖI được đóng trên tay cầm. Món đồ trang trí này được gửi từ Hội Thánh Baptist Ân điển trong chương trình gây quỹ. Mike không đi lễ suốt mười lăm năm nay, nhưng ngày xưa, Hội Thánh Baptist Ân điển là nhà thờ mẹ anh tham gia, và tuy giật gấu vá vai, anh cũng cố gắng gửi cho họ năm đô-la. Anh đã tính vứt con dao trang trí ấy đi nhưng nó vẫn còn ở đó, giữa đống hổ lốn ở bàn anh (còn bàn của Carole thì lúc nào cũng gọn gàng tinh tươm) cho đến lúc này.

Anh siết chặt con dao và nhìn chằm chằm vào hành lang mờ tối.

Nhân hình kia lại tiến thêm một bước… rồi một bước nữa. Chiếc quần denim rách rưới dần dần lộ ra, giờ đã lên tới đầu gối. Anh nhìn thấy vóc dáng của kẻ sở hữu hai cẳng chân: to lớn và cục mịch. Vai kẻ này khòm xuống. Tóc có vẻ bù xù. Trông hắn ta chẳng khác nào đười ươi.

“Ai vậy?”

Không có câu trả lời. Bóng hình kia chỉ đứng đó, nhìn anh chăm chăm.

Dù vẫn sợ, nhưng Mike không còn tê liệt trước suy nghĩ đó có thể là Stan Uris đội mồ vì vết sẹo trong lòng bàn tay gọi hồn về, một lực hút ma quỷ nào đó đã khiến anh sống dậy như thây ma trong bộ phim kinh dị của hãng Hammer. Bất kể kẻ đó là ai thì chí ít cũng không phải là Stan Uris, bởi lúc trưởng thành, anh đã chững lại khi đạt đến chiều cao một mét bảy.

Đối phương tiến thêm một bước và ánh sáng từ chiếc đèn cầu gần hành lang nhất tỏa đến cạp quần jean không mang thắt lưng của kẻ này.

Chợt Mike nhận ra hắn là ai. Anh biết trước cả khi đối phương cất tiếng.

“Tưởng ai, thằng mọi đen đây mà,” nhân hình nói. “Dạo này có ném đá ai không, mọi đen? Muốn biết thủ phạm đầu độc con chó chết toi của mày không?”

Nhân hình tiến về phía trước. Ánh sáng hắt lên khuôn mặt của Henry Bowers. Mặt hắn mập ra, bệu nhão, tông da mang màu nhợt nhạt bủng beo, hai má chảy xệ, râu ria lởm chởm, lấm tấm màu muối tiêu. Những nếp nhăn gợn sóng - tổng cộng ba đường - in hằn trên tán, ngay phía trên đôi lông mày rậm rì. Hai bên bờ môi dày cui cũng chi chít những nếp nhăn cong cong. Mắt hắn ti hí, nanh nọc bên trong bọng mắt trắng nhợt – đỏ ngầu và vô tri. Đó là khuôn mặt của một kẻ già trước tuổi, một người đàn ông mới ba mươi chín tuổi nhưng đã bước sang tuổi bảy ba. Nhưng đồng thời, đây cũng là khuôn mặt của cậu bé mười hai tuổi. Quần áo của Henry vẫn dính màu xanh của bụi rậm mà hắn trốn chui trốn nhủi cả ngày hôm ấy.

“Mày không có miệng để chào à, thằng mọi đen?” Henry hỏi.

“Chào, Henry.” Anh mơ hồ nhận ra hai hôm nay, anh không nghe đài, mà bình thường, vốn dĩ anh cũng chẳng đọc báo. Trong đời anh có quá nhiều thứ xảy ra. Quá bận rộn.

Quá đảo điên.

Henry xuất hiện từ hành lang nối giữa thư viện trẻ em và thư viện người lớn rồi đứng đó, nhìn Mike với đôi mắt ti hí như mắt heo. Môi hắn toác thành nụ cười gớm khôn tả, để lộ hàm răng sâu lởm chởm.

“Giọng nói,” hắn lên tiếng. “Mày có nghe thấy giọng nói không, thằng mọi đen?”

“Giọng nói gì cơ, Henry?” Anh đưa cả hai tay ra sau lưng như cậu học sinh bị gọi trả bài, và chuyền con dao từ tay trái sang tay phải. Chiếc đồng hồ quả lắc được Horst Mueller tặng vào năm 1923 tích tắc điểm từng giây vào sự tĩnh lặng tựa hồ mặt nước của thư viện.

“Từ Mặt Trăng” Henry đáp. Hắn thọc một tay vào túi. “Chúng phát ra từ Mặt Trăng. Nhiều giọng nói lắm.” Hắn ngừng lại, thoáng chau mày rồi lắc đầu. “Rất nhiều tiếng nói nhưng thật ra chỉ có một. Là giọng của Nó .”

“Mày từng thấy Nó chưa, Henry?”

“Rồi.” Henry gọn lỏn. “Giật đứt đầu Victor. Lý ra mày nên nghe thấy. Nghe như cái phéc mơ tuya khổng lồ roẹt roẹt kéo xuống. Và rồi Nó quay sang tấn công Ợ Hơi. Ợ Hơi đã quần thảo với Nó.”

“Vậy à?”

“Phải. Nhờ vậy mà tao trốn được.”

“Mày mặc hắn đến chết.”

“Tao cấm mày nói như vậy!” Má của Henry đỏ bừng lên. Hắn tiến thêm hai bước. Hắn càng bước ra từ dây rốn nối giữa thư viện trẻ em và thư viện người lớn, dường như vẻ ngoài của hắn càng trẻ trong mắt Mike. Anh trông thấy khuôn mặt Henry vẫn giữ nguyên cái vẻ học hằn ngày xưa, nhưng anh còn thấy một thứ khác: qua bao năm, đứa trẻ được lão Butch Bowers điên khùng đầu độc trong nông trại kia đã càng lúc càng tha hóa. “Tao cấm mày nói vậy! Suýt chút nữa Nó đã giết chết tao.”

“Nó không giết được bọn tao.”

Mắt của Henry lóe lên vui tươi một cách thối nát. “Chưa thôi. Nhưng Nó sẽ giết hết. Trừ khi tao xử hết đám chúng mày mà không chừa cho Nó.” Hắn rút tay khỏi túi. Bên trong là con dao mảnh dài hơn hai mươi phân chạm khắc giả ngà dọc thân. Ở một đầu vật trang trí dị hợm này lấp lánh nút nhỏ bằng crôm. Henry ấn vào thì lưỡi dao dài mười lăm phân bật ra khỏi khe ở cuối tay cầm. Hắn mân mê con dao bấm trong lòng bàn tay, đoạn sải chân về phía bàn mượn sách.

“Xem tao tìm được gì này,” hắn khoe. “Biết chỗ là tìm được ngay. Một bên mí mắt đỏ ngầu của hắn xệ xuống thành cái nháy mắt gớm guốc. “Kẻ trên cung trăng chỉ tao đấy.” Henry nhe nhởn hàm răng. “Nay tao trốn. Quá giang vào ban đêm. Thằng già. Tao đập hắn. Chết tươi luôn. Ném xe ở Newport. Ngay ngoài địa phận Derry, tao nghe thấy giọng nói. Tao nhìn vào cống. Thấy đống quần áo. Và con dao. Con dao ngày xưa.”

“Mày đang quên mất một thứ, Henry.”

Vẫn toe toét cười, Henry chỉ lắc đầu.

“Bọn tao trốn thoát và mày cũng trốn thoát. Nếu Nó muốn giết bọn tao thì Nó cũng muốn giết cả mày.”

“Không đâu.”

“Có đấy. Có thể bọn mày làm lâu la cho Nó, nhưng mày tưởng Nó nể tình bọn mày ư? Nó đã bắt hai đứa bạn của mày, và trong lúc Ợ Hơi chiến đấu với Nó, mày lại bỏ trốn. Nhưng giờ mày trở về đây rồi. Tao nghĩ mày cũng là một phần trong những thứ dang dở Nó muốn tính sổ, Henry ạ. Tao thật sự nghĩ thế.”

“Không phải!”

“Có khi mày sẽ thấy Frankenstein đấy nhỉ. Hay Người sói? Hoặc Ma cà rồng. Hay Gã hề, hoặc Henry! Có khi mày sẽ được tận mục sở thị hình dáng của Nó đấy, Henry ạ. Bọn tao đã thấy rồi. Muốn tao kể với mày không? Muốn tao…”

“Câm mồm!” Henry thét lên và lao đến chỗ Mike.

Mike bước qua một bên và giữ chân ra. Henry vấp ngã, trượt một đoạn dài trên sàn nhà nhẵn thín dưới bao gót chân qua năm tháng. Đầu hắn đập vào chân bàn mà buổi tối hôm đó Hội Cùi Bắp đã ngồi kể lại chuyện xưa. Trong một khắc, hắn bị choáng, con dao buông lơi trong tay.

Mike chạy lại chỗ hắn, toan chộp lấy con dao. Chỉ một chút nữa thôi, anh đã có thể kết liễu Henry, anh đã có thể cắm thẳng con dao rọc bì thư đề dòng chữ CHÚA CỨU RỖI do hội thánh của mẹ anh ngày xưa gửi tới vào gáy Henry rồi gọi cảnh sát. Chắc sẽ có dăm ba thứ rùm beng thủ tục phải lo, nhưng chẳng há gì – ở Derry, một nơi những vụ đâm chém bạo lực xảy ra như cơm bữa, thì không.

Tuy nhiên, điều khiến anh dừng lại là vì anh chợt nhận ra, tựa sấm động trời quang, rằng nếu giết Henry thì anh đang tiếp tay cho Nó, tương tự như việc Henry sẽ tiếp tay cho Nó bằng cách kết liễu Mike. Và còn một thứ khác: vẻ mặt mà ban nãy anh nhìn thấy nơi Henry, vẻ mặt mệt mỏi, chơi vơi của một đứa trẻ bị lợi dụng như con tốt thí, bị đẩy vào con đường độc hại vì mục đích giấu kín. Henry lớn lên trong bán kính tiêm nhiễm của Butch Bowers; bảo sao hắn bán linh hồn cho Nó trước khi hắn kịp biết đến sự tồn tại của thế lực ấy.

Do vậy, thay vì cắm dao mở thư vào cái gáy không chút phòng bị của Henry, anh thụp xuống gối và lao đến giật con dao gập. Dao xoáy trong tay anh - tựa hồ bản thân nó có ý chí – ngón tay của anh cứa vào lưỡi dao. Cơn đau chưa lan ra ngay lập tức, chỉ có màu đỏ ri rỉ chảy từ ba ngón tay phải vào lòng bàn tay đầy sẹo của anh.

Anh rụt người lại. Henry lăn đi rồi kịp thời chộp lấy dao. Mike quỳ trên gối, hai bên đưa mắt nhìn nhau, cả hai đều chảy máu: Mike tay, Henry ở mũi. Henry lắc đầu nguầy nguậy, những giọt máu bắn vào màn đêm.

“Tưởng mày thông minh lắm chứ!” Hắn ré lên khùng khục. “Mày rốt cuộc cũng chỉ là thằng đàn bà thôi! Đánh nhau công bằng thì tao đã thắng mày rồi!”

“Bỏ dao xuống, Henry,” Mike trầm tĩnh nói. “Tao sẽ gọi cảnh sát. Họ sẽ tới bắt mày về lại Đồi Juniper. Mày sẽ ra khỏi Derry và được an toàn.”

Henry toan đốp chát lại nhưng không thể. Hắn không thể nói với thằng mọi đen đáng ghét này rằng hắn còn lâu mới an toàn ở đồi Juniper, ở Los Angeles hay trong những cánh rừng mưa nhiệt đới ở Timbuktu. Chẳng chóng thì chày, Mặt Trăng sẽ mọc, trắng hếu như xương, lạnh căm như tuyết, những giọng nói ma ấy sẽ eo éo, Mặt Trăng sẽ biến dạng thành mặt Nó, í ới, nắc nẻ, nạt nộ. Hắn nuốt thứ máu sệt dính xuống họng.

“Mày chẳng bao giờ chiến đấu công bằng!”

“Mày thì có?” Mike hỏi.

“Thằng chó đẻ khốn kiếp, mọi rợ da đen, cà răng căng tai!” Henry thét lên, lồng lộn lao đến Mike.

Ngả người ra sau để tránh cú lao tới vụng về và cuống cuồng của đối phương, Mike bị mất thăng bằng nên ngã đập lưng xuống sàn. Henry lại một lần nữa tông vào bàn, nhưng hắn bật dậy ngay, quay phắt rồi chộp lấy tay Mike. Mike xoay con dao rọc bì thư, đâm phập vào cẳng tay Henry. Henry thét lên nhưng thay vì buông tay, hắn càng siết chặt. Hắn kéo người mình về phía Mike, tóc tai lòa xòa che mắt, máu mũi chảy ròng ròng trên đôi môi dày cui.

Mike xoay xở đạp chân vào hông của Henry hòng đẩy hắn ra xa. Henry vung lưỡi dao thành vòng cung sáng lóa, và cả lưỡi dao dài mười lăm phân cắm thẳng vào đùi Mike. Con dao cắt vào mượt như thể cắt bơ. Henry rút dao ra, máu nhỏ lỏng tỏng từ lưỡi dao; và với tiếng thét đau đớn, Mike gồng mình đẩy hắn ra xa.

Anh chật vật đứng dậy nhưng Henry nhanh hơn một nhịp, và lần này, Mike chỉ suýt soát né được cú tấn công vụng về tiếp theo của đối phương. Anh có thể cảm thấy máu đang chảy ròng ròng xuống chân mình đầy báo động, khiến giày anh nặng dần. Hình như hắn đâm trúng động mạch đùi của mình. Chúa ơi, hắn làm mình bị thương nặng quá. Máu ở khắp nơi, chảy cả ra sàn. Giày không ăn thua nữa rồi, khốn kiếp, mới mua hai tháng trước xong…

Henry lại lao tới, thở hồng hộc, hổn hển như con trâu trong cái nóng. Mike loạng choạng đứng sang một bên và quơ lưỡi dao về phía hắn. Con dao rạch chiếc áo rách nát của Henry, cứa vết cắt sâu hoắm trên sườn hắn. Henry gầm gừ lúc Mike đẩy hắn ra.

“Đồ mọi đen chơi bẩn!” Hắn la lên. “Mày xem mày vừa làm gì thế hả?”

“Bỏ dao xuống, Henry,” Mike nói.

Bỗng nhiên, có tiếng cười khúc khích ré lên đằng sau họ. Henry ngước nhìn… rồi thét lên sợ hãi đến cùng cực, đưa hai tay lên má thảng thốt như bà già thất kinh. Ánh nhìn của Mike hướng thẳng đến quầy mượn trả sách. Có một tiếng bùm rất to vang vọng, và rồi thủ cấp của Stan Uris bật lên từ sau bàn. Lò xo xoắn cắm thẳng vào cái cổ máu me bị chặt đứt. Khuôn mặt nhoe nhoét phấn. Hai má đánh phấn hồng. Những cục bông màu cam khổng lồ choán chỗ đôi mắt. Cái đầu gớm ghiếc của Stan cứ thế gật tới gật lui ở một đầu lò xo, tựa khóm hướng dương to tướng bên ngoài căn nhà trên đường Neibolt. Miệng nó há ra và giọng nói rít ré, khanh khách bắt đầu hô to: “Giết hắn, Henry! Giết thằng mọi đen, giết thằng hạ đẳng ấy, giết đi, giết đi, GIẾT HẮN ĐI!”

Mike quay người lại phía Henry, u ám nhận ra mình đã lọt tròng, mơ hồ tự hỏi không biết Henry thấy khuôn mặt kẻ nào ở đầu lò xo. Stan? Victor Criss? Hay đầu của bố hắn?

Mike vội vàng lùi lại, cẳng chân bị Henry đâm bất thình lình khuỵu xuống khiến anh ngã vật ra sàn. Chân anh không còn cảm giác gì nữa. Nó lạnh ngắt và xa xôi quá. Nhìn xuống, anh thấy quần tây màu kem của mình đã chuyển thành màu đỏ tươi.

Lưỡi dao của Henry vụt qua trước mũi anh.

Mike đâm con dao rọc bì thư với dòng chữ CHÚA CỨU RỖI khi Henry vòng lại tấn công lần nữa. Henry nhào thẳng vào dao như con bọ cắm vào ghim. Máu nóng ồng ộc chảy lên tay Mike. Có tiếng rắc vang lên, và khi rút tay ra, anh chỉ thấy phần chuôi dao. Lưỡi dao đã nằm gọn trong bụng Henry.

“Aaaa! Thằng mọi đen!” Henry thét vang, khum tay lên mảnh dao thò ra. Máu chảy qua ngón tay hắn. Hắn cúi xuống nhìn, mắt trợn tròn như không tài nào tin nổi. Cái đầu cắm trên lò xo khổng lồ ken két kia ré lên cười ha hả. Cảm thấy choáng váng và mệt mỏi, Mike quay lại nhìn thì trông thấy đầu của Huggins Ợ Hơi, nút bần chai sâm panh bằng người đội ngược mũ bóng chày New York Yankees. Anh rên lên thật to, tiếng rên xa xăm, vang vọng trong chính tai anh. Anh ý thức mình đang ngồi trong vũng máu ấm… máu của chính anh. Nếu không buộc ga-rô lên chân, chắc mình chết mất.

“Aaaaaaaa! Thằng mọi đeeeeennnn!” Henry gào rống. Một tay ôm cái bụng máu me, một tay cầm con dao gấp, hắn loạng choạng lùi khỏi Mike, đi về phía cửa thư viện. Hắn ngả nghiêng hết bên này sang bên kia, băng qua gian phòng chính vang vọng như viên bi bắn ra trong trò chơi điện tử. Va phải ghế bành, hắn hất đổ nó. Tay hắn quơ quàng gạt đổ một giá đựng báo xuống sàn. Hắn với đến cửa, đưa tay mở toang một cánh rồi lao vào đêm đen.

Ý thức của Mike càng lúc càng mờ mịt. Anh mò mẫm thắt lưng bằng những ngón tay tê dại. Mãi anh mới tháo được móc khóa và kéo thắt lưng ra. Anh vòng nó quanh cẳng chân xối xả tuôn máu của mình ngay dưới háng và siết chặt lại. Một tay giữ chân, anh lết đến bàn mượn trả sách. Điện thoại ở đó. Anh không chắc mình sẽ làm thế nào để với lấy điện thoại, nhưng giờ điều đó chưa phải vấn đề. Anh phải mò được đến nơi đã. Thế giới chao đảo, mờ mịt, càng lúc càng nhạt nhòa sau những cơn sóng xám xịt. Anh thè lưỡi ra cắn thật chặt. Cơn đau nhói lên ngay lập tức. Thế giới rõ nét trở lại. Nhận ra mình vẫn giữ chuôi dao rọc bì thư trong tay, anh ném đi. Cuối cùng anh cũng tới nơi, vậy mà quầy bàn mượn trả sách cao chẳng khác gì núi Everest.

Mike dùng chân còn lại của mình làm điểm tựa và rướn người dậy, một tay chộp lấy cạnh bàn, tay kia vẫn giữ thắt lưng. Miệng anh méo xệch, run rẩy nhăn nhó, mắt nhắm tịt lại. Mãi anh mới vươn người lên được. Anh đứng đó, có chân như con cò, mò mẫm đến điện thoại. Dán cạnh điện thoại là số của cứu hỏa, cảnh sát và bệnh viện. Với ngón tay run lẩy bẩy tưởng chừng xa chục cây số, Mike bấm số bệnh viện: 555-3711. Anh nhắm mắt lại lúc điện thoại bắt đầu đổ chuông… và trợn trừng mắt khi giọng của gã hề Pennywise trả lời.

“Xin chào mọi đen!” Pennywise rít lên rồi cười ha hả, tiếng cười như thủy tinh bể cứa vào tai Mike. “Mày nói gì kia? Mày sao rồi? Tao nghĩ mày chết chắc rồi, mày có nghĩ thế không? Tao nghĩ Henry chơi mày cú đẹp đấy! Muốn bóng bay không, Mikey? Muốn bóng bay không? Mày thế nào rồi? A lô!”

Mắt của Mike hướng lên mặt đồng hồ quả lắc mang tên Đồng hồ Mueller, chẳng buồn kinh ngạc khi trông thấy mặt đồng hồ đã biến thành khuôn mặt của bố anh, xám xịt và rệu rã vì ung thư. Đôi mắt trợn ngược, trắng dã. Chợt bố anh thè lưỡi ra và đồng hồ bắt đầu điểm.

Mike trượt tay khỏi quầy mượn trả sách. Anh lảo đảo đứng trên cái chân lành của mình rồi khuỵu xuống. Điện thoại đung đưa trước mặt anh như quả lắc của người thôi miên. Càng lúc càng khó giữ thắt lưng.

“Xin chào quý bạn!” Pennywise vui tươi ré lên từ đầu dây bên kia. “Ta là cá vua đây! Ta là cá vua ở Derry, chuẩn không cần chỉnh. Quý bạn có thấy thế không?”

“Nếu có ai nghe máy,” Mike khàn giọng, “một giọng nói thật sự đằng sau giọng nói tôi đang nghe thấy, xin hãy giúp tôi. Tôi là Michael Hanlon, hiện đang ở Thư viện công cộng Derry. Tôi đang chảy rất nhiều máu. Có ai nghe thấy không, vì tôi không nghe được. Tôi bị cản trở nên không nghe thấy. Nên nếu có ai ở đó, xin hãy mau chóng tới cứu tôi.”

Anh nằm nghiêng, có chân lên thành tư thế bào thai. Anh quấn hai vòng thắt lưng quanh tay phải rồi tập trung hết sức nắm lấy nó trong khi thế giới xung quanh anh nhạt nhòa vào những đám mây xám xịt tựa bong bóng.

“Xin chào, quý bạn sao rồi?” Pennywise thét lên từ chiếc điện thoại đung đưa. “Mày sao rồi, thằng mọi đen khốn kiếp? Xin chào

4

Đường Kansas/ 12 giờ 20 phút trưa

… đằng ấy,” Henry Bowers cất tiếng. “Mày khỏe không, con khốn?”

Beverly ngay lập tức quay người toàn chạy trốn. Phản ứng của cô nhanh nhạy đến độ bọn chúng đều bất ngờ, và bình thường, cô đã có thể cao chạy xa bay… nhưng mái tóc của cô đã không cho phép. Henry chộp lấy tóc cô, giật cô lại. Hắn dí sát mặt, nhe răng cười với cô. Hơi thở của hắn nồng nặc, ấm nóng và hôi hám.

“Mày thế nào rồi?” Henry Bowers hỏi. “Mày đi đâu đấy? Xuống chơi với đám bạn chết toi của mày hả? Để tao xẻo mũi mày rồi bắt mày ăn nhé. Mày thích vậy không?”

Cô quẫy đạp để thoát thân. Henry cười, nắm tóc giật đầu cô tới lui. Con dao loang loáng phản chiếu dưới ánh nắng tháng Tám đầy nguy hiểm.

Chợt tiếng còi xe vang lên inh ỏi.

“Này! Này! Các cậu làm gì vậy? Thả cô bé ra!”

Một bà cụ ngồi sau tay lái chiếc xe Ford 1950 tươm tất. Bà đánh xe vào lề đường, nhoài người qua ghế bọc vải nỉ rồi thò đầu ra từ cửa sổ hành khách. Trông thấy khuôn mặt tức giận và thành thật của bà cụ, lần đầu tiên vẻ đờ đẫn biến mất khỏi đôi mắt của Victor Criss, hắn lo lắng quay sang nhìn Henry. “Mình…”

“Cứu cháu với!” Bev thảng thốt hét lên. “Hắn có dao! Hắn có dao !”

Cơn giận của bà cụ chuyển sang lo lắng, ngạc nhiên và cả sợ hãi. “Các cậu đang làm gì vậy? Để cô bé yên!”

Bên kia đường - Bev trông thấy rất rõ – Herbert Ross đứng dậy khỏi ghế xếp trên hiên nhà, tiến lại lan can rồi dáo dác nhìn. Mặt ông ta đờ đẫn như mặt Huggins Ợ Hơi lúc này. Đoạn ông ta gấp báo, quay đầu im ỉm bước vào nhà.

“Để cô bé yên!” Bà cụ run run ré lên.

Henry nhe răng rồi đột nhiên lao đến xe của bà cụ, giật tóc lôi theo cả Beverly. Cô vấp ngã, một bên gối khuỵu xuống và bị kéo xềnh xệch. Chân tóc cô đau đến không tưởng. Cô cảm thấy mình phải đứt cả nắm tóc là ít.

Bà cụ hét toáng, hoảng loạn nâng cửa kính bên ghế hành khách lên. Vẫn gào rú, Henry chém xuống, lưỡi dao trượt trên mặt kính. Bà lão buông chân khỏi bàn đạp chiếc Ford cũ, khiến chiếc xe giật cục ba lần thật to, quành xuống đường Kansas, bật lên ở lề đường rồi mắc kẹt. Henry chạy theo, vẫn nắm đầu Beverly. Victor liếm môi nhìn quanh. Ợ Hơi kéo chiếc mũ bóng chày New York Yankees xuống trán rồi đưa tay bứt tai đầy bối rối.

Bev thoáng thấy khuôn mặt trắng bệch vì sợ hãi của bà cụ, rồi thấy bà cuống quýt khóa cửa xe lại, đầu tiên là ở phía ghế hành khách, sau đó là ở phía mình. Động cơ chiếc xe Ford gầm lên nhưng tắc tị. Henry giơ chân và thúc bốt vào đèn hậu.

“Biến khỏi đây mau, bà già chết dịch!”

Bánh xe rít lên lúc bà lão lao xe xuống đường. Chiếc xe tải trờ tới phải vòng ra để tránh xe bà, bấm còi inh ỏi. Quay người lại nhìn Bev, Henry vừa nhe nhởn nụ cười gớm ghiếc thì cô đưa chân đạp thẳng vào bộ hạ của hắn.

Nụ cười trên khuôn mặt của Henry biến thành cái nhăn nhó vì đau đớn. Con dao bấm rơi khỏi tay hắn, lanh canh rớt xuống vỉa hè. Tay kia buông mớ tóc bù xù của cô ra (nhưng còn kịp giật thêm một cú đau điếng), hắn sụm gối, mấp máy toan thét lên, bưng lấy bộ hạ. Cô có thể thấy những túm tóc màu đồng của cô trong tay hắn, và khoảnh khắc ấy, bao nhiêu sợ hãi trong cô biến thành nộ khí. Cô hít một hơi thật sâu rồi khạc bãi đờm to tướng lên đầu hắn.

Đoạn cô quay người, co giò chạy.

Ợ Hơi lạch bạch đuổi theo cô được ba bước thì dừng lại. Hắn và Victor quay lại chỗ Henry. Hắn ta gạt chúng qua một bên, loạng choạng đứng dậy, hai tay vẫn ôm háng, đây không phải lần đầu tiên hắn bị đạp vào hạ bộ trong mùa hè này.

Hắn cúi xuống nhặt dao. “… mau,” hắn khò khè.

“Gì hả, Henry?” Ợ Hơi lo lắng hỏi.

Henry quay ngoắt sang nhìn hắn, khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi vì đau và căm tức, đến độ Ợ Hơi phải lùi lại một bước. “Tao bảo… đuổi theo… mau!”, hắn gằn từng chữ, lảo đảo chạy theo hướng Beverly thoát thân, tay giữ rịt lấy háng mình.

“Giờ sao mà bắt được nó hả Henry,” Victor e ngại nói. “Lạy hồn, mày còn chẳng đi nổi.”

“Mình sẽ bắt được nó,” Henry hổn hển. Môi trên của hắn nâng lên hạ xuống trong vvô thức như con chó nhe nanh. Mồ hôi túa ra như tắm trên trán, chảy xuống hai má phừng phừng. “Bọn mình sẽ bắt được nó. Vì tao biết nó đi đâu. Nó sẽ xuống Vùng Đất Cằn để gặp đám chết toi kia, đám

5

Nhà nghỉ thị trấn Derry/ 2 giờ sáng

bạn tớ,” Beverly nói.

“Hử?” Bill nhìn cô. Suy nghĩ của anh nãy giờ trôi dạt đâu đó thật xa. Hai người vừa đi vừa nắm tay nhau trong sự im lặng dễ chịu pha lẫn chút say đắm. Anh chỉ kịp nghe thấy từ cuối cùng cô nói. Cách đó một dãy nhà, ánh sáng từ Nhà nghỉ Thị trấn chiếu qua lớp sương là là trên mặt đất.

“Tớ bảo các cậu là những người bạn tốt nhất của tớ. Những người bạn duy nhất tớ có ngày đó.” Cô mỉm cười. “Tớ thấy tớ không giỏi kết bạn cho lắm, dù tớ có một cô bạn rất tốt ở Chicago tên là Kay McCall. Tớ nghĩ cậu sẽ thích cô ấy đấy, Bill.”

“Có lẽ thế. Tớ cũng không phải típ người dễ kết bạn mới.” Anh mỉm cười. “Ngày ấy, chúng ta chỉ c-c-cần có nhau.” Anh lặng nhìn những giọt sương lấp lánh trên mái tóc cô, trầm trồ quầng sáng do đèn hắt quanh đầu. Đôi mắt cô ngước nhìn anh nghiêm nghị.

“Giờ tớ cần một điều,” cô nói.

“Gi-Gì thế?”

“Tớ cần cậu hôn tớ,” cô đáp.

Anh nghĩ về Audra, và lần đầu tiên anh nhận ra vợ anh trông giống Beverly. Anh tự hỏi phải chăng đó chính là nguồn cơn mà Audra thu hút anh đến thế, phải chăng đó là lý do anh dồn hết can đảm ngỏ lời với cô vào cuối buổi tiệc Hollywood lúc hai người được giới thiệu với nhau. Anh chạnh lòng tội lỗi… và rồi anh ôm Beverly, cô bạn gái từ thuở nhỏ, vào lòng.

Nụ hôn của cô nồng nàn, ấm áp và ngọt ngào. Ngực cô áp vào chiếc áo khoác không cài khóa của anh, hông cô áp vào người anh… rồi lại buông lơi… rồi áp lại. Nhịp thứ hai khi hông cô buông lơi, anh luôn cả hai tay vào mái tóc cô và áp vào người cô. Cảm nhận anh đang dần cứng lên, cô khẽ rên rồi vùi mặt vào cổ anh. Những giọt nước mắt chảy lên da anh, nóng ấm và ý nhị.

“Nào,” cô thỏ thẻ. “Nhanh lên.”

Anh nắm tay cô, hai người rảo bước về phía Nhà nghỉ Thị trấn. Tiền sảnh xưa cũ, trang trí bằng cây cối và vẫn còn đó nét duyên dáng đang dần phai mờ. Nội thất mang phong cách Thợ đốn gỗ thế kỷ 19. Giờ này, sảnh vắng tanh vắng ngắt, ngoại trừ anh tiếp tân đang ngồi trong văn phòng bên trong, hai chân gác lên bàn, mắt dán vào ti vi. Bill bấm nút thang máy lên tầng ba với ngón tay khẽ run lên – vì phấn khích? lo âu? tội lỗi? hay tất cả cộng lại? Ồ tất nhiên, có cả một cảm giác sung sướng và sợ hãi đến phát điện nữa. Mớ bòng bong cảm xúc ấy chẳng dễ chịu gì cho cam, nhưng chúng cần thiết. Anh dắt cô đi dọc hành lang về phòng anh, bối rối nghĩ trong đầu nếu anh có hành vi không đoan chính thì công cuộc ngoại tình ấy nên được thực hiện trong phòng anh chứ không phải phòng cô. Đầu óc anh bâng quơ nghĩ về Susan Browne, người đại diện đầu tiên và cũng là người tình đầu tiên khi anh còn chưa chạm tuổi đôi mươi.

Lừa dối. Mình đang lừa dối vợ mình. Anh cố gắng chấp nhận điều này, nhưng nó vừa thực mà lại vừa vô thực. Chỉ biết cuồn cuộn dấy lên trong lòng anh là cảm giác nhớ nhà da diết: cảm giác anh đang dần vụn vỡ. Giờ này chắc Audra đã thức dậy, pha cà phê, choàng áo ngủ ngồi ở bàn bếp, có lẽ cô đang đọc một cuốn tiểu thuyết của Dick Francis.

Chìa khóa của anh lạch cạch tra vào ổ khóa phòng 311. Nếu họ lên phòng Beverly nằm trên tầng năm, họ sẽ thấy đèn báo tin nhắn thoại trên điện thoại nhấp nháy; người lễ tân trực bàn đang xem ti vi sẽ gửi cô lời nhắn từ cô bạn tên Kay ở Chicago (sau cuộc gọi hoảng loạn của Kay, anh nhân viên cuối cùng cũng nhớ mà gửi lời nhắn), mọi thứ có thể đi theo hướng khác: năm người bọn họ đã không phải trốn cảnh sát Derry khi ban mai xuất hiện. Nhưng hai người đã chọn đi vào phòng anh – tựa hồ vận mệnh được an bài từ trước.

Cửa mở. Họ bước vào bên trong. Cô ngước nhìn anh với đôi mắt long lanh, hai má ửng hồng, ngực nảy lên nảy xuống vội vã. Anh ôm cô vào lòng và choáng váng trước cảm giác chuẩn xác ấy - cảm giác vòng tròn giữa quá khứ và hiện tại đóng lại trơn tru hoàn mỹ. Thấy anh vụng về gạt chân đóng cửa phòng, cô phì cười, phả làn hơi nóng ấm vào miệng anh.

“Tim tớ…” cô nói và đặt tay anh lên ngực trái của cô. Anh có thể cảm nhận trái tim cô dưới bầu ngực săn chắc, mềm mại đến tê tái, đang đập rộn như động cơ.

“T-T-Tim cậu…”

“Tim tớ.”

Hai người họ chuyển lên giường, vẫn mặc quần áo, mải miết trao nhau những nụ hôn. Tay cô luồn vào trong áo anh rồi lại rút ra. Cô lần ngón tay dọc theo hàng nút, dừng bên hông anh… rồi ngón tay ấy trượt xuống sâu hơn, mân mê dương vật đang cứng như đá. Bản thân anh còn phải bất ngờ khi những phần cơ ở hạ bộ mình có giật mạnh mẽ. Anh rời nụ hôn rồi dịch người ra xa cô.

“Bill?”

“Mình d-d-dừng lại ch-ch-chút đã,” anh nói. “Kẻo tớ phóng tr-tr-trong quần như đứa c-con nít mất.”

Cô lại khẽ cười và đưa mắt nhìn anh. “Thế à? Hay cậu đang lưỡng lự đấy?”

“Lưỡng lự sao” Bill nói. “Khi nào tớ ch-ch-chẳng lưỡng lự.”

“Tớ thì không. Tớ căm thù chồng tớ,” cô nói.

Anh nhìn cô, nụ cười tắt ngúm.

“Thành thật mà nói, tớ không hiểu nổi tại sao cuộc đời tớ lại theo ngã rẽ ấy cho đến tối nay,” cô tâm sự. “À không, tớ biết chứ – tớ đoán tớ biết tất cả. Chồng tớ đánh đập tớ. Tớ cưới hắn ta vì… vì bố tớ lúc nào cũng lo cho tớ, chắc thế. Bất kể tớ cố đến đâu chăng nữa, bố tớ cũng lo. Và có lẽ tớ biết rằng bố tớ sẽ chấp thuận một kẻ như Tom. Vì Tom lúc nào cũng lo lắng. Hắn lo rất nhiều. Và miễn là có người lo cho tớ, tớ sẽ được an toàn. Hơn cả an toàn. Tớ sẽ tồn tại thật sự .” Cô nhìn anh nghiêm trang. Áo của cô đã kéo ra khỏi cạp quần, để lộ mảng bụng trắng muốt. Anh những muốn hôn lên đó. “Nhưng không có gì là thật, tất cả chẳng khác nào một cơn ác mộng. Kết hôn với Tom giống như trở lại vào ác mộng. Tại sao một người bình thường lại làm vậy hả Bill? Tại sao một người lại tự nguyện trở về với ác mộng kia chứ?”

“Lý do d-d-duy nhất tớ b-biết là người t-ta quay về để t-t-tìm chính b-b-bản thân mình,” Bill trả lời.

“Ác mộng nằm ở đây,” Bev nói. “Ác mộng ở chính Derry. Tom chỉ là thứ cỏn con so với nơi này. Giờ tớ có thể thấy hắn ta rõ nét hơn rồi. Tớ căm ghét bản thân mình vì đã ngậm đắng nuốt cay ở với hắn suốt bao năm… Cậu không biết đâu… những điều hắn bắt tớ làm, và ừ, tớ còn vui vẻ làm mới ngu chứ, cậu tưởng tượng nổi không, vì hắn lo cho tớ. Tớ chỉ biết khóc… nhưng nhiều lúc, nó quá đỗi bẽ bàng. Cậu hiểu không?”

“Đừng vậy,” anh khẽ nói và nắm lấy tay cô. Cô siết tay anh thật chặt. Đôi mắt cô rực sáng, nhưng không một giọt lệ nào lăn xuống. “Ai mà chẳng có s-s-sai lầm. Nhưng đời chẳng phải b-b-bài thi. Cậu chỉ cố hết s-s-sức đi qua cuộc đời mà thôi.”

“Ý tớ là,” cô nói tiếp, “tớ không lén lút sau lưng Tom, hoặc có lợi dụng cậu để ăn miếng trả miếng hắn ta hay bất cứ điều gì như thế. Đối với tớ, hành động này là một điều… bình thường, dung dị và ngọt ngào. Nhưng tớ không muốn khiến cậu tổn thương, Bill. Tớ cũng không muốn đưa cậu vào tròng để rồi khiến cậu dằn vặt.”

Anh nghĩ về điều đó, nghĩ thật lung, từ đầu chí cuối. Nhưng cái câu luyến láy quái dị kia - anh đấm tay vào cột nhà, vân vân – bắt đầu lớn vởn trong đầu, phá bĩnh chuỗi suy tư của anh. Hôm nay quả là một ngày dài. Cuộc gọi của Mike và lời mời ăn trưa ở Jade Phương Đông như đã xảy ra từ cả trăm năm trước. Quá nhiều chuyện ập tới. Quá nhiều ký ức, đơn cử như những bức hình trong album của George.

“Bạn bè không đưa nh-nhau vào tr-tr-tròng,” anh nói, nằm trên giường rướn về phía cô. Đôi môi họ chạm vào nhau, và rồi anh cởi nút áo của cô. Một tay cô vòng ra sau gáy, kéo anh lại gần, tay kia kéo khóa quần rồi tụt quần xuống. Phút giây sau, tay anh đã áp lên bụng cô, ấm nóng, sau đó, quần con của cô cởi ra trong nháy mắt; rồi anh đẩy tới, cô mở đường.

Khi anh tiến vào trong, cô khẽ cong lưng về phía chuyển động của anh và rên rỉ, “Hãy là bạn của tớ… Tớ yêu cậu, Bill ạ.”

“Tớ cũng yêu cậu,” anh nói, nụ cười áp vào bả vai gầy của cô. Họ bắt đầu thật chậm rãi, và dần dà, anh cảm nhận mồ hôi túa ra trên da khi cô tăng nhanh nhịp độ bên dưới. Ý thức của anh dồn xuống dưới, tập trung hơn vào sự kết nối giữa hai người. Lỗ chân lông của cô nở rộng, tỏa ra mùi xạ hương quyến rũ.

Beverly cảm thấy mình sắp lên đỉnh. Cô từng bước tiến về phía nó, chuyển động đến nó, chắc như đinh đóng cột nó sắp đến. Cơ thể cô chợt co giật mạnh, như muốn thăng thiên, tuy chưa phải cực khoái nhưng chạm đến một bình nguyên cao hơn tất cả những nơi cô từng đạt tới với Tom hay với hai người yêu mà cô quen trước Tom. Cô ý thức được thứ cô sắp trải nghiệm không chỉ là khoảnh khắc cực khoái mà bạo liệt tựa hồ vũ khí hạt nhân chiến thuật. Cô chợt e sợ… nhưng cơ thể cô lại một lần nữa đẩy nhanh nhịp điệu. Cô cảm nhận được dương vật dài của Bill cứng lên, cả người anh chợt cứng như bộ phận bên trong cô lúc này, và phút giây ấy, cô lên đỉnh – bắt đầu lên đỉnh; khoái cảm lớn lao đến độ nó như đau đớn vỡ bờ, buộc cô phải cắn lên vai anh để ngăn mình không thét lên.

“Ôi Chúa ơi,” Bill thở gấp gáp, và dù cô không dám chắc, nhưng hình như lúc ấy anh đã khóc. Anh rụt lại, cô cứ ngỡ anh sẽ rút ra - cô cố chuẩn bị tinh thần cho khoảnh khắc ấy, bởi nó lúc nào cũng để lại dấu chân khiến cô có cảm giác mất mát, trống rỗng khó tả, chóng vánh – và rồi anh thúc tới thật mạnh một lần nữa. Ngay lúc đó, cô đạt cực khoái lần hai, một điều cô không hay biết mình có thể trải nghiệm, cánh cửa ký ức lại mở ra, cô trông thấy cơ man nào là chim, hàng nghìn con chìm sà xuống mái nhà, đường dây điện thoại, hộp thư Miễn bưu phí ở Derry, những con chim báo hiệu xuân về trên nền trời trắng đục của tháng Tư, cô cảm nhận đau đớn hòa với khoái cảm – nhưng phần nhiều chỉ âm ỉ, tựa mây trắng trên bầu trời xuân sà xuống. Cơn đau thể xác âm ỉ kết hợp với khoái cảm thể xác âm ỉ cùng cảm giác đinh ninh. Ngày ấy, cô đã chảy máu… cô đã… đã…

Tất cả các cậu?” cô bỗng dưng òa khóc, đôi mắt mở to, choáng váng.

Lần này, anh rụt người lại và rút ra, nhưng bàng hoàng trước ký ức vừa hé mở, cô ghì chặt lấy anh.

“Sao kia? Beverly? Cậu c-có sao…”

“Tất cả các cậu? Tớ đã trao thân cho tất cả các cậu?”

Cô thấy khuôn mặt anh đờ ra vì ngạc nhiên, anh há hốc mồm… và anh chợt hiểu tất cả. Nhưng dù bản thân đang váng vất vì sốc, cô biết nó không đến từ những lời cô tiết lộ. Anh đã tự ngộ ra.

“Chúng ta…”

“Bill? Thế là sao?”

“Đó là cách c-c-cậu đưa cả bọn ra ngoài,” anh nói, và giờ đôi mắt anh lóe lên sáng bừng đến mức cô phát sợ. “Beverly, cậu khu kh-không h-hiểu sao? Đó là cách c-c-cậu đưa tất cả ra ngoài! Tất cả mọi người… nhưng chúng ta…” Bỗng dưng trông anh hoảng sợ và bối rối.

“Cậu nhớ hết những chuyện còn lại chưa?”

Anh chậm rãi lắc đầu. “C-C-Cụ thể thì chưa. Nhưng…” Anh nhìn cô, và rồi cô nhận ra anh đang sợ hãi vô cùng. “Điều c-c-cốt lõi là chúng ta đã tìm đường ra bằng l-l-lòng tin. Và tớ không chắc… Beverly ạ, tớ không chắc người lớn có thể làm điều đó.”

Cô im lặng nhìn anh suốt một lúc lâu, đoạn cô ngồi trên mép giường, cởi bỏ quần áo trong vvô thức. Cơ thể cô mịn màng và xinh đẹp, xương sống mờ mờ ảo ảo trong bóng tối khi cô cúi người để cởi đôi tất nylon cao đến đầu gối cô đang mang. Suối tóc được buộc gọn buông xuống một bên vai. Anh thầm bâng quơ nghĩ mình sẽ muốn cô thêm lần nữa trước khi trời sáng, cảm giác tội lỗi lại xuất hiện và được xoa dịu bởi cảm giác an tâm rằng Audra đang cách anh muôn trùng khơi. Bỏ thêm đồng xu vào máy chơi nhạc đi, anh tự nhủ. Bài hát lần này là “Mắt không thấy, tim không đau”. Nhưng đau đớn vẫn hiện diện. Ở khoảng trống giữa người với người chẳng hạn.

Beverly ngồi dậy và kéo chăn lên. “Ngủ thôi. Bọn mình cần ngủ. Cả hai bọn mình.”

“Đ-Đ-Được thôi.” Vì cô nói hoàn toàn chuẩn, và anh đồng ý cả hai tay hai chân. Anh muốn ngả lưng hơn bất cứ điều gì trên đời… nhưng không phải ngủ một mình, riêng đêm nay thì không. Cú đả kích gần nhất đã vơi bớt – có lẽ là vì nó quá chóng vánh, nhưng giờ anh thấy mệt rũ rượi, cạn kiệt năng lượng. Thực tại từng phút từng giây tựa hồ chiêm bao, và dù lòng mặc cảm tội lỗi, anh thấy đây là một nơi an toàn. Anh có thể nằm ở đây thêm ít lâu, ngủ trong vòng tay cô. Anh muốn cảm nhận sự ấm áp, thân mật nơi cô. Cả hai đều mang sắc màu nhục dục, nhưng điều đó chẳng thành vấn đề lúc này.

Anh cởi tất và áo rồi vào nằm cạnh cô. Cô áp sát vào người anh, ngực cô nóng hổi, đôi chân dài mát rượi. Bill ôm cô vào lòng, ý thức những điểm khác biệt – cơ thể cô dài hơn so với Audra, ngực và hông cô đầy đặn hơn. Nhưng cơ thể ấy mời gọi anh.

Lý ra người bên cậu là Ben mới phải, bạn tôi ơi, anh gà gật nghĩ. Tớ nghĩ thật ra mọi chuyện nên đi theo hướng đó. Tại sao không phải là Ben kia chứ?

Đơn giản vì ngày xưa là cậu, bây giờ cũng là cậu. Vì có câu gieo nhân nào gặt quả nấy. Hình như Bob Dylan có câu hát như vậy thì phải… hay Ronald Reagan nói nhỉ. Hoặc có lẽ lúc này là tớ vì Ben là người có nhiệm vụ đưa quý cô về nhà.

Beverly ngọ nguậy cựa vào người anh, không chút dục tính (dù lúc đó anh đang chìm vào giấc ngủ, cô vẫn cảm nhận được anh cọ vào chân cô và thấy vui trong bụng) mà chỉ muốn tìm chút hơi ấm. Cô cũng đang mơ màng ngủ. Sau đằng đẵng bao nhiêu năm, niềm hân hoan khi được ở bên anh là thật. Cô biết điều đó vì nó để lại trong cô hậu vị nhâm nhẩm đắng. Họ chỉ có với nhau đêm nay, và có lẽ chỉ còn một lần nữa trước khi trời sáng. Sau đó, hai người sẽ xuống cống ngầm như xưa, tiến hành săn tìm Nó. Vòng tròn sẽ ngày một siết chặt, cuộc sống hiện tại của họ sẽ hòa trộn vào tháng năm thơ ấu, họ sẽ trở thành những sinh vật sống trên dải băng Mobius.

Hoặc là thế, hoặc họ sẽ bỏ mạng dưới lòng đất.

Cô trở mình. Anh luồn tay qua khoảng trống giữa hông và cánh tay cô rồi nhẹ nhàng ôm lấy bầu ngực cô. Cô không cần phải thức thao láo, ngay ngáy không biết khi nào bàn tay sẽ bất thình lình vê ngực cô, nhéo thật mạnh.

Suy nghĩ của cô dần trở nên rời rạc khi giấc ngủ kéo đến. Như mọi khi, thiếp đi, cô lại thấy vô vàn bông hoa dại rực rỡ – hàng nghìn, hàng vạn bông hoa gật gù chói lọi dưới bầu trời xanh văn vắt. Những hình ảnh ấy phai đi, và rồi cô có cảm giác mình đang rơi – lúc cô còn bé, cảm giác ấy thỉnh thoảng khiến cô giật mình tỉnh giấc, mồ hôi túa ra đầm đìa, khuôn mặt dúm đó chực thét lên thất thanh. Theo như những gì cô đọc trong sách giáo khoa tâm lý thời đại học, việc trẻ em nằm mơ thấy mình rơi là điều khá phổ biến.

Nhưng lần này cô không giật mình thức giấc, cô có thể cảm nhận được sức nặng ấm áp và dễ chịu từ cánh tay Bill, với bàn tay ấp ủ nơi bầu ngực cô. Cô thầm nhủ nếu có rơi, chí ít cô không rơi một mình.

Rồi khi đặt chân xuống, cô tất tả chạy: bất kể giấc mơ này là gì, chẳng hiểu sao nó cứ vùn vụt trôi qua. Cô chạy theo nó, rượt đuổi giấc ngủ, tĩnh lặng, hoặc có lẽ cô chỉ đang đuổi theo thời gian mà thôi. Năm tháng thấm thoắt thoi đưa, cứ đi, đi mãi. Nếu quay người đuổi theo thời thơ ấu của chính mình, ta sẽ phải phi nước đại và chạy trối chết. Năm hai mươi chín tuổi, cô nhuộm tóc theo lọn (nhanh lên) . Năm hai mươi hai tuổi, cô phải lòng một gã cầu thủ bóng bầu dục tên là Greg Mallony suýt chút nữa đã giở trò đồi bại với cô sau bữa tiệc của câu lạc bộ đại học (nhanh lên, nhanh nữa lên) . Năm mười sáu tuổi, cô xỉn quắc cần câu với hai cô bạn ở khu đậu xe Vọng cảnh đồi Bluebird. Năm mười bốn tuổi… năm mười hai tuổi…

… nhanh lên, nhanh nữa, nhanh nữa lên…

Cô chạy vào giấc ngủ, đuổi theo tuổi mười hai, bắt kịp nó, chạy xuyên qua rào ký ức mà Nó dựng lên chắn lối bọn họ (trong giấc mơ, nó có vị như sương mù lạnh lẽo trong buồng phổi đang hồng hộc làm việc của cô,) cô chạy ngược về tuổi mười một, hối hả, vội vàng, chạy để đánh bại quỷ dữ, và cô nhìn lại, nhìn

6

Vùng Đất Cằn/ 12 giờ 40 phút trưa

ra sau vai xem còn bóng dáng bọn chúng không rồi trườn bò xuống triền dốc. Chí ít hiện giờ thì cô chưa thấy gì. Cô đã “cho nó biết thế nào là lễ độ” như lời bố cô thỉnh thoảng hay nói… và mới nghĩ đến bố thôi mà cơn sóng tội lỗi và thối chí lại ập vào cô.

Cô nhìn xuống gầm cầu ọp ẹp, thầm mong trông thấy Ánh Bạc dựng ở đó, nhưng không thấy bóng dáng chiếc xe đạp đâu. Có bụi cây giấu những khẩu súng đồ chơi mà họ lười chẳng đem về nhà, nhưng chỉ có thế. Lần theo lối đi, cô quay lưng lại… thì thấy bọn chúng ở đó, Ợ Hơi và Victor đang dìu Henry, cả đám đứng trên triền dốc như đám lính gác người da đỏ trong phim của Randolph Scott. Mặt Henry trắng bệch, trông phát gớm. Hắn chỉ thẳng vào cô. Victor và Ợ Hơi bắt đầu đỡ hắn trượt xuống triền đồi. Đất cát và sỏi rơi dưới gót chân bọn chúng.

Beverly ngây ra nhìn đám côn đồ một lúc lâu như bị thôi miên. Đoạn cô quay lưng, phi thật nhanh qua con suối róc rách dưới chân cầu, không kịp nhảy lên những tảng đá mà Ben xếp sẵn, đôi giày đạp nước tung tóe. Cô chạy dọc theo con đường, hơi thở phừng phừng trong cổ họng. Cô có thể cảm thấy cơ chân của mình run lên. Cô chẳng còn sức nữa rồi. Phòng sinh hoạt nhóm. Nếu đến được đó, cô sẽ an toàn.

Cô thoăn thoắt chạy trên lối mòn, cành cây quất tới tấp khiến hai má cô càng đỏ, một cành đập trúng mắt khiến cô chảy cả nước mắt. Cô rẽ sang phải, cuống cuồng lao qua những bụi cây rậm rì rồi bước ra khu đất trống. Cửa sập ngụy trang và cửa sổ được mở toang, giai điệu rock and roll rộn ràng vẳng lên. Nghe thấy tiếng chân cô tiến lại, Ben Hanscom ló đầu ra. Một tay cậu cầm hộp kẹo Junior Mints, tay kia cầm cuốn truyện tranh Archie.

Cậu trố mắt nhìn Bev, há hốc mồm. Trong hoàn cảnh khác, có lẽ cảnh tượng ấy sẽ rất buồn cười. “Bev, cậu làm cái quái…”

Cô không buồn trả lời. Cô có thể nghe thấy tiếng cành cây răng rắc, vùn vụt đằng sau, hay đúng hơn là không xa đằng sau; có cả tiếng chửi rủa nghèn nghẹt. Nghe như thể Henry đang dần lấy lại sức. Vì thế, cô cứ thế chạy thẳng đến cửa sập hình chữ nhật đang mở toang, mái tóc rối tung, vướng nào lá cây, nào cành cây cũng như cáu bẩn sau khi cô lăn lê bò toài dưới xe chở rác, tung tẩy đằng sau.

Thấy cô lao đến như Sư đoàn Dù 101, Ben thụp xuống nhanh như cắt. Beverly nhảy vào và được cậu vụng về đón lấy.

“Đóng tất cả cửa lại,” cô hổn hển. “Nhanh lên, Ben, kẻo không kịp! Chúng sắp đến rồi!”

“Ai kia?”

“Henry và bè lũ của hắn! Henry phát điên rồi, hắn thủ cả dao…”

Chừng đó là đủ với Ben. Cậu quăng hộp kẹo Junior Mints và cuốn truyện tranh xuống, rên hừ hừ kéo cửa. Bên trên cửa phủ các mảng cỏ; keo Tangle-Track vẫn giữ chúng dính cứng. Vài mảng cỏ hơi lỏng nhưng không sao. Beverly nhón chân đóng cửa sổ lại. Bao trùm họ là bóng tối.

Cô quơ quàng tìm Ben rồi ôm cậu thật chặt vì hoảng sợ. Cậu khẽ ngẩn ngơ rồi đáp trả cái ôm của cô. Hai người bọn họ đang quỳ trên gối. Chợt Beverly kinh hãi nhận ra đài của Richie vẫn đang vang lên đâu đó giữa màn đêm: Richard Nhỏ Bé rộn rã giai điệu “Cô gái mê đắm lòng người”.

“Ben ơi… cái đài… bọn chúng nghe thấy thì chết…”

“Ôi Chúa ơi!”

Phần hông mập mạp của cậu húc vào cô, suýt chút nữa khiến cô ngã lăn quay trong bóng tối. Cô nghe thấy tiếng đài rơi xuống đất. “Cô gái mê đắm lòng người, bao chàng ngẩn ngơ ngắm nhìn.” Richard Nhỏ Bé háo hức thông báo với họ bằng giọng ca sang sảng khàn khàn rất riêng. “Mê đắm!” Nhóm hát bè cũng ông ổng hùa theo, “cô gái mê đắm lòng người!” Đến lúc này, Ben hoảng lên hơn hẳn. Tiếng họ thở chẳng khác nào hai đầu máy hơi nước. Bỗng tiếng rắc vang lên… cả không gian im bặt.

“Thôi chết.” Ben nói. “Tớ nghiền nát nó rồi. Richie nổi cơn tam bành mất.” Cậu mò mẫm tìm cô trong màn đêm. Cảm thấy tay cậu chạm vào ngực mình, cô vội rụt lại như thể phải bỏng. Quơ quàng tìm cậu, chụp được áo cậu, cô kéo cậu lại gần.

“Beverly, cái…”

Cậu im lặng. Họ ngồi bên nhau, tay ôm lấy đối phương và ngước nhìn. Xung quanh không hẳn đen như mực, vẫn có một tia sáng mạnh của khe cửa sập và ba tia sáng quanh cửa sổ. Một trong ba kẽ hở đủ rộng để ánh nắng mặt trời chiếu vào phòng sinh hoạt nhóm. Cô chỉ cầu mong chúng không phát hiện ra điều đó.

Cô nghe thấy tiếng chúng đến gần. Ban đầu, cô không nghe ra chúng nói gì… nhưng sau đó âm thanh rõ ràng hơn. Cô siết tay Ben.

“Nếu nó đi vào rừng tre, mình có thể truy vết nó ngay,” Victor nói.

“Chúng nó chơi quanh đây thôi,” Henry đáp. Giọng hắn nghẹt lại, từng từ phát ra thều thào như phải vận sức mới nói nổi. “Taliendo GỈ Mũi nói vậy. Hôm bọn mình ném đá với chúng cũng thế, chúng tụ tập quanh khu này.”

“Ừ, chúng nó chơi bắn súng này nọ,” Ợ Hơi bảo.

Đột nhiên có tiếng chân nện thình thịch ngay trên đầu bọn họ, nắp hầm phủ cỏ rung lắc lên xuống. Đất cát lả tả rơi xuống khuôn mặt đang ngẩng lên của Beverly. Một tên, rồi hai tên và có khi cả ba tên bọn chúng đang đứng ngay trên phòng sinh hoạt nhóm. Bụng cô quặn thắt; cô phải cắn răng để không ré lên. Vừa ngước nhìn, Ben đưa bàn tay to bè lên má cô, áp mặt cô vào cánh tay cậu, chờ đợi xem chúng có phát hiện ra không… hay chúng biết rồi mà chỉ giả vờ chơi trò mèo vờn chuột.

“Chúng có chỗ riêng” Henry nói. “Thằng Gỉ mũi nói tao vậy. Hình như nhà trên cây hay gì đó. Chúng gọi nó là phòng sinh hoạt.”

“Tao đập cho chúng nó lên mây luôn chứ lên cây bõ bèn gì, Victor nói. Ợ Hơi phá lên cười hô hố trước câu cợt nhả của bạn mình.

Thịch, thịch, thịch, tiếng chân vang lên trên đầu. Nắp phòng sinh hoạt nhóm chuyển động nhiều hơn. Chẳng chóng thì chầy, chúng sẽ phát hiện ra điều này, bình thường mặt đất sẽ không đàn hồi như thế.

“Xuống chỗ con sông xem sao,” Henry nói. “Tao cá nó dưới đó.”

“Ờ được.” Victor đồng ý.

Thịch, thịch . Chúng đang bỏ đi. Bev khe khẽ thở phào nhẹ nhõm qua hàm răng nghiến chặt… Bỗng dưng Henry lên tiếng: “Mày ở đây canh gác con đường đi, Ợ Hơi.”

“Được,” Ợ Hơi nói rồi bắt đầu đi đi lại lại, thỉnh thoảng hắn bước ra khỏi nắp hầm, thỉnh thoảng lại đi ngang qua nó. Đất cát lại lả tả rơi xuống. Ben và Beverly nhìn nhau, khuôn mặt đầy căng thẳng, nhem nhuốc. Bev nhanh chóng nhận ra trong phòng sinh hoạt nhóm không chỉ có mùi khói mà còn ngai ngái thứ mùi rác chua ngắt. Là mùi của mình , cô u ám nghĩ. Nhưng mặc kệ hôi hám, cô ôm Ben chặt hơn. Chợt cơ thể to lớn của cậu sao mà dễ chịu và hiền hòa đến thế, cô thầm mừng rỡ khi cậu mập mạp đến vậy để cô có thể ôm. Vào ngày bế giảng, bước vào nghỉ hè, có thể cậu ấy chỉ là một cậu nhóc mập ú sợ sệt, nhưng giờ cậu lớn lao hơn nhiều, giống như mọi thành viên trong nhóm, cậu đã thay đổi. Giả như Ợ Hơi phát hiện họ trốn dưới này, có khi Ben lại cho hắn biết thế nào là bất ngờ ấy chứ.

“Đập lên mây chứ lên cây bõ bèn gì” Ợ Hơi nói và khúc khích cười, nụ cười trầm thấp như yêu quái. “Đập lên mây chứ lên cây chẳng bõ. Nghe hay quá xá.”

Đúng lúc ấy, cô nhận ra thân trên của Ben hết rinh rích nâng lên lại hạ xuống theo những nhịp ngắn; cậu hít những hơi thật sâu vào phổi rồi phà ra từ từ. Trong một thoáng hoảng hốt, cô cứ tưởng cậu sắp khóc tới nơi, nhưng khi nhìn sát hơn, cô phát hiện cậu đang cố nín cười. Cậu chảy cả nước mắt, và khi bốn mắt nhìn nhau, cậu cuống cuồng đảo mắt rồi quay mặt đi. Trong ánh sáng mờ mịt lọt qua khe hở quanh cửa sập và cửa sổ đóng kín, cô có thể thấy mặt cậu chuyển sang màu tím ngắt vì nín cười quá lâu.

“Đập lên mây chứ chẳng thèm lên cây,” Ợ Hơi nói và ngồi bệt xuống ngay giữa nắp hầm. Lần này, mái căn phòng rung lắc một cách đáng ngại, Bev nghe thấy âm thanh răng rắc rất khẽ báo hiệu điềm chẳng lành từ cột trụ. Nắp hầm có nhiệm vụ giữ những mảng cỏ ngụy trang phủ bên trên… chứ không kham nổi bảy mươi kí-lô thịt của Huggins Ợ Hơi.

Nếu hắn không đứng dậy, hắn sẽ sà vào lòng bọn mình mất, Bev thầm nghĩ, cơn buồn cười của Ben đã bắt đầu lây sang cô. Nó sôi sục trong cô, thiếu điều lục bục trào ra thành những tiếng ha hả và khi khì. Cô chợt mường tượng cảnh mình đẩy cửa sổ lên bản lề rồi thò tay ra ngoài, chọt vào mông Huggins Ợ Hơi cú giáng trời trong lúc hắn ngồi dưới nắng chiều mờ mịt, lẩm bẩm khúc khích một mình. Cô vùi mặt vào ngực Ben để ngăn mình không phá lên cười nắc nẻ.

“Suỵt,” Ben thì thầm. “Vì Chúa, Bev…”

Rắc. Tiếng động lần này to hơn.

“Nó có chịu được không?” cô khẽ hỏi lại.

“Có thể, nếu hắn không xì hơi,” Ben nói, và chốc sau, Ợ Hơi đánh rắm thật – cú đánh rắm to vang chẳng kém gì kèn trumpet, kéo dài hơn ba giây là ít. Hai người bọn họ càng ôm rịt lấy nhau, ngăn không cho bạn mình cười hô hố. Đầu của Beverly nhức ong lên, đến độ cô nghĩ mình sắp lên cơn đột quỵ đến nơi.

Và rồi cô nghe văng vẳng tiếng Henry gào thét tên của Ợ Hơi.

“Gì đấy?” Ợ Hơi gầm lên, đứng bật dậy, chân nện thình thịch khiến đất cát một lần nữa rơi lả tả xuống Ben và Beverly. “Gì đấy, Henry?”

Henry đáp lại gì đó nhưng Beverly chỉ nghe được dăm ba từ như bờ sông bụi cây .

“Được!” Ợ Hơi gào rú, hai chân lạch bạch đi khỏi nắp hầm. Tiếng răng rắc vang lên, to hơn hẳn so với trước, một mảnh gỗ rơi vào lòng của Bev. Cô trầm trồ nhặt nó lên.

“Năm phút nữa,” Ben khẽ thều thào. “Năm phút nữa là đi tong.”

“Cậu có nghe tiếng hắn xì hơi không?” Beverly hỏi, khúc khích cười.

“Nghe như Thế chiến thứ ba ấy,” Ben nói, phá lên cười.

Thật nhẹ nhõm biết bao khi không cần nín nhịn nữa, họ cười lăn cười bò, cố giữ âm lượng ở mức rinh rích khe khẽ.

Hồi sau, Beverly bất giác lên tiếng mà không mảy may nghĩ ngợi (và hẳn nhiên không phải vì lời nói sẽ có tác động gì đến tình hình này): “Cảm ơn cậu vì bài thơ, Ben.”

Ben ngay lập tức ngưng cười và nhìn cô với vẻ dè chừng, nghiêm trọng. Cậu lôi chiếc khăn tay bẩn từ túi quần sau và chậm rãi lau mặt. “Bài thơ?”

“Bài thơ haiku. Bài thơ viết trên tấm bưu thiếp. Không phải cậu là người gửi sao?”

“Không.” Ben chối bay.”Tớ không gửi cậu bài thơ haiku nào cả. Vì nếu một đứa như tớ – một đứa ú na ú nần như tớ – mà làm điều đó, chắc sẽ bị đối phương cười cho thối mũi mất.”

“Tớ không cười. Tớ nghĩ bài thơ ấy tuyệt vời lắm.”

“Đời nào tớ viết được thứ gì tuyệt vời kia chứ. Chắc là Bill đấy, không phải tớ đâu.”

“Bill giỏi viết lách,” cô đồng tình. “Nhưng cậu ấy không thể nào sáng tác được áng thơ đẹp như vậy đâu. Cậu cho tớ mượn khăn tay được không?”

Nhận lấy khăn cậu đưa cho, cô cố lau để mặt đỡ lem nhem nhất có thể.

“Sao cậu biết đó là tớ?” Mãi lúc sau, cậu lên tiếng.

“Tớ không biết,” cô nói. “Chỉ là tớ biết thế thôi.”

Họng của Ben co giật lên xuống. Cậu nhìn xuống hai bàn tay mình. “Tớ không có ý gì sâu xa đâu.”

Cô nghiêm mặt nhìn cậu. “Tớ mong cậu chỉ đang nói dối,” cô nói. “Chứ nếu cậu nói thật, nó sẽ làm ngày hôm nay của tớ tệ hại lắm, mà tớ nói cậu nghe, nó đã đủ tệ hại rồi.”

Tiếp tục nhìn chằm chằm xuống tay mình, mãi lúc sau, cậu mới lí nhí thốt lên, cô phải căng tai lên mới nghe ra được. “À, tớ thật sự rất thương cậu, Beverly ạ, nhưng tớ không muốn điều đó khiến mọi thứ sứt mẻ.”

“Không đâu,” cô nói và ôm lấy bạn. “Tớ cần tất cả mọi yêu thương tớ có thể có vào lúc này.”

“Nhưng cậu dành tình cảm đặc biệt cho Bill mà.”

“Có thể là vậy,” cô nói, “nhưng điều đó không thành vấn đề. Nếu bọn mình là người lớn thì có lẽ mọi thứ sẽ hơi nhập nhằng một chút. Nhưng tớ dành cho tất cả các cậu tình cảm đặc biệt. Các cậu là những người bạn duy nhất mà tớ có. Tớ cũng thương cậu, Ben ạ.”

“Cảm ơn cậu.” Ben đáp. Đoạn cậu dè dặt rồi quyết định thú thật. Thậm chí cậu còn gom góp đủ can đảm nhìn thẳng vào mắt cô. “Tớ là người đã viết bài thơ.”

Suốt hồi lâu, hai người chỉ ngồi đó, chẳng nói với nhau câu nào. Beverly thấy lòng mình bình an đến lạ. Được bảo vệ. Khi ngồi cạnh cậu bạn thế này, hình ảnh khuôn mặt bố cô và con dao của Henry dường như phai mờ, bớt đe dọa. Khó mà định nghĩa cảm giác được bảo vệ ấy, và cô cũng chẳng cố gắng làm thế, dù sau này có nhận ra nguồn cơn của sức mạnh ấy: cô đang được bao bọc trong vòng tay của một người con trai sẵn sàng hy sinh thân mình vì cô mà không do dự. Đơn giản là cô biết như thế: nó ẩn trong mùi hương phát lộ từ lỗ chân lông của cậu, một thứ ban sơ mà tuyến cơ thể của cô đồng khí tương cầu.

“Mọi người sắp đến đây rồi,” Ben chợt lên tiếng. “Lỡ họ bị bắt thì sao?”

Cô sững người, nhận ra suýt chút nữa cô đã thiếp đi. Theo cô nhớ, Bill đã mời Mike Hanlon đến nhà ăn trưa. Richie đến nhà Stan ăn bánh mì kẹp. Eddie hứa sẽ mang theo bảng Parcheesi. Chẳng mấy chốc, cả nhóm sẽ đến Vùng Đất Cằn mà không hay biết Henry cùng bè lũ đang rình rập ở đây.

“Mình phải báo cho mọi người,” Beverly nói. “Henry không chỉ nhắm vào tớ đâu.”

“Nếu bọn mình ra ngoài đúng lúc chúng quay lại thì…”

“Ừ, nhưng chí ít bọn mình biết chúng ở đây, còn Bill và mọi người thì không. Eddie không có sức chạy đâu, chúng đốn gục cậu ấy rồi còn gì.”

“Ôi lạy Chúa” Ben nói. “Chắc bọn mình phải đánh liều thôi.”

“Ừ.” Cô nuốt nước bọt và nhìn đồng hồ Timex trên tay mình. Không gian tối thui nên khó mà xem được giờ, nhưng cô đoán đã qua một giờ chiều. “Ben…”

“Sao kia?”

“Henry thật sự phát điên rồi. Hắn giống gã côn đồ trong Khu rừng Bảng đen ấy. Suýt chút nữa hắn đã cho tớ về chầu ông bà, còn hai tên kia cũng hùa theo giúp hắn.”

The Blackboard Jungle (1955) là bộ phim về một thầy giáo cố gắng dìu dắt các học sinh ngỗ ngược và quậy phá. Trong phim có nhân vật cậu học sinh Artie West rất hung hăng và thủ dao bên mình. Beverly đang nhắc tới nhân vật này.

“Ôi trời, không đâu,” Ben gạt đi. “Henry điên thật, nhưng không điên đến mức đó . Hắn chỉ…”

“Chỉ thế nào cơ?” Beverly nói. Cô nghĩ về cảnh Henry và Patrick trong bãi xác xe ô tô dưới ánh nắng chói chang. Cô nhớ lại đôi mắt trống rỗng của Henry.

Ben không trả lời. Cậu đăm chiêu suy nghĩ. Phải chăng mọi thứ đã đổi khác? Khi ta ở trong thay đổi, ta khó lòng nhận ra thay đổi ấy. Ta phải lùi lại một bước để nhìn ra chúng ta phải cố gắng tìm. Vào ngày bế giảng, cậu có cảm giác sợ Henry, song đơn giản là vì Henry bự con hơn, vì hắn ỉ lớn hiếp nhỏ – hắn là kẻ sẽ không ngần ngại chộp đứa nhóc lớp Một, bẻ tay cho đến khi nó bù lu bù loa lên mới thôi. Chỉ có thế. Nhưng hắn đã dùng dao rạch lên bụng Ben. Rồi hai bên đối đầu trong trận ném đá nảy lửa, chưa kể, Henry còn ném quả pháo M-80 vào đầu người khác. Quả pháo ấy có thể trở thành hung khí giết người chứ chẳng chơi. Ta có thể kết liễu kẻ khác như bỡn. Kể từ lúc đó, hắn bắt đầu trở nên khác lạ… gần như bị ma ám. Có cảm giác ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác với hắn, giống như ta phải cẩn thận kẻo gặp hổ hay rắn độc nếu tiến vào rừng. Nhưng rồi ta sẽ quen với điều đó, quen đến độ nó chẳng có gì bất thường nữa, đơn giản là sự đời như thế. Tuy nhiên, Henry đúng là điên thật, phải không nhỉ? Đúng thế. Ben biết điều này vào ngày kết thúc năm học, song cậu cố tình gạt suy nghĩ đó đi. Đó không phải thứ mà ta muốn tin hay muốn ghi nhớ trong đầu. Và bỗng dưng một suy nghĩ – suy nghĩ mãnh liệt, chắc như đinh đóng cột – manh nha trong đầu cậu, lạnh ngắt như bùn tháng Mười. Nó đang điều khiển Henry. Có lẽ Nó cũng đang chi phối cả những kẻ khác, nhưng Nó lợi dụng họ qua Henry. Và nếu đó là sự thật thì có lẽ cô nói đúng. Chuyện này không đơn giản chỉ là mấy cú bẻ tay, thụi vào gáy trong tiết học cuối ngày khi cô Douglas ngồi ở bàn giáo viên mải mê đọc sách, không đơn giản chỉ là cú hích trong sân chơi khiến ta ngã dúi dụi, trầy cả đầu gối. Nếu bị Nó điều khiển, chắc chắn Henry sẽ dám dùng dao.

“Một bà cụ trông thấy bọn chúng hành hung tớ,” Beverly kể. “Henry bèn rượt theo bà ấy, đạp gãy đèn hậu của bà.”

Chi tiết này khiến Ben hoảng hồn hơn cả. Bản năng cho cậu biết những đứa trẻ như cậu sống bên dưới tầm mắt của đa số người lớn, từ đó nằm ngoài vùng phủ sóng suy nghĩ của họ. Khi một người lớn khệnh khạng đi trên con đường, mải ngẫm những chuyện người lớn về công ăn việc làm, về chuyện mua xe hay ti tỉ những điều người trưởng thành phải lo lắng, họ sẽ chẳng bao giờ để ý đến đám nhóc chơi lò cò, bắn súng, đá lon, đuổi bắt hoặc trốn tìm. Đám bắt nạt như Henry thỏa sức lộng hành, ức hiếp kẻ khác nếu chúng khôn ranh lẩn lút bên dưới tầm mắt của người lớn. Cùng lắm, một người lớn tình cờ đi ngang qua chỉ lên tiếng nhắc nhở “Cháu có thôi ngay không thì bảo?” và rảo bước tiếp mà chẳng buồn quan sát xem kẻ bạo hành kia có dừng tay hay không. Vì thế, kẻ côn đồ chỉ cần đợi cho đến khi người lớn đi qua khúc cua… và rồi tiếp tục giở trò hạnh họe của mình. Dường như trong suy nghĩ của người lớn, cuộc đời chỉ thật sự bắt đầu khi ta cao trên một mét rưỡi.

Nếu Henry đuổi đánh bà cụ thì có nghĩa là hắn đã vượt lên trên tầm mắt ấy. Và hơn tất thảy, điều này cho Ben biết hắn quả thật đã phát điên rồi.

Thấy nét mặt Ben lộ vẻ tán đồng, Beverly cảm nhận cả người mình dâng trào nhẹ nhõm. Cô sẽ không cần kể với câu chuyện ông Ross lãnh cảm gấp báo rồi bước vào nhà. Cô không muốn nhắc lại chuyện đó với bạn bởi nó quá đáng sợ.

“Mình lên đường Kansas đi,” Ben lên tiếng và bất ngờ đẩy mở cửa sập. “Chuẩn bị tinh thần chạy nhé.”

Cậu đứng dậy khỏi cửa và nhìn quanh. Khoảng đất vắng lặng. Cậu có thể nghe thấy tiếng sông Kenduskeag róc rách, tiếng chim hót ríu rít, tiếng thùm thụp thùm thụp của động cơ diesel khục khặc trong sân ga. Ngoài ra, chẳng có tiếng động gì khác, điều này làm cậu chộn rộn. Thà nghe thấy tiếng Henry, Victor và Ợ Hơi vừa chửi rủa vừa lần mò trong bụi cây um tùm dưới sông, cậu còn an tâm phần nào. Nhưng cậu lại không nghe thấy tiếng đám côn đồ ấy.

“Lên nào,” cậu nói và kéo Beverly lên. Cô cũng ngay ngáy đưa mắt nhìn quanh, hai tay cào tóc ra sau, nhăn mặt khi tóc bết dính.

Cậu cầm lấy tay cô, hai người gạt bụi rậm tiến về phía đường Kansas. “Tốt nhất mình nên tránh đường mòn.”

“Không,” cô nói, “bọn mình phải nhanh lên.”

Cậu gật đầu. “Được.”

Bọn họ đi thẳng ra lối mòn, hối hả tiến về phía đường Kansas. Trên đường, cô vấp phải tảng đá và

7

Sân Chủng viện/ 2 giờ 17 phút sáng

ngã lăn quay trên vỉa hè tắm đẫm ánh trăng. Henry rên lên ư ử, máu ồng ộc chảy theo tiếng rên, nhỏ xuống nền xi măng nứt nẻ. Dưới ánh trăng, máu trông đen thui như máu của sâu bọ. Hắn ngẩn ra nhìn hồi lâu, đoạn ngẩng đầu nhìn quanh.

Đường Kansas tĩnh mịch trong buổi sáng tinh mơ, dãy nhà cửa đóng then cài, tối thui, chỉ leo lét vài ngọn đèn ngủ.

A! Cống nước thải đây rồi.

Một quả bóng bay vẽ hình mặt cười được cột vào thanh sắt của cống, dập dềnh, nhấp nhô trong ngọn gió dịu nhẹ.

Henry lom khom đứng dậy, một bên tay nhớp nhúa áp vào bụng mình. Thằng mọi đen đâm hắn một cú rất đau, nhưng Henry ăn miếng trả miếng đỉnh hơn. Vâng, thưa quý vị. Nếu xét về thằng mọi đen, Henry thấy mình cũng ăn thua đủ ra phết.

“Thằng đấy toi đời rồi,” Henry lầm bầm và lảo đảo đi ngang qua quả bóng bay. Máu tươi cứ thế rỉ ra từ bụng hắn, loang loáng chảy trên tay. “Thằng đấy xem như vứt. Xử xong một thằng. Sẽ thịt hết đám còn lại. Dạy chúng thế nào là ném đá.”

Không gian xung quanh hắn dập dềnh chao nghiêng như những con sóng khổng lồ mà họ hay chiếu ở đầu mỗi tập phim Biệt đội Hawaii mà hắn xem trên ti vi trong phòng,

(gô cổ chúng lại, Danno, ha ha, thằng Jack Lord khốn kiếp ổn phết. Thằng Jack Lord khốn kiếp ấy ngầu ra phết)

Biệt đội Hawaii (Hawaii Five-O) là bộ phim chiếu năm 1968, trong đó Jack Lord (1920-1998) là diễn viên đóng vai thám tử Stephen McGarrett với câu cửa miệng cuối tập phim là “Gô cổ chúng lại, Danno!” (“Book’em, Danno!”).

và Henry như Henry như Henry như loáng thoáng

(nghe thấy tiếng những tay thanh niên vạm vỡ Oahu rộn ràng băng băng rung lắc

Oahu là đảo lớn thứ ba trong quần đảo Hawaii, đông dân nhất tiểu bang Hawaii. Ở đây, Henry đang tưởng tượng cảnh những chàng trai ở đảo Oahu lướt sóng.

(lắc lắc lắc)

(thực tại thế giới. “Pipeline.” Chantays. Còn nhớ “Pipeline” không? "Pipeline" nghe ổn phết đấy nhỉ? "Ngã sóng." Tiếng cười hô hố ngay đoạn đầu. Nghe như tiếng thằng Patrick Hockstetter. Thằng xăng pha nhớt chó chết. Bảo sao về chầu ông bà, và trong thâm tâm)

Pipeline là địa điểm lướt sóng nổi tiếng của Hawaii, đồng thời cũng là tên bản thu nổi tiếng của nhóm nhạc surf rock (nhạc rock mang âm hưởng và cảm hứng từ văn hóa lướt sóng của Mỹ) The Chantays phát hành vào năm 1962. Đầu óc của Henry rõ ràng đã phát điên khi hắn nghĩ lung tung, không mạch lạc như vậy.

Ngã sóng (Wipe-Out) là một bản thu dòng nhạc surf rock của nhóm The Surfaris vào năm 1963. Mở đầu bài này là tiếng cười rất to và sảng khoái.

trong thâm tâm hắn chỉ thấy

(đáng đời mày chưa, chuẩn quá đi, quá xá là ĐÁNG ĐỜI, chuẩn như CHƯA BAO GIỜ CHUẨN HƠN

(ờ rồi Pipeline nói một câu thôi đừng chùn bước các chàng trai bắt ngọn sóng đi và

(đón

(đónđónđón

(ngọn sóng và ra vỉa hè lướt với anh đi nói

(một câu thôi bắn chết toi thế giới nhưng cứ)

Một tràng lảm nhảm vô nghĩa của Henry, xuất phát từ lời của một số bài hát liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lướt sóng: “Don’t Back Down” và “Catch a Wave” của The Beach Boys, “Sidewalk Surfin” của Jan & Dean (riêng bài này về lướt ván chứ không phải lướt sóng).

có cái tai trong đầu hắn: không ngừng nghe thấy tiếng đùng ấy, có con mắt trong đầu hắn: không ngừng nhìn thấy thủ cấp của Victor lù lù xuất hiện vào cuối mùa xuân năm đó, mí mắt, hai má và trán bê bết máu.

Henry lờ mờ nhìn sang trái và trông thấy dãy nhà đã bị thay thế bởi một bờ giậu cao, đen thui. Sừng sững phía trên là khối kiến trúc hẹp, âm u xây theo kiến trúc Victoria của Chủng viện Thần học. Không cửa sổ nào sáng đèn. Chủng viện cho tốt nghiệp khóa cuối vào tháng Sáu năm 1974. Kể từ mùa hè năm đó, nó đóng cửa im lìm và bất kể thứ gì bước đi trong đó thì chỉ bước đi đơn côi… và phải có sự cho phép của hội phụ nữ lắm mồm lắm miệng tự xưng là Hội Lịch sử Derry.

Hắn bước đến bậc tam cấp dẫn lên cửa chính. Nó bị chặn bằng dây xích to nặng, treo tấm biển kim loại đề CẤM VÀO – LỆNH CỦA SỞ CẢNH SÁT DERRY.

Vấp chân trên đường, hắn ngã sõng soài lên vỉa hè đánh oạch . Ở phía trước, một chiếc xe ô tô vừa rẽ vào đường Kansas từ đường Hawthorne. Đèn pha loang loáng chiếu xuống đường. Henry chật vật nheo mắt nhìn mãi mới nhận thấy hóa ra đó là đèn xe cảnh sát.

Hắn lồm cồm bò qua dây xích và mò mẫm sang bên trái để nấp đằng sau bờ giậu. Sương đêm vương trên khuôn mặt nóng bừng khiến hắn sảng khoái vô cùng. Hắn cúi mặt xuống, quay đầu nguầy nguậy, làm ướt hai má và mót sương uống cho đỡ khát.

Xe cảnh sát phăm phăm chạy ngang qua.

Bất thình lình, ánh đèn xe lóe lên, ào ạt dội vào màn đêm sắc xanh vồ vập. Đường phố vắng vẻ thế này nên chẳng cần hú còi làm gì, nhưng Henry vẫn nghe thấy tiếng động cơ đẩy lên mức cao nhất. Cao su nghiến xuống vỉa hè ken két.

Thôi xong, mình bị bắt mất, tâm trí hắn rối rít… và rồi hắn nhận ra chiếc xe cảnh sát đang chạy khỏi chỗ hắn ngược lên đường Kansas. Lát sau, tiếng động đinh tai nhức óc khuấy động màn đêm, ào ào phóng từ phía Nam về phía hắn. Hắn hình dung một con báo đen khổng lồ lông mượt như nhung thoăn thoắt qua đêm tối, đôi mắt xanh lục và thân hình uyển chuyển, Nó đang đội lốt mới, săn lùng hắn, toan ăn tươi nuốt sống hắn.

Dần dà (khi âm thanh chát chúa kia bắt đầu đổi hướng), hắn nhận ra đó là tiếng còi xe cấp cứu, chạy theo hướng xe cảnh sát ban nãy. Hắn nằm run rẩy trên mặt cỏ đẫm sương, người lạnh băng, cố gắng

(chơi tới đi anh em quên tháng ngày đi anh em chúng ta có gà trong nông trại, nông trại nhà ai, nông trại gì, nông trại nhà tôi)

Câu hát trong bài Whole lotta shakin’ goin’ on của Jerry Lee Lewis.

không ói mửa. Hắn sợ nếu nôn, ruột gan phèo phổi của hắn sẽ trào lên mất… mà hắn còn phải giải quyết năm kẻ còn lại nữa.

Xe cấp cứu và xe cảnh sát. Chúng đi đâu nhỉ? Tất nhiên là đến thư viện rồi. Thằng mọi đen. Nhưng chúng trễ rồi. Mình đã thịt hắn xong xuôi. Chúng mày tắt còi đi cho rồi. Hắn ta chẳng nghe được đâu. Hắn đã chết ngay đơ rồi. Hắn…

Hắn chết chưa nhỉ?

Henry liếm hàng môi bong tróc của mình bằng cái lưỡi khô khốc. Nếu hắn chết, sẽ chẳng có tiếng còi inh ỏi giữa đêm như tiếng con báo bị thương như vậy. Trừ khi thằng mọi đen đã gọi cấp cứu. Tức là có thể – có thể – thằng mọi đen chưa chết.

“Không,” Henry thở hắt ra. Lăn ra nằm ngửa, hắn ngẩng đầu nhìn trời, nhìn hằng hà sa số những vì sao trên kia. Hắn biết Nó đến từ đó. Đâu đó trên trời… Nó

(đến từ không gian ngoài vũ trụ thèm khát phụ nữ Trái Đất đến để cướp hết đám đàn bà hiếp hết đám đàn ông Frank bảo vậy ý mày là cướp hết đám đàn ông hãm hiếp hết đám đàn bà phải không đứa nào đang làm chủ màn diễn đấy, mày hay Jesse vậy? Victor từng kể chuyện đó và có vẻ nó hơi)

đến từ không gian giữa những vì sao kia. Ngẩng mặt nhìn trời sao mà hắn rùng mình: bầu trời quá mênh mông, thăm thẳm. Thật dễ để mường tượng khoảng trời biến thành màu đỏ quạch như máu, thật dễ để hình dung khuôn mặt xuất hiện giữa màn khói lửa ngùn ngụt…

Hắn nhắm mắt, run bần bật, ôm hai tay quanh bụng mình và thầm nhủ: Thằng mọi đen chết rồi. Có kẻ nghe thấy mình và hắn xô xát nên mới gọi cảnh sát, thế thôi.

Vậy tại sao lại có xe cứu thương?

“Im đi, im đi.” Henry rền rĩ. Hắn cảm nhận cơn phẫn nộ rối ren năm nào; hắn nhớ ngày xưa, chúng từng cho hắn ăn quả đắng hết lần này đến lần khác - những tháng ngày xưa mà sao thật gần, thật sống động - hắn nhớ lại cứ lần nào hắn tưởng mình đã bắt được chúng thì chúng lại tìm được cách thoát khỏi tầm tay hắn. Ngày cuối cùng, cái ngày mà Ợ Hơi trông thấy con khốn ấy chạy từ đường Kansas vào Vùng Đất Cằn cũng vậy. Hắn nhớ chứ, ờ phải, hẳn nhớ như in. Bị thúc vào chính giữa bộ hạ mà không nhớ mới lạ. Mùa hè năm ấy, hắn bị như thế vài lần là ít.

Henry gượng ngồi dậy, nhăn mặt vì đau do con dao cắm vào bụng.

Hôm ấy, Victor và Ợ Hơi đã dìu hắn xuống Vùng Đất Cắn. Hắn vận hết sức bước thật nhanh dù cơn đau nhói lên ở vùng bộ hạ và ổ bụng. Đã đến lúc đặt dấu chấm hết cho tất cả mọi chuyện. Bọn chúng men theo con đường dẫn tới khoảng đất, từ đó rẽ nhanh ra năm, sáu lối đi chằng chịt như mạng nhện. Phải, một đám con nít đã chơi ở đây, chẳng cần phải thông minh như Tonto mới có thể đoán được điều đó. Trên mặt đất rải rác vỏ kẹo, đầu mẩu xoắn xít của vỏ đạn cho súng đồ chơi màu đen đỏ xen kẽ. Ngoài ra còn có vài tấm gỗ và một đống mạt cưa, như thể chúng đã xây dựng thứ gì đó.

Nhân vật rất thông minh và nhanh trí trong The Lone Ranger.

Hắn nhớ mình đã đứng giữa khoảng đất, săm soi từng hàng cây, tìm kiếm ngôi nhà nhỏ trên cây của đám oắt con ấy. Nếu tìm ra, hắn sẽ trèo lên và thộp cổ đứa con gái run như cầy sấy, hắn sẽ thọc dao cắt họng nó, sờ nắn ngực nó thoải mái cho đến khi ngực cứng đờ mới thôi.

Tuy nhiên, hắn chẳng phát hiện được căn nhà trên cây nào, cả Ợ Hơi và Victor cũng vậy. Cảm giác tức tối quen thuộc trào lên trong họng hắn. Hắn và Victor để Ợ Hơi lại canh chừng trong khi bọn chúng đi xuôi xuống con sông. Nhưng ở đó cũng chẳng có dấu vết của đứa con gái. Hắn nhớ mình đã cúi xuống, nhặt một hòn đá và

8

Vùng Đất Cằn/ 12 giờ 55 phút trưa

vận sức ném nó xuống suối, phẫn nộ và bối rối. “Con khốn ấy biến đi đâu được kia chứ?” Hắn oang oang rống lên, vòng lại chỗ Victor.

Victor khẽ lắc đầu. “Tao chịu,” hắn đáp. “Mày chảy máu kìa.”

Henry nhìn xuống và thấy một chấm đen to cỡ đồng hai mươi lăm xu ngay hàng quần jean của mình. Cơn đau giờ chỉ còn âm ỉ, nhoi nhói, nhưng hắn có cảm giác quần lót nhỏ và chật quá. Hai hòn của hắn đang sưng lên. Hắn lại thấy lửa giận sục sôi, tựa hồ sợi dây thít quanh trái tim hắn. Đứa con gái ấy chính là thủ phạm.

“Nó đâu rồi?” Hắn rít lên với Victor.

“Tao không biết,” Victor lại đờ đẫn lên tiếng. Trông hắn như bị thôi miên, say nắng, hồn phách trên mây. “Chắc nó trốn rồi. Có khi giờ nó về lại Mũi Đất Cũ rồi ấy chứ.”

“Không đâu,” Henry gạt đi. “Nó đang trốn. Chúng nó có chỗ riêng và nó đang trốn ở đó. Có lẽ không phải nhà trên cây mà là thứ khác.”

“Thứ gì?”

“Tao… không biết!” Henry thét lên khiến Victor rụt người lại.

Henry đứng dưới con suối Kenduskeag, làn nước lạnh ùng ục chảy qua giày, nhìn quanh quất. Mắt hắn dừng lại ở cột trụ nhô lên khỏi bờ sông cách đó chừng sáu mét xuôi về phía hạ nguồn – đây là máy bơm nước. Hắn lép nhép bước ra khỏi con sông và tiến về phía trụ nước, cảm thấy khiếp đảm dâng lên trong người. Da hắn như căng ra, mắt hắn trợn lên để nhìn thấy nhiều hơn, dường như hắn có thể cảm nhận những lông tai li ti bên trong đang rung động như tảo dập dềnh theo dòng thủy triều.

Tiếng ầm ì trầm thấp vang lên từ máy bơm, và phía sau, hắn có thể trông thấy ống thò ra khỏi bờ sông chĩa xuống sông Kenduskeag. Nước cống đều đều chảy ra, hòa xuống dòng sông.

Hắn chúi lên nắp sắt của cột trụ.

“Henry?” Victor lo lắng gọi. “Henry? Mày đang làm gì thế?”

Henry không buồn đáp. Hắn ghé mắt nhìn vào một cái lỗ tròn trên nắp sắt nhưng chẳng thấy gì ngoài màn đêm mịt mùng. Hắn bèn áp tai lên.

“Đợi…”

Giọng nói vang lên từ bóng tối hun hút bên trong, và Henry cảm thấy nhiệt độ cơ thể hắn như tụt xuống không độ, mạch máu đông cứng lại thành đá. Nhưng cùng những cảm giác ấy còn thứ cảm xúc mà hắn chưa từng biết tới: tình thương. Mắt hắn mở to. Một nụ cười ngoác rộng như nụ cười của gã hề hiện lên trên môi gã đầy ngạo nghễ. Là giọng nói từ Mặt Trăng đây mà. Giờ đây, Nó đang ở dưới trạm bơm này… Nó đang ở dưới cống ngầm.

“Đợi… mà xem…”

Hắn đợi thêm những lời nói dừng ở đó: chỉ còn tiếng máy bơm đều đều như ru ngủ. Hắn quay lại bờ sông, chỗ Victor đang e dè nhìn hắn. Henry mặc kệ và rống lên gọi Ợ Hơi. Chốc sau, Ợ Hơi xuất hiện.

“Đi nào,” hắn ra lệnh.

“Bọn mình làm gì đây, Henry?” Ợ Hơi hỏi.

“Đợi và xem.”

Chúng rón rén quay lại khoảng đất và ngồi thụp xuống. Henry chỉnh quần lót để nó không siết vào hai hòn bi của hắn nhưng cơn đau vẫn khiến hắn mụ người.

“Henry, cái…” Ợ Hơi lại lên tiếng.

“Suỵt.”

Ợ Hơi đành nhẫn nhịn im lặng. Henry thủ theo thuốc lá Camel nhưng không chia cho cả bọn. Hắn không muốn con khốn kia ngửi thấy mùi thuốc lá, trong trường hợp nó lảng vảng đâu đó quanh đây. Hắn có thể giải thích nhưng không cần thiết. Giọng nói chỉ gọn lỏn bảo hắn ba từ, song như thế là quá đủ. Chúng chơi ở đây. Chẳng chóng thì chầy, đám kia cũng sẽ quay lại. Tại sao chỉ bắt con khốn kia trong khi bọn hắn có thể hốt trọn ổ bảy đứa khốn kiếp ấy?

Chúng chờ đợi và quan sát. Victor và Ợ Hơi xem chừng đã gà gật dù mắt vẫn mở. Thời gian chờ đợi không quá lâu nhưng vẫn dư dả cho Henry suy nghĩ về đủ thứ trên trời dưới biển. Ví dụ, chuyện hắn tìm được con dao bấm sáng nay chẳng hạn. Đây không phải con dao hắn thủ trong người vào ngày bế giảng, hắn đã đánh mất con dao ấy ở đâu đó rồi. Con dao này nhìn ngầu hơn nhiều.

Nó được gửi đến trong hòm thư.

Đại loại thế.

Lúc đó, hắn đứng ở hiên nhìn hộp thư xiêu vẹo dãi dầu sương gió của nhà mình, cố gắng lý giải cảnh tượng mình đang thấy. Hòm thư được cột đầy bóng bay. Hai quả bóng cột vào móc kim loại mà thỉnh thoảng nhân viên đưa thư lại cột tay nải vào; ngoài ra, còn có rất nhiều quả bóng bay khác cột vào trụ hộp thư. Đỏ, vàng, xanh dương, xanh lục. Tựa hồ một rạp xiếc quái đản đã lén lút đi qua đường Witcham trong đêm tối và để lại dấu vết này.

Tiến đến gần hộp thư, hắn trông thấy khuôn mặt trên những quả bóng bay – mặt của đám oắt con đã hành hắn lên bờ xuống ruộng suốt mùa hè năm ấy, những kẻ không từ cơ hội nào trêu ngươi hắn. Hắn há hốc mồm nhìn chằm chằm chúng thì bóng bay lần lượt nổ tung. Cảm giác thật sung sướng, tựa hồ hắn chỉ cần vận trí lực để làm bể nó, hắn có thể dùng tâm trí của mình để giết chết chúng.

Bất thình lình, nắp hộp thư bật mở. Henry bước đến, nhìn vào trong. Dù phải đến xế chiều, người đưa thư mới đến khu vực này, nhưng hắn chẳng hề ngạc nhiên khi trông thấy một bưu phẩm hình chữ nhật dẹt bên trong. Hắn lôi nó ra. Địa chỉ để người nhận HENRY BOWERS, MIỄN BƯU PHÍ #2, DERRY, MAINE. Thậm chí còn có cả địa chỉ gửi trả: ROBERT GRAY, DERRY, MAINE.

Hắn xé bưu phẩm, thả bừa bọc giấy màu nâu xuống chân. Có một hộp màu trắng bên trong. Mở ra, hắn thấy con dao bấm nằm giữa lớp bông gòn trắng. Hắn bèn mang vào nhà.

Bố hắn đang nằm trên chiếc giường tạm bợ trong phòng ngủ của hai bố con, xung quanh vương vãi chai bia rỗng, bụng phòi ra khỏi cạp quần lót màu vàng. Henry quỳ bên cạnh, lắng nghe tiếng ngáy khò khò và tiếng thở phập phồng của bố mình, nhìn lớp môi dày cui của lão ta hết bĩu ra rồi thu lại theo từng nhịp thở.

Henry kề con dao bấm vào cái cổ xương xẩu của bố hắn. Lão ta khẽ cựa quậy rồi tiếp tục ngủ say. Henry cứ thế dí dao chừng năm phút, hai mắt đờ đẫn và tư lự, đầu ngón cái tay trái mân mê nút bấm bằng bạc giữa thân dao. Giọng nói từ Mặt Trăng vọng xuống thì thầm như làn gió xuân ấm áp với lưỡi dao lạnh ngắt ẩn ở giữa, ù ù như tổ ong bắp cày, léo nhéo như tay chính trị gia khàn khàn.

Henry thấy mọi điều giọng nói ấy phát ra đều khá chuẩn, vì thế hắn nhấn nút bạc. Có một tiếng cách vang lên bên trong con dao khi lò xo giết người bật tung, và lưỡi dao dài mười lăm phân thọc thẳng vào cổ của Butch Bowers. Nó đâm vào ngọt như nĩa xuyên vào miếng ức gà nướng chín tới. Mũi con dao thò ra phía bên kia cổ, tong tỏng máu.

Mắt của lão Butch mở to trừng trừng. Lão trợn lên nhìn trần nhà. Miệng lão há hốc. Máu chảy từ khóe miệng xuống má rồi dọc theo dái tai. Lão sặc sụa. Một bong bóng máu phình to trong miệng lão rồi vỡ tung. Tay lão mò mẫm đến đầu gối của Henry rồi lẩy bẩy siết chặt. Henry chẳng buồn quan tâm. Và rồi cánh tay buông thõng. Phút sau, tiếng sặc ằng ặc cũng ngưng bặt. Butch Bowers đã chết.

Henry rút con dao ra, chùi lên tấm trải giường bẩn thỉu của bố hắn rồi đẩy lưỡi dao vào trong cho đến khi lò xo lách cách vang lên. Hắn vô cảm nhìn bố mình. Ban nãy, giọng nói căn dặn hẳn công việc phải thực thi hôm ấy trong lúc hắn quỳ xuống kề dao vào cổ lão Butch. Giọng nói đã giải thích cặn kẽ. Vì thế, hắn bước sang phòng khác gọi Ợ Hơi và Victor.

Kết cục là hiện giờ, cả ba người bọn chúng đang ở đây, và dù bộ hạ của hắn vẫn đau điếng người, con dao cấn lên trong túi quần bên trái khiến hắn dễ chịu. Hắn dự cảm màn tùng xẻo sắp đến rồi. Đám kia sẽ sớm trở lại để chơi tiếp dăm ba trò trẻ con, và đó là lúc hắn ra tay. Giọng nói từ Mặt Trăng đã giải thích cặn kẽ với hắn lúc hắn quỳ gối cạnh bố, và trên đường đi vào thị trấn, hắn không tài nào rời mắt khỏi cái đĩa tròn ma mị, bàng bạc trên bầu trời. Hắn thấy đúng là trên cung trăng có người – một gương mặt ma quái gớm ghiếc loang loáng với hai cái lỗ thay cho mắt cùng nụ cười man rợ ngoác đến giữa má. Nó nói

(bọn ta lơ lửng dưới này Henry bọn ta lơ lửng ngươi cũng sẽ thế)

vọng xuống tận thị trấn. Giết sạch chúng, Henry, giọng nói ma mị từ Mặt Trăng réo rắt, và Henry đồng tình; Henry thấy trúng phóc tâm can mình. Hắn sẽ giết sạch chúng, cái đám hành hạ hắn, và rồi những cảm xúc ấy – rằng hắn đang dần mất đi vị thế, rằng hắn không tài nào cưỡng được mà phải bước vào thế giới rộng lớn hơn, nơi hắn không thể làm vua một cõi như sân chơi trường Tiểu học Derry nữa, trong thế giới ấy, thằng béo, thằng mọi đen, thằng quái dị cà lăm kia sẽ ngày một to lớn, trong khi hắn chỉ ngày một già đi – chúng sẽ biến mất.

Hắn sẽ giết sạch bọn chúng, và những giọng nói ấy - bất kể giọng nói bên trong hay giọng nói từ Mặt Trăng - sẽ để hắn yên. Hắn sẽ giết chúng rồi quay trở về nhà, ngồi ở hiên sau, đặt trong lòng thanh kiếm Nhật kỷ niệm năm tháng chiến tranh của bố hắn. Hắn sẽ uống một chai Rheingold mà bố hắn để lại. Hắn sẽ nghe đài nữa, nhưng không nghe tường thuật bóng chày. Thứ đó rõ quê mùa. Thay vào đó, hắn sẽ nghe nhạc rock and roll. Dù Henry không biết (hoặc có biết cũng chẳng quan tâm), hắn và Hội Cùi Bắp có tiếng nói chung trong chủ đề này: rock and roll quá chuẩn. Chúng ta có gà trong nông trại, nông trại nhà ai, nông trại gì, nông trại nhà tôi. Rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đấy, mọi chuyện sẽ ngon lành cành đào; mọi chuyện ổn thỏa cả và tiếp đến có gì xảy ra cũng chẳng quan trọng. Giọng nói sẽ lo cho hắn – hắn cảm thấy thế. Nếu mày lo cho Nó, Nó sẽ lo cho mày. Xưa giờ, mọi thứ ở Derry đều đi theo lẽ ấy.

Nhưng phải chặn đám oắt ấy lại, càng sớm càng tốt, chặn ngay hôm nay. Giọng nói ấy bảo thế.

Henry rút con dao mới ra khỏi túi quần, chiêm ngưỡng nó, xoay tới xoay lui, trầm trồ trước tia nắng phản chiếu lấp lánh dọc theo mặt crôm. Bỗng Ợ Hơi chộp lấy tay hắn và ré lên: “Nhìn kìa, Henry! Ôi trời đất ơi! Nhìn kìa!”

Henry nhìn theo và bao cảm giác thắc mắc như vỡ òa. Một hình vuông giữa khoảng đất bỗng trồi lên như có ma thuật, để lộ không gian tối tăm bên dưới. Trong khoảnh khắc, hắn giật thót hoảng sợ vì cứ tưởng đó là chủ nhân của giọng nói… cũng chẳng trách, Nó trú ngụ dưới lòng thị trấn mà. Đoạn hắn nghe thấy tiếng đất cát lạo xạo trong bản lề và ngộ ra. Bọn hắn không tìm ra nhà trên cây vì không có căn nhà nào cả.

“Chúa ơi, ban nãy bọn mình đứng ngay trên chúng Victor cằn nhằn, và khi đầu với vai của Ben ló ra khỏi ô cửa hình vuông ngay giữa khoảng đất, hắn toan bước ra. Henry vội chộp hắn lại.

“Mình không bắt bọn nó sao, Henry?” Victor hỏi trong lúc Ben nẩy người lên. Cả hai người bọn chúng thở hồng hộc.

“Mình sẽ tóm chúng” Henry nói, không rời mắt khỏi thằng béo mà hắn ghét cay ghét đắng. Cũng là thằng múc vào bi hắn. Tao sẽ đá vào háng mày cho hai hòn bi của màu căng đủ cao làm bông tai luôn, thằng béo khốn kiếp. Mày cứ đợi mà xem. “Đừng nóng.”

Thằng béo giúp con ranh kia ra khỏi hố. Con quỷ cái nhìn quanh, và trong thoáng chốc, Henry cứ tưởng con bé đã nhìn thẳng vào hắn. Nhưng rồi ánh mắt nó lướt qua. Hai bọn chúng thì thầm với nhau gì đó rồi chen chúc qua bụi cây um tùm đi mất.

“Đi thôi.” Henry lên tiếng khi âm thanh cành cây răng rắc và lá cây xào xạc đã xa dần, gần như tắt hẳn. “Bám theo chúng. Nhưng nhớ giữ khoảng cách và bé cái mồm thôi. Tao muốn hốt trọn ổ tụi nó.”

Ba người bọn chúng băng qua khoảng đất như quân lính đi tuần, khom người thật thấp, hai mắt cảnh giới. Ợ Hơi dừng chân, nhìn xuống phòng sinh hoạt nhóm và lắc đầu trầm trồ. “Ban nãy tao ngồi ngay trên đầu chúng nó,” hắn cảm thán.

Henry mất kiên nhẫn thúc hắn đi về phía trước.

Hai đứa đi thẳng trên đường vì như thể giảm tiếng động. Bọn chúng mò ra đến đường Kansas thì con ranh và thằng béo nắm tay nhau ( dễ thương chưa kìa , Henry hí hửng nghĩ), suýt chút nữa đi ngang qua trước mặt cả ba.

May sao hai đứa quay lưng về phía bè lũ Henry và chúng không liếc ngang liếc dọc. Henry, Victor và Ợ Hơi cứng người, đoạn rút lẹ vào bóng râm bên vệ đường. Chốc sau, Ben và Beverly chỉ còn là hai chiếc áo thấp thoáng qua bụi cây. Cả ba người bọn chúng tiếp tục đuổi theo… thật cẩn trọng. Henry lôi con dao ra rồi

9

Henry xin quá giang/ 2 giờ 30 phút sáng

nhấn nút crôm trên cán dao khiến lưỡi dao bật ra. Hắn mơ màng nhìn nó dưới ánh trăng. Hắn thích mê cách ánh sao chạy dọc trên lưỡi kim loại. Hắn chẳng biết lúc này là mấy giờ. Hắn như mơ màng trôi dạt ra vào thực tại.

Một âm thanh vang lên trong ý thức của hắn rồi to dần. Là tiếng động cơ xe. Nó đang đến gần. Mắt của Henry mở to trong đêm tối. Hắn siết chặt con dao, đợi chiếc xe chạy ngang qua.

Nhưng không. Chiếc xe dừng ở khúc quanh bên kia bờ giậu rồi đỗ lại đó, động cơ ầm ì. Nhăn như khỉ ăn ớt (bụng hắn cứng lại chẳng khác nào tấm gỗ, máu rỉ qua kẽ ngón tay hắn đều đặn không thua gì nhựa cây phong chảy ra trước khi rút vòi khỏi thân cây vào đoạn cuối tháng Ba đầu tháng Tư), hắn khuỵu gối và gạt hàng cây sang một bên. Hắn có thể thấy đèn pha và hình dáng chiếc xe. Lũ cớm ư? Tay hắn siết con dao rồi thả lỏng, siết rồi thả lỏng, hết lần này đến lần khác.

Ta gửi cho ngươi cuốc xe đấy, Henry, giọng nói thì thầm. Thích thì ngươi cứ gọi là tắc-xi. Nói chung, phải đưa ngươi đến Nhà nghỉ Thị trấn càng sớm càng tốt. Gần hết đêm rồi.

Giọng nói khục khặc cười khô khốc, mỏng tang rồi im bặt. Không gian chỉ còn tiếng dế kêu reng réc và tiếng động cơ xe ầm ì. Nghe như bộ phận giảm thanh của bom anh đào, Henry nghĩ vẩn vơ.

Hắn chập chững đứng dậy rồi lết đến lối đi của Chủng viện. Hắn nhìn chiếc xe. Không phải xe của lũ cớm: nóc xe không gắn đèn và hình dạng trông quái gở quá. Vẻ ngoài của nó rất… .

Henry lại nghe thấy tiếng cười khúc khích… hoặc có lẽ chỉ là âm thanh gió rít.

Hắn bước ra khỏi bờ giậu, bò qua sợi dây xích, đứng dậy tiến đến chiếc xe đang nổ máy ầm ì, lầm lì trong thế giới chỉ có hai màu trắng đen của ánh trăng và bóng đêm đặc quánh. Người Henry như hủi: áo thun đen thui vì máu, quần jean hắn cũng sũng máu đến tận gối. Mặt hắn trắng bệch với mái tóc húi cua xén ở viện.

Ra đến khúc giao giữa lối vào Chủng viện và vỉa hè, Henry ngó nghiêng chiếc xe, thăm dò xem kẻ ngồi sau tay lái là ai. Nhưng thứ đầu tiên hắn nhận ra chính là chiếc xe - đây là dòng xe bố hắn luôn thề thốt rồi một ngày sẽ sở hữu chiếc Plymouth Fury 1958. Chiếc xe sơn màu đỏ vạch trắng và Henry biết (bố hắn lải nhải với hắn ti tỉ lần rồi còn gì?) động cơ ầm ì dưới cốp xe kia là V-8 327. Mã lực sẵn có là 255, dư sức để xe đạt tốc độ 110 ki-lô-mét trong khoảng chín giây kể từ lúc khởi động, dư sức đạt những yêu cầu khắt khe bằng bộ chế hòa khí bốn thùng. Tao sẽ có chiếc xe đó bằng được, khi tao chết, tao sẽ chôn chung với chiếc xe, lão Butch suốt ngày ba hoa như thế…

và tất nhiên, đời chẳng như mơ, lão không bao giờ có được con xe và chính quyền đã chôn cất lão sau khi Henry bị tống vào nhà thương điên, trong lúc la lối ỏm tỏi về đủ thứ quái vật.

Nếu bố ngồi trong chắc mình không chịu nổi mất, Henry nghĩ, siết chặt con dao, quơ quàng loạn xạ, căng mắt nhìn bóng người ngồi sau tay lái.

Cửa bên ghế hành khách của chiếc Fury bật mở, đèn trần xe bật lên, và người tài xế quay lại nhìn hắn. Là Huggins Ợ Hơi. Khuôn mặt hắn nát bấy, nhoe nhoét. Một con mắt đã mất dạng, cái lỗ thổi rữa trên má để lộ hàm răng đen thui. Trên đầu Ợ Hơi đội chiếc nón bóng chày New York Yankees mà hắn đội vào ngày hắn chết. Mũ kéo ngược ra sau. Rêu mốc xám xanh bám đầy vành mũ.

“Ợ Hơi!” Henry ré lên, và cơn đau thốn chạy dọc bụng khiến hắn ú ớ rền rĩ.

Bờ môi thối rữa của Ợ Hơi nhếch thành nụ cười, toang hoác thành những thớ thịt bọt bạt màu xám trắng. Hắn chìa bàn tay cong vẹo về phía cánh cửa mời gọi.

Sau một hồi lừng khừng, Henry vòng qua lưới tản nhiệt của chiếc Fury, đưa tay sờ vào biểu tượng hình chữ V ở đó, giống như thuở bé, lần nào được bố dắt đến phòng trưng bày xe ô tô ở Bangor để ngắm chiếc xe này, hắn cũng chạm vào. Bước về phía ghế hành khách, trời đất xung quanh hắn bỗng xám xịt, hắn sây sẩm chộp lấy cửa xe đang để ngỏ mới giữ được thăng bằng. Hắn đứng đó, đầu cúi gằm, thở hổn hển. Mãi lúc sau, thế giới mới đổ màu trở lại – chí ít là phần nào – hắn gom đủ sức vòng qua cửa xe, thả phịch người xuống ghế. Cơn đau lại thọc qua bụng gã, máu tươi phụt ra tay, sờ vào như thạch còn nóng. Hắn ngửa đầu ra sau, nghiến răng, gân cổ nổi lên rần rật. Hồi sau, cơn đau mới dịu dần.

Cửa xe tự động đóng lại. Đèn trần xe tắt ngóm. Henry thấy bàn tay rữa nát của Ợ Hơi nắm lấy cần số và gạt cho xe chạy. Bó cơ trắng hếu trên khớp ngón tay của Ợ Hơi ánh lên qua lớp thịt đang phân hủy.

Chiếc Fury chạy xuống đường Kansas, tiến về phía đồi Dặm Trên.

“Mày khỏe không, Ợ Hơi?” Henry ngẩn ngơ lên tiếng. Câu hỏi rõ đần độn, chứ còn gì nữa,Ợ Hơi sao ở đây được, người chết không thể lái xe nhưng hắn chẳng nghĩ được gì.

Ợ Hơi không trả lời. Con mắt trũng sâu còn lành của hắn chăm chú nhìn đường. Những cái răng nhe ra phát gớm qua cái lỗ trên má. Henry lờ mờ nhận ra cậu bạn Ợ Hơi của mình có mùi ủng. Hay nói cụ thể hơn, cậu bạn Ợ Hơi có mùi cà chua bị thối nhũn.

Ngăn đựng găng tay bật mở, đập vào đầu gối của Henry, và dưới ánh đèn leo lét bên trong, hắn trông thấy chai Texas Driver còn một nửa. Hắn lôi chai rượu ra rồi uống đánh ực. Chất lỏng chảy xuống họng mát rượi như lụa, chạm vào dạ dày hắn như dung nham bùng cháy. Cả người run cầm cập, hắn rên ư ử và thấy dễ chịu hơn một chút, gần với thực tại hơn một chút.

“Cảm ơn mày nhé,” hắn nói.

Đầu của Ợ Hơi quay sang hắn. Henry có thể nghe thấy tiếng dây chằng trong cổ Ợ Hơi kèn kẹt chẳng khác nào bản lề cửa gỉ sét nghiến lên. Ợ Hơi nhìn hắn chằm chằm bằng một con mắt, và phải đến lúc ấy, Henry mới nhận ra mũi của Ợ Hơi gần như đã không còn. Chắc có con gì đó đã gặm nát mũi của Ợ Hơi. Có thể là chó, hoặc chuột chẳng hạn. Khả năng cao là chuột. Cống ngầm nơi bọn chúng đuổi đánh đám oắt con kia nhung nhúc chuột.

Đầu của Ợ Hơi chậm rãi quay ra nhìn đường. Henry thấy lòng mình nhẹ nhõm hẳn. Chà, hắn chẳng khoái cách cậu bạn Ợ Hơi của mình nhìn trân trân như vậy chút nào. Con mắt trũng sâu kia như ẩn chứa điều gì đó. Quở trách? Phẫn nộ? Hay gì nhỉ?

Có một xác chết ngồi sau tay lái chiếc xe này.

Nhìn xuống cánh tay mình, Henry nhận ra hắn nổi da gà. Hắn vội vàng uống thêm một ngụm rượu. Hớp rượu trôi xuống dễ dàng hơn, cái thắm đượm lan tỏa xa hơn.

Chiếc Plymouth từ từ chạy xuống đồi Dặm Trên, vòng qua bùng binh ngược chiều kim đồng hồ… nhưng giữa đêm hôm khuya khoắt, chẳng có bóng dáng chiếc xe nào khác, đèn tín hiệu giao thông đã chuyển sang màu vàng, nhịp nhàng hắt lên con đường vắng xe cùng những tòa nhà im lìm theo từng hồi. Bốn bề tĩnh lặng đến độ Henry có thể nghe thấy tiếng rơ le lách tách bên trong từng ngọn đèn… hay đấy là tưởng tượng của hắn nhỉ?

“Tao không có ý định bỏ mặc mày ngày hôm ấy,Ợ Hơi ạ,” Henry lên tiếng. “Ý tao là, nếu mày đang nghĩ về chuyện đó.”

Tiếng dây chằng khô khốc kin kít lại vang lên. Ợ Hơi quay sang nhìn hắn với con mắt trũng sâu. Đôi môi toét ra thành nụ cười gớm ghiếc, để lộ lớp nướu đen xám phủ đầy rêu mốc. Nụ cười kiểu gì đây? Henry tự hỏi trong lúc chiếc xe chậm rãi chạy lên đường Chính, băng qua Freese’s ở một bên đường, Nhà hàng Nan và rạp chiếu phim Aladdin phía bên kia. Nụ cười tha thứ à? Hay nụ cười khi hội ngộ bạn cũ? Hay đó là nụ cười mang hàm ý tao sẽ báo thù mày, Henry ạ, tao sẽ báo thù cái tội mày dám bỏ mặc tao và Vic? Nụ cười kiểu gì đây?

“Mày phải hiểu tình hình lúc đó,” Henry phân bua rồi im bặt. Tình hình lúc đó thế nào ấy nhỉ? Đầu óc của hắn ngổn ngang rối bời, các chi tiết lộn xộn tựa hồ những mảnh ghép hình vừa bị đổ ào ra bàn trong phòng giải trí ở đồi Juniper. Chính xác thì tình hình lúc đó thế nào nhỉ? Bọn chúng bám theo thằng béo với con ranh kia lên đường Kansas, nấp trong lùm cây, theo dõi chúng trèo lên triền dốc. Nếu hai đứa nó biến mất khỏi tầm mắt, hắn, Victor và Ợ Hơi sẽ dẹp cái trò theo đuổi này rồi rượt theo thộp cổ bọn chúng; túm được hai đứa còn hơn không được đứa nào, sau đó chúng sẽ từ từ xử lý đám còn lại.

Những thằng béo và con ranh không biến mất. Chúng tựa người vào hàng rào, rầm rì nói chuyện và quan sát đường phố. Thỉnh thoảng, chúng lại quay ra kiểm tra sườn dốc dẫn vào Vùng Đất Cằn, nhưng Henry cho hai tên lính của mình ẩn nấp rất kỹ.

Henry nhớ hôm ấy bầu trời sầm sì, mây ùn ùn kéo đến từ phía Đông, không khí ngột ngạt. Buổi chiều thể nào cũng mưa.

Sau đó đã xảy ra chuyện gì nhỉ? Sau đó…

Một bàn tay xù xì, xương xẩu chộp lấy cẳng tay hắn khiến Henry hét toáng lên. Hắn đang trôi dạt dần vào tấm màn xám xịt ấy, nhưng bàn tay khủng khiếp của Ợ Hơi và cơn đau nhói lên trong bụng sau khi hét đưa hắn trở lại thực tại. Henry quay sang thì thấy khuôn mặt của Ợ Hơi chỉ cách mình chưa tới năm phân; hắn há hốc mồm kinh ngạc, ước gì Ợ Hơi không làm thế. Cậu bạn Ợ Hơi của hắn sắp rữa nát đến nơi rồi. Thứ mùi này khiến Henry mường tượng đến đống cà chua từ từ úng trong góc nhà kho tăm tối. Bụng hắn cuộn lên.

Chợt hắn nhớ lại cái kết – cái kết của Ợ Hơi và Vic. Hắn nhớ bỗng dưng có thứ gì đó nhào ra khỏi bóng tối lúc cả bọn đứng trong cống ngầm với nắp cống trên đầu, tự hỏi nên đi đường nào. Có thứ gì đó… Henry chưa nhìn ra nó là gì. Cho đến khi Victor ré lên, “Frankenstein! Là Frankenstein!” Và rồi con quái vật Frankenstein, bu lông lỉa chỉa cắm trên cổ, một cái sẹo sâu hoắm khâu bằng chỉ chạy ngang trán, loạng choạng tiến đến chỗ bọn chúng trong đôi giày trông chẳng khác nào khối gỗ đồ chơi trẻ con.

“Frankenstein!” Vic gào thét, “Fr…” Chưa kịp dứt lời thì đầu của Vic đã bị cắt phăng, bay vèo qua cống, đập thẳng vào bức tường bằng đá đằng xa, phát ra tiếng thịch nhớp nháp, nặng nề. Đôi mắt vàng khè loang loáng nước của con quái vật quay sang Henry khiến hắn cứng đờ. Bàng quang đầu hàng, khiến hắn cảm thấy chất lỏng ấm nóng ri rỉ xuống hai chân mình.

Sinh vật kia lảo đảo bước đến chỗ hắn, và Ợ Hơi… Ợ Hơi đã…

“Tao nói, tao biết tao đã bỏ chạy,” Henry nói. “Lý ra tao không nên làm thế. Nhưng… nhưng…”

Ợ Hơi tiếp tục trân trân nhìn.

“Tao bị lạc,” Henry thì thầm, như thể phân bua với cậu bạn Ợ Hơi rằng hắn cũng phải trả giá chứ chẳng được yên. Nghe thật yếu đuối, như thể hắn đang nói Ờ, tao biết mày bị giết, Ợ Hơi ạ, còn tao cũng bị cái dằm to tướng đâm dưới móng tay cái đây này. Nhưng điều hắn gặp tệ thật mà… tệ khủng khiếp ấy chứ. Hắn đã phải lang thang trong thế giới hôi hám tối tăm ấy cả mấy tiếng liền, và hắn nhớ hồi sau, hắn bắt đầu la hét. Đi mãi, hắn trượt chân ngã – cú ngã dài, choáng váng, trong đó hắn còn kịp có thời gian mà nghĩ Ôi tốt quá, chút nữa là mình được chết và thoát khỏi đây - rồi hắn bị cuốn vào dòng nước chảy xiết. Hắn đoán mình đang ở dưới Kênh Đào. Hắn bước vào ánh tà dương, lội lên bờ và bò ra khỏi con sông Kenduskeag ở địa điểm cách nơi Adrian Mellon chết chìm hai mươi sáu năm sau chưa tới năm mươi mét. Hắn trượt chân, ngã đập đầu và bất tỉnh. Khi hắn tỉnh dậy, trời đã tối thui. Hắn lần mò ra đến Đường số 2 và xin quá giang về nhà. Cảnh sát đang chực chờ hắn ở đó.

Song ấy là chuyện xưa, và hiện tại khác. Ngày ấy,Ợ Hơi đã bước ra trước mặt con quái vật Frankenstein và bị nó cào rách má trái, sâu đến tận xương - trước khi co giò tẩu thoát, Henry đã thấy cảnh tượng ấy. Nhưng giờ Ợ Hơi đã trở lại và đang chỉ trỏ gì đó.

Henry thấy xe dừng ngay trước Nhà nghỉ Thị trấn Derry và hắn chợt ngộ ra lý do. Nhà nghỉ Thị trấn là khách sạn duy nhất còn tươm tất ở Derry. Năm 1958 vẫn còn khách sạn Ngôi sao Phương Đông ở cuối đường Giao Thương với Nhà trọ Lữ khách trên đường Torrault. Tuy nhiên, cả hai đã biến mất trong công cuộc cải tạo đô thị (Henry biết tất, hằng ngày, lúc còn ở đồi Juniper, hắn đều say sưa đọc tờ Derry News ). Chỉ còn Nhà nghỉ Thị trấn và khoảng chục nhà trọ nhỏ xập xệ ở gần Xa lộ Liên tiểu bang trụ lại.

Bọn chúng sẽ ở đó, hắn thầm nghĩ. Ngay tại đó. Tất cả đám bọn chúng. Chúng đang say sưa ngủ, với hình ảnh những viên kẹo bọc đường - hoặc hình ảnh cống rãnh – nhảy nhót trong đầu. Mình sẽ kết liễu chúng. Từng đứa, từng đứa một.

Hắn lại lôi chai rượu Texas Driver ra uống một hớp. Hắn có thể cảm thấy máu tươi ri rỉ chảy xuống bụng mình, và ghế ngồi nhớp nháp hết cả, nhưng nhờ rượu mà hắn thấy khỏe khoắn hơn; dường như rượu khiến mọi vấn đề chỉ bé như mắt muỗi. Hắn ước giá mà mình có chai bourbon xịn, nhưng thôi, được voi thì không nên đòi tiên.

“Nghe này,” hắn nói với Ợ Hơi. “Tao xin lỗi vì đã bỏ chạy. Tao không biết tại sao tao lại thế nữa. Xin mày… đừng giận tao nhé.”

Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất Ợ Hơi lên tiếng, nhưng đó không phải giọng nói của hắn. Giọng nói vang lên từ cái miệng thối rữa của Ợ Hơi, sâu xa, quyền uy và đáng sợ. Henry rên ư ử trước âm thanh ấy. Đó là giọng nói từ Mặt Trăng, giọng nói của gã hề, giọng nói mà hắn nghe khi nằm mơ thấy cống rãnh, cống nước thải, nơi nước không ngừng chảy ào ạt.

“Im mồm và giết chúng đi,” giọng nói ra lệnh.

“Được.” Henry rền rĩ. “Ừ thì được, tao cũng muốn vậy, không thành vấn đề…”

Hắn cất lại chai rượu vào ngăn đựng găng tay. Khớp kin kít như răng nghiến vào nhau. Trông thấy mảnh giấy ở chỗ để chai rượu, hắn cầm lên mở ra xem, để lại dấu tay dính máu trên mép. Chạm nổi đầu trang giấy trong màu mực đỏ tươi là dòng chữ:

javascript:void(0)

Là số phòng của bọn chúng. Tốt quá. Đỡ tốn thời gian. “Cảm ơn nhé, Ợ…”

Nhưng Ợ Hơi đã biến mất. Ghế lái trống không. Chỉ còn chiếc mũ bóng chày New York Yankees chỏng chơ, nấm mốc phủ đầy vành mũ. Trên cần số còn dính thứ gì đó nhớp nhúa.

Henry nhìn chằm chằm, tim đập đến nhói đau trong họng… và rồi hắn nghe thấy thứ gì đó lạo xạo cục cựa ở băng ghế sau thì phải. Hối hả ra khỏi xe, hắn mở cửa và suýt ngã nhào xuống vỉa hè. Hắn né chiếc Fury lúc này vẫn đang ầm ì chạy qua bộ giảm thanh bom anh đào (bom anh đào bị cấm ở bang Maine vào năm 1962) như tránh tà.

Đi bộ cứ như cực hình; mỗi bước chân như châm vào, xé toạc bụng hắn. Nhưng sau khi lết lên được vỉa hè, hắn đứng ngây ra đó, nhìn tòa nhà bằng gạch tám tầng, ngoài thư viện, rạp chiếu phim Aladdin và chủng viện, đây là một trong những công trình kiến trúc mà hắn còn nhớ như in từ thuở bé. Đa số đèn trên các tầng cao đã tắt, nhưng những ngọn đèn hình cầu bằng thủy tinh mờ treo hai bên lối ra vào vẫn tỏa sáng dịu nhẹ trong đêm tối, bọc trong hơi ẩm từ màn sương bảng lảng trên mặt đất.

Henry chật vật bước đến lối ra vào, dùng vai gạt mở một cánh cửa.

Nửa đêm, tiền sảnh vắng lặng như tờ. Sàn nhà trải tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ đã bạc màu. Trần nhà nghỉ là bức bích họa khổng lồ chia thành nhiều mảng hình chữ nhật, thể hiện cảnh tượng từ thời đốn gỗ của Derry. Trong gian phòng có ghế sô pha, ghế bành bọc vải, cùng lò sưởi rất lớn hiện không được trưng dụng, khúc gỗ cáng lò vứt trên vỉ – một khúc gỗ hẳn hoi chứ không đốt bằng xăng, lò sưởi ở Nhà nghỉ Thị trấn không phải chỉ để làm cảnh. Cây cảnh vươn mình từ những chậu cây thấp. Cửa kính đôi dẫn vào quán rượu và nhà hàng đóng kín. Từ văn phòng bên trong, Henry có thể nghe thấy tiếng ti vi văng vẳng.

Hắn lảo đảo băng qua tiền sảnh, quần áo loang lổ vết máu. Máu dính vào các nếp gấp ở bàn tay, chảy dọc má và quệt trên trán hắn lem nhem như bộ tộc da đỏ. Mắt hắn lồi trong hốc mắt. Ai có mặt trong sảnh mà thấy hắn hẳn sẽ vừa bỏ chạy vừa hét ầm lên vì sợ. Nhưng xung quanh hắn chẳng có ma nào.

Cánh cửa thang máy mở ra ngay lúc hắn bấm nút LÊN. Hắn nhìn mảnh giấy trong tay, rồi nhìn nút đánh các tầng. Sau một hồi cân nhắc, hắn ấn số 6 và cửa đóng lại. Có tiếng động cơ khe khẽ vang lên khi thang máy bắt đầu chạy.

Bắt đầu từ tầng trên rồi thong thả xuống dưới.

Hắn tựa người vào tường thang máy, mắt nhắm hờ. Tiếng thang máy nghe thật dễ chịu. Nghe như tiếng động cơ trong máy bơm của hệ thống cống thoát nước. Ngày hôm ấy cứ trở đi trở lại trong đầu hắn. Cách mọi thứ gần như được sắp sẵn, tựa hồ chúng chỉ diễn vai của mình mà thôi. Cách Vic và Ợ Hơi như thể… chà, như bị bỏ thuốc lá. Hắn nhớ…

Thang máy dừng lại, khiến cơ thể hắn bị xóc và một cơn đau điếng đến thấu xương chạy lên bụng. Cửa thang máy mở ra. Henry bước vào hành lang yên tĩnh (ở đây có nhiều cây hơn, nào cây treo, cây lục thảo trổ, mà hắn chẳng muốn đụng vào những thứ màu xanh mọng nước thế này chút nào, chúng khiến hắn nhớ lại những thứ lòng thòng dưới cống ngầm, trong bóng tối). Hắn kiểm tra tờ giấy. Kaspbrak ở phòng 609. Henry lần mò dọc theo lối đi, một tay tì vào tường để giữ thăng bằng, để lại vết máu mờ mờ trên giấy dán tường (à, cứ khi nào lại gần một trong những chậu lục thảo trổ treo lủng lẳng kia, hắn đều né ra, hắn không muốn dính đến chúng). Hơi thở hắn khò khè và khô khốc.

Đây rồi, Henry rút con dao bấm ra khỏi túi, liếm đôi môi khô nẻ của mình và gõ cửa. Không có tiếng đáp lại. Hắn gõ lại lần nữa, to hơn.

“Ai đấy?” Giọng buồn ngủ. Tốt. Hẳn Kaspbrak đang mặc đồ ngủ và còn mơ màng. Khi hắn mở cửa, Henry sẽ cắm thẳng con dao vào cái hõm trên cổ, cái hõm mỏng manh ngay bên dưới yết hầu của hắn.

“Nhân viên hành lý, thưa ngài.” Henry đáp. “Ngài có lời nhắn từ bà nhà.” Kaspbrak có vợ không nhỉ? Lời hắn nói có vẻ ngu ngốc thì phải. Hắn chờ đợi, thần kinh cũng như dây đàn. Hắn nghe thấy tiếng bước chân – dép tông loẹt quẹt.

“Từ Myra sao?” Giọng nói nghe có vẻ hoảng. Tốt. Vài giây sau sẽ còn hoảng hơn nữa kìa. Thái dương bên phải của Henry cứ giật không ngừng.

“Có lẽ là vậy, thưa quý khách. Không có tên, chỉ ghi là bà nhà.”

Có một khoảng lặng, và rồi tiếng lách cách vang lên khi Kaspbrak tháo khóa xích. Henry nhoẻn cười, bấm nút trên cán dao bấm. Cách. Hắn giơ lưỡi dao lên ngang má mình, sẵn sàng tư thế. Hắn nghe thấy tiếng khóa cửa xoay. Chốc nữa thôi, hắn sẽ thọc lưỡi dao vào họng thằng quái dị ốm o ấy. Hắn chờ. Khi cửa mở, Eddie

10

Hội Cùi Bắp tụ họp/ 1 giờ 20 phút chiều

trông thấy Stan và Richie bước ra khỏi chợ Đại lộ Costello, mỗi người ăn một que kem Rocket. “Này!” Cậu hét lên. “Này, đợi đã!”

Hai cậu bạn quay lại, Stan vẫy tay. Eddie chạy nhanh hết mức đến chỗ bạn bè mình, nhưng thực tế, tốc độ này không được xem là nhanh cho lắm. Một tay cậu vẫn còn bó bột, tay kia ôm hộp trò chơi Parcheesi.

“Nói gì đó, Eddie? Nói gì đó, bạn hiền?” Richie hỏi bằng giọng nói Quý ông miền Nam hào sảng của mình (giọng nói nghe giống y nhân vật Foghorn Leghorn trong phim bộ phim hoạt hình của hãng Warner Brothers). “Ối chà… Ối chà… Cậu nhóc bị gãy tay rồi! Xem kìa, Stan, cậu nhóc bị gãy tay! Ôi chà… ta hãy hào hiệp và cầm hộp Po-chí-sì cho cậu ấy nào!”

“Tớ cầm được, Eddie nói, có phần hụt hơi. “Cho tớ ăn ké kem Rocket với.”

“Mẫu thân của cậu sẽ không ủng hộ đâu, Eddie,” Richie buồn bã nói rồi liếm láp que kem thật nhanh. Cậu đã ăn đến nhân sô-cô-la tuyệt cú mèo bên trong, phần khoái khẩu nhất của cậu. “ Đầy vi trùng đó! Ôi chà… Ôi chà, ăn chung là dính vi trùng đấy nhé!”

“Chơi luôn,” Eddie nói.

Richie lừng khừng chìa que kem Rocket lên miệng của Eddie… rồi giật lại thật nhanh khi Eddie vừa liếm được vài lần.

“Cậu ăn nốt que kem của tớ đi.” Stan đề nghị. “Tớ ăn trưa còn no.”

“Dân Do Thái ăn ít lắm,” Richie giảng giải. “Tôn giáo của họ như vậy.” Ba cậu bé rộn ràng bước đi, tiến về phía đường Kansas và Vùng Đất Cằn. Derry dường như đang say sưa thiếp đi trong buổi chiều mờ mịt. Đa số những căn nhà họ đi ngang đều kéo kín màn che. Đồ chơi vứt chỏng chơ ngoài bãi cỏ như thể chủ nhân của chúng bị bắt phải ngừng chơi vào ngủ trưa. Sấm động đì đùng phía Tây.

“Thật thế sao?” Eddie hỏi Stan.

“Không, Richie trêu cậu đấy,” Stan đáp. “Dân Do Thái ăn như mọi người thôi.” Cậu chỉ vào Richie. “Như cậu ấy chẳng hạn.”

“Tớ nói này, cậu quá quắt với Stan lắm rồi đấy.” Eddie mắng Richie. “Cậu có thích người ta lôi cậu ra nói nhăng nói cuội chỉ vì cậu là dân Công giáo không?”

“Ôi trời, dân Công giáo gây nhiều chuyện lắm.” Richie nói. “Có lần, bố tớ nói với tớ Hitler theo đạo Công giáo và Hitler sát hại hàng tỷ người Do Thái. Phải không Stan?”

“Ừ, hình như vậy.” Stan đáp. Trông cậu có vẻ ngượng ngùng.

“Mẹ tớ nổi cơn tam bành khi bố tớ nói với tớ điều này,” Richie tiếp tục kể. Cậu khẽ mỉm cười khi nhớ lại chuyện đó. “Nổi cơn tứ bành luôn ấy chứ. Đạo Công giáo có Tòa án Dị giáo, dính dáng tới mấy hình thức tra tấn, hành hạ này kia. Tớ nghĩ tôn giáo nào cũng khá kỳ cục.”

“Tớ cũng thế.” Stan khẽ nói. “Nhà tớ không phải chính thống giáo hay gì cả. Nhà tớ có ăn thịt xông khói và thịt muối [nha]. Thậm chí tớ chỉ biết sơ sơ về người Do Thái thôi. Tớ sinh ra ở Derry, và thỉnh thoảng gia đình tớ đến hội đường Do Thái ở Bangor để thực hiện lễ Đền tội, nhưng…” Cậu nhún vai.

Người Do Thái Chính thống không ăn thịt lợn. Các loại thực phẩm phù hợp với quy định về ăn uống của người Do Thái được gọi là thức ăn Kosher.

“Thịt muối? Cả thịt xông khói à?” Eddie hoang mang. Mẹ con cậu là tín hữu Giám Lý.

“Dân Do Thái Chính thống không ăn những thứ này,” Stan giải thích. “Trong kinh Torah có nói không được ăn những thứ bước qua bùn hoặc bò dưới đáy đại dương. Tớ cũng không rõ cụ thể ra sao. Nhưng thịt heo bị loại, cả tôm hùm nữa. Nhưng bố mẹ tớ vẫn ăn như thường. Tớ cũng vậy.”

“Nghe ngộ nhỉ,” Eddie nói rồi phá lên cười. “Tớ chưa nghe nói tôn giáo nào lại quy định mình được ăn gì. Chắc mai mốt họ sẽ quy định ta có thể mua loại xăng nào luôn quá.”

“Xăng Kosher nhé,” Stan đáp rồi cười khì. Richie và Eddie chẳng hiểu cậu bạn mình cười vì lẽ gì.

“Nhưng Stanny này, cậu có thấy nó kỳ cục không,” Richie lên tiếng. “Ở điểm không được ăn xúc xích chỉ vì mình tình cờ là người Do Thái ấy.”

“Thế hả?” Stan hỏi ngược lại. “Còn cậu vẫn ăn thịt vào thứ Sáu à?”

“Ối, làm gì có!” Richie kinh ngạc thốt lên. “Không được ăn thịt vào thứ Sáu, vì…” Cậu khẽ nhoẻn cười. “À, rồi, tớ hiểu ý cậu rồi.”

“Có thật tín đồ Công giáo sẽ bị đày xuống địa ngục nếu ăn thịt vào thứ Sáu không?” Eddie ngạc nhiên hỏi mà không hề hay biết trước đó hai thế hệ, nhà cậu cũng từng là tín đồ Công giáo Ba Lan sùng đạo, xem chuyện ăn thịt vào thứ Sáu chẳng khác nào cởi truồng chạy rong ngoài đường.

“Chà, tớ nói cậu nghe này, Eddie,” Richie đáp. “Tớ nghĩ Chúa sẽ không đày tớ xuống hỏa ngục chỉ vì tớ quên bẵng mà ăn bánh mì kẹp xúc xích vào trưa thứ Sáu đâu, nhưng tội gì liều mạng kia chứ? Phải không?”

“Tớ cũng đoán vậy,” Eddie đồng tình. “Nhưng nghe thật là…” Ngu ngốc , suýt chút nữa cậu đã thốt lên như thế, nhưng rồi cậu nhớ đến câu chuyện mà cô Portleigh kể cho lớp Giáo lý ngày Chủ nhật khi cậu còn bé – lớp Một trong Chiên Con. Theo lời của cô, một cậu bé hư từng ăn cắp một miếng bánh thánh trong lúc chuyền khay rồi bỏ vào túi mình. Cậu đem về nhà, vứt vào bồn cầu xem có điều gì xảy ra không. Ngay lập tức - hoặc chí ít đó là những gì cô Portleigh nói với các cô cậu bé đang say sưa lắng nghe - nước trong bồn cầu chuyển sang màu đỏ tươi. Cô nói đó là Máu của Chúa, và cậu bé kia trông thấy cảnh tượng này vì cậu đã thực hiện hành động vô cùng báng bổ. Cảnh tượng này xuất hiện để cảnh báo cậu khi vứt Mình Thánh Chúa vào bồn cầu, cậu đang khiến linh hồn bất tử của mình có nguy cơ xuống địa ngục.

Đến tận lúc đó, Eddie vẫn thích tiệc thánh, sự kiện mà phải đến năm ngoái, cậu mới được phép tham dự. Tín hữu Giám Lý dùng nước ép nho nhãn hiệu Welch’s thay cho rượu, và Mình Thánh Chúa được đại diện bằng những miếng bánh mì tươi, phồng xốp của hãng Wonder Bread. Cậu thích việc ăn hay uống thứ gì đó theo nghi lễ tôn giáo. Nhưng sau khi nghe cô Portleigh kể chuyện, niềm kính cẩn dần nhuốm màu thành cảm giác uy quyền, có phần đáng sợ. Cậu phải vận hết can đảm mới dám vươn tay lấy bánh, trong thâm tâm lúc nào cũng sợ chạm vào, cậu sẽ bị sốc điện… hoặc kinh khủng hơn, phần bánh sẽ đột ngột biến màu trong tay cậu thành cục máu, và rồi một giọng nói sẽ rợn ngợp trong nhà thờ: Không xứng! Không xứng! Đáng đầy xuống địa ngục! Đáng đầy xuống Địa ngục! Lần nào cũng vậy, sau khi tham gia tiệc thánh, cổ họng cậu sẽ thít lại, hơi thở khò khè, và cậu sốt ruột, nôn nao chờ phần đọc kinh tạ ơn nhanh kết thúc để cậu có thể bước ra cửa dùng ống thở.

Đừng ngớ ngẩn như thế, lớn hơn một chút, cậu tự trấn an bản thân mình. Đó chỉ là một câu chuyện thôi, mà cô Portleigh cũng chẳng phải thánh thần gì cho cam – mẹ nói cô ấy ly hôn ở Kittery và chơi Bingo Saint Mary’s trên Bangor, mà tín hữu Kitô Giáo thật sự không bài bạc, họ để việc đấy cho dân ngoại đạo và dân Công giáo.

Một thị trấn ở Maine.

Nghe thì có lý đấy, nhưng nó không khiến tâm trí cậu yên lòng. Câu chuyện bánh thánh biến nước trong bồn cầu thành máu khiến cậu lo lắng, gặm nhấm cậu, thậm chí làm cậu mất ngủ. Chợt đêm nọ, cậu nghĩ ra cách để dứt khoát vượt qua chuyện này, tự tay cậu phải lấy một miếng bánh, thả vào bồn cầu xem có chuyện gì xảy ra không.

Nhưng quả thật, cậu không có gan thực hiện thử nghiệm này; lý tính của cậu không tài nào chống lại hình ảnh đáng sợ khi máu loang ra đầy quy kết và nguyền rủa trong nước, tâm trí cậu không thể chống lại những lời kinh nguyện kỳ diệu: Này là thân thể ta, hãy lấy ăn đi; này là huyết ta, huyết đã đổ ra cho nhiều người.

Không, cậu chưa bao giờ táy máy thử nghiệm.

“Chắc tôn giáo nào cũng kỳ cục” Eddie nói. Nhưng rất quyền uy, tâm trí cậu để vào, gần như kỳ diệu … đây có phải BÁNG BỔ không nhỉ? Cậu vẩn vơ nghĩ về thứ mà cả bọn trông thấy trên đường Neibolt, và lần đầu tiên, cậu thấy sự tương quan rõ là điên rồ – Người sói cũng xuất hiện từ trong bồn cầu.

“Chậc, mọi người ngủ hết rồi hay sao ấy nhỉ,” Richie nói và vô tư ném cây kem Rocket vào rãnh nước. “Các cậu có bao giờ thấy không gian im ắng thế này chưa? Hôm nay người ta kéo nhau lên Bar Harbor hết rồi chắc?”

“Ch-Ch-Ch-Chào c-các cậu!” Bill Denbrough hét lên từ đằng sau. “Đ-Đ-Đợi tớ v-với!”

Eddie quay lại, tươi roi rói khi nghe thấy giọng của Bill To Bự như mọi lần. Cậu bạn đang đạp Ánh Bạc qua khúc quanh Đại lộ Costello, để Mike hít khói đằng sau dù chiếc Schwinn của Mike vẫn còn như mới tinh.

“Hỡi Ánh Bạc, PHI NÀOOO!” Bill hô vang. Cậu hì hục đạp xe về phía họ với tốc độ phải đến hơn 30 ki-lô-mét một giờ, những thẻ bài kẹp vào nan hoa phành phạch vui tai. Đoạn cậu đạp ngược bàn đạp, phanh lại, tạo ra một tiếng kin kít điệu nghệ khi bánh xe trượt trên đường.

“Bill Cà Lăm!” Richie lên tiếng. “Huynh sao rồi? À phải là… các hạ sao rồi?”

“Tớ ô-ô-ổn,” Bill đáp. “Các cậu có gặp Ben hay B-B-Beverly không?”

Mike đạp tới nơi và nhập hội. Mồ hôi mẹ mồ hôi con nhễ nhại trên mặt cậu. “Chính xác thì xe cậu phi nhanh cỡ nào vậy hả?”

Bill phá lên cười. “Tớ cũng kh-không rõ. Nhưng h-hơi bị nh-nh nhanh đấy nhé.”

“Tớ không thấy,” Richie đáp. “Chắc hai người bọn họ chơi dưới kia rồi chứ gì. Ông ổng song ca với nhau. Xá bùm, xá bùm… đà đa đa đá đa đa… em như cơn mơ, người yêu hỡi.”

Richie đang hát bài Sh-boom của The Cords, ra mắt năm 1954.

Stan Uris ra vẻ nôn ọe.

“Cậu ấy ghen tị đó,” Richie giải thích với Mike. “Dân Do Thái không biết hát đâu.”

“B-B-Bíp…”

“Bíp bíp, Richie,” Richie tự nói và cả bọn phá lên cười.

Đoạn cả bọn cùng nhau đi về Vùng Đất Cằn, Mike và Bill dắt xe đạp. Ban đầu, họ còn rôm rả chuyện trò, nhưng rồi chẳng ai lên tiếng nữa. Nhìn Bill, Eddie trông thấy vẻ không yên trên khuôn mặt bạn, và cậu nghĩ bạn mình cũng bắt đầu thấy chộn rộn trước sự yên tĩnh này. Cậu biết Richie chỉ đùa, nhưng hôm nay, hình như người dân ở Derry khăn gói đi đến Bar Harbor hết rồi thì phải… hoặc một nơi nào đó . Trên đường chẳng có bóng dáng xe cộ, cũng chẳng có bà cụ nào đẩy xe chở đồ dùng, rau củ về nhà.

“Hôm nay yên tĩnh thật nhỉ?” Eddie khơi chuyện, nhưng Bill chỉ gật đầu.

Họ băng qua đường Kansas tiến về Vùng Đất Cằn thì trông thấy Ben cùng Beverly vừa la hét vừa chạy thục mạng về phía mình. Eddie choáng váng trước vẻ ngoài của Beverly, bình thường, lúc nào cô cũng tươm tất, gọn gàng, tóc tai sạch sẽ, cột thành đuôi gà ra sau. Vậy mà lúc này đây, người cô nhơ nhớp đủ thứ cáu bẩn trên trần đời. Hai mắt cô trợn tròn và hoảng loạn. Một bên má của cô bị xước. Quần jean dính đầy vết bẩn, áo thì rách bươm.

Ben tụt lại đằng sau, thở hổn hển, bụng hết nảy lên lại nảy xuống.

“Không đi xuống Vùng Đất Cằn được đâu.” Beverly hồng hộc nói. “Đám du côn… Henry… Victor… chúng nó trốn dưới đấy… dao… hắn có dao…”

“Ch-Chậm lại,” Bill nói, ngay lập tức làm chủ tình hình một cách nhẹ nhàng, gần như vvô thức. Cậu liếc nhìn Ben chạy tới, hai má đỏ bừng, bộ ngực đồ sộ phập phồng.

“Cậu ấy nói Henry phát điên rồi, Bill To Bự,” Ben nói.

“Khốn thật, hắn ta có bao giờ bình thường à?” Richie nói và khạc nhổ.

“I-Im n-nào, R-Richie,” Bill nói rồi quay sang Beverly. “K-Kể đi, cậu nói. Eddie thò tay vào túi, nắm lấy ống thở. Cậu không biết đầu cua tai nheo ra sao, nhưng chưa gì cậu đã hiểu mọi thứ không tốt lành gì.

Cố gồng mình bình tĩnh, Beverly chật vật kể lại phiên bản đã chỉnh sửa của câu chuyện - phiên bản bắt đầu bằng cảnh Henry, Victor và SHơi bắt được cô trên đường. Cô không kể với họ chuyện bố mình vì cô cảm thấy vô cùng nhục nhã.

Sau khi cô kể xong, Bill lặng im đứng một lúc lâu, hai tay thọc vào túi, cúi gằm, ghi đông xe tì vào ngực. Mọi người chờ đợi, thỉnh thoảng liếc nhìn rào chắn chạy dọc theo rìa triền dốc. Bill trầm tư ngẫm nghĩ thật lung và không ai chen ngang. Eddie chợt vỡ ra, có lẽ đây sẽ là màn cuối. Vạn vật tĩnh lặng nhường này là vì lẽ đó, chẳng phải sao? Tựa hồ cả thị trấn đã khăn gói rời khỏi đây, để lại những tòa nhà trống rỗng đằng sau.

Richie nghĩ đến bức hình đột nhiên chuyển động trong cuốn album của George.

Beverly nghĩ về bố mình, về đôi mắt nhợt nhạt của lão.

Mike nghĩ về con chim khổng lồ.

Ben nghĩ về xác ướp và mùi quế khô.

Stan Uris nghĩ về ống quần jean đen đúa, nước nhỏ tong tỏng, bàn tay trắng bệch, nhăn nheo, lỏng bỏng.

“Đ-Đ-Đi th-th-thôi,” cuối cùng, Bill lên tiếng. “B-Bọn mình x-x-xuống đó.”

“Bill…” Ben lên tiếng, ái ngại ra mặt. “Beverly bảo Henry phát điên thật rồi. Hắn sẵn sàng giết…”

“Nơi n-n-này kh-không th-thuộc về chúng,” Bil nói và khoát tay chỉ về vạt đất xanh rì của Vùng Đất Cằn trải dài bên phải và phía dưới – những bụi cỏ, rặng cây, rừng tre, con suối. “Đ-Đ-Đó không phải đ-đ-đất của chúng.” Cậu nhìn các bạn với vẻ mặt hết sức nghiêm túc. “Tớ m-mệt mỏi vì b-bị chúng h-h-hù dọa rồi. Bọn mình đ-đ-đánh bại chúng lúc n-ném đá, và nếu c-cần đánh bại chúng l-l-lần nữa, bọn mình s-s-sẽ làm.”

“Nhưng Bill ơi.” Eddie lên tiếng, “nếu không chỉ có chúng thì sao?”

Bill quay sang Eddie, và Eddie choáng váng khi trông thấy khuôn mặt mệt mỏi, rã rời của bạn mình – vẻ mặt ấy có gì đó thật đáng sợ, nhưng phải đến sau này, khi trở thành người lớn, từ từ chìm vào giấc ngủ sau cuộc họp ở thư viện, anh mới hiểu lý do vì sao nó đáng sợ: bởi đó là khuôn mặt của một cậu bé bị bức đến bờ vực điên loạn, cậu bé suy cho cùng chẳng còn bình thường hay kiểm soát được quyết định của mình hơn Henry là bao. Nhưng cốt rễ của Bill vẫn còn đó, vẫn quan sát xung quanh qua đôi mắt thống khổ, ma ám ấy… con người kiên quyết, bừng bừng nộ khí của Bill.

“Ờ” cậu đáp, “nếu v-v-vậy thì s-s-sao?”

Không ai trả lời. Sấm đì đùng, âm thanh gần hơn. Eddie nhìn lên bầu trời và trông thấy mây giông đen sì ùn ùn kéo tới từ phía Tây. Thể nào cũng mưa thối đất thối cát, mẹ cậu thỉnh thoảng lại nói thế.

“T-tớ nói c-c-các cậu nghe,” Bill nói và nhìn mọi người. “Nếu kh-không muốn, các cậu không cần phải đ-đ-đi v-với tớ. T-T-Tùy mọi người thôi.”

“Tớ sẽ đi với cậu, Bill To Bự,” Richie khẽ nói.

“Tớ cũng vậy,” Ben đồng tình.

“Hẳn rồi,” Mike nhún vai.

Beverly và Stan đồng ý, cuối cùng Eddie cũng thuận theo.

“Cậu nghĩ kỹ nhé, Eddie,” Richie nói. “Tay cậu, nói sao nhỉ, nhìn không ổn lắm.”

Eddie nhìn Bill.

“Tớ m-m-muốn c-cậu ấy đi.” Bill khẳng định. “Cậu đ-đ-đi với t-t-tớ nhé, E-E-Eddie. Tớ sẽ để mắt đến c-cậu.”

“Cảm ơn Bill,” Eddie đáp. Bỗng dưng cậu thấy khuôn mặt mệt mỏi, thấp thoáng điên rồ của Bill trông thật đáng yêu - đáng yêu và đáng được yêu. Cậu cảm thấy choáng váng. Có lẽ mình sẵn sàng xả thân vì cậu ấy nếu cậu ấy yêu cầu. Sức mạnh này là gì nhỉ? Nếu sức mạnh ấy khiến mình nhìn giống như Bill bây giờ, chắc nó không phải sức mạnh tốt lành cho lắm.

“Ừ, Bill có vũ khí tối thượng mà,” Richie nói. “Bom hôi cánh.” Đoạn cậu giơ cánh tay trái lên, phẩy tới phẩy lui tay phải dưới nách trái. Ben và Mike cười ha hả, Eddie cũng mỉm chi.

Sấm chớp đì đùng, gần và to đến độ cả bọn nhảy dựng, rúm người sát vào nhau. Gió càng lúc càng mạnh khiến rác rến xào xạc dưới rãnh. Những đám mây đen đầu tiên ùn ùn kéo qua mặt trời mờ ảo, làm bóng của họ biến mất. Gió lạnh ngắt phà qua mồ hôi trên cánh tay trần của Eddie. Cậu run rẩy.

Bill nhìn Stan rồi nói một điều kỳ cục. “Cậu có mang cuốn sách về ch-ch-chim không, Stan?”

Stan gõ lên túi bên hông mình.

Bill nhìn cả nhóm. “Đ-Đ-Đi thôi,” cậu dứt khoát.

Mọi người lần lượt đi xuống triền dốc, trừ Bill ở lại đi chung với Eddie như đã hứa. Cậu để Richie dắt Ánh Bạc xuống dưới, và khi cả nhóm đã đến cuối dốc, Bill cất xe đạp tại vị trí quen thuộc của mình dưới cầu. Đoạn mọi người quay lại bên nhau, đưa mắt nhìn quanh.

Cơn bão sắp đến nhưng không gian chẳng hề tối đi, thậm chí không âm u chút nào. Song ánh sáng dường như đã thay đổi, và mọi thứ chợt nổi lên bần bật như trong giấc mơ không đổ bóng, rõ ràng, sắc nét như được chạm khắc. Lòng nặng như chì, Eddie kinh hoàng ngộ ra tại sao cậu lại thấy ánh sáng lúc này quen thuộc đến thế – bản chất của nó giống với thứ ánh sáng mà cậu đã chứng kiến trong căn nhà số 29 đường Neibolt.

Một tia chớp lóe lên giữa làn mây, chói lóa đến mức cậu nheo mắt. Cậu đưa tay lên mặt và bất giác đếm. Một… hai… ba… Và rồi sấm vang lên thành tiếng đùng chói tai, nghe như âm thanh quả pháo M-80 vừa nổ, cả nhóm càng xích lại gần nhau hơn.

“Sáng nay dự báo nói không có mưa,” Ben lo lắng. “Trên báo nói trời nóng và có mây thôi.”

Mike nhìn trời. Mây ùn ùn như những chiếc xuồng đáy đen thui, cao và trũng nước, hối hả khỏa lấp sắc thiên thanh che phủ bầu trời lúc cậu và Bill bước ra khỏi nhà Denbrough sau bữa trưa. “Nhanh quá,” cậu nhận xét. “Tớ chưa bao giờ thấy cơn bão nào kéo đến nhanh như thế.” Và như xác nhận lời cậu nói, sấm lại đùng đoàng đánh xuống.

“Đ-Đ-Đi nào,” Bill giục. “Mình đ-đem cất bảng Parchee-hee-si của E-E-Eddie ở ph-ph-phòng sinh hoạt nhé.”

Cả nhóm men theo con đường mà họ đã đi qua đi lại không biết bao nhiêu tuần kể từ vụ con đập. Bill cùng Eddie dẫn đầu, vai loẹt quẹt vào những tán lá xanh rì, to rộng, mọi người lũ lượt theo sau. Gió lại vù vù thổi, khiến cành cây và bụi rậm xào xạc thầm thì. Xa xa phía trước, rặng tre lanh canh ma mị như trống vỗ trong câu chuyện rừng thiêng.

“Bill?” Eddie hạ giọng.

“Sao thế?”

“Tớ biết điều này chỉ có trong phim, nhưng…” Eddie khẽ cười. “Tớ có cảm giác mình bị theo dõi.”

“Ồ, vậy là chúng ở đ-đ-đây, đ-đ-được thôi,” Bill nói. Eddie lo lắng nhìn quanh, khẽ siết hộp trò chơi Parcheesi. Cậu

11

Phòng của Eddie/ 3 giờ 5 phút sáng

mở cửa và đối mặt con quái vật như bước ra từ truyện kinh dị.

Nhân hình bê bết máu đứng đó chẳng là ai khác ngoài Henry Bowers. Trông hắn như xác chết đội mồ sống dậy. Gương mặt hắn hằn lên căm thù và sát khí chẳng khác nào mặt nạ của thầy lang tà thuật. Tay phải hắn giơ ngang má, và khi Eddie trợn tròn mắt, bàng hoàng hít vào hơi đầu tiên thì cánh tay lao vụt tới, lưỡi dao bấm ánh lên như lụa.

Không kịp nghĩ gì - không có thời gian để nghĩ; dừng lại tư duy đồng nghĩa với mất mạng - Eddie đóng sầm cánh cửa lại. Cửa đập vào tay Henry, khiến con dao chệch hướng và vụt thành một đường cong thịnh nộ cách cổ của Eddie chưa tới ba phân.

Một tiếng răng rắc vang lên khi cửa nghiến mạnh tay của Henry. Henry rên lên oai oái. Hắn buông tay, thả con dao rơi xuống sàn. Thấy vậy, Eddie vội đá con dao xuống gầm ti vi.

Henry tông cả người vào cánh cửa. Hắn nặng hơn Eddie đến nửa tạ, vì thế Eddie bị đẩy bật ra sau như thể búp bê, đầu gối đập vào giường khiến anh đổ ập lên giường. Henry bước vào phòng, đóng cửa lại. Hắn đã kịp chốt cửa lúc Eddie ngồi dậy, hai mắt trợn tròn, họng bắt đầu thít lại khò khè.

“Được rồi, thằng khốn,” Henry lên tiếng. Mắt hắn liếc xuống sàn tìm kiếm con dao nhưng không thấy đâu. Eddie đưa tay quơ quàng bàn cạnh giường thì vớ được một trong hai chai nước khoáng Perrier mà anh gọi trước đó. Chai này vẫn còn nguyên; anh đã uống chai còn lại trước khi đến bệnh viện vì thần kinh quá căng thẳng và bị trào ngược dạ dày. Nước khoáng Perrier rất tốt cho tiêu hóa.

Chẳng buồn tìm dao nữa, Henry lầm lừ tiến lại, Eddie chộp lấy cổ chai nước hình quả lê màu xanh, đập vào thành bàn. Nước khoáng sủi bọt xì xì, tràn qua những lọ thuốc để trên đó.

Áo quần của Henry nhoe nhoét máu, cả máu tươi lẫn máu đã khô. Tay phải của hắn co lên theo một góc kỳ cục.

“Thằng khốn kia,” Henry lên tiếng, “để tao dạy mày ném đá.”

Hắn bước đến giường, nhào tới Eddie trong lúc anh vẫn còn bàng hoàng, chưa tin nổi vào mắt mình. Kể từ lúc anh mở cửa đến giờ chưa tới bốn mươi giây trôi qua. Thấy Henry lao đến, Eddie ném đít chai Perrier lởm chởm vào hắn. Miểng chai bay thẳng vào mặt Henry, cứa toạc má hắn và đâm vào mắt phải.

Henry thều thào hét lên rồi loạng choạng lùi lại. Con mắt bị rạch chảy dịch màu vàng trắng, trông như sắp rớt khỏi hốc mắt đến nơi. Má của hắn tứa máu chẳng khác nào vòi phun. Tiếng thét của Eddie to hơn hẳn. Anh bước xuống giường, tiến về phía Henry – để giúp hắn chăng, anh cũng không biết nữa – thì Henry lại lao vào tấn công anh lần nữa. Eddie chĩa cổ chai Perrier về phía hắn như thanh kiếm, và lần này, miểng chai sắc nhọn thọc sâu vào tay trái Henry, xẻo qua ngón tay của hắn. Máu tươi túa ra. Henry gầm lên ằng ặc, nghe như một người đang đằng hắng, đoạn dùng tay trái đẩy Eddie.

Eddie bật ngược ra sau, đập vào bàn viết. Tay trái ngoặt ra sau, thân người anh ngã đè lên tay. Cơn đau đột ngột buốt nhói. Anh cảm thấy xương mình bị tác động ở ngay vết gãy cũ, và anh phải cắn chặt răng để không ré lên đau đớn.

Một bóng đen bỗng chắn ánh sáng.

Henry Bowers đứng trước mặt anh, người khẽ lắc lư. Đầu gối của hắn khuỳnh xuống. Tay trái hắn tong tỏng máu lên vạt áo ngủ của Eddie.

Eddi giữ rịt cổ chai nước Perrier và khi thấy đầu gối của Henry khuỵu xuống, anh vội giơ nó ra trước mặt, phần lởm chởm chĩa thẳng lên trên, nắp chai tì vào xương ức. Henry ngã ập xuống như cây đổ, xiên thẳng lên chai nước. Eddie cảm thấy cổ chai nước vỡ nát trong tay mình và một cơn đau như cứa vào xương chạy dọc tay trái lúc này vẫn đang kẹt dưới thân thể anh. Có thứ gì đó ấm nóng chảy lên người nhưng anh không chắc ấy là máu anh hay máu Henry.

Henry co giật như cá mắc cạn. Giày hắn cộp cộp thành giai điệu giật cục trên thảm. Eddie có thể ngửi thấy hơi thở hôi hám của hắn. Đoạn Henry cứng người rồi vật ra sàn. Đầu chai nước chĩa ra từ trên bụng, phần nắp chai hướng lên trần như thể mọc ra từ người hắn.

“ẶC” Henry chỉ nói vậy rồi im bặt, mắt thao láo nhìn trần nhà. Eddie nghĩ có khi hắn đã chết cũng nên.

Eddie gắng gượng chống lại những đợt choáng váng chực bao trùm lấy anh và trì anh xuống. Anh gồng lên rồi đứng dậy. Cánh tay bị gãy vung ra trước, đau nhói, giúp đầu óc anh tỉnh táo được đôi phần. Khò khè hớp lấy hớp để không khí, anh mò đến bàn cạnh giường. Nhặt ống thở nằm giữa vũng nước có ga, anh đưa nó vào miệng và kéo co. Anh rùng mình trước vị thuốc rồi xịt thêm lần nữa. Anh nhìn gã đàn ông đang nằm trên thảm – đây có phải là Henry không? Có phải không nhỉ? Đúng. Dù tướng tá già nua, mái tóc húi cua chẳng còn đen nhánh mà đã ngả muối tiêu, cơ thể phệ, bệu rệu và trắng nhợt, đây vẫn là Henry. Và Henry đã chết. Cuối cùng, Henry đã…

“ọc,” Henry nói rồi ngồi dậy. Tay hắn quặp trong không trung như thể tìm chỗ bấu víu mà chỉ Henry mới trông thấy. Đôi mắt bị đâm thủng chảy dịch và máu; trong mắt thõng xuống, chực rơi lên má. Nhìn quanh, trông thấy Eddie co rúm tựa vào tường, hắn bèn gượng đứng dậy.

Hắn vừa mở miệng thì máu ồng ộc chảy ra. Henry lại đổ ập xuống.

Trống ngực đập thình thịch, Eddie quýnh quáng vớ lấy điện thoại nhưng lại hoảng loạn đánh rơi lên bàn và làm nó nảy lên giường. Anh vội chộp điện thoại rồi nhấn phím 0. Điện thoại reng mãi, reng mãi.

Nhanh lên, Eddie nghĩ, anh làm gì dưới đó vậy, xúc lọ chắc? Nhanh lên, xin anh, trả lời điện thoại mau!

Điện thoại tiếp tục đổ chuông. Eddie không rời mắt khỏi Henry, chuẩn bị tinh thần thấy hắn ta đứng dậy bất cứ lúc nào. Máu. Chúa ơi, nhiều máu quá.

“Lễ tân xin nghe,” một giọng nói cáu bẳn lè nhè vang lên.

“Kết nối với phòng của Denbrough cho tôi,” Eddie nói. “Nhanh lên.” Tai kia của anh nghe ngóng các phòng xung quanh. Từ nãy đến giờ họ ầm ĩ đến mức nào? Liệu lát nữa có ai gõ cửa phòng anh và hỏi tình hình ra sao không?

“Anh có chắc muốn tôi gọi không?” Tay lễ tân hỏi. “Đang là 3 giờ 10 phút sáng đấy.”

“Có, gọi mau đi!” Eddie thiếu điều gầm lên. Bàn tay nắm điện thoại của anh run lên lẩy bẩy. Tay kia nhói lên từng hồi. Henry có cục cựa không nhỉ? Không, không có.

“Rồi, rồi,” đầu dây bên kia đáp. “Bớt nóng nào, anh bạn.”

Có một tiếng cạch vang lên, tiếp theo là tiếng đổ chuông khô khốc. Nào, Bill ơi, nhấc máy đi, nh…

Bỗng một suy nghĩ hợp lý đến khủng khiếp lóe lên trong đầu anh. Giả sử Henry đến phòng của Bill trước thì sao? Hoặc phòng của Richie? Ben? Bev? Hoặc biết đâu trước đó, hắn đã đến thư viện thì sao? Chắc hẳn hắn đã quần thảo ở đâu đó, bởi nếu không có người đả thương Henry thế này thì Eddie hẳn đã nằm chết thẳng cẳng trên sàn, con dao gấp chĩa ra từ ngực giống cái cách cổ chai Perrier thò ra từ bụng Henry. Hoặc biết đâu hắn đã ghé chỗ tất cả mọi người, tấn công lúc họ còn bải hoải và mơ ngủ như Henry tấn công anh? Lỡ đâu họ đã mất mạng cả rồi thì sao? Suy nghĩ ấy quá sức kinh khủng, đến độ Eddie trộm nghĩ anh sẽ điên dại gào thét nếu không ai trả lời điện thoại trong phòng Bill.

“Làm ơn, Bill To Bự” Eddie thầm thì. “Xin cậu, nhấc máy đi.”

Điện thoại được kết nối và giọng nói dè chừng lạ lùng của Bill vang lên: “A-A-A lô?”

“Bill,” Eddie lắp bắp. “Bill, tạ ơn Chúa.”

“Eddie?” Giọng của Bill nhỏ lại trong thoáng chốc, nói với ai đó người gọi điện thoại là ai. Đoạn anh rành rọt lên tiếng. “C-Có chuyện gì th-thế, Eddie?”

“Là Henry Bowers,” Eddie nói, đưa mắt nhìn thân hình trên sàn. Nó có cục cựa không nhỉ? Anh khó lòng trấn an bản thân rằng thân hình ấy vẫn đang nằm yên như phỗng. “Bill, hắn đến phòng tớ… và tớ giết hắn rồi. Hắn mang theo dao. Tớ nghĩ…” Anh hạ giọng. “Tớ nghĩ đây chính là con dao mà hắn cầm theo ngày hôm đó. Lúc bọn mình vào đường cống ngầm. Cậu còn nhớ không?”

“Tớ nh-nh-nhớ,” Bill trầm tư đáp. “Eddie, nghe tớ bảo này. Tớ muốn cậu

12

Vùng Đất Cằn/ 1 giờ 55 phút chiều

qu-qu-quay lại và bảo B-B-Ben l-lại đây.”

“Được.” Eddie đáp và lùi ra sau ngay lập tức. Lúc này, cả nhóm đang tiến đến khoảng đất trống. Sấm sét ầm ì trên bầu trời đầy mây, bụi cây xào xạc trong gió.

Ben bước lên trước cùng Bill khi mọi người bước vào khoảng đất. Cửa sập của phòng sinh hoạt nhóm mở toang, một khoảng tối đen hình vuông ngay giữa sắc xanh lá. Tiếng nước chảy róc rách rõ mồn một và bất thình thành, Bill đoán chắc một điều điên rồ: rằng đây sẽ là lần cuối cùng thuở thơ ấu cậu được lắng nghe âm thanh này, bước chân vào nơi này. Cậu hít một hơi thật sâu, ngửi mùi đất, không khí và mùi bãi rác bám muội đằng xa, phả khói như ngọn núi lửa ầm ì băn khoăn chưa biết có nên phun trào hay không. Cậu trông thấy đàn chim cất cánh bay từ cầu cạn đường sắt về phía Mũi Đất Cũ. Trên đầu cậu, mây đen vần vũ.

“Sao thế?” Ben hỏi.

“Tại sao bọn chúng ch-ch-chưa nhào ra b-b-b-bắt bọn m-mình nhỉ?” Bill thắc mắc. “Chúng đ-đang ở đây. E-E-Eddie n-nói đúng. Tớ có thể c-c-cảm thấy bọn chúng.”

“Ừ.” Ben đáp. “Tớ đoán chúng nó ngu si nên nghĩ rằng bọn mình sẽ xuống phòng sinh hoạt nhóm, sau đó bọn chúng sẽ nhốt nhóm mình lại.”

“C-C-Có thể,” Bill đáp, và bỗng dưng cậu cảm thấy bực bội một cách bất lực với tật nói lắp của mình, bởi nó khiến cậu không thể nói nhanh được. Nhưng có lẽ cậu cũng không biết mô tả thành lời như thế nào những điều này – rằng cậu cảm thấy mình như hiểu được tình cảnh của Henry Bowers, rằng cậu cảm thấy tuy ở hai chiến tuyến, nhưng cậu và Henry càng lúc càng tiến đến gần nhau, tựa như những con tốt bị xoay vần bởi những thế lực đối nghịch nhau.

Henry muốn họ đứng lên chiến đấu.

muốn họ đứng lên chiến đấu.

Và mất mạng.

Một chuỗi những tia sáng trắng lóe lên trong đầu cậu. Họ sẽ trở thành nạn nhân của kẻ giết người lảng vảng ở Derry, khởi nguồn từ cái chết của George – cả bảy người bọn họ. Thi thể của họ sẽ được phát hiện, hoặc không, tùy thuộc vào việc Nó có thể hoặc sẵn lòng bảo vệ Henry – và ở cấp độ ưu tiên thấp hơn, Ợ Hơi và Victor hay không. Phải, người ngoài nhìn vào, dân cư thị trấn này nhìn vào chỉ nghĩ bọn mình là nạn nhân của kẻ giết người kia. Và như thế cũng đúng, xét theo một cách nực cười nào đó thì như thế cũng đúng. Nó muốn bọn mình thiệt mạng. Henry là tay sai thực hiện điều đó, như vậy Nó không phải trực tiếp ra mặt. Có lẽ mình sẽ là người đầu tiên nộp mạng - Beverly và Richie có thể giữ tinh thần cho cả nhóm, hoặc Mike, nhưng Stan rất sợ, cả Ben cũng vậy, dù mình nghĩ cậu ấy cũng hơn Stan. Eddie còn bị gãy tay nữa chứ. Sao mình lại dẫn họ xuống đây nhỉ? Chúa ơi! Sao mình lại làm vậy?

“Bill?” Ben lo lắng lên tiếng. Cả nhóm tập trung quanh phòng sinh hoạt nhóm. Sấm lại đùng đoàng vang lên, bụi cây xào xạc gấp gáp hơn. Rặng tre cành cạch va vào nhau dưới ánh sáng nhạt dần khi bão tới.

“Bill…” Richie e dè.

“Suỵt!” Cả nhóm ngột ngạt im bặt trước đôi mắt tóe lửa, tựa như bị ám của cậu.

Cậu nhìn chằm chằm vào bụi cây, vào con đường ngoằn ngoèo băng qua đó, dẫn ngược trở lại đường Kansas, và cảm thấy tâm trí mình chợt tăng lên một bậc, như thể tiến hóa cao hơn. Cậu không cà lăm chút nào trong tâm trí; cậu cảm thấy suy nghĩ ào ào xuất hiện từ nguồn trực giác tuôn trào – cậu cảm thấy mọi thứ đang vùn vụt kéo đến.

George ở một đầu, mình và các bạn ở đầu còn lại. Và rồi mọi thứ sẽ kết thúc

(một lần nữa)

một lần nữa, phải, một lần nữa, vì ngày xưa từng như vậy, và cuối cùng lúc nào cũng phải có kẻ hy sinh, một sự kiện khủng khiếp để đặt dấu chấm hết cho chu kỳ, mình không biết làm thế nào mình biết nhưng mình hiểu như thế… và mọi người… mọi người…

“Mọi người đ-đ-để chuyện này xảy ra,” Bill lẩm bẩm, trừng mắt nhìn cuối con đường lởm chởm. “Ch-Ch-Chắc hẳn là v-v-vậy.”

“Bill?” Bev hỏi, giọng van nài. Stan đứng bên cạnh cô, nhỏ bé, gọn gàng trong áo thun polo xanh dương và quần kaki. Mike đứng bên phía còn lại, nhìn Bill không rời mắt như muốn đọc thấu suy nghĩ bạn mình.

Mọi người để mặc chuyện này xảy ra, luôn như thế, và rồi biến cố lắng xuống, nhịp sống tiếp tục, Nó… Nó…

(ngủ yên)

ngủ yên… hoặc ngủ đông như loài gấu… sau đó, chu kỳ lại bắt đầu, người dân đều biết… mọi người đều biết… mọi người biết như thế, vì vậy Nó mới có thể tồn tại.

“Tớ d-d-d-d-dẫn…”

Ôi con xin Người Chúa ơi con xin Người anh đấm tay con xin Người vào cột nhà cho con nói điều này ra la oai oái rằng cầu xin Người Chúa ơi ÔI XIN NGƯỜI CHO CON NÓI MÀ KHÔNG CÀ LĂM!

“Tớ dẫn mọi người x-xuống đ-đây v-v-v-v-vì ch-ch-chẳng còn n-nơi nào a-a-an toàn nữa,” Bill nói, nước bọt phèo phèo bắn lên môi, cậu lấy mu bàn tay quệt đi. “ D-D-Derry chính là Nó. Các c-c cậu c-c-có h-h-hiểu không?” Cậu gay gắt nhìn mọi người khiến cả nhóm rụt lại, mắt loang loáng, sợ hãi như tử thần vừa ghé qua. “ D-D-Derry chính là N-N-Nó ! Dù mình đ-đ-đi đ-đ-đâu chăng nữa… khi N-N-Nó b-b-b-bắt được m-mình, s-s-sẽ chẳng ai th-th-thấy, ch-ch-chẳng ai ngh-ngh-nghe, ch-ch-chẳng ai bbb-biết.” Cậu nhìn mọi người, cầu xin. “C-C-Các cậu kh-không th-thấy v-v-vậy s-sao? Mình ch-chỉ c-c-có thể c-c-cố ch-chấm dứt th-thứ mà m-m-m-mình b-bắt đầu thôi.”

Beverly nhớ lại cảnh ông Ross đứng dậy, nhìn cô, gấp báo rồi bước thẳng vào nhà. Sẽ chẳng ai thấy, chẳng ai nghe, chẳng ai hay biết. Và bố

(cởi quần ra đồ đàng điếm)

thật sự đã muốn giết cô.

Mike nghĩ về bữa trưa ở nhà Bill. Mẹ của Bill như mơ màng chìm trong thế giới riêng, tựa hồ bà không thấy hai người bọn cậu, say sưa đọc tiểu thuyết của Henry James trong lúc hai cậu bé làm bánh mì kẹp và ngồi ăn ở bàn bếp. Richie nghĩ về căn nhà gọn gàng nhưng trống trơn của Stan. Stan không khỏi bất ngờ, thường vào giờ trưa, mẹ cậu lúc nào cũng ở nhà. Thỉnh thoảng, nếu ra ngoài, bà luôn để lại giấy nhắn mình đi đâu. Nhưng hôm nay chẳng có mẩu giấy nào. Không thấy chiếc xe đâu, và chỉ có thế. “Chắc mẹ tớ đi mua sắm với cô Debbie,” Stan nói, khẽ nhíu mày rồi bắt tay vào làm bánh mì kẹp salad và trứng. Richie quên bẵng điều này, phải đến giờ cậu mới để ý. Eddie nghĩ về mẹ mình. Lúc cậu ra khỏi nhà với bảng Parcheesi, mẹ cậu không nhắc những câu quen thuộc như: Nhớ giữ mình, Eddie, nếu mưa thì phải tìm chỗ trú đấy. Eddie, không được chơi những trò bạo lực nhé con. Mẹ cũng không hỏi liệu cậu có mang theo ống thở chưa, cũng không dặn cậu mấy giờ phải về nhà, không nhắc cậu hạn chế giao du với “mấy đứa ất ơ mà con chơi cùng”. Bà chỉ tiếp tục xem phim dài tập chiếu trên ti vi, như thể cậu không tồn tại.

Như thể cậu không tồn tại.

Suy nghĩ tương tự lướt qua đầu tất cả cậu bé: Sáng nay, ở một thời điểm nào đó từ lúc thức giấc đến giờ ăn trưa, họ đã biến thành hồn ma.

Hồn ma .

“Bill,” Stan gằn giọng “hay mình băng thẳng qua, đến Mũi Đất Cũ?”

Bill lắc đầu. “Tớ không ngh-ngh-nghĩ v-v-vậy. Bọn mình s-s-sẽ mắc k-k-kẹt trong r-r-rừng tr-tr-tre… b-b-bùn l-l-lún… hoặc dưới s-s-sông K-K-Kenduskeng sẽ có c-c-cá p-p-p-pirahna th-th-thật sự… h-h-hoặc đ-đ-điều gì đ-đ-đó t-t-tương tự.”

Mỗi người trong cả đám lại hình dung một viễn cảnh riêng với cùng một kết cục. Ben tưởng tượng bụi cây bỗng chốc biến thành cây ăn thịt người. Beverly trông thấy đỉa biết bay như những con bay ra từ chiếc tủ lạnh cũ dạo nọ. Stan mường tượng cảnh bùn lầy trong rặng tre bỗng phọt ra xác sống của đám trẻ bị kẹt dưới vũng bùn, Mike Hanlon tưởng tượng những loài động vật bò sát kỷ Jura, răng gớm guốc như lưỡi cưa bò ra từ khe nứt của cây bị thối, lao vào cắn xé họ thành từng mảnh. Richie nhìn thấy cảnh con mắt Biết bò trườn xuống người bọn họ lúc cả đám chạy bên dưới cầu cạn. Còn Eddie hình dung cảnh họ đang trèo lên triền dốc Mũi Đất Cũ thì trông thấy gã hủi đứng đợi ngay đầu dốc, da thịt chảy nhão, nhung nhúc giòi bọ.

“Phải chi bọn mình tìm được cách thoát khỏi thị trấn này…” Richie lầm bầm rồi nhíu mày khi sấm đùng đùng lóe sáng trên bầu trời. Mưa lác đác rơi – tuy mới chỉ có gió giật thành từng hồi nhưng lát nữa thôi, mưa sẽ rơi xuống như trút nước, tối tăm mặt mũi. Ánh dương dịu nhẹ đã hoàn toàn biến mất như thể chưa từng có mặt trên đời. “Bọn mình sẽ an toàn nếu có thể cuốn xéo khỏi thị trấn khốn kiếp chết tiệt này.”

“Bíp b…” Beverly lên tiếng. Cô chưa nói hết câu thì một hòn đá bay ra từ bụi cây rậm rạp và đập thẳng vào đầu Mike. Cậu loạng choạng, máu chảy qua chiếc mũ lưỡi trai đội trên đầu, may có Bill chụp lại nên mới không ngã.

“Để tao dạy bọn mày ném đá!” Giọng Henry vang lên trêu ngươi.

Bill trông thấy mọi người trợn tròn mắt nhìn quanh, mỗi người sẵn sàng co giò bỏ chạy theo một hướng khác nhau. Và nếu họ làm vậy, mọi chuyện xem như chấm hết.

“B-B-Ben!” Cậu gọi vang.

Ben nhìn cậu. “Bill, chạy thôi. Chúng…”

Thêm hai hòn đá bay ra từ bụi cây. Một viên chọi vào đùi của Stan làm cậu hét lên, ngạc nhiên nhiều hơn đau đớn. Beverly kịp né hòn thứ hai. Nó văng xuống đất và lăn qua cửa sập của phòng sinh hoạt nhóm.

“Cậu c-c-có nh-nh-nh-nhớ ng-ngày đ-đ-đầu tiên cậu x-x-xuống đ-đây không?” Bill hét lên, át tiếng sấm. “Ng-Ng-Ng-Ngày k-kết th-thúc n-năm h-học ấy?”

“Bill…” Richie gào lên.

Bill vung tay ra hiệu cho bạn mình im lặng, mắt cậu vẫn dán chặt vào Ben, giữ cậu ở yên tại chỗ.

“Có,” Ben đáp, khổ sở tìm cách nhìn bao quát xung quanh cùng một lúc. Bụi cây xao động, xào xạc điên cuồng, nhấp nhô chẳng khác nào sóng vỗ.

“C-C-Cống nước,” Bill nói. “Tr-Trạm b-b-bơm. B-Bọn mình ph ph-phải x-x-xuống đ-đó. Dẫn đường đi!”

“Nhưng…”

“D-D-Dẫn đường đ-đi!”

Đá vùn vụt phóng ra từ bụi cây như mưa và trong khoảnh khắc, Bill trông thấy khuôn mặt của Victor Criss, vừa có gì đó sợ sệt, vừa đờ đẫn và háo hức. Bỗng một hòn đá đập thẳng vào xương gò má, lần này Mike nhanh tay đỡ Bill khỏi ngã. Trong thoáng chốc, mắt cậu tối sầm lại. Má cậu tê dại. Đoạn cảm giác trở lại theo những cơn đau nhói buốt, cậu cảm nhận máu chảy trên mặt. Đưa tay lên quẹt má, cậu nhăn mặt trước cơn đau bừng bừng, nhìn vết máu rồi chùi lên quần jean. Tóc cậu tung bay trong cơn gió phần phật.

“Để tao dạy mày ném đá, thằng khốn cà lăm!” Henry vừa cười vừa rống lên.

“D-D-Dẫn đường đi!” Bill hét lên. Giờ thì cậu hiểu tại sao cậu bảo Eddie gọi Ben lên phía trước, bọn họ phải đến trạm bơm, trạm bơm đặc biệt , và Ben là người duy nhất biết chính xác là trạm bơm nào – rải rác dọc hai bờ sông Kenduskeng có rất nhiều trạm bơm. “Ph-Ph-Phải đ-đ-đến đó! L-l-lối vào! N-N-N-Nơi dẫn đ-đ-đến Nó!”

“Bill, sao cậu biết chắc được!” Beverly gào thét.

Cậu tức giận hét lên với cô – với tất cả mọi người: “Tớ biết !”

Ben lừng khừng đứng đó, liếm môi nhìn Bill. Đoạn cậu băng qua khoảng đất, tiến về phía con sông. Tia chớp sáng choang xé toạc bầu trời với sắc trắng ngả tím, theo sau là chuỗi sấm long trời lở đất khiến Bill loạng choạng. Một hòn đá to bằng nắm tay sượt qua mũi cậu, đập vào mông Ben. Cậu ré lên vì đau, tay vội vàng xoa chỗ bị ném trúng.

“Đáng đời, thằng béo!” Henry ré lên, vẫn giọng nửa cười nửa la hét. Bụi cây xào xạc, răng rắc, và rồi Henry ló dạng khi mưa thôi trêu ngươi mà sầm sập trút xuống. Nước xối xả lên quả đầu húi cua và hàng lông mày của hắn rồi tuôn chảy xuống má. Nụ cười của hắn khoe cả hàm răng. “Để tao chỉ mày ném đ…”

Nhặt được miếng gỗ còn dư sau khi xây mái phòng sinh hoạt nhóm, Mike ném về phía đối phương. Miếng gỗ xoay vèo vèo hai vòng rồi đập thẳng lên trán Henry. Hắn gầm lên, một tay đưa lên trán như kẻ vừa nảy ra ý tưởng tuyệt cú mèo rồi ngồi thụp xuống đất.

“Ch-Ch-Chạy!” Bill hô to. “Th-Theo B-B-Ben!”

Bụi cây xáo động răng rắc, sột soạt, rồi khi Hội Cùi Bắp chạy theo Ben Hanscom, Victor và Ợ Hơi ló ra, Henry cũng đứng dậy, cả ba bọn chúng rượt đuổi họ.

Sau khi mọi chuyện ngã ngũ, khi những sự kiện hôm ấy trở lại trong đầu Ben, cậu cũng chỉ nhớ những hình ảnh lộn tùng phèo khi cả đám chạy qua bụi cây. Cậu nhớ cành cây đầy lá sũng nước quất vào mặt cậu, lạnh buốt; cậu nhớ sấm chớp giật liên hồi, cậu nhớ tiếng Henry gào lên bảo bọn họ quay lại đánh nhau như hòa lẫn vào tiếng con sông Kenduskeag bởi cả nhóm càng lúc càng tiến lại gần sông hơn. Lúc nào cậu đi chậm lại, Bill đều vỗ vào lưng thúc cậu nhanh chân.

Lỡ mình không tìm được nó thì sao? Lỡ mình không tìm được trạm bơm ấy thì sao?

Hơi thở phì phò ra vào buồng phổi, sâu trong cuống họng của cậu nóng hổi và tanh vị máu. Hông cậu nhói lên. Mông cậu đau rần rần ở chỗ bị hòn đá ném trúng. Beverly bảo Henry cùng bè lũ của hắn thật sự muốn giết họ, và giờ thì Ben tin rồi, phải, bọn chúng thật sự có sát ý.

Cậu chạy đến bờ sông Kenduskeag đột ngột đến độ suýt nữa thì lao thẳng xuống sông. Chới với, may sao giữ được thăng bằng, nào ngờ bờ sông bị dòng nước lũ mùa xuân xói mòn, sập xuống khiến cậu trượt ngã đến tận rìa dòng nước xiết, áo rút tận lưng, bùn đất nhoe nhoét dính đầy người.

Bill chạy đến, kéo cậu đứng dậy.

Các thành viên còn lại trong nhóm lao ra khỏi những bụi cây san sát chìa ra bờ sông. Richie và Eddie xuất hiện cuối cùng, một tay Richie vòng qua hông Eddie, cặp kính ướt sũng của cậu bấu víu hờ hững trên chóp mũi.

“Ơ-Ơ-Ở đâu?” Bill hét lên.

Ben nhìn trái rồi lại nhìn phải, ý thức từng khắc đều mang ý nghĩa sống còn. Nước sông có vẻ đã dâng cao hơn, ùng ục chảy, bầu trời tối sầm vì mưa khiến nước sông ngả màu xám đục của đá phiến, trông nguy hiểm vô cùng. Hai bên bờ um tùm những bụi cây, những lùm cỏ, xào xạc nhảy múa theo giai điệu của gió. Cậu nghe thấy Eddie hồng hộc hớp lấy không khí.

“Ơ-Ơ-Ở đâu?”

“Tớ không b…”, đang nói dở câu, cậu trông thấy cái cây xiêu vẹo và hốc bị xói mòn bên dưới. Đó là nơi cậu đã trốn vào ngày đầu tiên. Cậu đã ngủ thiếp đi, và khi tỉnh lại, cậu nghe tiếng Bill đùa giỡn với Eddie. Rồi đám du côn ấy đến… phát hiện ra… và phá nát. Bái biệt đám kia, con đập nhỏ tí ấy mà, tao nói thật.

“Đằng kia!” Cậu hét lên. “Ở đó!”

Chớp lại lóe lên, lần này, Ben nghe thấy một âm thanh xì xì như máy biến thể trong mô hình xe lửa Lionel bị quá tải. Chớp đánh vào thân cây, ngọn lửa điện màu trắng xanh khiến gốc cây xèo xèo nham nhở vỡ thành những mảnh vụn như tăm xỉa răng của ông tiên khổng lồ. Cây đổ sập xuống dòng sông đánh rầm, bắn nước tung tóe lên không trung. Bàng hoàng hít vào một hơi, Ben ngửi thấy thứ mùi nóng rẫy, mục và ngai ngái. Cầu lửa phọt ra từ thân cây bị đổ, lóe sáng rồi tắt ngúm. Sấm nổ váng trời, nhưng không phải trên đầu mà là xung quanh họ, như thể họ đang đứng ngay trung tâm của sấm sét. Mưa vẫn hối hả dồn dập.

Bill thụi vào lưng khiến cậu sực tỉnh khỏi dòng suy nghĩ mụ mị. “Đ-Đ-Đi!”

Ben đi tiếp, bì bõm, lạch bạch dọc theo rìa sông, tóc chọc cả vào mắt. Cậu đến chỗ thân cây - cái hốc nhỏ bên dưới đã tiêu tan- rồi trèo qua, bấu chân vào lớp vỏ cây ướt nước, cánh tay xây xát do bề mặt sần sùi.

Bill cùng Richie công kênh Eddie qua cái cây, cậu loạng choạng trèo thì được Ben đỡ. Cả hai ngã nhào xuống đất. Eddie ré lên.

“Cậu ổn chứ?” Ben hét to.

“Chắc vậy,” Eddie thét lên đáp trả rồi đứng dậy. Cậu mò mẫm lấy ống thở, suýt nữa đã đánh rơi. Ben nhanh tay chộp lấy, Eddie nhìn bạn với vẻ biết ơn khi đưa ống vào miệng và kéo cần.

Richie trèo qua, theo sau là Stan và Mike. Bill đẩy Beverly lên thân cây, Ben và Richie đỡ cô ở phía bên kia, tóc cô bết vào đầu, quần jean xanh giờ đã hóa đen.

Bill đi sau cuối, đẩy người lên thân cây rồi lẳng chân qua. Cậu trông thấy Henry cùng bè lũ bì bõm lội qua sông đuổi theo họ, và khi trượt qua cái cây bị đổ, cậu hét lên: “Đ-Đ-Đá! Ném đá!”

Trên bờ sông có rất nhiều đá, thân cây bị đổ do sét đánh tạo thành rào chắn hoàn hảo. Trong chớp mắt, cả bảy người bọn họ ném đá vào đám Henry. Chúng tiến sát đến thân cây, ở vị trí ngay đúng tầm ngắm. Đá đập vào mặt, vào ngực, tay chân, bọn côn đồ buộc phải thối lui, ỏm tỏi la hét vì tức giận và đau đớn.

“Giỏi thì dạy bọn tao ném đá đi!” Richie hét lên rồi ném một hòn to cỡ quả trứng gà vào Victor. Đá đập vào vai hắn, bắn gần như thẳng lên không trung. Victor gào rống. “Ái chà… Ái chà… giỏi thì dạy xem! Bọn tao học nhanh lắm!”

“Phảiiii!” Mike la to. “Vừa lòng chưa? Vừa lòng bọn mày chưa?”

Họ không thu được câu trả lời bởi đối phương lùi lại cho đến khi ra khỏi phạm vi đá quăng tới rồi túm tụm lại. Phút sau, chúng trèo lên bờ sông, lép nhép trơn trượt do đất bùn lúc này loang lổ như tổ ong vì những dòng suối con con, tay bấu vào cành cây để không bị té.

Đoạn bọn chúng biến mất vào bụi cây.

“Chúng sẽ bao vây bọn mình, Bill To Bự,” Richie nói, đẩy kính lên mũi.

“Kh-Kh-Không sao, Bill nói. “Đ-Đi tiếp, B-B-Ben. Bọn tớ th-th theo s-sau.”

Ben lõm bõm men theo bờ sông, dừng lại (cảnh giác đám của Henry có thể nhào vào mặt cậu bất cứ lúc nào), và nhìn thấy trạm bơm dưới lòng sông cách đó chừng hai mươi mét. Mọi người đi theo cậu. Cả nhóm có thể trông thấy những cột trụ còn lại ở bờ đối diện, một trụ khá gần, một trụ cách gần bốn mươi mét. Hai cột trụ này đang ùng ục xả nước bùn xuống sông Kenduskeag, nhưng nước chỉ ri rỉ chảy ra từ ống trụ trên bờ sông ngay dưới trụ này. Ben để ý nó cũng không ầm ì kêu. Máy bơm bên trong đã ngừng hoạt động.

Cậu nhìn Bill tư lự… vương chút sợ hãi.

Bill nhìn Richie, Stan và Mike. “B-B-Bọn mình s-s-sẽ m-mở n-n nắp,” cậu nói. “Gi-Gi-Giúp t-t-tớ với.”

Có những tay nắm bằng sắt, nhưng mưa xối xả khiến chúng trơn tuột, chưa kể nắp trụ còn nặng trịch. Ben tiến đến cạnh Bill, và Bill dịch tay ra một chút để Ben thọc tay vào. Ben có thể nghe thấy tiếng nước chảy bên trong - vang vọng, rợn ngợp, như nước nhỏ xuống cống.

“N-N-NÀO!” Bill hét và cả năm người nhất loạt nhấc lên. Nắp trụ chuyển động nghiến kèn kẹt.

Beverly cầm lấy bên cạnh Richie, Eddie dùng cánh tay lành lặn của mình đẩy phụ.

“Một, hai, ba, đẩy !” Richie hộ. Nắp trụ xê dịch thêm một chút, để lộ bóng tối như mảnh trăng khuyết.

“Một, hai, ba, đẩy !”

Mảnh trăng đầy dần.

“Một, hai, ba, đẩy !”

Ben vận sức đẩy đến nổ đom đóm mắt.

“Lùi lại!” Mike hét lên. “Được rồi, được rồi!”

Cả nhóm lùi lại, chứng kiến nắp trụ hình tròn to tướng mất thăng bằng rồi rơi xuống. Nó rạch vết cắt trên mặt đất ướt rồi lật úp xuống như một quân cờ quá khổ. Đàn bọ nhốn nháo bò từ nắp cống xuống mặt cỏ.

“Eo ôi,” Eddie nói.

Bill nhìn vào trong. Những thanh sắt chạy dọc xuống một vũng nước đen đúa, bề mặt lỗ chỗ vì mưa rơi. Máy bơm im lìm nằm ngay giữa, xâm xấp chìm trong nước. Cậu có thể nhìn thấy nước chảy vào máy bơm từ miệng ống dẫn, lòng nặng như chì, cậu thầm nghĩ: Ấy là chỗ bọn mình phải vào. Trong đó.

“E-E-E-Eddie. B-Bám vào t-t-tớ.”

Eddie nhìn cậu bối rối.

“Như c-c-cõng ấy. Dùng t-t-tay l-l-lành lặn của cậu bám vào tớ,” cậu giải thích.

Tuy hiểu nhưng Eddie vẫn còn lưỡng lự. “Mau!” Bill gắt. “Ch-Ch-Chúng đ-đ-đến bây giờ!”

Eddie vòng tay quanh cổ Bill; Stan và Mike đỡ để cậu móc hai chân quanh bụng Bill. Lúc Bill vụng về vòng người qua miệng trụ, Ben thấy Eddie nhắm nghiền mắt.

Lẫn trong tiếng mưa, cậu có thể nghe thấy âm thanh khác: cành cây lạo xạo, răng rắc, tiếng người í ới. Là Henry, Victor và Ợ Hơi – đội quân gớm ghiếc nhất trần đời.

Bill nắm lấy miệng bê tông của trụ cống rồi cẩn thận bước từng bước xuống dưới. Những thanh sắt trơn tuột. Eddie ôm cứng lấy người cậu, và Bill tự nhủ giờ thì cậu đã có dịp trải nghiệm hết sức sinh động cảm giác thế nào là lên cơn hen như Eddie.

“Tớ sợ lắm, Bill,” Eddie thì thầm.

“T-T-Tớ cũng thế.”

Cậu buông tay khỏi thành bê tông rồi chộp lấy thanh sắt trên cùng. Dù Eddie thiếu điều bóp nghẹt cổ cậu và khiến cậu cảm thấy mình như nặng thêm hai mươi kí-lô, trong thoáng chốc, Bill dừng lại, nhìn Vùng Đất Cằn, nhìn con sông Kenduskeag và bầu trời vần vũ. Giọng nói bên trong - không phải giọng nói sợ hãi mà đầy kiên định – bảo cậu nhìn thật lung, phòng trường hợp sẽ không bao giờ được thấy thế giới trên này nữa.

Vì thế, cậu thu trọn cảnh vào mắt rồi mới bắt đầu trèo xuống với Eddie trên lưng.

“Tớ không giữ lâu được nữa,” Eddie khó nhọc.

“Không c-c-cần đâu, Bill nói. “Tớ x-xuống đến nơi r-rồi.”

Một chân của cậu chạm xuống làn nước lạnh giá. Cậu quơ chân tìm thanh sắt tiếp theo. Thêm một thanh sắt nữa, đến đây thì hết. Cậu đứng cạnh máy bơm, nước ngập đến đầu gối.

Cậu ngồi xổm, nhăn mặt vì nước lạnh thấm vào quần rồi thả Eddie xuống. Cậu hít một hơi thật sâu. Mùi dưới này chẳng thơm tho gì, nhưng thật tuyệt khi tay Eddie không siết quanh họng.

Cậu ngước nhìn miệng trụ cống. Nó cách đầu cậu khoảng ba mét. Cả nhóm đang túm tụm quanh miệng trụ và nhìn xuống. “X-X Xuống đi!”, cậu hét lên. “T-Từng người m-m-một! Nhanh lên!”

Beverly xuống đầu tiên, nhanh nhẹn vòng chân qua thành bê tông, chộp thang sắt, theo sau là Stan. Mọi người lần lượt trèo xuống. Richie đi sau chót, khựng lại thăm dò động thái của đám Henry. Xét từ tiếng lội bì bà bì bõm của chúng, cậu đoán chúng đang đi ngang về phía bên trái trạm bơm này, nhưng chưa quá gần để gây ra vấn đề.

Đúng lúc đó, Victor gầm lên: “Henry! Ở đó! Tozier!”

Richie nhìn quanh và thấy chúng ba chân bốn cẳng chạy lại. Victor chạy đầu tiên… sau đó Henry huých thô bạo khiến Victor trượt khuỵu gối. Đúng thật, Henry cầm theo con dao, một con dao găm thường thấy. Nước nhỏ giọt từ lưỡi dao.

Liếc nhìn xuống cột trụ, thấy Ben và Stan đỡ Mike xuống thang sắt, Richie mau lẹ lẳng chân qua thành. Henry hiểu cậu đang làm gì và gào lên chửi rủa. Cười như điên như dại, Richie đặt tay trái lên khuỷu tay phải, đưa thẳng tay lên trời, nắm lại thành động tác có lẽ là cổ xưa nhất thế giới. Để đảm bảo Henry hiểu ý mình, cậu chĩa ngón giữa lên.

“Tao cho mày chết dưới đó!” Henry thét lên.

“Tao thách!” Richie hét lại, cười ha hả. Bước vào trụ cống bê tông này khiến cậu sợ phát hoảng, nhưng cậu không tài nào nhịn cười nổi. Và cậu hú ầm lên bằng Giọng Tay cảnh sát Ireland: “Thề có Chúa, vận may dân Ireland không bao giờ hết, bạn hiền!”

Henry trượt chân trên cỏ ướt, ngã dập mông cách nơi Richie đứng chưa tới sáu mét, lúc này cậu đã trèo xuống thanh sắt trên cùng gắn vào thành trụ cong cong của cống bơm, chỉ còn đầu và ngực ló ra.

“Quái quỷ thật, đồ trượt vỏ chuối!” Richie hét vang, ngất ngây chiến thắng rồi vội vàng trèo xuống. Thanh sắt trơn tuột, suýt chút nữa thì cậu ngã. Đoạn Bill và Mike giữ lấy cậu, rồi cậu đứng ngập nước đến đầu gối cùng cả nhóm, vây quanh máy bơm. Người run lẩy bẩy, cậu cảm thấy những đợt nóng lạnh chạy dọc lưng, đến tận lúc ấy, cậu vẫn chưa thôi cười.

“Tiếc là cậu không thấy, Bill To Bự ạ, hắn hậu đậu, chạy đến đâu vấp đến đấy…”

Đầu của Henry xuất hiện trên miệng cống. Mặt hắn xước xát vì bị cành cây, bụi gai quật vào. Miệng hắn co giật, mắt tóe lửa.

“Được lắm,” hắn hét xuống. Lời hắn nói phè phè vang trong cống bê tông chứ không dội lại. “Tao xuống bắt bọn mày đây.”

Hắn lẳng một chân qua miệng cống, lần mò thanh sắt trên cùng, đặt chân lên rồi lẳng chân còn lại.

“Kh-Khi h-h-hắn x-xuống g-gần đ-đ-đến n-n-nơi, b-bọn m-m mình ch-ch-chộp h-hắn. K-K-Kéo h-hắn. D-D-Dìm x-xuống. H-H Hiểu kh-không?” Bill dõng dạc.

“Rõ, thưa ngài,” Richie nói và run run giơ tay chào.

“Hiểu rồi,” Ben đáp.

Stan nháy mắt với Eddie, lúc này vẫn chưa hiểu đầu cua tai nheo gì – trừ việc có vẻ Richie đã phát khùng. Cậu ấy cứ cười như điên như dại trong lúc Henry Bowers – kẻ mà ai nấy đều e ngại – sắp mò xuống đây và kết liễu bọn họ như chuột trong bể nước mưa.

“Đã sẵn sàng, Bill!” Stan hét lên.

Henry khựng lại khi còn ba thanh sắt. Hắn nhìn qua vai, quan sát Hội Cùi Bắp. Lần đầu tiên, vẻ mặt hắn có vẻ nghi ngờ.

Eddie chợt hiểu. Khi trèo xuống, họ phải bước từng bậc thang một. Độ cao không cho phép nhảy xuống, chưa kể ngay bên dưới là máy bơm, và họ đang đứng đây, bảy người bọn họ, quay lại thành vòng tròn.

“X-X-Xuống đ-đi, H-Henry” Bill ngọt nhạt. “Mày c-c-c-còn ch-ch-chờ gì nữa?”

“Phải,” Richie í ới. “Mày thích bắt nạt kẻ yếu quá còn gì? Xuống đi, Henry.”

“Bọn tao đang đợi đây,” Bev du dương. “Tao không nghĩ mày sẽ chịu nổi khi xuống đây đâu, nhưng giỏi thì xuống xem.”

“Hay mày là đồ con gà,” Ben nói rồi nhái tiếng gà cục ta cục tác. Richie nhái theo, và chốc sau, cả nhóm thi nhau gáy. Tiếng gà cục tác đầy chế giễu vang vọng thành ống ẩm ướt, tong tỏng nước. Henry nhìn xuống, con dao nắm chặt trong tay trái, khuôn mặt chuyển sang màu gạch cũ. Hắn chịu đựng khoảng ba mươi giây rồi trèo lên lại. Hội Cùi Bắp huýt sáo chê bai và rủa xả.

“Đ-Đ-Được rồi,” Bill nói, cậu hạ giọng thấp hơn. “B-Bọn mình ph-phải vào tr-tr-trong c-cống. Nh-Nh-Nhanh lên.”

“Tại sao?” Beverly thắc mắc, nhưng Bill chưa cần nặn ra từng chữ đáp lại thì Henry đã xuất hiện ở miệng trụ cống bơm và thả một hòn đá to CỠ quả bóng vào trong ống. Beverly hét lên, Stan khô khốc la lớn, vội kéo Eddie về phía thành trụ. Hòn đá đập lên lớp bọc gì sét của máy bơm, phát lên tiếng boong vui tai. Nó nảy sang trái rồi đập vào tường bê tông, vượt qua Eddie tầm chục phân. Một mảng bê tông mẻ ra, cứa vào má cậu đau điếng. Hòn đá rơi tõm, bắn nước tung tóe.

“Nh-Nh-Nhanh!” Bill lại hét lên, đoạn cả bọn lố nhố đứng quanh miệng ống dẫn của trạm bơm. Đường kính của ống khoảng một mét rưỡi. Bill lần lượt dẫn mọi người vào trong (một hình ảnh rạp xiếc mờ ảo – những gã hề to lớn bước ra từ chiếc xe nhỏ xíu – lóe như sao băng vụt qua tâm trí cậu, nhiều năm sau đó, Bill sẽ dùng hình ảnh này trong cuốn Con nước đen của mình), rồi chui vào sau khi né thêm một hòn đá khác. Họ quan sát và thấy đá cứ rơi xuống như mưa, đa số đập vào vỏ máy bơm rồi nảy bốn phương tám hướng.

Khi đá ngừng rơi, Bill nhìn ra và thấy Henry hối hả trèo xuống thang sắt. “B-B-Bắt h-h-hắn!” Cậu hét lên với mọi người. Richie, Ben và Mike vội vàng nhào ra từ sau Bill. Richie nhảy phốc lên, tóm lấy đầu gối Henry. Hắn rủa xả và lắc lắc chân như cố đá con chó nhỏ với hàm răng có võ – như chó sục hoặc chó Bắc Kinh chẳng hạn. Richie chộp lấy thanh sắt, rướn người cao hơn và thật sự cắn phập vào mắt cá của Henry. Henry rít ré rồi hoảng hốt leo lên. Một chiếc giày của hắn rơi tõm xuống nước rồi chìm nghỉm.

“Nó cắn!” Henry gào lên. “Nó cắn! Thằng khốn cắn tao!”

“Ờ, may quá, tao mới chích uốn ván hội mùa xuân rồi!” Richie vung vẩy.

“Ném chúng!” Henry gầm rú. “Ném chúng về thời đồ đá, ném vỡ đầu chúng nó!”

Đá ào ào rơi xuống. Các cậu bé vội vàng rút vào đường ống. Mike bị một hòn đá nhỏ đập vào tay, cậu giữ tay thật chặt, nhăn nhó cho đến khi cơn đau lắng xuống.

“Thế giằng co rồi,” Ben nói. “Chúng không xuống được, mình cũng không lên được.”

“Mình không đ-đi lên,” Bill lên tiếng, “c-c-các cậu hiểu mà. M-Mình kh-không th-thể l-l-lên lại n-nữa đâu.”

Mọi người nhìn cậu với ánh mắt tổn thương, sợ sệt. Không ai nói gì.

Giọng của Henry vọng xuống, tức tối nhưng cố ra vẻ trêu ngươi: “Bọn mình đợi cả ngày trên này cũng được, chúng mày ạ!”

Beverly quay đầu nhìn vào miệng ống dẫn. Ánh sáng nhanh chóng khuếch tán khiến cô chẳng thấy gì nhiều. Cô chỉ trông thấy đường hầm bê tông, ngập một phần ba trong nước chảy ầm ì. Cô nhận ra nước dâng cao hơn ban nãy, khi cả bọn mới chui vào đây: có thể nguyên nhân là vì máy bơm không hoạt động và chỉ có một phần nước thoát ra sông Kenduskeag. Họng cô như bị siết lại vì không gian ngày càng chật hẹp, phần da vùng này như biến thành vải dạ. Nếu nước tiếp tục dâng, cả bọn sẽ chết chìm mất.

“Bill, bọn mình phải vào sao?”

Cậu nhún vai. Hành động ấy nói lên tất cả. Đúng, họ phải vào; họ còn lựa chọn nào khác kia chứ? Bị Henry, Victor và Ợ Hơi giết trong Vùng Đất Cằn? Hoặc bị thứ khác - một thứ khủng khiếp hơn – kết liễu trong thị trấn? Giờ thì cô hoàn toàn thấu hiểu suy nghĩ của cậu; cái nhún vai ấy chẳng hề nói lắp. Tốt nhất họ nên đi đến chỗ Nó. Giải quyết như trận chiến cao trào trong bộ phim phương Tây. Sạch sẽ hơn. Can đảm hơn.

“Lần trước cậu nói bọn tớ về nghi thức gì nhỉ, Bill To Bự? Nghi thức trong cuốn sách ấy?” Richie hỏi.

“Ch-Ch-Chüd,” Bill đáp, khẽ mỉm cười.

“Chüd.” Richie gật đầu. “Mình cắn lưỡi Nó và Nó cắn lưỡi mình, đúng không?”

“Ph-Ph-Phải.”

“Sau đó, mình kể chuyện cười.”

Bill gật đầu.

“Vui đấy,” Richie nói, đưa mắt nhìn ống cống tối tăm. “Tớ chẳng nghĩ ra được chuyện gì.”

“Tớ cũng vậy,” Ben nói. Nỗi sợ nặng như tảng đá đè nặng trong lồng ngực, thiếu điều khiến cậu ngạt thở. Cậu cảm thấy lý do duy nhất mình không ngồi phịch xuống nước, khóc tu tu như trẻ con - hoặc phát điên – là vì sự cứng cỏi, bình tĩnh của Bill… và Beverly. Cậu tự nhủ thà chết còn hơn cho Beverly thấy cậu sợ hãi nhường nào.

“Cậu biết ống cống này dẫn đến đâu không?” Stan hỏi Bill.

Bill lắc đầu.

“Cậu biết làm thế nào để tìm Nó không?”

Bill lắc đầu lần nữa.

“Bọn mình sẽ tự biết khi đến gần,” Richie chợt lên tiếng. Cậu hít một hơi thật sâu, run rẩy. “Nếu phải làm thì lên đường thôi.”

Bill gật đầu. “Tớ đi đ-đ-đầu. Sau đó là E-Eddie. B-B-Ben. Bev. St-Stan Qu-Qu-Quân Tử. M-M-Mike. Cậu c-cuối cùng, Ri-Richie. M-Mọi người đ-đ-đặt một t-t-tay lên v-vai ng-ng-người đ-đ-đằng tr-tr-trước mình. Sẽ t-tối lắm đó.”

“Bọn mày không ra à?” Henry Bowers thét lên.

“Bọn tao sẽ ra chỗ khác,” Richie thì thầm. “Chắc thế.”

Cả nhóm rồng rắn như một đoàn người mù. Bill nhìn lại lần nữa để chắc chắn mọi người đều đặt tay lên vai người đằng trước. Khẽ cúi người tới trước, ngược hướng nước chảy, Bill Denbrough dẫn nhóm bạn vào màn đêm mịt mù, nơi chiếc thuyền giấy cậu gấp cho em trai từng trôi qua gần một năm về trước.

« Lùi
Tiến »