Về sau, Patricia Uris nói với mẹ rằng lý ra cô phải để ý đến dấu hiệu bất thường ngay từ đầu. Cô nói đáng lẽ cô phải biết điều đó vì Stanley không bao giờ đi tắm vào chập tối. Anh tắm vào mỗi buổi sáng sớm và thỉnh thoảng ngâm mình khá muộn (một tay cầm tạp chí, tay kia cầm lon bia lạnh), nhưng đi tắm lúc 7 giờ tối không phải thói quen của anh.
Chưa kể còn chuyện mấy cuốn sách. Bình thường, đáng lẽ anh sẽ rất vui mừng, song chẳng hiểu vì lý do kỳ quặc gì, chúng lại khiến anh buồn lòng và u uất. Chừng ba tháng trước cái đêm oan nghiệt ấy, Stanley đã phát hiện một người bạn thuở ấu thơ của anh sau này hành nghề viết lách – không phải báo chí mà là viết tiểu thuyết. Cái tên đề trên các tác phẩm là William Denbrough, nhưng thỉnh thoảng Stanley lại gọi người này là Bill Cà Lăm. Chồng cô đọc gần hết các đầu sách của tác giả này; và thật ra anh cũng đang đọc nốt cuốn cuối cùng vào cái đêm trong bồn tắm – đêm 28 tháng 5 năm 1985. Vì tò mò, Patty cũng chọn đại một cuốn để đọc thử. Song sau ba chương, cô từ bỏ việc đọc tiếp.
Hồi sau, cô kể với mẹ mình rằng chúng không phải những cuốn tiểu thuyết bình thường mà là tiểu thuyết kinh dị. Cô chỉ nói đơn giản như vậy, tựa hồ cô đang mô tả một cuốn sách khiêu dâm. Patty là một phụ nữ nhẹ nhàng và tốt bụng song vụng ăn nói – cô muốn kể với mẹ rằng cuốn sách đó khiến cô kinh sợ và bụng dạ khó chịu đến mức nào, nhưng bất lực. “Nó đầy quái vật,” cô tả. “Cả đống quái vật săn đuổi trẻ con. Nội dung có cảnh giết chóc và… con không biết nữa… những cảm xúc rất tồi tệ và đau đớn. Nhìn chung là thế.” Thật ra, cô còn thấy nó kinh khủng chẳng kém gì sách khiêu dâm; hai từ “khiêu dâm” nghe thật lạ lẫm, phần vì cả đời mình cô chưa bao giờ thốt ra từ này, dù cô hiểu rõ ý nghĩa của nó. “Nhưng Stan như tìm được bạn cũ sau nhiều năm xa cách… Anh ấy còn đề cập đến việc viết thư cho người này, nhưng con biết anh ấy chỉ nói thế thôi… Con biết anh ấy cảm thấy rất thật kinh khủng khi đọc những câu chuyện ấy, và… và…”
Và rồi Patty Uris òa lên nức nở.
Đêm ấy, chừng sáu tháng nữa là tròn hai mươi tám năm kể từ cái ngày năm 1957 khi cậu bé George Denbrough đối mặt với Gã hề Pennywise, Stanley và Patty ngồi trong phòng nghỉ của căn nhà nằm ở ngoại ô Atlanta. Ti vi đang mở. Patty ngồi trên chiếc sô pha ngay trước màn hình, tay thì đan móc, mắt thì hướng về chương trình truyền hình ưa thích mang tên Gia Đình Feud . Cô ái mộ Richard Dawson và thấy dây đồng hồ quả quýt anh này hay mang quyến rũ khủng khiếp, dù có cạy răng cũng đừng hòng khiến cô thú nhận điều này. Cô thích chương trình vì lúc nào cô cũng đoán ra câu trả lời được ưa chuộng nhất (thật ra không có câu trả lời đúng trong Gia Đình Feud ; chỉ có câu trả lời được ưa chuộng nhất). Cô từng hỏi Stan tại sao những câu hỏi cô thấy dễ như trở bàn tay mà mấy gia đình tham gia chương trình lại vò đầu bứt tai đến thế. “Có lẽ khi đứng dưới ánh đèn sân khấu thì khó khăn hơn,” Stanley đáp, và cô cảm thấy mặt anh sa sầm lại. “Mọi thứ khó hơn rất nhiều khi thực sự lâm trận. Đến lúc đó, ai chẳng ngợp. Vào trận mới gian nan em ạ.”
Nghe có vẻ đúng phết , cô thầm nhủ. Thỉnh thoảng, Stanley có những góc nhìn rất sâu sắc về bản chất con người. Cô còn thấy góc nhìn ấy tinh tế hơn hẳn người bạn cũ William Denbrough của chồng mình, kẻ làm giàu bằng cách viết cả đống sách kinh dị nhằm khơi gợi bản chất thiên về phần con chứ chẳng phải phần người.
Nhưng tính ra thì vợ chồng nhà Uris cũng có thua kém ai đâu! Vùng ngoại ô họ sống là một nơi tuyệt vời, căn nhà họ mua với giá 87.000 đô-la vào năm 1979 hiện giờ dư sức bán với giá 165.000 đô-la - nói vậy không có nghĩa là cô muốn bán, cô chỉ nắm thông tin như vậy thôi. Nhiều lần, khi lái chiếc Volvo từ trung tâm thương mại Fox Run về nhà (Stanley lái Mercedes – cô suốt ngày trêu anh bằng cách gọi chiếc xe là Sedanley), cô trông thấy căn nhà của mình lấp ló đầy nhã nhặn phía sau bờ giậu thủy tùng thấp và tự nhủ trong lòng: Ai sống ở đó thế nhỉ? Sao, là tôi đấy! Là phu nhân của quý ông Stanley Uris đấy! Thật ra, suy nghĩ này không chỉ khiến cô sung sướng, mà đan xen bên trong là niềm kiêu ngạo mãnh liệt đến độ lắm lúc cô thấy dợm trong người. Chuyện là thế này, ngày xửa ngày xưa, có một cô thiếu nữ mười tám tuổi cô đơn tên là Patricia Blum. Vào hôm tổ chức tiệc khiêu vũ, bạn bè không cho cô tham dự tăng hai ở câu lạc bộ sang trọng mạn trên thị trấn vùng ngoại ô Glointon, New York. Lý do mọi người tẩy chay cô là vì họ của cô vần với từ plum, quả mận. Vâng, cô của năm 1967 là thế, một quả mận Do Thái gầy trơ xương, và tất nhiên hành vi phân biệt đối xử ấy là vi phạm luật pháp, nhưng bây giờ cô không phải chịu cảnh như thế nữa. Song một phần trong cô vẫn day dứt khôn nguôi về chuyện xưa. Một phần trong cô mãi đau đáu nhớ đến cảnh cô cùng Michael Rosenblatt đi bộ về phía chiếc xe ô tô của bố anh với tiếng sỏi lạo xạo dưới đôi cao gót cô mang và đôi giày tây anh mướn. Michael đã mượn chiếc xe đó và dành nguyên buổi chiều kỳ công ngồi đánh bóng. Một phần trong cô sẽ mãi nhớ cảnh sánh bước cùng Michael trong bộ đồ dự tiệc màu trắng anh đi thuê – cô vẫn nhớ nó lấp lánh ánh lên trong đêm xuân tơ năm ấy! Cô khoác trên mình chiếc váy dài màu xanh nhạt mà mẹ nói rằng cô trông như một nàng tiên cá, và ý tưởng một nàng tiên cá Do Thái nghe buồn cười đấy chứ. Hai người bọn họ ngẩng cao đầu bước đi và cô nhất quyết không rơi lệ – lúc ấy thì không - nhưng tận trong thâm tâm, cô biết họ không bước về , không, thật ra chẳng phải thế; điều họ đang làm là thối lui, thối lui , vì nó rõ là vần với thúi hôi . Cả đời họ chưa bao giờ cảm thấy mình là dân Do Thái đến vậy, họ thấy mình như kẻ cầm đồ, kẻ đánh xe bò, cảm thấy mình nhớp nhúa, với cái mũi dài ngoằng, làn da như chết trôi; thấy mình như đám Do Thái đáng tởm mọi rợ; muốn nổi điên lên nhưng lại chẳng tức giận được; cơn giận chỉ đến sau đó, khi sự đã rồi. Phút giây ấy, cảm xúc duy nhất trong lòng cô là nhục nhã, là đau đớn cùng cực. Và rồi có kẻ phá lên cười nhạo báng. Tiếng cười khanh khách, chói tai tựa hồ tiếng dương cầm lướt vội, ngồi trong xe, cô mới dám òa lên khóc, thế đấy, nàng tiên cá Do Thái với cái tên vần với quả mận giàn giụa nước mắt. Mike Rosenblatt vụng về đặt tay lên gáy an ủi cô, nhưng cô xoay người quay đi, cảm thấy bẽ bàng, nhơ nhuốc, cảm thấy thật Do Thái.
Căn nhà lọt thỏm duyên dáng phía sau bờ giậu thủy tùng khiến cô nguôi ngoai… nhưng chỉ phần nào. Sự tổn thương, nỗi tủi hổ vẫn còn đó, và giờ đây, dù cô đã tìm được chỗ đứng cho mình nơi khu phố yên tĩnh, hào hoa phong nhã này, cảnh tượng cô bước về chiếc xe với tiếng sỏi lạo xạo dưới chân vẫn giày xé tâm can cô đến vô ngần. Ngay cả việc là thành viên của câu lạc bộ sang trọng này, nơi vị quản lý luôn kính cẩn nghiêng mình chào vợ chồng họ “Kính chào quý ông quý bà Uris”, cũng chẳng khiến cô nguôi ngoai. Trên đường về nhà, yên vị trong chiếc xe Volvo 1984, hướng mắt nhìn về căn nhà nhã nhặn giữa bãi cỏ xanh rờn mênh mông, nhiều lúc, à mà không, rất nhiều lúc, cô lại nghĩ về tiếng cười khanh khách chói tai ấy. Và cô thầm trù ẻo con ả đã ré lên cười khi đó giờ đang sống trong căn nhà tập thể xập xệ, cưới một gã không phải dân Do Thái vũ phu, rằng con ả ấy có thai ba lần và sẩy cả ba, rằng chồng ả ta lang chạ với đám mèo mả gà đồng bệnh tật đầy mình, rằng ả bị trẹo đĩa khớp, bàn chân bẹt, bị u nang trên cái lưỡi khanh khách đầy nhơ bẩn ấy.
Cô hay giày vò bản thân vì những suy nghĩ này, những suy nghĩ ác nghiệt và tự hứa với lòng mình sẽ thay đổi – rằng cô sẽ thôi uống những ly cocktail chua chát đầy nghiệt ngã, cay đắng. Cô giữ tâm hồn mình không vọng động được vài tháng. Khi đó, cô tự nhủ: Mình đã vượt qua những sự kiện ấy rồi. Mình không còn là con bé mười tám tuổi năm ấy nữa. Mình là một phụ nữ ba mươi sáu tuổi, cô gái lắng nghe tiếng sỏi lạo xạo bất tận trên đường lái xe, cô gái xoay người né khỏi tay Mike Rosenblatt lúc anh cố gắng an ủi vì đó là tay của người Do Thái, cô gái ấy đã cách mình nửa cuộc đời. Nàng tiên cá ngu xuẩn bé nhỏ năm nào giờ đây đã chết. Giờ mình có thể quên cô gái ấy đi và sống đúng với bản thân. Được rồi. Tốt lắm. Tuyệt vời. Nhưng rồi tình cờ cô đi đâu đó – ở siêu thị chẳng hạn và bất chợt nghe thấy tiếng cười khanh khách ở lối đi bên cạnh, lưng cô lại gai lên, ngực cô cứng nhói, tay cô siết chặt thanh nắm ngang của xe đựng hàng hoặc chỉ nắm rịt vào nhau, và suy nghĩ lại nảy lên trong cô: Có kẻ nào đó vừa gièm pha rằng mình là dân Do Thái, rằng mình chỉ là một ả Do Thái mũi to đáng ghét, rằng Stanley cũng chỉ là một thằng Do Thái mũi to đáng ghét, hắn ta là kế toán do dân Do Thái giỏi số mà, chúng ta phải cho đám đấu tham gia vào câu lạc bộ là vì năm 1981, cái lão bác sĩ phụ khoa Do Thái mũi to kia thắng kiện, nhưng mà nhé, chúng ta cứ cười nhạo chúng đi, cười cho đã, cho hả hê, cho sặc sụa vào. Hoặc bỗng dưng, văng vẳng trong tai cô là tiếng sỏi lạo xạo và suy nghĩ Nàng tiên cá! Mỹ nhân ngư! lại khởi lên trong lòng.
Patricia đang nhắc tới bác sĩ Mel Mermelstein. Ông là một người Do Thái gốc Hungary và là người duy nhất sống sót trong gia đình sau cuộc thảm sát tại trại tập trung Auschwitz. Năm 1981, ông đã thắng kiện ở tòa án Mỹ, chứng minh được người Do Thái đã bị sát hại bằng khí ga ở Auschwitz.
Để rồi bao cay đắng, tủi nhục lại ùa về như cơn đau nửa đầu, và cô thấy tuyệt vọng, không chỉ cho bản thân mà cho cả nhân loại. Người sói. Cuốn sách của Denbrough – cuốn mà cô đọc được dăm ba chương rồi bỏ xuống - viết về Người sói. Người sói, khốn kiếp. Gã đàn ông ấy thì biết cái quái gì về Người sói chứ?
Tuy nhiên, phần lớn thời gian, tâm trạng cô tươi tỉnh hơn – cô thấy mình hơn thế. Cô yêu chồng, yêu tổ ấm và cũng biết cách yêu cuộc đời và yêu bản thân. Mọi thứ êm đẹp mà. Ngày xưa mọi sự làm gì được như thế, tất nhiên – thậm chí có bao giờ “được” chưa nhỉ? Khi cô chấp nhận nhẫn đính hôn của Stanley, bố mẹ cô vừa giận vừa khó chịu. Cô gặp anh ở bữa tiệc của câu lạc bộ thời đại học. Là một sinh viên được nhận học bổng của Đại học Bang New York, anh qua trường cô dự tiệc. Một người bạn chung giới thiệu họ với nhau, và đến hết buổi tối, cô đồ rằng mình đã yêu anh. Đến dịp nghỉ giữa kỳ thì cô chắc chắn về việc đó. Khi nàng xuân gõ cửa, Stanley trao cho cô một chiếc nhẫn kim cương nhỏ với bông hoa cúc xuyên ngang, cô gật đầu.
Cuối cùng, dù không bằng lòng, bố mẹ cô đành ưng thuận. Họ không thể làm gì khác, dù rồi đây, Stanley Uris sẽ dấn thân vào thị trường lao động đầy rẫy các kế toán viên trẻ tuổi – và khi bước vào khu rừng rậm đó, anh không có tài chính gia đình để chống lưng, đã vậy lại còn phải tính đường chăm lo cô con gái rượu của họ. Nhưng Patty lúc này đã hăm hai tuổi, cô đã là một phụ nữ, và chẳng mấy chốc, cô cũng sẽ tốt nghiệp với tấm bằng cử nhân.
“Tôi sẽ phải chu cấp cho thằng bốn mắt chết băm chết bằm đó cả đời mất.” Một đêm nọ, Patty nghe thấy bố mình nói như vậy. Bố mẹ cô ra ngoài ăn tối, và bố cô hơi quá chén.
“Suỵt, con bé nghe thấy bây giờ,” Ruth Blum nói với chồng.
Đêm đó, Patty nằm thao thức đến hơn nửa đêm, mắt cô khô khốc, hết nóng lại lạnh, căm hận bố mẹ mình. Suốt hai năm sau, cô chật vật lột bỏ cảm giác ghét cay ghét đắng ấy, trong cô đã có quá nhiều căm hận rồi. Thỉnh thoảng, khi nhìn vào gương, cô bắt gặp hậu quả mà nỗi niềm ấy để lại, chưa gì gương mặt cô đã xuất hiện những nếp nhăn rất mạnh mà cảm xúc ấy vẽ lên. Cô đã thắng trận chiến đó với sự giúp đỡ của Stanley.
Bố mẹ anh cũng lo lắng cho cuộc hôn nhân của con trai mình. Tất nhiên, họ không nghĩ cái số Stanley cả đời sẽ chịu cảnh đói rách cơ hàn, nhưng họ nghĩ “hai đứa trẻ có phần vội vã”. Nói người chẳng nghĩ đến thân, Donald Uris và Andrea Bertoly cũng kết hôn từ thuở đôi mươi nhưng hình như họ quên mất điều đó thì phải.
Stanley là người duy nhất tin vào bản thân, hữu chí về tương lai, chẳng hề lung lạc trước những thác ghềnh mà bố mẹ họ thấy đang trải ra trước mặt “hai đứa trẻ”. Và rốt cuộc, sự tự tin của anh đã được chứng thực chứ không phải trở thành nỗi lo của bố mẹ. Tháng Bảy năm 1972, khi tấm bằng còn chưa kịp ráo mực, Patty kiếm được một công việc dạy tốc ký và tiếng Anh thương mại ở Traynor, một thị trấn nhỏ cách Atlanta hơn sáu mươi cây số về phía nam. Khi nghĩ lại quá trình mình có được công việc này, lúc nào cô cũng thấy đôi chút – chậc, kỳ lạ. Cô soạn một danh sách chừng bốn mươi công việc khả dĩ từ các quảng cáo trên tạp chí giáo viên, sau đó viết bốn mươi lá thư trong vòng năm đêm – tám bức mỗi đêm - yêu cầu có thêm thông tin về công việc và đơn ứng tuyển. Cô nhận được hai mươi hai phản hồi cho hay vị trí đã có người đảm nhiệm. Một số quảng cáo khác, sau khi đọc bản mô tả chi tiết kỹ năng cần có, cô nhận thấy mình không đủ tầm; ứng tuyển chỉ tổ tốn thời gian của cô và họ. Cô hoàn thành đơn cho chừng chục vị trí. Cái nào nhìn cũng tiềm năng như cái nào. Stanley bước vào lúc cô đang rối như canh hẹ, tự hỏi liệu mình có thể xoay sở điền hết chục đơn xin làm giáo viên này mà không phát khùng hay không. Anh nhìn xấp giấy vương vãi trên bàn, đoạn chạm vào bức thư từ giám đốc trường Traynor, một bức thư chẳng nổi bật cũng chẳng mờ nhạt hơn những bức thư khác.
“Đây,” anh nói.
Cô ngước nhìn anh, giật mình trước giọng điệu chắc nịch đầy chân phương của chồng. “Anh biết gì về Georgia mà em không biết à?”
“Không. Anh chỉ biết đến nơi đó qua phim ảnh thôi.” Cô nhìn anh, nhướng mày.
“ Cuốn theo chiều gió [^cuon]. Vivien Leigh. Clark Gable. ‘Tôi sẽ nghĩ về điều đó vào ngày mai, vì ngày mai là một ngày khác.’ Nghe anh có giống dân miền Nam không, Patty?”
Tựa Việt của cuốn Gone with the Wind.
“Vâng. Nam Bronx. Nếu anh không biết gì về Georgia, cũng chưa từng tới đó, vậy tại sao…”
“Vì nó hợp.”
“Sao anh biết được điều đó chứ, Stanley.”
“Có chứ,” anh nói ngắn gọn. “Anh biết mà.” Nhìn anh, cô nhận ra anh không đùa: anh nghiêm túc khi nói vậy. Cô cảm giác có chút bứt rứt lăn tăn gợn sau lưng mình.
“Làm sao anh biết?”
Từ nãy đến giờ, anh vẫn khe khẽ mỉm cười. Nhưng nụ cười ấy chợt lung lay, và anh thoáng bối rối. Mắt anh tối sầm lại, như thể anh đang nhìn vào trong, viện hỏi một công cụ đang tích tắc đều đặn, nhưng anh lại chẳng hiểu cách thức nó hoạt động, như người bình thường không hiểu cơ chế của chiếc đồng hồ đeo trên cổ tay mình.
“Con Rùa không giúp được ta,” đột nhiên anh thốt lên. Từng lời phát ra rành mạch. Cô nghe thấy rõ mồn một. Cái nhìn vào trong đó, đầy ngạc nhiên- vẫn nán lại trên mặt anh, và nó bắt đầu làm cô thấy sợ.
“Stanley? Anh nói gì vậy? Stanley ?”
Anh giật bắn người. Cô đang ăn dở mấy quả đào trong lúc viết đơn, và tay anh hất phải đĩa. Chiếc đĩa rơi xuống sàn nhà vỡ toang. Đôi mắt anh như tỉnh trở lại.
“Ôi trời! Anh xin lỗi.”
“Không sao đâu. Stanley – nãy anh nói gì thế?”
“Anh quên rồi,” anh qua loa. “Nhưng anh nghĩ mình nên cân nhắc về Georgia, em yêu ạ.”
“Nhưng…”
“Tin anh đi,” anh nói, và cô làm theo.
Cuộc phỏng vấn của cô diễn ra tốt đẹp ngoài mong đợi. Ngồi trên tàu về lại New York, cô biết mình sẽ nhận được công việc này. Trưởng khoa Kinh doanh có cảm tình với Patty ngay lập tức, và cô cũng thế, thậm chí cô còn nghe thấy tiếng khớp đánh cạch giữa hai người. Chừng một tuần sau, thư xác nhận đến. Trường công Hợp nhất Traynor đề nghị mức lương 9.200 đô-la và hợp đồng thử việc.
“Con tính chết đói sao?” Herbert Blum cằn nhằn khi nghe con gái nói mình dự định sẽ nhận việc. “Đã vậy lại còn vừa chịu nóng vừa chết đói nữa chứ.”
Cô đem lời bố nói kể với Stanley thì anh bảo, "Vớ vẩn lẩn thẩn, Scarlett à." Trước đó, cô tức điên người, đến mức rơm rớm nước mắt, nhưng nghe anh nói xong, cô phì cười, và Stanley kéo cô vào lòng.
Câu gốc là “Fiddle-dee-dee”, lời thoại này là của nhân vật Scarlett Hara (do Vivien Leigh thủ vai) trong bộ phim Gone with the Wind của đạo diễn Victor Fleming (1939).
Về nóng thì rất đúng, nhưng chết đói thì không. Họ lên xe hoa vào ngày 19 tháng 8 năm 1972. Patty Uris động phòng hoa trúc khi còn trinh nguyên. Cô cởi bỏ xiêm y giữa tấm trải giường mát lạnh ở một khách sạn nghỉ dưỡng tại Poconos, tâm trạng dậy sóng và bão giông - ham muốn như tia chớp lóe lên, nhục dục ngọt ngào, sợ hãi như mây đen. Khi Stanley nhẹ nhàng bước vào giường, nằm bên cạnh cô, cơ bắp lực lưỡng, dương vật của anh như dấu chấm than chĩa thẳng từ lớp lông vàng nhạt, cô thì thầm: “Đừng làm em đau nhé, anh yêu.”
“Anh sẽ không bao giờ làm em đau,” anh nói khi ôm cô vào lòng, và đó là lời hứa anh chân thành giữ vững cho đến ngày 27 tháng 5 năm 1985 – cái đêm trong bồn tắm.
Nghề giáo của cô rất suôn sẻ. Stanley kiếm được công việc lái xe tải bánh mì với mức lương 100 đô-la một tuần. Tháng Mười một năm đó, khi trung tâm thương mại Traynor Flats khai trương, anh nhận được một công việc ở văn phòng H&R Block ở đó, lương 150 đô-la một tuần. Thu nhập của cả hai vợ chồng lúc đó là 17.000 đô la một năm – đối với họ, số tiền ấy như cả một gia tài, nhưng đó là những năm tháng xăng có giá 35 xu một thùng, một ổ bánh mì trắng chưa tới 5 xu. Vào tháng Ba năm 1973, không om sòm, chẳng ầm ĩ, Patty Uris bỏ thuốc tránh thai.
Năm 1975, Stanley nghỉ việc ở H&R Block và tự mở công ty riêng. Bố mẹ đôi bên đều đồng tình cho rằng đây là một nước cờ dại dột. Không phải Stanley không nên tự gây dựng cơ nghiệp riêng - ai chẳng mong anh lập công ty riêng kia chứ! Nhưng họ cho rằng hành động này là quá sớm, và nó tạo quá nhiều áp lực tài chính lên Patty. (“Thể nào khi thằng ăn hại đó làm con bé dính bầu,” Herbert Blum sưng sửa nói với anh trai của mình vào một đêm nhậu trong bếp, “em cũng phải cưu mang đám chúng nó.”) Các ông bố bà mẹ cho rằng đàn ông tốt nhất không nên nghĩ đến chuyện tự lập công ty riêng cho đến khi đã đủ trưởng thành và già đời hơn – bảy mươi tám tuổi chẳng hạn.
Một lần nữa, Stanley vẫn vững như kiềng ba chân. Anh còn trẻ, thân thiện, sáng sủa và khéo léo. Trong thời gian làm cho Block, anh mở rộng quan hệ với nhiều người. Những điều đó chẳng khác nào lộc trời cho. Nhưng anh không hề biết Corridor Video, một công ty tiên phong trong mảng kinh doanh bằng video còn non trẻ, sẽ xây dựng công ty trên một miếng đất cằn cỗi do canh tác quá độ cách căn nhà vợ chồng Uris chuyển đến năm 1979 chưa tới mười lăm cây số; anh cũng chẳng thể nào biết chừng một năm sau khi chuyển về Traynor, Corridor sẽ thực hiện một bản khảo sát thị trường độc lập. Mà dù có biết những thông tin này đi nữa, chắc hẳn còn khuya anh mới tin họ sẽ giao công việc ấy cho một chàng trai Do Thái cận thị, tình cờ lại là dân miền Bắc - tay Do Thái lúc nào cũng cười xòa, đi hơi cà nhắc, thích mặc quần jean ống loe vào ngày nghỉ, trên mặt còn lấm tấm vết thâm mụn thời dậy thì. Thế mà họ lại tuyển anh. Thật là vậy. Như thể Stan đã biết tất cả từ trước.
Sau khi cộng tác với Corridor Video, anh được đề nghị trở thành nhân viên toàn thời gian với mức lương khởi điểm 30.000 đô-la một năm.
“Và đó thật ra mới chỉ là bắt đầu thôi,” đêm ấy, Stanley nói với Patty trên giường. “Tháng Tám này, họ sẽ phát triển như vũ bão, em ạ. Nếu không có công ty nào bùng nổ cả thế giới trong chừng mười năm nữa, họ sẽ lừng lững sánh ngang với các ông lớn như Kodak, Sony và RCA.”
“Vậy anh dự tính làm gì?” cô hỏi, dù đã biết câu trả lời.
“Anh sẽ nói với họ rằng được làm việc với họ quả là một vinh dự của anh,” anh đáp và phá lên cười, kéo cô lại gần, hôn thật sâu. Chốc sau, anh đã ở trên cô, họ lên đỉnh - một lần, hai lần, rồi ba lần, như pháo hoa sáng lóa trên bầu trời đêm… nhưng mãi chẳng có con.
Công việc với Corridor Video cho anh cơ hội tiếp xúc với một vài người tiền muôn bạc vạn và quyền uy nhất Atlanta – và hai vợ chồng rất bất ngờ khi thấy hầu hết bọn họ rất tốt tính. Ở tầng lớp đó, vợ chồng cô tìm được sự chấp nhận, tấm lòng rộng mở mà có tìm đỏ mắt ở dân miền Bắc cũng không thấy. Những người giàu nhất, kiệt xuất nhất nước Mỹ sống ở Atlanta, Georgia. Anh sẽ giúp một số người bọn họ giàu có hơn, họ cũng sẽ giúp anh giàu có hơn, và anh sẽ được thỏa sức vẫy vùng, anh không thuộc về ai, trừ người bạn đời Patricia, và vì nàng cũng thuộc về anh, nên anh thấy như vậy là ổn thỏa.
Vào thời điểm họ rời Traynor, Stanley đã hợp thành công ty và tuyển dụng sáu nhân viên. Năm 1983, thu nhập của hai người tiến vào lãnh địa chưa từng khai phá – lãnh địa mà Patty chỉ lờ mờ nghe phập phồng đồn thổi. Ấy là vùng đất trong truyền thuyết của sáu chữ số. Tất cả những điều này xảy đến đơn giản và dễ dàng như việc cô xỏ chân vào đôi giày thể thao mỗi sáng thứ Bảy. Mọi thứ suôn sẻ đến độ thỉnh thoảng cô hoảng sợ. Có lần cô đùa đầy sống sượng về việc trao linh hồn cho quỷ dữ. Stanley cười lăn cười bò, tí thì sặc, nhưng cô chẳng thấy vui chút nào, bất kể là lúc ấy hay sau này.
Con Rùa không giúp được ta.
Thỉnh thoảng, chẳng vì lý do gì, cô tỉnh giấc với suy nghĩ ấy trong đầu, như mảnh vỡ cuối cùng của một giấc mơ bị lãng quên còn sót lại, và cô sẽ quay sang Stanley, chợt thấy cần chạm vào anh, cần khẳng định anh vẫn ở đó.
Đó là một cuộc hôn nhân tốt đẹp – họ không bù khú rượu chè, không lang chạ bên ngoài, không ma túy, không buồn chán, không lời qua tiếng lại. Chỉ có một bóng mây duy nhất. Và mẹ cô chính là người đầu tiên nhắc đến sự hiện diện của bóng mây này. Giờ ngẫm lại, việc mẹ cô là người đầu tiên làm vậy rõ là điềm hung. Nó được viết thành câu hỏi trong thư Ruth Blum gửi con. Tuần nào bà cũng viết cho Patty một bức thư, và lá thư ấy đến vào chớm thu năm 1979. Nó được chuyển cho cô từ địa chỉ Traynor cũ, Patty ngồi đọc nó trong phòng khách chất đầy những thùng rượu các tông, bên trong chứa ngập đồ đạc của họ, trông cô đơn côi, chênh vênh và bơ vơ.
Nhìn chung, nó cũng như bao bức thư mà Ruth Blum gửi từ nhà: bốn trang nghìn nghịt chữ mực xanh, mỗi trang đề Lời nhắn nhủ của mẹ . Chữ bà viết như gà bới, đến độ có lần Stanley cằn nhằn rằng anh không tài nào đọc được một chữ của mẹ vợ. “Anh đọc làm gì?” Patty bật lại.
Bức thư này cũng tràn ngập tin tức thường ngày của mẹ cô, bởi nếu so sánh thì trí nhớ của Ruth Blum chẳng khác nào một đồng bằng rộng lớn, trải dài từ hiện tại đến hằng hà sa số mối quan hệ đan xen. Rất nhiều người mà mẹ nhắc đến trong thư đã bắt đầu phai nhạt trong ký ức của Patty tựa bức hình trong cuốn album cũ, nhưng đối với Ruth, tất cả bọn họ vẫn vô cùng rõ nét. Mẹ cô lúc nào cũng lo lắng về tình hình sức khỏe của hai vợ chồng, tò mò về những thứ họ làm, và lần nào cũng như lần nào, bà tiên lượng bệnh tật cho họ hết sức hiểm nghèo. Bố cô vẫn hay bị đầy bụng. Ông dám chắc đó chỉ là chứng khó tiêu, còn bà viết trong thư rằng ông chẳng nghĩ đến khả năng mình bị viêm loét cho đến khi thực sự thổ huyết, mà có khi đến nước ấy ông cũng vẫn bình chân như vại. Con biết bố con rồi đấy – ông ấy làm việc như trâu, lắm lúc cũng suy nghĩ như trâu, ôi phủi phui cái mồm của mẹ. Randi Harlengen thắt ống dẫn trứng rồi, người ta lấy từ buồng trứng bà ấy u nang to như quả bóng golf, tạ ơn Chúa là không có khối u nào ác tính cả, nhưng có cả thảy hai mươi bảy khối u trong buồng trứng, chưa chết là may đấy! Mẹ cô khẳng định chắc nịch nguyên nhân là do nguồn nước của thành phố New York - đúng là không khí ở đó rất ô nhiễm, nhưng mẹ cô nghĩ nước mới là tác nhân ảnh hưởng nặng nề nhất qua thời gian. Nó tích tiểu thành đại trong cơ thể mỗi người. Bà còn nói không biết Patty có biết không, rằng bà đã bao lần cảm tạ Chúa vì “hai đứa bọn con” được sống nơi thôn dã, cả không khí và nguồn nước - quan trọng nhất là nguồn nước - đều sạch sẽ hơn (với Ruth, khu vực phía Nam, trong đó có Atlanta và Birmingham, đều là vùng quê). Dì Margaret lại đôi co với công ty điện. Stella Flanagan lại đi bước nữa, đúng là giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời. Richie Huber lại bị đuổi việc.
Và giữa tràng giang đại hải những lời tán dóc - nhiều khi ngồi lê đôi mách, giữa một đoạn văn, không mào đầu, chẳng dính dáng gì đến nội dung đáng kể lể, Ruth Blum bâng quơ hỏi Câu hỏi Hành xác: “Thế khi nào con và Stan mới cho bố mẹ lên chức ông bà ngoại đây? Bố mẹ nên có cháu lắm rồi đấy (trai gái đều được). Và trong trường hợp con không để ý, Patty à, bố mẹ cũng lớn tuổi rồi.” Sau đó, bà tiếp tục kể chuyện cô con gái nhà Bruckner sống dưới phố bị trường đưa về nhà vì tội không mặc áo ngực mà khoác chiếc áo thiếu điều thấy hết bên trong.
Với tâm trạng hẩm hiu, da diết nhớ căn nhà cũ ở Traynor, cảm thấy mông lung và sợ hãi khi nghĩ về tương lai phía trước, Patty bước vào căn phòng sắp sửa được dùng làm phòng ngủ, nằm xuống nệm (bục kê nệm vẫn để ngoài ga-ra, còn tấm nệm nằm chỏng chơ giữa sàn nhà rộng thênh thang không trải thảm, trông chẳng khác nào một món đồ trôi dạt vào bờ biển vàng kỳ cục). Cô gục đầu lên tay, khóc như mưa gần hai mươi phút. Cô đoán hẳn sẽ đến lúc mình trào nước mắt. Bức thư của mẹ chỉ khiến điều đó xảy ra nhanh hơn, giống như bụi chui tọt vào mũi ta và trở ra qua một cái hắt hơi.
Stanley muốn có con. Cô cũng thế . Họ tâm đầu ý hợp về vấn đề này, như cách họ thưởng thức các bộ phim của Woody Allen, việc họ đến giáo đường Do Thái tương đối đều đặn, khuynh hướng chính trị, việc họ không thích cần sa và cả tỉ những điều lớn nhỏ khác. Trong căn nhà ở Traynor có một phòng dư được họ chia đôi ngay giữa. Bên trái, anh kê một chiếc bàn làm việc và ghế để đọc sách; bên phải, cô đặt máy may và một chiếc bàn để chơi trò ráp hình. Hai người đồng thuận về căn phòng ấy đến độ chẳng mấy khi họ nhắc đến nó – chỉ đơn giản là căn phòng hiện diện ở đó, như mũi trên khuôn mặt hoặc chiếc nhẫn cưới trên tay trái. Một ngày nào đó, căn phòng ấy sẽ thuộc về Andy hoặc Jenny. Nhưng đứa trẻ ấy nơi nao? Máy may, giỏ đựng vải, bàn xếp hình, bàn làm việc và chiếc ghế hãng La-Z-Boy đều lầm lũi ở đó, từ tháng này qua tháng nọ, củng cố vị thế của mình, ngày càng bén rễ trong phòng. Đó là suy nghĩ trong lòng cô, dù cô chưa bao giờ đào sâu suy nghĩ ấy; như cái từ khiêu dâm , ấy là khái niệm nhảy múa bên ngoài khả năng mường tượng của cô. Nhưng cô vẫn nhớ, có lần nọ, khi đến chu kỳ kinh nguyệt, cô mở tủ dưới bồn tắm để lấy băng vệ sinh; cô nhìn chăm chăm vào hộp băng vệ sinh Stayfree và nghĩ cái hộp ấy trông thật láo toét, thiếu điều như muốn nói: Xin chào, Patty! Bọn con là con của mẹ đây. Bọn con là những đứa con duy nhất mà mẹ sẽ có, và bọn con đói rồi. Cho bọn con ăn đi. Cho bọn con ăn máu đi.
Năm 1976, ba năm sau khi cô vứt bỏ vị thuốc Ovral cuối cùng, họ đến gặp một vị bác sĩ mang tên Harkavay ở Atlanta. “Vợ chồng tôi muốn biết liệu có vấn đề gì không? Stanley nói, “và chúng tôi muốn biết liệu chúng tôi nên làm gì nếu phát hiện ra vấn đề.”
Họ tiến hành xét nghiệm. Kết quả cho thấy tinh trùng của Stanley rất khỏe, còn trứng của Patty rất dồi dào, các ống dẫn đều khai thông đúng chỗ.
Harkavay, vị bác sĩ không đeo nhẫn cưới, với khuôn mặt cởi mở, ôn hòa, hồng hào của một thạc sĩ vừa trở về sau khi trượt tuyết ở Colorado nhân dịp nghỉ giữa kỳ, giải thích với họ rằng có thể là do căng thẳng. Anh nói vấn đề như vậy rất phổ biến. Anh cho hay, về mặt tâm lý, những trường hợp này tương tự hiện tượng bất lực - càng muốn lại càng không làm được. Hai vợ chồng phải thoải mái. Nếu được, họ không nên nghĩ tới việc phải đậu thai khi quan hệ tình dục.
Stanley mặt nặng mày nhẹ trên đường về. Patty hỏi anh làm sao.
“Anh chẳng bao giờ làm thế,” anh nói.
“Làm gì cơ?”
“Nghĩ đến chuyện đậu thai trong lúc quan hệ.”
Cô khúc khích cười, dù lúc ấy cảm giác cô độc và sợ hãi đã phần nào ùa vào lòng cô. Và đêm đó, khi cô trèo lên giường, cứ tưởng Stanley đã ngủ say thì anh làm cô hết hồn khi đột nhiên lên tiếng trong bóng đêm. Giọng anh đều đều, nhưng nghẹn ngào nước mắt. “Là anh,” anh nói. “Là tại anh.”
Cô xoay người về phía anh, ôm anh vào lòng.
“Đừng nói vớ vẩn như vậy,” cô trấn an anh. Nhưng tim cô đập thình thịch – đập quá nhanh. Anh không chỉ làm cô giật mình; dường như anh còn có thể nhìn vào tâm trí và đọc được suy nghĩ bí mật cô ghim trong đầu, nhưng đến tận phút giây ấy, cô không hề ý thức được. Không nhạc điệu, không lý do, cô cảm giác - cô biết - rằng anh đúng. Có điều gì đó không ổn, mà vấn đề không nằm ở cô. Là do anh. Có khuyết sót nơi anh.
“Anh đừng nói linh tinh như thế,” cô thì thầm giằng xé nơi vai anh. Anh hơi đổ mồ hôi, và cô chợt nhận ra anh đang sợ. Nỗi sợ túa ra từ anh thành những đợt sóng lạnh lẽo, nằm khỏa thân bên cạnh anh bỗng chốc chẳng khác nào lõa lồ trước tủ lạnh đang mở.
“Anh không linh tinh và cũng không nói vớ vẩn,” anh nói với cùng giọng điệu đó, vừa đều đều vừa vỡ òa cảm xúc, “Và em biết mà. Lý do là tại anh. Nhưng anh không biết tại sao.”
“Ai mà biết được những điều đó chứ.” Giọng cô gay gắt, la rầy - giống như giọng của mẹ cô khi bà sợ hãi. Và thậm chí, khi gắt gỏng với anh, cô rùng mình, trở người quằn quại. Stanley cảm nhận được điều đó và đôi tay anh siết chặt lấy cô.
“Thi thoảng,” anh nói, “thi thoảng anh nghĩ mình biết lý do tại sao. Thi thoảng anh nằm mơ thấy ác mộng, anh tỉnh giấc và nghĩ, “Mình biết rồi. Mình biết sai lệch ở đâu rồi? Không chỉ với việc không có thai mà là tất cả. Tất cả những sai lệch trong đời anh.”
“Stanley, đời anh không có gì sai lệch hết!”
“Ý anh không phải là từ bên trong,” anh giải thích. “Bên trong thì ổn. Nhưng anh đang nói đến bên ngoài cơ. Thứ lý ra phải kết thúc mà vẫn còn đang dang dở. Anh tỉnh giấc sau cơn mơ và nghĩ, “Cả cuộc đời mưa thuận gió hòa của mình hóa ra chỉ là mắt của một cơn bão mà mình không tài nào lý giải nổi? Anh sợ lắm. Nhưng rồi nó… phai đi. Như những giấc mơ thường thế.”
Cô biết đôi khi anh nằm mơ thấy ác mộng. Năm sáu lần anh làm cô tỉnh giấc, tay chân quơ quàng, miệng rên rỉ. Có lẽ những lần khác, cô ngủ quá say, không hay biết những khoảng đen tối ấy nơi anh. Lần nào cô vươn tới hỏi, anh đều đáp một câu y chang: Anh không nhớ . Và rồi anh với lấy bao thuốc, ngồi dậy trên giường châm thuốc, chờ đợi dư âm còn sót lại của giấc mơ túa ra lỗ chân lông như mồ hôi.
Không có con. Vào đêm ngày 28 tháng 5 năm 1985 - đêm trong bồn tắm – bố mẹ hai bên vẫn mong ngóng được lên chức ông bà. Căn phòng dư vẫn ở đó; băng vệ sinh Stayfree ban đêm và ban ngày vẫn chiếm cứ vị trí thường thấy trong ngăn tủ dưới bồn rửa mặt, kỳ kinh vẫn đều đặn ghé thăm hằng tháng. Dù vẫn tất bật chuyện riêng nhưng mẹ cô phần nào ý thức được nỗi đau của con gái, bà thôi không hỏi han trong thư, giữ ý khi Stanley và Patty về New York chơi hai lần trong năm. Không ai lôi chuyện liệu đôi vợ chồng có uống vitamin E ra đùa nữa. Stanley cũng thôi không nhắc đến con cái, nhưng thỉnh thoảng, khi anh không biết vợ đang nhìn, cô bắt gặp bóng đen sa sầm trên gương mặt anh. Một bóng đen nào đó không rõ. Như thể anh đang tuyệt vọng tìm cách nhớ lại điều gì.
Ngoại trừ bóng mây ấy, cuộc sống hai vợ chồng vẫn đầm ấm cho đến đêm ngày 28 tháng 5, khi điện thoại đổ chuông trong lúc chương trình Gia đình Feud đang chiếu trên ti vi. Patty cặm cụi bên hai chiếc áo của Stan, hai chiếc áo khoác của cô, bộ đồ may vá và hộp đựng cúc kỳ quặc; Stanley cầm trên tay cuốn tiểu thuyết mới của William Denbrough, mới phát hành, thậm chí còn chưa có bản bìa mềm. Có một con quái vật đang nhe nanh vuốt ở mặt trước của cuốn sách. Mặt sau là hình một người đàn ông đầu hói đeo kính.
Stanley ngồi gần điện thoại hơn. Anh nhấc ống nghe lên và nói: “A lô, gia đình Uris xin nghe.”
Anh lắng nghe, cái chau mày hiện lên giữa hai lông mày. “Anh nói anh là ai kia ?”
Patty liền cảm thấy hoảng sợ. Về sau, vì xấu hổ mà cô nói dối bố mẹ rằng cô đã linh cảm thấy có điểm hung từ khoảnh khắc điện thoại reo, song thực ra cô chỉ cảm thấy không yên trong lòng vào khoảnh khắc cô ngước lên nhìn chồng khi đang may vá. Nhưng có lẽ như vậy cũng không sao. Có lẽ từ trước cuộc gọi kia, cả hai vợ chồng cô đều đã nghi ngờ tai bay vạ gió sắp sửa ập tới, thứ tai vạ trật quẻ với ngôi nhà xinh xắn hài hòa phía sau bờ giậu thủy tùng thấp, thứ tai vạ hiển nhiên đến độ chẳng ai nhận ra… không cần nhiều, chỉ cần khoảnh khắc sắc bén ấy là quá đủ, như dùi đục đá cắm một lỗ rồi rút ra thật nhanh.
Mẹ em gọi à? Cô thốt lên hỏi anh ngay giây phút đó, trong đầu cứ ngỡ bố cô bị đau tim, bởi ông cụ dư mười cân và từ tuổi tứ tuần đã hay đau bụng.
Stan lắc đầu, đoạn khẽ mỉm cười với điều người bên kia đầu dây nói. “Cậu… Là cậu à! Trời ơi, ai ngờ chứ! Mike! Làm sao mà cậu…”
Anh lại trầm ngâm lắng nghe. Khi nụ cười của anh nhạt dần, cô nhìn thấy – hoặc ngỡ là thấy – biểu hiện phân tích trên gương mặt anh, nét mặt anh trưng ra khi người khác trình bày vấn đề hoặc giải thích sự thay đổi đột ngột trong một tình huống đang diễn ra hay kể với anh điều gì đó kỳ cục và thú vị. Cô đoán chắc là lý do cuối cùng. Khách hàng mới? Bạn cũ? Có lẽ thế. Cô chuyển sự chú ý của mình trở lại ti vi, trên màn hình là cảnh một phụ nữ quàng tay quanh người Richard Dawson và hôn lấy hôn để. Cô trộm nghĩ khéo có khi anh diễn viên này được hôn còn nhiều hơn tảng đá Blarney. Cô nghĩ bản thân mình còn muốn hôn anh ta chứ nói gì ai.
Theo truyền thuyết, tảng đá Blarney tại lâu đài Blarney ở Ireland có khả năng cho người ta tài hùng biện. Vì vậy, du khách thường đến đây hôn ngược tảng đá để có được tài năng đó.
Lúc Patty bắt đầu tìm kiếm cái nút màu đen cho hợp với chiếc áo vải denim xanh của Stanley, cô mơ hồ cảm nhận được cuộc đối đáp đang dần trở nên trôi chảy hơn – Stanley đôi lúc càu nhàu và có lần anh hỏi: “Cậu có chắc không, Mike?” Sau một khoảng dùng rất lâu, anh mới đáp, “Được rồi, tớ hiểu rồi. Ừ, tớ… Ừ. Ừ, mọi thứ. Tớ hình dung đại khái rồi. Tớ… Cái gì?… Không, tớ không hứa trước được đâu, nhưng tớ sẽ cân nhắc kỹ lưỡng. Cậu biết mà… Hả?… Cậu ấy đã làm thế?… Chà, chứ còn gì nữa! Tất nhiên là có. Ừ… chắc chắn rồi… Cảm ơn cậu… Ừ. Tạm biệt.” Đoạn anh cúp máy.
Patty liếc nhìn và thấy anh ngây người nhìn vô định vào khoảng không phía trên ti vi. Trong chương trình, khán giả đang vỗ tay tán thưởng gia đình Ryan vừa đạt được 280 điểm, cả nhà họ đều đoán khán giả sẽ trả lời “môn Toán” cho câu hỏi “Học sinh cấp hai ghét nhất môn học nào ở trường?” Cả nhà Ryan nhảy lên tán loạn và la hét vui mừng. Tuy nhiên, Stanley lại chau mày. Về sau, cô kể với bố mẹ mình rằng sắc mặt anh hơi xám, mà thật là thế, nhưng lúc đó cô không kể, cô gạt chuyện đó sang một bên, đổ cho chiếc đèn bàn có chụp bóng thủy tinh màu xanh nên mới khiến sắc mặt anh trông như vậy.
“Ai gọi vậy, Stan?”
“Hửm?” Anh nhìn cô. Cô nghĩ ánh nhìn trên mặt anh vương chút mơ hồ, đan xen phần nào khó chịu. Mãi đến sau này, khi lặp đi lặp lại khung cảnh ấy trong đầu, cô mới ngộ ra đó là biểu cảm của một người đang dần cắt đứt khỏi thực tế, từng dây, từng dây một. Khuôn mặt của một người vừa bước ra khỏi sắc xanh, bước vào đen tối.
“Ai gọi điện thoại vậy anh?”
“Không có ai đâu,” anh lấp liếm. “Không ai cả, thật đấy. Anh đi tắm đã.” Anh đứng dậy.
“Gì cơ, 7 giờ rồi mà?”
Anh không đáp mà rời khỏi phòng. Lý ra cô đã có thể tra vặn anh nếu có điều gì đó không ổn, thậm chí có thể đi theo hỏi xem anh có đau bụng không - anh rất thoáng trong chuyện chăn gối, nhưng có những thứ anh rất giữ nguyên tắc và không dưng anh bảo mình sẽ đi tắm lúc còn khối thứ khác để làm, thật đúng là mặt trời mọc đằng đông. Nhưng sắp sửa có một gia đình mới, nhà Piscapo, bước lên sân khấu, và Patty biết chắc thể nào Richard Dawson cũng nói gì đó vui vui để nhận xét về cái tên, thêm nữa, cô mò mẫm mãi mà vẫn chưa tìm được cái nút áo màu đen, trong hộp. Chúng trốn đi rồi, tất nhiên, đó là cách lý giải duy nhất…
Thế là cô để anh đi, chẳng mảy may nghĩ đến anh cho tới cuối chương trình, khi họ chạy tên người sản xuất trên màn hình ti vi, cô mới ngước lên nhìn và nhận ra ghế anh trống trơn. Ban nãy cô nghe thấy tiếng xả nước trong bồn tắm trên lầu, được chừng năm, mười phút thì tắt… nhưng cô không nghe thấy tiếng của tủ lạnh đóng mở, tức là anh lên tắm mà không mang theo bia vào để nhâm nhi. Ai đó đã gọi điện đến rồi thảy cho anh một vấn đề đau đầu, vậy mà cô có san sẻ với anh dù chỉ một lời an ủi không? Không. Cô có vặn hỏi để anh tâm sự một chút không? Không. Thậm chí cô có phát hiện điều gì đó không ổn không? Lần thứ ba, không. Tất cả là vì chương trình truyền hình ngu ngốc ấy - cô thậm chí còn không thể giận cá chém thớt lên mấy cái nút áo, chúng chỉ là lời bao biện mà thôi.
Được rồi, vậy thì cô sẽ mang một lon bia Dixie lên cho anh, ngồi cạnh anh trên bệ bồn tắm, chà lưng cho anh, đóng vai một nàng Geisha, gội đầu cho anh nếu anh muốn và hỏi anh xem có chuyện gì… hoặc người vừa gọi đến là ai.
Cô lấy một lon bia từ tủ lạnh và lên lầu. Lòng cô bắt đầu không yên khi thấy cánh cửa phòng tắm đóng kín. Không he hé mà đóng kín. Stanley không bao giờ đóng cửa khi tắm. Họ xem hành động này mang dáng dấp của một trò đùa – cửa đóng kín nghĩa là anh ngoan ngoãn làm theo điều ngày xưa mẹ anh từng dạy, còn cửa mở mang hàm ý anh sẵn sàng đi ngược lại những lời dạy mà mẹ anh dặn dò.
Patty dùng móng tay gõ lọc cọc vào cửa, đột nhiên cô nghe thấy rất vang, vang đến hãi hùng, tiếng cạch cạch gai người trên mặt gỗ. Và việc gõ cửa phòng tắm như một vị khách là điều cô chưa từng làm trong suốt bao nhiêu năm đầu gối tay ấp với chồng - cửa phòng tắm hay cánh cửa nào trong nhà cũng vậy.
Lòng cô chợt sôi lên cảm giác nhộn nhạo, và cô hồi tưởng lại hồ Carson, nơi cô hay đi bơi lúc còn bé. Vào đầu tháng Tám, nước dưới hồ ấm như nước trong bồn tắm bồn… nhưng lắm lúc ta sẽ vô tình chạm trán vùng nước lạnh ngắt, đủ để ta rùng mình kinh ngạc và thích thú. Phút trước đương ấm, ấy thế mà phút sau nhiệt độ như vừa giảm gần chục độ dưới hông. Đó là cảm giác của cô lúc này - ngạc nhiên thì có, nhưng thích thú thì không như thể cô vừa bước vào vùng nước lạnh. Có điều nếu năm xưa, khi bơi trong hồ Carson, cô chỉ lạnh từ hông trở xuống, tê cóng đôi chân thon dài, thì hiện giờ lại khác.
Cơn lạnh đang bao trùm trái tim cô.
“Stanley? Stan?”
Lần này, cô không lấy móng tay gõ lên cửa nữa. Cô gõ cửa to hơn. Vẫn không thấy động tĩnh gì, cô đập cửa thùm thụp.
“Stanley?”
Tim cô. Tim cô không yên vị trong ngực nữa rồi. Nó trào lên họng, khiến cô ngạt thở.
Trong sự thinh lặng theo sau tiếng hét của cô (cô rợn người khi mình đang đứng la hét trên tầng, cách nơi cô ngả lưng say giấc nồng hằng đêm chưa tới chục mét), cô nghe thấy một âm thanh khiến phần tâm trí đang để dưới lầu của cô như phát hoảng. Tiếng động khẽ khọt vô cùng. Đó là tiếng nước nhỏ giọt. Tách … dừng. Tách … dừng. Tách … dừng. Tách …
Cô có thể hình dung trong đầu những giọt nước đang tụ lại ở đầu vòi nước, nặng dần, to dần, như có bầu và rồi rơi đánh tách.
Đó là âm thanh duy nhất vang lên. Và rồi cô sửng sốt nhận ra chính Stanley, chứ không phải bố cô, mới là người bị lên cơn đau tim tối nay.
Cô rên lên, chộp lấy tay nắm bằng kính và vặn mở. Tuy nhiên, cánh cửa không nhúc nhích: nó đã bị khóa từ bên trong. Và đột nhiên, ba điều không bao giờ dồn dập ùa vào đầu Patty Uris: Stanley không bao giờ tắm lúc chớm tối, Stanley không bao giờ đóng cửa trừ lúc dùng nhà vệ sinh và Stanley không bao giờ khóa cửa với cô.
Cô cuống cuồng tự hỏi, liệu một người có thể chuẩn bị cho con đau tim không?
Patty đưa lưỡi liếm môi – hành động ấy tạo ra âm thanh như giấy nhám quẹt lên bảng - rồi gọi tên anh lần nữa. Không có lời đáp, chỉ có tiếng nước nhỏ giọt đều đều. Nhìn xuống, cô thấy một tay mình vẫn cầm lon bia Dixie. Cô ngây ngốc nhìn nó, trái tim như mắc cửi trong cổ họng; cô ngây ra như thể cả đời chưa từng nhìn thấy một lon bia nào. Mà hình như là thế thật, hay chí ít, cô chưa thấy lon bia nào biết biến hình như vậy, bởi khi cô chớp mắt, lon bia đã hóa thành điện thoại, đen đúa và đáng sợ như một con rắn.
“Tôi có thể giúp gì cho cô không, thưa quý cô? Có chuyện gì vậy?” Con rắn gắt lên với cô. Patty dập máy rồi lùi lại, chà xát bàn tay vừa cầm điện thoại của mình. Cô nhìn xung quanh và phát hiện mình đã trở lại phòng ti vi, cô nhận ra mình mụ cả người, nỗi hoảng sợ xâm chiếm phần não trước của cô như tên trộm rón rén bước lên cầu thang. Giờ thì cô nhớ ra ban nãy mình đã thả lon bia ngoài cửa phòng tắm, mơ hồ nghĩ: Chắc đây là nhầm lẫn gì đó, sau này nhớ lại, hai vợ chồng sẽ phá lên cười cho mà xem. Chắc sau khi xả nước vào bồn, anh chợt nhớ ra mình không có thuốc lá nên mới đi ra ngoài mua trước khi cởi quần áo…
Đúng. Nhưng vấn đề là anh đã khóa trái cửa phòng tắm và vì mở cửa thì phiền phức quá, thành thử anh quyết định chui qua cửa sổ phía trên bồn tắm và men theo tường nhà bò xuống như một con ruồi. Phải, đúng rồi, chuẩn đấy…
Nỗi sợ hãi lại dấy lên trong tâm trí cô – như thứ cà phê đen đắng ngắt chực trào khỏi vành cốc. Cô nhắm mắt, cố kìm nén. Cô đứng đó, ngây ra như tượng, một bức tượng trắng bệch với mạch đập điên cuồng trong họng.
Giờ cô có thể nhớ lại mình đã chạy xuống nhà, chân loạng choạng trên cầu thang, chạy đến chỗ điện thoại, ồ phải, đúng rồi, nhưng cô định gọi cho ai?
Thật điên rồ song cô đã nghĩ: Mình sẽ gọi con rùa, nhưng con rùa không giúp được ta.
Mà cũng chẳng nghĩa lý gì nữa. Đầu óc cô trống rỗng, và dường như cô nói quàng xiên gì đó, bởi người trực tổng đài hỏi cô có vấn đề gì hay không. Ừ, cô có vấn đề, nhưng làm sao để nói với cái giọng vô nhân ảnh ấy rằng Stanley giam mình trong phòng tắm và không phản hồi với cô, làm sao nói tiếng nước nhỏ giọt đều đều xuống bồn xé nát trái tim cô? Cô cần ai đó giúp. Ai đó…
Đưa mu bàn tay lên miệng, cô cắn chặt. Cô chật vật suy nghĩ, chật vật bắt mình suy nghĩ.
Chìa khóa dự phòng. Chìa khóa dự phòng trong chạn bếp.
Cô chồm dậy, một chân mang dép đá phải túi đựng nút đặt bên cạnh ghế. Vài cái nút rơi ra, lấp lánh như những đôi mắt mơ màng dưới ánh đèn. Cô thấy chừng năm, sáu cái nút đen.
Được gắn bên trong cánh cửa tủ phía trên bồn rửa là chiếc hộp lớn được đánh véc-ni có hình chìa khóa – một khách hàng của Stan đã tự tay làm món quà này trong xưởng và tặng anh nhân dịp Giáng sinh hai năm trước. Chiếc hộp hình chìa khóa chứa đầy móc nhỏ, treo tất cả những chiếc chìa khóa trong nhà, mỗi cái đều được Stan in dòng chữ nhỏ nhắn và gọn gàng: GA-RA, ÁP MÁI, NHÀ TẮM DƯỚI, NHÀ TẮM TRÊN, CỬA TRƯỚC, CỬA SAU. Lệch sang một bên là chìa khóa xe ô tô ghi M-B và VOLVO.
Sau khi giật lấy chiếc chìa khóa NHÀ TẮM TRÊN, Patty chạy lên cầu thang rồi cố tình bước chậm lại. Chạy nhanh chỉ tổ khiến nỗi sợ hãi trào dâng, và nỗi sợ ấy đang rất sát bề mặt. Hơn nữa, nếu cô đi từ từ, có khi mọi chuyện sẽ ổn. Hoặc, nếu có biến gì đó, Chúa sẽ nhìn xuống và thấy cô đang bước đi rồi thầm nhủ: Ồ, may quá – mình lỡ chơi dại, nhưng thế này vẫn đủ thời gian để rút lại.
Nhẹ nhàng từng bước như một cô gái thong thả đến buổi họp mặt của Cộng đồng Sách cho phái nữ, cô bước lên cầu thang và đi đến cánh cửa phòng tắm đang khóa chặt.
“Stanley?” cô vừa cất tiếng vừa thử mở cửa, sốt ruột hơn bao giờ hết, cô chẳng muốn dùng chìa khóa bởi viện đến chiếc chìa khóa này là bước đường cùng. Nếu Chúa chưa kịp rút lại sai lầm trước lúc cô tra chìa, thì xem như sự đã rồi. Điều kỳ diệu chỉ còn là mơ mộng hão.
Cánh cửa vẫn khóa. Tiếng nước nhỏ giọt tách… đi kèm khoảng lặng là lời hồi đáp duy nhất dành cho cô.
Tay cô run rẩy, chiếc chìa khóa kêu cành cạch quanh tay nắm, cô mò mẫm mãi mới tìm được lỗ khóa và tra vào thành công. Cô xoay chìa, lắng nghe tiếng khóa đánh tách. Cô vụng về xoay nắm cửa bằng thủy tinh. Nó lại trượt khỏi tay cô – không phải vì cửa vẫn khóa mà là vì lòng bàn tay cô ướt đẫm mồ hôi. Siết chặt tay, cô xoay cửa. Đoạn cô đẩy cửa mở.
“Stanley? Stanley? St…”
Cô nhìn vào bồn tắm với tấm rèm màu xanh dạt về đầu bên kia của thanh thép không gỉ, quên bằng cách gọi tên chồng mình. Cô chỉ biết thẫn thờ nhìn chằm chằm vào bồn tắm, khuôn mặt đanh lại như đứa trẻ ngày đầu đến trường. Chốc nữa, cô sẽ bắt đầu hét ầm lên, và cô hàng xóm Anita MacKenzie sống cạnh nhà sẽ nghe thấy, để rồi chính Anita MacKenzie là người gọi cảnh sát vì tưởng trộm đột nhập vào nhà Uris và manh động giết người.
Nhưng hiện giờ, vào giây phút này, Patty Uris chỉ lặng lẽ đứng đó, hai tay siết chặt chiếc váy vải cotton sẫm màu, gương mặt nghiêm nghị, hai mắt trợn tròn. Và cái nhìn nghiêm nghị, gần như mộ đạo, bắt đầu biến tướng thành thứ khác. Mắt cô bắt đầu lồi ra. Miệng cô méo xệch thành một nụ cười dị dạng đầy khủng khiếp. Cô những muốn hét lên nhưng không thể. Tiếng hét kinh thiên động địa đến độ không thể phát ra.
Phòng tắm được thắp sáng bằng đèn huỳnh quang. Không gian sáng trưng. Không chút bóng tối. Ta thấy được tất tần tật, dù muốn hay không. Nước trong bồn ngả màu hồng tươi. Stanley nằm tựa lưng vào thành bồn. Đầu anh ngửa hẳn ra sau cổ khiến mái tóc đen cắt ngắn chạm vào phần da giữa xương vai. Nếu đôi mắt trừng trừng của anh vẫn có thể nhìn thấy thì lúc này đây, cô đang nhìn ngược xuống anh. Miệng anh há hốc như cánh cửa mở tung. Biểu cảm của anh kinh hãi đến cứng người, cùng cực. Một hộp dao lam Gillette Platinum Plus nằm trên thành bồn tắm. Anh đã rạch phần cẳng tay của mình, từ cổ tay xuống khuỷu tay, sau đó ngay bên dưới vòng cầu may, anh rạch ngang những vết cắt tạo thành hai chữ T đẫm máu. Vết cắt ánh sắc tím đỏ dưới ngọn đèn trắng đến nhức mắt. Cô thầm nghĩ phần gân và dây chằng lòi ra trông như miếng thịt bò rẻ tiền.
Một giọt nước tụ lại trên đầu vòi nước mạ crôm sáng bóng. Nó to dần. Như có bầu , ta có thể nói thế. Sáng lấp lánh. Rơi. Tách .
Anh đã nhúng ngón trỏ của bàn tay phải vào máu và viết một chữ duy nhất trên nền gạch màu xanh lam phía trên bồn tắm, viết hai chữ thật to, gớm guốc. Dấu máu dây thành đường zích zắc, từ ký tự thứ hai – vết này là do ngón tay anh tạo ra khi bàn tay rơi vào bồn tắm rồi nổi lềnh bềnh như hiện tại. Cô đoán Stanley đã tạo ra vết ấy – ảnh hưởng cuối cùng mà anh để lại thế giới – trước khi lịm đi, Nó như đang thét gào với cô.

Lại một giọt nước rơi xuống bồn.
Tách .
Giọt nước tràn ly. Patty Uris cuối cùng cũng tìm lại được giọng nói của mình. Nhìn chằm chằm vào đôi mắt tuy đã chết nhưng còn lấp lánh của chồng, cô bắt đầu hét lên.
2
RICHARD TOZIER LÊN ĐƯỜNG
Rich thấy mình giữ tinh thần tốt cho đến khi anh nôn thốc nôn tháo.
Anh đã lắng nghe tất cả những lời Mike Hanlon nói, những điều hợp tình hợp lý, trả lời câu hỏi của Mike, thậm chí còn hỏi thêm dăm ba câu. Anh mơ hồ cảm thấy mình đang diễn một trong những Giọng nói của bản thân – không phải thứ giọng kỳ cục và lố lăng như thỉnh thoảng anh hay làm trên ra-đi-ô (Va li Lạc thú, Thư ký Khát tình là giọng anh thích nhất trong số những giọng anh sáng tác trước giờ, và phản ứng của thính giả với Lạc thú rất tích cực, thậm chí ngang ngửa với Giọng Colonel Buford Kissdrivel vốn được mọi người ưa chuộng nhất), mà là một giọng nói ấm áp, đọng tình người và tự tin. Giọng nói Tôi-vẫn-ổn. Nghe thì hay, nhưng chỉ là dối trá. Giống như những Giọng nói khác, tất cả đều là dối trá.
“Cậu còn nhớ nhiều không, Rich?” Mike hỏi.
“Ít lắm,” Rich đáp, đoạn dừng một chút. “Tớ nghĩ là vừa đủ.”
“Cậu có về không?”
“Tớ sẽ về,” Rich đáp, rồi sau đó cúp máy.
Anh ngồi trong phòng làm việc một lúc, ngả người lên chiếc ghế sau bàn làm việc, nhìn ra Thái Bình Dương. Phía bên trái, một nhóm trẻ con đang chơi đùa, nghịch ngợm trên ván nhưng không lướt sóng. Đằng nào cũng không đủ sóng để lướt.
Đồng hồ trên bàn làm việc - một chiếc đồng hồ LED thạch anh mắc tiền do đại diện đơn vị thu âm gửi tặng - cho biết lúc đó là 5 giờ 9 phút chiều ngày 28 tháng 5 năm 1985. Tất nhiên, nơi Mike gọi cho anh sớm hơn nơi này ba tiếng. Trời hẳn đã tối. Thoáng nổi da gà, anh bắt đầu đi lại, làm việc này việc kia. Đầu tiên, chắc chắn rồi, anh mở nhạc - không chủ đích mà anh chỉ lấy đại một đĩa trong số hàng ngàn đĩa được xếp trên kệ. Rock and roll gắn liền với cuộc đời anh, thân thuộc như các Giọng nói, và anh khó mà làm được gì nếu không có nhạc làm nền – càng to càng tốt. Đĩa nhạc anh vừa lấy ra là nhạc Motown xưa. Marvin Gaye, một thành viên sau này của ban nhạc mà Rich thỉnh thoảng hay gọi là Ban nhạc Chết tất, cất giọng ca “Anh nghe vườn nho thì thầm”.
“Oooh-hoo, chắc em đang tự nhủ làm thế nào anh biết phải không…”
“Không tệ,” Rich nhận xét. Thậm chí anh còn khẽ mỉm cười. Chuyện này thật tệ, và thành thật mà nói, nó khiến anh chệch khỏi đường ray, nhưng anh cảm thấy mình sắp xoay xở được rồi. Muỗi.
Anh chuẩn bị đồ đạc để lên đường về quê. Và một tiếng sau đó, anh có cảm giác rằng mình đã qua đời nhưng vẫn được cho phép lo liệu công chuyện trước khi nhắm mắt xuôi tay… kể cả chuyện tang lễ hậu sự. Và anh tự thấy mình làm tốt ra trò. Anh gọi điện cho cô nhân viên bên hãng du lịch, dù đoán giờ này chắc cô đang trên cao tốc về nhà, nhưng anh vẫn gọi, biết đâu đấy. Và đến anh cũng phải ngạc nhiên khi cô bắt máy. Anh trình bày với cô mong muốn của mình và cô xin anh mười lăm phút để sắp xếp.
“Anh nợ em lần này, Carol,” anh cảm kích. Trong ba năm qua, họ đã từ xưng hô Anh Tozier và cô Feeny sang gọi nhau là Rich và Carol – khá thân thiết, nhất là khi xét đến việc họ chưa gặp mặt trực tiếp lần nào.
“Được rồi, có vay có trả,” cô đáp lại. “Anh diễn giọng Va li Lạc thú cho em nghe nhé?”
Không chậm một giây - nếu phải tạm dừng để tìm Giọng nói thì vô nghĩa – Rich liền cất tiếng: “Va li Lạc thú, Thư ký Khát tình đây. Hôm nọ, một người bạn của tôi đến tìm tôi và hỏi điều gì là tồi tệ nhất khi dính AIDS.” Tông giọng của anh hơi trầm xuống; đồng thời nhịp điệu cũng tăng nhanh và trở nên vui nhộn - rõ ràng vẫn là giọng Mỹ, thế mà chẳng hiểu sao nó vẫn gợi cho ta mường tượng hình ảnh của một anh chàng thuộc địa Anh giàu có, vừa lịch lãm đến khó hiểu vừa bối rối. Rich thật ra chẳng biết Va li Lạc thú thế nào, nhưng anh dám chắc tay này lúc nào cũng diện vest trắng, đọc Esquire, uống rượu trong ly cao cổ và thoang thoảng mùi dầu gội hương dừa. “Tôi bèn đáp lời anh ta ngay tắp lự – đó là phải giải thích với mẹ rằng mình dính AIDS từ một em gái Haiti. Hẹn gặp lần sau, và xin nhắc lại, tôi là Va li Lạc thú, Thư ký Khát tình, trân trọng thông báo ‘Nếu không cứng nổi thì nhớ cầm danh thiếp của tôi.’“
Một tạp chí dành cho đàn ông của Mỹ.
Carol Feeny phá lên cười nắc nẻ. “Quá hay! Chuẩn không cần chỉnh. Bạn trai em không tin anh có thể giả các giọng nói như vậy, anh ấy cứ bảo ắt là anh phải dùng thiết bị lọc tiếng hay gì đó…”
“Là tài năng đấy,” Rich gọn lỏn. Va li Lạc thú đã biến mất. WC. Fields, đội mũ chóp, mũi đỏ, lỉnh kỉnh túi chơi golf, xuất hiện. “Người anh đầy tài năng, đầy đến độ anh phải bịt tất tần tật lỗ trên người mình lại để nó không tràn ra như… chà, nhìn chung là không tràn ra.”
Cô lại ré lên cười sằng sặc, và Rich nhắm mắt lại. Anh có thể cảm nhận cơn đau đầu đang dần đến.
“Vậy nhờ em sắp xếp giúp anh nhé?” Anh hỏi, vẫn giữ giọng W.C. Fields, đoạn cúp máy trong tràng cười rộn rã của cô.
Giờ anh phải trở lại là chính mình, mà điều này khó quá – qua mỗi năm lại mỗi khó. Khi là một người khác, ta dễ hành xử can đảm hơn.
Trong lúc anh đang cố chọn một đôi giày lười dễ đi và cuối cùng quyết định mang giày thể thao thì chuông điện thoại reo. Đó là Carol Feeny, gọi lại với tốc độ kỷ lục. Bỗng dưng anh cảm thấy muốn giả giọng Buford Kissdrivel nhưng anh cố gạt đi. Cô đã xoay xở đặt cho anh ghế hạng thương gia trên chuyến bay của hãng American Airlines từ LA đến Boston. Anh sẽ rời LA lúc 9 giờ 30 phút tối và đến Logan tầm 5 giờ sáng hôm sau. Sau đó, từ Boston, anh lên Delta lúc 7 giờ 30 phút sáng và bay đến Bangor, Maine lúc 8 giờ 20 phút. Cô cũng đã chuẩn bị cho anh một chiếc sedan cỡ lớn ở Avis, và quầy Avis ở Sân bay Quốc tế Bangor chỉ cách đường vào thị trấn Derry chừng bốn mươi ki-lô-mét.
Chỉ bốn mươi ki-lô-mét? Rich nghĩ. Vậy thôi à, Carol? Chà, có lẽ là thế – tính bằng cây số. Nhưng em không biết để đến được Derry thật sự xa thế nào đâu, và thú thực, anh cũng thế. Nhưng lạy Chúa, lạy Chúa lòng lành, anh sắp biết rồi đây.
“Em không tìm phòng vì anh không nói sẽ ở lại đó bao lâu,” cô nói. “Anh có…”
“Không…Việc đó cứ để anh tự lo,” Rich cắt ngang, và rồi giọng Buford Kissdrivel trỗi dậy. “Em ngọt ngào như trái đào vậy, em gái. Một quả đào Georgia, tất nhiên là thế rồi.”
Nói đoạn anh nhẹ nhàng cúp máy – cuộc gọi luôn kết thúc khi nụ cười của cô còn đọng trên môi – rồi bấm số 207-555-1212 để gọi Tổng đài Tiểu bang Maine. Anh muốn có số điện thoại của Nhà nghỉ Thị trấn Derry. Trời ơi, cái tên ấy từ ngày xửa ngày xưa. Đã bao lâu rồi anh không nghĩ về Nhà nghỉ Thị trấn Derry nhỉ? Mười năm? Hai mươi năm? Hay thậm chí hai mươi lăm năm? Nghe thật điên rồ, nhưng anh đoán ít nhất cũng đã hai mươi lăm năm, và nếu Mike không gọi, có lẽ cả đời anh cũng không bao giờ nghĩ đến nó nữa. Vậy mà từng có một thời anh đi ngang qua ụ gạch đỏ to tướng ấy mỗi ngày - và không chỉ một lần anh vắt chân lên cổ chạy ngang qua, cùng Henry Bowers, Huggins WHơi và một thằng to con khác, Victor hay gì đó, đuổi sát rạt phía sau, cả ba đứa hét toáng những lời bông đùa hết sức dễ thương như Bọn tao sẽ tóm cổ mày, thằng mắc dịch! Bọn tao sẽ tóm mày, thằng ăn hại! Bọn tao sẽ tóm mày, đổ bê đê! Mà có lần nào chúng bắt được anh chưa nhỉ?
Trước khi Rich kịp nhớ ra, giọng tổng đài viên vang lên, hỏi anh tên thành phố.
“Derry, cô cho tôi hỏi…”
Derry! Chúa ơi! Đến cả tên của địa danh ấy cũng thật xa lạ, nhuốm màu thời gian trong miệng anh; thốt lên cái tên ấy tựa hồ hôn một món đồ cổ.
”… Cô có số của Nhà nghỉ Thị trấn Derry không?”
“Xin anh vui lòng đợi ít phút.”
Vớ vẩn. Chắc nó chẳng còn đâu. Bị phá hủy theo kế hoạch cải tạo cảnh quan đô thị. Sửa sang thành Sảnh nai Sừng tấm hoặc Trung tâm Bowling, hoặc Trung tâm trò chơi điện tử Dreamscape. Hoặc biết đâu nó bị thiêu rụi vào một đêm, khi xui rủi thế nào mà tay nhân viên bán giày xỉn quắc cần câu nằm trên giường hút thuốc. Biến mất rồi, Richie – như cặp kính Henry Bouvers ngày xưa bao lần trêu chọc anh. Bài hát của Springsteen như thế nào ấy nhỉ? Những ngày vinh quang… thoáng qua như cái chớp mắt của nàng thiếu nữ. Nàng thiếu nữ nào? Còn phải hỏi, tất nhiên là Bev… Bev…”
Nhà nghỉ Thị trấn hẳn đã thay đổi nhiều, nhưng xem ra nó vẫn còn đó, bởi trong chớp mắt, một giọng nói đều đều như rô-bốt vang lên ở đầu dây bên kia: “Số… điện thoại là… 9… 4… 1… 8… 2… 8… 2. Xin nhắc lại: số điện thoại là…”
Nhưng Rich đã nghe được số điện thoại ngay từ lần đầu tiên. Thật vui khi được gác máy trước giọng nói giả trận ấy – anh có thể tưởng tượng ra con quái vật Tổng đài hình cầu khổng lồ, ẩn nấp đâu đó dưới lòng đất, với những chiếc đinh tán là mồ hôi và hàng ngàn xúc tu bằng crôm đang nắm từng ấy chiếc điện thoại - phiên bản Điện thoại Tiến sĩ Bạch tuộc, kẻ thù truyền kiếp của Người nhện. Mỗi năm trôi qua, Rich cảm thấy thế giới anh sống càng lúc càng giống một căn nhà ma điện tử khổng lồ, trong đó những con ma công nghệ và con người sợ hãi cùng sinh sống đầy ngột ngạt.
Vẫn còn đó. Hay như cách Paul Simon nói, vẫn còn đó sau bao năm.
Anh bấm số gọi đến khách sạn mà lần cuối cùng anh trông thấy qua cặp kính của mình từ thuở còn bé. Gọi số điện thoại ấy, 1-2017 941-8282, thật dễ như trở bàn tay. Anh đưa điện thoại lên tai, hướng mắt ra ngoài khung cửa sổ rất rộng trong phòng làm việc. Không còn ai lướt sóng nữa; một cặp đôi đang thư thái tản bộ cạnh bờ biển, tay trong tay, nơi mấy người ban nãy còn lướt sóng. Hình ảnh cặp đôi này có thể được làm thành áp phích trưng trên tường công ty du lịch nơi Carol Feeny làm việc, đấy, họ quấn quýt nhau đến như vậy đấy. Trừ việc cả hai đều đang đeo kính.
Bọn tao sẽ tóm cổ mày, thằng mắc dịch! Bọn tao sẽ đập nát kính mày!
Criss, cái tên ấy bỗng lóe lên trong đầu anh. Họ của cậu ta là Criss. Victor Criss.
Ôi Chúa ơi, đó không phải là điều mà anh muốn biết, không phải vào đêm muộn như thế này, giờ anh biết để làm gì kia chứ. Có gì đang xảy ra dưới căn hầm trong lòng anh, nơi Rich Tozier cất giữ những kỷ vật đáng giá ngàn vàng của riêng mình. Cửa hầm mở ra rồi.
Chỉ có điều, dưới đó không hề cất những bản thu nhạc, đúng không? Dưới đó, mày không còn là Rich Tozier “Chuyên gia thu âm”, chàng phát thanh niên thần sầu của KLAD, Người đàn ông nghìn giọng, đúng không? Và những thứ đang mở ra… không hẳn là cửa thì phải?
Anh cố gắng rũ bỏ những suy nghĩ ấy.
Điều phải nhớ là mày vẫn ổn. Mày vẫn ổn, mày không sao, Rich Tozier vẫn ổn. Có thể châm thuốc lá, thế là đủ rồi.
Anh đã bỏ thuốc bốn năm trước, nhưng lúc này anh cho phép mình hút một điếu, không sao.
Dưới hầm không cất trữ những bản thu mà toàn là xác chết. Mày đã chôn chúng thật sâu, nhưng bỗng dưng một trận động đất điên rồ xảy ra, mặt đất nứt toác làm chúng trồi lên. Dưới đó, mày không còn là Rich Tozier “Chuyên gia thu âm”; dưới đó, mày chỉ là thằng oắt con Richie Tozier “Bốn mắt”, mày đang ở cùng đám bạn và sợ đến độ có cảm giác hai hòn bi đang biến thành kẹo dẻo nho Welch. Đó không phải cửa, và chúng cũng chẳng mở. Chúng là hầm mộ, Richie. Chúng đang nứt răng rắc và đám ma cà rồng mày tưởng đã chết giờ đang ào ào bay ra.
Một điếu thuốc, chỉ một điếu mà thôi. Điếu Carlton cũng được, ôi lạy Chúa tôi.
Bọn tao sẽ tóm cổ mày, thằng bốn mắt! Bọn tao sẽ bắt màu ĂN cái cặp sách chết tiệt đó!
Nhà nghỉ Thị trấn, một giọng nam mang âm hưởng Bắc Mỹ cất lên; nó đã vượt muôn trùng xa, băng qua New England, miền Trung Tây, luồn lách giữa những casino ở Las Vegas để đến tai anh.
Anh hỏi giọng nói đó liệu anh có thể đặt một phòng cao cấp ở Nhà nghỉ Thị trấn bắt đầu từ ngày mai hay không. Giọng nói xác nhận rằng anh có thể và hỏi anh ở trong bao lâu.
“Tôi chưa biết. Tôi có…” Anh ngừng lại, rất nhanh, trong thoáng chốc.
Anh có cái gì mới được? Trong tâm trí anh lại hiện lên hình ảnh một thằng nhóc đeo ba lô kẻ sọc vùng chạy khỏi đám du côn, anh trông thấy thằng bé đeo kính, người gầy nhẳng, mặt trắng bệch, và theo một cách bí ẩn nào đó, dường như nó hét lên Đánh tao đi! Xông vào đánh tao đi! với tất tần tật những kẻ bắt nạt đi ngang qua. Môi tao đây! Đập cho tao răng môi lẫn lộn đi! Mũi tao đây! Cho tao chảy máu mũi và có giỏi thì đập bể mũi tao luôn đi! Đấm cho tai tao sưng vù lên như bông lơ xem nào! Đánh cho tao rách lông mày đi! Đây, cằm tao đây, đấm cho tao bất tỉnh thử xem! Mắt tao đây, xanh biêng biếc và to cộ sau cặp kính nanh nọc, đáng ghét, cặp kính nhựa bị gãy mất một gọng, phải dán keo cố định. Đập vỡ kính tao đi! Cho một miếng kính chọc vào mắt tao mà để tao mù luôn đi! Tiên sư bố chúng mày!
Anh nhắm mắt lại và tiếp lời: “Tôi có công việc ở Derry. Tôi không biết chuyến công tác kéo dài bao lâu. Hay anh đặt cho tôi ba ngày, để ngỏ khả năng gia hạn.”
“Để ngỏ khả năng gia hạn?” Người nhân viên trực bàn nghi ngờ hỏi, và Rich kiên nhẫn chờ cho đến khi anh ta hiểu ra. “À, tôi hiểu rồi! Thế thì tốt quá!”
” Xin cảm ơn, và tôi… à… hy vọng quý vị có thể bầu cho chúng tôi vào tháng Mười một,” John F. Kennedy nói. “Jackie muốn… à… sửa sang lại hết… Văn phòng Bầu dục, và tôi đã sắp xếp hết công việc cho… à… cậu em trai Bobby của tôi rồi.”
“Anh Tozier?”
“Vâng.”
“À, không sao… ban nãy điện thoại bị nhiễu với cuộc gọi khác.”
Chỉ là một gã chính trị gia từ DDC mà thôi, Rich thầm nhủ. DDC nghĩa là Đảng Đã Chết, nếu anh tò mò. Anh đừng quá bận tâm. Anh khẽ rùng mình, và anh lại phải trấn an bản thân, gần như thảng thốt: Mày ổn mà, Rich.
“Tôi cũng nghe thấy,” Rich đáp. “Chắc là đường điện thoại bị nhiễu. Vậy anh xem phòng cho tôi thế nào rồi?”
“Ồ, không có vấn đề gì,” người nhân viên đáp. “Ở Derry, chúng tôi làm ăn cầm chừng chứ không quá sôi động.”
“Vậy sao?”
“Ồ, chuẩn ạ” người nhân viên đồng ý, và Rich lại rùng mình. Anh cũng đã quên mất điều đó – rằng cái từ mà người New England miền Bắc hay dùng thay thế từ vâng. Ồ, chuẩn ạ.
Bọn tao sẽ tóm cổ mày, thằng tởm lợm! Giọng nói ma mị của Henry Bowers rống lên, và anh cảm thấy lại có thêm hầm mộ vừa răng rắc mở ra trong lòng; thứ mùi hôi thối anh ngửi thấy không phải từ xác thối rữa mà là ký ức thối rữa, và thứ mùi ấy phần nào tồi tệ hơn.
Anh đọc cho nhân viên của Nhà nghỉ Thị trấn số thẻ American Express của mình rồi cúp máy. Đoạn anh gọi cho Steve Covall, đạo diễn chương trình KLAD.
Một loại thẻ thanh toán quốc tế.
“Có chuyện gì thế, Rich?” Steve hỏi. Bảng xếp hạng Arbitron gần nhất cho thấy KLAD đứng đầu thị trường nhạc rock trên sóng FM cá lớn nuốt cá bé ở Los Angeles, và từ lúc đó tâm trạng của Steve như ở trên chín tầng mây – đỡ quá, cảm ơn Chúa trời hết sức.
“Chà, có lẽ anh sẽ tiếc vì đã hỏi,” anh nói với Steve. “Tôi sắp phải lên đường.”
“Lên đường…” Anh có thể nghe thấy cái chau mày trong giọng nói của Steve. “Tôi không hiểu ý cậu, Rich.”
“Tôi phải xỏ đôi giày của mình. Và tôi sắp đi xa.”
“Ý cậu là gì, đi xa là sao? Theo lịch trình tôi đang để ngay trước mặt đây, cậu sẽ lên sóng vào ngày mai, từ 2 giờ chiều cho đến 6 giờ tối, như thường lệ. Thêm nữa, cậu sẽ phỏng vấn ông quỷ Clarence phòng thu lúc 4 giờ. Cậu biết Clarence Clemons chứ? Trong câu “Đến đây và thổi kèn, Người khổng lồ?”
“Clemons nói chuyện với Mike O’Hara hay với tôi đều thế”.
“Clarence không muốn nói chuyện với Mike, Rich ạ. Clarence không muốn nói chuyện với Bobby Russell. Ông ta cũng không muốn nói chuyện với tôi . Clarence là fan bự của Buford Kissdrivel và Wyatt Cậu đóng đồ giết người. Ông ấy muốn nói chuyện với cậu , bạn hiền của tôi ơi. Và tôi hoàn toàn không hứng thú với việc để một tay chơi kèn saxophone nặng hơn một tạ bực mình phát tiết trong phòng thu của tôi, nhất là khi ông này ngày trước suýt nữa còn được chọn vào một đội bóng bầu dục chuyên nghiệp.”
“Tôi thấy trước giờ ông ấy chẳng mấy khi phát tiết,” Rich đáp. “Chúng ta đang nói về Clarence Clemons chứ có phải Keith Moon đâu mà lo.”
Đầu dây bên kia im lặng. Rich kiên nhẫn chờ đợi.
“Cậu đang đùa phải không?” Cuối cùng, Steve hỏi. Ông có vẻ u ám: “Ý tôi là, trừ khi mẹ cậu vừa qua đời hay cậu bị u não hay gì đấy, còn không thì đây là hành động đem con bỏ chợ.”
“Tôi phải đi, Steve.”
“Mẹ cậu bị bệnh à? Phủi phui cái mồm tôi nhưng bà qua đời hay sao?”
“Mẹ tôi mất mười năm trước rồi.”
“Cậu bị u não hả?”
“Tôi còn chẳng bị polyp đại tràng ấy chứ.”
“Chuyện này không vui đâu, Rich.”
“Ừ, phải.”
“Cậu đang đánh trống bỏ dùi, và tôi không thích thế.”
“Tôi cũng không thích, nhưng tôi phải đi.”
“Đi đâu? Tại sao? Điều này có nghĩa là gì? Nói tôi nghe đi, Rich!”
“Tôi nhận được một cuộc điện thoại. Từ một người quen xưa. Ở một nơi khác. Ngày ấy, đã có chuyện xảy ra. Tôi đã hứa. Chúng tôi hứa cả đám sẽ cùng quay lại nếu chuyện đó bắt đầu tái diễn. Và giờ hình như nó như thế thật.”
“Chuyện đó mà chúng ta đang nói là chuyện gì hả, Rich?”
“Tôi không nói được.” Mà tôi có nói thì ông cũng nghĩ tôi điên mất: vì thật sự, tôi không nhớ.
“Cậu thề non hẹn biển lúc nào vậy?”
“Lâu lắm rồi. Mùa hè năm 1958.”
Đầu dây bên kia lại im lặng thật lâu, và anh biết Steve Covall đang cố phân tích xem Rich Tozier “Chuyên gia thu âm”, tức Buford Kissdrivel, tức Wyatt Cậu đóng đồ Giết người, vân vân và mây mây, giỡn mặt với ông hay đang suy sụp tinh thần.
“Ngày đó, cậu mới chỉ là một đứa trẻ,” Steve nói một cách vô cảm.
“Mười một. Sắp lên mười hai.”
Lại một hồi im lặng. Rich kiên nhẫn chờ đợi.
“Được rồi,” Steve thỏa hiệp. “Tôi sẽ đổi người – để Mike thế cậu. Tôi nghĩ chắc tôi có thể gọi cho Chuck Foster để tăng ca thêm một chút, nếu tôi tìm được nhà hàng Trung Hoa cậu ta đóng đô nằm ở đâu. Tôi làm vậy vì tôi với cậu là chỗ thâm giao lâu năm. Nhưng tôi sẽ không bao giờ quên cậu bùng kèo tôi đâu đấy, Rich”.
“Nào, đừng chuyện bé xé ra to như thế,” Rich nói, đầu càng lúc càng đau như búa bổ. Anh biết việc mình đang làm là gì, chẳng lẽ Steve nghĩ anh không biết sao? “Tôi cần một vài ngày nghỉ, chỉ thế thôi. Ông làm như thể tôi ném phân vào FCC không bằng.”
Federal Communications Commission: Ủy ban Truyền thông Liên bang là cơ quan quản lý các hình thức liên lạc giữa các tiểu bang và quốc tế bằng đài phát thanh, truyền hình, vệ tinh và cáp ở Mỹ.
“Vài ngày nghỉ làm gì? Để tái ngộ với nhóm bạn trong Câu lạc bộ Hướng đạo sinh của cậu ở thác Cứt, Bắc Dakota, hay thành phố Dái ở Tây Virginia?”
“Thật ra tôi nghĩ thác Cứt nằm ở Arkansas kìa,” Bufford Kissdrivel nói bằng chất giọng âm vang, nhưng Steve không dễ bị đánh trống lảng.
“Vì lời hứa hươu hứa vượn vào năm mười một tuổi ư? Con nít mười một tuổi hứa rồi để đó chứ nghiêm túc gì! Và vấn đề không chỉ thế, Rich, cậu biết rõ mà. Chúng ta không phải công ty bảo hiểm; cũng chẳng phải văn phòng luật. Chúng ta trong làng giải trí , dù quy mô còn khiêm tốn, và cậu hiểu rất rõ điều này. Nếu cậu báo trước cho tôi một tuần, thì giờ tôi đã không phải giữ điện thoại bằng một tay, tay kia cầm lọ thuốc dạ dày Mylanta rồi. Cậu đang chọc vào tổ ong bầu, cậu thừa biết mà, nên đừng có giỡn mặt với tôi!”
Giờ thì Steve gần như hét ầm lên, Rich nhắm mắt lại. Ban nãy Steve bảo Tôi sẽ không bao giờ quên , và Rich đoán có lẽ là thế thật. Nhưng ông nói con nít không nghiêm túc khi hứa hẹn năm mười một tuổi, điều đó không chuẩn chút nào. Rich không nhớ lời hứa là gì - cũng chẳng rõ bản thân mình có muốn nhớ hay không - nhưng lời hứa ấy rất nghiêm túc.
“Steve, tôi phải làm điều này.”
“Ừ. Tôi bảo tôi lo liệu được mà. Vậy nên cậu cứ làm đi. Cứ việc, đồ đánh trống bỏ dùi.”
“Steve, thật nực…”
Nhưng Steve cúp máy. Rich đặt điện thoại xuống. Anh chưa kịp rời đi thì điện thoại lại reo lần nữa, không cần nhấc máy anh cũng biết chắc chắn là Steve gọi, điên tiết hơn bao giờ hết. Nói chuyện thêm với ông lúc này chẳng được tích sự gì, chỉ tổ đổ thêm dầu vào lửa. Anh gạt công tắc bên mé điện thoại sang phải, cắt đứt cuộc gọi đang reo.
Anh lên lầu, lôi hai chiếc va li ra khỏi tủ, nhanh chóng lấp đầy chúng mà không cần nhìn-nào quần jean, áo, quần lót, vớ. Mãi sau đó, anh mới để ý mình lấy toàn đồ phong cách thanh thiếu niên. Đoạn anh mang hai chiếc va li xuống tầng dưới.
Trên bức tường trong phòng làm việc của anh treo bức ảnh Big Sur trắng đen của nhiếp ảnh gia Ansel Adams. Rich lật ngược nó bằng bản lề giấu phía sau, để lộ một két sắt. Sau khi mở két, anh lần mò qua đống giấy tờ-giấy tờ căn nhà lọt thỏm giữa khu vực đường đứt gãy và khu vực hay xảy ra cháy rừng, hai mươi mẫu đất rừng lâm nghiệp ở Idaho và rất nhiều cổ phiếu. Anh mua những cổ phiếu này hết sức tùy hứng - khi tay môi giới thấy Rich xuất hiện, anh ta lập tức ôm đầu – thế mà cổ phiếu cứ tăng đều đều qua các năm. Thỉnh thoảng, anh ngạc nhiên trước ý nghĩ anh sắp sửa – không quá, nhưng sắp đạt đến mức – giàu sang. Tất cả là nhờ nhạc rock and roll… và tất nhiên là nhờ các Giọng nói.
Nhà, đất, cổ phiếu, hợp đồng bảo hiểm, thậm chí có cả bản sao di chúc cuối cùng của anh. Đó là những sợi dây cột chặt ta vào bản đồ cuộc đời mình, anh thầm nhủ.
Bỗng dưng anh nổi hứng muốn lôi chiếc bật lửa Zippo ra, đốt hết những thứ vớ va vớ vẩn “rằng thì là vì” này, nào “Văn bản thông báo cho mọi người được biết…” và “Người nắm giữ giấy tờ này có quyền…” Anh dư sức làm thế. Đột nhiên, giấy tờ trong két sắt chẳng còn ý nghĩa gì đối với anh nữa.
Đó là phút giây đầu tiên khi sợ hãi ập vào anh, và nỗi sợ ấy chẳng có gì ghê gớm. Đơn giản là anh nhận thấy muốn hủy hoại đời mình dễ dàng đến nhường nào. Điều đó thật đáng sợ. Anh có thể kéo quạt đến chỗ những thứ anh tốn bao năm trời mới góp dựng nên, bật chế độ thật to. Dễ như bỡn. Đốt hết, hoặc thổi bay hết, sau đó lên đường.
Mớ giấy tờ này chỉ là chị em xa của tiền tươi thóc thật, nằm đằng sau mới là hiện kim. Tiền mặt. Bốn mươi nghìn đô-la trong những tờ mười, hai mươi và năm mươi.
Anh lôi hết chúng ra, nhét vào túi quần jean, đoạn tự hỏi phải chăng ngày ấy anh cũng mơ hồ biết mục đích cất tiền vào đây là gì - có tháng anh nhét vào năm mươi đô, tháng sau trăm hai mươi, tháng sau nữa chỉ có mười đô. Tiền tha lâu đầy tổ. Tiền để anh lên đường đi xa.
“Trời ạ, đáng sợ thật,” anh vvô thức thốt lên. Anh bâng quơ nhìn bãi biển từ khung cửa sổ rộng lớn. Bãi biển giờ vắng tanh, không còn những người lướt sóng, cũng chẳng thấy cặp vợ chồng son (giả sử là vậy) kia đâu.
À, vâng, thưa bác sĩ – tôi nhớ lại hết rồi. Ví dụ như Stanley Iris chẳng hạn? Tôi dám chắc tôi còn nhớ… Nhớ ngày xưa mình hay dùng cách nói này và nghĩ rằng nó thật ngầu? Đám du côn hay gọi cậu ấy là Stanley U Đít. “Ê, U Đít! Ê, thằng giết chúa Giê-su. Mày đi đâu đấy? Thằng bạn bê đê sắp thổi kèn cho mày hả?”
Anh đóng sập két sắt rồi xoay bức ảnh về vị trí cũ. Lần cuối cùng anh nghĩ đến Stan Uris là khi nào nhỉ? Năm năm trước? Mười năm? Hay hai mươi năm? Rich và cả gia đình rời Derry vào mùa xuân năm 1960, và chẳng mấy chốc, khuôn mặt của tất cả bọn họ đã nhạt phai, nhóm bạn của anh, một nhóm mặt những đứa cùi bắp với phòng sinh hoạt nho nhỏ ở Vùng Đất Cằn – cái tên rõ kỳ cục cho một khu đất lúc nào cũng um tùm rậm rạp. Cả đám vờ là những kẻ thám hiểm rừng thiêng, nhóm Ong Biển đang tạo đường băng hạ cánh trên rặng san hô vòng ở Thái Bình Dương trong lúc cầm chân quân Nhật, vờ là những người xây đập, cao bồi, phi hành gia ở rừng xanh, vân vân và mây mây, nhưng dù là gì thì cũng đừng quên bản chất thực sự: chúng chỉ đang ẩn nấp. Ẩn nấp khỏi đám to con. Ẩn nấp khỏi Henry Bowers, Victor Criss và Huggins Ợ Hơi cùng bè lũ bọn chúng. Cả đám bọn họ ngày ấy quả là cùi bắp – Stan Uris với cái mũi Do Thái rõ to, Bill Denbrough chẳng nói được gì ngoài câu “Hỡi Ánh Bạc!” mà không cà lăm đến mức bực mình, Beverly Marsh với những vết bầm tím và thuốc lá cuộn lại trong ống tay áo khoác, Ben Hanscom to con nhìn như thể phiên bản con người của Moby Dick, Richie Tozier với cặp kính dày cộm, điểm số trung bình lúc nào cũng A, cái miệng liến láu, khuôn mặt gợi đòn. Có từ nào đo ni đóng giày cho bọn họ không nhỉ? À đúng rồi. Lúc nào chẳng có. Le mot juste . Trong trường hợp này, le mot juste có nghĩa là dấm dớ .
Cá nhà táng bạch tạng khổng lồ được hư cấu trong tiểu thuyết Moby Dick của Herman Melville.
Bỗng dưng mọi thứ ùa về, tất cả ùa về… và giờ đây, anh đang đứng giữa phòng làm việc, run lập cập đến thảm hại, như gã vô gia cư mắc phải cơn giông, run rẩy vì anh không chỉ nhớ lại đám bạn đã chạy trốn cùng mình mà nhớ cả những thứ khác, những thứ bao năm qua anh chẳng buồn nghĩ đến, ngấm ngầm bên dưới bề mặt.
Những thứ đẫm máu.
Bóng tối. Thứ bóng tối đen đặc.
Căn nhà trên đường Neibolt, cảnh Bill hét lên: Mày gi-giết em trai tao, độ kh-kh-khốn kiếp!
Liệu anh còn nhớ? Anh nhớ đủ để không muốn nhớ thêm, và riêng điều đó là chắc chắn.
Mùi rác, mùi phân, và thêm một mùi khác. Thứ mùi khủng khiếp hơn bất cứ thứ gì. Đó là thứ mùi hôi thối của quái vật, của Nó, lẩn khuất trong bóng tối của Derry, nơi máy móc đì đùng chạy. Anh nhớ George…
Nhưng điều đó vượt qua ngưỡng chịu đựng của anh, anh vội lao về phía phòng tắm, trên đường tông phải chiếc ghế Eames và mém ngã lăn quay. Anh loạng choạng… may không sấp mặt. Anh trượt đầu gối trên những viên gạch men nhẵn bóng vào nhà vệ sinh như một tay vũ công break dance kỳ cục, chộp lấy bệ và nôn thốc nôn tháo mọi thứ trong bụng mình. Thế mà ký ức vẫn không ngừng hiện ra, bỗng dưng anh có thể thấy Georgie Denbrough như thể anh mới gặp ngày hôm qua, cậu bé Georgie khởi nguồn cho tất cả mọi chuyện, cậu bé Georgie bị sát hại vào mùa thu năm 1957. Georgie đã chết ngay sau cơn lũ, một tay đứt lìa, và Rich đã chặn tất cả những điều này ra khỏi ký ức. Nhưng thỉnh thoảng, chúng lại trỗi dậy, thật là thế, chúng trỗi dậy, thỉnh thoảng chúng lại hiện về.
Cơn co thắt qua đi và Rich mò mẫm giật nước. Nước ào ào xả xuống. Cái đống nóng hổi gớm guốc từng là bữa ăn xế của anh biến mất xuống cống.
Vào cống nước thải.
Vào thứ mùi thối hoẵng và bóng tối dưới cống nước thải.
Anh đóng nắp bồn lại, tựa trán lên đó và nước mắt cứ thế tuôn rơi. Kể từ khi mẹ anh qua đời vào năm 1975, đây là lần đầu tiên anh rơi lệ. Chẳng buồn nghĩ xem mình đang làm gì, anh lấy hai tay ôm mắt, cặp kính áp tròng anh đeo rơi ra, nằm lấp lánh trong lòng bàn tay.
Chừng bốn mươi phút sau, cảm thấy được gột bỏ và phần nào thanh lọc, anh thảy va li lên thùng chiếc MG và lái nó ra khỏi ga-ra. Bóng ngả chiều hôm. Anh nhìn căn nhà với những khóm cây mới trồng, anh nhìn bãi biển, nhìn làn nước giờ đang phản chiếu màu ngọc lục bảo nhạt, đan xen là dải màu vàng rất mạnh. Và bỗng một niềm tin mãnh liệt chiếm trọn đầu óc anh, rằng anh sẽ không bao giờ được chiêm ngưỡng khung cảnh này nữa, rằng chưa gì anh đã như kẻ tội đồ chờ lĩnh án tử.
“Về nhà thôi,” Rich Tozier thì thầm với chính mình. “Về nhà, Chúa làm ơn làm phước, về nhà thôi.”
Anh khởi động xe, một lần nữa càng thấm thía cuộc đời vững chãi anh từng có và đêm đen chỉ cách nhau một lằn ranh – chỉ cần đưa chân là anh đã bước qua màn đêm bên kia, dong buồm rời khỏi màu xanh và bước vào bóng tối đen như mực.
Ra khỏi màu xanh và bước vào bóng tối, phải, là thế đấy. Nơi anh không biết thứ gì đang chực chờ mình.
Nếu vào đêm ngày 28 tháng 5 năm 1985, bạn muốn tìm người đàn ông mà tạp chí Time ca ngợi “có lẽ là kiến trúc sư tiềm năng nhất nước Mỹ” (“Bảo tồn Năng lượng Đô thị và Giới trẻ Thổ Nhĩ Kỳ”, Time , ngày 15 tháng 10 năm 1984), bạn sẽ phải lái xe về hướng Tây ra khỏi Omaha vào Xa lộ Liên Tiểu Bang 80. Bạn sẽ phải ra ở lối Swedholm, lên Xa lộ 81 vào trung tâm Swedholm (thật ra cũng khá đìu hiu). Ở đó, bạn rẽ vào Xa lộ 92 tại Bucky’s Hi-Hat Eat-Em-Up (“Bít tết Gà nướng là Đặc sản của Tiệm”) và sau khi đã chạy vào vùng quê, bạn rẽ phải vào Xa lộ 63, chạy thẳng tăm tắp một đường băng qua thị trấn nhỏ và vắng như chùa bà đanh mang tên Gatlin, dẫn vào Hemingford Home. Trung tâm thị trấn Hemingford Home khiến trung tâm Swedholm chẳng thua gì thành phố New York; khu kinh doanh bao gồm tám tòa nhà, năm tòa bên này đường và ba tòa bên kia. Có một tiệm cắt tóc nam mang tên Kleen Kut (bên dưới cửa sổ trưng tấm biển màu vàng với dòng chữ viết tay vừa tròn mười lăm tuổi đề Nếu quý vị là dân “hippy” thì vui lòng cắt tóc chỗ khác ), một rạp chiếu phim chiếu phim cũ và một tiệm bán đồ giá năm xu và mười xu. Có một chi nhánh của Ngân hàng Gia chủ Nebraska, trạm xăng 76, nhà thuốc Rexall cùng Trang trại Quốc gia & Cung cấp Dụng cụ – đây là trụ sở kinh doanh duy nhất trong thị trấn le lói chút tiềm năng.
Về cuối đường chính, cách các tòa nhà còn lại một đoạn không xa, sát rìa vùng đồng không mông quạnh này tọa lạc một quán rượu bình dân mang tên Bánh xe Đỏ. Nếu lặn lội đến đây, bạn sẽ thấy trong bãi giữ xe bụi mù đầy ổ gà một chiếc Cadillac mui trần 1968 dạn dày sương gió, với cặp ăng ten CB cắm phía sau. Bảng đăng ký xe phía trước chỉ ghi ngắn gọn: Caddy của Ben. Và bên trong, khi bước đến quầy bar, bạn sẽ tìm thấy người đàn ông mà ta đang bàn tới – cao lêu nghêu, da rám nắng, vận chiếc áo sơ-mi chất liệu chambray, quần jean bạc phếch và xỏ đôi bốt trầy xước. Có những nếp nhăn rất mảnh nơi khoé mắt, còn lại da mặt anh láng bóng. Nhìn anh trẻ hơn tuổi thật của mình – tức ba mươi tám tuổi – phải đến mười năm.
Được làm bằng cotton và nhuộm màu xanh chàm.
“Xin chào, anh Hanscom.” Ricky Lee lên tiếng, đặt khăn giấy lên quầy bar lúc Ben ngồi xuống. Ricky Lee tỏ ra chút ngạc nhiên, mà thật sự là thế. Anh chưa bao giờ thấy Hanscom đến Bánh xe Đỏ vào cuối tuần. Anh thường đến đây uống hai cốc bia vào mỗi tối thứ Sáu, và bốn hoặc năm cốc vào tối thứ Bảy; anh luôn thân tình hỏi thăm ba cậu con trai của Ricky Lee; anh luôn để lại năm đô-la tiền boa dưới cốc bia của mình khi ra về. Xét trên cả phương diện công việc và phương diện cá nhân, anh luôn là khách hàng ưa thích của Ricky Lee. Mười đô-la hằng tuần (và năm mươi đô-la để dưới đáy ly vào dịp Giáng sinh suốt năm năm qua) là quá tuyệt, song đáng quý hơn cả là có một người bằng hữu như anh. Bạn tốt hiếm có như đãi cát tìm vàng, nhưng ở một quán rượu rẻ tiền, nơi lời nói chỉ là đầu môi chót lưỡi, bạn tốt còn hiếm hơn cả răng gà.
Hanscom xuất thân ở New England, học đại học ở California, nhưng con người anh lại đậm chất phong trần của dân Texas. Ricky Lee luôn trông chờ Ben Hanscom ghé qua vào tối thứ Sáu và thứ Bảy, vì qua bao năm, điều đó đã trở thành thông lệ. Anh Hanscom có thể xây dựng một tòa nhà chọc trời ở New York (anh đã xây ba tòa nhà nổi danh nhất thành phố), một phòng triển lãm nghệ thuật mới ở bãi biển Redondo hoặc một tòa nhà kinh doanh ở thành phố Salt Lake, nhưng cứ đến tối thứ Sáu, khoảng 8 giờ đến 9 giờ 30 phút, cánh cửa dẫn ra bãi đậu xe sẽ mở, rồi anh sẽ thong thả bước vào, như thể anh sống ngay phía bên kia thị trấn và quyết định tạt vào quán bar cho vui vì trên ti vi chẳng có gì thú vị. Anh có chiếc máy bay Learjet của riêng mình và một đường bay riêng trong trang trại của anh ở Junkins.
Hai năm trước anh sống ở London, đầu tiên là thiết kế, sau đó là giám sát xây dựng trung tâm truyền thông BBC mới – một tòa nhà mà đến tận bây giờ vẫn tốn biết bao giấy mực của báo giới Anh tranh luận về lợi và hại (tờ Guardian : “Có lẽ đây sẽ là tòa nhà mỹ lệ nhất được xây dựng ở London trong hơn 20 năm qua”, tờ Mirror : “Ngoài khuôn mặt mẹ vợ của tôi sau vài tăng ở quán rượu thì đây là thứ xấu nhất tôi từng thấy”). Khi anh Hanscom nhận dự án đó, Ricky Lee đã tự nhủ, Chà, rồi mình sẽ sớm gặp lại anh ấy. Hoặc có khi anh ấy quên hết mọi người ở đây. Và thật vậy, sau khi Ben Hanscom sang Anh, tối thứ Sáu đến rồi trôi qua mà không thấy bóng dáng anh xuất hiện, dù suốt từ 8 giờ đến 9 giờ 30, khi nào cửa mở, Ricky cũng ngẩng lên nhìn. Chà, rồi mình sẽ sớm gặp lại anh ấy thôi. Có lẽ thế. Hóa ra anh đã đúng, vì tối hôm sau, Hanscom xuất hiện. Cửa mở lúc 9 giờ 45 phút, người đàn ông ấy thong thả bước vào, mặc quần jean, áo thun đề chữ GO ‘BAMA và mang đôi giày cũ kĩ, như thể anh mới từ bên kia thị trấn về. Và khi Ricky Lee mừng rỡ la lên, “Ở kìa, anh Hanscom! Trời ơi! Anh làm gì ở đây thế?” thì anh Hanscom ngạc nhiên ra mặt, như thể chẳng có điều gì bất thường về việc anh xuất hiện tại nơi này. Mà không phải chỉ một lần, tối thứ Bảy tuần nào anh cũng đến đây trong suốt hai năm tham gia sát sao vào dự án của đài BBC. Thấy Ricky Lee có vẻ quan tâm, anh kể mỗi sáng thứ Bảy, lúc 11 giờ, anh rời London trên chiếc máy bay Concorde và đến sân bay Kennedy ở New York lúc 10 giờ 15 phút sáng - bốn mươi lăm phút trước thời điểm anh rời London, ít nhất theo giờ đồng hồ là thế (“Trời ơi, cứ như du hành vượt thời gian ấy nhỉ?” Ricky Lee mắt tròn mắt dẹt thốt lên). Một chiếc limousine đã đợi sẵn để đưa anh đến sân bay Teterboro ở New Jersey, một chuyến đi thường mất chưa tới một tiếng vào sáng thứ Bảy. Anh sẽ có mặt trong buồng lái của chiếc máy bay Lear của mình trước buổi trưa một cách dễ dàng và đáp xuống Junkins tầm 2 giờ 30 phút. Anh nói với Ricky rằng nếu chúng ta cứ đi về phía Tây với tốc độ đủ nhanh, ta sẽ có cảm giác ngày dài vô tận. Anh sẽ chợp mắt hai tiếng, dành một tiếng với quản đốc và nửa tiếng với thư ký. Anh sẽ dùng bữa tối rồi đến Bánh xe Đỏ trong một hoặc một tiếng rưỡi. Lúc nào anh cũng đi một mình, ngồi ở quầy một mình rồi ra về một mình, dù có khối phụ nữ ở Nebraska này sẵn sàng trao thân cho anh. Về lại trang trại, anh sẽ ngủ sáu tiếng, và toàn bộ quá trình tiếp tục lặp đi lặp lại. Khách hàng nào nghe Ricky kể cũng hết sức ấn tượng. Có thể anh ta đồng tính, một phụ nữ từng nhận xét như thế. Ricky Lee liếc nhìn cô, quan sát mái tóc tạo kiểu cầu kỳ, bộ quần áo may đo kỹ lưỡng mà hẳn do nhãn hiệu thiết kế, đôi bông tai kim cương, ánh nhìn trong mắt cô, và anh nhận ra hẳn cô là người miền Đông, có lẽ là từ New York, đến đây thăm họ hàng hoặc có khi thăm bạn cùng trường ngày xưa vì nghĩa vụ, cô đang sốt ruột chỉ muốn rời khỏi đây. Không, anh đáp. Hanscom không ẻo lả như vậy. Cô lấy từ trong túi ra một bao thuốc lá Doral, kẹp một điếu giữa đôi môi đỏ mọng cho đến khi anh châm thuốc cho cô. Làm sao anh biết? Cô hỏi, thoáng mỉm cười. Biết thì biết thế thôi, anh đáp. Mà thật là thế. Anh còn tính trả lời cô: Tôi nghĩ anh ấy là người cô đơn nhất tôi từng gặp trong đời. Nhưng anh lặng thinh, không tính nói điều đó với người phụ nữ New York đang nhìn anh như thể anh sống cuộc đời kỳ khôi và thú vị.
Tối nay, anh Hanscom nhìn có vẻ nhợt nhạt và phân tâm.
“Chào anh, Ricky Lee,” dứt lời, anh ngồi xuống và mân mê bàn tay mình.
Ricky Lee biết trong sáu đến tám tháng tiếp theo, anh sẽ đi đi về về Colorado Springs, giám sát khởi công Trung tâm Văn hóa các Tiểu bang Miền núi, một khu phức hợp gồm sáu tòa nhà rộng mênh mông, ăn sâu vào sườn núi. Khi khu này hoàn thành, người ta sẽ nhận xét quang cảnh trông như có một đứa trẻ khổng lồ vứt đồ chơi lung tung trên cầu thang, Ben đã nói với Ricky Lee như thế. Sẽ có người nói vậy cho xem, và họ đúng một nửa. Nhưng tôi nghĩ nó sẽ thành công. Đây là công trình lớn nhất tôi từng xây nên tôi cũng lo lắm, nhưng tôi nghĩ nó sẽ thành công.
Ricky Lee đoán chắc anh Hanscom căng thẳng do bị công chúng chú ý. Chẳng có gì bất ngờ, cũng không có gì sai. Khi trở nên nổi tiếng, ta sẽ trở thành tâm điểm cho thiên hạ bàn ra tán vào. Hoặc có khi ban nãy anh ấy vừa chạm phải côn trùng độc. Quanh đây côn trùng nhiều như nấm.
Ricky Lee lấy một cốc bia từ quầy sau và vặn vòi bia Olympia.
“Khỏi rót, Ricky Lee.”
Ricky Lee quay lại, đầy ngạc nhiên – và khi Ben Hanscom thôi nhìn chằm chằm bàn tay của mình mà ngẩng lên, anh chợt hoảng hốt. Vì trông anh Hanscom không có vẻ căng thẳng, cũng chẳng lo bị dính vi-rút từ côn trùng. Nhìn anh như thể vừa lãnh một cú trời giáng và đang cố tìm hiểu xem thứ gì đã quật vào người mình.
Chắc nhà anh ấy vừa có người mất. Anh ấy chưa kết hôn, nhưng ai chẳng có gia đình, và hẳn là ai đó trong nhà anh ấy vừa qua đời. Hẳn là thế, chắc chắn như cục phân lăn xuống đồi từ nhà xí ngoài trời.
Một vị khách thả đồng hai mươi lăm xu vào máy chơi nhạc, và rồi giọng của Barbara Mandrell cất lên, tỉ tê về một chàng trai xay xỉn và một cô gái cô đơn.
“Anh ổn chứ, anh Hanscom?”
Ben Hanscom nhìn Ricky Lee với đôi mắt đột nhiên già hơn những phần còn lại trên khuôn mặt những mười – à không, hai mươi – tuổi, và Ricky Lee bàng hoàng nhận ra tóc của Hanscom đã ngả màu muối tiêu. Thế mà trước giờ, anh chưa bao giờ để ý tóc anh ấy lấm tấm bạc như vậy.
Hanscom mỉm cười. Một nụ cười đáng sợ, gớm ghiếc. Giống như một xác chết đang mỉm cười.
“Tôi nghĩ là không. Không anh ạ. Tối nay thì không. Không ổn chút nào.”
Ricky Lee đặt ly xuống, đoạn bước lại nơi Hanscom đang ngồi. Quầy bar vắng tanh vắng ngắt, tựa một quán rượu vào tối thứ Hai ngoài mùa bóng bầu dục. Có chưa tới hai mươi khách hàng trong quán. Annie đang ngồi cạnh cửa dẫn vào nhà bếp, chơi bài Cribbage với người đầu bếp chuyên nấu những món nhanh gọn, dễ làm.
“Tin xấu sao, anh Hanscom?”
“Tin xấu, anh nói phải. Tin xấu từ quê tôi.” Anh nhìn Ricky Lee.
“Tôi rất tiếc khi nghe điều đó, anh Hanscom.”
“Cảm ơn anh, Ricky Lee.”
Dứt lời, anh rơi vào trầm tự im lặng. Ricky Lee định bụng hỏi liệu mình có thể giúp gì không thì Hanscom lên tiếng:
“Whiskey của tiệm anh là loại gì, Ricky Lee?”
“Với người khác thì tôi phục vụ Four Roses,” Ricky Lee đáp. “Nhưng riêng anh thì tôi nghĩ tôi sẽ lấy Wild Turkey.”
Nghe thấy thế, Hanscom khẽ mỉm cười. “Anh nhiệt tình quá. Tôi thấy anh cứ lấy ly bia kia đi. Sau đó anh rót đầy Wild Turkey vào cho tôi.”
“Rót đầy sao?” Ricky Lee hỏi, ngạc nhiên ra mặt. “Lạy Chúa, tôi sẽ phải lăn anh ra khỏi đây mất!” Hoặc gọi xe cấp cứu, anh nghĩ thầm trong đầu.
“Không phải đêm nay,” Hanscom nói. “Tôi không nghĩ vậy.”
Ricky Lee cẩn trọng nhìn vào mắt Hanscom để đánh giá xem liệu anh có đang bông đùa không, và chưa tới một giây thì người chủ quán bar nhận ra vị khách này đang hết sức nghiêm túc. Vì vậy, anh lấy cốc bia từ sau quầy và chai rượu Wild Turkey từ kệ rượu bên dưới. Cổ chai lanh canh va vào thành cốc lúc anh bắt đầu rót. Anh nhìn rượu whiskey ồng ộc tuôn ra, đến bản thân cũng bất ngờ. Ricky Lee tự nhủ xem chừng trong người anh Hanscom không chỉ có một chút máu của dân Texas: chắc chắn đây sẽ là shot rượu whiskey khủng nhất mà anh đã rót hoặc sẽ rót trong đời mình.
Gọi cấp cứu con khỉ. Anh ấy mà nốc hết chừng này thì mình gọi luôn Parker và Waters ở Suedholm để lo liệu hậu sự cũng nên.
Dẫu vậy, anh vẫn đem nó đến trước mặt Hanscom; bố của Ricky Lee từng nói với anh rằng nếu đầu óc của khách hàng không có gì bất thường, thì họ trả tiền thứ gì, ta phải phục vụ thứ đó, dù là nước tiểu hay thuốc độc. Ricky Lee không rõ liệu lời khuyên này tốt hay tồi, nhưng anh biết cần câu cơm của anh là pha chế, và tốt hơn hết anh không để lương tâm giày vò mình.
Hanscom tư lự nhìn ly rượu điên rồ, đoạn cất tiếng hỏi: “Tôi nợ anh bao nhiêu cho một shot thế này, Ricky Lee?”
Ricky Lee chậm rãi lắc đầu, mắt vẫn nhìn ly rượu whiskey đầy, không muốn ngước lên và bắt gặp đôi mắt trũng sâu của người đối diện. “Không,” anh nói. “Tôi mời anh ly này.”
Hanscom lại mỉm cười, lần này tự nhiên hơn. “Sao thế, cảm ơn anh, Ricky Lee. Vậy để tôi kể anh nghe một vài điều tôi học được Peru vào năm 1978 nhé. Hồi ấy, tôi làm việc với một người tên là Frank Billings – hay nói đúng hơn, tôi học việc từ người này. Tôi nghĩ Frank Billings là kiến trúc sư có số phận hẩm hiu nhất thế giới. Ông ấy bị sốt và các bác sĩ tiêm cả tỷ loại kháng sinh khác nhau vào người nhưng vẫn không có tác dụng. Ông ấy sốt liên tục hai tuần rồi qua đời. Điều tôi sắp sửa kể với anh là điều tôi học từ người da đỏ cũng tham gia dự án. Loại rượu whiskey hạng rởm ở đó rất mạnh. Anh uống một ngụm và cứ tưởng nó sẽ trôi tuột xuống bụng, thế mà đột nhiên, như thể có ai đó thắp đèn khò trong miệng anh và cắm nó xuống tận họng. Thế mà dân da đỏ uống thứ rượu ấy như uống Coca-Cola, và họa hoằn lắm tôi mới thấy họ xỉn, chưa bao giờ tôi thấy họ còn tê tê qua ngày hôm sau. Tôi nhát nên chưa thử bao giờ. Song tôi nghĩ, tối nay tôi sẽ thử điều mới. Đưa tôi vài miếng chanh bên kia với.”
Ricky Lee mang đến bốn miếng, đặt ngay ngắn lên giấy ăn bên cạnh ly rượu whiskey. Hanscom cầm lấy một miếng, đoạn ngẩng đầu ra sau như người ta chuẩn bị nhỏ thuốc nhỏ mắt, sau đó, anh bắt đầu vắt nước cốt chanh vào lỗ mũi bên phải.
“Ôi Chúa ơi!” Ricky Lee ré lên kinh hãi.
Cổ họng của Hanscom giật giật. Khuôn mặt anh đỏ dần… và rồi Ricky Lee nhìn thấy những giọt nước mắt tuôn trào, rơi xuống mặt, chảy xuống tai anh. Máy chơi nhạc đang phát bài của nhóm Spinners, hát về một chàng trai dây thun. “Chúa ơi, con thành thật không biết con phải chịu đựng điều này đến đâu,” Spinners ngân nga.
Mò mẫm trên quầy bar, Hanscom chộp thêm một miếng chanh và vắt nước cốt vào lỗ mũi còn lại của mình.
“Anh làm thế này không khác gì tự sát,” Ricky Lee thì thầm.
Hanscom ném hai miếng chanh đã kiệt nước lên quầy. Mắt anh đỏ lừ, anh hít vào thành nhịp giật cục và nhăn nhó. Anh quờ tay đến ly rượu, đưa lên miệng uống hết một phần ba. Ricky Lee đờ người nhìn quả khế của anh nhịp nhàng lên xuống.
Hanscom đặt ly rượu sang một bên, rùng mình hai cái rồi gật đầu. Anh nhìn Ricky Lee và khẽ mỉm cười. Mắt anh không còn đỏ nữa.
“Nó có tác dụng y chang những gì người ta bảo. Ta quá chú tâm đến mũi nên không cảm nhận được thứ gì đang trôi xuống cổ họng.”
“Hanscom, anh điên rồi,” Ricky Lee vẫn còn ngỡ ngàng.
“Chuẩn không cần chỉnh,” Hanscom đáp. “Anh có nhớ câu đó không, Ricky Lee? Hồi còn bé, chúng ta hay nói “Chuẩn không cần chỉnh”. À mà tôi từng kể với anh ngày xưa tôi béo ú chưa nhỉ?”
“Chưa, anh chưa bao giờ kể,” Ricky Lee khẽ nói. Giờ thì anh dám chắc Hanscom đã nhận được thông tin gì đó hết sức khủng khiếp nên mới phát điên… hoặc tạm rời bỏ giác quan thông thường như thế này.
“Trước đây, tôi như cái lu. Tôi chẳng bao giờ chơi bóng chày hay bóng rổ, lúc nào cũng bị bắt đầu tiên nếu cả bọn chơi đuổi bắt, chẳng được tích sự gì. Tôi béo lắm, thật sự là thế đấy. Và có một số kẻ du côn ở thị trấn quê nhà suốt ngày lấy tôi ra làm trò đùa. Có một đứa tên là Reginald Huggins, mọi người hay gọi là Ợ Hơi. Một đứa tên Victor Criss. Và còn vài đứa nữa. Nhưng đầu não thật sự của đám ấy là một thằng tên Henry Bowers. Nếu hỏi tôi ai là đứa trẻ xấu xa nhất trên cõi đời này, Ricky Lee ạ, thì hẳn đó chính là Henry Bowers. Tôi không phải đứa con nít duy nhất bị cậu ta bắt nạt; vấn đề nằm ở chỗ, tôi chạy không nhanh bằng những người khác.”
Hanscom cởi nút áo và phanh ra. Cúi người về phía trước, Ricky Lee nhìn thấy một vết sẹo méo mó, lạ thường trên bụng anh, ngay trên rốn. Nhăn nhúm, trắng bệch và có vẻ đã lâu. Anh bảo đó là một chữ cái, Ai đó đã khắc chữ “H” lên bụng anh, có lẽ đã rất lâu trước khi Hanscom trở thành một người đàn ông.
“Thủ phạm là Henry Bowers đấy. Chuyện xảy ra cả nghìn năm về trước rồi. May là tôi không phải mang đầy đủ tên họ của cậu ta dưới bụng.”
Hanscom lại lấy thêm hai miếng chanh, mỗi tay cầm một miếng, ngẩng đầu về phía sau và vắt chanh như thể nó là thuốc nhỏ mũi. Anh run lên đau đớn, đoạn bỏ chúng qua một bên và nốc thêm hai ngụm rượu rõ to. Rùng mình, anh hợp thêm ngụm nữa rồi lần mò mép quầy bar với đôi mắt nhắm nghiền. Anh giữ rịt lấy nó như một người cố sống cổ chết bám vào thanh chắn thuyền buồm trong cơn sóng dữ. Đoạn anh mở mắt và mỉm cười với Ricky Lee.
“Tôi có thể chinh phục con bò tót này cả đêm ấy chứ,” anh nói.
“Anh Hanscom, tôi thành thật mong anh đừng làm vậy nữa,” Ricky Lee lo lắng khuyên can.
Annie bước đến quầy phục vụ, cầm theo khay và gọi vài chai Millers. Ricky Lee lấy cho cô. Đôi chân anh bủn rủn.
“Anh Hanscom ổn chứ, anh Ricky Lee?” Annie hỏi. Cô nhìn qua Ricky Lee khiến anh bất giác quay đầu nhìn theo. Anh Hanscom đang nhoài người ở quầy bar, cẩn thận lựa những miếng chanh từ khay đựng đồ trang trí cho thức uống của Ricky Lee.
“Tôi không biết,” anh thành thật. “Tôi đoán là không.”
“Anh phải làm gì đi chứ.” Cũng như rất nhiều phụ nữ khác, Annie có cảm tình với Ben Hanscom.
“Tôi không biết nữa. Bố tôi luôn bảo nếu đầu óc của khách hàng không có gì bất thường…”
“Bố anh còn chẳng có bộ não mà Chúa ban cho loài chuột nữa kìa,” Annie chặn họng. “Đừng bận tâm đến bố anh nữa. Anh phải dừng chuyện này lại, Ricky Lee. Anh ấy sẽ đi đời nhà ma mất.”
Sau khi nhận lệnh, Ricky Lee quay trở lại chỗ Ben Hanscom ngồi. “Anh Hanscom à, tôi thật sự nghĩ anh…”
Hanscom lại nghiêng đầu về phía sau. Vặn vẹo. Hít hà nước chanh theo nghĩa đen, như thể đó là cô-ca-in. Anh nốc whiskey như nước. Anh nhìn Ricky Lee đầy nghiêm nghị. “Bính bong, tôi thấy cả đám người lon ton, nhảy trên thảm phòng khách nhà tôi,” anh ngân nga rồi cười khùng khục. Trong ly chỉ còn khoảng năm phân rượu.
“Vậy là đủ rồi,” Ricky Lee nói, đoạn với lấy ly rượu.
Hanscom nhẹ nhàng đẩy nó ra khỏi tầm tay anh. “Sự đã rồi, Ricky Lee,” anh nói. “Sự đã rồi, chàng trai ơi.”
“Tôi có chút quà cho bọn trẻ nhà anh đây, Ricky Lee. Suýt nữa thì quên mất!”
Anh thò tay vào túi chiếc áo khoác gi-lê jean đã bạc màu, Ricky Lee nghe thấy tiếng lanh canh khe khẽ.
“Bố tôi qua đời năm tôi lên bốn,” Hanscom kể. Giọng anh không chút lè nhè. “Để lại khoản nợ chồng chất và mấy đồng bạc này. Tôi tặng lại các con anh, Ricky Lee.” Anh để ba đồng bạc lên quầy khiến chúng lấp lánh dưới ánh sáng dìu dịu. Ricky Lee kinh ngạc.
“Anh Hanscom, thế thì quý hóa quá, nhưng tôi không…”
“Ngày trước tôi có bốn đồng, nhưng tôi tặng một đồng cho Bill Cà Lăm và nhóm bạn. Tên thật của cậu ấy là Bill Denbrough. Còn Bill Cà Lăm là biệt danh bọn tôi hay gọi, như chúng ta hay quen miệng nói câu ‘Chuẩn không cần chỉnh’. Cậu ấy là một trong những người bạn tri kỉ của tôi – anh biết không, tôi cũng có dăm ba người bạn, dù lúc ấy tôi béo như con heo nhưng vẫn có. Hiện giờ, Bill Cà Lăm đang là một tiểu thuyết gia.”
Ricky Lee bỏ ngoài tai những lời đối phương nói. Anh nhìn vào mấy đồng tiền như bị hớp hồn. 1921, 1923 và 1924. Chỉ ông trời mới biết hiện tại chúng trị giá bao nhiêu, tính theo lượng bạc nguyên chất bên trong.
“Tôi không nhận đầu, anh lặp lại.
“Nhưng tôi thật lòng tặng anh mà,” Hanscom cầm ly rượu nốc cạn. Đáng lý giờ anh ấy phải gục rồi, thế mà đôi mắt của anh vẫn không rời Ricky Lee. Mắt anh ươn ướt và đỏ ngầu, nhưng Ricky Lee dám thề trên cả chồng sách Kinh Thánh rằng đó là đôi mắt của một người đàn ông tỉnh táo.
“Anh làm tôi hơi sợ đấy, anh Hanscom,” Ricky Lee nói. Hai năm trước, Gresham Arnold, một tay bợm nhậu nức tiếng làng xóm, bước vào Bánh xe Đỏ với cọc tiền hai mươi lăm xu trên một tay và tờ hai mươi đô-la giắt vào viền mũ. Anh ta đưa số tiền ấy cho Annie, đoạn bảo cô nhét bốn đồng hai mươi lăm xu vào máy chơi nhạc. Anh ta đặt tờ hai mươi đô-la trên quầy và nói Ricky Lee chuẩn bị rượu cho cả quán. Tay bợm nhậu tên Gresham Arnold này ngày xưa từng là siêu sao bóng rổ chơi cho đội Hemingword Rams, đưa đội đến chức vô địch trung học đầu tiên (và có lẽ là cuối cùng). Chuyện xảy ra từ năm 1961. Tương lai xán lạn trải rộng trước mắt chàng trai trẻ. Nhưng rồi vào học kỳ đầu tiên ở trường Đại học Bang Louisiana, cậu bị đuổi học, vì rượu chè, ma túy và tiệc tùng thâu đêm suốt sáng. Cậu về nhà, tông nát con xe mui trần màu vàng mà bố mẹ tặng làm quà tốt nghiệp, an phận thủ thường với vị trí trưởng nhóm bán hàng ở đại lý ô tô John Deene của bố. Năm năm trôi qua. Bố cậu không nỡ sa thải con, rốt cuộc ông bán đứt đại lý ô tô và lui về Arizona, dằn vặt và già khọm trước tuổi vì sự xuống dốc không phanh đầy khó hiểu của cậu con trai. Trong khoảng thời gian ông bố còn làm chủ đại lý ô tô, Arnold giả vờ làm việc, cố gắng nói không với rượu chè, nhưng sau đó, nó khuất phục cậu hoàn toàn. Cậu ta lắm lúc rất xấu tính, nhưng vào cái đêm mang cọc tiền và mở tiệc bù khú ở quán bar, cậu ta rất đáng yêu, ai nấy đều cảm ơn rối rít, còn Annie cứ chơi liền tù tì các bài hát của Moe Bandy vì Gresham Arnold thích ca sĩ này. Ricky Lee rợn người, giật mình nhận ra anh Hanscom đang ngồi trên chính cái ghế mà cậu ta ngồi năm xưa. Arnold cứ thế uống tù tì ba hay bốn ly bourbon pha bitter, ngân nga hát theo máy chơi nhạc, không quậy phá, đến lúc Ricky Lee đóng cửa quán Bánh xe Đỏ thì cậu về nhà, để rồi treo cổ tự sát bằng thắt lưng trong tủ quần áo ở tầng trên. Mắt Gresham Arnold đêm đó hao hao mắt Ben Hanscom lúc này.
“Hình như tôi làm anh sợ rồi phải không?” Hanscom hỏi, đôi mắt vẫn chĩa thẳng vào Ricky Lee. Anh đẩy ly rượu ra xa, đoạn vòng tay ngay ngắn trước ba đồng bạc. “Có lẽ là thế. Nhưng anh không sợ hãi như tôi đâu, Ricky Lee. Và tôi cầu Chúa anh sẽ không bao giờ rơi vào cảnh ngộ như tôi.”
“Chà, có chuyện gì vậy?” Ricky Lee hỏi. “Nếu được…” Anh liếm môi. “Nếu được thì tôi xin giúp anh.”
“Chuyện gì ư?” Ben Hanscom bật cười. “Sao thế, không có gì nhiều nhặn đâu. Tôi vừa nhận được một cuộc gọi từ người bạn cũ. Mike Hanlon. Tôi đã quên sạch sành sanh về cậu ấy, Ricky Lee ạ, nhưng chuyện đó chẳng làm tôi sợ lắm. Suy cho cùng, tôi chỉ là một đứa trẻ lúc tôi biết cậu ấy, mà con nít thì chóng quên, đúng không? Chúng có nhớ dai bao giờ. Chuẩn quá còn gì. Điều khiến tôi sợ là trên đường đến đây, tôi chợt nhận ra mình không chỉ quên mất Mike – tôi đã quên tất cả mọi ký ức thuở bé.”
Ricky Lee chỉ lặng thinh nhìn. Anh không hiểu Hanscom đang nói gì – nhưng người đàn ông ấy đang sợ hãi. Đó là điều không có gì phải nghi ngờ. Ben Hanscom mà sợ thì quả là chuyện lạ.
“Ý tôi là tôi đã quên tất tần tật ,” anh nói, khe khẽ gõ nhẹ các đốt ngón tay xuống quầy bar để nhấn mạnh. “Ricky Lee này, anh đã bao giờ nghe đến chuyện một người mắc chứng mất trí nhớ quá nặng, đến nỗi anh ta không biết mình bị mất trí nhớ chưa?”
Ricky Lee lắc đầu.
“Tôi chưa. Nhưng đêm nay, khi đánh con xe Caddy chạy lòng vòng, bỗng dưng suy nghĩ ấy ập đến với tôi. Tôi chợt nhớ ra Mike Hanlon, nhưng chỉ vì cậu ấy gọi điện thoại cho tôi mà thôi. Tôi nhớ cả Derry, nhưng chỉ vì cậu ấy gọi cho tôi từ nơi đó.”
“Derry?”
“Chỉ có thế. Tôi bàng hoàng ngộ ra thậm chí tôi chưa từng nghĩ về việc mình là một đứa trẻ kể từ khi… kể từ khi nào ấy nhỉ, tôi chẳng biết nữa. Và rồi, cứ như thế, mọi thứ bắt đầu ùa vào tâm trí tôi. Ví dụ như chúng tôi dùng đồng bạc thứ tư để làm gì.”
“Anh đã làm gì với nó, anh Hanscom?”
Hanscom nhìn đồng hồ, đoạn đột ngột trượt khỏi ghế. Anh thoáng loạng choạng - rất nhẹ. Và chỉ thế. “Không thể để phí thời gian được” anh nói. “Tối nay tôi bay.”
Ricky Lee sầm mặt nghi ngại, thấy thế, Hanscom phá lên cười.
“Tôi bay chứ tôi không lái máy bay. Lần này thì không. Tôi đã đặt vé United Airlines, anh Ricky Lee.”
“Ồ.” Anh cho rằng sự nhẹ nhõm của mình hiện hết lên khuôn mặt, nhưng anh mặc kệ. “Thế anh đi đâu vậy?”
Áo sơ-mi của Hanscom vẫn còn mở. Anh trầm ngâm nhìn xuống những đường trắng nhăn nhúm của vết sẹo năm xưa rồi bắt đầu cài cúc.
“Tôi tưởng tôi kể với anh rồi chứ, Ricky Lee. Về quê. Tôi về quê anh ạ. Anh tặng đám trẻ mấy đồng bạc nhé.” Nói đoạn anh bắt đầu đi về phía cửa, và trong bước đi của anh, ngay cả cách anh lừng khừng cũng khiến Ricky Lee ghê người. Sao nó lại giống với Gresham Arnold quá cố, không ai thương xót kia đến thế, giống đến độ anh có cảm tưởng gần như đang nhìn thấy hồn ma.
“Anh Hanscom!” Ricky Lee thảng thốt.
Hanscom quay đầu, khiến Ricky Lee vội vàng lùi lại. Mông anh đụng phải quầy bar phía sau khiến đám ly thủy tinh va lanh canh còn những chai rượu gõ vào nhau lộc cộc. Anh lùi lại vì anh chợt hiểu Ben Hanscom đã chết. Phải, Ben Hanscom đã chết ở đâu đó, trong một rãnh nước hoặc tầng áp mái hoặc có thể là trong tủ quần áo với thắt lưng siết quanh cổ, mũi đôi bốt cao bồi trị giá bốn trăm đô-la đung đưa cách mặt sàn chừng vài phân, còn kẻ đang đứng gần máy hát, quay lại nhìn anh, là một bóng ma. Trong một khắc - chỉ một khắc nhưng khoảnh khắc ấy đủ dài để phủ lớp băng mỏng lên trái tim hẵng vang nhịp đập của anh – anh dám chắc anh có thể nhìn xuyên qua người đàn ông kia mà trông thấy bàn ghế.
“Gì thế, Ricky Lee?”
“Kh-kh-không. Không có gì.”
Ben Hanscom nhìn Ricky Lee với đôi mắt đi kèm hai hình lưỡi liềm tím đen bên dưới. Má anh bừng bừng vì rượu; mũi đỏ và sưng.
“Không có gì,” Ricky Lee thì thầm một lần nữa, nhưng anh không tài nào rời mắt khỏi khuôn mặt ấy, khuôn mặt của một người chết trong tội lỗi, và giờ anh ta đang đứng sát cánh cửa nghi ngút khói của địa ngục.
“Ngày ấy tôi béo ú, nhà nghèo rớt,” Ben Hanscom kể. “Giờ thì tôi nhớ rồi. Tôi nhớ hình như cô bạn tên Beverly hoặc Bill Cà Lăm đã cứu tôi bằng đồng bạc. Tôi sợ đến phát điên trước những gì mình sẽ nhớ ra đêm nay, nhưng dù tôi sợ đến đâu cũng vậy cả, vì những ký ức ấy sẽ ùa về. Tất cả ở đó, giống như một bong bóng khổng lồ phình lên trong đầu tôi. Nhưng tôi sẽ đi, vì tất cả những thành tựu tôi đạt được và tất cả những gì tôi đang có phần nào là nhờ những gì ngày xưa chúng tôi từng làm, và trong thế giới này, gieo gì thì gặt nấy. Có lẽ đó chính là lý do Chúa khiến chúng ta sinh ra là trẻ con trước và cho ta sống gần mặt đất, vì ngài biết ta sẽ phải ngã xuống nhiều lần, chảy máu nhiều lần mới học được bài học đơn giản. Ta trả cho thứ ta muốn có, ta sở hữu thứ ta đã trả… và sớm hay muộn, thứ gì thuộc quyền sở hữu của ta sẽ trở về với ta.”
“Nhưng cuối tuần này anh sẽ trở lại chứ?” Ricky Lee hỏi, đôi môi tê dại. Càng lúc càng hoảng hốt, anh chẳng biết nói gì ngoài bấu víu vào câu hỏi ấy. “Anh sẽ quay lại vào cuối tuần như mọi lần, phải không?”
“Tôi chưa biết,” Hanscom trả lời và nở nụ cười méo mó. “Lần này tôi sẽ đi xa hơn nhiều so với London, Ricky Lee.”
“Anh tặng mấy đồng xu cho đám trẻ nhé,” anh lặp lại, đoạn bước vào màn đêm.
“Cái quái gì vậy?” Annie hỏi, nhưng Ricky Lee không thèm để tâm. Anh lật vách ngăn quầy bar lên, đoạn chạy lại cửa sổ trông ra bãi gửi xe. Anh trông thấy đèn pha từ chiếc Caddy của Hanscom bật lên, nghe thấy tiếng động cơ tăng tốc. Xe rời khỏi bãi đất, để lại làn bụi mịt mù. Đèn xe xa dần thành những chấm đỏ dưới Cao tốc 63, và cơn gió đêm của Nebraska thổi qua khiến màn bụi tan tác.
“Anh ấy uống như hũ chìm, vậy mà anh để anh ấy bước vào chiếc xe to đùng kia và lái đi,” Annie xách mé, “Anh được lắm, Ricky Lee.”
“Bỏ đi.”
“Coi chừng anh ấy toi đời thì khổ.”
Dù mới năm phút trước, đó chính là suy nghĩ lởn vởn trong đầu của Ricky Lee, nhưng khi đèn xe biến mất khỏi tầm mắt, anh quay lại nhìn cô, lắc đầu.
“Tôi không nghĩ vậy,” anh nói. “Nhưng trông bộ dạng anh ấy đêm nay thì có lẽ chết còn nhẹ nhõm hơn.”
“Anh ấy nói gì với anh?”
Anh lắc đầu. Tâm trí anh như mớ bòng bong, và tổng lại mọi thứ xem chừng thật vô nghĩa. “Không quan trọng. Nhưng có lẽ chúng ta sẽ chẳng còn dịp gặp lại anh ấy nữa.”
4
EDDIE KASPBRAK UỐNG THUỐC
Nếu muốn biết tất cả những gì cần biết về một người đàn ông hay một người phụ nữ Hoa Kỳ tầng lớp trung lưu vào lúc cận kề của một thiên niên kỷ, ta chỉ cần nhìn vào tủ thuốc của họ – hoặc chí ít đó là những gì người ta hay nói. Nhưng Chúa lòng lành, Ngài hãy thử nhìn vào tủ thuốc này mà xem, khi Eddie Kaspbrak kéo mở tủ, nhân từ gạt qua một bên khuôn mặt trắng bệch và đôi mắt trợn trừng của anh ta.
Ngăn kệ trên cùng để cơ man nào là Anacin, Excedrin, Excedrin PM, Contac, Gelusil, Tylenol và một lọ màu xanh lam rất to đựng Vicks, trông như ánh chạng vạng tối tăm dưới lớp thủy tinh. Có một lọ Vivarino, một lọ Serutan (Đó là chữ Nature – Thiên nhiên viết ngược lại , Lawrence Welk từng nói thế trong quảng cáo khi Eddie Kaspbrak còn là một cậu bé chưa tỏ sự đời), hai chai Phillips Milk of Magnesia – loại thường, có vị như phấn pha thành nước, và loại mới có vị bạc hà, uống như phấn pha nước vị bạc hà. Có một chai Rolaids rất lớn, chen chúc cạnh lọ thuốc Turns to không kém. Lọ Turns lại đứng cạnh lọ Di-Gel vị cam. Ba lọ thuốc này trông chẳng khác nào bộ ba heo đựng tiền tiết kiệm, nhưng bên trong thay vì đựng tiền xu lại nhét đầy thuốc.
Tên các loại thuốc giảm đau, nhức đầu, hạ sốt.
Một loại thuốc giúp người dùng tỉnh táo khi buồn ngủ, mệt mỏi.
Thuốc điều trị táo bón.
Thuốc điều trị chứng khó tiêu, chua bao tử và ợ hơi.
Ngăn thứ hai ngụp lặn trong vitamin: nào là vitamin E, vitamin C, vitamin C kết hợp dầu tầm xuân. Có vitamin B, vitamin B hỗn hợp và vitamin B-12. Có cả thuốc L-Lysine nghe đâu có tác dụng chữa trị các vấn đề đáng xấu hổ về da, và lecithin với công dụng giải quyết đống cholesterol kinh khủng tích tụ bên trong và xung quanh Máy bơm To bự của cơ thể. Có cả sắt, can-xi và dầu gan cá. Có các loại vitamin tổng hợp uống một ngày một viên, vitamin tổng hợp Myadec, vitamin tổng hợp Centrum. Chưa dừng lại ở đây, trên nóc tủ là lọ Geritol khổng lồ.
Một sản phẩm vitamin tổng hợp và sắt.
Dọc theo ngăn kệ thứ ba của Eddie, ta sẽ thấy cầu thủ sân trong của giới thuốc biệt dược. Ex-Lax. Carter's Little Pills. Hai thứ này giúp Eddie Kaspbrak gửi niềm vui xuống đất trơn tru hơn. Chỗ kia, gần đó, là Kaspectate, Pepto-Bismol và PrepAudration H trong trường hợp món quà phọt ra quá nhanh hoặc quá đau. Ngoài ra, có miếng dán Tucks trong hộp vặn nắp để sau khi gửi niềm vui xong, mọi thứ được gọn gàng sạch sẽ, dù món quà đó là một hai tờ quảng cáo hay là một kiện hàng to đùng, cũ rích, yêu cầu giao đặc biệt. Anh có Formula 44 trị ho, Nyquil và Dristan trị cảm lạnh và một chai dầu thầu dầu cỡ lớn. Có một hộp Sucrets phòng trường hợp Eddie cảm lạnh, và có một lô các loại nước súc miệng: Chloraseptic, Cepacol, Cepestat dạng chai xịt, và tất nhiên là cả hãng Listerine lâu năm và uy tín, lắm hãng nhái theo nhưng đẳng cấp không đến. Visine và Murine để nhỏ mắt. Thuốc mỡ Cortaid và Neosporin để bôi da (hàng phòng thủ thứ hai nếu L-Lysine không được như kỳ vọng), một ống Oxy-5 và một chai nhựa Oxy-Wash (vì Eddie thà tốn tiền hơn một tí chứ không muốn bị mụn), cùng một vài viên tetracyline.
Tên các loại thuốc nhuận tràng.
Tên các loại thuốc tiêu chảy, đau bụng.
Thuốc kháng sinh điều trị một số bệnh do nhiễm trùng như mụn trứng cá, dịch tả, dịch hạch, sốt rét và giang mai.
Và ở một bên, túm tụm như những kẻ mưu sâu kế hiểm là ba chai dầu gội đầu tinh chất than.
Ngăn kệ dưới cùng gần như trống không, nhưng thuốc gì để ở đây đều vô cùng có võ – bạn có thể làm chuyến du hành với chúng. Với thứ này, bạn sẽ bay cao hơn máy bay của Ben Hanscom, cắm đầu còn mạnh hơn máy bay của Thurman Munson. Có Valium, Percodan, Elavil và Darvon Complex. Có cả một hộp Sucrets, nhưng bên trong không có viên kẹo ngậm nào mà cất sáu viên Quaalude.
Thurman Munson là một cầu thủ bóng chày chuyên nghiệp, ông qua đời vì tai nạn máy bay.
Tên các loại thuốc chữa chứng lo âu, giảm đau, an thần.
Thuốc làm dịu tạm thời các cơn ho, đau hoặc khó chịu trong cổ họng.
Thuốc an thần.
Eddie Kaspbrak tin vào khẩu hiệu “Cẩn tắc vô ưu” của Hướng đạo sinh.
Anh bước vào phòng tắm, tay đung đưa túi vải màu xanh. Anh để nó lên bồn rửa mặt, kéo khóa, và với đôi tay run rẩy, anh bắt đầu dốc các lọ, chai, tuýp, chai bóp, chai xịt vào túi. Trong những trường hợp khác, anh sẽ lấy chúng theo nắm, từng nắm thật cẩn trọng, nhưng bây giờ không có thời gian để bày vẽ như thế. Eddie nhận thấy sự lựa chọn hết sức đơn giản nhưng cũng vô cùng nghiệt ngã: đi tiếp, không dừng lại hoặc đứng ngây ra đủ lâu để nghĩ linh tinh chuyện nọ xọ chuyện kia, rồi lăn đùng ra chết vì sợ hãi.
“Eddie?” Myragọi từ tầng dưới. “Eddie, anh đang làm gì đấyyyyyy?”
Eddie thả hộp Sucrets đựng Quaalude vào túi. Tủ thuốc giờ gần như trống hoác, chỉ còn lọ Midol của Myra và một tuýp Blistex nhỏ, đã xài gần hết. Khựng lại một chút, anh chộp lấy tuýp Blistex. Vừa kéo khóa túi vừa đấu tranh tư tưởng, anh bèn vứt luôn lọ Midol vào trong. Cô ấy muốn mua khi nào mà chẳng được.
Thuốc giảm đau bụng kinh.
Thuốc mỡ dưỡng môi
“Eddie?” Giờ thì giọng nói vang lên ngay giữa cầu thang.
Eddie kéo khóa rồi rời khỏi phòng tắm, vắt cặp một bên vai. Tướng anh thấp bé, khuôn mặt bẽn lẽn, nhìn hao hao con thỏ. Anh đã rụng gần hết tóc; đầu chỉ còn trơ lại những mảng muối tiêu đáng chán. Sức nặng của chiếc túi kéo anh nghiêng hẳn về một bên.
Một người phụ nữ tướng tá hộ pháp từ từ bước lên tầng hai. Eddie có thể nghe thấy tiếng sàn nhà ken két chống lại nhịp chân cô.
“Anh đang làm gì thế HẢAAAAA?”
Không cần bác sĩ tâm lý lên tiếng xác nhận thì Eddie cũng biết theo nghĩa nào đó, anh đã cưới về nhà một gấu mẹ. Myra Kaspbrak mập ú. Năm năm trước, khi Eddie và cô kết hôn với nhau, cô chỉ đậm người, nhưng thỉnh thoảng anh tự nhủ khéo có khi tiềm thức của anh nhìn thấy được tiềm năng gấu mẹ vĩ đại nơi cô, thiên hạ đều biết mẹ anh là một phụ nữ vô cùng to lớn. Đến khi bước lên tầng hai, trông cô lừng lững hơn hẳn. Cô mặc váy ngủ màu trắng, to bè, ngấn mỡ như chả giò ở phần ngực và hông. Khuôn mặt mộc trắng nhởn, bóng nhẫy. Trông cô vô cùng sợ hãi.
“Anh phải đi xa một thời gian,” Eddie giải thích.
“Anh nói đi xa là sao? Là do cuộc gọi điện thoại ban nãy à?”
“Không có gì cả,” anh nói, đoạn ào xuống hành lang về phía phòng thay đồ. Anh đặt túi xuống, mở cánh cửa gấp của tủ quần áo, gạt sang bên gần chục bộ vest đen y như nhau treo trên giá, nổi bật như những đám mây giống giữa những bộ đồ màu sắc rực rỡ khác. Anh luôn mang vest đen khi làm việc. Anh chúi người vào tủ quần áo, mùi băng phiến và len xộc vào mũi, rồi lôi ra một chiếc va li để phía sau. Anh mở nó ra và bắt đầu ném quần áo vào trong.
Bóng cô phủ lên người anh.
“Chuyện này là sao, Eddie? Anh tính đi đâu? Nói em nghe!”
“Anh không thể nói với em.”
Cô đứng đó nhìn anh, suy tính xem mình nên nói gì hay làm gì tiếp theo. Trong đầu cô vụt lên suy nghĩ đẩy anh vào trong tủ rồi dùng lưng chặn cửa cho đến khi anh qua cơn điên, nhưng cô không làm vậy được dù hẳn nhiên cô thừa sức; cô cao hơn Eddie cả bảy phân và nặng hơn anh nửa tạ. Cô chẳng nghĩ ra gì để nói hoặc làm, vì hành động lúc này chẳng giống anh chút nào. Giờ nếu bước vào phòng để ti vi và trông thấy chiếc ti vi màn hình lớn mới mua bay trong không khí thì có lẽ cô cũng chẳng bất ngờ hay sợ hãi nữa ấy chứ.
“Anh không được đi,” cô bất giác thốt lên. “Anh hứa sẽ xin chữ ký của Al Pacino cho em mà.” Nghe thật ngớ ngẩn – cô thừa biết điều đó – nhưng lúc này đây, một điều vớ vẩn còn hơn là không có gì.
Một diễn viên nổi tiếng của sân khấu và điện ảnh Mỹ, được biết đến rộng rãi với bộ phim The Godfather (Bố Già).
“Em vẫn sẽ có,” Eddie nói. “Nhưng giờ em phải tự lái xe chở ông ấy.”
Ồ, lại thêm một nỗi sợ hãi mới góp mặt vào bao lo âu đang xoay vần trong tâm trí hỗn độn của cô. Cô ú ớ khẽ hét lên. “Em không thể… em không bao giờ…”
“Em sẽ phải làm thế,” anh đáp. Giờ anh quay sang xem mấy đôi giày. “Còn ai khác nữa đâu.”
“Đồng phục của em không còn bộ nào vừa nữa rồi! Phần ngực chật ních!”
“Em bảo Delores nới ra cho,” anh bàng quan nói. Anh bỏ hai đôi giày ra sau, kiếm một hộp giày để không rồi nhét thêm đôi thứ ba vào trong. Ba đôi giày đen thuộc hàng tốt, dùng thả ga, nhưng bề ngoài nhìn hơi mòn nên không thể mang đi làm. Khi ta kiếm sống bằng cách chở dân nứt đố đổ vách vòng quanh New York, nhiều người trong số đó vừa giàu vừa nổi tiếng , mọi thứ phải chỉn chu từ đầu đến cuối. Mấy đôi giày này hết tươm tất rồi… nhưng anh nghĩ phải làm khi đến đó. Có lẽ Richie Tozier sẽ…
Nhưng rồi màn đêm đe dọa anh, khiến anh cảm thấy cổ họng mình như nghẹn lại. Nỗi sợ hãi ào ào nổi lên, Eddie chợt nhận ra anh gói ghém tất cả tủ thuốc nhưng lại quên mang theo thứ quan trọng nhất: ống thở để trên nóc tủ ti vi.
Anh đóng va li rồi khóa lại. Anh quay sang nhìn Myra, cô đang đứng trong hành lang, tay ôm lấy cái cổ to bè ngắn ngủn như thể cô mới là kẻ mắc xoang. Cô nhìn anh chằm chằm, khuôn mặt bối rối và kinh hãi, lý ra anh cũng sẽ cảm thấy có lỗi với cô nếu lòng anh không ngập ngụa trong sợ hãi.
“Có chuyện gì vậy, Eddie? Người gọi điện thoại cho anh là ai thế? Anh gặp chuyện gì sao? Có chuyện phải không anh? Anh gặp chuyện gì thế?”
Anh tiến về phía cô, một tay cầm túi, tay kia xách va li, lúc này đây, anh đứng thẳng vì sức nặng được phân bổ đồng đều hơn. Cô bước đến trước mặt anh, chặn ngay cầu thang, và ban đầu anh cứ nghĩ cô sẽ không nhường đường. Nhưng rồi khi khuôn mặt anh sắp tông vào bầu ngực mềm mại đang chắn đường kia, cô lùi sang bên… đầy hoảng hốt. Anh phăm phăm bước ngang qua khiến cô òa lên tức tưởi.
“Sao em chở Al Pacino được!” cô khóc rống lên. “Em sẽ tông xừ vào biển báo dừng hay gì đó mất, chắc chắn là thế! Eddie, em sợ lắmmmm!”
Anh nhìn chiếc đồng hồ Seth Thomas để trên bàn cạnh cầu thang. 9 giờ 20 phút. Nhân viên hãng hàng không Delta nói chuyện như cái máy cho hay anh đã lỡ mất chuyến bay cuối cùng lên phía Bắc với điểm đến ở Maine - chuyến bay đã rời La Guardia lúc 8 giờ 25 phút. Anh đã gọi cho Amtrak và được biết có một chuyến tàu đêm đến Boston từ nhà ga Perm lúc 11 giờ 30. Họ sẽ thả anh ở Nhà ga Miền Nam, ở đó anh có thể bắt tắc-xi đến văn phòng của Cape Cod Limousine trên đường Arlington. Cape Cod và công ty Royal Crest của Eddie có quan hệ làm ăn hữu hảo, đôi bên cùng có lợi trong suốt nhiều năm qua. Chỉ cần gọi một cuộc cho Butch Carrington ở Boston, anh đã lo liệu xong phương tiện đi lại ở miền Bắc – Butch nói sẽ chuẩn bị một chiếc Cadillac đầy xăng và sẵn sàng cho anh. Thế là anh sẽ bảnh tỏn lái chiếc xe, băng ghế sau không có vị khách nào làm mình làm mẩy, phì phèo đốt xì gà và hỏi liệu Eddie có biết chỗ nào chơi gái hoặc chơi vài gram cô-ca-in hoặc cả hai hay không.
Thích bảnh tỏn à, được thôi, anh thầm nhủ. Cách duy nhất mày có thể bảnh tỏn hơn nữa là lên nằm trong xe tang cho người ta chở đi. Nhưng đừng lo, Eddie – có lẽ mày sẽ trở về bằng cách đó. Ấy là nếu người ta còn gom đủ xác mày lại.
“Eddie?”
9 giờ 20 phút. Còn khối thời gian để nói chuyện với cô, còn khối thời gian để cư xử mềm mỏng. À, nhưng phải chi đêm nay cô ra ngoài chơi bài thì tốt hơn biết bao nhiêu, anh sẽ êm thấm đánh bài chuồn, gắn mẩu giấy dưới cục nam châm trên cánh tủ lạnh (đó là nơi anh để lại tất cả các mẩu giấy nhắn cho Myra vì cô không bao giờ để sót vị trí này). Rời đi theo cách ấy – như kẻ bỏ của chạy lấy người – thật chẳng hay hóm gì, nhưng như bây giờ, tình hình còn tệ hơn. Việc anh đang làm chẳng khác nào bỏ nhà ra đi một lần nữa, mà hành động ấy khó đến độ ngày xưa anh phải làm đi làm lại những ba lần.
Đôi khi nhà là nơi trái tim ta trú ngụ, Eddie bâng quơ nghĩ. Mình tin là thế. Bobby Frost quá cố từng nói nhà là nơi khi bạn phải đến, người ta phải cho bạn nào. Tiếc thay, đó cũng là nơi một khi bạn đã an vị bên trong, người ta không bao giờ muốn cho bạn ra.
Anh đứng trên đầu cầu thang, bao sức lực tạm thời cạn sạch, lòng đầy sợ hãi, hơi thở hổn hển qua cổ họng bỗng bé như lỗ kim, ngây người nhìn vợ mình khóc.
“Xuống lầu với anh đi, anh sẽ nói với em những gì anh có thể,” anh lên tiếng.
Eddie đặt hai chiếc túi – một túi đựng quần áo, một túi đựng thuốc - cạnh cửa trên hành lang. Lúc ấy, anh chợt nhớ lại điều gì đó… hay nói đúng hơn, hình bóng của người mẹ dù đã qua đời cách đây nhiều năm nhưng vẫn thường xuyên căn dặn trong đầu anh, nhớ về anh.
Con biết nếu chân con bị ướt thì thể nào con cũng bị cảm mà, Eddie – con không được như người ta, cơ thể con yếu như sên ấy, nên phải biết nhìn trước ngó sau. Vậy nên khi mưa, con phải luôn mang ủng.
Ở Derry mưa rất nhiều.
Eddie mở tủ trên hành lang, lấy một đôi ủng để gọn trong túi nhựa trên móc, bỏ vào va li đựng quần áo.
Thế mới là con ngoan của mẹ chứ, Eddie.
Trước lúc mọi chuyện ập đến thì anh và Myra đang xem ti vi. Eddie bước vào phòng để ti vi, ấn nút hạ màn hình chiếc ti vi MuralVision – màn hình to đến độ trông Freeman McNeil như một vị khách từ vùng đất người khổng lồ Brobdingnag vào các buổi chiều Chủ nhật. Anh nhấc điện thoại gọi tắc-xi. Điều phối viên nói với anh sẽ mất khoảng mười lăm phút. Anh nói không thành vấn đề.
Anh cúp máy, chụp lấy ống thở để trên đỉnh máy chơi đĩa CD Sony đắt tiền của hai vợ chồng. Mình đã chi một nghìn năm trăm đô-la cho hệ thống âm thanh tối tân này để Myra không bỏ lỡ một nốt nhạc vàng nào trong đĩa thu âm của Barry Manilow và các “Bài hát đỉnh cao” của cô , anh nghĩ và bất giác cảm thấy tội lỗi. Anh thừa biết mình chỉ đang chống chế. Dù đĩa thu cũ trầy xước hay đĩa laser tốc độ quay bốn mươi lăm vòng một phút mới coóng thì Myra đều thích như nhau, giống như việc cô sẽ vui vẻ sống trong căn nhà nhỏ bốn phòng ở Queens cho đến khi họ đầu bạc răng long (và thành thật mà nói, chưa gì đã có chút tóc bạc trên đầu Eddie Kaspbrak). Lý do anh mua hệ thống âm thanh sang trọng cũng giống với lý do anh mua căn nhà xây bằng đá tảng nhỏ nhắn ở Long Island này, nơi cả hai người bọn họ lọt thỏm trong không gian thênh thang như hai viên đậu cuối cùng trong hộp: vì anh có tiềm lực tài chính, và vì đó là cách để điều đình với giọng nói nhẹ nhàng, sợ hãi, lắm lúc còn kinh ngạc, luôn lấn lướt của mẹ anh; đây là cách anh tuyên bố: Con làm được rồi, mẹ ơi! Mẹ nhìn đi! Con làm được rồi! Giờ mẹ thương tình tắt loa phóng thanh hộ con được chưa?
Eddie nhét ống xịt mũi vào miệng, và như một kẻ chuẩn bị tự sát, anh kéo co. Một làn sương vị cam thảo rất kinh khủng xịt sâu xuống họng, Eddie hít hà. Anh có thể cảm nhận đường thở ban nãy suýt nghẹt giờ đã thông thoáng trở lại. Ngực anh bớt quặn thắt, và bất chợt, anh lại nghe thấy giọng nói ma mị trong đầu.
Thầy không nhận được thư tôi gửi à?
Tôi có nhận, thưa bà Kaspbrak, nhưng…
Chà, phòng trường hợp thầy mù chữ, thưa huấn luyện viên Black, để tôi nói luôn cho nó vuông. Thầy sẵn sàng chưa?
Thưa bà Kaspbrak…
Tốt. Đây, chính miệng tôi nói cho thầy nghe. Được chứ? Eddie nhà tôi không học thể dục được. Tôi nhắc lại: con tôi không thể học thể dục. Eddie rất mong manh, và nếu con tôi chạy… hoặc nhảy…
Bà Kaspbrak, tôi đã có kết quả kiểm tra sức khỏe lần trước của Eddie trong căn phòng, đó là yêu cầu của bang. Kết quả cho hay Eddie chỉ hơi nhỏ con so với tuổi, còn đâu hoàn toàn bình thường. Thế nên tôi đã gọi bác sĩ riêng của gia đình bà để kiểm tra cho chắc, ông ấy cũng xác nhận…
Thầy đang nói tôi đặt điều à, huấn luyện viên Black? Thế cơ đấy? Đâu, con tôi đâu! Eddie đâu, nó đang đứng cạnh tôi đây này! Thầy có nghe thấy tiếng thở của nó không? Thầy CÓ NGHE không?
Mẹ ơi… thôi mà… con ổn mà…
Eddie, thái độ này là thế nào? Mẹ đã dạy con thế nào? Khi người lớn nói chuyện, con nít không được chen ngang.
Tôi có nghe, thưa bà Kaspbrak, nhưng…
Thầy nghe thấy chứ gì? Tốt! Tôi cứ tưởng thầy điếc rồi chứ! Nó thở như xe tải bò lên dốc để số thấp, thầy không thấy sao? Và nếu đó không phải là hen suyễn…
Mẹ ơi, con sẽ…
Im lặng đi, Eddie, không được ngắt lời mẹ nữa. Nếu đó không phải là hen suyễn, thì huấn luyện viên Black à, khéo tôi thành Nữ hoàng Elizabeth mất!
Thưa bà Kaspbrak, Eddie rất khỏe mạnh và vui vẻ khi tham gia tiết học thể dục. Cậu bé thích tham gia các trò chơi và chạy rất nhanh. Trong lúc trao đổi với bác sĩ Bagnes, chúng tôi có nói tới vấn đề “bệnh trong tâm”. Tôi không biết bà đã bao giờ cân nhắc khả năng rằng…
Rằng con trai tôi bị điên? Thầy đang bóng gió như vậy phải không? THẦY ĐANG BẢO CON TRAI TÔI BỊ ĐIÊN À????
Không, nhưng…
Thằng bé rất yếu.
Bà Kaspbrak, bác sĩ Bagnes cho biết ông ấy không tìm ra nguyên nhân nào…
”… bất thường về mặt thể chất,” Eddie kết câu. Đêm nay, lần đầu tiên sau bao năm, ký ức về cuộc đối đầu đầy nhục nhã ấy lại hiện về, khi mẹ anh hét vào mặt huấn luyện viên Black trong nhà thể thao trường Tiểu học Derry, cậu bé là anh khi ấy há hốc và khúm núm đứng bên cạnh, còn những đứa trẻ khác túm tụm quanh một rổ banh dáo dác hóng chuyện. Nhưng anh biết đó không phải ký ức duy nhất mà cuộc gọi từ Mike Hanlon sẽ khuấy động. Anh có thể cảm nhận rất nhiều ký ức khác, tệ hại tương đương hoặc hơn, lúc nhúc và chen chúc như những kẻ điên cuồng tranh nhau mua hàng khuyến mãi, kẹt ở thế thắt nút cổ chai ngay lối ra vào của trung tâm thương mại. Nhưng chẳng chóng thì chày,nút thắt sẽ vỡ và họ sẽ ùa lên. Anh dám chắc về điều đó. Họ sẽ tìm được gì đang hạ giá nhỉ? Là sự bình thường của anh? Có lẽ. Giảm nửa giá. Bị Ảnh hưởng bởi Khói thuốc và Nước. Thanh lý Toàn bộ.
“Không có gì bất thường về mặt thể chất,” anh lặp lại, hít một hơi sâu đến rùng mình và nhét ống thở vào túi.
“Eddie,” Myra nài nỉ. “ Xin anh hãy cho em biết chuyện này là sao!”
Nước mắt giàn giụa trên khuôn mặt bầu bĩnh của cô. Đôi tay cô vặn vẹo đầy kích động như hai con vật màu hồng trụi lủi đang đùa nghịch. Lần nọ, trước khi anh thật sự đề cập đến chuyện cưới hỏi, anh có một bức hình chụp Myra do cô tặng, anh bèn để nó cạnh hình người mẹ đã nhắm mắt xuôi tay do suy tim xung huyết ở tuổi 64 của mình. Lúc qua đời, mẹ của Eddie chạm ngưỡng gần hai tạ-chính xác là một-trăm-tám-mươi-tư kí lô. Lúc ấy, bà chẳng khác nào gấu mẹ vĩ đại - cơ thể to bè ở ngực, mông và bụng, trên cùng là khuôn mặt bủng beo, lúc nào cũng nhăn nhó. Nhưng tấm hình mà anh để bên cạnh hình Myra được chụp vào năm 1944, hai năm trước khi anh chào đời ( Con là một thằng bé hay đau bệnh lắm , bóng ma của mẹ đến giờ vẫn thì thầm vào tai anh. Lắm lúc chúng ta tưởng mất con rồi …). Vào năm 1944, mẹ anh vẫn còn thon gọn, chừng tám mươi cân.
Eddie nghĩ cách so sánh như vậy là nỗ lực vớt vát cuối cùng để anh ngăn bản thân mình không loạn luân trong tư tưởng. Anh hết nhìn từ mẹ sang Myra rồi lại quay về nhìn mẹ.
Hai người này là chị em kể cũng hợp lý. Kẻ tám lạng, người nửa cân.
Eddie nhìn hai bức hình giống nhau và hứa với lòng mình sẽ không làm trò điên rồ ấy. Anh biết các anh chàng đồng nghiệp đã bêu riếu vợ chồng anh như ông lão Jack Sprat ốm nhất và bà vợ béo ú trong dân ca, nhưng họ chưa biết lấy nửa câu chuyện. Anh có thể bỏ qua những lời đùa cợt và nhận xét châm chích, nhưng anh có thật sự muốn trở thành tên hề trong rạp xiếc đậm chất Sigmund Freud như vậy không? Không. Anh không muốn. Anh sẽ chấm dứt với Myra. Anh sẽ khiến cô thất vọng thật nhẹ nhàng vì cô hết sức đáng yêu và có ít kinh nghiệm với đàn ông hơn cả kinh nghiệm của anh đối với phụ nữ. Và rồi, sau khi cô đã dong buồm băng qua đường chân trời cuộc đời anh, có thể anh sẽ theo học lớp dạy tennis mà anh đã cân nhắc bao lâu nay
(Eddie rất khỏe mạnh và vui vẻ khi tham gia tiết học thể dục.)
hoặc mua thẻ thành viên bơi lội ở hồ bơi của Khách sạn UN Plaza
(Cậu bé thích chơi các trò chơi.)
hay tham gia câu lạc bộ sức khỏe vừa mở trên Đường số 3 phía bên kia ga-ra chẳng hạn…
(Eddie chạy rất nhanh, rất nhanh khi bà không có mặt ở đây, chạy rất nhanh khi không có ai suốt ngày bảo thằng bé yếu ớt ra sao và thưa bà Kaspbrak rằng qua vẻ mặt của thằng bé, tôi thấy dù mới chín tuổi nhưng thằng bé biết điều tốt đẹp nhất nó có thể ban cho bản thân là chạy thật nhanh theo bất cứ hướng nào dù bà kìm hãm nó. Bà Kaspbrak, hãy để thằng bé CHẠY ĐI!)
Nhưng rốt cuộc, anh vẫn cưới Myra. Rốt cuộc, giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời. Nhà là nơi khi bạn phải về, người ta phải trói gô bạn lại. Ồ, anh có thể đập bóng ma của mẹ anh một trận. Điều này khó đấy, song anh dám chắc mình làm được, nếu đó là điều cần làm. Myra chính là kẻ khiến cán cân bị lệch khỏi sự độc lập. Myra đã kết án anh bằng sự quan tâm, ghì anh lại với thái độ lo lắng, trói anh bằng cách cư xử ngọt ngào. Giống mẹ anh, Myra đã nhìn thấu con người anh ở mức độ cao nhất, cốt tử; Eddie lại càng yếu đuối vì thỉnh thoảng anh nghĩ mình chẳng yếu đuối chút nào, Eddie cần được bảo vệ khỏi những suy nghĩ manh nha về lòng can đảm trong anh.
Vào những hôm trời mưa, Myra đều lấy ủng của anh ra khỏi túi nhựa trong tủ và xếp chúng cạnh giá treo áo ở cửa. Bên cạnh đĩa bánh mì nướng không phết bơ mỗi sáng là một đĩa nhìn qua cứ tưởng ngũ cốc ăn liền rực rỡ sắc màu, chưa ngào đường của trẻ con, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy cả đống vitamin (đa phần đều nằm trong túi đựng thuốc của Eddie lúc này). Giống mẹ, Myra hiểu anh hết thuốc chữa rồi. Khi còn là một chàng thanh niên độc thân, anh đã ba lần rời bỏ mẹ và ba lần về thăm nhà. Và rồi, bốn năm sau, khi mẹ anh qua đời trong tiền sảnh căn hộ ở Queens của bà, động thịt mỡ đồ sộ kẹt cứng ở cửa trước, buộc các nhân viên Medcu (hàng xóm tầng dưới gọi báo khi họ nghe thấy tiếng kinh thiên động địa lúc bà Kaspbrak làm cú chót về thiên thu) phải phá cánh cửa khóa nối phòng bếp của căn hộ ra cầu thang dịch vụ, anh mới trở về nhà lần thứ tư và cũng là lần cuối cùng. Hoặc chí ít anh cứ ngỡ đó là lần cuối – lại về nhà, lại về nhà, ô là la, lại về nhà, lại về nhà, với heo ủn Myra. Cô ấy là một con heo, nhưng là một con heo hết sức dễ thương, và anh yêu cô, và anh hết thuốc chữa rồi. Cô đã kéo anh về phía mình với ánh mắt thấu hiểu chết người, đầy ma lực của loài rắn. Anh đã về nhà, về mãi mãi, lúc ấy anh đã thầm nhủ như vậy.
Nhưng có khi mình đã sai, anh nghĩ. Có khi đây không phải là nhà, chưa từng là nhà – biết đâu nhà là nơi đêm nay mình phải đến. Nhà là nơi khi bạn đến, bạn phải đối mặt với thứ trong bóng tối.
Anh không kìm được mà run lên, tựa hồ anh ra ngoài song không mang ủng rồi bị cảm nặng.
“Eddie, em xin anh !”
Cô lại giàn giụa nước mắt. Nước mắt là thành lũy cuối cùng của cô, giống với trước đây, mẹ anh cũng chuyên làm thế: vũ khí mềm mỏng nhưng có thể làm đối phương tê liệt, có thể biến sự tốt bụng và nhẹ nhàng thành điểm nứt chí tử trên bộ áo giáp.
Đằng nào anh cũng không mặc áo giáp nhiều lắm - mấy bộ giáp chẳng vừa với anh chút nào.
Ngày xưa, nước mắt không chỉ là công cụ phòng thủ của mẹ mà còn là vũ khí. Myra hiếm khi nào dùng nước mắt một cách đầy vị kỷ như thế… nhưng dù vị kỷ hay không, anh nhận thấy cô đang tìm cách tận dụng nó theo cách ấy… và cô đã thành công.
Anh không thể để cô làm thế. Thật dễ để mường tượng sự cô độc sắp tới, khi anh ngồi trên tàu hỏa trong lúc nó phăm phăm rẽ qua màn đêm hướng lên phía Bắc, tiến về Boston, va li xếp trên đầu và túi đựng thuốc dưới chân, nỗi sợ hãi ngự trị trong lồng ngực như vị thuốc Vicks đã cũ. Thật dễ để Myra kéo anh lên lầu, quan hệ với anh cùng aspirin kèm dung dịch rửa tay bằng cồn. Và đưa anh vào giường, ở đó họ có thể tiến sâu hơn, hoặc không.
Nhưng anh đã hứa với cô. Anh đã hứa rồi.
“Myra, nghe anh nói này,” anh lên tiếng, cố để giọng mình thật khô khốc và rạch ròi.
Cô nhìn anh với đôi mắt ướt, trần trụi và sợ hãi.
Anh thầm nghĩ mình sẽ giải thích cho cô – theo cách tốt nhất có thể, anh sẽ nói với cô rằng Mike Hanlon là người gọi tới và cho anh hay chuyện đã tái diễn, nên phải rồi, anh nghĩ cả đám sẽ trở về.
Nhưng những gì thốt ra từ miệng anh lại có tác dụng trấn tĩnh hơn rất nhiều.
“Ngay sáng ngày mai, em hãy xuống văn phòng và nói chuyện với Phil. Bảo anh ấy rằng anh bay đi có việc nên em sẽ lái Pacino…”
“Eddie, em không làm được !” Cô khóc ré lên. “Ông ấy là một nghệ sĩ lớn! Nếu em bị lạc, thể nào ông ấy cũng mắng em, mà em dám chắc thể nào ông ấy cũng chửi, mỗi khi tài xế bị lạc, họ đều làm thế mà… và… và em sẽ khóc mất… nhỡ bị tai nạn thì sao… mà sẽ có tai nạn cho xem… Eddie… Eddie, anh phải ở nhà…”
“Vì Chúa! Em thôi đi !”
Cô rụt lại trước lời quát của anh, đầy tổn thương, Eddie nắm chặt ống thở nhưng không dùng. Vợ anh sẽ xem đây là điểm yếu và tận dụng nó. Lạy Chúa, nếu Người có tồn tại, cầu xin Người hãy tin con khi con nói con không muốn làm tổn thương Myra. Con không muốn cô ấy chảy máu, cũng không muốn cô ấy bầm dập. Nhưng con đã hứa, bọn con đã hứa với nhau, cắt máu ăn thể, xin Người giúp con, thưa Chúa, vì con phải làm vậy…
“Em không thích anh hét vào mặt và quát em như thế, Eddie,” cô thì thầm.
“Myra, anh ghét khi anh phải làm thế,” anh nói, và cô chau mày. Được đấy, Eddie – mày lại làm tổn thương cô ấy rồi. Sao mày không đấm cô ấy cài phát ở đây luôn đi? Thế còn tốt đẹp hơn. Và nhanh hơn.
Đột nhiên – có lẽ ý tưởng đấm người ở đây khiến hình ảnh ấy hiện lên – anh trông thấy khuôn mặt của Henry Bowers. Bao năm trôi qua, lần đầu tiên anh nghĩ đến Bowers, và nó chẳng được tích sự gì đối với sự bình an trong tâm trí anh. Không được gì.
Anh thoáng nhắm mắt rồi lại mở ra và nói: “Em sẽ không bị lạc, và ông ấy sẽ không hét vào mặt em. Ông Pacino rất tốt và thấu hiểu.” Anh chưa từng chở Pacino lần nào, nhưng anh tự nhận thấy chí ít xét theo trung bình thì lời nói dối này có lý – thiên hạ hay quan niệm rằng hầu hết những ngôi sao nổi tiếng đều nhìn người bằng nửa con mắt, nhưng Eddie đã chở rất nhiều và biết thường thì điều đó không đúng.
Tất nhiên, vẫn có ngoại lệ - và những ngoại lệ ấy khủng khiếp vô cùng. Vì Myra, anh thành thật hy vọng Pacino không phải dạng người như thế.
“Thật sao?” cô rụt rè hỏi.
“Ừ. Thật.”
“Sao anh biết?”
“Demetrios đã lái xe cho ông ấy hai hay ba lần từ hồi còn làm ở Manhattan Limousine, Eddie nói đại. “Anh ấy kể với anh rằng ông Pacino luôn boa ít nhất năm mươi đô-la.”
“Ông ta có boa năm mươi xu em cũng chẳng quan tâm, chỉ cần ông ấy không mắng chửi em là được rồi.”
“Myra, chuyện này dễ như bỡn ấy mà. Một, em đến đón ông ấy Saint Regis lúc 7 giờ tối mai rồi đưa đến Tòa nhà ABC. Họ đang diễn lại màn cuối của vở kịch có sự tham gia của Pacino – Trâu Mỹ , anh nhớ tên vở kịch là thế. Hai, em đưa ông ta trở lại Saint Regis vào khoảng 11 giờ. Ba, em về ga-ra, gửi lại xe và ký vào biên bản màu xanh.”
“Thế thôi à?”
“Thế thôi. Em có thể vừa làm vừa trồng cây chuối cũng được nữa là, Marty.”
Cô thường cười khúc khích khi anh gọi cô bằng biệt danh như thế, nhưng lúc này, cô chỉ nhìn anh với sự nghiêm trang có phần ngây ngô và đau đớn.
“Nếu ông ấy muốn đi ăn tối chứ không muốn về khách sạn thì sao? Hoặc đi uống? Hoặc nhảy nhót gì đó?”
“Anh nghĩ ông ấy sẽ không đi đâu, nhưng nếu ông ấy muốn thì em cứ đưa đi. Nếu có vẻ ông ấy sẽ ăn nhậu cả đêm, thì sau nửa đêm em có thể dùng bộ đàm gọi Phil Thomas. Đến giờ đó, ông ấy sẽ sắp xếp một tài xế khác để em được về. Anh sẽ không bao giờ để em phải rơi vào trường hợp này ngay từ đầu nếu anh sắp được tài xế, nhưng hai người kia bị ốm, Demetrios thì đi du lịch, còn lại ai cũng kẹt lịch cả rồi. Trước 1 giờ sáng, em sẽ chăn ấm nệm êm trong giường, Marty ơi – mà 1 giờ sáng là trễ nhất nhất rồi đấy. Anh thề với lòng hứa với dồi là như thế.”
Cô cũng không bật cười trước câu đùa thề với lòng hứa với dồi của anh.
Anh đằng hắng và chúi người tới trước, chống khuỷu tay lên đầu gối. Ngay lập tức, bóng ma của mẹ thì thầm vào tai anh: Đừng ngồi kiểu đấy, Eddie. Như thế không tốt cho tướng của con đâu, còn chèn vào phổi nữa. Mà phổi con yếu ớt lắm.
Anh ngồi thẳng dậy, gần như không ý thức được hành động mình vừa làm.
“Tốt hơn hết, lần này là lần duy nhất em phải lái xe đấy,” cô rền rĩ. “Trong hai năm vừa qua, em biến tướng thành con ngựa, đồng phục em mặc lên nhìn gớm lắm.”
“Đây là lần duy nhất, anh thề.”
“Ban nãy ai gọi anh vậy, Eddie?”
Dường như chỉ đợi đến đó, ánh sáng loang loáng chiếu lên tường, tiếng còi xe vang lên khi chiếc tắc-xi rẽ vào lối đi. Anh như trút được tảng đá trong lòng. Suốt mười lăm phút vừa rồi họ chỉ nói về Pacino chứ không đả động đến Derry, Mike Hanlon và Henry Bowers, như thế thật chẳng còn gì bằng. Tốt cho Myra, đồng thời tốt cho cả anh nữa. Chừng nào chưa bắt buộc, chừng ấy anh không muốn bỏ thời gian ra suy nghĩ hoặc bàn luận về những chủ đề này.
Eddie đứng dậy. “Tắc-xi đến rồi.”
Cô bật dậy quá nhanh, giẫm lên gấu váy ngủ và ngã chúi về phía trước. Eddie chụp được cô, nhưng trong một khoảnh khắc, tình hình rất chi là tình hình: cô nặng hơn anh cả nửa tạ.
Và rồi cô lại bắt đầu nức nở.
“Eddie, anh phải nói với em!”
“Anh không thể. Anh đang vội.”
“Trước giờ anh chưa lần nào giấu giếm em như thế này cả, Eddie,” cô nỉ non.
“Giờ cũng vậy. Không hẳn vậy. Anh không nhớ mọi chi tiết. Ít nhất là chưa. Người gọi điện thoại từng là – giờ là – bạn cũ của anh. Cậu ấy…”
“Anh sẽ ốm mất,” cô tuyệt vọng nói, rảo bước đi theo lúc anh bước ra tiền sảnh. “Em dám chắc là vậy. Để em đi với anh, Eddie, em xin anh, em sẽ chăm sóc anh, Pacino có thể đi tắc-xi hay gì đó, có chết được đâu, anh thấy sao, vậy được không?” Giọng nói của cô cao dần, càng lúc càng hối hả, và Eddie kinh hãi nhận ra càng lúc cô càng giống mẹ mình, giống y hình ảnh bà những tháng cuối đời: vừa già vừa béo ú vừa điên loạn. “Mẹ sẽ xoa lưng cho con và xem con uống thuốc… Mẹ… Mẹ sẽ giúp con… Mẹ sẽ không nói nếu con không muốn mẹ nói nhưng con có thể kể hết với mẹ… Eddie… Eddie, đừng đi mà con! Eddie, mẹ xin con! Mẹ xin connnn! “
Sải bước dọc theo hành lang, giờ anh đã ra đến cửa trước, cắm đầu đi, mặt cúi gằm, anh đi như một người đi ngược cơn gió dữ. Anh thở hồng hộc. Khi xách túi lên, anh có cảm giác mỗi chiếc túi phải nặng đến nửa tạ. Anh có thể cảm nhận đôi tay màu hồng tròn lẳn của cô chạm vào anh, khám phá anh, níu kéo anh bằng đê mê tuyệt vọng nhưng rồi bất lực, cố tìm cách quyến rũ anh với những giọt lệ lo lắng ngọt ngào, cố tìm cách kéo anh ở lại.
Mình không chịu nổi mất! Anh tuyệt vọng nghĩ. Cơn hen chuyển xấu, xấu hơn hẳn từ lúc anh còn bé đến giờ. Anh vươn tay đến nắm cửa nhưng tưởng chừng nó đang trôi xa khỏi anh, lùi vào màn đêm tăm tối của không gian ngoài kia.
“Nếu anh ở lại, em sẽ làm bánh cà phê kem chua cho anh,” cô lắp bắp. “Mình sẽ ăn bỏng ngô… Em sẽ nấu món gà tây anh ưa thích cho bữa tối… Nếu anh muốn thì sáng mai em sẽ làm nó để mình ăn sáng luôn… Hay để em nấu từ bây giờ… và nấu cả canh lòng gà… Eddie, em xin anh, em sợ lắm, anh làm em sợ lắm! “
Cô chộp lấy cổ áo anh, kéo anh lại, như tay cảnh sát đô con gô cổ nghi phạm đang tìm cách tẩu thoát. Gom chút lực tàn trong nỗ lực cuối cùng, Eddie đi tiếp… và khi đã sức cùng lực tận, chẳng chống cự nổi, anh cảm thấy vòng tay của cô đang buông dần.
Cô ré lên tiếng khóc cuối cùng.
Những ngón tay của anh ôm lấy nắm cửa – trời ơi, nó mát lành xiết bao! Anh kéo mở cửa và trông thấy chiếc tắc-xi Checker đang đậu bên ngoài, một đại sứ của vùng đất đầu óc bình thường. Không khí ban đêm trong lành. Trời đầy sao, rực rỡ.
Anh quay lại nhìn Myra, khò khè. “Hãy hiểu cho anh, đây không phải điều anh muốn làm,” anh nói. “Nếu được lựa chọn – bất cứ lựa chọn nào – anh sẽ chọn không đi. Hãy hiểu cho anh, Marty. Anh đi rồi lại về.”
Ôi, sao lời nói ấy gian trá đến vậy.
“Khi nào anh về? Có lâu không?”
“Một tuần. Hoặc có thể là mười ngày. Chắc chắn không lâu hơn thế.”
“Một tuần!” cô ré lên, ôm ngực như một ca sĩ diễn lố trong vở kịch. “Một tuần! Mười ngày! Em xin anh, Eddie! Em xinnnn …”
“Marty, em thôi đi. Được chứ? Em thôi đi.”
Lạ chưa, cô làm theo lời anh nói: cô thôi khóc, đứng ngây ra nhìn anh với đôi mắt bầm ướt, không tức giận mà chỉ kinh hãi với anh cũng như kinh hãi với chính bản thân mình. Có lẽ lần đầu tiên trong bao năm quen cô, anh cảm thấy anh có thể yêu cô một cách an toàn. Hay đó là một phần của việc đi xa? Có lẽ là thế. Không… Bỏ từ có lẽ đi. Anh biết là thế. Bất chợt, anh cảm thấy mình như kẻ sống nhầm đầu kia của kính viễn vọng.
Nhưng có lẽ mọi thứ vẫn ổn. Phải chăng ý anh là thế? Phải chăng anh đã tự nhủ yêu cô là điều bình thường? Rằng cũng không sao dù cô nhìn y như mẹ anh lúc bà còn trẻ, dù cô vừa nằm trên giường ăn bánh brownie vừa xem Hardcastle và McCormick hoặc Falcon Crest , vụn bánh lúc nào cũng vãi về phía anh, dù cô không quá thông minh, dù cô hiểu và chấp nhận núi thuốc trong tủ của anh vì đằng nào cô cũng trữ đồ cho mình trong tủ lạnh?
Hoặc biết đâu…
Biết đâu…
Anh từng suy ngẫm đến những ý tưởng kia bằng cách này hay cách khác, lúc này hay lúc khác, trong cuộc đời rối rắm kỳ dị, khi anh vừa là đứa con, vừa là người tình, vừa là chồng, để rồi khoảnh khắc này, khi sắp bỏ nhà ra đi lần cuối, anh chợt ngộ ra một khả năng, và cảm giác bàng hoàng quét qua anh như cánh chim to lớn.
Biết đâu Myra còn sợ hãi hơn cả anh?
Biết đâu mẹ anh còn sợ hãi hơn cả anh?
Một ký ức về Derry lóe lên từ tiềm thức của anh, tựa hồ pháo hoa phụt lên đầy ghê gớm. Dưới đường Trung Tâm có một tiệm giày mang tên Thuyền giày. Một ngày nọ, mẹ đã dắt anh đến đó - anh đoán hồi ấy mình chừng năm, sáu tuổi – rồi bảo anh ngồi yên, ngoan ngoãn đợi mẹ mua một đôi cao gót màu trắng để dự lễ cưới. Vì thế anh ngồi yên, ngoan ngoãn đợi mẹ nói chuyện với ông Gardener, một trong các nhân viên ở tiệm, nhưng ngày đó cậu bé Eddie mới năm tuổi (hoặc sáu), nên sau khi mẹ không ưng đôi giày cao gót thứ ba mà ông Gardener đưa, Eddie phát chán, bước đến góc phòng bên kia để nhìn thứ ban nãy lọt vào mắt mình. Ban đầu, cậu cứ ngỡ nó chỉ là một chiếc hộp đựng thẳng đứng. Nhưng khi tiến lại gần, cậu nhận ra nó là một cái bàn. Song cậu dám chắc đó là cái bàn kỳ cục nhất mình từng thấy! Nó hẹp kinh khủng! Bàn được làm bằng gỗ mài sáng bóng, với những đường khảm cong cong và những họa tiết chạm khắc bên trên. Ngoài ra, có ba bậc thang con con dẫn lên trên, và cậu chưa bao giờ nhìn thấy bàn nào có bậc thang cả. Khi tiến đến gần sát, cậu trông thấy một cái rãnh ở dưới đáy của chiếc bàn, bên cạnh có nút và ở phía trên – lạ chưa kìa! – là một thứ trông giống hệt Kính không gian của Captain Video.
Nhân vật trong loạt phim truyền hình khoa học viễn tưởng của Mỹ.
Eddie đi vòng sang phía bên kia và trông thấy một tấm biển. Chắc lúc ấy cậu sáu tuổi, bởi cậu đọc được dòng chữ và thì thầm từng từ thành lời:
GIÀY CỦA BẠN CÓ VỪA KHÍT KHÔNG? KIỂM TRA XEM!
Eddie vòng ngược lại, trèo ba bậc cầu thang lên cái bục be bé, đoạn thọc chân vào cái rãnh dưới đáy của máy kiểm tra giày. Đôi giày của cậu có vừa vặn không nhỉ? Eddie không rõ, nhưng cậu rất muốn kiểm tra thử . Cậu thò mặt vào tấm che mặt bằng cao su rồi ấn nút. Ánh đèn xanh khiến cậu lóa mắt. Eddie há hốc. Cậu có thể trông thấy bàn chân bên trong chiếc giày tràn ngập khói xanh. Cậu ngúc ngoắc mấy ngón chân, và những ngón chân cậu đang nhìn ngúc ngoắc đáp trả – hóa ra chúng là chân cậu, được lắm, đúng như những gì cậu nghi ngờ. Và rồi cậu nhận ra cậu không chỉ thấy ngón chân của mình mà còn thấy cả xương nữa! Xương của bàn chân cậu! Cậu quặp ngón chân cái lên ngón chân bên cạnh (như lén lút gạt bỏ hậu họa để lại khi nói dối) thì xương chân quan sát được trong kính cũng gập thành hình chữ X, không có màu trắng mà là màu xanh lè. Cậu còn thấy…
Đến lúc đó, mẹ cậu ré lên, một tiếng thét đầy hoảng sợ xé toạc tiệm giày yên tĩnh như lưỡi hái của Thần Chết, như chuông báo cháy, như tận thế phi ngựa đến. Ngơ ngác giật nảy mặt khỏi kính, Eddie trông thấy mẹ hớt hải băng ngang tiệm, chạy tới chỗ cậu, chân chỉ mang vớ, chiếc váy bay phần phật phía sau. Bà hất đổ một cái ghế và một dụng cụ đo giày hay khiến cậu bị nhột bay vèo. Ngực mẹ phập phồng lo sợ. Miệng của bà mở to thành hình chữ O kinh hãi. Khuôn mặt cũng dần biến dạng theo hướng tương tự.
“Eddie, xuống ngay!” Bà ỏm tỏi. “Đi xuống ngay! Cái máy đó gây ung thư đấy! Xuống ngay! Eddie! Eddieeeeeee…”
Cậu bé lùi lại như thể chiếc máy đột nhiên trở nên nóng rẫy. Hoảng hồn, cậu quên mất sau lưng mình có vài bậc thang. Gót chân cậu bị hụt ở bậc thang cao nhất, và cậu đứng đó, từ từ ngã về phía sau, hai tay quay như chong chóng, hòng cứu vớt sự thăng bằng đang dần mất đi nhưng xem ra bất lực. Song chẳng phải lúc ấy, cậu đã nghĩ một cách mừng rỡ mà điên rồ rằng Mình sắp ngã! Mình sắp biết cảm giác khi ngã và đập đầu rồi! Vui quá! Chẳng phải cậu bé Eddie đã nghĩ như thế sao? Hay đó chỉ là suy nghĩ mà khi đã trưởng thành, anh áp đặt lên tâm trí mình lúc nhỏ, quay cuồng trong những phỏng đoán rối rắm và những hình ảnh mờ mịt (chúng đã nhòa hết cả do quá chói chang)?
Bất kể đó là gì, câu hỏi ấy đành bỏ ngỏ. Bởi cậu bé không bị ngã nhờ bà mẹ đã nhào tới đúng lúc. Bà đỡ được con trai mình. Cậu khóc òa nhưng không bị ngã.
Tất thảy mọi người trong tiệm đều quay lại nhìn họ. Đến giờ anh còn vẫn nhớ điều đó. Anh nhớ ông Gardener nhặt nhạnh đồ đo giày và kiểm tra dụng cụ có thanh trượt con con xem có hỏng hóc gì không, còn một nhân viên khác chỉnh lại cái ghế đổ rồi vung tay ra vẻ khó chịu, trước khi lấy lại bộ mặt bình thản của dân buôn bán. Nhưng anh nhớ rõ nhất là gò má ướt và hơi thở nóng hổi, tanh chua của mẹ mình. Anh nhớ như in bà thì thầm hết lần này đến lần khác vào tai anh, “ Không bao giờ được làm thế nữa, mẹ cấm con không được làm thế nữa, mẹ cấm con.” Đó là lời mẹ anh nhắc đi nhắc lại để xua tan điềm xui rủi. Một năm trước đó, mẹ cũng tụng niệm câu này khi phát hiện cô trông trẻ đưa Eddie đến hồ bơi công cộng ở công viên Derry vào một ngày mùa hè nóng như chảo lửa – thời điểm ấy, bao lo ngại về dịch bại liệt đầu thập niên 50 mới chỉ bắt đầu lắng xuống. Bà kéo cậu con trai của mình ra khỏi bể bơi, dặn cậu không bao giờ được làm thế, không bao giờ, không bao giờ, toàn bộ những đứa con nít ở bể bơi cũng nhìn cậu như tất cả những nhân viên cùng khách hàng lúc này, hơi thở của bà cũng ngai ngái vị chua ấy.
Bà kéo cậu ra khỏi Thuyền giày, mắng như tát nước vào mặt nhân viên trong tiệm, rằng bà sẽ lôi họ ra tòa nếu con trai của mình gặp chuyện. Những giọt nước mắt sợ hãi của Eddie rơi lã chã suốt cả buổi sáng hôm ấy, cơn hen còn trở nên tệ hơn bình thường. Đêm đó, cậu trằn trọc suốt mấy tiếng đồng hồ so với giờ hay đi ngủ, mông lung tự hỏi chính xác ung thư là gì, liệu nó có ghê gớm hơn bại liệt không, có chết người không, mà nếu chết thì bao lâu, và trước khi chết sẽ đau cỡ nào. Cậu thậm chí còn tự hỏi liệu mình có phải xuống địa ngục không.
Anh biết rằng với cậu bé ngày ấy, mối đe dọa hết sức nghiêm trọng.
Bởi mẹ vô cùng sợ hãi.
Sợ đến cùng cực.
“Marty,” anh nói qua làn nước mắt, “em có thể hôn anh không?”
Cô vừa hôn vừa ôm anh thật chặt, đến độ những đốt xương sống trên lưng anh muốn kêu răng rắc. Nếu ở dưới nước , anh thầm nhủ, chắc cô ấy sẽ làm cho cả hai chết chìm mất.
“Em đừng sợ,” anh thì thầm vào tai cô.
“Em không làm được!” cô tức tưởi.
“Anh biết,” anh nói, và chợt nhận ra, dù cô ôm anh chặt đến độ khéo gãy cả xương sườn, cơn hen của anh đã dứt. Tiếng khò khè khi thở đã không còn. “Anh biết, Marty.”
Tài xế tắc-xi lại bấm còi.
“Anh sẽ gọi cho em chứ?” cô run rẩy hỏi.
“Nếu anh có thể.”
“Eddie, em xin anh, anh không thể nói em nghe có chuyện gì sao?”
Giả như anh nói thì sao? Anh nói ra thì cô an lòng được chừng nào?
Marty à, tối nay anh nhận được một cuộc điện thoại từ Mike Hanlon, bọn anh nói chuyện một thôi một hồi thì chung quy có hai vấn đề lớn. “Nó tái diễn rồi,” Mike nói, đoạn hỏi anh “Cậu về chứ?” Và giờ anh bị sốt rồi, Marty ơi, có điều là cơn sốt không thể thuyên giảm bằng aspirin, anh bị khò khè đường thở nhưng ống thở chẳng ăn thua, vì cơn khò khè ấy không nằm trong họng hay trong phổi anh – mà ở quanh trái tim anh. Anh sẽ về với em chừng nào anh có thể, Marty ạ, nhưng anh cảm thấy mình như kẻ đứng ngay miệng giếng than cũ sắp sụp, anh ngây ra đứng đấy, tạ từ ánh sáng.
Phải –ôi trời ơi, phải rồi! Nói thế thì kiểu gì cô ấy chẳng bình tâm!
“Không” anh chốt hạ. “Chắc anh không thể kể với em được.”
Và trước khi cô kịp nói gì thêm, trước khi cô bắt đầu bài ca của mình ( Eddie, ra khỏi chiếc tắc-xi đó đi! Coi chừng mắc ung thư bây giờ! ), anh đã rời khỏi cô, rảo bước thật nhanh. Vào lúc bước đến chiếc tắc-xi, anh gần như đang chạy.
Cô vẫn đứng sững ở hành lang khi chiếc tắc-xi lùi ra đường, đứng như trời trồng khi họ bắt đầu chạy về phía thành phố – bóng người phụ nữ to lớn màu đen cắt ngang ánh đèn hắt ra từ trong nhà. Anh vẫy tay, và thầm nghĩ hình như cô có vẫy lại.
“Anh muốn đi đâu, bạn hữu?” Tài xế tắc-xi hỏi.
“Nhà ga Penn,” Eddie đáp, tay buông lỏng ống thở. Cơn hen đã lui đi để rình rập, chốc nữa tấn công vào phế quản của anh. Anh thấy… gần như khỏe khoắn.
Nhưng bốn tiếng sau đó, tỉnh giấc sau khi chợp mắt trong một cú giật nảy mình, anh cần ống thở hơn bao giờ hết, khiến vị hành khách tươm tất trong bộ áo vest ngồi đối diện phải bỏ tờ báo của mình xuống, nhìn anh với ánh mắt đầy tò mò, thoáng chút thông cảm.
Tao trở lại rồi đây, Eddie! Cơn hen mừng rỡ rít lên. Tao về rồi đây, ồ, có khi lần này tao giết quách mày đi cho xong! Tại sao không nhỉ? Phải có lúc nào đấy chứ! Tao đâu rỗi rãi mà giỡn mặt mày mãi!
Lồng ngực của Eddie phập phồng. Anh mò tìm ống thở, chĩa nó vào cổ họng rồi kéo chốt. Đoạn anh tựa lưng vào ghế hãng tàu Amtrak, run bần bật, đợi cơn hen thuyên giảm, nghĩ ngợi về giấc mơ mình vừa thấy. Mơ ư? Chúa ơi, phải chi là thế. Anh sợ nó là ký ức chứ chẳng phải mơ. Trong đó có thứ ánh sáng xanh như ánh sáng bên trong máy chiếu tia X ở tiệm giày, và một gã hủi lở loét đuổi theo thằng nhóc Eddie Kaspbrak la hét toán loạn trong đường hầm dưới lòng đất. Anh cứ chạy mãi, chạy mãi ( thằng bé chạy khá nhanh, Huấn luyện viên Black nói với mẹ như thế, và giờ khi cái thứ lở loét kia đuổi sát sau lưng, cậu chạy còn nhanh hơn, ờ đúng rồi, thật là thế, chuẩn không cần chỉnh ) trong giấc mơ ấy, lúc anh mới mười một tuổi, và anh ngửi thấy mùi gì đó tựa thời gian đã chết, và ai đó quẹt diêm, anh nhìn xuống, trông thấy khuôn mặt thối rữa của Patrick Hockstetter, đứa trẻ mất tích vào tháng Bảy năm 1958, bao nhiêu giun dòi lúc nhúc trên má Patrick Hockstetter, thứ mùi nồng nặc, tanh ngòm bốc ra từ bên trong Patrick Hockstetter, và trong giấc mơ mồn một như ký ức chứ chẳng còn là chiêm bao ấy, anh quay sang một bên và trông thấy hai cuốn sách giáo khoa ẩm ướt, mốc xanh: Đường tới mọi ngả và Hiểu về nước Mỹ . Chúng ở trong tình trạng như thế là bởi dưới cống, mọi thứ ẩm ướt khủng khiếp (“Cách tớ trải qua kì nghỉ hè của mình”, bài tập làm văn của Patrick Hockstetter – “Tớ nằm chết thẳng cẳng dưới đường cống ngầm. Rêu mốc mọc đầy trên sách của tớ, làm mấy cuốn sách phồng lên cỡ cuốn catalog hãng Sears!”). Eddie há hốc miệng chực hét, đúng lúc ấy, những ngón tay ghẻ lở của gã hủi chộp quanh má anh, thọc vào miệng anh, để rồi đến đây anh giật nảy, bừng tỉnh, nhận ra mình không bị kẹt dưới cống ở Derry, Maine, mà ở trên một toa tàu của hãng Amtrak, nằm gần đầu tàu đang phăm phăm băng qua đảo Rhode dưới vầng trăng vằng vặc.
Một ấn phẩm quảng cáo.
Hành khách ngồi dãy đối diện thoáng lưỡng lự, tính không hỏi nhưng rốt cuộc vẫn dè dặt. “Anh có sao không?”
“À, tôi ổn, Eddie đáp. “Tôi thiếp đi và mơ thấy ác mộng. Thế nên tôi bị lên cơn hen.”
“Ra vậy.” Tờ báo lại được dựng lên. Eddie thấy đó là tờ báo mà thỉnh thoảng mẹ anh hay gọi là New York Times .
Eddie ngắm nhìn khung cảnh tĩnh lặng tưới đẫm ánh trăng diệu huyền qua ô cửa sổ. Lác đác đây đó là nhà, hoặc vài cụm nhà, hầu hết tối đen, thảng hoặc lấp ló ánh đèn. Nhưng những ngọn đèn ấy sao leo lắt quá, giả tạo quá, nếu so với cái huyền hoặc ma mị của vầng trăng.
Hắn ta tưởng Mặt Trăng nói chuyện với mình, anh chợt nghĩ. Henry Bowers. Trời ạ, tên đấy rõ thật điên rồ. Anh tự hỏi Henry Bowers bây giờ thế nào. Chết rồi? Hay tù tội? Hay lang thang nơi đồng không mông quạnh, đâu đó giữa chốn quê mùa như một con vi-rút vô phương cứu chữa, chĩa súng cướp cửa hàng Seven-Eleven giữa đêm hôm khuya khoắt, tầm 1 giờ cho đến 4 giờ sáng, hoặc khéo có khi đang cắt tiết kẻ nào ngu ngơ cho hắn đi quá giang, đoạn moi hết tiền bạc của kẻ đó?
Có thể lắm, có thể lắm.
Hay hắn đang ở nhà thương điên? Ngước nhìn ánh trăng sắp đến độ trăng rằm? Nói chuyện với trăng, lắng nghe lời trăng rì rầm?
Eddie thấy tình huống này xem chừng khả dĩ hơn. Anh rùng mình. Cuối cùng mình cũng đã nhớ ra tuổi thơ của mình, anh thầm nghĩ. Mình đã nhớ ra mình làm gì vào kỳ nghỉ hè năm 1958 u buồn và tang tóc ấy. Anh cảm nhận giờ đây, nếu muốn, anh có thể sửa bất cứ cảnh nào của mùa hè năm ấy, nhưng anh không muốn thế. Chúa ơi, phải chi con có thể quên đi tất cả.
Anh tựa trán vào mặt kính cứa sổ dơ dáy, một tay hờ hững cầm ống thở như một món đồ linh thiêng, dõi theo màn đêm lướt qua con tàu.
Lên mạn Bắc, anh thầm nghĩ, nhưng điều đó sai rồi.
Không phải lên mạn Bắc. Bởi đây không phải con tàu mà là cỗ máy thời gian. Nó không lên mạn Bắc mà đi ngược. Ngược dòng thời gian.
Anh nghĩ hình như mình vừa nghe Mặt Trăng rì rầm.
Eddie Kaspbrak giữ rịt ống thở, nhắm nghiền mắt trước cơn choáng váng vừa ập đến.
5
BEVERLY ROGAN ĂN ĐẬP
Lúc điện thoại reo, Tom đang lơ mơ. Gã lọ mọ dậy, rướn người về phía chiếc điện thoại, đoạn cảm nhận được ngực của Beverly áp vào vai mình lúc cô vươn qua gã để nhấc ống nghe. Gã thả mình xuống gối, tự nhủ nửa đêm nửa hôm thế này ai lại có thể gọi vào số điện thoại vốn không được công khai của nhà gã. Gã nghe thấy Beverly nói xin chào, và rồi gã lại chìm vào giấc ngủ. Gã đã uống gần hai chục lon suốt trận bóng chày, và gã mệt lử.
Và rồi giọng nói chát chúa đầy tò mò của Beverly -“Cái gìiii?” – khoan vào tai gã như dùi đục đá, khiến gã mở bừng mắt. Gã cố ngồi dậy, thế mà dây điện thoại chặn ngay cái cổ to bè của gã.
“Bỏ thứ chết tiệt kia ra khỏi người tôi mau, Beverly,” nghe thấy gã nói thế, cô bật dậy, bước quanh giường, hai tay chụm lại giữ sợi dây. Tóc cô hung đậm, gợn sóng, buông xõa xuống váy ngủ đến tận eo. Mái tóc của con điếm. Đôi mắt của cô không biết lần tới mắt gã để đọc được tâm trạng ở đó, và Tom Rogan cảm thấy khó chịu. Gã ngồi dậy. Đầu gã bắt đầu đau. Mẹ kiếp, chắc nó đau từ nãy đến giờ, nhưng khi say ngủ, gã chẳng hề hay biết.
Gã vào nhà vệ sinh, đi tiểu lâu đến độ gã cảm giác phải kéo dài ba tiếng đồng hồ, đoạn quyết định nếu còn thức, gã nên nốc thêm lon bia cho bớt choáng sau cơn chè chén.
Đi ngang qua phòng ngủ cạnh cầu thang, gã đàn ông mặc quần đùi trắng phất phơ như cánh buồm bên dưới bụng bia to đùng, hai tay nùi nụi như cây giò (trông gã như kẻ bốc vác chứ chẳng giống chủ tịch kiêm tổng giám đốc công ty Beverly Fashions chút nào), gã nhìn qua vai và gắt lên: “Nếu là con Lesley đồng bóng ấy gọi thì bảo nó đi kiếm mấy ả người mẫu hú hí và để chúng ta ngủ đi!”
Beverly thoáng nhìn lên, lắc đầu tỏ ý người gọi không phải là Lesley, đoạn nhìn xuống chiếc điện thoại. Tom cảm thấy phần cơ bắp sau gáy căng lên. Dám trái lời gã. Phu nhân của gã dám trái lời gã. Phu-nhân-chết-giẫm-của-gã. Chưa vắng chủ nhà mà đã dám vọc niêu tôm. Xem ra Beverly cần được dạy một bài học ngắn để biết thế nào là tôn ti trật tự. Chắc thế rồi. Thỉnh thoảng lại vậy. Cô ta dốt đặc cán mai mà.
Gã xuống lầu, đi dọc hành lang vào nhà bếp, lơ đễnh đưa tay móc đít quần đùi, đoạn mở tủ lạnh. Gã lần mò tìm nhưng không thấy có thứ gì có cồn hơn cái đĩa Tupperware màu xanh đựng mỳ Romanoff còn dư. Hết sạch bia. Ngay cả lon bia gã cất sâu bên trong (như cách gã gấp tờ hai mươi đô-la nhét trong bằng lái phòng hờ) cũng không cánh mà bay. Trận bóng có mười bốn lượt đấu, thế mà xôi hỏng bỏng không. White Sox thua đứt. Năm nay toàn những thằng dở như hạch.
Mắt gã lướt đến mấy chai rượu mạnh để trong tủ kính trên quầy bếp, và trong vvô thức, gã rót Beam vào một ly rượu kèm đá. Đoạn gã trở lại cầu thang, thừa biết làm vậy chỉ khiến đầu gã thêm nhức như búa bổ. Gã liếc nhìn đồng hồ quả lắc cổ dưới chân cầu thang và nhận ra giờ đã quá nửa đêm. Hành động thông minh ấy chẳng khiến tâm trạng vốn cấm cảu ngay cả những lúc tốt nhất của gã tươi tỉnh thêm chút nào.
Gã leo lên cầu thang, cố tình đi thật chậm, ý thức - ý thức vô cùng - tim gã đang đập mạnh ra sao. Thình thịch. Thình thịch. Thình thịch. Gã cảm thấy chộn rộn trong lòng khi nhận thấy mình có thể nghe tiếng tim đập rộn trong tai, trong cổ tay cũng như trong lồng ngực. Thỉnh thoảng, khi điều đó xảy ra, gã tưởng tượng quả tim của gã chẳng phải một bộ phận co bóp nữa mà là một công tơ rõ to phía bên trái lồng ngực với cây kim đang nhích về báo động đỏ đầy đáng ngại. Gã không thích thú khốn này; gã cũng cóc cần thứ khốn này. Điều gã cần là được đánh một giấc thật say.
Thế mà con đĩ vô cảm gã cưới về vẫn đang rù rì nói chuyện điện thoại.
“Tớ hiểu điều đó, Mike… ừ… ừ, tớ có mà … Tớ biết… Nhưng…”
Một khoảng lặng kéo dài.
“Bill Denbrough?” Cô ta thốt lên, và cái dùi đục đá một lần nữa khoan vào tai gã.
Gã đứng bên ngoài cửa phòng ngủ cho đến khi lấy lại được nhịp thở. Giờ tim gã đập thình thịch, thình thịch: nhịp nện đinh tai nhức óc đã kết thúc. Gã thoáng mường tượng cây kim rời khỏi vùng báo động đỏ, đoạn cố sức gạt hình ảnh ấy ra khỏi đầu. Gã là đại trượng phu kia mà, Chúa ơi, một kẻ đầu đội trời chân đạp đất, chứ chẳng phải cái lò với rờ le rởm. Gã vai u thịt bắp, mình đồng da sắt thế này. Và nếu cô ta cần học lại điều đó, gã sẽ vui vẻ dạy cho cô sáng mắt ra.
Gã tính bước vào, nhưng lại thôi, đứng đó thêm một lát, lắng nghe cô ta nói chuyện điện thoại, thật ra chẳng quan tâm cô ta nói với ai hay nói gì, chỉ lắng nghe tông giọng cô rít ré lên xuống. Và gã cảm thấy cơn giận gai người chực trào.
Gã gặp cô trong một quán bar ở trung tâm thành phố Chicago chừng bốn năm trước. Họ nói chuyện hợp rơ vì cả hai đều làm ở tòa Standard Brands và cùng quen vài người. Tom là nhân viên của King & Landry, bộ phận quan hệ công chúng, làm việc ở tầng 42. Beverly Marsh – đó là họ của cô thời con gái – là trợ tá thiết kế ở Delia Fashions, làm việc ở tầng 12. Delia – một hãng về sau cũng khá nổi tiếng ở vùng Trung Tây, đánh mạnh vào giới trẻ – váy, áo khoác, khăn choàng và quần của nhãn hiệu này đa phần được bán ở những cửa tiệm mà Delia Castleman gọi là “cửa hàng thanh xuân”, còn Tom gọi là “cửa hàng hút chích”. Tom Rogan gần như biết ngay hai điều về Beverly Marsh: cô rất khêu gợi và rất dễ tổn thương. Trong vòng chưa tới một tháng, gã biết thêm một điều nữa: cô rất tài năng. Vô cùng tài năng. Gã nhìn thấy trong những bức vẽ váy và áo thường nhật của cô, chiếc máy in tiền tiềm năng đến đáng sợ.
Nhưng không phải ở mấy cửa hàng dấm dớ này, gã nghĩ, song không nói ra (chí ít là lúc đó). Chúng không đáng bị trưng bày trong ánh sáng tù mù như thế, giá rẻ mạt như thế, không đáng bị nhét bừa phứa phía sau cửa hàng, giữa những món đồ chơi thuốc và áo hình mấy ban nhạc rock. Những điều đó cứ để đám cắc ké làm.
Gã tìm hiểu từng đường tơ kẽ tóc về cô trước khi cô biết gã hứng thú với mình, và Tom muốn thế. Cả đời mình, gã đã tìm kiếm một người như Beverly Marsh, và gã cưa cẩm cô với tốc độ sư tử tấn công con linh dương chậm chạp. Sự mong manh của cô không thể hiện ra bên ngoài – ai nhìn cũng chỉ thấy cô là một phụ nữ xinh đẹp, thanh mảnh nhưng đường nét đâu ra đó. Hông cô không đẹp lắm, có lẽ thế, nhưng vòng ba thì tuyệt vời ông mặt trời và bộ ngực thì nõn nà nhất gã từng thấy. Tom Rogan là gã đàn ông chỉ mê đắm mỗi ngực, trước giờ là vậy, mà những con ả có chiều cao thì ngực lại thật đáng thất vọng. Chúng mặc váy rõ mỏng và nhũ hoa khiến cánh đàn ông trào máu mũi, nhưng khi lột váy ra mới biết chỉ được mỗi nhũ hoa, còn đâu chẳng được gì. Ngực của chúng nhìn chẳng khác nào cái núm trên ngăn kéo. “Vừa tay là được rồi,” thằng bạn cùng phòng đại học của gã hay nói như thế, nhưng như Tom đánh giá, tên đó cũng chỉ là hạng cặn bã.
Ờ, nói chung cô cũng ưa nhìn, dễ thương, cơ thể nóng bỏng với mái tóc dài màu hung gợn sóng. Nhưng cô rất yếu đuối… yếu đuối theo cách mơ hồ nào đó. Tựa như cô đang phát ra tín hiệu ra-đi-ô mà chỉ gã nhận được. Có nhiều lý do chỉ ra điều đó – việc cô hút thuốc nhiều ra sao (nhưng gã đã giúp cô gần cai được rồi), cách đối mắt cô đảo liên tục, gần như chẳng bao giờ dừng lại để nhìn thẳng vào mắt người đang nói chuyện với mình, năm thì mười họa mới chạm mắt rồi lại nhanh chóng chuyển ánh nhìn sang chỗ khác; thói quen khẽ chà xát khuỷu tay khi lo âu, hình dạng móng tay lúc nào cũng gọn gàng nhưng ngắn khủng khiếp. Tom để ý móng tay cô ngay lần đầu tiên gặp mặt. Cô nhấc ly rượu vang trắng của mình lên khiến gã nhìn thấy móng tay cô, ngay lúc ấy, gã nghĩ: Cô ấy để móng tay ngắn như vậy vì cô cắn móng tay.
Sư tử có thể không tư duy, ít nhất là không tư duy như cách con người tư duy… nhưng chúng rất biết quan sát. Và khi linh dương bắt đầu rút khỏi hồ nước, cảnh giác trước thứ mùi bụi bặm của tử thần đang lừ lừ tiến đến, đại miêu có thể quan sát để biết con nào rơi lại phía sau bầy, có thể là vì chân nó bị tật, có thể là vì bẩm sinh nó vốn chậm hơn… hoặc có thể là vì nó đánh hơi nguy hiểm kém hơn đồng loại. Và thậm chí có thể vài con linh dương - và vài phụ nữ – muốn bị sư tử vồ lấy.
Bất chợt, gã nghe thấy một âm thanh thô bạo kéo gã khỏi những ký ức ấy – tiếng bật lửa của cô lách tách.
Cơn giận gai người lại trào dâng. Bụng gã sôi lên, nóng bừng nhưng không hẳn là khó chịu. Hút thuốc. Cô đang hút thuốc. Họ đã có vài buổi Hội thảo Đặc biệt của Tom Rogan về vấn đề này kia mà. Thế mà cô vẫn hút cơ đấy. Dốt cũng vừa phải thôi chứ, nhưng không sao, thầy giỏi phải có trò khó.
“Ừ.” cô nói vào điện thoại. “Vậy à. Được rồi. Ừ…” cô lắng nghe, đoạn nhả một tiếng cười lạ lùng, trầm đục mà gã chưa nghe bao giờ. “Vì cậu đã hỏi, nên có hai điều – đặt một phòng cho tớ và đọc câu kinh cho tớ nghe đi. Ừ, được… Ừ hử… tớ cũng vậy. Ngủ ngon nhé.”
Lúc gã bước vào thì cô cúp máy. Gã định bụng rầm rầm bước vào, hét lên bắt cô dập máy, dập máy ngay lập tức, NGAY LẬP TỨC! , song khi nhìn thấy cô, những lời đó như mắc nghẹn trong cổ họng gã. Trước đây, gã từng trông thấy cô như vậy, nhưng chỉ hai hoặc ba lần. Một lần trước buổi diễn lớn đầu tiên của họ, một lần trước buổi duyệt riêng đầu tiên cho khách mua quốc nội, thêm một lần khi họ đến New York dự lễ Giải thưởng Thiết kế Quốc tế.
Cô sải từng bước dài ngang qua phòng ngủ, chiếc váy ngủ đăng ten trắng ôm sát người, điếu thuốc bập giữa răng cửa (trời ạ, gã chúa ghét cô ngậm thuốc lá trong miệng) để vương lại sau vai trái một dải nơ nhỏ màu trắng như khói từ đầu máy xe lửa.
Nhưng khuôn mặt cô mới chính là điểm khiến gã chững lại, khiến bao câu cú chết lặng trong họng gã. Tim gã trật nhịp - thình thịch! – và gã nhăn mặt, cho bản thân biết thứ gã cảm thấy không phải sợ hãi mà chỉ là bất ngờ khi thấy cô tự tìm đường rẽ lối cho mình.
Cô là kiểu phụ nữ chỉ thực sự căng tràn nhựa sống khi nhịp điệu công việc dâng cao đến tột đỉnh. Và tất nhiên, mỗi dịp gã nhớ đều liên quan đến công việc. Những lúc như thế, gã lại bắt gặp một người phụ nữ khác với người gã quen-một phụ nữ phá hỏng ra-đa dò sợ hãi rất chi nhạy của gã với những đợt tĩnh điện bùng nổ mạnh mẽ. Người phụ nữ ấy xuất hiện vào những lúc áp lực, mạnh mẽ nhưng khó chiều, gan dạ nhưng khôn lường.
Lúc này, má cô có đủ tông màu, gò má ửng hồng tự nhiên. Mắt cô mở to, lấp lánh, không vương chút ngái ngủ. Mái tóc cô mượt mà, óng ả. Và… ối chiềng làng chiềng chạ, thượng hạ tây đông! Nhìn mà xem, ối giời ơi! Chẳng phải cô ấy đang lôi một chiếc va li từ trong tủ ra sao? Va li? Ôi giời ơi, thật là thế!
Đặt một phòng cho tớ… và đọc câu kinh cho tớ nghe đi.
Chà, cô ta sẽ không cần phòng phiếc gì trong khách sạn cả, chí ít là trong tương lai gần, bởi Beverly Rogan bé bỏng sẽ ở đây, trong căn nhà này, cảm ơn quý vị, và chịu phạt bằng cách đứng ăn trong ba, bốn ngày sắp tới.
Nhưng cô cũng sẽ cần một hai câu kinh trước khi gã xong chuyện với cô đấy.
Cô ném va li xuống chân giường rồi bước đến ngăn kéo của mình. Mở ngăn trên cùng, cô lấy hai chiếc quần jean và một quần nhung. Tống chúng vào va li. Lại quay lại ngăn tủ, điếu thuốc nhả khói qua vai. Cô lấy một chiếc áo len, vài chiếc áo thun, một áo cánh Ship’n Shore cô mặc trông rõ xấu nhưng lì lợm không chịu bỏ. Chắc hẳn người gọi điện thoại cho cô không phải tầng lớp giàu sang phú quý du lịch vô bờ bến. Đây hẳn là công việc nhàm chán, cuối tuần chỉ để bay lòng vòng lộ trình Jackie-Kennedy-Hyannisport.
Thật ra gã không quan tâm ai gọi cho cô hoặc cô tính đi đâu, bởi cô đừng hòng đi đâu cả. Những thứ đó chẳng phải chi tiết liên tục đục vào đầu gã, cái đầu đã mù mờ và nhức ong lên vì quá nhiều bia cũng như thiếu ngủ.
Mà là điếu thuốc ấy.
Gã cứ ngỡ cô đã vứt tất cả đi rồi. Hóa ra cô giấu gã – bằng chứng rành rành giữa hai hàm răng cô kia kìa. Và vì cô vẫn chưa để ý gã đang đứng ngay lối ra vào, gã cho phép mình tận hưởng cảm giác khoái trá khi nhớ lại hai đêm trấn an gã rằng gã hoàn toàn kiểm soát được cô.
Anh không muốn em hút thuốc quanh anh nữa, gã nói với cô lúc họ trở về nhà sau một bữa tiệc ở Lake Forest. Nếu gã không lầm thì độ ấy vào tháng Mười. Anh đã phải ngậm bồ hòn hít thứ chết dịch ấy ở bữa tiệc và ở văn phòng rồi, nhưng anh không muốn hít nó khi ở bên em. Em biết nó cảm giác thế nào không? Để anh nói thật với em nhé – rất khó chịu, nhưng đó là sự thật. Cứ như phải ăn cứt mũi của kẻ khác vậy.
Gã cứ ngỡ điều này sẽ khơi gợi chút phản kháng yếu ớt trong cô, thế mà cô chỉ nhìn gã với ánh mắt e dè, những muốn làm gã hài lòng. Giọng nói của cô trầm thấp, nhu mì, ngoan ngoãn. Được rồi, Tom.
Vậy em vứt nó đi.
Và cô làm theo lời gã. Tom được dịp bông đùa vui vẻ suốt buổi tối hôm đó.
Vài tuần sau, khi bước ra từ rạp chiếu, cô vvô thức đốt một điếu thuốc ở sảnh đợi và phì phèo nhả khói khi họ bước qua bãi đậu đến xe của mình. Đêm ấy là một đêm tháng Mười một lạnh buốt, gió cắt như điên vào từng mảng da lộ ra trong cái rét. Tom nhớ gã đã ngửi thấy mùi từ hồ bốc lên, như thỉnh thoảng ta hay ngửi thấy vào những đêm trời lạnh lẽo - một thứ mùi bằng lặng vừa tanh vừa có gì đó trống trải. Gã để cô hút hết điếu đó. Gã thậm chí còn mở cửa cho cô khi họ vào xe. Gã ngồi vào sau vô lăng, đóng cửa rồi lên tiếng: Bev?
Cô rút điếu thuốc khỏi miệng, quay sang nhìn gã, thắc mắc, và rồi gã xòe bàn tay to bè tát vào mặt cô thật mạnh, đến độ lòng bàn tay gã nhoi nhói, mạnh đến độ đầu cô bật ngửa ra phần tựa đầu phía sau. Mắt cô trợn tròn với vẻ ngạc nhiên và đau đớn… và một điều gì đó nữa. Cô đưa tay lên má để dò la cảm giác ấm nóng và tê dại nhoi nhói. Cô ré lên, “Đau quá! Tom!”
Gã nhìn cô, mắt nheo lại, miệng vẫn nở nụ cười tự nhiên, rần rần sảng khoái, thích thú chờ đợi diễn biến tiếp theo, xem có phản ứng thế nào. Cậu bé của gã cứng lên dưới lớp quần, nhưng gã không để ý. Điều đó để lát nữa. Còn hiện tại, đã đến giờ học rồi. Gã lặp đi lặp lại thứ vừa diễn ra. Khuôn mặt của cô. Biểu cảm thứ ba, xuất hiện đúng một khoảnh khắc rồi biến mất là gì nhỉ? Một là ngạc nhiên. Hai là đau đớn. Và rồi…
(hoài niệm)
dáng vẻ của ký ức… của nhiều ký ức. Nó chỉ xuất hiện đúng một tích tắc. Gã nghĩ cô thậm chí còn chẳng biết mình có biểu hiện ấy, dù trên mặt hay trong tâm tưởng.
Hiện tại, hiện tại ư? Tất cả nằm ở điều đầu tiên mà cô không nói. Gã biết nó rõ như lòng bàn tay.
Không phải Anh là đồ khốn kiếp!
Không phải Đồ cũ phu, vĩnh biệt.
Không phải Chúng ta chấm dứt đi, Tom.
Cô chỉ nhìn gã với đôi mắt hổ phách nâu ánh xanh đầy tổn thương, ầng ậng nước và nói: Tại sao anh lại làm vậy? Rồi cô lắp bắp định nói gì đó nhưng rồi òa lên khóc.
Vứt nó ra ngoài ngay.
Vứt gì? Anh bảo em vứt gì? Lớp trang điểm của cô nhoe nhoét xuống mặt thành những vết nhầy nhụa. Gã chẳng buồn quan tâm. Thậm chí gã còn thích trông thấy cô như vậy. Có chút bừa, nhưng cũng có chút gì đó rất quyến rũ. Rất điếm đàng. Phần nào gợi dục.
Thuốc lá. Vứt nó ra ngoài.
Giờ chân lý mới chiếu rọi. Đi kèm cả tội lỗi.
Em quên thôi mà! Cô khóc. Có vậy thôi!
Vứt ra ngoài ngay, Bev, chứ không tôi cho cô ăn thêm vài cái tát đấy.
Cô hạ cửa xuống rồi vứt điếu thuốc ra ngoài. Đoạn cô quay sang nhìn gã, khuôn mặt trắng bệch, sợ sệt và có phần tôn nghiêm.
Anh không được… anh không được đánh em. Như thế… không… không… không tốt cho một mối quan hệ dài lâu. Cô cố gắng tìm tông giọng phù hợp, một giọng điệu người lớn, nhưng thất bại. Gã đã khiến cô tiến hóa lùi. Gã đang ở trong xe với một đứa con nít. Khêu gợi và gợi cảm khôn tả, nhưng chỉ là đứa con nít.
Không thể và không được là hai thứ khác nhau, bé ạ, gã nói. Gã giữ giọng mình bình thản nhưng bên trong gã đang run lên vì sung sướng. Và tôi là kẻ quyết định điều gì tạo nên một mối quan hệ bền lâu, điều gì không. Nếu cô sống được với nó thì tốt. Không thì cứ việc dứt áo ra đi. Tôi không cản. Tôi có thể đá đít cô một phát làm quà tiễn biệt, nhưng tôi không cản. Đất nước này tự do mà. Tôi còn nói được gì đây?
Có lẽ anh nói vậy là đủ rồi, cô thều thào, và gã lại tát cô, lần này mạnh hơn lần trước, vì không một con đàn bà nào được phép ra mặt với Tom Rogan. Nữ hoàng Anh mà dám tinh tướng với gã, gã cũng đập cho vêu đầu.
Má cô đập vào bảng điều khiển phủ nhựa mềm. Tay cô mò mẫm cửa nhưng rồi buông lơi. Cô chỉ co cụm một góc như con thỏ, một tay bưng miệng, mắt mở to, ầng ậng nước, sợ sệt. Thoáng nhìn cô, Tom bước ra ngoài, đi vòng về phía sau xe. Gã mở cửa. Gã ngửi thấy mùi thuốc lá trong khí trời tháng Mười một se sắt gió, và mùi của hồ sực lên rất rõ.
Cô muốn ra ngoài hả, Bev? Tôi thấy cô mò tìm tay cầm cửa, nên tôi đoán cô muốn ra ngoài. Được thôi. Quá được chứ lị. Tôi đã đề nghị cô bỏ thuốc và cô hứa sẽ làm. Thế rồi cô nuốt lời. Giờ cô muốn ra ngoài chứ gì? Nào. Ra ngoài đi. Thế đếch nào lại không? Ra ngoài đi. Cô muốn ra ngoài chứ gì?
Không, cô thều thào.
Cái gì? Tôi không nghe rõ.
Không, em không muốn ra ngoài, cô nói to hơn một chút.
Cái gì – mấy điếu thuốc lá đó làm phổi cô tắc nghẽn rồi hả? Nếu cô không nói được, mẹ kiếp, để tôi lấy cho cô cái loa. Cơ hội cuối cùng của cô đấy, Beverly. Nói rõ lên cho tôi nghe xem nào: cô muốn bước ra khỏi xe hay cô muốn trở về với tôi?
Em muốn trở về với anh, cô đáp, hai tay giữ chặt váy như một đứa bé. Cô không dám nhìn anh. Nước mắt lã chã rơi trên má.
Được rồi, gã nói. Tốt lắm. Nhưng đầu tiên, nói tôi nghe câu này, Bev. Nói, “Em quên không được hút thuốc trước mặt anh, Tom.”
Và giờ thì cô ngước nhìn gã, ánh mắt bắt đầu tổn thương, nài nỉ, bất định. Anh có thể bắt em làm thế, nhưng em xin anh, đừng như vậy, đôi mắt ấy lên tiếng. Đừng, em yêu anh mà, chúng ta không thể gác lại chuyện này sao?
Không - không thể. Vì đây chưa phải tận cùng ham muốn của cô, và cả hai kẻ bọn họ đều biết điều đó.
Nói đi.
Em quên không được hút thuốc trước mặt anh, Tom.
Tốt. Giờ nói “Em xin lỗi” đi.
Em xin lỗi, cô máy móc lặp lại.
Điếu thuốc cháy dở lăn lóc trên vỉa hè như mẩu ngòi nổ. Những người rời khỏi rạp hát liếc nhìn họ, một người đàn ông đứng cạnh cửa hành khách đang để ngỏ của chiếc xe Vega nhạt nhòa mẫu cũ, người phụ nữ ngồi bên trong, nắm chặt tay trong lòng, cúi đầu, ngọn đèn phản chiếu sắc vàng lên mái tóc buông dài.
Gã dùng chân dập điếu thuốc, trây nó trên mặt đường nhựa.
Bây giờ nói: “Em sẽ không tái phạm nếu không được anh cho phép.”
Em sẽ không…
Giọng cô bắt đầu run lên.
… không… b-b-b-
Nói đi, Bev.
… không bao giờ t-tái phạm. Nếu không được anh cho phép.
Đến đó, gã đóng sầm cửa rồi trở lại ghế lái. Gã ngồi sau vô lăng và lái xe đưa họ trở về căn hộ ở trung tâm thành phố. Không ai nói lời nào. Một nửa mối quan hệ diễn ra trong bãi giữ xe, nửa còn lại diễn ra bốn mươi phút sau đó, trên giường nhà Tom.
Cô nói cô không muốn quan hệ. Nhưng gã nhìn thấy đôi mắt và bộ điệu khệnh khạng của cô nói lên sự thật khác hẳn, và khi gã cởi áo cánh của cô, gã phát hiện nhũ hoa cô đã cương cứng. Cô rên rỉ khi gã vuốt ve, khẽ la lên khi gã mút một bên, rồi đến bên còn lại, vừa mút vừa bóp thật mạnh. Cô chộp lấy tay gã và nhét nó vào giữa hai chân mình.
Tôi tưởng cô không muốn kia mà, gã nói, nghe thấy thế, cô quay mặt đi… nhưng cô không buông tay gã ra, thậm chí còn lắc hông mạnh hơn.
Gã đẩy cô lên giường… và giờ gã thật nhẹ nhàng, không xé rách quần lót của cô mà cởi nó thật cẩn trọng, gần như nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa.
Đưa vào trong cô cứ như thể đưa vào trong một thứ dầu tuyệt hạng.
Gã chuyển động cùng cô, dùng cô nhưng cũng để cô dùng gã, và rồi cô lên đỉnh gần như ngay lập tức, hét to, móng tay bấu vào lưng gã. Sau đó họ chuyển động cùng nhau theo những nhịp dài, chậm, đâu đó trong quá trình ấy, gã đoán cô đã lên đỉnh lần nữa. Tom cũng gần lên đỉnh, nhưng rồi gã nghĩ về tỷ lệ đánh bóng thành công của White Sox hoặc thằng dám phá giá để cướp khách hàng Chesley ở chỗ làm, thế là gã lại thấy bình thường. Đoạn cô bắt đầu tăng tốc, nhịp điệu của cô dần hòa thành một nhịp chống đẩy hết sức hưng phấn. Gã nhìn mặt cô, mascara chảy khiến mắt như con gấu mèo, son môi nhoe nhoét, và gã chợt thấy bản thân mình phóng điên cuồng tận cùng ngóc ngách trong cô.
Cô lắc hông ngày một dữ dội hơn – ngày ấy chưa có bụng bia ngăn cách hai người và bụng của bọn họ đập vào nhau càng lúc càng nhanh dần.
Về cuối, cô thét lên rồi cắn vào vai gã với hàm răng nhỏ và đều tăm tắp.
Em lên đỉnh bao nhiêu lần? Gã hỏi cô sau khi cả hai tắm rửa xong.
Cô quay mặt đi, và khi cô đáp trả, giọng cô thấp trầm đến độ gã gần như chẳng nghe thấy gì. Ai lại đi hỏi điều ấy bao giờ.
Không à? Ai bảo em thế? Misterogers chắc?
Gã lấy tay giữ mặt cô, ngón cái bóp sâu vào một bên má, bốn ngón còn lại ép vào má kia, lòng bàn tay ôm trọn lấy cằm.
Tom hỏi là phải nói, gã ra lệnh. Nghe chưa, Bev? Bố hỏi là phải nói.
Ba, cô dè dặt đáp.
Ngoan lắm, gã nói. Em được phép hút thuốc rồi đấy.
Cô nhìn gã bán tín bán nghi, mái tóc hung xõa trên gối, hoàn toàn lõa lồ, trừ chiếc quần con ôm sát hông. Chỉ cần ngắm cô thế này cũng đủ khiến động cơ của gã nóng máy. Gã gật đầu.
Được, gã cho phép. Em hút đi.
Ba tháng sau, hai người họ kết hôn với một lễ cưới đơn giản. Hai người bạn của gã đến tham gia; người bạn duy nhất của cô tham dự là Kay McCall mà Tom gọi là “con giặc cái suốt ngày đòi quyền phụ nữ”.
Tất cả những ký ức này xẹt ngang đầu Tom chỉ trong vòng vài giây, như một thước phim tua nhanh, trong lúc gã đứng ngay ngưỡng cửa nhìn cô. Cô đã lục đến ngăn cuối cùng của chiếc tủ mà cô hay gọi “tủ cuối tuần”, và giờ cô đang bỏ quần lót vào va li – không phải loại quần bằng vải satin trơn bóng hay lụa mềm mại mà gã thích; chỉ là loại bằng cotton, đơn giản, đa phần đều đã bạc màu, phần thun quanh eo có vài chỗ bị sờn rách. Một chiếc váy ngủ như thể bước ra từ bộ phim Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên . Cô mò mẫm đưa tay sâu vào ngăn tủ để biết có gì bên trong.
Trong khi đó, Tom Rogan bước qua tấm thảm lót sàn tiến đến tủ quần áo. Gã mang chân trần, bước đi im lặng như một cơn gió. Thuốc lá là thứ khiến gã bực mình nhất. Cũng khá lâu kể từ khi cô quên bài học đầu tiên rồi đấy nhỉ? Từ đó đến nay có nhiều bài học khác, rất nhiều và có những ngày nóng nực mà cô phải mặc áo dài tay, thậm chí áo len cardigan cài cúc đến tận cổ. Có những ngày trời xám xịt mà cô phải mang kính râm. Những bài học đầu tiên ấy quá đỗi bất ngờ và căn cơ…
Gã đã quên bẵng cú điện thoại làm gã tỉnh giấc. Là điếu thuốc. Nếu bây giờ cô dám hút thuốc thì chẳng khác nào cô quên mất Tom Rogan. Tất nhiên là tạm thời, chỉ tạm thời thôi, nhưng ngay cả tạm thời thì cũng quá dài rồi đấy. Lý do khiến cô quên là gì chẳng quan trọng. Những chuyện này không được phép xảy ra trong nhà của gã dưới bất cứ lý do nào.
Bên trong cửa tủ có treo một dải thắt lưng da màu đen bản rộng. Thắt lưng không có phần cài khóa vì gã đã gỡ bỏ cách đây rất lâu. Ở phần cài khóa được chập đôi thành một vòng tròn mà Tom Rogan vừa thòng tay vào.
Tom, mày là đồ mất dạy! Mẹ gã thỉnh thoảng nói – chà, “thỉnh thoảng” thì không đúng lắm, “rất thường xuyên” mới phải. Qua đây, Tommy! Tao phải cho mày ăn đòn mày mới chịu. Tuổi thơ của gã được nhấn nhá bởi những trận đòn roi. Cuối cùng, gã trốn thoát đến trường Cao đẳng bang Wichita, nhưng chạy trời chẳng khỏi nắng, bởi gã vẫn còn nghe văng vẳng tiếng mẹ gã trong mơ: Qua đây, Tommy, tao phải cho mày ăn đòn mày mới chịu. Ăn đòn…
Gã là con cả trong gia đình có bốn anh em. Ba tháng sau khi đứa út được sinh ra, Ralph Rogan qua đời – chà, từ “qua đời” chưa chuẩn lắm; phải là “tự sát” mới phải, vì lão đổ một lượng kha khá nước tro tàu vào vại đựng rượu gin rồi nốc ừng ực thứ hỗn hợp quỷ thần này trong lúc ngồi trên bồn cầu. Bà Rogan đành phải kiếm việc nhà máy Ford. Dù chỉ mới mười một tuổi, Tom trở thành người đàn ông của cả gia đình. Nếu nó phạm sai lầm – nếu đứa em ị ra tã mà người trông trẻ đã về nhà và đóng cứt vẫn còn cho đến lúc mẹ về nhà… nếu nó quên đón Megan từ nhà trẻ, ngang qua góc đường Lớn mà bà Grant chuyên ngồi lê đôi mách kia trông thấy… nếu nó ngồi xem chương trình Bục trình diễn Mỹ trong khi Joey vào bếp phá phách… nếu bất cứ điều gì trong ti tỉ những thứ này xảy ra… thì sau khi những đứa nhỏ đã đi ngủ, cây roi sẽ xuất đầu lộ diện và mẹ sẽ gọi nó: Qua đây, Tommy. Tao phải cho mày ăn đòn mày mới chịu.
Thà là kẻ đánh đòn còn hơn là kẻ chịu đánh.
Đó là một trong những điều tối quan trọng mà gã học được trên đường đời.
Vì thế, gã nảy phần đầu còn lỏng của thắt lưng và thắt chặt đầu lọng. Đoạn gã siết nắm tay quanh sợi dây. Đã quá. Nó khiến gã cảm thấy mình như người lớn. Sợi dây da buông thõng từ nắm tay gã như con rắn đen thui chết ngoèo. Cơn đau đầu bay biến tự lúc nào.
Cô tìm thấy thứ nhét sâu trong ngăn kéo: một cái áo ngực có hình viên đạn bằng cotton màu trắng đã cũ. Trong đầu gã chợt nổi lên rất nhanh suy nghĩ biết đâu người gọi điện thoại sáng sớm kia là người tình của cô, nhưng ý tưởng ấy lặn mất. Một người phụ nữ đi gặp nhân tình nhân ngãi chẳng bao giờ đóng áo cánh Shipon Shore đã bạc màu và quần lót cotton K-Mart nhão thun cả. Hơn nữa, có cho vàng cô cũng chẳng dám.
“Beverly,” gã khẽ nói, và cô giật mình quay lại, mắt mở to, mái tóc dài đung đưa.
Thắt lưng trên tay gã chần chừ… thoáng lơi. Gã nhìn cô chằm chằm, cảm thấy sự khó chịu manh nha trở lại. Phải, cô luôn bày ra vẻ mặt này trước các buổi diễn lớn, và khi ấy gã không cản đường cô, bởi gã hiểu cô đang căng tràn thứ cảm xúc pha trộn giữa sợ hãi và hung hãn đầy cạnh tranh, như thể đầu cô đang đầy khí phát sáng: chỉ cần một tia lửa, cô sẽ nổ tung. Cô không chỉ xem các buổi diễn như cơ hội để ly khai khỏi Delia Fashions, để kiếm tiền – hoặc thậm chí kiếm cả gia tài – bằng sức mình. Nhưng nếu thế thì chẳng có gì phải bàn. Nhưng nếu thế thì cô đã không sở hữu tài năng hơn người đến vậy. Cô xem những buổi diễn ấy như một dạng bài kiểm tra gắt gao, cô sẽ bị những vị giáo viên dữ dằn xét điểm. Thứ cô thấy vào những dịp này là một sinh vật vô diện. Nó không có mặt, nhưng có tên: Quyền uy.
Bao căng thẳng ấy hiện hết lên khuôn mặt cô lúc này. Nhưng không chỉ ở đó; nó còn bao quanh cô, tạo ra một thứ hào quang gần như tượng hình, một thứ điện tích cao thế khiến cô bỗng dưng vừa quyến rũ vừa nguy hiểm hơn hẳn con người bấy lâu cô thể hiện với gã. Gã sợ vì cô ở đây, hiện diện rõ rệt ở đây, cái bản thể đậm chất cô hơn hẳn cái bản thể Tom Rogan muốn, cái bản thể gã nhào nặn mà thành.
Vẻ mặt của Beverly vừa chấn động vừa kinh hãi. Trông cô cũng có vẻ vui sướng gần như phát điên. Đôi má cô ửng đỏ, nhưng phần mí dưới mắt cô vẫn có những vệt trắng nhởn, trông chẳng khác nào đôi mắt thứ hai. Trán cô cũng đồng bộ ánh lên màu kem.
Và điếu thuốc vẫn thò ra từ miệng cô, giờ hơi hếch lên, cô ta tưởng mình là Franklin Delano Roosevelt đấy à. Điếu thuốc! Chỉ nhìn nó thôi cũng khiến cơn thịnh nộ một lần nữa như cơn sóng xanh quét qua người gã. Xa xôi trong tâm trí, gã nhớ mang máng cô từng nói với gã trong bóng tối giữa đêm khuya, với giọng nói vô cảm, đều đều: Có ngày anh sẽ giết chết em mất, Tom. Anh có biết không? Có ngày anh sẽ đi quá giới hạn và thế là hết. Anh sẽ mất tự chủ.
Gã trả lời: Em làm theo ý anh thì ngày ấy sẽ không bao giờ đến.
Lúc này đây, trước khi cơn cuồng nộ làm lu mờ tất cả, gã tự hỏi liệu ngày ấy có đến không.
Điếu thuốc. Bỏ qua cuộc điện thoại, chuyện cô xếp đồ, vẻ mặt kỳ cục của cô. Họ sẽ giải quyết chuyện điếu thuốc. Và rồi gã sẽ thịt cô. Sau đó, họ có thể bàn phần còn lại. Đến lúc đó, có khi vấn đề vẫn còn quan trọng ấy chứ.
“Tom,” cô nói, “Tom, em phải…”
“Em lại hút thuốc,” gã nói. Giọng gã như vẳng lại từ xa, như thể vang lên từ một chiếc ra-đi-ô hàng xịn. “Hình như em quên rồi thì phải, em yêu. Em giấu chúng ở đâu?”
Nghe này, em sẽ bỏ nó đi,” cô nói rồi đi đến cửa nhà vệ sinh. Cô búng điếu thuốc- đứng từ đây mà gã vẫn thấy vết răng hằn sâu trên đầu lọc - vào bồn cầu. Ào ào. Cô trở ra. “Tom, bạn cũ của em vừa gọi. Bạn từ ngày xưa. Em phải…”
“Câm mồm, cô câm ngay cho tôi!” Gã hét lên. “Im miệng!” Song nỗi sợ hãi mà gã muốn nhìn thấy – nỗi sợ hãi gã – không hiện lên trên mặt cô. Có sợ hãi, nhưng nỗi sợ ấy xuất phát từ cuộc gọi, nhưng gã không cho phép nỗi sợ của Beverly phát ra từ hướng ấy. Dường như cô không thấy sợi thắt lưng, không thấy gã , và Tom cảm thấy khó chịu. Gã có mặt ở đây không vậy? Câu hỏi thật ngu độn, nhưng có không ?
Câu hỏi tệ hại, cơ bản đến độ trong khoảnh khắc, gã thấy mình có nguy cơ tuột mất khỏi cội rễ của bản thân, bất định như cỏ lăn trong cơn gió thốc. Nhưng gã kịp định thần. Gã hiện diện ở đây, đúng lắm, và đêm nay mổ xẻ tâm lý thế là đủ rồi đấy. Gã ở đây, gã là Tom Rogan, thằng Tom Rogan chính hiệu, và nếu con khốn đần độn này không biết thân phận mà chỉnh đốn ngay trong vòng ba mươi giây nữa, gã sẽ làm cho cô ta trông như thể vừa bị tay nhân viên đường sắt ác nghiệt tống khỏi toa tàu lao tựa tên bắn.
“Anh phải cho em ăn đòn em mới chịu” gã nói. “Anh xin lỗi, cưng ạ.”
Gã từng thấy cảm xúc sợ hãi và hung hãn ấy, phải. Và giờ là lần đầu tiên cảm xúc ấy chĩa thẳng vào gã.
“Bỏ thứ đó xuống đi,” cô lên tiếng. “Em phải đến O’Hare nhanh nhất có thể.”
Mày có mặt ở đây không vậy, Tom? Có không vậy?
Gã gạt suy nghĩ đó đi. Sợi thắt lưng chậm rãi đung đưa trước mặt gã như con lắc. Mắt gã lấp lánh dao động nhưng nhanh chóng xoáy vào mặt cô.
“Nghe em nói đã, Tom. Ở quê em ngày xưa có xảy ra biến cố. Biến lớn. Em có một người bạn từ thời ấy. Chắc cũng có thể gọi là bạn trai đấy, nhưng khi đó bọn em còn bé quá, chưa đủ tuổi để tơ tưởng những điều này. Hồi đó anh ấy mới chỉ là cậu bé mười một tuổi, cà lăm không thể tả. Giờ đang là một tiểu thuyết gia. Em nghĩ hình như anh đọc một cuốn của anh ấy rồi thì phải… Con nước đen ?
Cô tìm kiếm trên khuôn mặt gã nhưng không thấy tín hiệu nào. Chỉ có chiếc thắt lưng đung đưa qua lại, qua lại. Gã đứng đó, đầu hạ xuống, hai chân khẽ khuỳnh ra. Đoạn cô đưa tay lên bồn chồn vò tóc – tâm trí cô có vẻ rối bời – như thể cô có quá nhiều thứ quan trọng phải nghĩ và chẳng để ý thấy sợi thắt lưng, và cái câu hỏi ám ảnh, đáng ghét kia lại ngoi lên trong đầu gã: Mày có mặt không vậy? Mày chắc chứ?
“Cuốn sách đó ở đây cả mấy tuần trời mà em không phát hiện ra. Lý ra em đã biết, nhưng giờ bọn em đều trưởng thành rồi, và đã rất, rất lâu em không nghĩ đến Derry. Nói chung, chuyện là Bill có một cậu em tên là George, và George bị giết trước khi em quen thân với Bill, Cậu bé bị sát hại. Rồi mùa hè sau đó…”
Nhưng Tom đã nghe đủ thứ điên rồ cả từ trong ra lẫn từ ngoài vào. Gã nhào tới cô thật nhanh, vung tay phải qua vai như kẻ sắp ném lao. Thắt lưng vun vút xé rách không khí. Beverly trông thấy và vội tránh, song vai phải của cô đập vào cửa nhà vệ sinh, để rồi một tiếng chát chúa vang lên khi thắt lưng đập vào cẳng tay trái của cô, để lại lằn đỏ.
“Tôi phải cho cô ăn đòn,” Tom lặp lại. Giọng điệu của gã bình tĩnh, thậm chí có phần tiếc nuối, nhưng hàm răng gã nhoẻn thành nụ cười cứng đờ, trắng sáng. Gã muốn nhìn thấy vẻ mặt ấy trong mắt cô, sợ hãi, kinh hoàng và nhục nhã, vẻ mặt Vâng, anh nói đúng, em đáng bị vậy, vẻ mặt Vâng, anh hiện diện ở đấy mà, em cảm nhận được anh. Và rồi tình thương lại dạt dào trở lại, quá chuẩn và quá tốt, vì gã thật lòng yêu cô. Nếu cô muốn, họ còn có thể thảo luận với nhau về việc ai gọi điện thoại và có vấn đề gì. Nhưng phải có trước có sau. Hiện tại, đã đến giờ học rồi. Lớp học vỡ lòng. Một là ăn đòn, hai là nện nhau.
“Xin lỗi, em yêu.”
“Tom, đừng làm…”
Gã vung thắt lưng sang bên và thấy nó liếm quanh hông cô. Âm thanh khi thắt lưng quất vào mông cô nghe mới đã tai làm sao. Và…
Và trời ơi, cô ta dám chộp lấy sợi dây! Cô ta dám chộp lấy thắt lưng!
Trong thoáng chốc, Tom Rogan quá sức bất ngờ trước hành động không phục tùng này, đến độ gã suýt để mất dụng cụ trừng phạt của mình, lý ra là mất rồi, may sao vẫn còn vòng chập mà tay gã đang nắm.
Gã giật nó lại.
“Tôi cấm cô không được lấy bất cứ thứ gì từ tay tôi,” gã gắn giọng. “Cô có nghe tôi nói không? Cô thử làm một lần nữa xem, tôi sẽ cho cô tiểu ra nước mâm xôi cả tháng trời đấy.”
“Tom, anh thôi đi,” cô nói, chính tông giọng này khiến gã nổi cơn – cô như người quản sân chơi răn đe đứa trẻ sáu tuổi đang làm mình làm mẩy. “Em phải đi. Chuyện này không đùa được. Có người chết rồi, và ngày xưa em đã hứa…”
Tất cả chỉ như nước đổ lá khoai. Tom gầm lên, đầu cúi gằm, lao tới cô, thắt lưng vung điên cuồng. Gã quất cô túi bụi, đuổi đánh cô từ cửa nhà dọc theo tường phòng ngủ. Gã vung roi, quất, vung roi, quất, vung roi, quất. Cuối buổi sáng hôm ấy, gã thậm chí còn không đủ sức đưa tay lên quá mắt mà phải uống ba viên thuốc giảm đau, nhưng giờ gã nào để ý trời trăng gì, chỉ biết cô dám bất tuân gã. Cô dám hút thuốc, cô dám giật sợi thắt lưng khỏi tay gã, ôi làng nước ơi, cô ta dám gieo gió, và gã xin làm chứng trước đấng Chúa trời tối cao rằng cô ta phải gặt bão cho bằng được.
Gã đuổi cô dọc theo tường nhà, vun vút sợi thắt lưng không thương tiếc. Cô đưa tay bưng mặt, nhưng gã dư sức nhắm vào những bộ phận còn lại. Thắt lưng phát ra những tiếng quất chát chúa trong căn phòng yên tĩnh. Nhưng cô không la hét như thỉnh thoảng vẫn làm, cũng không van xin gã dừng lại. Tệ hại nhất là cô không khóc như mọi khi. Âm thanh duy nhất vang lên là tiếng thắt lưng, tiếng thở của họ, gã thở hồng hộc, nặng nề, cô thở nhanh và nhẹ.
Cô vùng chạy về phía giường và bàn trang điểm bên cạnh. Vai cô đỏ lừ vì đòn roi. Mái tóc cô rực lửa. Gã lầm lừ theo sau, chậm rãi, nhưng to lớn, hết sức to lớn - gã chơi bóng quần cho đến tận lúc bị đứt gân gót chân vào hai năm trước, kể từ đó cân nặng của gã vượt quá tầm kiểm soát một chút (hoặc có khi “nhiều chút mới đúng), nhưng cơ bắp của gã vẫn còn đó, những bó thừng chắc núi được bao bọc dưới lớp mỡ. Dẫu vậy, gã cũng chột dạ khi thấy mình bị hụt hơi.
Thấy cô vươn đến bàn trang điểm, gã cứ ngỡ cô sẽ rúm ró ở đó, hoặc có khi còn tìm cách bò xuống dưới gầm bàn. Nhưng không, cô chộp lấy thứ gì đó… quay lại… và đột nhiên không gian bay vèo vèo đồ vật. Cô đang ném mỹ phẩm vào gã. Một chai Chantilly đập ngay giữa ngực gã, rơi xuống chân, tan tành. Gã chợt được bọc bởi hương thơm đến ngạt thở.
“Thôi ngay!” Gã rống lên. “Thôi ngay, con khốn!”
Nhưng không, tay cô khua hết mặt bàn kính, chộp lấy bất cứ thứ gì tìm được và ném lia lịa. Gã rờ rẫm quanh ngực, chỗ chai Chantilly vừa hạ cánh, không tài nào tin nổi cô dám quăng đồ vào người mình, trong khi đồ vật vẫn tán loạn xung quanh gã. Nút chai bằng thủy tinh cứa rách da gã. Vết cắt không đáng kể, chỉ xước một chút, nhưng có con đàn bà tóc đỏ nào sẽ phải ngắm bình minh lên từ giường bệnh viện không? Ồ, có, có đấy. Con đàn bà…
Một hũ kem đột ngột đập thẳng vào phía trên lông mày bên phải của gã. Gã nghe thấy tiếng bốp như thể vang lên bên trong đầu mình. Mắt phải nổ đom đóm, buộc gã phải lùi lại một bước, miệng há hốc kinh ngạc. Đến lượt một tuýp kem Nivea đập vào bụng gã đánh thịch và cô – ơ kìa, có phải không? Có thật là thế không? - phải! Cô đang rủa xả vào mặt gã!
“Tôi sẽ đi đến sân bay, đồ khốn nhà anh! Anh có nghe tôi nói không? Tôi có công chuyện và tôi sẽ đi cho bằng được! Liệu mà tránh đường cho tôi vì TÔI BẢO ĐI LÀ ĐI!”
Máu chảy xuống mắt phải của gã, vừa nhức vừa nóng. Gã chùi đi.
Gã ngẩn ra đó một thoáng, nhìn cô chằm chằm như thể gã chưa từng gặp cô bao giờ. Mà nhìn theo phương diện nào đó thì đúng là thế. Ngực cô phập phồng lên xuống. Khuôn mặt ửng đỏ và trắng bệch của cô bừng bừng. Đôi môi cô kéo lại, nhe nanh. Tuy nhiên, cô đã quăng hết toàn bộ đồ trên bàn trang điểm. Hầm tên lửa giờ trống rồi. Gã vẫn có thể đọc được nỗi sợ hãi trong mắt cô… nhưng nỗi sợ ấy không phải vì gã.
“Cô cất đống quần áo kia ngay đi,” gã nói, cố giữ cho hơi thở mình không hổn hển. Nghe sẽ không tốt. Nghe sẽ rất yếu đuối. “Sau đó cất va li và vào giường ngủ. Nếu cô làm vậy, có thể tôi sẽ nương tay với cô. Có thể cô sẽ đủ sức ra khỏi nhà sau hai ngày nữa chứ không phải hai tuần.”
“Tom, anh nghe đây,” cô chậm rãi nói. Ánh nhìn của cô ráo hoảnh. “Nếu anh lại gần tôi thêm lần nữa, tôi sẽ giết anh. Anh hiểu không, con heo nái kia? Tôi sẽ giết anh.”
Và bất chợt – có lẽ do thái độ kinh tởm tột cùng trên mặt cô, sự khinh miệt, hoặc có lẽ vì cô gọi gã là heo nái, hoặc có khi vì ngực cô phồng lên xẹp xuống đầy nổi loạn – nỗi sợ bóp nghẹt gã. Không phải một nụ, một đóa mà là cả một khu vườn chết tiệt của sợ hãi, thứ sợ hãi khủng khiếp rằng gã không hiện diện ở đây .
Tom Rogan lao đến vợ mình, lần này gã chẳng buồn đi từ từ nữa. Gã như quả ngư lôi phóng vụt đi trong nước. Gã định bụng có thể sẽ không chỉ đánh đập cô, khuất phục cô mà còn làm với cô điều cô vừa la lối dọa nạt sẽ làm với gã.
Gã cứ ngỡ cô sẽ chạy. Có lẽ là chạy vào nhà vệ sinh. Hoặc cầu thang. Thế mà không cô hiên ngang đứng đấy. Hông cô đập vào tường khi cô vận hết sức bình sinh đẩy chiếc bàn trang điểm về phía gã, hai chiếc móng gãy xẻ sâu xuống tận thịt khi mồ hôi làm cô trượt tay.
Trong một thoáng chiếc bàn chao đảo nghiêng về một phía, và rồi cô lại đẩy người tới trước. Chiếc bàn trang điểm trượt trên một chân, tấm gương bắt sáng loáng thoáng phản chiếu bể cá lên trần nhà, đoạn nghiêng và đổ ập tới trước. Cạnh gương đâm thẳng vào đùi Tom, khiến gã ngã nhào. Tiếng chai lọ loảng xoảng vang lên. Trông thấy tấm gương đập xuống sàn bên trái, gã đưa tay lên che mắt, buông lơi thắt lưng. Thủy tinh vương vãi trên sàn nhà, đằng sau là gương bể. Gã cảm thấy mảnh gương đâm mình đến chảy máu.
Giờ thì cô đang khóc, hơi thở rời rạc thành từng tiếng thổn thức. Hết lần này đến lần khác, có hình dung mình rời bỏ gã, rời bỏ thói bạo ngược của Tom như cách cô rời bỏ bố mình, lén lút trong đêm, túi xách chất trong cốp chiếc Cutlass. Cô không phải kẻ ngu ngốc, ngay cả lúc này, khi đang đứng ngay rìa mớ bòng bong này, cô cũng không ngu đến mức có thể tự huyễn hoặc bản thân rằng cô chưa từng yêu Tom và không còn dành tình cảm cho gã. Nhưng điều đó không thể ngăn cô sợ gã… căm ghét gã… khinh miệt bản thân vì đã chọn gã chỉ vì những lý do mờ mịt từ cái thời lý ra đã thành quá vãng. Lòng cô không tan nát, trái tim cô đang sôi lên trong lồng ngực, đang tan chảy. Cô sợ sức nóng từ trái tim mình chẳng mấy chốc sẽ thiêu cháy chút bình tĩnh trong cô.
Nhưng trên tất cả, oang oang như búa nện vào đầu cô từ nãy đến giờ là giọng nói khô khốc, đều đều của Mike Hanlon: Nó trở lại rồi, Beverly… nó trở lại rồi… và cậu đã hứa…
Bàn trang điểm hết nâng lên lại hạ xuống. Một lần. Hai lần. Ba lần. Nhìn nó như đang thở.
Cẩn trọng từng bước, miệng méo xệch, giật giật, cô men theo bàn trang điểm, nhón chân qua những miếng kính vỡ, tóm lấy dây thắt lưng lúc Tom đẩy bàn trang điểm qua một bên. Sau đó cô lùi lại, trượt tay vào thòng lọng. Cô lắc tóc khỏi mắt và quan sát hành động tiếp theo của gã.
Tom đứng dậy. Vài mảnh gương vỡ đã cứa rách mà gã. Trên chân mày gã có một vết cắt xéo mảnh như sợi chỉ. Gã nheo lại nhìn cô, từ từ đứng dậy, và cô trông thấy vài giọt máu trên quần gã.
“Đưa tôi thắt lưng,” gã hằm hè.
Thay vào đó, cô quấn thêm hai vòng quanh tay, nhìn gã đầy thách thức.
“Thôi đi, Bev. Đưa nó đây.”
“Nếu anh dám lao vào tôi, tôi sẽ quất cho anh tơi bời hoa lá.” Từ ngữ cứ thế bật ra khỏi miệng cô nhưng đến bản thân cô cũng không tin nổi mình là kẻ đang phát ngôn. Mà cái gã người tối cổ trong chiếc quần cộc máu me kia là ai? Chồng cô? Bố cô? Người yêu thời đại học, một đêm nọ đã đập vỡ mũi cô, đơn giản là vì nổi cơn bốc đồng? Ôi Chúa ơi, giúp con với, cô nghĩ. Chúa ơi, giúp con với. Ngoài miệng, cô vẫn nói cứng. “Tôi cũng có thể làm được đấy. Anh vừa mập vừa ù lì, Tom. Tôi sẽ đi, và chắc là sẽ một đi không trở lại. Chúng ta dừng lại ở đây thôi.”
“Gã tên Denbrough là ai?”
“Quên chuyện đó đi. Tôi chỉ…”
Lúc cô nhận ra câu hỏi chỉ để đánh lạc hướng thì gần như đã quá trễ. Gã lao đến trước khi từ cuối cùng kịp thốt ra từ miệng. Cô vung thắt lưng trong không khí thành đường vòng cung, và âm thanh vang lên khi nó đét ngang miệng gã giống tiếng nút bần cứng đầu bật khỏi chai rượu.
Gã rít lên, đưa tay bụm miệng, mắt trợn trừng, tổn thương và choáng váng. Máu bắt đầu túa ra từ kẽ tay, tràn xuống mu bàn tay của gã.
“Con khốn, cô đập vỡ miệng tôi!” Gã hét lên, bị bóp nghẹt. “Ôi Chúa ơi, cô đập vỡ miệng tôi!”
Gã lại lồng lên, tay vươn tới, miệng nhoe nhét máu tươi. Môi gã xem chừng đã rách làm đôi. Một trong hai răng cửa của gã đã bị soán ngôi. Cô thấy gã phun nó ra. Một phần trong cô những muốn bước ra khỏi quang cảnh này, phần ấy buồn nôn và rền rỉ, những muốn nhắm nghiền mắt. Nhưng vẫn còn một Beverly khác cảm thấy nỗi hân hoan của kẻ phải lên đoạn đầu đài được thả tự do nhờ cơn động đất lạ kỳ. Beverly ấy khoái chí trước tình hình hiện tại. Giá mà anh nuốt nó luôn đi! Bản thể ấy nghĩ. Giá mà anh nghẹn chết luôn đi!
Và chính Beverly ấy đã vung thắt lưng lần cuối – sợi thắt lưng mà gã đã quất lên mông, chân và ngực cô. Sợi thắt lưng gã đã dùng để đánh cô vô vàn lần trong suốt bốn năm qua. Số lằn roi phụ thuộc vào việc cô sai trái nhiều mức nào. Tom về nhà mà bữa tối nguội? Hai vết quất bằng thắt lưng. Bev làm việc trễ và quên gọi về nhà? Ba vết quất bằng thắt lưng. Ô kìa, nhìn xem – Beverly lại bị thẻ phạt xe. Một vết quất bằng thắt lưng… trên ngực. Gã rất tử tế, chẳng mấy khi làm cô bầm tím. Thật ra nó cũng không đau lắm. Nhưng bẽ bàng. Ấy chính là phần đau. Và điều đau đớn hơn là cô biết đâu đó trong cô khao khát nỗi đau ấy, khao khát sự bẽ bàng ấy.
Cú chót trả giá cho tất cả, cô nghĩ, và tay cô vung thắt lưng.
Cô đưa thắt lưng xuống thấp, ở tầm cánh tay, vung ngang tinh hoàn của gã với tiếng anh nặng, âm thanh của một người phụ nữ đập vào tấm thảm. Chỉ có thế. Đến đây, bao lồng lộn của Tom Rogan chấm dứt.
Gã cất lên tiếng ré mỏng, bất lực, rồi ngã khuyu gối xuống như cầu nguyện. Hai tay gã bưng lấy vùng hạ bộ. Đầu gã bật ngửa ra sau. Cần cổ gã vằn vện gân. Miệng gã nhăn nhó đau đớn, bi kịch. Đầu gối trái của gã cắm thẳng lên mảnh vỡ nhọn hoắt của lọ nước hoa, gã im lặng ngã vật sang một bên như con cá voi. Một tay của gã rời khỏi vùng dưới để ôm lấy đầu gối đang tứa máu của mình.
Máu, cô nghĩ trong đầu. Trời ơi, anh ấy chảy nhiều máu quá.
Gã vẫn sẽ sống nhăn, bản thể Beverly mới – Beverly dường như vừa xuất hiện sau cuộc gọi của Mike Hanlon – trả lời lạnh tanh. Những kẻ như gã lúc nào chẳng sống. Rời khỏi đây ngay trước khi gã muốn nhảy đầm thêm vài bài. Hoặc trước khi gã lao xuống hầm và lấy khẩu Winchester.
Cô lùi lại, chân nhói lên khi đạp phải một miếng kính bể từ bàn trang điểm. Cô cúi xuống nắm lấy tay nắm va li. Không rời mắt phía trước bằng cả hai tay, mỗi lần cô lùi lại là y như rằng va li đập vào mắt cá. Vết cắt trên chân khiến gót cô bê bết máu. Khi ra tới cầu thang, cô mới dám quay người, chạy thật nhanh, không để bản thân mình kịp nghĩ. Cô đoán mình cũng chẳng còn ý nghĩ nào ra hồn trong đầu, chí ít là lúc này.
Cảm thấy một thứ khẽ mơn man chân mình, cô thét lên.
Nhìn xuống, cô phát hiện đó là đuôi dây thắt lưng. Nó vẫn quấn quanh tay cô. Dưới ánh đèn tù mù, trông nó càng giống con rắn chết hơn bao giờ hết. Cô vứt nó ra ngoài lan can, mặt nhăn lại kinh tởm, nhìn nó đáp xuống thành hình chữ S trên tấm thảm hành lang tầng dưới.
Đứng dưới chân cầu thang, cô bắt chéo tay, nắm lấy rìa chiếc váy ngủ đăng ten màu trắng rồi kéo qua đầu. Nó vương đầy máu, và dù trời có sập, cô cũng không chấp nhận mang thứ này thêm một giây nào nữa. Cô vứt chiếc váy qua một bên, khiến nó vướng vào cây đa búp đỏ đặt trong hành lang dẫn vào phòng khách như chiếc dù lượn đăng ten. Cô cúi người xuống va li, lõa lồ. Nhũ hoa cô lạnh ngắt, cứng như viên đạn.
“BEVERLY, MÀY BƯỚC LÊN LẦU NGAY CHO TAO!”
Cô há hốc, giật bắn mình, rồi tiếp tục cúi xuống va li. Nếu gã còn đủ sức để hét to như thế thì có nghĩa là cô còn ít thời gian hơn cô tưởng. Mở va li, cô mò mẫm tìm quần lót, áo và chiếc quần jean Levi’s cũ. Vừa đứng ngay cửa, cô vừa hối hả mặc, mắt không rời khỏi cầu thang. Nhưng Tom không xuất hiện ở đó. Gã chỉ thét gào tên cô thêm hai lần, và lần nào cô cũng giật bắn, mắt đảo như rang lạc, môi nhếch lên nhe nanh trong vvô thức.
Cô cài nút áo nhanh nhất có thể. Hai cái nút đầu tiên đã bung (thật mỉa mai khi chẳng mấy khi cô tự tay may vá) và cô nghĩ nhìn mình giống gái làng chơi đang cố gắng đi thêm một khách trước khi hết đêm –nhưng lúc này không nên đòi hỏi.
“TAO SẼ GIẾT MÀY, CON KHỐN! TIÊN SƯ CON KHỐN!”
Cô đóng sầm va li rồi khóa chốt lại. Tay một chiếc áo thò ra như cái lưỡi. Cô đưa mắt nhìn quanh một lượt, lòng thầm nghĩ mình sẽ không còn dịp nào trông thấy căn nhà này nữa.
Cảm thấy nhẹ lòng trước suy nghĩ ấy, cô mở cửa, lao ra ngoài.
Đi được ba khối nhà, bước đi mà chẳng rõ mình đang hướng về đâu, cô nhận ra mình vẫn đi chân trần. Chân bên trái bị cứa rách nhoi nhói đau. Cô phải kiếm thứ gì đó xỏ vào chân, nhưng hiện tại chưa tới 2 giờ sáng. Cô đã để ví tiền và thẻ tín dụng ở nhà. Rờ rẫm trong túi quần jean, cô chẳng tìm được gì ngoài xơ vải. Cô không có lấy một xu dính túi, đến cả đồng lẻ nhất cũng không. Cô nhìn quanh khu dân cư mình sinh sống - những ngôi nhà nguy nga, bãi cỏ và cây cối cắt tỉa đẹp đẽ, khung cửa sổ tối đen.
Bất chợt, cô phá lên cười ha hả.
Beverly Rogan ngồi trên một bức tường đá thấp, va li kẹp giữa hai chân toàn đất, cười thật to. Trên trời lấp lánh hằng hà sa số tinh tú, và chúng mới sáng làm sao! Nghiêng đầu về phía sau, cô cười với trời sao, niềm hân hoan rực rỡ lại một lần nữa quét qua như cơn sóng, dâng lên, cuốn trôi, gội sạch, mạnh đến độ mọi suy nghĩ tỉnh táo đều biến mất, chỉ có máu của cô tư duy và tiếng nói mạnh mẽ của nó nói với cô về một khao khát mơ hồ nào đấy, duy có điều nó khao khát gì thì cô không biết mà cũng chẳng quan tâm. Cảm nhận được lòng mình nóng ấm là đủ rồi. Khát khao, cô thầm nhủ, và trong cô, cơn sóng hân hoan lấy đà tăng tốc, đẩy cô vỡ òa.
Cô cười với những vì sao, sợ hãi nhưng tự do, nỗi kinh hoàng trong cô nhói lên như vết thương và ngọt ngào như trái táo tháng Mười còn xanh, và khi phòng ngủ tầng trên của căn nhà nơi bờ tường cô đang ngồi bật đèn, cô nắm lấy tay cầm va li, bay biến vào màn đêm, miệng vẫn ha hả cười.
6
BILL DENBROUGH TẠM NGHỈ
“Đi?” Audra lặp lại. Cô nhìn anh, bối rối, có chút lo âu, đoạn co đôi chân trần lên sát người. Sàn nhà lạnh ngắt. Hay nói đúng hơn, toàn bộ căn nhà nghỉ này lạnh ngắt. Miền Nam nước Anh đón xuân trong một khí trời ẩm ương đến lạ thường, và không chỉ một lần, trong những cuộc dạo bộ thường lệ vào buổi sáng và buổi tối, Bill Denbrough lại vẩn vơ nghĩ về Maine… nghĩ về Derry, một thị trấn lúc nào cũng có gì đó mơ hồ.
Căn nhà hẳn phải có hệ thống sưởi trung tâm - quảng cáo ghi vậy kia mà, và chắc dưới tầng hầm nhỏ gọn gàng ngày xưa vốn là kho trữ than kia có lò sưởi – nhưng từ đầu quá trình quay phim, cả anh lẫn Andra đã phát hiện hóa ra quan niệm hệ thống sưởi trung tâm của Anh khác với Mỹ. Xem ra người Anh cho rằng hệ thống sưởi trung tâm chỉ cần chạy sao cho sáng ra, lúc ngủ dậy, ta không phải tè cho tan lớp băng trong bồn cầu là được. Bây giờ là 8 giờ 15 phút sáng. Bill vừa cúp điện thoại năm phút trước.
“Bill, anh không thể nào nói đi là đi được. Anh biết điều đó mà.”
“Nhưng anh phải đi,” anh đáp. Ở góc phòng có một cái tủ. Anh bước đến, lấy một chai Glenfiddich từ kệ trên cùng rồi rót một ly. Rượu hơi sánh ra ngoài. “Chậc,” anh lầm bầm.
“Ai gọi điện thoại cho anh vậy? Anh sợ hãi điều gì thế, Bill?”
“Anh không sợ.”
“Ồ? Hóa ra trước giờ lúc nào tay anh cũng run lẩy bẩy thế kia sao? Lúc nào anh cũng phải làm một ly trước khi ăn sáng à?”
Anh trở lại ghế, áo choàng ngủ lật phật quanh mắt cá, rồi ngồi xuống. Anh cố mỉm cười, nhưng mãi chẳng nhếch nổi mép nên đành thôi.
Trên truyền hình, phát thanh viên của đài BBC đang tổng hợp hàng loạt tin xấu của buổi sáng trước khi điểm qua tỉ số bóng đá đêm qua. Khi đến ngôi làng ngoại ô nhỏ nhắn ở Fleet chừng một tháng trước lịch khởi quay, cả hai đều vô cùng ngạc nhiên trước chất lượng của ti vi Anh quốc – hình ảnh của chiếc ti vi tốt hãng Pye chân thật đến độ ta có thể trèo vào bên trong. Chắc có nhiều đường dây hơn hay gì đấy, Bill đoán. Em chẳng biết lý do, nhưng thế này tuyệt quá, Audra đáp. Nhưng niềm thích thú chỉ kéo dài cho đến khi họ phát hiện ti vi chỉ quanh đi quẩn lại các chương trình Mỹ như Dallas và chương trình thể thao Anh quốc bất tận, trải rộng từ những thể loại vừa dấm dớ vừa nhạt như nước ốc (vô địch ném phi tiêu, trong đó tất cả những người tham dự trông như lực sĩ sumo cao huyết áp) đến thể loại chán như con gián (bóng đá Anh dở ẹc; cricket còn tệ hơn).
“Gần đây anh nghĩ về quê anh khá nhiều,” Bill nói và nhấp một ngụm rượu.
“Quê anh?” cô hỏi lại, nét bối rối không thể giấu giếm trên khuôn mặt cô khiến anh phì cười.
“Audra ơi là Audra! Đầu gối tay ấp với một người gần mười một năm mà em không biết tí gì về đối phương à? Em có biết thế là sao không?” Anh lại phá lên cười rồi uống nốt chỗ rượu còn lại. Nụ cười của anh không khiến cô ái ngại bằng việc thấy anh với ly Scotch trên tay vào giờ này buổi sáng. Nụ cười nghe như tiếng gào thét đau đớn. “Không biết trên đời này còn đôi vợ chồng nào vừa nhận ra những gì họ biết về đối phương quá ít không nhỉ? Chắc là còn đấy.”
“Billy, em biết em yêu anh, cô nói. “Thế là đủ cho mười một năm rồi.”
“Anh biết.” Anh mỉm cười với cô – nụ cười ngọt ngào, mệt mỏi và sợ hãi.
“Em xin anh. Hãy nói em nghe có chuyện gì vậy.”
Cô nhìn anh với đôi mắt xám xinh xắn, ngồi trên chiếc ghế trong căn nhà nghỉ cũ họ thuê, hai chân co dưới vạt váy ngủ, người phụ nữ anh đã yêu, đã kết hôn và đến giờ vẫn yêu như thế. Anh cố nhìn qua đôi mắt cô, để xem cô biết điều gì. Anh cố xem nó như một câu chuyện. Anh có thể làm thế, nhưng anh biết câu chuyện ấy chẳng ai thèm mua.
Có một chàng thanh niên nghèo khó đến từ bang Maine, vào trường đại học nhờ học bổng. Ước mơ cả đời là trở thành một nhà văn, nhưng khi tham gia các khóa viết lách, anh nhận ra mình mất phương hướng ở vùng đất lạ lẫm đầy đe dọa này. Có người muốn trở nên vĩ đại như Updike. Người khác lại muốn trở thành Faulkner phiên bản New England – điểm đặc biệt là cậu ta muốn viết tiểu thuyết về những số phận cùng khổ hẩm hiu bằng dạng thơ không vần điệu. Lại có một cô gái ngưỡng mộ Joyce Carol Oates nhưng cảm thấy Oates được nuôi nấng trong một xã hội phân biệt nam nữ nên bà “phóng xạ theo một cách rất văn thơ”. Oates không thể sạch được, cô gái này đánh giá. Cô sẽ là kẻ sạch hơn. Có một cậu sinh viên học lên thạc sĩ vừa lùn vừa mập chẳng biết không nói được hay không thích nói mà lúc nào cũng chỉ lầm bầm. Anh này từng viết một vở kịch trong đó có chín nhân vật. Mỗi nhân vật chỉ nói một vài từ. Dần dà, người xem nhận ra khi gộp tất cả các từ này lại với nhau, họ sẽ có được câu “Chiến tranh là công cụ của kẻ buôn cái chết trọng nam khinh nữ”. Vở kịch của anh bạn này nhận được điểm A từ thầy hướng dẫn lớp Eh-141 (Khóa kỹ năng viết sáng tạo). Người thầy này đã xuất bản bốn tập thơ cùng luận văn thạc sĩ, tất cả đều qua đơn vị xuất bản của trường. Thầy hút cần và lúc nào cũng đeo biểu tượng hòa bình. Vở kịch của tay lầm bầm béo ú này được dàn dựng bởi nhóm kịch du kích trong cuộc đình công đòi chấm dứt chiến tranh, khiến trường đại học phải đóng cửa vào tháng Năm năm 1970. Người thầy hướng dẫn đóng một vai trong đó.
John Hoyer Updike là một tiểu thuyết gia, một nhà thơ, nhà phê bình nghệ thuật và văn học người Mỹ. Ông là một trong ba tác giả đoạt giải Pulitzer dành cho tiểu thuyết nhiều hơn một lần.
William Cuthbert Faukner là một trong những nhà văn quan trọng nhất thế kỉ XX. Ông đoạt giải Nobel Văn học năm 1949 và hai lần đoạt giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 1955 và 1963.
Còn về phần mình, Bill Denbrough đã viết một truyện trinh thám trong phòng kín, ba truyện khoa học viễn tưởng và vài truyện kinh dị với cảm hứng phần lớn đến từ Edgar Allan Poe, H.P. Lovecraft và Richard Matheson – về sau, anh nói những câu chuyện ấy giống chiếc xe tang giữa những năm 1800 với động cơ siêu nạp, sơn đỏ chói.
Ba tượng đài lớn của thể loại trinh thám, kinh dị và khoa học viễn tưởng.
Một trong ba truyện khoa học viễn tưởng thu về điểm B.
“Truyện này khá hơn,” thầy hướng dẫn viết trên trang bìa. “Trong phần đánh trả của người ngoài hành tinh, ta có thể thấy vòng tròn oan nghiệt của bạo lực chỉ đẻ ra bạo lực, cá nhân thầy rất thích hình ảnh tàu vũ trụ mũi kim, biểu tượng cho sự xâm lấn về tình dục trong xã hội. Thông điệp gửi gắm còn hơi rối nhưng câu chuyện rất thú vị.”
Tất cả những truyện còn lại chỉ vớt vát được điểm C.
Cuối cùng, một ngày nọ, trong một tiết học, anh đứng lên khi mọi người đang thảo luận được chứng bảy mươi phút về đoản văn của một cô gái vàng vọt bủng beo tả cảnh một con bò săm soi khối động cơ nằm chỏng chơ giữa đồng không mông quạnh (bối cảnh có thể sau chiến tranh hạt nhân, hoặc không). Cô gái bủng beo ấy, người hút thuốc lá Winston chẳng khác nào ống khói và thỉnh một tuyên ngôn chính trị xã hội theo kiểu Orwell thời kỳ đầu. Phần lớn cả lớp – bao gồm cả thầy hướng dẫn – đều đồng ý, nhưng cuộc thảo luận vẫn dông dài kéo tiếp.
Cả lớp dồn mắt vào Bill lúc anh đứng dậy. Anh cao lớn và có phần nổi bật.
Lựa từng lời, không cà lăm (anh đã hết cà lăm hơn năm năm nay), anh phát biểu: “Em không hiểu điều này chút nào. Em không hiểu bất cứ điều nào trong những điều này. Tại sao một câu chuyện cứ phải liên quan đến xã hội? Chính trị… văn hóa… lịch sử… đó chẳng phải những thành tố tự nhiên trong bất cứ câu chuyện nào được viết một cách xuất sắc sao? Ý em là…” Anh nhìn quanh, trông thấy những đôi mắt hình viên đạn chĩa thẳng vào mình và mơ hồ nhận ra họ xem hành động của anh mang tính gây hấn. Mà có khi đúng thế thật. Anh nhận ra họ nghĩ giữa bọn họ có một tay buôn cái chết trọng nam khinh nữ. “Ý em là… tại sao ta không để một câu chuyện đơn giản là một câu chuyện ?”
Không ai đáp lại. Sự im lặng ngột ngạt. Anh đứng đó, nhìn hết cặp mắt lạnh lùng này sang cặp mắt lạnh nhạt khác. Cô gái vàng vọt phì phèo khói và dụi điếu thuốc vào gạt tàn cô mang theo trong ba lô.
Cuối cùng, thầy hướng dẫn nhẹ nhàng lên tiếng như thể đang nói chuyện với một đứa trẻ bỗng dưng nổi cơn tam bành, “Em có nghĩ William Faulkner chỉ đang kể chuyện không? Em có nghĩ Shakespeare chỉ ham thích kiếm được dăm ba đồng không? Thôi nào, Bill. Nói cho cả lớp nghe em nghĩ gì.”
“Em nghĩ thế là gần sát sự thật rồi ạ,” Bill nói, sau một hồi nghiêm túc cân nhắc câu hỏi, và anh đọc được trong mắt họ mong muốn tống tiễn anh xuống địa ngục.
“Thầy thấy,” thầy giáo lên tiếng, đùa nghịch cây bút trong tay và nheo mắt mỉm cười với Bill, “em còn nhiều thứ phải học đấy.”
Đâu đó từ cuối lớp vang lên tiếng vỗ tay.
Bill rời khỏi lớp học… nhưng tuần kế đó, anh trở lại, quyết tâm bám trụ khóa học đến cùng. Trong khoảng thời gian ấy, anh viết câu chuyện mang tên “Bóng tối”, nội dung kể về một cậu bé phát hiện dưới tầng hầm nhà mình có một con quái vật. Cậu bé đối mặt chiến đấu với nó rồi cuối cùng giết chết nó. Anh cảm thấy lòng mình như bừng nở trong quá trình viết câu chuyện này, thậm chí anh còn cảm thấy không phải anh đang kể chuyện mà là đang cho phép câu chuyện chảy qua mình. Có đoạn anh đặt bút xuống, đưa bàn tay nóng bừng và nhức nhối của mình ra tiết trời tháng Mười hai âm 10 độ, tay anh gần như bốc khói vì nhiệt độ thay đổi. Anh đi lòng vòng, đôi bốt lửng màu xanh kin kít trong tuyết như chiếc bản lề cửa chớp be bé cần tra dầu, câu chuyện khiến đầu anh phình to ; cách câu chuyện muốn bước ra có phần đáng sợ. Anh cảm thấy nếu nó không thể thoát ra bằng bàn tay cuống cuồng thảy chữ của anh, nó sẽ làm mắt anh bắn ra ngoài vì hối hả thoát ly, hối hả thành hình. “Mình sẽ cày nó ra ngô ra khoai,” anh khẽ nói với đêm đông vù vù gió rít, rồi cười chút đỉnh – một nụ cười run run. Anh biết cuối cùng anh đã ngộ ra cách làm điều đó…sau mười năm trầy vi tróc vảy, anh chợt tìm được nút nguồn của chiếc xe ủi đất chết máy to tổ chảng, choán quá nhiều không gian trong đầu anh. Nó đã chạy lại rồi kìa. Nó rồ máy, rồ máy. Cỗ máy to lớn này chẳng có gì đẹp đẽ. Mục tiêu của nó không phải để đưa những cô nàng xinh đẹp đến vũ hội. Nó không phải biểu tượng đẳng cấp. Nó được việc. Chức năng của nó là phá hủy mọi thứ. Nếu anh không cẩn thận, nó sẽ phá luôn cả anh .
Anh vội vàng lao vào trong và hoàn thành “Bóng tối” bằng ngọn lửa nhiệt thành cháy bỏng, viết đến 4 giờ sáng rồi lăn ra ngủ cạnh xấp giấy. Nếu ai đó bảo anh rằng thật ra anh đang viết về George, em trai mình, hẳn anh sẽ vô cùng sửng sốt. Bao năm nay anh không nghĩ về cậu – hoặc chí ít là anh tưởng thế.
Câu chuyện được thầy hướng dẫn trả về với điểm F chình ình ngay trong tiêu đề. Hai từ nguệch ngoạc bên dưới, viết hoa. GIẤY là từ thứ nhất. LỘN là từ còn lại.
Bill đem xấp bản thảo mười lăm trang đến lò củi rồi mở cửa. Chỉ còn vài phân là anh ném nó vào trong thì anh sực ngẩn ra trước hành động điên rồ mình định làm. Ngồi thụp xuống ghế, anh nhìn tấm áp phích nhóm nhạc Grateful Dead và phá lên cười. Giấy lộn à? Rồi sao! Cứ cho nó là giấy lộn đi! Giấy lộn cũng làm từ cây trong rừng chứ!
“Cứ để mấy cái cây ấy ngã đi!” Bill thốt lên rồi ha hả cười đến lúc nước mắt trào ra, chảy xuống mặt.
Anh đánh lại trang tiêu đề, trang giấy bị thầy hướng dẫn phê, rồi gửi nó đến tạp chí cho nam giới mang tên Cà vạt trắng (dù thật ra theo Bill thấy, tạp chí này nên được đặt tên là Mấy em gái khỏa thân trông như cắn thuốc . Được cái mục Chợ nhà văn cũ kỹ của tờ tạp chí này có đăng truyện kinh dị, và hai số anh mua ở một quầy tạp hóa địa phương có đăng bốn câu chuyện kinh dị giữa một dàn hình tươi mát cùng quảng cáo phim heo, thuốc tráng dương. Một trong số đó, câu chuyện của một tác giả tên Dennis Etchison hay ra phết.
Thật ra anh chỉ hú họa gửi “Bóng tối” chứ chẳng vọng cầu gì - trước đây anh đã gửi cả tá truyện đến các tạp chí khác nhau mà chẳng nhận được gì ngoài giấy từ chối – thế mà anh được dịp mắt chữ V mồm chữ A khi biên tập viên truyện hư cấu của Cà vạt trắng mua tác phẩm của anh với giá hai trăm đô, thanh toán lúc phát hành. Trợ lý biên tập còn thêm một ghi chú ngắn cho hay “câu chuyện kinh dị đáng sợ nhất kể từ ‘Cái hũ’ của Ray Bradbury”. Anh này ghi thêm “Tiếc là từ Bắc chí Nam chỉ có chừng bảy mươi người đọc,” nhưng Bill Denbrough chẳng quan tâm. Hai trăm đô-la đấy!
Anh đến gặp thầy hướng dẫn của mình với bản thảo cho lớp Eh-141. Thầy hướng dẫn của anh ký tên. Đoạn Bill Denbrough ghim bản thảo kèm theo tờ ghi chú lời khen của người trợ lý biên tập truyện hư cấu, đính cả hai lên bảng tin ngay cửa văn phòng thầy bộ môn viết sáng tạo. Ở góc bảng tin, anh nhìn thấy một hình vẽ phản đối chiến tranh. Và bất chợt, như thể ma xui quỷ khiến, tay anh tự động rút cây bút khỏi túi áo trên ngực, đoạn viết đè lên bức hình: Nếu một ngày nào đó, lỡ như truyện hư cấu và chính trị có thể thay thế lẫn nhau, thì thà rằng tôi tự sát còn hơn, vì tôi chẳng biết mình phải làm gì nữa. Chính trị thay đổi xoành xoạch. Truyện thì không. Anh dừng lại, rồi dù cảm thấy mình hơi nhỏ mọn (nhưng anh không nhịn nổi), anh viết thêm: Chắc quý vị còn nhiều thứ phải học.
Ba ngày sau, bản thảo tìm đường về với anh trong hộp thư của trường. Thầy bộ môn đã ký tên. Trên khoảng trống đề Điểm lúc nghỉ, thầy không cho điểm Chưa hoàn thành hoặc C - như phổ điểm thông thường, thay vào đó, lại là một điểm F to tướng đầy tức giận. Bên dưới, thầy viết: Cậu tưởng tiền thì chứng minh được gì à, Denbrough?
“Vâng, thật ra là có đấy,” Bill Denbrough nói oang oang trong căn phòng trọ trống trải và lại bắt đầu phá lên cười như điên.
Vào năm cuối đại học, anh đánh liều viết một cuốn tiểu thuyết vì chẳng biết mình đang dấn thân vào thứ gì. Bước ra khỏi trải nghiệm ấy, anh xây xát và sợ hãi… nhưng vẫn giữ được mạng, kèm theo một bản thảo gần năm trăm trang. Anh gửi nó cho nhà xuất bản The Viking Press, trong lòng thừa biết nơi đây mới chỉ là điểm dừng chân đầu tiên trong số rất nhiều điểm dừng chân của cuốn sách về ma quỷ này… nhưng anh thích logo hình con thuyền của Viking, nội chi tiết này đã khiến nó trở thành một khởi đầu tuyệt vời. Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, nơi đầu hóa ra lại là nơi cuối. Viking mua lại cuốn sách… và câu chuyện cổ tích của Bill Denbrough bắt đầu. Anh chàng ngày xưa nổi danh cà lăm nay lại thành công vang dội ở tuổi hai mươi ba. Ba năm sau và cách phía bắc New England gần năm nghìn cây số, anh bước chân vào giới người nổi tiếng khi kết hôn với một nữ minh tinh màn bạc, hơn anh năm tuổi ở nhà thờ nơi rừng thông của Hollywood.
Lều báo ngồi lê đôi mách chuyện này chừng bảy tháng. Họ cá với nhau hoặc mối duyên này sẽ kết thúc bằng ly dị hoặc hủy bỏ hôn nhân. Bạn (và thù) của cả hai phía cũng có cảm nhận tương tự. Chưa nói tới khác biệt tuổi tác, họ như đôi đũa lệch. Anh cao to, chưa gì đã hơi hói và đậm người. Anh nói chuyện chậm rãi, thỉnh thoảng chẳng ra đầu ra đũa. Ngược lại Audra có mái tóc màu nâu vàng, người dong dỏng cao và đẹp nghiêng nước nghiêng thành – vật thượng đẳng thần thánh nào đó.
Anh được thuê lên kịch bản phim cho cuốn tiểu thuyết thứ hai mang tên Con nước đen (phần nhiều là khi bán nguyên tác, anh yêu cầu mình phải được quyền thực hiện bản nháp đầu tiên cho kịch bản phim, dù người đại diện của anh suốt ngày cằn nhằn nói anh quả là điên rồ) và bản nháp anh viết lại được đánh giá cao. Anh được mời đến Universal City để chỉnh sửa thêm và họp với ban sản xuất.
Người đại diện của anh là một phụ nữ nhỏ con tên là Susan Browne. Cô cao đúng mét rưỡi. Cô lúc nào cũng dư năng lượng và đã muốn là làm bằng được. “Đừng làm thế, Billy,” cô nói với anh. “Bỏ đi. Họ chi cả đống tiền vào đây và họ sẽ kiếm người giỏi lo kịch bản. Khéo có khi là Goldman ấy chứ.”
“Ai kia?”
“William Goldman. Nhà văn duy nhất vừa biết viết lách vừa làm kịch bản.”
“Em đang nói gì vậy, Suze?”
“Anh ta trầy vi tróc vảy mới có chỗ đứng như thế chứ anh tưởng” cô nói. “Khả năng để làm được cả hai chẳng khác nào tỷ lệ đánh bại ung thư phổi – làm được, nhưng ai muốn kia chứ? Chỉ tổ đâm đầu vào sắc dục và rượu chè thôi. Hoặc dăm ba loại thuốc mới.” Đôi mắt nâu đẹp đến lạ lùng của Susan lấp lánh xoáy vào anh. “Nếu chẳng may tên vớ vẩn nào đó nhận nhiệm vụ này chứ không phải người giỏi như Goldman thì cũng chẳng có vấn đề gì. Cuốn sách chễm chệ trên kệ rồi. Họ có đổi được chữ nào đâu.”
“Susan…”
“Nghe em này, Billy! Cầm tiền và cao chạy xa bay đi. Anh còn trẻ, còn khỏe. Họ thích thế. Anh cứ lăn xả vào đấy đi, rồi trước tiên họ sẽ tách anh ra khỏi lòng tự trọng của anh, tiếp đến là khả năng viết thẳng hàng từ điểm A đến điểm B. Chưa hết, họ sẽ lấy tinh hoàn của anh cho mà xem. Anh viết như một kẻ trưởng thành, nhưng anh mới chỉ là thằng nhóc với cái trán rất cao mà thôi.”
“Anh phải đi.”
“Có ai vừa đánh rắm ở đây à?” cô nói tiếp. “Chắc vậy, vì có thứ gì thối quá.”
“Nhưng anh sẽ đi. Anh phải đi.”
“Chúa ơi!”
“Anh phải rời khỏi New England!” Anh sợ phải nói ra điều tiếp theo – vì chẳng khác nào cất thành tiếng lời nguyền rủa – nhưng anh phải chân thật với cô ấy. “Anh phải rời khỏi Maine.”
“Vì Chúa, tại sao ?”
“Anh không biết. Nhưng anh phải đi.”
“Anh nói thật với em đấy hả, Billy, hay anh ra vẻ nhà văn thôi?”
“Là thật.”
Họ vừa nằm trên giường vừa bàn bạc về chuyện này. Ngực cô nhỏ như trái đào, ngọt cũng như đào. Anh yêu cô rất nhiều, dù cả hai đều biết theo cách không quá lý tưởng. Cô ngồi dậy, kéo theo đống chăn mền bùng nhùng trong lòng rồi châm một điếu thuốc. Cô lặng lẽ khóc, nhưng anh chẳng rõ cô có biết là anh đã phát hiện ra không nhỉ. Chỉ đơn giản là mắt cô ánh lên. Có lẽ không đả động đến thì hay hơn, vì vậy nên anh im lặng. Anh không yêu cô một cách đàng hoàng, nhưng anh hết sức quan tâm đến cô.
“Vậy đi đi,” cô nói với giọng khô khốc sặc mùi công việc khi quay sang anh. “Khi nào sẵn sàng thì gọi em, nếu lúc ấy anh còn sức. Em sẽ đến thu vén những mảnh vụn. Ấy là nếu còn sót lại.”
Phiên bản điện ảnh của Con nước đen mang tên Hố quỷ đen , và Audra Phillips là diễn viên chính. Tựa dở tệ, nhưng phim rất hay. Và thứ duy nhất anh đánh mất ở Hollywood chính là trái tim mình.
“Bill,” Audra lên tiếng, kéo anh ra khỏi bao ký ức. Anh thấy cô tắt ti vi. Đánh mắt ra ngoài cửa sổ, anh thấy sương mù giăng kín.
“Anh sẽ giải thích nhiều nhất có thể,” anh từ tốn. “Em xứng đáng được nghe. Nhưng trước hết, hãy làm cho anh hai điều.”
“Được thôi.”
“Pha cho bản thân em thêm tách trà và nói anh nghe em biết gì về anh. Hoặc em nghĩ em biết gì về anh.”
Cô nhìn anh khó hiểu, đoạn bước đến tủ chạn.
“Em biết anh đến từ Maine,” cô nói và rót nước vào tách trà. Cô không phải người Anh, nhưng trong giọng cô phảng phất chút sắc bén của giọng Anh – tàn dư sót lại sau vai diễn trong bộ phim Phòng áp mái mà họ đến đây để làm. Đó là kịch bản gốc đầu tiên của Bill. Anh còn được đề nghị vào vị trí đạo diễn. Tạ ơn Chúa vì anh từ chối, nếu không, việc anh bỏ đi lúc này sẽ khuấy động tất cả. Anh biết toàn bộ đội ngũ sẽ bàn ra tán vào điều gì. Cuối cùng cháy nhà cũng lòi mặt chuột. Bill Denbrough suy cho cùng chỉ là một thằng nhà văn coi trời bằng vung, điên khùng chẳng giống ai.
Mà hiện giờ hẳn anh cảm thấy điên rồ lắm.
“Em biết anh có một cậu em trai mà anh vô cùng thương yêu, nay đã mất,” Audra nói tiếp. “Em biết anh lớn lên ở một thị trấn mang tên Derry, hai năm sau khi em trai mất, nhà anh chuyển đến Bangor, và chuyển đến Portland năm anh mười bốn tuổi. Em biết bố anh qua đời do ung thư phổi năm anh mười bảy tuổi. Anh đã viết một cuốn sách bán chạy khi còn học đại học, anh tự trang trải chi phí bằng học bổng và việc làm thêm trong nhà máy vải. Hẳn anh thấy lạ lùng khi thu nhập của mình thay đổi chóng vánh đến vậy. Có lẽ thế.”
Cô tiến lại gần anh, và anh nhìn thấy trên khuôn mặt cô: cô nhận ra có những mảng trống lẩn khuất giữa họ.
“Em biết một năm sau đó anh viết Con nước đen rồi đến Hollywood. Và một tuần trước khi khởi quay bộ phim, anh gặp một người phụ nữ đầy vết thương lòng mang tên Audra Phillips, thế mà cô ấy chỉ biết chút ít về những gì anh đã trải qua - phiên bản đầy đủ và điên rồ – vì năm năm trước, cô chỉ là một ả Audrey Chơi thuốc tầm thường. Và người phụ nữ ấy đang chết chìm…”
“Audra, đừng thế.”
Đôi mắt cô nhìn anh rất lung. “Ô kìa, tại sao không? Ta hãy cứ huỵch toẹt tất cả, khiến quỷ sứ cũng phải chào thua. Ngày ấy, em đang chìm dần. Hai năm trước khi gặp anh, em biết đến thuốc popper, một năm sau, em phát hiện ra cô-ca-in, và nó còn tuyệt hơn nữa. Một viên popper vào buổi sáng, chơi cô-ca-in vào buổi chiều, rượu vào buổi tối, một viên valium lúc đi ngủ. Vitamin của Audra đấy. Quá nhiều buổi phỏng vấn quan trọng, quá nhiều vai diễn hay. Em giống nhân vật trong tiểu thuyết của Jacqueline Susann đến nực cười. Anh có biết em nghĩ thế nào về khoảng thời gian ấy không, Bill?”
“Không.”
Cô nhấp một ngụm trà, mắt vẫn không rời anh, miệng nở nụ cười. “Em cảm giác mình như kẻ chạy trên lối đi bộ ở Sân bay Quốc tế LA. Anh hiểu ý em không?”
“Anh không hiểu lắm.”
“Lối đi ấy là băng chuyền chuyển động,” cô nói. “Dài chừng bốn trăm mét.”
“Anh biết lối đi bộ ấy,” anh trả lời, nhưng anh không hiểu ý em…”
“Anh chỉ cần đứng đó và băng chuyền sẽ đưa anh đến khu vực nhận hành lý. Nhưng nếu muốn, anh có thể không đứng yên. Anh có thể đi bộ, hoặc chạy. Và có cảm giác như thể anh chỉ đang đi bộ, đi dạo, chạy bộ, chạy nước rút hoặc bất cứ điều gì, như bình thường, vì cơ thể anh đã quên mất thật ra anh đang hưởng lợi từ tốc độ của lối đi bộ. Đó là lý do họ phải dựng bảng hiệu đề CHẬM LẠI, DỐC NGHIÊNG ở gần cuối. Khi gặp anh, em có cảm giác mình như vừa nhào ra khỏi lối đi bộ lên sàn nhà, mà sàn nhà không còn chuyển động. Và em ở đấy, cơ thể em đi trước chân em cả mười lăm cây số. Như thế thì sao giữ thăng bằng được. Sớm muộn gì cũng ngã sấp mặt. Thế mà em không ngã, vì anh đã chụp được em.”
Cô đặt tách trà xuống, châm thuốc, mắt vẫn không rời khỏi anh. Anh chỉ nhận ra tay cô run khi ngọn lửa cô bật khẽ rung động, ngọn lửa hết đảo sang phải điếu thuốc rồi lại sang trái, mãi sau đó mới bắt được đâu điếu thuốc.
Hít một hơi thật sâu, cô phả nhanh ra làn khói.
“Em biết gì về anh ư? Em biết anh luôn ra vẻ giữ mọi thứ trong tầm kiểm soát. Em biết thế. Anh chẳng bao giờ vội vàng uống ly tiếp theo hoặc đến buổi họp kế tiếp, bữa tiệc kế tiếp. Anh luôn tỏ ra tự tin rằng mọi thứ sẽ đâu vào đấy… nếu anh muốn. Anh nói chuyện chậm rãi. Em đoán phần là vì giọng Maine vốn thế, nhưng phần lớn nguyên nhân xuất phát nơi anh. Anh là người đàn ông đầu tiên em gặp dám nói chuyện từ tốn. Em đã phải chậm lại để lắng nghe anh. Anh biết không, em nhìn anh và em trông thấy một người chẳng bao giờ chạy trên lối đi bộ, vì anh biết băng chuyền sẽ đưa anh đến nơi. Dường như bao rối ren, bao hoảng loạn chẳng khi nào chạm vào được anh. Anh không thuê Rolls Royce để lái chiếc xe bảnh tỏn đó với biển số xe riêng chạy dọc theo đại lộ Rodeo Drive vào chiều thứ Bảy. Anh không có đại diện truyền thông để sắp xếp đăng bài trên Variety hoặc The Hollywood Reporter . Anh chẳng bao giờ xuất hiện trong chương trình của Carson.”
“Nhà văn không thể tham gia trừ khi họ cũng biết làm trò với thẻ bài hoặc bẻ muỗng,” anh nói, miệng mỉm cười. “Điều đó như là luật quốc gia rồi.”
Anh ngỡ cô sẽ cười, nào ngờ cô chẳng buồn nhếch mép. “Em biết anh ở đó khi em cần anh. Khi em lao như tên bắn ra khỏi lối đi bộ như O. J. Simpson trong quảng cáo Hertz ngày xưa. Có lẽ anh đã cứu em để em không uống nhầm thuốc sau khi nốc rượu như hũ chìm. Hoặc có lẽ em đã tự vượt qua giai đoạn khó khăn ấy và em chỉ đang làm to chuyện lên mà thôi. Nhưng… mọi chuyện không phải thế. Bên trong, nơi em đang ở, nó khác lắm.”
Cô dập thuốc sau khi hút hai hơi.
“Em biết anh luôn ở bên em kể từ ngày ấy. Ngược lại, em cũng luôn bên anh. Chúng mình hòa hợp chuyện chăn gối. Điều đó từng rất quan trọng với em. Nhưng ngoài chuyện ấy ra, chúng mình cũng là tri kỷ, và với em, nó thậm chí còn quan trọng hơn. Em cảm thấy em có thể cùng anh sống đến già mà vẫn giữ lòng can đảm. Em biết anh uống bia thì nhiều mà thể dục thì thiếu; em biết có nhiều đêm anh mơ thấy ác mộng…”
Anh giật mình. Giật mình đầy khó chịu. Gần như sợ hãi.
“Anh không nằm mơ.”
Cô mỉm cười. “Đó là câu trả lời của anh khi cánh phóng viên hỏi anh lấy ý tưởng từ đâu. Nhưng không phải vậy. Trừ những lần anh rên lên giữa đêm chỉ đơn giản là vì anh khó tiêu. Song em lại không nghĩ thế đâu, Billy ạ.”
“Anh có nói mơ không?” Anh tò mò hỏi. Anh chẳng bao giờ nhớ mình đã mơ gì. Bất cứ giấc mơ nào, dù đẹp hay xấu.
Audra gật đầu. “Thỉnh thoảng. Nhưng em không nghe ra anh nói gì. Và có vài lần, anh chảy cả nước mắt.”
Anh nhìn cô trống rỗng. Trong miệng anh đắng ngắt, cái vị đắng chạy dọc lưỡi, trôi xuống họng như vị aspirin tan chảy. Thế là giờ mày biết sợ hãi có vị ra sao rồi, anh nghĩ. Đúng lúc nên biết, ai bảo mày suốt ngày viết về chủ đề ấy. Anh tự nhủ anh sẽ phải làm quen với vị này. Nếu anh sống đủ lâu.
Ký ức chợt ùa về. Tựa hồ cái túi đen trong đầu anh đang phình lên, đe dọa bung ra những hình ảnh trong mơ gớm guốc từ tiềm thức lên phạm vi quan sát của bộ óc đầy lý trí, tỉnh táo của anh – và nếu tất cả xảy ra ngay lập tức, anh sẽ phát điên mất. Anh cố ngăn cản chúng, may sao thành công, nhưng anh vẫn kịp nghe vẳng lại giọng nói như thể có người bị chôn sống đang thét gào từ lòng đất. Là giọng của Eddie Kaspbrak.
Cậu đã cứu mạng tớ, Bill. Những thằng du côn kia hành tớ ra bã. Thỉnh thoảng tớ nghĩ chúng nó thật sự muốn kết liễu tớ…
“Tay anh kìa,” Audra nói.
Bill nhìn xuống tay mình. Tay anh nổi da gà hết cả. Nhưng không chỉ là những nốt li ti mà nốt nào nốt nấy bự chảng, trắng hếu như trứng côn trùng. Cả hai nhìn chằm chằm mà không nói tiếng nào, như thể đang chiêm ngưỡng một vật phẩm thú vị trưng bày trong bảo tàng. Da gà dần dần tan đi.
Sau một hồi im lặng, Audra nói: “Và em biết thêm một điều. Sáng nay, có ai đó gọi anh từ Mỹ và nói anh phải rời xa em.”
Anh đứng dậy, thoáng đưa mắt nhìn mấy chai rượu rồi bước vào nhà bếp, quay lại với ly nước cam trên tay. Anh lên tiếng: “Em biết anh có một người em trai, em biết cậu ấy đã chết, nhưng em chưa biết em trai anh bị giết.”
Audra hoảng hốt hít vào một hơi thật nhanh.
“Bị giết ư! Trời ơi, Bill, sao anh chưa từng…”
“Kể em sao?” Anh cười, lại tiếng cười chua chát ấy. “Anh không biết.”
“Chuyện gì đã xảy ra?”
“Ngày ấy nhà anh sống ở Derry. Lúc đó vừa qua cơn lũ, George đang chán. Anh bị cảm nên nằm bẹp trên giường. Thằng bé muốn anh gấp cho nó một chiếc thuyền từ giấy báo. Một năm trước, anh đi cắm trại nên biết cách làm. George nói sẽ thả thuyền xuống đường mương ở đường Witcham và đường Jackson, vì chỗ đó vẫn đầy nước. Thế nên anh gấp cho em mình chiếc thuyền, George cảm ơn anh rồi ra ngoài chơi. Đó cũng là lần cuối cùng anh thấy em trai mình còn sống. Nếu anh không bị cảm, biết đâu anh đã cứu được em ấy.”
Anh ngừng lại, lòng bàn tay phải chà vào má trái, như thể kiểm tra xem râu có nhám lên chưa. Đôi mắt to gó qua cặp kính trông thật tư lự… nhưng anh không nhìn cô.
“Chuyện xảy ra ngay trên đường Witcham, cách ngã giao với đường Jackson không xa. Kẻ sát hại em trai anh kéo đứt tay trái thằng bé như một thằng nhóc lớp Hai kéo đứt cánh con ruồi. Bác sĩ pháp y cho biết em trai anh chết vì chấn động hoặc mất máu. Nhưng anh thấy lý do gì cũng thế cả thôi.”
“Trời ơi, Bill!”
“Anh nghĩ có lẽ em sẽ thắc mắc tại sao anh chưa bao giờ kể ra. Sự thật là đến bản thân anh cũng tự hỏi như thế. Chúng mình đã cưới nhau mười một năm, vậy mà đến hôm nay em mới biết chuyện gì đã xảy ra với Georgie. Anh biết tất tần tật về gia đình em – kể cả cô dì chú bác. Anh biết ông em qua đời trong một ga-ra ở thành phố Iowa, tay vung vẩy máy cưa vì say xỉn. Anh biết những điều đó, vì vợ chồng về một nhà, dù bận rộn cách mấy, sau một thời gian cũng biết từng đường tơ kẽ tóc của nhau. Và nếu họ ngán nhau tận cổ và chả buồn nghe thì họ vẫn sẽ biết chuyện – bởi mưa dầm thấm lâu. Hay anh sai nhỉ?”
“Không,” cô yếu ớt nói. “Anh không sai, Bill ạ.”
“Và chúng mình khi nào cũng có dịp để trò chuyện với nhau, đúng chứ? Ý anh là, chúng mình chưa bao giờ chán nhau, chưa bao giờ ngừng lắng nghe nhau, phải không?”
“Chà,” cô đáp, “cho tới hôm nay thì em luôn nghĩ thế.”
“Thôi nào, Audra. Em biết mọi thứ xảy ra trong đời anh suốt mười một năm vừa rồi. Từng chuyện làm ăn, từng ý tưởng, từng cơn cảm cúm, từng người bạn, từng người hại anh hoặc âm mưu đè anh xuống. Em biết anh từng lên giường với Susan Browne. Em biết thỉnh thoảng, rượu vào, anh lại sinh ủy mị và bật nhạc thật to.”
“Nhất là nhạc của Grateful Dead,” cô nói, khiến anh phì cười. Lần này, cô cười đáp lại.
“Em cũng biết cả những điều quan trọng nhất – những điều anh mong mỏi.”
“Phải. Em đồ là thế. Nhưng chuyện này…” cô im lặng, lắc đầu và nghĩ ngợi ít lâu. “Cuộc điện thoại vừa rồi có liên quan gì đến em trai của anh hả Bill?”
“Để anh từ từ giải thích theo cách của anh. Đừng vội hối anh nói thẳng vào trọng tâm kẻo em sẽ phải tống anh vào nhà thương điên đấy. Mọi sự quá lớn… và quá… quá tệ hại đến lạ… thành ra anh đang cố từ từ tiếp cận. Em thấy đấy… anh chưa bao giờ nghĩ về việc kể với em chuyện của Georgie.”
Cô nhìn anh, cau mày, khẽ lắc đầu – Em không hiểu.
“Điều anh muốn nói với em, Audra ạ, là anh thậm chí còn không nghĩ đến George hơn hai mươi năm qua.”
“Nhưng anh từng kể với em anh có cậu em trai tên…”
“Anh chỉ lặp lại sự thật thôi,” anh nói. “Chỉ có thế. Tên cậu ấy chỉ là một từ. Nó không phủ bóng vào lòng anh.”
“Nhưng em thấy có lẽ nó phủ bóng vào giấc mơ của anh,” Audra nói. Giọng cô ôn tồn.
“Những lần anh rên rỉ và khóc ư?”
Cô gật đầu.
“Có lẽ em nói đúng,” anh đáp. “Thật ra, chắc em đúng rồi đấy. Nhưng nếu mình không nhớ thì giấc mơ ấy không tính, nhỉ?”
“Ý anh là anh không mảy may nghĩ về cậu bé ư?”
“Phải.”
Cô lắc đầu, không tin vào tai mình. “Ngay cả việc cậu bé chết thảm như thế?”
“Cho đến hôm nay thì không, Audra.”
Cô nhìn anh và lại lắc đầu.
“Trước khi mình kết hôn, em có hỏi anh rằng anh có anh chị em nào không, và anh chỉ trả lời rằng anh có một người em trai đã qua đời lúc anh còn bé. Em biết bố mẹ anh đều đã mất, còn gia đình của em vốn đông nên em quan tâm tới họ đã đủ mệt rồi. Song tất cả không chỉ có thế.”
“Ý anh là gì?”
“George không phải người duy nhất lọt thỏm trong lỗ đen ấy. Anh chưa một lần nghĩ về thị trấn Derry suốt hai mươi năm qua. Cả những người bạn ngày xưa anh chơi cùng - Eddie Kaspbrak, Richie Tía Lia, Stan Uris, Bev Marsh…” Anh lùa tay vào tóc và run rẩy cười. “Như thể anh mất trí nhớ tệ đến nỗi không hay biết trí nhớ mình sứt mẻ. Và khi Mike Hanlon gọi…”
“Mike Hanlon là ai?”
“Một người bạn mà bọn anh chơi chung - anh chơi chung sau khi Georgie mất. Tất nhiên giờ cậu ấy không còn là con nít nữa rồi. Bọn anh đều đã lớn. Ban sáng là Mike gọi anh, xuyên Đại Tây Dương. Cậu ấy nói ‘Xin chào, tôi đang gọi đến nhà của Denbrough phải không ạ?’ và anh đáp phải, cậu ấy bèn nói, ‘Bill phải không?’, anh nói phải thì cậu ấy tiếp, ‘Tớ đây, Mike Hanlon đây.’ Anh nghe mà dửng dưng, Audra ạ. Biết đâu chỉ là một tay bán bách khoa toàn thư hoặc bản thu của Burl Ives thì sao. Nhưng rồi cậu ấy nói, ‘Tớ gọi từ Derry.’ Và khi cậu ta thốt lên như thế, tựa hồ có cánh cửa mở ra trong anh, một thứ ánh sáng gớm ghiếc chói lòa, anh chợt nhớ ra cậu ấy là ai. Anh nhớ ra Georgie. Anh nhớ ra tất cả mọi người. Tất cả xảy ra…”
Bill búng tay.
“Chóng vánh như thế. Và anh biết cậu ấy sẽ đề nghị anh quay về.”
“Quay về Derry.”
“Phải.” Anh gỡ kính, dụi mắt rồi nhìn cô. Suốt đời mình, cô chưa lần nào thấy một người đàn ông sợ hãi đến vậy. “Trở lại Derry. Cậu ấy nói vì bọn anh đã hứa với nhau, mà đúng là như thế. Bọn anh đã hứa. Tất cả bọn anh, lúc còn bé. Bọn anh đứng trong con suối chạy ngang Vùng Đất Cằn, nắm tay nhau thành vòng tròn, bọn anh còn lấy miểng kính cắt tay nhau, trông chẳng khác nào đám nhóc con chơi cắt máu ăn thề, duy có điều tất cả đều nghiêm túc.”
Anh chìa lòng bàn tay về phía cô, và cô nhìn thấy giữa lòng bàn tay anh chi chít những đường màu trắng, hẳn là sẹo năm xưa. Cô từng nắm lấy tay anh - cả hai tay - vô số lần, thế mà chưa bao giờ cô để ý đến những vết sẹo ấy. Chúng rất nhạt, phải, nhưng cô dám chắc…
Đúng rồi, bữa tiệc! Bữa tiệc ấy!
Không phải là bữa tiệc lần họ gặp nhau, dù bữa tiệc thứ hai tiếp diễn trơn tru hơn bữa tiệc thứ nhất, vì mọi sự diễn ra ở bữa tiệc ăn mừng đóng máy bộ phim Hố quỷ đen . Bữa tiệc vừa ồn ào, vừa bét nhè, đúng kiểu đặc trưng của Topanga Canyon. Có lẽ nó ít chí chóe hơn một số bữa tiệc ở LA mà cô từng tham dự, vì quá trình quay phim thuận buồm xuôi gió hơn họ kỳ vọng, và ai nấy đều vui như hội. Với Audra Phillips, mọi sự còn rạng ngời hơn, vì cô đã phải lòng William Denbrough.
Cái người xưng là biết đọc chỉ tay ngày ấy tên gì nhỉ? Giờ thì cô quên mất rồi, chỉ còn nhớ cô ấy là một trong hai trợ lý của người thợ trang điểm. Cô nhớ trong bữa tiệc đó, cô gái ấy cởi phăng áo cánh (khoe một chiếc áo ngực mỏng tang như giấy) rồi cột lên trên đầu như một chiếc khăn choàng. Phê thuốc và say quắc cần câu, cô ta đọc chỉ tay suốt cả đêm hôm đó… hoặc chí ít cho đến lúc bất tỉnh nhân sự.
Giờ nhìn lại, Audra chẳng nhớ những điều cô gái ấy đọc tốt hay xấu, trúng hay trật: đêm đó, cô cũng đang phê. Nhưng cô vẫn nhớ như in rằng giữa buổi, cô này nắm lấy lòng bàn tay Bill và tay cô ta rồi bảo hai người bọn họ là một cặp tiên đồng ngọc nữ. Cô ta tuyên bố họ là một cặp trời sinh. Cô nhớ mình đã nhìn với ánh mắt thoáng ghen tức khi cô gái kia lần theo những đường chỉ tay với móng tay kiểu cách – rõ là ngớ ngẩn khi bói toán trong môi trường điện ảnh LA này, nơi đàn ông vỗ mông phụ nữ nhiều như đàn ông New York hôn má phụ nữ! Nhưng cái việc mân mê chỉ tay có gì đó thật riêng tư và da diết.
Ngày ấy, trong lòng bàn tay Bill không có vết sẹo màu trắng nào.
Cô đã chằm chằm dõi theo màn kịch lố lăng ấy với ánh mắt ghen tuông của một kẻ say tình, và cô dám chắc trong ký ức ấy, tay anh không có sẹo. Đó là sự thật.
Cô kể lại với Bill chi tiết đó.
Anh gật đầu. “Em nói đúng. Ngày ấy sẹo chưa nổi lên. Bản thân anh không dám thề, nhưng anh nghĩ đêm qua lúc anh đến Plow & Barrow, vết sẹo cũng chưa có ở đó. Ralph và anh chơi vật tay uống bia, nếu có thì anh đã phát hiện rồi.”
Anh nhoẻn cười với cô. Nụ cười khô khốc, không chút hài hước và đầy sợ hãi.
“Anh nghĩ chúng nổi lên khi Mike Hanlon gọi. Thật lòng anh nghĩ thế.”
“Bill à, đó là điều không thể.” Miệng nói vậy nhưng cô vẫn rút bao thuốc ra.
Bill nhìn vào tay mình. “Là Stan,” anh lên tiếng. “Cậu ấy lấy một mảnh lon Coca để rạch lòng bàn tay bọn anh. Giờ anh nhớ như in.” Anh ngẩng lên nhìn Audra, phía sau cặp kính, đôi mắt anh tổn thương và rối bời. “Anh vẫn nhớ mảnh thủy tinh đó đã lóe sáng dưới ánh nắng mặt trời. Từ chai Coca phiên bản mới. Trước đó, chai Coca có màu xanh lá cây, em nhớ không?” Cô lắc đầu nhưng anh không để ý. Anh vẫn săm soi lòng bàn tay mình. “Anh còn nhớ đến cuối, Stan tự rạch tay mình, ra vẻ rạch thật mạnh vào cổ tay chứ không chỉ là cắt lòng bàn tay chút ít. Anh đoán cậu ấy chỉ làm màu thế thôi, nhưng suýt chút nữa anh đã tiến lên… cản cậu ấy lại rồi. Vì trong khoảng một đến hai giây, nhìn cậu ấy rất nghiêm túc.”
“Bill, đừng như thế,” cô ôn tồn nói. Lần này, cô phải giữ bật lửa trong tay phải bằng cách cầm chặt nó bằng tay trái, như cảnh sát đang giữ súng trong tầm ngắm. “Không có chuyện sẹo tự dưng xuất hiện đâu. Chúng có sẵn hoặc không có mà thôi.”
“Vậy trước đây em từng thấy sẹo trên tay anh à? Ý em muốn nói là vậy phải không?”
“Nhạt lắm,” Audra nói, giọng dứt khoát hơn ý muốn.
“Cả đám bọn anh đều chảy máu,” anh kể. “Bọn anh đứng dưới nước, cách không xa vị trí nơi Eddie Kaspbrak, Ben Hanscom và anh xây đập lúc đó…”
“Người anh nói có phải tay kiến trúc sư đó không?”
“Có tay kiến trúc sư nào tên như vậy à?”
“Lạy Chúa, Bill ơi là Bill, anh ta là người thiết kế trung tâm truyền thông BBC đấy! Họ vẫn đang tranh cãi xem công trình ấy là một giấc mơ hay một cuộc phá thai!”
“Chà, anh không rõ có phải cùng một người hay không. Có lẽ có, mà cũng có lẽ không. Cậu bạn Ben ngày xưa anh quen rất giỏi xây dựng. Bọn anh đứng đó, tay phải anh nắm lấy Bev Marsh, tay trái nắm lấy Richie Tozier. Cả đám đứng dưới nước như thực hiện quy trình rửa tội kiểu miền Nam sau khi thờ hành trong lều, và anh nhớ mình có thể trông thấy Bể chứa nước Standpipe Derry xa xa phía chân trời. Áo choàng của tổng lãnh thiên thần trắng thế nào thì bể trắng như thế, và bọn anh đã hứa, đã thề với nhau rằng nếu nó không kết thúc, nếu nó tái diễn… bọn anh sẽ quay lại. Bọn anh sẽ ra tay lần nữa. Để ngăn chặn nó. Vĩnh viễn.”
“Ngăn chặn cái gì ?” cô hét lên, đột nhiên đầy phẫn nộ với anh. “Ngăn chặn cái gì mới được? Anh đang nói về cái quái gì vậy?”
“Giá mà em không h-h-hỏi…” Bill đáp lại rồi bỗng dưng im bặt. Cô nhìn thấy nét bàng hoàng hiện lên trên khuôn mặt anh như vết ố. “Cho anh một điếu thuốc.”
Nhận bao thuốc từ cô, anh châm một điếu. Xưa giờ, cô chưa từng thấy anh hút thuốc.
“Ngày xưa anh nói lắp dữ dội.”
“Anh nói lắp sao?”
“Ừ. Thuở bé. Em nói anh là người duy nhất ở LA em quen có cái gan nói chuyện từ tốn. Thật ra anh không dám nói nhanh mới đúng. Không phải anh suy nghĩ sâu xa hay cố tình, cũng không phải anh thông minh hơn người đâu. Ai từng nói lắp đều nói chậm. Đó là một trong những mẹo bọn anh học được, như việc nghĩ về tên lót của mình ngay trước khi giới thiệu bản thân chẳng hạn, vì đám cà lăm bọn anh vụng về với danh từ hơn những từ khác, và cái từ khiến những ai nói lắp khổ sở nhất trần đời chính là tên của họ.”
“Nói lắp sao?” cô khẽ mỉm cười, tựa hồ anh vừa kể chuyện tiếu lâm nhưng cô không hiểu ý.
“Trước khi Georgie qua đời, anh chỉ nói lắp vừa phải,” Bill bộc bạch, chưa gì anh đã bắt đầu nghe thấy những từ ấy ngân vang trong đầu mình, tưởng chừng chúng bị xẻ thật nhỏ theo thời gian; câu từ được anh thốt lên trơn tru, chậm rãi, nhịp nhàng như bình thường, nhưng trong tâm trí, anh nghe thấy những từ như Georgie hay vừa phải trùng lặp lên nhau, trở thành G-G-Georgie và v-vừa phải . “Ý anh là, anh đã trải qua những phút giây hết sức khủng khiếp – như bị thầy cô gọi phát biểu, đặc biệt là khi anh biết câu trả lời và muốn nói ra – nhưng nhìn chung anh vẫn lay lắt qua được. Sau khi George mất, tật nói lắp của anh nặng hơn rất nhiều. Rồi đến năm anh mười bốn, mười lăm tuổi, tình hình bắt đầu sáng sủa hơn. Anh theo học trường trung học Chevrus ở Portland, ở đó có cô Thomas, một nhà trị liệu giọng nói vô cùng xuất sắc. Cô dạy anh vài mẹo rất hay. Ví dụ như nghĩ về tên lót của anh trước khi nói ‘Xin chào, tôi là Bill Denbrough’ thành lời. Lúc đó, anh học tiếng Pháp, cô chỉ anh chuyển sang nói tiếng Pháp nếu bị lắp mãi một từ nào đó. Nên giả dụ anh đứng ngây ra như trời trồng, nhục nhã không để đâu cho hết, nói lắp ‘c-c-cuốn s-s-s-s’ như đĩa nhạc hỏng, anh sẽ chuyển sang tiếng Pháp, để rồi từ ‘ce livre’ sẽ thốt ra thật trôi chảy từ lưỡi anh. Cách này lần nào cũng hiệu nghiệm. Một khi đã nói được bằng tiếng Pháp, anh có thể trở lại nói tiếng Anh và nói từ ‘cuốn sách này’ mà không vấp váp tí nào cả. Còn nếu phát âm không được những từ có chữ ‘s’ ở đầu như sông suối hay ngôi sao , anh sẽ nói ngọng sang âm th: thông thuối, ngôi thao . Thành ra không nói lắp chút nào hết.
Tất cả những cách trên đều hiệu quả, nhưng có lẽ quan trọng nhất là do anh quên đi Derry và tất cả những gì đã xảy ra ở nơi đó. Vì khoảng thời gian ấy, ký ức bắt đầu nhạt nhòa trong anh. Khoảng thời gian nhà anh sống ở Portland, còn anh theo học ở Chevrus. Anh không quên bẵng mọi thứ ngay lập tức, nhưng giờ nhìn lại, anh phải công nhận mọi thứ diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn đến đáng ngạc nhiên. Chắc chưa tới bốn tháng. Tật nói lắp và ký ức của anh phai dần. Tựa như ai đó xóa hết bảng đen, để bao công thức cũ đều bị chùi đi mất.”
Anh uống cạn cốc nước trái cây của mình. “Có lẽ hai mươi mốt năm rồi anh mới nói lắp chữ ‘hỏi’ như ban nãy.”
Anh nhìn cô.
“Trước là sẹo, sau lại là chuyện n-nói lắp. Em có ng-nghe thấy không?”
“Anh cố tình phải không?” cô nói, sợ hãi tột độ.
“Không. Anh đoán chắc chẳng có cách nào thuyết phục bất cứ ai tin, nhưng tất cả là sự thật. Nói lắp là điều rõ buồn cười, Audra ạ. Nó rất khó chịu. Ở mức độ nào đó, em thậm chí còn chẳng ý thức mình đang cà lăm. Nhưng… em có thể nghe thấy nó trong tâm trí mình. Như thể một phần trong đầu em đang hoạt động nhanh hơn những phần còn lại một khắc. Hoặc như hệ thống vang âm đám thanh niên hay đặt trong mấy chiếc xe hơi cà tàng vào thập niên năm mươi, âm thanh từ loa sau sẽ phát ra sau âm thanh l-loa trước đúng m-một giây.”
Anh đứng dậy, bồn chồn đi lại quanh phòng. Trông anh có vẻ mệt mỏi, và cô nghĩ, lòng thoáng lăn tăn, về bao công sức anh dồn vào công việc suốt mười ba năm qua, tựa hồ anh có thể chứng minh tài năng của bản thân bằng cách làm việc điên cuồng, gần như không ngơi nghỉ. Cô nhận ra có một suy nghĩ rất khó chịu đang len lỏi trong đầu mình, nhưng khi cô tìm cách gạt đi, nó vẫn cứ lì lợm đó. Biết đâu người vừa gọi điện thoại cho Bill là Ralph Foster, cốt để mời anh đến Plow & Barrow chơi vật tay hoặc chơi cờ tào cáo với nhau một tiếng, hoặc có khi người gọi là Freddie Firestone, nhà sản xuất bộ phim Phòng gác mái để bàn về vấn đề gì đó chẳng hạn? Hoặc chỉ đơn giản là “gọi lộn số”, như cô vợ bác sĩ đặc sệt dân Anh sống dưới phố hay nói?
Đây là một trong những trò chơi cổ xưa nhất thế giới. Đây là trò chơi dành cho hai người chơi với lối chơi khá đơn giản. Mỗi người chơi có 15 quân cờ. Người chơi cần phải di chuyển các quân cờ xung quanh bàn để đưa về sân chơi của mình, sau đó lấy toàn bộ chúng ra khỏi bàn. Người chiến thắng sẽ là người đầu tiên thoát hết các quân cờ của mình.
Những suy nghĩ ấy dẫn đến đâu?
Tại sao cô cứ cảm thấy câu chuyện về Derry - Mike Hanlon này chẳng là gì ngoài ảo giác. Một ảo giác sinh ra khi cơn lo âu trờ tới.
Nhưng Audra ơi, những vết sẹo thì sao? Mày giải thích thế nào về chúng? Anh ấy nói đúng. Trước chúng không ở đó… nhưng giờ thì có. Đó là sự thật, bản thân mày hiểu rõ mà.
“Kể nốt cho em đi,” cô nói. “Ai đã giết em trai anh? Anh và những cô cậu bé kia đã làm gì? Mọi người đã hứa gì với nhau?”
Anh bước đến bên cô, quỳ gối như anh chàng cầu hôn theo cách cổ điển, đoạn nắm tay cô.
“Anh nghĩ anh có thể tâm sự với em,” anh khẽ khàng nói. “Anh cho rằng anh có thể nếu anh thật sự muốn. Hiện giờ, anh đã quên gần hết rồi, nhưng khi anh nói, mọi chi tiết sẽ trở về. Anh có thể cảm nhận những ký ức ấy… chúng đang đợi để ập xuống. Chúng như đám mây trĩu nước. Chỉ là thứ nước này vô cùng bẩn thỉu. Cây cối tắm dưới cơn mưa như thế sẽ biến thành quái vật. Có lẽ anh có thể đối mặt với nó cùng những người khác…”
“Họ biết chuyện chưa?”
“Mike nói cậu ấy đã gọi cho cả nhóm rồi. Cậu ấy nói tất cả sẽ đến… có lẽ trừ Stan. Mike nói thái độ của Stan rất lạ.”
“Em thấy tất cả chuyện này nghe rất lạ. Anh đang làm em sợ, rất sợ, Bill.”
“Anh xin lỗi,” dứt lời, anh hôn cô. Cô cảm thấy như thể mình vừa nhận nụ hôn từ một người hoàn toàn xa lạ. Cô căm ghét người đàn ông mang tên Mike Hanlon này. “Lý ra anh phải giải thích nhiều nhất có thể, có lẽ như vậy hay hơn là âm thầm ra đi giữa đêm hôm khuya khoắt. Anh đoán một vài người trong số họ sẽ làm thế. Nhưng anh phải đi. Anh đoán Stan sẽ có mặt, dù thái độ cậu ấy lạ lùng ra sao. Hoặc đơn giản là vì anh không thể hình dung nếu mình không đi thì sẽ thế nào.”
“Vì em trai của anh sao?”
Bill chậm rãi lắc đầu. “Anh có thể nói thế với em, nhưng đó chỉ là lời nói dối. Anh thương em trai mình rất nhiều. Anh biết nói câu đó nghe rất kỳ cục, vì anh vừa nói với em rằng suốt hai mươi năm nay anh chưa một lần nghĩ về George, nhưng anh thương em trai anh vô cùng.” Anh khẽ mỉm cười. “Thằng bé lúc nào cũng bắng nhắng, nhưng anh thương nó lắm. Em hiểu không?”
Vốn là một người chị có em gái, Audra gật đầu. “Em hiểu.”
“Nhưng lý do không phải ở George. Anh không thể giải thích nó là gì. Anh…”
Anh nhìn sương sớm bên ngoài cửa sổ.
“Anh cảm thấy như con chim cảm nhận được thu về và biết.. bằng cách nào đó, nó biết mình phải bay về tổ. Đây là bản năng, em ạ… và anh thuộc típ người tin rằng bản năng chính là bộ xương sắt bên dưới bao suy tưởng về ý chí tự do của con người. Trừ khi ta sẵn lòng tự sát hoặc xơi kẹo đồng hoặc cố bước hụt lúc đi trên bến cảng, có những điều con người chúng ta không thể từ chối. Ta không thể từ chối lựa chọn vì ta chẳng có lựa chọn nào cả. Ấy là điều chẳng đặng đừng, như chuyện ta đứng ở gôn nhà với cây gậy trên tay mà vẫn để một pha bóng nhanh đập vào người. Anh phải đi. Lời hứa ấy… nó bám trong đầu anh như m-móc câu.”
Cô đứng dậy, cẩn thận bước về phía anh, cô thấy mình thật mỏng manh, tựa hồ sẽ tan tành. Đặt một tay lên vai anh, cô xoay anh về phía mình.
“Vậy hãy đưa em theo cùng.”
Sự kinh hoàng hiện rõ lên trên khuôn mặt anh lúc đó – không phải kinh hãi do cô mà là kinh hãi cho cô – rõ nét đến độ cô bất giác lùi lại, lần đầu tiên cảm thấy e ngại thực sự.
“Không được,” anh đáp. “Em không được nghĩ đến chuyện đó, Audra. Em tuyệt đối không được nghĩ đến chuyện đó. Em không được đến gần Derry trong bán kính năm nghìn cây số. Anh nghĩ trong vài tuần tới Derry là một nơi không nên đến. Em phải ở lại đây, tiếp tục nhịp sống thường nhật của mình và viện đủ loại cớ cho anh nếu cần thiết. Hãy hứa với anh như thế!”
“Em có nên hứa không?” cô hỏi, đôi mắt dán chặt vào anh. “Em có nên hứa không, Bill?”
“Audra…”
“Em có nên hứa không? Anh thề non hẹn biển và anh xem nó kéo anh vào vụ gì. Kéo cả em nữa, vì em là vợ anh và em yêu anh.”
Đôi tay to lớn của anh siết chặt vai cô đến nhói đau. “Hứa với anh đi! Hứa đi em! H-Hư-Hư-hứa…”
Cô không đành lòng khi phải chứng kiến từ ngữ mắc kẹt trong miệng anh như con cá giãy giụa khi móc vào câu như vậy.
“Em hứa, được chưa? Em hứa!” cô òa lên nức nở. “Anh hài lòng chưa? Chúa ơi! Anh điên rồi, mọi sự điên cả rồi, nhưng em hứa!”
Anh vòng tay ôm lấy cô rồi dắt cô đến sô pha, đoạn mang cho cô một ly rượu. Cô uống một ngụm, từ từ bình tĩnh lại.
“Vậy khi nào anh đi?”
“Hôm nay,” anh đáp. “Hãng Concorde. Anh sẽ kịp giờ nếu lái xe thẳng đến Heathrow và không đi tàu hỏa. Freddie muốn anh đến trường quay. Em cứ đi thẳng đến đó lúc 9 giờ, và cứ nói em không hay biết chuyện gì cả, được chứ?”
Cô ngần ngại gật đầu.
“Anh sẽ có mặt ở New York trước khi có điều gì đó đáng nghi. Sau đó, anh sẽ đến Derry trước hoàng hôn, cùng h-hội bạn của anh.”
“Vậy khi nào em được gặp lại anh?” cô nhẹ nhàng hỏi.
Anh quàng tay ôm cô thật chặt, song lặng thinh không đáp lời thắc mắc ấy.