Khoảng 11 giờ 45 phút tối, một trong số những tiếp viên hàng không phục vụ khoang hạng nhất chuyến bay từ Omaha đến Chicago – chuyến bay số hiệu 41 của hãng United Airlines – được một dịp hồn bay phách tán. Trong vài khoảnh khắc, cô cứ ngỡ vị khách nam ở ghế 1-A đã chết.
Khi thấy anh này lên máy bay ở Omaha, cô đã tự nhủ: “Ôi trời, rắc rối đây rồi. Anh ta xỉn quắc cần câu.” Mùi rượu whiskey nồng nặc quanh đầu anh ta gọi cô nhớ đến đám bụi lúc nào cũng lởn vởn quanh nhân vật cậu bé bẩn thỉu trong loạt truyện tranh Peanuts – tên cậu bé ấy là Pig Pen. Cô rất lo anh ta sẽ yêu cầu Dịch vụ Hạng nhất, hay nói cách khác, dịch vụ rượu. Cô dám chắc anh ta sẽ gọi đồ uống - có khi gọi ly đúp cũng nên, và cô sẽ phải quyết định xem có nên phục vụ anh ta hay không. Đã vậy họa vô đơn chí, sấm chớp đì đùng suốt chuyến bay tới nay, và cô đoán chắc thể nào cũng tới lúc anh khách này, một anh chàng cao lênh khênh mặc quần jean và áo chambray, ói mật xanh mật vàng.
Nhưng khi Dịch vụ Hạng nhất đi ngang, anh chàng cao kều nọ không gọi gì ngoài lý nước khoáng có ga, lịch sự hết mức có thể. Sau đó, ánh đèn gọi dịch vụ chỗ anh cũng không lóe sáng, và cô tiếp viên hàng không chẳng mấy chốc đã quên bẵng anh chàng này, vì cô bận tối mắt với chuyến bay hôm ấy. Thành thật mà nói, đây là chuyến bay cô muốn quên đi ngay khi nó hạ cánh, là một trong những chuyến bay mà người tiếp viên như cô sẽ tự hỏi – nếu mót được thời gian mà hỏi – liệu mình có bao nhiêu khả năng sống qua con trăng này.
Chuyến bay United 41 uyển chuyển giữa sấm sét và chớp sáng như vận động viên trượt băng lành nghề thoăn thoắt trượt xuống triền đồi. Trời rất giông. Hành khách cảm thán và đùa cho bớt lo về sấm chớp mỗi khi họ thấy ánh sáng lóe lên trong những đám mây dày cộm bọc quanh máy bay. “Mẹ ơi, Chúa đang chụp hình các thiên thần hở mẹ?” Một cậu bé hỏi, và bà mẹ, lúc này mặt xanh như tàu lá, cười mà run rẩy. Hóa ra Dịch vụ Hạng nhất là dịch vụ duy nhất trên chuyến bay 41 đêm ấy. Tín hiệu đèn thắt dây an toàn được bật lên suốt hai mươi phút của chuyến bay và không lần nào tắt. Trong lúc đó, các tiếp viên đứng dọc lối đi, tất tả đáp lại nút yêu cầu dịch vụ của khách hàng, liên tục lóe sáng như pháo hoa của một xã hội văn minh.
“Tối nay Ralph bận,” tiếp viên trưởng nói với cô khi họ bước ngang qua nhau trên lối đi, chị ấy quay lại chỗ hành khách với xấp túi nôn mới trên tay. Lời chị vừa nói nửa là mật hiệu, nửa là câu đùa. Ralph khi nào cũng bận nếu chuyến bay gặp thời tiết xấu. Máy bay chao đảo khiến một hành khách khẽ ré lên, nữ tiếp viên hơi giật mình, cô đưa tay giữ thăng bằng và vô tình nhìn thẳng vào đôi mắt vô hồn đang chằm chằm của vị hành khách nam ở ghế 1-A.
Trời ơi, anh ta chết rồi, cô thầm nghĩ. Trước khi lên máy bay, anh ta uống nhiều quá… máy bay chòng chành… tim anh ta… anh ta sợ quá nên chết rồi.
Đôi mắt của vị hành khách cao lêu đều nọ chĩa vào cô nhưng không nhìn thấy cô. Chúng không động đậy. Chúng đờ đẫn. Chắc chắn đó là đôi mắt của người đã chết.
Nữ tiếp viên ngoảnh mặt quay đi khỏi ánh nhìn ghê sợ ấy, tim muốn trào lên khỏi cổ họng với tốc độ tên lửa, lưỡng lự không biết nên làm gì, nên hành động ra sao, và tạ ơn Chúa ít nhất người này không ngồi cạnh ai, chí ít sẽ không có ai hét lên hoặc hoảng loạn. Cô quyết định đầu tiên sẽ báo cho tiếp viên trưởng rồi phi hành đoàn nam ở trước. Có lẽ họ sẽ bọc chăn quanh người và khép mắt anh ta lại. Phi công sẽ giữ nguyên đèn thắt dây an toàn dù họ đã ra khỏi cùng thời tiết xấu để không ai tiến tới nhà vệ sinh, và khi các hành khách khác đã bước xuống máy bay, họ sẽ nghĩ anh này còn say ngủ…
Những suy nghĩ này lướt vụt qua đầu cô, và cô quay đầu lại nhìn thêm lần nữa cho chắc. Ánh nhìn vô hồn, chết chóc vẫn dán vào cô… rồi xác chết nhấc ly nước lên nhấp một ngụm.
Đúng lúc ấy, máy bay rung lắc, và tiếng hét khe khẽ vì ngạc nhiên của cô tiếp viên bị lấn át bởi tiếng la to hơn, đầy sợ hãi của những hành khách khác. Đôi mắt của vị khách nam chuyển động - không nhiều, nhưng đủ để cô hiểu anh ta còn sống và vẫn thấy cô. Đoạn cô nghĩ: Tại sao thế nhỉ, lúc anh ta lên máy bay, mình cứ ngỡ anh đã ở tuổi ngũ tuần, nhưng anh này không thể nào già đến mức ấy, dù mái tóc điểm bạc.
Cô bước đến chỗ anh, mặc dù cô có thể nghe thấy tiếng chuông gọi dịch vụ đang mất kiên nhẫn vang lên phía sau (Ralph thật sự bận bù đầu đêm nay: khoảng ba mươi phút nữa, khi họ đã hạ cánh an toàn ở O’Hare, phi hành đoàn sẽ phải dọn hơn 70 túi nôn).
“Thưa ông, mọi chuyện vẫn ổn chứ?” Cô hỏi, miệng nhoẻn cười. Nụ cười giả tạo, không thật lòng.
“Mọi chuyện vẫn ổn và tốt,” người khách lêu đêu đáp lại. Cô nhìn cuống vé hạng nhất nhét vào lưng ghế và thấy tên anh là Hanscom. “Ổn và tốt, khổ nỗi chuyến bay này hơi rung lắc nhỉ? Tôi đoán chắc tối nay cô vất vả lắm. Nên cô đừng lo cho tôi. Tôi” – Anh nở nụ cười trống rỗng với cô, nụ cười khiến cô nghĩ đến con bù nhìn lật phật giữa cánh đồng tháng Mười trơ trọi. “Tôi vẫn tốt, vẫn ổn.”
“Nhìn anh”
(như đã chết)
“có hơi mệt.”
“Tôi chỉ đang nghĩ về ngày xưa,” anh nói. “Chợt tối nay, tôi nhận ra có những thứ thuộc về ngày xưa, chí ít là với tôi.”
Tiếng chuông gọi dịch vụ lại réo rắt vang lên. “Cô tiếp viên ơi?” Một hành khách lo lắng gọi.
“Vâng, nếu anh thấy mình vẫn ổn…”
“Ban nãy tôi nghĩ về con đập ngày xưa mình xây với một vài người bạn,” Ben Hanscom kể. “Những người bạn đầu tiên tôi có, tôi đồ là vậy. Họ xây đập trong lúc tôi…” Anh khựng lại, giật mình rồi ồ lên cười. Một nụ cười chân thật, gần như vô âu vô lo của một cậu bé, và nó thật chẳng ăn nhập gì với chiếc máy bay đang rung lên giật xuống này. “… khi tôi nhảy vào giữa bọn họ. Theo nghĩa đen đấy nhé. Nói chung, cả đám bọn tôi xây một con đập tanh bành. Đến giờ tôi vẫn nhớ.”
“Cô tiếp viên ơi?”
“Xin lỗi anh – Tôi phải làm nhiệm vụ của mình thôi.”
“Tất nhiên rồi, cô cứ đi đi.”
Cô vội vã rời đi, vui mừng vì thoát khỏi ánh nhìn ấy – ánh nhìn chết chóc, gần như thôi miên.
Ben Hanscom quay đầu nhìn ra cửa sổ. Chớp lóe lên trong đám mây giông to đùng cách cánh phải máy chừng mười lăm cây số. Giữa ánh chớp tắt chớp nháy kia, cụm mây trông như những bộ óc trong suốt khổng lồ ngập tràn những suy nghĩ xấu xa.
Anh lần mò trong túi áo vest nhưng đồng bạc đã không còn ở đó. Chúng chuyển từ túi áo của anh sang túi của Rick Lee. Anh chợt ước giá mà mình giữ lại ít nhất một đồng. Biết đâu nó lại có ích. Tất nhiên, anh có thể ra bất cứ ngân hàng nào – à, ấy là khi anh đang không lởn vởn cách mặt đất khoảng tám ki-lô-mét – và đổi lấy cả nắm đồng bạc, nhưng anh chẳng thể làm nên trò trống gì với những chiếc bánh mì kẹp bằng đồng ăn hại mà ngày nay, Chính phủ vẫn nhất nhất bảo là xu thật ấy. Và để chống lại Người sói, ma cà rồng và tất cả những loại quái vật lộng hành khi đêm xuống, ta cần phải có bạc; bạc thật. Ta cần bạc để ngăn chặn quỷ dữ. Ta cần…
Anh nhắm mắt lại. Xung quanh anh ồn ào tiếng chuông. Máy bay lắc lư, trồi sụt, chòng chành, còn không gian réo rắt tiếng chuông. Chuông ư?
Không… tiếng kẻng.
Là tiếng kẻng, tiếng kẻng đặc biệt ấy, tiếng kẻng đặc biệt nhất trong mọi loại kẻng, tiếng kẻng đám học sinh đợi cả năm trời khi bao nô nức đi học đã hạ nhiệt, và điều này xảy ra khi tuần đầu tiên trôi qua. Tiếng kẻng, âm thanh báo hiệu tự do, đỉnh cao của mọi loại kẻng trường.
An vị trên chiếc ghế ở khoang hạng nhất, lững lờ giữa giông tố ở độ cao hơn tám ki-lô-mét, Ben Hanscom quay mặt ra cửa sổ và chợt anh cảm thấy bức tường thời gian đột nhiên mỏng lại; nhu động ruột tệ hại/ tuyệt vời bắt đầu xảy ra. Anh thầm nhủ: Chúa ơi, mình đang bị quá khứ của bản thân tiêu hóa kìa.
Chớp lại đì đùng lóe lên trên mặt anh, và dù anh không để ý, ngày mới đã sang. Ngày 28 tháng 5 năm 1985 đã chuyển sang ngày 29 tháng 5 trong đêm tối bão bùng vốn là ở phía tây Illinois; dưới kia, bao nhà nông bán mặt cho đất, bán lưng cho trời ngủ say như chết, mơ về cơ hội đời lên hương, và ai mà biết liệu thứ gì sẽ đánh vào nông trại, tầng hầm hay đồng ruộng của họ khi chớp âm ỉ còn sấm đùng đoàng ngoài kia? Chẳng ai biết những thứ này; họ chỉ biết điện chập chờn trong đêm, và không khí như tích điện với cơn bão giật đì đùng.
Nhưng rồi tiếng kẻng vang lên giữa không trung, cách mặt đất chừng tám ki-lô-mét, khi máy bay lướt sang cùng thời tiết quang đãng, khi chuyển động đã nhịp nhàng trở lại tiếng kẻng lại vang lên, tiếng kẻng ngân vang khi Ben Hanscom chìm vào giấc ngủ; và lúc anh thiếp đi, bức tường giữa quá khứ và hiện tại xóa nhòa hoàn toàn, để anh rơi ngược trở về nhiều năm trước, tựa người rơi xuống giếng - có lẽ anh là Người Du hành thời gian qua giếng - với miếng sắt vỡ đeo trên tay, rơi mãi, rơi mãi xuống vùng đất của dị nhân Morlock, nơi những cỗ máy cứ thình thịch trong hầm tối. Anh trôi về năm 1981, 1977, 1969, và đột nhiên anh trở lại đây, trở lại tháng Sáu năm 1958; ánh nắng hạ chói chang tràn ngập mặt đất, và dưới hàng mi đang say giấc, mắt của Ben Hanscom nheo lại sau khi nhận lệnh từ bộ não mơ màng, nhưng thứ anh thấy lúc này không phải là màn đêm phủ khắp phía tây Illinois mà là ánh mặt trời rạng rỡ của một ngày tháng Sáu ở Derry, Maine, hai mươi bảy năm về trước.
Tiếng kẻng.
Tiếng kẻng ấy.
Trường học.
Trường học.
Trường học…
2
kết thúc rồi!
Tiếng kẻng vang lên khắp các sảnh trường Derry, một tòa nhà bằng gạch sừng sững trên đường Jackson, và ngay khoảnh khắc ấy, đám trẻ lớp Năm trong lớp của Ben Hanscom bật dậy reo hò – và cô Douglas, thường ngày vốn là giáo viên nghiêm khắc nhất, cũng không buồn la rầy bọn chúng. Có lẽ cô biết đó là điều không tưởng.
“Các trò!” cô nói to khi tiếng reo hò đã chấm dứt. “Cả lớp có thể tập trung lần cuối cho cô không?”
Giờ trong lớp rầm rì tiếng trò chuyện vui tươi cùng vài tiếng ca thán. Cô Douglas cầm sổ liên lạc của cả lớp trong tay.
“Mong là tớ đậu!” Sally Mueller lảnh lót nói với Bev Marsh ngồi dãy bên cạnh. Sally là một cô học trò sáng sủa, xinh xắn và lanh lợi. Bev cũng xinh, nhưng dù chiều hôm ấy là ngày cuối cùng phải đi học, cô bé cũng chẳng tỏ ra lanh lợi chút nào. Cô ủ rũ cúi gằm nhìn xuống đôi giày lười của mình. Có một vết bầm màu vàng đã phai trên một bên má.
“Tớ chẳng quan tâm mình có đậu hay không.” Bev cộc cằn.
Sally hừ mũi, ý nói các quý cô không nên nói năng kiểu ấy, đoạn quay sang Greta Bowie. Có lẽ chỉ vì quá hào hứng khi nghe tiếng kẻng báo hiệu kết thúc năm học nên Sally mới quên mất mà tíu tít với Beverly, Ben nghĩ thầm trong bụng. Sally Mueller và Greta Bowie vốn là tiểu thư cành vàng lá ngọc, nhà ở Tây Broadway, trong khi Bev lại sống trong một căn hộ tập thể xập xệ ở đường Chính Phố Dưới. Đường Chính Phố Dưới và Tây Broadway chỉ cách nhau hai cây số rưỡi, nhưng đến một đứa trẻ như Ben cũng biết khoảng cách thật sự của hai khu này chẳng khác nào khoảng cách từ Trái Đất đến sao Diêm Vương. Chỉ cần nhìn chiếc áo len rẻ tiền của Beverly Marsh, cái váy quá khổ có lẽ rinh từ tiệm đồ cũ của Cứu Thế Quân, đôi giày lười mòn vẹt của cô là đủ để biết hai nơi này cách xa vời vợi. Tuy nhiên, Ben vẫn thích Beverly hơn – thích hơn rất nhiều là đằng khác. Sally và Greta lúc nào cũng xúng xính váy áo, và cậu đoán chắc tháng nào hai cô bạn cũng được đi uốn tóc, tạo sóng hay gì đấy, nhưng với cậu, những điều đó chẳng thay đổi được sự thật căn cơ. Dù hai cô bạn này có điệu đà uốn tóc hằng ngày đi nữa, bọn họ vẫn chỉ là hai đứa oắt con nhìn đời bằng nửa con mắt.
Cậu thấy Beverly tốt tính hơn và xinh hơn rất nhiều , nhưng dù có cho vàng, cậu cũng chẳng có gan để thổ lộ với cô điều đó. Song thỉnh thoảng, khi mùa đông tràn về, khi ánh sáng bên ngoài vàng vọt khiến ta buồn ngủ như con mèo cuộn tròn trên ghế sô pha, khi cô Douglas thao thao bất tuyệt về môn Toán (cách thực hiện phép chia dài, cách tìm mẫu số chung của hai phân số để làm tính cộng) hoặc đọc câu hỏi từ Những cây cầu phát sáng hay bàn luận về trầm tích thiếc ở Paraguay, vào những ngày tưởng chừng buổi học sẽ kéo dài lê thê mãi, mà thật ra không kết thúc cũng chẳng sao, vì đằng nào thế giới ngoài kia cũng nhơ nhớp tuyết tan… Vào những ngày ấy, Ben thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn khuôn mặt nghiêng nghiêng của Beverly, một cách lén lút vụng trộm, và trái tim cậu đau đến nhói lòng nhưng bằng cách nào đó cũng vì thế mà sáng bừng lên. Cậu đoán cậu phải lòng cô mất rồi, hoặc đã đem lòng thương cô, và đó chính là lý do tại sao cậu luôn nghĩ đến Beverly khi bài hát “Thiên thần Trái Đất” của Penguins vang lên trên trên ra-đi-ô – “người anh yêu thương hỡi/ phút giây nào cũng yêu em…” Phải, nghe thật ngớ ngẩn, nhưng cũng chẳng sao, và sến đến chảy nước, nhưng cũng chẳng sao, vì đằng nào cậu cũng chẳng bao giờ thổ lộ. Cậu cho rằng những thằng phì nộn có lẽ chỉ được phép thầm thương trộm nhớ những cô bạn xinh xắn. Nếu cậu kể với bất cứ ai về tình cảm của mình (mà thật ra cậu cũng chẳng có bạn bè gì để tâm sự), người đó hẳn sẽ cười lăn cười bò đến khi truỵ cả tim cho mà xem. Và giả như cậu bày tỏ tình cảm của mình với Beverly, hẳn cô sẽ phá lên cười (tệ) hoặc nôn ọe vì kinh tởm (tệ hơn).
“Bây giờ cô gọi tên ai thì người đó bước lên nhé. Paul Andersen… Carla Bordeaux… Greta Bowie… Calvin Clark… Cissy Clark…”
Cô Douglas gọi đến đâu, các học sinh lớp Năm của cô lần lượt tiến về phía bảng (ngoại trừ cặp sinh đôi nhà Clark, hai anh em nhà này đi đâu cũng có nhau, tay trong tay, giống nhau như tạc, không thể phân biệt ngoại trừ độ dài mái tóc vàng óng ánh sắc trắng và bộ đồ: cô em mang váy còn cậu anh mặc quần jean), nhận sổ liên lạc màu vàng sẫm với hình quốc kỳ và Tuyên ngôn trung thành ở mặt trước, Kinh Lạy Cha ở mặt sau, đoạn khoan thai bước ra khỏi lớp… rồi sau đó chạy huỳnh huỵch xuống sảnh, nơi cánh cửa chính khổng lồ đã mở toang. Và chúng chạy ào vào mùa hạ, biến mất, đứa phóng xe đạp, đứa nhảy chân sáo, đứa làm bộ cưỡi ngựa, lấy tay đập vào hai bên đùi để giả tiếng vó, đứa lại quàng vai bá cổ nhau, ca vang “Mắt tôi đã có diễm phúc chứng kiến ngôi trường bị thiêu rụi” nhái theo giai điệu “Thánh chiến ca Cộng hoà”.
Tuyên ngôn trung thành (Pledge of Allegiance) được viết vào năm 1892 bởi bộ trưởng Francis Bellamy, là một biểu hiện của lòng trung thành đối với lá cờ của Mỹ và bản thân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Bản gốc có đoạn như sau: “Tôi cam kết trung thành với Quốc kỳ của tôi và nước Cộng hòa, mà nó là đại diện cho một quốc gia không thể chia cắt, với quyền tự do và công lý cho tất cả mọi người.” Bằng cách không nêu rõ lá cờ nào hoặc lòng trung thành nào đang được cam kết, Bellamy gợi ý rằng lời cam kết của ông có thể được sử dụng bởi bất kỳ quốc gia nào, không chỉ riêng nước Mỹ.
Kinh Lạy Cha (The Lord’s Prayer) là một bài kinh và là lời cầu nguyện được biết đến nhiều nhất trong Ki-tô giáo.
“Marcia Fadden… Frank Frick… Ben Hancom…”
Cậu đứng dậy, liếc trộm Beverly Marsh lần cuối trước khi vào hè (cậu cứ tưởng thế), rồi đi thẳng đến bàn của cô Douglas, một cậu bé mười một tuổi với cái mông to bè ngang ngửa kích thước của New Mexico – cặp mông ấy ních vào chiếc quần jean xanh mới cứng, trông hết sức không thoải mái, những chiếc đinh tán bằng đồng ánh lên những tia sáng nhỏ tia sáng nhỏ, khi hai bắp đùi của cậu cọ vào nhau phát ra tiếng sột soạt sột soạt . Hông của cậu lắc qua lắc lại như con gái. Bụng của cậu phộ từ bên này đánh sang bên kia. Hôm nay thời tiết ấm áp nhưng cậu vẫn mặc áo nỉ rộng thùng thình. Mà thật ra, cậu mặc áo nỉ thùng thình hầu như mọi lúc vì cậu vô cùng xấu hổ về bộ ngực, cậu cảm thấy như thế ngay từ ngày đầu tiên trở lại trường sau kỳ nghỉ Giáng sinh, khi cậu mặc một chiếc áo thun Ivy League mẹ tặng, và Huggins Ợ Hơi, một thằng lớp Sáu, bèn rú lên: “Ê, chúng mày! Xem ông già Noel tặng thằng Ben Hanscom cái gì vào Giáng sinh kìa! Một cặp bưởi cực to!” Ợ Hơi đã cười muốn nôn ruột trước sự nhanh mồm nhanh miệng của bản thân. Đám bạn xung quanh cũng cười rộ – trong đó có cả con gái. Nếu trước mặt cậu lúc ấy có nứt ra một lỗ nẻ dẫn xuống âm phủ, hẳn Ben sẽ nhảy xuống ngay tắp lự… hoặc thậm chí cậu còn lầm bầm nói lời biết ơn.
Kể từ hôm đó, ngày nào cậu cũng mặc áo nỉ. Cậu có tổng cộng bốn cái – màu nâu, màu xanh lá và hai cái màu xanh dương, cái nào cái nấy rộng thùng thình. Đây là một trong số ít những điều hiếm hoi cậu làm trái ý mẹ mình, một trong những lần hiếm hoi cậu thấy mình phải vạch rõ ranh giới, suốt thời ấu thơ gần như “mẹ đặt đâu con ngồi đấy” của cậu. Cậu tự nhủ nếu hôm ấy cậu trông thấy Beverly Marsh khúc khích cười nhạo mình, chắc cậu cũng có đủ lý do để chết mất.
“Cô rất vui khi được dạy em năm nay, Benjamin,” cô Douglas nói khi đưa cậu sổ liên lạc.
“Em cảm ơn cô, thưa cô Douglas.”
Một giọng eo éo giả lả chế giễu vang lên từ cuối lớp nhái lại lời cậu: “Cảm ơn cô, cô Đu lát.”
Còn ai trồng khoai đất này ngoài Henry Bowers. Henry học chung lớp Năm với Ben chứ không học lớp Sáu cùng hội bạn Huggins Ợ Hơi và Victor Criss vì hắn ta bị ở lại lớp. Ben nghĩ có khi Bowers lại đúp lần nữa cho mà xem. Từ nãy đến giờ, cô Douglas chưa gọi tên hắn để phát phiếu báo điểm, mà như thế nghĩa là chấm hết. Ben thấy nôn nao trong lòng, vì nếu Henry thực sự phải ở lại lớp, Ben cũng chịu một phần trách nhiệm… và Henry biết thừa điều đó.
Một tuần trước kỳ kiểm tra cuối năm, cô Douglas sắp xếp lại chỗ ngồi ngẫu nhiên cho cả lớp bằng cách bốc thăm tên của các học sinh từ chiếc mũ để trên bàn. Trời xui đất khiến thế nào mà Ben lại ngồi kế Henry Bowers ở dãy cuối. Lúc làm bài thi, thói quen của Ben là cuộn tròn cánh tay quanh tờ giấy thi và cúi gằm người, cảm thấy có chút gì đó dễ chịu khi áp bụng vào bàn, thỉnh thoảng lại liếm chiếc bút chì Be-Bop để có thêm cảm hứng.
Hôm thứ Ba, lúc đang làm bài thi môn Toán, một tiếng thì thầm vang lên từ bàn bên. Tiếng thì thầm rất trầm, rất khẽ, rất chuyên nghiệp, như tiếng của một tay lừa lọc lão làng đang truyền tin trong sân tập thể dục của nhà tù: “Cho tao chép coi.”
Ben liếc sang trái và nhìn thẳng vào đôi mắt đen đầy thịnh nộ của Henry Bowers. So với một thằng nhóc mười hai tuổi, Henry đô con hơn hẳn. Tay chân của hắn vạm vỡ nhờ làm nông. Bố hắn, một người khét tiếng điên rồ, có một mảnh ruộng ở cuối đường Kansas, gần ranh giới thị trấn Newport, và Henry phải è cổ hơn ba mươi tiếng một tuần cày cuốc, nhổ cỏ, trồng cây, đào đá, bổ củi, gặt hái nếu có thứ để thu hoạch.
Tóc của Henry được xén bằng trên đỉnh đầu khiến hắn ta trông có vẻ cau có, ngắn đến độ lộ cả phần da đầu màu trắng. Hắn vuốt keo phần tóc phía trước bằng tuýp kem luôn nhét trong túi quần jean, vì thế phần tóc trước trán hắn lúc nào cũng lỉa chỉa như răng máy cắt cỏ. Quanh hắn luôn thum thủm mùi mồ hôi và mùi kẹo cao su Juicy Fruit. Đi học, hắn mặc một chiếc áo khoác dành cho dân lái mô tô màu hồng có hình con chim ưng sau lưng. Lần nọ, một đứa nhóc lớp Bốn chuốc vạ vào thân khi cười nhạo cái áo ấy. Henry lao vào cậu nhóc tì Umber nhanh như cắt, đấm cho cậu nhóc hai cú bằng nắm tay còn lấm bẩn từ công việc đồng áng. Đứa nhóc mất ba chiếc răng ở đằng trước. Henry được nghỉ học hai tuần. Ben cầu trời với một niềm hy vọng cháy bỏng dù mỏng manh của kẻ thấp cổ bé họng chuyên bị đè đầu cưỡi cổ, rằng Henry sẽ bị đuổi học chứ không chỉ dừng lại ở việc đình chỉ. Tiếc là đời không như mơ. Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang. Đình chỉ kết thúc, Henry lại khệnh khạng bước vào sân trường, hằm hè phô trương trong chiếc áo khoác màu hồng, mái tóc vuốt cả đống keo đến độ tóc như muốn nhảy ra khỏi hộp sọ. Hai mắt vẫn còn vết bầm tím và sưng vù do bị ông bố điên rồ của mình đập vì tội “đánh nhau trong sân trường”. Vết bầm rồi cũng mờ đi, nhưng với những đứa trẻ phải cắn răng sống chung với Henry ở Derry, bài học vẫn còn đó. Theo những gì Ben thấy, kể từ ngày ấy, không ai dám hé răng nói nửa lời về chiếc áo khoác mô tô màu hồng với hình con chim ưng đằng sau của Henry.
Khi hắn thì thầm gầm gừ bắt Ben cho hắn chép bài, có ba suy nghĩ đã phóng vụt qua đầu cậu trong vài giây ngắn ngủi – cơ thể cậu phì lũ ra sao thì bù lại, những suy nghĩ ấy cũng thoăn thoắt và nhanh lẹ chừng ấy. Đầu tiên là nếu cô Douglas bắt quả tang Henry chép bài cậu, cả hai chắc chắn sẽ xơi trứng ngỗng trong bài kiểm tra. Thứ hai là nếu không để Henry chép, thể nào sau giờ học, hắn cũng tóm cổ cậu và tặng cậu cú đấm đúp huyền thoại kia, có lẽ lúc đó Huggins sẽ giữ một tay cậu còn Criss giữ tay còn lại.
Đây là những suy nghĩ ngây ngô của một đứa trẻ, và chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì suy cho cùng cậu vẫn còn bé. Tuy nhiên, suy nghĩ thứ ba, cũng là suy nghĩ cuối cùng, lại tinh tế hơn nhiều – chẳng khác gì người lớn.
Hắn có thể tóm được mình, chắc chắn là thế. Nhưng vẫn còn khả năng mình né được hắn trong tuần cuối cùng của năm học. Mình nghĩ nếu gắng hết sức thì mình sẽ làm được. Và mình đoán hết hè là hắn lại quên ngay ấy mà. Phải rồi. Đầu óc thằng này bã đậu lắm. Nếu trượt bài kiểm tra, có thể hắn sẽ lại đúp. Và nếu hắn đúp, mình sẽ lên lớp trước. Mình sẽ không phải chết đi trong cùng một phòng với hắn nữa… Mình sẽ lên cấp hai trước hắn. Mình… mình sẽ không phải chịu khổ sở nữa.
“Cho tao chép mau,” Henry gầm gừ lần nữa. Đôi mắt đen của hắn long lên như ra lệnh.
Ben lắc đầu, đoạn khum tay quanh tờ giấy của mình chặt hơn.
“Tao sẽ thịt mày, thằng béo,” Henry lầm bầm, lần này to hơn một chút. Bài làm của hắn đến giờ vẫn là một tờ giấy trắng, trừ chỗ ghi tên. Hắn như ngồi trên đống lửa. Nếu trượt kỳ thi và đúp một lần nữa, bố hắn sẽ đập hắn một trận rằng mỗi lẫn lộn. “Cho tao chép bài, nếu không tao sẽ cho mày biết thế nào là lễ độ.”
Ben lại lắc đầu, hai má run lên bần bật. Cậu sợ hãi nhưng cũng rất quyết tâm. Cậu nhận ra lần đầu tiên trong đời cậu chủ động đi theo quyết định mình vạch ra trong đầu, điều này cũng khiến cậu thất kinh, dù chẳng biết lý do cụ thể ra sao - phải bao nhiêu năm sau, cậu mới ngộ ra điều khiến cậu sợ hơn cả nỗi sợ dành cho Henry chính là sự máu lạnh trong tính toán, cân nhắc thiệt hơn đầy cẩn trọng và thực dụng cùng những dấu hiệu của tính cách người lớn đang dần thành hình. Henry thì cậu còn có thể né. Nhưng không sớm thì muộn, cậu sẽ trở thành người lớn, và lúc ấy thì có khi cậu sẽ nghĩ như vậy gần như mọi lúc.
“Ai đó đang trao đổi phía sau lớp đúng không? Cô Douglas lên tiếng, đầy nghiêm khắc. “Nếu đúng là thế, cô muốn trò đó dừng ngay lập tức .”
Cả lớp im phăng phắc suốt mười phút sau, ai nấy cắm cúi, hí hoáy trên tờ bài thi có mùi mực in roneo tím, và rồi lời hằm hè của Henry lại phát ra từ dãy bên kia, thật nhỏ, chỉ vừa đủ nghe, chắc nịch, lạnh người: “Mày chết với tao, thằng béo.”
3
Ben nhận sổ liên lạc và đánh bài chuồn, lòng khấp khởi biết ơn những vị thần linh đã phù hộ nhóc tì mười một tuổi béo ú như cậu, may sao nhờ thứ tự bảng chữ cái mà Henry Bowers không được phép ra khỏi lớp trước để động thủ với Ben bên ngoài.
Cậu không chạy xuống hàng lang như những đứa trẻ khác. Cậu chạy được , chạy rất nhanh so với những cậu bạn to béo ngang mình, nhưng cậu biết rõ lúc chạy nhìn mình buồn cười ra sao. Thế là cậu sải bước thật nhanh, bước ra từ gian sảnh phả mùi sách mát lạnh vào ánh mặt trời tháng Sáu rực rỡ. Cậu dừng lại, ngẩng đầu tắm trong ánh nắng ấy trong chốc lát, lâng lâng dưới sự ấm áp của nó và sự tự do. Cả triệu năm nữa mới đến tháng Chín. Cuốn lịch có thể nói khác, nhưng thông tin trên lịch sai rồi. Mùa hè dài hơn hẳn tất cả những ngày trong kỳ nghỉ cộng lại, và mùa hè là của cậu. Cậu cảm thấy mình cao như bể chứa nước Standpipe và lớn bằng cả thị trấn.
Bỗng dưng có ai đó xô cậu – xô rất mạnh. Những suy nghĩ dễ chịu về mùa hè đang trải trước mắt bị gạt bay khỏi đầu óc Ben khi cậu loạng choạng giữ thăng bằng bên mé bậc đá. May sao cậu chộp được rào sắt, chứ không cậu đã ngã lăn quay rồi.
“Tránh ra cho tao đi, đồ bị thịt.” Hóa ra đó là Victor Criss, với mái tóc chải ngược về sau theo kiểu Elvis Presley, bóng nhờn nhờ Brylcreem. Hắn bước xuống bậc thang và đi về phía cổng chính, tay đút túi quần jean, cổ áo dựng ngược lên, giày bốt gắn đinh dưới để kéo lê lộp cộp xuống đường.
Tim vẫn chưa thôi đập rộn vì sợ, Ben trông thấy bóng Huggins Ợ Hơi bên kia đường, phì phèo điếu thuốc. Hắn đưa tay chào Victor rồi đưa cho cậu bạn của mình điếu thuốc khi đến nơi. Victor hít một hơi, đoạn đưa lại cho Ợ Hơi, rồi chỉ về phía Ben, lúc này đang đứng giữa cầu thang. Hắn nói gì đó và cả hai thằng phá lên cười nắc nẻ. Mặt Ben đỏ lựng. Lúc nào chúng cũng ăn trên ngồi trốc thiên hạ. Sao định mệnh chỉ giỏi trêu ngươi thế nhỉ.
“Cậu thích nơi này đến nỗi quyết định đứng đây cả ngày à?” Một tiếng nói vang lên bên cạnh.
Ben quay lại, khuôn mặt được dịp đỏ thêm. Beverly Marsh đang đứng đó, mái tóc nâu đỏ như đám mây nhẹ nhàng ôm lấy đầu cô và lững lờ trên vai, đôi mắt cô lấp lánh sắc xanh xám. Chiếc áo len cô đang mặc được xắn lên đến khuỷu tay, sờn quanh cổ và thùng thình chẳng kém áo nỉ của Ben. Vì thùng thình quá nên Ben không biết cô đã có ngực hay chưa, nhưng cậu chẳng để tâm; khi ta đem lòng mến ai đó lúc ta chưa dậy thì, tình cảm ấy dạt dào và mạnh mẽ đến độ ta chẳng cưỡng nổi mệnh lệnh hết sức chân phương ấy, mà Ben cũng chẳng định làm thế cho nhọc công. Cậu để cảm xúc dẫn lối. Cậu vừa thấy ngu ngốc vừa thấy sung sướng, ngượng ngùng tái tê, cái ngượng mà cả đời chưa một lần cậu nếm trải… nhưng cậu vẫn thấy mình may mắn vô cùng. Bao cảm xúc cứ cuộn xoáy thành thứ tình cảm khó tả khiến cậu vừa chống chếnh vừa hạnh phúc.
“Không” cậu khàn giọng. “Đâu có.” Cậu nở nụ cười rộng đến mang tai. Cậu biết mình hẳn trông đang ngớ ngẩn lắm, nhưng cậu không sao kìm được.
“Thế thì tốt. Vì hết năm học rồi. Cảm ơn Chúa.”
“Chúc…” Giọng cậu lại khàn đi. Cậu phải đằng hắng, và hai má càng thêm sắc đỏ. “Chúc cậu có một kỳ nghỉ hè thật vui, Beverly.”
“Cậu cũng thế nhé, Ben. Năm sau gặp.”
Cô rảo bước xuống bậc thang và Ben chiêm ngưỡng mọi chi tiết với đôi mắt của một kẻ tương tự: chiếc váy ca rô sáng màu, mái tóc đỏ tung tẩy phía sau áo len, làn da trắng sứ, một vết cắt nhỏ đang lành phía sau bắp chân, và (chẳng rõ vì lý do gì mà chi tiết cuối cùng này khiến làn sóng cảm xúc cuốn phăng lấy cậu, làm cậu phải chộp lấy rào để đứng cho vững; cảm xúc ấy to lớn, khó tả, rất nhanh, có lẽ ấy là tín hiệu manh nha chút sắc dục mà cơ thể cậu, nơi tuyến nội tiết vẫn ngủ mà không mơ, chưa biết lý giải, nhưng chói lóa như chớp mùa hè) chiếc lắc ánh vàng cô đeo quanh cổ chân phải, ngay trên đôi giày lười, lấp lánh phản chiếu những tia nắng mặt trời.
Cậu thốt lên một âm thanh không rõ nghĩa. Run rẩy bước xuống cầu thang như ông già lụ khụ, cậu đứng lại, dõi theo bóng cô, đến tận lúc cô rẽ trái rồi biến mất phía bên kia bờ rào cao cao ngăn cách sân trường và vỉa hè.
4
Cậu chỉ đứng đó một lát, và rồi, trong lúc bạn bè đồng trang lứa vẫn lũ lượt đi ngang qua, tụm năm tụm ba hò hét, chạy toán loạn, cậu sực nhớ đến Henry Bowers nên ba chân bốn cẳng vòng qua tòa nhà. Đi ngang qua sân chơi của đám con nít, cậu lướt ngón tay qua xích đu làm chúng đung đưa ken két và bước qua bập bênh. Cậu ra theo hướng cổng nhỏ dẫn vào đường Charter rồi đi thẳng về phía bên trái, không đánh mắt nhìn về phía đống đá mà cứ cuối tuần cậu lại đến chơi đùa suốt chín tháng qua. Nhét sổ liên lạc vào túi sau, cậu bắt đầu huýt sáo. Dù chân mang một đôi Keds nhưng theo cậu cảm nhận, cậu đi qua tám lốc nhà mà như bay, chân không chạm vỉa hè tí nào.
Độ quá trưa thì tan trường, nhưng ít nhất phải đến 6 giờ tối thì mẹ cậu mới về nhà, vì vào thứ Sáu, sau giờ làm, bà sẽ đến thẳng Shop ‘n Save để mua đồ. Thế là cậu có cả ngày thỏa sức vẫy vùng.
Cậu đến công viên McCarron và ngồi dưới tán cây một lúc, chẳng làm gì, chỉ thỉnh thoảng thì thầm thật khẽ “Mình yêu cậu, Beverly Marsh”, và mỗi lần nói là một lần cậu thấy đầu thêm lâng lâng, hồn thêm bay bổng. Lúc nọ, khi một nhóm cậu bé đi ngang qua công viên và chia đội để chơi bóng chày, cậu thì thầm cái tên “Beverly Hanscom” những hai lần, rồi sau đó vùi mặt vào cỏ cho đến khi đôi má đỏ như gấc bớt hầm hập.
Được một lúc, cậu đứng dậy, băng qua công viên đến Đại lộ Costello. Đi thêm năm dãy nhà nữa, cậu sẽ đến Thư viện công cộng, nơi cậu định vào cho xong. Sắp ra khỏi công viên thì một gã lớp Sáu tên là Peter Gordon trông thấy cậu và hét lớn: “Ê, thằng béo! Chơi không? Bọn tao đang cần hậu vệ cánh phải!” Và rồi cả đám cười phá lên như được mùa. Ben lủi đi nhanh nhất có thể, cổ thụt xuống cổ áo như con rùa rụt vào mai.
Nhưng suy đi tính lại, cậu vẫn thấy số mình còn phước chán; nếu là ngày bình thường, đám con trai đã hò nhau đuổi theo cậu, có khi chỉ để chửi rủa cậu, có khi để vật cậu xuống đất xem cậu có khóc không. Nhưng hôm nay, bọn chúng đang mải mê vào việc bắt đầu trận đấu, xem khi quăng gậy đánh bóng thì nên dùng tay hay chơi thẻ bài để quyết định chọn cầu thủ trước, rồi sau đó xem đội nào giành được quyền đánh bóng, vân vân và mây mây. Ben vui vẻ để cả đám lại với những chộn rộn trước trận đấu bóng đầu tiên của mùa hè rồi tiếp tục đi thẳng.
Đi được ba dãy nhà về phía Costello, cậu nhác thấy một thứ thú vị, thậm chí có khi còn cho cậu chút tiền tiêu vặt, dưới hàng rào trước nhà ai đó. Ánh thủy tinh lóe qua chiếc túi giấy cũ bị rách. Ben dùng chân kéo túi ra vỉa hè. Xem ra cậu ở hiền gặp lành rồi. Bên trong có bốn chai bia và bốn chai sô-đa lớn. Mỗi chai sô-đa lớn bán được năm xu, chai bia Rheingold có giá hai xu. Hai mươi tám xu ngay dưới hàng rào, chực chờ một đứa nhóc đến mang đi. Đứa nhóc số đỏ nào đó.
“Mình chứ ai,” Ben vui vẻ reo lên, không hay biết điều gì đang đợi cậu lát nữa. Cậu bắt đầu cất bước, cẩn thận giữ đáy túi để nó không bục ra. Cậu bước vào chợ Đại lộ Costello cách đó một dãy nhà. Cậu đổi chai lấy tiền và đổi gần hết tiền lấy kẹo.
Đứng ở quầy kẹo, cậu chỉ trỏ, thích mê tiếng cửa kéo xành xạch khi chủ tiệm mở cánh cửa dọc theo rãnh có gắn vòng bi. Cậu nhận được năm que kẹo cam thảo màu đỏ, mười viên kẹo cứng hình thùng nước ngọt (một xu đổi được hai viên), một bọc kẹo viên (mỗi hàng có năm viên, mỗi bọc có năm hàng, cứ bóc ra là ăn được), một túi Likem Ade, một túi kẹo Pez cho súng bắn kẹo Pez-Gun ở nhà.
Ben bước ra ngoài với túi giấy nhỏ đựng kẹo trong tay, và bốn xu còn lại trong túi trước bên phải của chiếc quần jean mới. Đưa mắt nhìn túi giấy màu nâu ê hề kẹo ngọt, một suy nghĩ bất chợt hiện lên trong đầu cậu
(mày cứ tham ăn tục uống thế đi, đừng mơ lọt vào mắt Beverly Marsh)
nhưng suy nghĩ ấy thật đáng ghét nên cậu gạt nó ra. Chẳng nhọc công lắm; suy nghĩ ấy quen bị hắt hủi rồi.
Nếu ai đó hỏi cậu, “Ben này, cậu có cô đơn không?”, hẳn cậu sẽ nhìn người đó với ánh mắt đầy ngạc nhiên. Cậu chưa bao giờ mảy may nghĩ đến điều đó. Cậu không có bạn, nhưng cậu có sách và có ước mơ, cậu có các mô hình Revell; cậu có một bộ đồ chơi gỗ Lincoln Logs khổng lồ và dùng chúng xây đủ thứ trên trời dưới biển. Nhiều lần, mẹ cậu đã phải thốt lên rằng những ngôi nhà mà Ben lắp ráp bằng Lincoln Logs trông còn đẹp hơn một số mẫu thiết kế sẵn. Cậu còn có một bộ lắp ráp Erector Set. Cậu đang mong được tặng một bộ Super Set vào dịp sinh nhật tháng Mười. Nếu có bộ đó, cậu sẽ lắp được một chiếc đồng hồ chạy được và xe ô tô với bộ truyền động bên trong hẳn hoi. Cô đơn ư? Có khi cậu sẽ vụng về hỏi lại. Hả? Là sao cơ?
Một đứa trẻ mù bẩm sinh không biết mình bị mù cho đến khi có ai đó cho nó biết sự thật. Nhưng đến tận lúc ấy, đứa bé chỉ biết khái niệm lý thuyết về mù lòa; chỉ có những ai nay mù từng sáng mắt mới thật sự thấm thía. Ben Hanscom chẳng bao giờ cảm thấy cô đơn vì xưa nay, cậu chưa từng vui vầy cùng bè bạn. Nếu tình trạng này mới diễn ra, hoặc cục bộ hơn thì cậu còn hiểu, đằng này, cô đơn bao trùm lấy cuộc đời cậu và phủ bóng lấy cậu. Nó cứ lừng lững ở đó, như ngón cái có khớp cực dẻo, hoặc phần răng cửa nhọn nhìn rất buồn cười của cậu, cứ khi nào căng thẳng cậu lại đưa lưỡi đánh qua đánh lại phần răng nhọn ấy.
Beverly là giấc mộng ngọt ngào; còn kẹo là hiện thực ngọt ngào. Kẹo mới là bạn của cậu. Vì thế, cậu bảo suy nghĩ lạ lùng kia biến đi chỗ khác, và do vậy, nó lặng thầm biến mất, không phá bĩnh gì nữa. Trên đoạn đường từ chợ Đại lộ Costello đến thư viện, cậu ngấu nghiến hết sạch kẹo trong túi. Ban đầu, cậu thực sự định để dành kẹo Pez để xem ti vi vào buổi tối hôm đó – cậu rất thích nhét kẹo vào khẩu súng Pez-Gun bằng nhựa con con, từng viên một, thích nghe tiếng lò xo bên trong bật tanh tách, và thích nhất là bắn kẹo vào miệng, như một thằng nhóc tự kết liễu đời mình bằng đường. Tối nay có phim Whirlgbirds , với Kenneth Tobey trong vai chàng phi công trực thăng can trường và Dragnet , với nội dung là các vụ án có thật nhưng nhân vật được đổi tên để bảo vệ người vô tội, và cả Cảnh sát Cao tốc , bộ phim truyền hình cảnh sát ưa thích nhất mọi thời đại của cậu, với sự góp mặt của Broderick Crawford trong vai cảnh sát cao tốc Dan Matthews. Broderick Crawford là anh hùng trong lòng Ben. Broderick Crawford nhanh như cắt, Broderick Crawford xấu tính, BroderickCrawford chẳng để ai trèo lên đầu mình… và điều hay ho nhất là Broderick Crawford béo ú.
Cậu bước đến góc đường Costello và Kansas, đoạn băng qua Thư viện công cộng. Thư viện thật ra có hai tòa nhà - mặt trước là một tòa nhà bằng đá đã cũ, xây bằng tiền của một ông lớn trong ngành gỗ vào năm 1890, đằng sau là một tòa nhà bằng đá sa thạch mới xây, thấp hơn, được dùng làm thư viện trẻ em. Thư viện người lớn phía trước và thư viện trẻ em phía sau được nối với nhau bằng một hành lang bằng kính.
Gần trung tâm thị trấn, đường Kansas là đường một chiều, nên Ben chỉ nhìn về một hướng - phía bên phải – lúc băng qua đường. Nếu nhìn sang bên trái, hẳn mặt cậu bé sẽ không còn một giọt máu. Bởi đứng dưới bóng cây sồi cổ thụ to lớn trong khu vườn Nhà Cộng đồng Derry, cách đó một dãy nhà là Huggins Ợ Hơi, Victor Criss và Henry Bowers.
5
“Tóm nó thôi, Hank.” Victor háo hức muốn nghẹt thở.
Henry dõi theo thằng oắt con béo ú lạch bạch bước qua đường, bụng đung đưa, phần đuôi tóc chia ra ở sau đầu lắc tới lắc lui như lò xo cầu vồng chết tiệt, mông nó ngọ nguậy trong chiếc quần jean mới như đứa con gái. Hắn ước tính khoảng cách giữa ba người bọn chúng ở khu vườn Nhà Cộng đồng Derry và Hanscom, giữa Hanscom với thư viện an toàn kia. Hắn nghĩ bọn chúng có thể tóm cổ trước khi thằng nhãi vào trong, nhưng biết đâu Hanscom lại hét toáng lên thì sao. Ai chứ thằng oắt con ấy thì dám lắm. Nếu nó hô hoán, người lớn có thể can dự vào, mà Henry thì không muốn ai chõ mũi. Bà cô Douglas chết tiệt đã thông báo với Henry rằng hắn trượt cả hai môn tiếng Anh và Toán. Bà giáo nói sẽ cho hắn lên lớp, đổi lại, hắn phải học bốn tuần lớp phụ đạo hè. Henry thà ở lại lớp còn hơn. Nếu hắn ở lại lớp, bố sẽ đập hắn một trận. Nếu Henry phải đi học bốn tiếng một ngày suốt bốn tuần trong mùa bận rộn nhất của nhà nông thể nào bố cũng sẽ đập hắn cả chục lần, khéo còn nhiều hơn. Hắn chỉ đành cắn răng chịu đựng viễn cảnh tối tăm này vì hắn định bụng trút tất cả tức tối lên thằng bị thịt kia vào chiều nay.
Tính cả vốn lẫn lãi.
“Ờ, đi thôi,” Ợ Hơi đồng tình.
“Đợi đến lúc nó ra ngoài đã.”
Sau khi nhìn thấy Ben mở cánh cửa đôi to lớn, bước vào trong, bọn chúng ngồi xuống phì phèo thuốc lá, kể chuyện cười về mấy ông bán dạo và đợi thằng nhóc trở ra.
Henry biết chẳng chóng thì chày, nó sẽ thò mặt ra. Và khi nó xuất hiện, Henry sẽ cho nó thấy hối hận vì đã sinh ra đời.
6
Ben thích mê thư viện.
Cậu thích không gian lúc nào cũng mát lạnh ở nơi đây, ngay cả vào những ngày hè nóng như đổ lửa; cậu thích sự tĩnh lặng rì rầm, thỉnh thoảng vang lên tiếng thủ thỉ, tiếng thủ thư đóng dấu vào sách và thẻ, tiếng lật giấy lạo xạo trong Phòng Báo chí, nơi các cụ ông tụ tập đọc những tờ báo kết thành chuỗi dài. Cậu thích ánh sáng nơi đây, nghiêng nghiêng chiếu qua những khung cửa sổ vừa cao vừa hẹp khi chiều buông hoặc tỏa xuống ấm áp từ những ngọn đèn tròn treo bằng xích vào những đêm đông trong lúc gió rít bên ngoài. Cậu thích mùi sách – thứ mùi cay cay, có gì đó thật tuyệt diệu. Thỉnh thoảng, cậu lại bước qua kệ sách người lớn, chiêm ngưỡng hàng nghìn cuốn sách, thả hồn tưởng tượng một thế giới của bao kiếp người trong từng cuốn, thong thả như cách cậu tản bộ dọc con phố nhà mình dưới chạng vạng bảng lảng khói vào một buổi chiều cuối tháng Mười, mặt trời như dải cam nằm xa xa phía chân trời, tưởng tượng những mảnh đời phía sau khung cửa sổ – người cười đùa, người cãi vã, người cắm hoa, cho con bú, cho chó mèo ăn, hoặc vừa ăn vừa xem vô tuyến. Cậu thích cách hành lang bằng kính nối tòa nhà cũ với thư viện trẻ em lúc nào cũng nóng, ngay cả vào mùa đông, trừ khi có vài ngày âm u mây mù. Cô Starrett, thủ thư trưởng của thư viện trẻ em, nói với cậu nguyên nhân là do một hiện tượng có tên là hiệu ứng nhà kính. Ben thấy ý tưởng này thật hay ho. Nhiều năm sau, cậu sẽ xây dựng trung tâm truyền thông BBC - một kiến trúc được bàn tán rôm rả ở London, và người ta có thể bàn ra tán vào suốt nghìn năm mà chẳng ai biết (ngoại trừ bản thân Ben) rằng trung tâm truyền thông ấy chẳng là gì ngoài hành lang bằng kính của Thư viện công cộng Derry được dựng thẳng đứng.
Cậu cũng thích thư viện trẻ em, mặc dù nó không sở hữu nét duyên dáng vô hình tướng mà cậu cảm nhận được ở thư viện cũ, với những bóng đèn tròn và cầu thang sắt uốn lượn, quá hẹp nên hai người không thể cùng đi mà một người phải lùi lại. Thư viện trẻ em sáng sủa và đầy nắng, hơi ồn ào dù khắp nơi để bảng CHÚNG TA HÃY CÙNG GIỮ YÊN LẶNG NHÉ!. Hầu hết tiếng ồn thường vang lên ở Khu Gấu Pooh, nơi đám con nít hay đến để xem sách tranh. Hôm nay, Ben bước vào đúng lúc giờ kể chuyện vừa bắt đầu. Cô Davies, thủ thư trẻ xinh đẹp, đang kể câu chuyện “Ba chú dê Gruff”.
“Kẻ nào bước đi kèn kẹt trên cầu của ta?”
Cô Davies kể với giọng gầm gừ trầm thấp, bắt chước giọng của con quỷ trong câu chuyện. Vài đứa trẻ che miệng khúc khích cười, nhưng đa số dõi theo cô với vẻ mặt nghiêm trang, hòa mình vào giọng con quỷ như chấp nhận tiếng nói trong giấc mơ của mình, và đôi mắt nghiêm túc của chúng lấp lánh sự tò mò mà những câu chuyện cổ tích khơi gợi liệu con quỷ có bị đánh bại… hay nó sẽ ăn thịt đàn dê?
Những tấm áp phích rực rỡ được dán khắp nơi. Chỗ này vẽ hình một cậu bé ngoan, chải răng cho đến khi miệng đầy bọt như mõm con chó điên; chỗ kia vẽ hình một cậu bé hư đang hút thuốc lá (bên dưới đề KHI LỚN, TỚ MUỐN BỊ BỆNH NẶNG NHƯ BỐ TỚ); chỗ khác lại là bức ảnh chụp hàng tỷ chấm sáng le lói trong màn đêm. Ở dưới đề:
MỘT Ý TƯỞNG THẮP SÁNG HÀNG NGÀN CÂY NẾN.
Có thư mời THAM DỰ TRẢI NGHIỆM HƯỚNG ĐẠO SINH. Có tấm áp phích nêu cao ý tưởng CÂU LẠC BỘ BẠN NỮ HÔM NAY XÂY DỰNG PHỤ NỮ NGÀY MAI. Có các tờ đơn đăng ký chơi bóng mềm và đơn đăng ký tham gia Đội kịch Thiếu nhi của Nhà Cộng đồng. Và tất nhiên, có một tờ áp phích mời các em THAM DỰ CHƯƠNG TRÌNH ĐỌC SÁCH MÙA HÈ. Ben thích mê chương trình này. Mỗi người đăng ký đều được tặng một tấm bản đồ nước Mỹ. Và với mỗi cuốn sách đọc được và viết bản thu hoạch, ta sẽ được tặng hình dán của một bang, chỉ cần liếm là dán được lên bản đồ. Hình dán có thông tin như loài chim hoặc loài hoa biểu tượng của bang đó, năm được chấp nhận vào Hợp bang, và tổng thống nào xuất thân từ bang này, nếu có. Khi thu thập đủ 48 hình dán lên bản đồ, ta sẽ được tặng một cuốn sách. Ngon lành cành đào quá chừng. Và Ben định thực hiện đúng điều mà tấm áp phích kêu gọi: “Đừng lãng phí thì giờ, hãy đăng ký ngay hôm nay.”
Nổi bật giữa biết bao màu sắc rực rỡ, vui nhộn là một tấm áp phích đơn giản, vào thẳng trọng tâm được dán chỗ bàn trả sách – không tranh vẽ hay hình chụp cầu kỳ, chỉ đơn giản là một dòng chữ đen in trên nền trắng:
__HÃY GHI NHỚ GIỜ GIỚI NGHIÊM!
7 GIỜ TỐI SỞ CẢNH SÁT DERRY__
Chỉ cần nhìn tấm áp phích thôi cũng đã đủ khiến Ben rùng mình. Trong nỗi hân hoan được nhận sổ liên lạc, lo lắng về Henry Bowers, trò chuyện với Beverly và bước vào kỳ nghỉ hè, cậu đã quên bẵng mất giờ giới nghiêm và những vụ án mạng.
Dân tình xôn xao bàn tán số vụ giết người đã xảy ra, nhưng ai nấy đều nhất trí rằng đã có ít nhất bốn vụ kể từ mùa đông năm ngoái – năm nếu tính cả George Denbrough (nhiều người cho rằng cái chết của cậu bé con nhà Denbrough là một tai nạn vô tiền khoáng hậu). Vụ án đầu tiên mà mọi người dám chắc là Betty Ripsom, xác cô bé được phát hiện ngay sau dịp lễ Giáng sinh trong khu vực xây dựng đường cao tốc ở đường Jackson Phía Ngoài. Thân thể cô bé mười ba tuổi được tìm thấy bị cắt rời và đông cứng trong lớp đất bùn. Chi tiết này không được đăng báo, cũng không có người lớn nào kể cho Ben nghe. Cậu nghe phong thanh từ những lời to nhỏ đầu làng cuối xóm.
Chừng ba tháng rưỡi sau đó, khi mùa đánh bắt cá hồi bắt đầu chưa lâu, một ngư dân buông cần ở bờ sông cách Derry chừng ba mươi cây số về phía đông thì cần câu móc phải thứ gì đó, ban đầu ông cứ tưởng là nhành cây. Hóa ra đó là bàn tay, cổ tay và chừng chục phân cánh tay bé gái. Cần câu của ông móc phải chiến lợi phẩm khủng khiếp này ở phần thịt giữa ngón cái và ngón trỏ.
Cảnh sát đang tìm được phần thi thể còn lại của Cheryl Lamonica hạ nguồn, cách đó chừng sáu mươi mét, vướng vào một cái cây đổ xuống sông vào mùa đông năm ngoái. May mắn thế nào mà cái xác không trôi xuống sông Penobscot rồi đổ thẳng ra biển do dòng nước từ tuyết tan mùa xuân.
Cô thiếu nữ nhà Lamonica mới mười sáu tuổi. Cô xuất thân từ Derry nhưng đã bỏ học; ba năm trước, cô hạ sinh cô con gái Andrea. Hai mẹ con sống ở nhà bố mẹ đẻ của Cheryl. “Cheryl thỉnh thoảng hơi bốc đồng nhưng con bé tốt tính lắm,” bố cô vừa khóc vừa khai với cảnh sát. “Andi cứ hỏi “Mẹ đâu?, tôi biết phải trả lời cháu gái thế nào đây.”
Năm tuần trước khi tìm thấy cái xác, gia đình cô đã trình báo cảnh sát con gái mình mất tích. Cảnh sát bắt tay vào điều tra cái chết của Cheryl Lamonica với giả định ban đầu tương đối hợp lý: cô bị một trong những người bạn trai giết hại. Bởi người yêu của cô thì vô số. Nhiều anh là binh sĩ trong căn cứ không quân tít trên Bangor. “Mấy cậu ấy đa số đều rất tốt tính,” mẹ của Cheryl cho hay. Một trong những câu “tốt tính” kể trên là một thượng tá Lực lượng Không quân bốn mươi tuổi, đã có một vợ và ba con ở New Mexico. Một người nữa hiện đang bóc lịch ở Shawshank vì tội cướp có vũ trang.
Cảnh sát nghi ngờ thủ phạm có thể là người bạn trai, hoặc có khi chỉ là một kẻ qua đường, chung chạ giường chiếu với cô.
Nếu đây là bạn mây mưa với nạn nhân, hẳn hắn ta còn hứng thú với các bé trai. Bởi vào cuối tháng Tư, một giáo viên cấp hai đưa các em học sinh lớp Tám đi tản bộ thì trông thấy một đôi giày màu đỏ và quần yếm màu xanh thò ra từ miệng cống trên đường Merit. Mà đoạn đường Merit ấy đã được chặn lại bằng giá cưa. Mặt đường đã được ủi phẳng vào mùa thu năm ngoái. Đường cao tốc nối dài sẽ băng qua khu vực này rồi chạy thẳng theo hướng bắc lên Bangor.
Thi thể là của cậu bé Matthew Clements, ba tuổi, mà mới một ngày trước đó, bố mẹ cậu trình báo con trai mình mất tích (tấm hình cậu bé xuất hiện trên trang nhất tờ Derry News : đứa bé trai tóc đen, cười thật tươi trước ống kính với mũ lưỡi trai Red Sox trên đầu). Gia đình Clements sống trên đường Kansas, tít bên kia thị trấn. Mẹ cậu bé, chịu đả kích mất mát quá lớn, điềm tĩnh đến đáng sợ, tựa một quả bóng thủy tinh chực vỡ, khai báo với cảnh sát rằng lúc đó Matty đang lái xe đạp ba bánh lên xuống vỉa hè cạnh nhà, nằm ở góc giao của đường Kansas và ngõ Kossuth. Vừa bước vào nhà, bỏ quần áo giặt xong vào máy sấy, người mẹ nhìn ra ngoài cửa sổ để kiểm tra con trai thì phát hiện Matty đã biến mất. Chỉ còn chiếc xe đạp của cậu bé chỏng chơ ngay mép vỉa hè và lòng đường. Bánh sau vẫn còn quay chậm. Lúc người mẹ nhìn qua, bánh xe mới dừng hẳn.
Với Cảnh sát trưởng Borton, thế là quá đủ. Ngay đêm hôm sau, tại một phiên họp đặc biệt của Hội đồng thị trấn, ông đề ra giờ giới nghiêm là 7 giờ tối; mọi người đều tán thành và đề xuất có hiệu lực ngay ngày hôm sau. Trẻ nhỏ phải được “người lớn đủ thẩm quyền” trông coi mọc lúc mọi nơi, theo như bài báo viết về giờ giới nghiêm trên tờ News . Trường học của Ben tháng trước mới tổ chức cuộc họp đặc biệt. Cảnh sát trưởng bước lên khán đài, thọc ngón cái vào thắt lưng dắt súng và trấn an đám trẻ rằng chúng không có gì phải lo lắng miễn là chúng tuân thủ một số quy định đơn giản không nói chuyện với người lạ, không để người khác chở, trừ người thân thích, luôn ghi nhớ Cảnh Sát Là Bạn Của Dân… và tuân theo lệnh giới nghiêm.
Hai tuần trước, một cậu bạn mà Ben chỉ quen biết sơ sơ (cậu này học chung khối Năm nhưng khác lớp ở trường Tiểu học Derry) đã thò đầu nhìn vào một cống nước mưa trên đường Neibolt và trông thấy rất nhiều tóc lềnh phềnh ở trong đó. Cậu bé này tên là Frankie hay Freddy Ross gì đó (hoặc Roth thì phải), chuyên lần mò vật này vật nọ bằng một dụng cụ tự phát minh mà cậu đặt tên là QUE DÍNH KẸO CAO SU SỐ DÁCH. Nghe cậu ta ba hoa về nó mà xem, ai cũng sẽ thấy trong lòng cậu ta, phát minh đó hoành tráng như cái tên, viết hoa (và thậm chí còn có màu phản quang mới chịu). QUE DÍNH KẸO CAO SU SỐ DÁCH là một nhành cây gắn đống kẹo cao su ở đầu. Vào thời gian rảnh, Freddy (hay Frankie gì đấy) lại xách que đi khắp Derry, nhìn vào cống rãnh. Thỉnh thoảng, cậu trông thấy tiền – hầu hết là mấy xu lẻ, nhưng đôi lúc cũng vớ bẫm được đồng mười xu hoặc thậm chí là hai mươi lăm xu (vì lý do mà chỉ đương sự mới hiểu, cậu gọi đồng hai mươi lăm xu là “quái vật vịnh”). Khi nhác thấy đồng xu, Frankie-hay-Freddy-gì-đấy cùng QUE DÍNH KẸO CAO SU SỐ DÁCH sẽ ra tay ngay. Chỉ cần thọc que xuống tấm lưới sắt là đồng xu đã nằm gọn trong túi cậu.
Ben đã nghe tiếng của Frankie-hay-Freddy-gì-đấy và que kẹo cao su của cậu này từ lâu trước khi cậu ta trở thành tâm điểm chú ý của bàn dân thiên hạ nhờ vào việc phát hiện xác của Veronica Grogan. “Thằng đó tởm lắm,” ngày nọ, cậu bạn mang tên Richie Tozier nói với Ben trong giờ sinh hoạt lớp. Tozier là một thằng nhóc gầy như cò hương với cặp đít chai trên mặt. Ben nghĩ nếu không có cặp kính, khéo thị lực của Tozier chỉ cỡ ông Magoo là cùng, đôi mắt được phóng đại của cậu ta sau cặp đít chai dày cộp lúc nào cũng mang vẻ ngạc nhiên thường trực. Chưa kể, răng của cậu ta to kềnh, chẳng trách ai nấy đều gọi cậu là Hải ly Bucky. Cậu này học chung lớp Năm với Freddy-hay-Frankie-gì-đấy. “Cả ngày cậu ta chọc que kẹo cao su ấy xuống cống rãnh, rồi tối đến cậu ta lại lôi kẹo cao su từ que đó ra gặm.”
Nhân vật hoạt hình cận thị nặng.
“Ôi trời, gớm quá!” Ben thốt lên.
“Chuẩn rồi đấy, thỏ đế” nói đoạn Tozier bỏ đi.
Frankie-hay-Freddy-gì-đấy đưa QUE DÍNH KẸO CAO SU SỐ DÁCH tới lui lưới sắt chỗ cống nước mưa, cứ đinh ninh mình với được bộ tóc giả. Cậu ta tưởng mình có thể hong khô nó và tặng mẹ làm quà sinh nhật hay gì đó. Sau vài phút khều tới khều lui, đúng lúc cậu tính bỏ cuộc thì một khuôn mặt bất thình lình nổi lên khỏi mặt nước bẩn thỉu trong miệng cống bị bít, khuôn mặt dính đầy lá rụng trên hai gò má trắng hếu và đất cát trong đôi mắt trợn trừng.
Freddy-hay-Frankie-gì-đấy vừa hét vừa ba chân bốn cẳng chạy về nhà.
Veronica Grogan học lớp Bốn trường dòng đường Neibolt, được điều hành bởi nhóm người mà mẹ Ben hay gọi là “đám Công giáo”. Cô bé được chôn cất vào ngày cô tròn mười tuổi.
Sau vụ án kinh hoàng ấy, một buổi tối nọ, Arlene Hanscom gọi Ben vào phòng khách rồi ngồi cạnh cậu con trai của mình trên ghế sô pha. Người mẹ cầm tay và chăm chú nhìn con. Ben cũng nhìn mẹ, cảm thấy có chút ngột ngạt.
“Ben này,” bà lên tiếng, “con có ngu ngốc không?”
“Dạ không, thưa mẹ,” Ben đáp, càng lúc càng khó chịu. Cậu chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao. Chưa bao giờ cậu thấy mẹ mặt nặng mày nhẹ đến thế.
“Ừ,” bà đồng tình. “Mẹ nghĩ con không ngốc.”
Bà lặng thinh hồi lâu, không nhìn Ben mà trầm ngâm nhìn ra ngoài khung cửa sổ. Trong thoáng chốc, Ben lo khéo có khi mẹ đã quên bẵng mình. Mẹ cậu vẫn là một phụ nữ trẻ - bà mới chỉ ba mươi hai – nhưng những vất vả của việc đơn thân nuôi con đã in hằn lên khuôn mặt ấy. Bà làm việc bốn mươi tiếng một tuần trong phòng quấn và cuộn len tại Nhà máy Stark’s ở Newport, và nếu hôm nào làm việc mà hít phải bụi và xơ vải quá nhiều, mẹ cậu lại ho khù khụ khiến Ben sốt hết cả ruột. Có những đêm, cậu trằn trọc thật lâu, đưa mắt nhìn ra màn đêm bên ngoài khung cửa sổ cạnh giường, tự hỏi mình sẽ xoay xở ra sao nếu mẹ qua đời. Cậu đoán mình sẽ trở thành trẻ mồ côi. Có khi cậu sẽ trở thành Đứa Trẻ Bang (cậu cứ tưởng điều này có nghĩa là cậu sẽ phải đến sống với các nông dân bắt cậu nai lưng làm việc từ sáng sớm đến tối mịt), hoặc biết đâu cậu sẽ bị gửi vào Trại cô nhi Bangor. Cậu tìm cách trấn an bản thân rằng lo nghĩ về những điều này thì rõ thật ngu ngốc, nhưng vô ích. Cậu không chỉ lo cho bản thân, mà còn lo cho mẹ. Mẹ cậu rất khó tính, nghiêm khắc, nếu muốn điều gì bà sẽ làm cho bằng được, nhưng bà là một người mẹ tốt. Câu thương mẹ rất nhiều.
“Con nghe về những vụ án mạng rồi đấy,” mẹ nói, cuối cùng cũng quay sang nhìn cậu.
Cậu bé gật đầu.
“Ban đầu, người ta cứ tưởng là…” Bà ngần ngừ buông dở câu nói của mình, bởi bà chưa bao giờ nói thẳng từ này trước mặt con, nhưng tình hình hiện tại bất thường đến độ bà phải ép bản thân lên tiếng.... những vụ án tình dục. Có thể đúng mà cũng có thể sai. Có thể chúng đã kết thúc, mà cũng có thể chưa. Chẳng ai dám khẳng định chắc chắn điều gì nữa rồi, ngoại trừ việc có một kẻ điên đang rình rập con nít ngoài kia. Con hiểu lời mẹ không, Ben?”
Cậu gật đầu.
“Và con có hiểu ý mẹ là gì khi mẹ nói đó có thể là vụ án tình dục không?”
Cậu không hiểu lắm – chí ít là không hiểu chính xác – nhưng vẫn gật đầu. Nếu mẹ cậu tự dưng cảm thấy bà phải trao đổi với cậu chuyện bạn trai bạn gái cũng như các vấn đề liên quan thì chắc cậu chết vì ngượng mất.
“Mẹ rất lo cho con, Ben ạ. Mẹ lo mình chăm sóc con chưa đủ.”
Ben ngọ nguậy và chẳng nói gì. “Con phải vò võ một mình nhiều. Mẹ nghĩ là quá nhiều. Con…”
“Mẹ…”
“Im lặng nghe mẹ nói hết đã,” bà nói, và Ben im bặt. “Con phải cẩn thận, Benny. Sắp tới mùa hè rồi, mẹ không muốn con mất vui trong kỳ nghỉ hè của mình, nhưng con phải cẩn trọng. Mẹ muốn hằng ngày con về nhà trước giờ cơm tối. Nhà mình mấy giờ ăn tối?”
“Dạ, 6 giờ.”
“Chuẩn không cần chỉnh! Vậy nên nghe mẹ nói đây: nếu mẹ dọn bàn, rót sữa ra cho con mà chưa thấy Ben của mẹ rửa tay trong bồn, mẹ sẽ bước ngay đến điện thoại và gọi báo cảnh sát rằng con mất tích. Con hiểu không?”
“Dạ hiểu.”
“Và con hiểu mẹ nghiêm túc thế nào khi nói vậy chứ?”
“Dạ vâng.”
“Nếu chẳng may mẹ phải làm như vậy, rất có thể chỉ là chuyện bé xé ra to. Mẹ phần nào hiểu con trai các con hay lêu lổng. Mẹ hiểu các con hay mải chơi đùa hay làm này nọ trong kỳ nghỉ hè – theo dõi đường ong bay về tổ, chơi đá banh hoặc đá lon, trốn tìm hay gì đó. Nói chung là mẹ hiểu con và các bạn có rất nhiều trò để chơi.”
Ben điềm tĩnh gật đầu, thầm nghĩ nếu ngay cả việc cậu không có bạn bè mẹ còn chẳng biết thì có khi bà không hiểu về cuộc sống của cậu nhiều như bà tưởng. Nhưng còn khuya cậu mới dám mở miệng nói với mẹ như thế, có nằm mơ cả chục nghìn năm cũng không.
Bà lấy thứ gì đó từ trong túi váy mặc ở nhà rồi đưa cho cậu con trai. Một chiếc hộp nhỏ bằng nhựa. Ben mở ra, miệng há hốc khi nhìn thấy thứ đựng bên trong. “Trời ơi!” Cậu reo lên, không giấu nổi vẻ sung sướng. “Con cảm ơn mẹ!”
Đó là một chiếc đồng hồ Timex với các số be bé bằng bạc và dây đeo giả da. Mẹ còn chỉnh sẵn giờ và lên dây cót cho cậu; bởi cậu có thể nghe thấy tiếng đồng hồ tích tắc.
“Trời ơi, tuyệt nhất quả đất!” Cậu ôm chầm lấy mẹ đầy hào hứng và hôn thật kêu lên má của bà.
Mẹ cậu mỉm cười gật đầu, hài lòng khi thấy con mình vui vẻ. Sau đó, mặt bà nghiêm lại. “Đeo nó đi, luôn giữ trên tay, nhớ lên dây cót, để ý đến nó, và đừng để mất, con nhé.”
“Dạ vâng.”
“Giờ có đồng hồ rồi, con không có lý do gì để về nhà trễ đâu đấy. Hãy nhớ lời mẹ: nếu con không về đúng giờ, mẹ sẽ nhờ cảnh sát tìm con. Ít nhất cho đến khi họ bắt được kẻ sát hại trẻ em trong vùng, mẹ cấm con không được về trễ dù chỉ một phút, nếu không, mẹ sẽ gọi cảnh sát ngay lập tức.”
“Dạ.”
“Còn một điều nữa: mẹ không muốn con lang thang ở ngoài một mình. Con đủ khôn để không nhận kẹo hay quá giang người lạ - mẹ con mình đều biết con không ngu ngốc - và dù tướng con to cao so với tuổi của mình, nhưng người lớn, nhất là những kẻ điên loạn, dư sức áp đảo trẻ con nếu hắn muốn. Khi vào công viên hay thư viện, hãy đi với một người bạn nhé.”
“Dạ vâng.”
Bà lại đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ và trút tiếng thở dài đầy muộn phiền. “Mọi thứ ngày càng xuống dốc nên chuyện như thế này mới có thể hoành hành. Mà xưa nay, mẹ luôn cảm thấy thị trấn này hàm chứa điều gì đó bất tường.” Bà nhìn cậu, chau mày. “Con là hay la cà lắm đấy Ben nhé. Có khi con nắm hết đường ngang ngõ tắt ở Derry phải không? Chí ít là khu vực thị trấn.”
Ben không cho rằng mình biết hết phố xá nơi đây, được cái cậu cũng rành kha khá. Nhưng tối hôm ấy, cậu quá sung sướng với món quà đồng hồ Timex bất ngờ mẹ tặng, nên ngay cả khi mẹ bảo John Wayne nên đóng vai Adolf Hitler trong vở nhạc hài kịch về Thế chiến thứ hai, cậu cũng nhất trí. Cậu bèn gật đầu.
“Con từng thấy gì chưa?” Bà hỏi. “Bất cứ thứ gì hay ai đó… chà, đáng ngờ? Bất thường? Thứ gì đó làm con sợ chẳng hạn?”
Trong niềm vui sướng vì có đồng hồ, trong tình thương dạt dào dành cho mẹ cũng như sự sung sướng của một cậu bé con được mẹ quan tâm (dù sự quan tâm ấy có hơi đáng sợ, bởi nó quá bạo liệt, quá rõ ràng và chẳng nao núng), suýt chút nữa cậu đã kể với mẹ chuyện xảy ra vào tháng Một vừa rồi.
Cậu mở miệng, nhưng chưa kịp nói thì một thứ gì đó – một linh tính mạnh mẽ nào đó – đã chặn họng cậu.
Mà thứ đó thật ra là gì? Có lẽ là linh tính. Không hơn… mà cũng chẳng kém. Ngay cả trẻ con cũng hiểu đôi khi tình thương đi kèm với những trách nhiệm phức tạp hơn, và trong một số trường hợp, tốt hơn hết là nên giữ im lặng. Đó là một phần lý do Ben im bặt. Nhưng còn một thứ khác, thứ này chẳng cao thượng gì cho cam. Mẹ cậu lắm lúc rất nghiêm khắc. Mẹ có phần gia trưởng. Mẹ không bao giờ bảo cậu “mập” mà chỉ nói cậu “to con” (thỉnh thoảng còn nhấn mạnh “to con so với tuổi”), và khi còn dư thức ăn từ bữa tối, mẹ thường đem đến chỗ cậu lúc cậu đang xem ti vi hoặc làm bài tập, và thể nào cậu cũng ăn bằng hết, dù một phần mờ nhạt trong cậu chúa ghét bản thân khi làm thế (nhưng cậu không ghét mẹ vì để đồ ăn trước mặt mình – Ben Hanscom chẳng bao giờ dám ghét đấng sinh thành, chắc chắn Chúa sẽ cho cậu tắc tử nếu cậu dám có cảm xúc vô ơn và bất hiếu ấy dù chỉ một khắc). Và có lẽ một phần nào đó còn mờ nhạt hơn trong cậu – vùng Tây Tạng xa xôi lưu giữ những suy nghĩ sâu thẳm của Ben - nghi ngờ động cơ của mẹ khi liên tục cho cậu ăn. Chỉ đơn giản là tình thương? Hay có lý do gì khác? Hẳn là không. Nhưng… cậu lừng khừng. Nói trắng ra, mẹ còn không biết cậu chẳng có bạn bè. Việc đó khiến cậu mất lòng tin nơi mẹ, khiến cậu không dám chắc liệu mẹ sẽ phản ứng ra sao khi nghe cậu kể về sự vụ cậu gặp phải vào tháng Một. Ấy là nếu có điều gì đó xảy ra. Về nhà lúc sáu giờ và không ra ngoài cũng chẳng hề hấn gì, có lẽ thế. Cậu có thể đọc sách, xem ti vi,
(ăn)
lắp ghép các thứ bằng thanh gỗ và bộ Erector Set. Nhưng phải chôn chân cả ngày trong nhà thì chán mớ đời… và nếu cậu kể với mẹ thứ mình đã thấy – hoặc nghĩ rằng mình đã thấy – vào tháng Một, khéo có khi mẹ sẽ bắt cậu ở lì trong nhà cho mà xem.
Do vậy, vì ti tỉ lý do, Ben quyết định sẽ không làm thế.
“Dạ không, mẹ ạ,” cậu đáp. “Con chỉ thấy ông McKibbon lục thùng rác nhà người ta thôi.”
Nghe thế, mẹ phá lên cười – mẹ cậu không ưa ông McKibbon, vừa là một người theo Đảng Cộng hòa, vừa là “dân Công giáo” – và nụ cười của mẹ kết thúc cuộc nói chuyện. Đêm đó, Ben nằm thao thức đến khuya, nhưng cậu không muộn phiền với những suy nghĩ về việc không nơi nương tựa, côi cút một mình giữa trần đời nghiệt ngã. Nằm trên giường, ngắm nhìn ánh trăng chiếu qua khung cửa sổ, rót lên giường và tràn xuống sàn, cậu cảm thấy mình được nâng niu và bảo bọc. Cậu hết đưa đồng hồ lên tai để lắng nghe tiếng tích tắc, lại dí sát nó vào mắt để chiêm ngưỡng mặt đồng hồ phát quang đầy ma mị.
Mãi sau cậu mới thiếp đi và mơ thấy mình đang chơi bóng chày với các bạn trong một khu đất trống phía sau Trạm Xe tải của Anh em Tracker. Cậu vừa thực hiện một cú home run chiếm hết mọi chốt gôn, vung mạnh đến độ đầu gối khuỵu xuống đất, gậy đập chuẩn từng ly quả bóng, các đồng đội reo hò ầm ĩ, bu lại quanh cậu ở gôn nhà. Mọi người huých cậu và vỗ lên lưng cậu. Họ công kênh cậu lên vai và đưa cậu đến chỗ dụng cụ nằm rải rác. Trong mơ, cậu gần như vỡ oà vì tự hào và hạnh phúc… và sau đó cậu đưa mắt nhìn về hướng giữa sân, nơi chăng xích sắt để đánh dấu ranh giới giữa khoảng đất đầy xỉ than và phần đất rậm rì thoai thoải dẫn xuống Vùng Đất Cằn. Cậu trông thấy một bóng hình lấp ló giữa cỏ dại um tùm và những bụi cây thấp bé, gần như bị khuất hẳn. Nó cầm một chùm rất nhiều bóng bay- đỏ, vàng, xanh dương, xanh lá – trên tay đeo găng trắng. Tay còn lại vẫy vẫy. Tuy không thấy mặt của người đó nhưng cậu có thể thấy bộ đồ rộng thùng thình với những nút to tướng màu cam ở phía trước và chiếc nơ bướm màu vàng lòng thòng.
Là một chú hề.
Chuẩn rồi đấy, thỏ đế, một giọng nói ma mị vang lên.
Sáng hôm sau, khi Ben tỉnh giấc, cậu quên bẵng giấc mơ, nhưng sờ vào gối, cậu thấy nó ướt đẫm… tựa hồ đêm qua, cậu đã khóc.
7
Cậu đi thẳng đến bàn chính trong thư viện trẻ em, gạt đi dòng suy nghĩ về việc giờ giới nghiêm đã bắt đầu dễ dàng như chú chó lắc mình cho khô sau khi bơi.
“Chào cháu, Benny,” cô Starrett lên tiếng. Giống cô giáo Douglas, cô thủ thư cũng thật lòng quý Ben. Nhìn chung những người lớn, nhất là những người thuộc nhóm ngành nghề thỉnh thoảng phải răn đe trẻ em, rất thích cậu, vì cậu lễ phép, nói năng nhỏ nhẹ, biết trước biết sau, nhiều khi còn hài hước một cách lặng thầm. Đây cũng là những lý do hầu hết đám con nít ghét cay ghét đắng cậu. “Cháu đã thấy chán kỳ nghỉ hè chưa?”
Ben mỉm cười. Tính cô Starrett lúc nào cũng thích bông đùa. “Dạ chưa,” cậu đáp, “vì kỳ nghỉ hè mới chỉ diễn ra” – cậu nhìn đồng hồ – “một tiếng mười bảy phút thôi ạ. Chắc phải một tiếng nữa cháu mới chán.”
Cô Starrett phá lên cười, lấy tay che miệng để tiếng cười không trở nên quá to. Khi nghe cô hỏi liệu Ben có muốn đăng ký chương trình đọc sách mùa hè hay không, cậu bèn đồng ý. Cô đưa cho cậu tấm bản đồ Hoa Kỳ, thế là cậu cảm ơn rối rít.
Cậu lững thững bước đến kệ sách, lấy một cuốn sách chỗ này hay chỗ kia, đọc lướt qua rồi cất trở lại vị trí cũ. Chọn sách là một công việc rất nghiêm túc. Ta phải hềt sức cẩn thận. Người lớn thích bao nhiêu có thể mượn bấy nhiêu, nhưng trẻ con chỉ có thể mượn về ba cuốn một lần. Nếu chọn phải cuốn nhạt thếch thì chẳng khác nào mua dây buộc mình.
Loay hoay mãi, cuối cùng cậu cũng chọn được ba cuốn – Xe Ủi , Ngựa đua The Black và một cuốn nhắm mắt lựa đại mang tên Xế độ của tác giả Henry Gregor Felsen.
“Cháu có thể không thích cuốn này đâu,” cô Starrett nhận xét trong lúc đóng dấu. “Nội dung cực kỳ máu me. Cô hay khuyến khích cuốn này cho thanh thiếu niên, nhất là những người vừa mới có bằng lái, vì cuốn sách này chứa nhiều điều khiến họ suy nghĩ. Cô thấy nó khiến nhiều đứa chạy chậm lại cả tuần kìa.”
“Chà, vậy để cháu đọc thử ạ,” Ben nói rồi mang sách đến bàn cách xa Góc Gấu Pooh, lúc này, chú dê lớn nhất đang tặng cho con quỷ dưới cầu một trận tơi bời hoa lá.
Cậu đọc cuốn Xế độ một lúc mà thấy nó không quá đáng sợ. Thật ra chẳng đáng sợ chút nào. Nội dung viết về một cậu bé lái xe rất giỏi, nhưng lúc nào cũng có một tay cảnh sát phá đám tìm cách bắt cậu chạy chậm lại. Ben phát hiện hóa ra ở Iowa, bối cảnh của câu chuyện, không có giới hạn tốc độ. Nghe có vẻ hay ho.
Cậu ngẩng lên sau khi đọc một mạch ba chương và mắt cậu bị thu hút bởi cách bài trí mới ở nơi đây. Tấm áp phích trên cùng (xem ra thư viện là một người hâm mộ cuồng nhiệt các tấm áp phích) có hình bác đưa thư vui vẻ gửi thư đến cho một đứa trẻ cũng đang hớn hở hết sức. THƯ VIỆN CÒN LÀ NƠI ĐỂ VIẾT, tấm áp phích ghi như vậy. EM HÃY VIẾT THƯ CHO BẠN NHÉ! HẲN LÀ SẼ TRÀN NGẬP NỤ CƯỜI!
Bên dưới tấm áp phích là các khe nhét đầy những tấm bưu thiếp đã được đóng dấu sẵn, phong thư cũng được dán sẵn tem và giấy viết thư với hình vẽ Thư viện công cộng Derry bên trên bằng mực xanh. Phong thư dán sẵn tem có giá năm xu, bưu thiếp giá ba xu. Giấy viết thư có giá một xu hai tờ.
Ben lần mò túi mình. Bên trong vẫn còn bốn xu dư từ tiền bán chai. Cậu đánh dấu trang cuốn Xế độ rồi quay trở lại bàn. “Cháu có thể mua một tấm bưu thiếp được không ạ?”
“Tất nhiên rồi, Ben.” Như mọi khi, cô Starrett rất ưng ý trước thái độ lễ phép như ông cụ non của cậu và chút buồn lòng trước tướng tá của Ben. Nếu còn sống, mẹ của cô sẽ bảo cậu bé đang tự đào mồ chôn mình bằng dao và nĩa. Bà sẽ đưa cho cậu bé tấm bưu thiếp rồi nhìn cậu đi về chỗ ngồi của mình. Bạn có sáu ghế nhưng chỉ có Ben ngồi thu lu một mình. Bà chưa bao giờ thấy Ben đi với cậu bạn nào cả. Thế này thật đáng tiếc, bởi bà tin rằng Ben Hanscom tiềm ẩn ngọc quý bên trong. Cậu sẽ bộc lộ kho báu ấy với một người tầm ngọc kiên nhẫn và tốt bụng… ấy là nếu như người đó xuất hiện.
8
Ben lấy cây bút bi của mình ra, ấn đầu bút xuống rồi viết lên tấm bưu thiếp dòng chữ đơn giản: Gửi bạn Beverly Marsh, đường Chính Phố Dưới, Derry, Maine, Khu 2 . Cậu không biết địa chỉ chính xác của căn chung cư nơi cô ở, nhưng mẹ nói hầu hết các bác giao thư đều nắm trong lòng bàn tay các khách hàng của mình sau khi làm việc một thời gian. Nếu bác giao thư ở khu đường Chính Phố Dưới giao được tấm bưu thiếp này thì tốt. Còn không, nó sẽ được trả về văn phòng thư không người nhận và cậu tốn mất ba xu. Tất nhiên, tấm bưu thiếp sẽ không đời nào quay về với cậu, vì cậu không định đề tên và địa chỉ của mình lên đó.
Cầm tấm bưu thiếp với phần địa chỉ úp vào trong (cẩn tắc vô áy náy, dù xung quanh cậu toàn là người lạ), cậu lấy vài mẩu giấy vuông từ hộp gỗ để cạnh hộp đựng danh thiếp. Đem về chỗ ngồi, cậu bắt đầu hí hoáy, gạch tới gạch lui, rồi lại tiếp tục hí hoáy.
Trong tuần học cuối cùng trước kỳ thi, bọn trẻ đã đọc và tập làm thơ haiku trong lớp tiếng Anh. Haiku là một loại thơ của Nhật Bản, ngắn gọn và súc tích. Cô Douglas giảng một bài thơ haiku chỉ đúng mười bảy âm tiết – không hơn, không kém. Nội dung thơ thường xoáy vào một hình ảnh rõ ràng, liên quan đến một cảm xúc cụ thể: buồn, vui, hoài niệm, hạnh phúc… tình yêu.
Ben hoàn toàn mê mẩn khái niệm thơ này. Cậu rất thích giờ học tiếng Anh, dù tất cả chỉ dừng lại ở ưa thích. Cậu dư sức hoàn thành bài tập, nhưng thành thật mà nói, chẳng có gì khiến cậu hứng thú cả. Nhưng ở thơ haiku ẩn chứa điều gì đó khiến mạch tưởng tượng của cậu tuôn trào. Loại thơ ấy khiến cậu cảm thấy vui, giống như cách cô Starrett giải thích về hiện tượng nhà kính làm cậu reo vui trong lòng. Ben cảm thấy haiku là dòng thơ tuyệt phẩm vì nó có niêm luật rõ ràng. Nó không có luật ngầm. Chỉ mười bảy âm tiết, một hình ảnh ẩn dụ cảm xúc, thế là đủ. Chấm hết. Rõ ràng, rành mạch, tinh gọn và đi theo luật riêng. Cậu thích cả cái tên của dòng thơ này, một dòng khí bị vỡ ra như đi dọc theo đường kẻ chấm bởi âm “k” phát ra từ cuối cổ họng: haiku .
Tóc cậu ấy, cậu ngẫm nghĩ và mường tượng cảnh cô bước xuống bậc thang ở trường với mái tóc nhún nhảy trên vai. Mặt trời không phản chiếu nhiều trên mái tóc cô mà dường như ánh nắng đang tỏa ra từ đó.
Vắt óc suốt hai mươi phút (với một quãng nghỉ để đi lấy thêm giấy), gạch bỏ những từ quá dài, sửa và bôi xóa, Ben cho ra đời tác phẩm:
Tóc nàng như ngọn lửa mùa đông,
Than hồng đỏ rực tháng Giêng
Tim tôi bừng nơi đó.
Cậu không quá cuồng nhưng cậu đã trút hết sức để làm rồi. Cậu sợ nếu cứ sửa tới sửa lui quá nhiều, bới bèo ra bọ, cậu sẽ đâm ra lo lắng và chữa lợn lành thành lợn què. Hoặc có khi chẳng viết được chữ nào. Mà cậu lại không muốn điều đó xảy ra. Phút giây cô bắt chuyện với cậu là một khoảnh khắc trời giáng với Ben. Cậu muốn khắc sâu nó trong tâm tưởng. Biết đâu Beverly đã tương tự một anh khối trên – lớp Sáu chẳng hạn – hoặc thậm chí là lớp Bảy, và cô sẽ cho rằng tác giả của bài thơ haiku này là anh ta. Điều đó sẽ khiến cô hạnh phúc, vì thế, ngày nhận được bức thư này sẽ in hằn trong ký ức cô. Dù cô sẽ không bao giờ biết Ben Hanscom sáng tác bài thơ ấy vì cô, cũng chẳng sao; bản thân cậu biết là đủ.
Cậu chép bài thơ hoàn chỉnh lên mặt sau của tấm bưu thiếp (viết hoa rời rạc, như thể viết thư tống tiền chứ chẳng giống thơ tình chút nào), kẹp bút vào túi rồi nhét tấm bưu thiếp vào sau cuốn Xế độ .
Cậu đứng dậy, chào tạm biệt cô Starrett lúc bước ra.
“Tạm biệt, Ben,” cô Starrett nói. “Tận hưởng kỳ nghỉ hè, nhưng đừng quên giờ giới nghiêm đấy.”
“Dạ, vâng ạ.”
Cậu băng qua hành lang bằng kính nối giữa hai tòa nhà, tận hưởng không khí ấm áp bên trong (hiệu ứng nhà kính, cậu hào hứng nghĩ và tiếp đó là sự mát lạnh ở thư viện dành cho người lớn. Một cụ ông đang đọc tờ News trên chiếc ghế xưa, được bọc đệm đầy thoải mái trong góc Phòng Đọc. Dòng tiêu đề ngay bên dưới tên tờ báo ghi: DULLES HỨA QUÂN ĐỘI MỸ SẼ GIÚP LEBANON NẾU CẦN! Trên mặt báo còn đăng hình Ike bắt tay một người Ả Rập trong Vườn Hồng. Mẹ của Ben nói vào năm 1960, khi đất nước bầu tổng thống Hubert Humphrey, có thể mọi chuyện sẽ biến chuyển. Ben lờ mờ biết dạo ấy kinh tế đang trải qua một thời kỳ mang tên suy thoái, và mẹ cậu lo lắng bà sẽ bị đuổi việc.
Một dòng tít nhỏ hơn ở nửa dưới trang nhất đề CẢNH SÁT TIẾP TỤC SĂN TÌM KẺ ĐIÊN.
Ben đẩy cánh cửa chính to đùng của thư viện rồi bước ra ngoài.
Có một thùng thư dưới chân bậc thang. Ben lấy tấm bưu thiếp ra khỏi cuốn sách rồi để nó vào thùng. Cậu thấy tim mình rộn ràng hơn khi tấm bưu thiếp trượt khỏi tay. Nhỡ cô ấy biết đó là mình thì sao?
Nằm mơ giữa ban ngày hả, cậu dập ngay, hơi giật mình khi thấy ý tưởng ấy khiến mình hào hứng đến thế.
Cậu rảo bước lên đường Kansas, chẳng để ý mình đang đi đâu, mà thật tình cũng chẳng để tâm cho lắm. Cậu bắt đầu thả hồn cho tâm trí bay bổng. Trong tưởng tượng ấy, Beverly Marsh tiến về phía cậu, đôi mắt xanh xám mở to, mái tóc màu hung được cột lại phía sau thành đuôi ngựa. Tớ muốn hỏi cậu một câu, Ben, cô bạn cậu tự biên tự diễn trong đầu lên tiếng, và cậu phải thề sẽ nói thật với tớ. Cô cầm tấm bưu thiếp trên tay. Cậu là người viết phải không?
Tưởng tượng gì tệ lậu quá. Tưởng tượng gì tuyệt vời quá. Cậu nửa muốn nó dừng lại, nửa muốn nó cứ kéo dài mãi. Mặt cậu lại bắt đầu đỏ bừng.
Ben vừa đi vừa mơ mộng, vung vẩy cuốn sách mượn ở thư viện từ tay này sang tay kia và huýt sáo. Có lẽ cậu nghĩ tớ là kẻ tồi tệ, Beverly thủ thỉ, nhưng tớ nghĩ là tớ muốn trao cậu nụ hôn. Đôi môi cô khẽ hé mở.
Còn môi của Ben chợt khô khốc, khiến cậu không huýt sáo nổi.
“Tớ nghĩ tớ muốn cậu làm thế,” cậu thì thầm, nở nụ cười ngây ngô, say sưa và tuyệt đẹp.
Nếu lúc đó nhìn xuống vỉa hè, Ben sẽ thấy ba bóng người đã quây quanh bóng cậu; nếu lúc đó cậu chịu khó lắng nghe, cậu sẽ nghe thấy tiếng đế giày của Victor cạ xuống đường khi hắn, Ợ Hơi và Henry tiến lại. Nhưng cậu không nghe, cũng chẳng thấy gì. Bởi lúc ấy, hồn Ben đang tít tận trên mây, cảm nhận đôi môi của Beverly nhẹ nhàng áp vào cậu, cậu đưa đôi tay ngượng ngùng chạm vào mái tóc rực lửa Ireland của cô.
9
Giống như nhiều thị trấn lớn nhỏ khác, Derry không được hoạch định mà cứ thế sinh sôi nảy nở như cỏ dại. Còn khuya các nhà quy hoạch đô thị mới sắp xếp cho thị trấn tọa lạc ở vị trí hiện tại. Trung tâm thị trấn Derry lọt thỏm trong thung lũng được hình thành bởi suối Kenduskeag chạy ngang qua trung tâm kinh doanh và thương mại theo đường chéo từ hướng tây nam sang đông bắc. Phần còn lại của thị trấn men theo triển các ngọn đồi xung quanh.
Thung lũng nơi những người đầu tiên khai thiên lập địa đặt chân đến ngày xưa lầy lội và rậm rạp vô cùng. Sông Kenduskeag và sông Penobscot – nơi con sông Kenduskeag đổ vào – tạo thuận lợi cho thương buôn, nhưng lại gây nhức đầu cho những người gieo trồng hoặc xây nhà quá gần lưu vực - đặc biệt là sông Kenduskeag, bởi cứ ba đến bốn năm, lũ lụt lại xảy ra một lần. Suốt năm mươi năm qua, bao nhiêu tiền của đã đổ vào nhằm kiểm soát vấn đề này nhưng vô tác dụng, thành phố vẫn đối diện với nguy cơ ngập lụt. Nếu nguyên nhân lũ lụt chỉ nằm ở con sông thì hệ thống đê đập đã đủ để giải quyết. Nhưng còn nhiều yếu tố khác. Thứ nhất, bờ sông Kenduskeag quá thấp. Thứ hai, hệ thống thoát nước toàn khu vực quá tệ. Từ lúc bước sang thế kỷ mới, Derry đã phải hứng chịu rất nhiều cơn lũ nghiêm trọng và một cơn lũ đã để lại hậu quả thảm khốc vào năm 1931. Họa vô đơn chí, Derry nằm trên những ngọn đối với hệ thống sông ngòi chằng chịt - trong đó có sông Torrault, nơi phát hiện thi thể Cheryl Lamonica. Vào thời gian mưa nhiều, nước sông rất dễ tràn bờ. “Nếu mưa kéo dài hai tuần, khéo cả thị trấn này viêm xoang mất,” bố của Bill Cà Lăm từng nhận xét.
Đoạn sông Kenduskeag chảy qua trung tâm thị trấn được bao bọc bởi bờ kênh bê tông dài hơn ba ki-lô-mét. Con kênh này luồn bên dưới đường Chính ở ngã tư đường Chính giao với Kênh Đào, khiến con sông chạy ngầm dưới lòng đất khoảng tám trăm mét trước khi ló dạng ở công viên Bassey. Đường Kênh Đào, nơi hầu hết các quán bar của Derry rồng rắn cạnh nhau như tội phạm xếp hàng trình diện, chạy dọc theo hai bên con kênh ra đến ngoài thị trấn, và cứ vài tuần một tuần, cảnh sát lại phải trục vớt xe của một tay bơm nhậu nào đó từ dưới làn nước ô nhiễm đến độ không tả nổi do nước thải và rác từ nhà máy. Thỉnh thoảng, người dân cũng câu được cá từ Kênh Đào nhưng chúng đều đột biến, không ăn được.
Ở mạn Đông Bắc của thị trấn – tức phía Kênh Đào - con sông đã được đưa vào khai thác phần nào. Thương mại nở rộ dù thỉnh thoảng vẫn xảy ra lũ lụt. Mọi người tản bộ dọc theo Kênh Đào, thỉnh thoảng nắm tay tình tứ (ấy là nếu thuận hướng gió; chứ nếu ngược hướng gió, bao nhiêu mùi hôi thối bốc lên khiến những cuộc dạo bộ chẳng còn tí lãng mạn nào), và ở công viên Bassey, nằm đối diện trường trung học phía bên kia Kênh Đào, thỉnh thoảng đội Hướng đạo sinh lại cắm trại hoặc Ấu sinh Hướng đạo tổ chức tiệc ngoài trời. Vào năm 1969, dân cư sẽ được dịp thất kinh và phát ốm khi phát hiện đám hippy (một tên còn khâu cả cờ Mỹ dưới mông quần ấy chưa kịp ra rả tên ông Gene McCarthy thì đã bị gô cổ lại) đang hút hít và mua bán thuốc ở đó. Đến năm 1969, công viên Bassey trở thành một tiệm thuốc ngoài trời nườm nượp khách. Cứ đợi mà xem, người dân rỉ tai nhau. Thể nào cũng có người chết trước khi họ kịp ngăn chặn chỗ này. Và lời nói ấy quả không sai – một cậu thanh niên mười bảy tuổi được phát hiện đã chết cạnh Kênh Đào, huyết quản đầy hê-rô-in gần như tinh khiết – mà đám choai choai hay gọi là đường bột trắng chặt. Sau đó, đám hút chích tản mát khỏi công viên Bassey và người ta thậm chí còn truyền tai nhau chuyện âm hồn cậu thanh niên kia vẫn ám khu vực này. Tất nhiên câu chuyện rõ vớ vẩn, nhưng nếu nó ngăn đám hút chích và gật gù phê thuốc đến đây, thì chí ít nó là một câu chuyện ngu ngốc mà được việc.
Ở phía tây nam thị trấn, con sông lại nảy sinh lắm chuyện hơn. Một sông băng rất lớn cắt xuyên qua ngọn đồi, chưa kể, nước từ sông Kenduskeng và hệ thống lưu vực chằng chịt như mạng nhện nơi đây gây xói mòn liên tục, tầng đá nhiều chỗ còn lộ cả ra, trông chẳng khác nào xương khủng long chưa được khai quật hết. Sau đợt băng giá đầu tiên hội mùa thu, các nhân viên kỳ cựu ở Bộ phận công trình công cộng Derry đều biết thế nào cũng sắp phải sửa chữa kha khá vỉa hè ở phía tây nam thị trấn. Bê tông sẽ co lại và trở nên giòn hơn, để rồi đột nhiên tầng đá lại xuyên thẳng lên trên, như thể Trái Đất sắp nứt để thứ gì đó chui ra.
Những loài cây phát triển tốt nhất trong tầng đất cát nông còn sót lại là cây có hệ rễ ngắn và chống chịu được thời tiết khắc nghiệt: những cây xù xì, bụi thấp và mọc dày, cùng thường xuân độc cũng như cây sơn độc mọc tràn lan ở bất cứ nơi nào chúng có thể bấu víu được. Vùng đất phía tây nam đổ dốc xuống khu vực mà người dân Derry gọi là Vùng Đất Cằn – tên một đằng, đất lại một nẻo – một khoảng đất rộng chừng hai ki-lô-mét rưỡi và dài chừng tám ki-lô mét. Một mặt của nó tiếp giáp với đường Kansas, mặt còn lại giáp Mũi Đất Cũ. Mũi Đất Cũ là một khu nhà ở cho người thu nhập thấp, và hệ thống thoát nước ở đó tệ đến độ có lắm giai thoại về bồn cầu hay ống nước thải bị nổ tung.
Sông Kenduskeag chạy ngang qua trung tâm Vùng Đất Cằn. Ngày trước, thị trấn mở rộng về phía Đông Bắc, bọc lấy hai phía khu vực này, nhưng vết tích duy nhất của thị trấn ở đó là Trạm Nước thải Derry #3 (trạm bơm nước thải của thị trấn) và Bãi rác Thành phố. Nhìn từ trên không, Vùng Đất Cằn trông y như con dao găm chĩa thẳng về trung tâm thành phố.
Đâu đó trong đầu, Ben lờ mờ biết yếu tố địa lý kết hợp địa chất này có nghĩa là bên phải cậu hiện không còn nhà cửa, đất nghiêng nghiêng xuống dốc. Dọc theo vỉa hè có hàng rào chắn quét vôi tôi tàn cao ngang hông nhằm bảo vệ nhưng chỉ mang tính hình thức. Cậu nghe thấy tiếng nước chảy rào rào vẳng lại, tựa hồ nhạc nền cho tưởng tượng của cậu.
Cậu dừng chân, đưa mắt nhìn Vùng Đất Cằn, trong đầu vẫn hình dung đôi mắt và mùi hương trên mái tóc Beverly.
Đứng từ đây, sông Kenduskeag chỉ là những ánh sáng lấp lánh ló dạng qua tán lá rậm rì. Nhiều đứa nói tầm mùa này trong năm, muỗi ở đó to như chim sẻ; đứa khác lại bảo gần sông có cát lún. Ben chẳng tin lời đồn về muỗi, nhưng cát lún nghe sợ thật.
Xéo xéo bên trái, cậu nhìn thấy một bầy hải âu chao lượn: bãi rác. Tiếng kêu của chúng vang đến tai cậu. Xa xa, cậu trông thấy Derry Heights và những mái nhà thấp lè tè ở khu Mũi Đất Cũ gần sát Vùng Đất Cằn. Bên phải Mũi Đất Cũ, chĩa thẳng lên trời như ngón tay trắng hếu vừa to vừa mập, là Derry Standpipe. Ngay dưới chân cậu là cống ngầm thò ra khỏi mặt đất, thải thứ nước xỉn màu xuống đồi theo dòng suối con con le lói phản chiếu, biến mất trong cây cối và bụi cỏ um tùm.
Tưởng tượng tươi đẹp của Ben về Beverly chợt bị phá bĩnh bởi một suy nghĩ rùng rợn hơn: lỡ như ngay lúc này, lúc cậu đang mải nhìn, có một bàn tay người chết thò ra từ cống ngầm thì sao? Và giả sử cậu chạy đi tìm điện thoại gọi cảnh sát, gã hề đứng đó thì biết làm thế nào? Một gã hề nhìn buồn cười với bộ đồ thùng thình, đính những chiếc cúc to tướng màu cam? Giả như…
Một bàn tay chạm vào vai Ben khiến cậu thất thanh.
Tiếng cười ha hả vang lên. Cậu quay ngoắt lại, người áp vào hàng rào trắng chia cách vỉa hè an toàn, bình yên của đường Kansas với Vùng Đất Cằn rừng thiêng nước độc (rào chắn cót két thấy rõ) và trông thấy Henry Bowers, Huggins Ợ Hơi cùng Victor Criss đứng trước mặt mình.
“Chào, thằng béo,” Henry nói.
“Mấy người muốn gì?” Ben hỏi, tỏ ra cứng rắn.
“Tao muốn đập mày,” Henry chỏng lỏn. Xem ra hắn cân nhắc ý kiến này một cách đàng hoàng, thậm chí rất nghiêm túc là đằng khác. Nhưng ô kìa, đôi mắt đen của hắn sáng lên. “Tao phải dạy cho mày một bài học, thằng béo. Chắc mày hóng lắm nhỉ? Mày khoái học thứ mới mà.”
Thấy hắn nhào tới, Ben bèn né đi.
“Chúng mày, giữ nó lại.”
Ợ Hơi và Victor chộp lấy tay cậu. Ben ré lên. Tiếng hét nghe thật nhát gan, thỏ đế và yếu ớt, nhưng cậu biết làm sao bây giờ. Chúa ơi, đừng để bọn nó hành con phải khóc và đừng để bọn nó làm bể đồng hồ của con, Ben hoảng loạn nghĩ. Cậu không biết liệu chúng có phá nát đồng hồ của cậu hay không, nhưng làm cậu khóc thì có đấy. Cậu dám chắc chúng sẽ hành cậu khóc như mưa mới chịu thôi.
“Này chúng mày, nó chẳng khác gì con heo nái nhỉ.” Victor nhạo báng. Hắn vặn cổ tay Ben. “Chúng mày có thấy tiếng nó giống heo không?”
“Chứ còn gì nữa,” Ợ Hơi cười ha hả.
Ben vùng chạy theo hướng này rồi đến hướng khác. Ợ Hơi và Victor bám theo dễ như bỡn, để cậu lao lên rồi kéo cậu lại.
Henry chộp lấy cổ áo Ben rồi kéo lên khiến bụng cậu lộ ra. Chiếc áo căng lên, lửng lơ phía trên thắt lưng cậu.
“Xem cái bụng nó kìa!” Ben hét lên đầy khinh bỉ. “Ối làng nước ơi!”
Victor và Ợ Hơi lại ré lên cười ha hả. Ben hốt hoảng nhìn quanh cầu cứu nhưng chẳng thấy ma nào. Phía sau cậu, dưới Vùng Đất Cằn, dế kêu réc réc và hải âu kêu vang.
“Mấy người dừng lại đi!” Ben hét lên. Tuy chưa khóc bù lu bù loa nhưng cậu cũng sắp sửa lưng tròng. “Dừng lại đi!”
“Không thì sao?” Henry hỏi như thể tò mò thực sự muốn biết. “Không thì sao hả thằng béo? Không thì sao, hả?”
Chẳng hiểu sao Ben lại nghĩ về Broderick Crawford, diễn viên đóng vai Dan Matthews trong bộ phim Cảnh sát Cao tốc – anh vừa cứng cỏi, vừa xấu tính, anh chẳng để ai trèo lên đầu – rồi cậu òa khóc. Dan Matthews chắc chắn sẽ ném đám du côn này qua hàng rào xuống bờ sông và cắm đầu vào bụi cây. Anh ấy sẽ dùng bụng hất văng chúng nó.
“Ối trời, xem thằng oắt con này kìa!” Victor cười hăng hắc. Ợ Hơi phụ họa cười theo. Henry chỉ khẽ nhếch mép nhưng khuôn mặt hắn vẫn hằm hằm và trầm tư – vẻ mặt có gì đó buồn bã. Ben hoảng sợ. Điều đó có nghĩa là hắn không chỉ muốn hành hung cậu mà còn nhiều hơn thế.
Như muốn chứng thực cho lo lắng của Ben, Henry thò tay vào túi và lấy ra một con dao găm.
Nỗi kinh hãi trong Ben bùng nổ. Cậu cuống cuồng vùng vẫy hết bên này đến bên kia, rồi đột nhiên cậu nhào thẳng tới trước. Có một khắc cậu tưởng mình thoát được. Mồ hôi mẹ, mồ hôi con thi nhau túa ra, và tay đám côn đồ giữ cậu chắc hẳn trơn tuột rồi. Ợ Hơi chật vật lắm mới níu được tay phải của cậu. Cậu giằng hoàn toàn khỏi Victor. Một cú lao tới nữa…
Nhưng trước khi cậu kịp thực hiện, Henry đã bước tới trước và xô cậu. Ben bay ngược về phía sau. Hàng rào ken két thật to, và cậu cảm thấy nó oằn lại dưới sức nặng của mình. Ợ Hơi và Victor lại chộp lấy tay cậu.
“Giờ chúng mày giữ nó.” Henry gầm gừ. “Nghe chưa?”
“Rồi, Henry,” Ợ Hơi đáp, giọng thoáng chột dạ. “Nó không thoát được đâu. Đừng lo.”
Henry tiếp tục sấn tới cho đến khi cái bụng phẳng lì của hắn suýt nữa chạm vào bụng Ben. Cậu chằm chằm nhìn hắn, nước mắt thi nhau tuôn rơi từ đôi mắt mở to. Tóm rồi! Mình bị tóm rồi, một phần trong tâm trí cậu nhao lên. Cậu tìm cách chặn đứng nó – tiếng lèo nhèo này khiến cậu không tập trung nghĩ được gì – nhưng bất lực. Tóm rồi! Tóm rồi! Tóm rồi!
Henry bật mở lưỡi dao vừa dài vừa rộng, trên đó còn khắc cả tên hắn. Mũi dao sáng lên trong ánh tà dương.
“Để tao kiểm tra mày nhé,” Henry nói bằng cái giọng trầm tư ấy. “Đến giờ thi rồi, thằng béo, liệu hồn chuẩn bị lên thớt đi.”
Ben khóc như mưa. Tim cậu đập điên cuồng trong lồng ngực. Nước mũi chảy nhoe nhoét, đọng lại ở môi trên. Những cuốn sách mượn từ thư viện vương vãi dưới chân cậu. Henry đạp lên cuốn Xe ủi , đoạn cúi xuống và dùng mẹ giày bốt đen hất thẳng nó xuống cống.
“Câu hỏi đầu tiên cho bài thi đây, thằng béo. Khi có người bảo ‘Cho tao chép bài’ lúc thi cuối kỳ thì mày đáp thế nào?”
“Được!” Ben lập tức hét lên. “Tôi sẽ bảo được! Tôi cho! Được! Thích chép gì thì chép!”
Mũi dao cắt qua không khí khoảng năm phân và dí vào bụng Ben. Nó lạnh như khay đựng đá vừa lôi ra từ tủ lạnh Frigidaire. Ben hóp bụng lại để né con dao. Trong một khắc, thế giới bỗng trở nên tối sầm. Miệng Henry đang chuyển động nhưng Ben không hiểu hắn ta đang nói gì. Henry như chiếc ti vi tắt tiếng, còn thế gian xung quanh cậu như đang chìm trong nước… trong nước…
Không được ngất! Giọng nói hoảng sợ trong cậu rít lên. Nếu mày ngất, nó sẽ nổi điên cho mày chầu trời bây giờ!
Thế giới dần rõ nét hơn trong mắt cậu. Cậu thấy Ợ Hơi và Victor đã thôi cười. Nhìn chúng lo lắng… gần như sợ hãi. Cảnh tượng ấy tát một cú trời giáng khai thông hẳn đầu óc của Ben. Trắng mắt ra chưa, chúng còn không biết hắn sẽ làm gì hay manh động đến đâu. Mày đừng ngây thơ mà lầm, giờ thì mọi chuyện bung bét rồi đấy… và khéo có khi chưa dừng lại đâu. Nghĩ đi. Nếu chưa động não lần nào thì giờ nghĩ đi. Vì đôi mắt của hắn nói rằng lo lắng không thừa đâu. Mắt hắn bảo hắn dám chơi tới cùng đấy.
“Câu trả lời sai rồi, thằng béo,” Henry nói. “Nếu có ai đó bảo mày ‘Cho tao chép bài’ thì mày làm gì cũng đếch phải việc của tao. Hiểu không?”
“Hiểu” Ben đáp, bụng phập phồng theo từng tiếng nấc. “Hiểu, tôi hiểu rồi.”
“Ờ, tốt. Một câu sai, nhưng mấy câu tới mới quan trọng. Mày sẵn sàng cho câu ăn điểm chưa?”
“Có… Tôi có.”
Một chiếc xe chầm chậm tiến lại chỗ chúng. Chiếc xe Ford ‘51 cũ bụi bặm với một người đàn ông và một phụ nữ luống tuổi ngồi ở ghế trước, trông chẳng khác nào ma nơ canh bị xếp xó khá lâu trong trung tâm thương mại. Ben nhìn thấy người đàn ông chậm rãi quay đầu nhìn về phía cậu. Henry tiến đến gần Ben nhằm giấu con dao. Cậu có thể cảm nhận mũi dao chạm vào da thịt mình, ngay phía trên rốn. Nó vẫn lạnh ngắt. Cậu không hiểu tại sao lại thế, nhưng sự thật là vậy.
“Nào, giỏi thì hét đi,” Henry thách thức. “Tao sẽ cho mày nhặt ruột của mình dưới chân luôn.” Khoảng cách giữa cậu và hắn sát nhau đến nỗi chẳng khác nào hai người đang hôn nhau. Ben có thể ngửi thấy mùi kẹo cao su Juicy Gum ngọt trong hơi thở của Henry.
Chiếc xe chạy ngang qua, xuôi theo hướng đường Kansas, khoan thai và thành kính như chiếc xe trong Lễ hội Diễu hành Hoa hồng.
“Được rồi, béo, câu hỏi thứ hai đây. Nếu tao bảo ‘Cho tao chép bài’ lúc thi cuối kỳ thì mày đáp thế nào?”
“Được. Tôi sẽ nói được. Ngay lập tức.”
Henry mỉm cười. “Tốt lắm. Mày trả lời đúng rồi đó. Giờ câu hỏi thứ ba là ‘Thế làm sao tao biết chắc mày sẽ giữ lời?’“
“Tôi… tôi chịu,” Ben thì thầm.
Henry mỉm cười. Mặt hắn ta sáng lên, trong một khoảnh khắc, hắn trông cũng ưa nhìn. “Tao biết đấy!” Hắn nói, như thể vừa tìm ra thứ chân lý gì chói lọi lắm. “Tao thì biết đấy, thằng béo! Tao sẽ khắc tên tao lên cái bụng ục ịch của mày!”
Victor và Ợ Hơi chợt phá lên cười ha hả. Trong một khoảnh khắc, Ben cảm thấy như trút được gánh nặng, cậu đinh ninh bọn côn đồ chỉ dọa dẫm mình – ba đứa bọn chúng chỉ đang diễn trò để dọa cậu mất mật. Nhưng Henry Bowers chẳng buồn nhếch mép, Ben chợt hiểu Victor và Ợ Hơi cười là vì chúng thấy nhẹ nhõm. Rõ ràng chúng nghĩ Henry không nghiêm túc. Song hắn ta không hề đùa giỡn.
Con dao trượt một đường lên trên, ngọt như cắt bơ. Máu tứa ra thành dòng đỏ tươi trên làn da xanh như tàu lá của Ben.
“Này!” Victor hét lên. Tiếng của hắn rền rĩ khi há hốc giật mình.
“Giữ lấy nó!” Henry bật lại. “Tao bảo mày giữ, nghe không?” Giờ chẳng còn vẻ nghiêm túc hay trầm tư trên khuôn mặt của Henry nữa, mà biến thành khuôn mặt rùng rợn của quỹ dữ.
“Lạy Chúa, Henry, máy tính rạch nó thật à?” Ợ Hơi la lên, giọng the thé như con gái.
Mọi thứ xảy ra quá nhanh, nhưng với Ben Hanscom, sự việc diễn ra chậm thật chậm; tựa hồ một chuỗi những bức ảnh chụp hành động liên tiếp trên tờ Life . Nỗi hoảng loạn trong cậu đã biến mất. Đột nhiên, cậu phát hiện ra thứ gì đó bên trong mình, và bởi nó không có ích lợi gì cho nỗi hoảng sợ của cậu bây giờ nên đã bị xơi tái.
Trong khung hình đầu tiên, Henry kéo áo cậu lên đến ngang ngực. Máu vẫn tứa ra từ vết cắt nông thẳng đứng phía trên rốn.
Trong khung hình thứ hai, Henry rạch con dao xuống, như một tay bác sĩ quân y cuống cuồng phẫu thuật dưới mưa bom bão đạn. Máu tươi tuôn trào.
Lùi lại , Ben bình tĩnh tự nhủ khi máu chảy xuống, tụ lại giữa lưng quần jean và da cậu. Phải lùi lại. Đó là hướng duy nhất mình có thể trốn thoát. Ợ Hơi và Victor không giữ tay cậu nữa. Mặc Henry ra lệnh, chúng đã lùi lại. Chúng lùi lại trong hãi hùng. Nhưng nếu cậu chạy, Bowers sẽ chộp lấy cậu ngay.
Trong khung hình thứ ba, Henry nối hai đường rạch thẳng đứng bằng một đường rạch ngắn nằm ngang. Ben có thể cảm thấy máu chảy vào quần lót, và vệt dinh dính ấy đang len xuống đùi trái.
Henry hơi ngửa ra sau trong chốc lát, chau mày như một họa sĩ đang dồn hết tâm trí vẽ phong cảnh. Sau chữ H là chữ E, nghĩ đến đấy, Ben quyết định phải hành động. Cậu nhào tới trước một chút thì bị Henry đẩy ngược trở lại. Ben lấy thế trên hai chân, kết hợp với sức lực của mình để chống lại Henry. Cậu đụng vào hàng rào quét vôi ngăn cách đường Kansas và khu vực của Vùng Đất Cằn. Tận dụng lúc này, cậu giơ chân phải đạp vào bụng Henry. Hành động này không mang tính trả đũa; Ben chỉ muốn mình bật ra sau mạnh hơn. Nhưng khi trông thấy vẻ mặt thộn ra vì ngạc nhiên của Henry, cậu không khỏi cảm thấy hả hê - cảm giác ấy bạo liệt đến độ trong một khắc, cậu còn ngỡ đầu mình suýt nổ tung.
Sau đó có tiếng hàng rào răng rắc rồi gãy tan tành. Ben trông thấy Victor với Ợ Hơi chụp lấy Henry trước khi hắn ngã dập mông xuống cống, bên cạnh cuốn Xe ủi nát bươm, rồi Ben chới với ngã nhào ra sau. Cậu hét lên, nửa hét nửa cười khoái trá.
Lưng Ben đập lên triền đồi, còn mông đáp xuống ngay bên dưới cổng vòm mà cậu trông thấy ban nãy. May mà cậu rơi xuống dưới; rủi mà rơi lên cống, hẳn lưng cậu đã gãy rồi. Trong cái rủi có cái may, cậu đáp đúng bãi cỏ dại và dương xỉ diều hâu um tùm, không bị chấn thương gì. Cậu lộn ngược ra sau, chân cẳng chổng lên đầu. Cậu lấy lại tư thế ngồi rồi trượt xuống triền đồi như đứa trẻ trượt trên chiếc máng xanh rõ to, áo cậu lật lên đến tận cổ, tay quơ quang tìm chỗ bám nhưng chẳng tóm được gì ngoài nhổ vài cụm dương xỉ hay cỏ dại.
Cậu nhìn thấy bờ sông (thật không thể tin nổi mới ban nãy cậu đứng đó) ngày càng xa với tốc đồ trượt chóng hết mặt. Cậu nhìn thấy Victor và Ợ Hơi mắt chữ O, mồm chữ A, trân trân ngó theo cậu. Cậu còn kịp dành chút thời gian xót mấy cuốn sách của thư viện. Và rồi cậu va phải thứ gì đó đau điếng người, suýt chút nữa cắn đứt lưỡi mình.
Hóa ra đó là một cái cây bị đổ, và nó chặn đà rơi của Ben bằng cách suýt chút nữa làm gãy chân trái của cậu. Cậu lồm cồm bò lên dốc, vừa rên rỉ vừa kéo chân mình ra. Cậu rơi được nửa triền đồi thì cái cây cản lại. Cây cối dưới kia rậm rạp hơn. Nước chảy từ cống vòm luồn qua tay cậu thành những dòng suối be bé.
Có tiếng rít vắng lại từ bên trên. Ben ngẩng lên và một lần nữa trông thấy Henry Bowers nhảy qua hàng rào, con dao siết chặt giữa hai hàm răng. Hai chân hắn đáp xuống đất, người ngửa ra sau để tránh mất thăng bằng. Hắn trượt xuống, để lại vết to tướng rồi cắm đầu chạy xuống bờ sông, nhảy lên nhảy xuống như con chuột túi.
“Tao siết sết mày, tăng éo!” Henry gầm gừ với con dao giữa miệng, và Ben chẳng cần thông dịch viên của Liên hợp quốc cũng biết Henry đang nói Tao giết chết mày, thằng béo.
“Mẹ khiết, tao siết sết mày!”
Giờ đây, với cái nhìn của một vị tướng điềm tĩnh mà cậu khai mở trên vỉa hè ban nãy, Ben thấu tỏ nước đi tiếp theo của mình. Cậu gom sức đứng dậy trước khi Henry nhào đến nơi, con dao nắm trong tay và giơ ngay trước mặt hắn như lưỡi lê. Ben lờ mờ cảm nhận ống quần jean bên trái của cậu đã bị rách, và chân cậu đang chảy máu nhiều hơn bụng… song nó vẫn đứng vững, tức chân chưa gãy. Chí ít cậu mong là vậy.
Ben hơi cúi người để giữ thăng bằng, và khi Henry dùng một tay chộp lấy cậu, tay kia vung con dao thành một đường cong dài, Ben né qua một bên. Cậu mất thăng bằng, nhưng khi ngã xuống, cậu vụt chân trái ra. Mắt cá chân của Henry đập vào chân cậu, hai chân hắn lãnh trọn cú đạp mạnh bạo. Trong khoảnh khắc, Ben há hốc, nỗi khiếp sợ bị lấn át bởi trầm trồ xen lẫn ngưỡng mộ. Henry Bowers bay như siêu nhân qua cái cây bị đổ nơi Ben ngừng trượt. Hai tay hắn duỗi thẳng ra trước mặt, y như cách George Reeves đưa tay lên trên chương trình truyền hình. Lúc nào George Reeves cũng bay như thể bay là hành động rất bình thường như đi tắm hoặc ăn trưa sau hiên nhà. Còn Henry trông như bị dí que cời lửa nóng rẫy vào mông. Miệng hắn hết mở lại đóng. Nước bọt văng ra nơi khóe miệng, và Ben thấy nó dây ra vành tai của Henry.
Sau đó Henry ngã đánh rầm xuống đất. Con dao bay ra khỏi tay hắn. Hắn lăn qua một bên, lưng tiếp đất rồi trượt vào bụi cây, hai chân dạng thành hình chữ V. Rồi có tiếng la. Và thịch một cái. Sau đó, tất cả im lìm.
Ben ngồi thẫn thờ, nhìn vào bụi cây um tùm nơi Henry vừa trình diễn màn biến mất của mình. Đột nhiên sỏi đá văng vào người cậu. Ngẩng lên, cậu trông thấy Victor và Ợ Hơi đang lao xuống bờ sông. Chúng đi dò chừng hơn Henry nên chậm hơn, tuy nhiên, nếu cậu cứ ở đó ngây ra như phỗng, chúng sẽ tóm cổ được câu trong chưa tới ba mươi giây nữa. Cậu rền rĩ trong họng. Chẳng lẽ thứ điên rồ này không chịu kết thúc sao?
Cẩn trọng để mắt bọn côn đồ, cậu trèo qua cái cây bị đổ rồi bắt đầu trườn xuống bờ sông, thở hồng hộc. Cậu xóc hết cả hông. Lưỡi đau như quỷ. Bụi cây chỗ này cao ngang ngửa Ben. Mùi ngai ngái của cây cỏ mọc um tùm xộc vào mũi cậu. Cậu có thể nghe thấy tiếng nước chảy ở đâu đó gần đấy, róc rách, ầm ì len lỏi qua những tảng đá.
Ben trượt chân và lại xoay vòng vòng, mu bàn tay đập vào tảng đá nhô ra, đâm thẳng qua bụi gai móc rách miếng vải màu xanh xám từ áo của cậu, cứa rách thịt từ tay và má cậu.
Va đập một hồi, cậu mới dừng lại trong tư thế ngồi, hai chân nhúng xuống nước. Có một dòng suối nhỏ quanh co róc rách chảy vào cụm rừng thứ sinh phía bên phải cậu, trông nó tối đen như có hang động bên trong. Nhìn sang trái, cậu trông thấy Henry Bowers đang nằm ngửa ngay giữa dòng suối. Đôi mắt khẽ mở chỉ trơ toàn lòng trắng. Máu rỉ ra từ một tai và chảy về phía Ben thành những đường mảnh.
Ôi Chúa ơi! Mình giết hắn rồi! Ôi Chúa ơi, mình là kẻ sát nhân! Ôi Chúa ơi!
Quên bẵng mất Ợ Hơi và Victor đang ở phía sau (hoặc có lẽ cậu suy đoán bọn chúng sẽ không buồn hành hung cậu lên bờ xuống ruộng khi phát hiện Đại ca Ngông của chúng đã mất mạng), Ben lội chứng sáu mét đi ngược lên chỗ Henry nằm, áo sơ-mi của hắn rách tươm, quần jean sũng nước hóa đen và chỉ còn một chiếc giày chân. Ben lờ mờ nhận ra bộ quần áo trên người mình cũng rách như tổ đỉa, và cả người cậu bã hết cả, vừa đau vừa nhức. Đau nhất phải kể đến mắt cá bên trái, nó sưng vù trong chiếc giày ướt sũng, cậu tránh dụng sức bên chân trái hết mức có thể, đến độ cậu chẳng đi nữa mà cà nhắc như viên thủy thủ sau chuyến đi biển dài dằng dặc, mới được bước lên đất liền.
Cậu cúi xuống Henry Bowers. Mắt Henry bỗng trừng lên. Hắn nắm lấy chân của Ben bằng một tay vừa trầy trụa vừa bê bết máu. Miệng hắn mấp máy, và dù chẳng nghe thấy gì ngoài chuỗi hơi rít trong họng, Ben vẫn có thể hiểu điều hắn đang nói: Tao giết chết mày, thằng béo.
Henry tìm cách dựng người dậy, dùng chân của Ben làm trụ. Ben hoảng hồn giật người về phía sau. Tay của Henry trượt xuống và buông khỏi cậu. Ben nhảy ra sau, quơ quàng, lập kỷ lục đập bàn tọa xuống nước lần thứ ba trong vòng bốn phút. Cậu cắn phải lưỡi một lần nữa. Nước bắn tung tóe quanh cậu. Chẳng hiểu sao cầu vồng nháy lên trước mắt Ben trong một khắc. Ben chẳng quan tâm đến cầu vồng hay gì cả. Cậu cũng chẳng quan tâm có tìm được chum đựng vàng dưới chân cầu vồng hay không. Cậu sống đời thằng béo thảm hại là đủ rồi.
Henry lật người, tìm cách đứng dậy. Lại ngã. Trầy trật chống tay và đầu gối. Phải mất một lúc lâu hắn mới loạng choạng đứng được. Hắn nhìn Ben chằm chằm với đôi mắt đục ngầu. Phần tóc mái trước trán hết lắc bên này ngả bên kia, trông như vỏ ngô sau một cơn gió lốc.
Bỗng dưng, Ben giận khủng khiếp. Không -còn hơn cả giận. Cậu nổi cơn thịnh nộ rồi. Cậu chỉ đi bộ với mấy cuốn sách mượn từ thư viện trên tay, mộng mơ một chút về việc trao Beverly Marsh nụ hôn, chứ có gây phiền hà gì ai? Thế mà nhìn đây. Nhìn mà xem. Quần thì rách. Đầu gối bên trái không gãy thì cũng bong gân. Chân xây xát, lưỡi cũng tanh bành; tên viết tắt của thằng Henry Bowers chết tiệt chình ình trên bụng. Thế này đã đủ gay cấn chưa, hỡi những người đam mê thể thao ơi? Nhưng có lẽ suy nghĩ về những cuốn sách của thư viện mà mình phải chịu trách nhiệm là nguyên nhân cậu lao vào sống chết với Henry Bowers: Mất sách và ánh mắt quả trách của cô Starrett khi cậu khai với cô. Mà dù lý do là gì – người ngợm xây xát, bong gân, sách thư viện hay thậm chí là suy nghĩ về cuốn sổ liên lạc nhoe nhoét nước và chắc chẳng còn đọc nổi trong túi sau - giọt nước đã tràn ly. Loạng choạng bước tới, đôi Keds sũng nước lạch bạch trong con suối nông, cậu đưa chân đá thẳng vào bộ hạ của Henry.
Henry hét lên như bị chọc tiết, khiến đám chim đậu trên cành cây cuống cuồng bay lên. Hắn đứng giạng háng một lúc, tay ôm bộ hạ, trợn mắt nhìn Ben như thể không tin nổi vào mắt mình. “Ặc.” hắn khẽ kêu lên.
“Chuẩn,” Ben lên tiếng.
“Ặc” Henry lại nói, lần này nhỏ hơn.
“Chuẩn rồi đấy.” Ben tiếp tục nói.
Henry từ từ khuỵu gối, không hẳn ngã mà chỉ là gập người xuống. Hắn vẫn nhìn Ben với đôi mắt đen đầy thất kinh.
“Ặc.”
“Chuẩn quá ,” Ben nói.
Henry phủ phục xuống đất, tay vẫn giữ chặt lấy háng, chậm rãi lăn lộn từ bên này sang bên kia.
“Ặc!” Henry rên rỉ. “Bi của tao. Ặc! Mày dám đập bi tao! Ặc ặc!” Hắn bắt đầu gom được chút sức lực, và Ben từ từ lùi lại, từng bước một. Cậu thấy kinh tởm trước hành động mình vừa làm; nhưng đồng thời, cảm giác khoái trá chính đáng, choáng ngợp dâng lên trong từng thớ thịt. “Ặc! Hai hòn của tao! Ặc, ặc! Trời ơi, BI của tao!”
Có lẽ Ben sẽ đứng ở đó lâu thật lâu – thậm chí đến lúc Henry hồi phục trở lại để đuổi theo cậu – nhưng ngay lúc ấy, một viên đá bắn vào tai phải khiến cậu đau điếng người, tới độ nếu không thấy dòng máu nóng chảy ra, Ben cứ tưởng mình vừa bị ong bắp cày đốt.
Quay mặt lại, cậu trông thấy hai kẻ du côn kia đang bước ngang suối đến chỗ mình. Mỗi người bọn chúng nắm một vốc sỏi đá được nước mài nhẵn. Victor ném một viên, Ben nghe thấy tiếng nó xé gió ngang qua tại mình. Cậu cúi người né, lại thấy một viên khác văng vào đầu gối phải, khiến cậu la lên vì đau. Viên thứ ba bắn vào xương gò má phải, làm mắt cậu ầng ậng nước.
Cậu lọ mọ đi về phía bờ bên kia rồi leo lên nhanh nhất có thể, chộp lấy những rễ cây lộ thiên hoặc níu lấy bụi cỏ trong tầm tay. Sau khi leo lên trên cùng bờ sông (viên đá cuối cùng bắn vào mông khi cậu rướn lên trên), cậu nhanh mắt nhìn ra sau vai.
Ợ Hơi đang quỳ gối xuống cạnh Henry, còn Victor cách đó chừng hai mét để ném đá, một hòn đá to như bóng chày vụt qua bụi rậm cao ngang người bên cạnh Ben. Cậu đã thấy đủ rồi, hay nói đúng hơn là quá xá đủ rồi. Điều tệ nhất là Henry Bowers sắp gượng dậy rồi. Như chiếc đồng hồ Timex của Ben, Henry cũng "chịu bầm chịu dập mà vẫn tích tắc đều đặn". Ben quay lại, tiếp tục mò mẫm vào bụi rậm, ì ạch tiến theo hướng mà cậu mong là hướng tây. Nếu có thể băng qua Vùng Đất Cằn mà đến được Mũi Đất Cũ, cậu có thể xin ai đó mười xu để bắt xe buýt về nhà. Và khi về đến nhà, cậu sẽ khóa ngay cửa sau lưng, chôn hết đống quần áo rách nát be bét máu này vào thùng rác, để giấc mộng điên rồ này có thể chấm dứt. Ben mường tượng cảnh mình an vị trên chiếc ghế trong phòng khách, tắm táp sạch sẽ, khoác bộ đồ tắm bông xù màu đỏ, xem phim hoạt hình Vịt Daffy trên The Mighty Ninety , nhấm nháp sữa từ ống hút Flav-R-Straw vị dâu. Khoan nằm mơ đi đã, cậu u sầu tự nhủ và tiếp tục mò mẫm.
Câu slogan quảng cáo của hãng đồng hồ Timex.
Bụi cây đâm thẳng vào mặt cậu. Ben gạt chúng sang một bên. Gai sượt qua, cứa rách da cậu. Cậu cố lờ đi. Lọ mọ hồi lâu, cậu đến một khoảng đất bằng phẳng vừa đen đúa vừa bẩn thỉu. Loài cây trông như tre trúc chen chúc mọc dày, mùi xú uế bốc lên từ đất. Một suy nghĩ đáng ngại như bóng đèn sượt qua mặt trước tâm trí cậu
(cát lún)
lúc cậu nhìn vào mặt nước phẳng lặng loang loáng sâu trong lùm cây. Cậu không muốn tiến vào đó. Ngay cả khi đó không phải cát lún, thì bùn lầy sẽ khiến đôi giày của cậu mắc kẹt mất. Cậu bèn quay sang phải, chạy dọc theo bụi tre, hồi sau thì đến bìa rừng thật sự.
Cây cối đa phần là linh sam, mọc dày đặc bốn phương tám hướng, giành giật nhau để có chút không gian và ánh nắng, được cái mặt đất có ít cây cỏ nên cậu đi nhanh hơn. Giờ cậu chẳng dám chắc mình đang đi hướng nào, nhưng suy đi tính lại thì cậu vẫn nghĩ mình đang đi trước đám côn đồ kia một nước. Ba mặt của Vùng Đất Cằn được bao bọc bởi Derry, mặt còn lại giao với đường cao tốc mở rộng còn đang dang dở. Chẳng sớm thì muộn, cậu sẽ tìm được đường ra ở đâu đó.
Bụng đau dữ dội, cậu lật chiếc áo nỉ rách của mình lên để kiểm tra. Cậu nhíu mày, rất thành tiếng qua kẽ răng. Bụng cậu trông như quả bóng trang trí trên cây thông Giáng sinh gớm guốc, máu đỏ đóng thành vảy, nhoe nhoét thêm màu xanh lá từ cú trượt xuống bờ sông ban nãy. Cậu kéo áo xuống. Càng nhìn, cậu chỉ càng cảm thấy buồn nôn.
Cậu nghe thấy tiếng rì rầm vang lên trên đầu – chỉ nhỉnh hơn một nốt so với tần số tối thiểu có thể nghe được. Một người lớn nếu chỉ chăm chăm tìm đường ra khỏi đây (đám muỗi đã phát hiện ra Ben rồi, và mặc dù không to như chim sẻ nhưng chúng cũng lớn ra phết) hẳn sẽ chẳng để tâm, hoặc đơn giản là không nghe thấy. Nhưng Ben còn nhỏ, và cậu cũng dần vượt qua nỗi sợ của mình. Bất chợt, cậu rẽ sang trái và gạt những bụi nguyệt quế thấp bé. Bên kia bụi cây, sừng sững giữa đất là một cây cột xi măng cao chừng một mét và rộng mét hai. Cột được đậy bằng một nắp cống có lỗ thông hơi. Trên nắp là dòng chữ Bộ phận Nước thải Derry. Âm thanh khi đến gần nghe không còn giống tiếng rì rầm mà giống tiếng ro ro, phát ra từ bên trong cây cột.
Ben ghé mắt vào lỗ thông hơi nhưng chẳng thấy gì. Cậu có thể nghe thấy tiếng ro ro, biết nước đang chảy bên dưới, nhưng cũng chỉ có thế. Cậu hít một hơi, ngửi thấy mùi chua vừa ẩm vừa thối khiến cậu nhăn mặt rụt lại. Cũng đúng thôi, cống thoát nước mà. Hoặc có thể đây vừa là cống thoát nước vừa là hầm nước thải – dạng này nhiều vô số kể ở một thị trấn không dư gì ngoài lũ lụt như Derry. Chẳng có gì ghê gớm. Nhưng nó khiến cậu lạnh hết cả sống lưng. Phần là vì trông thấy công trình của con người giữa nơi rừng thiêng nước độc, nhưng cậu nghĩ phần là vì hình dáng của nó – một trụ cột bê tông thò lên giữa mặt đất. Năm trước, Ben từng đọc cuốn Cỗ máy thời gian của H.G. Wells, đầu tiên là phiên bản truyện tranh cổ điển, sau đó đọc phiên bản truyện chữ đầy đủ. Hình trụ với nắp sắt có lỗ thông hơi này khiến cậu nhớ đến những cái giếng thông xuống vương quốc của đám quỷ Morlock lưng gù ghê tởm.
Nhân vật trong tiểu thuyết The Time Machine, là loài vật tiến hóa từ con người, những người sống sót sau trận đại thiên tai năm 2037. Từ lúc Mặt Trăng va vào Trái Đất thì loài người tiến hóa thành hai loài là loài Eloi trên mặt đất và loài Morlock sống ở dưới đất.
Cậu vội lùi lại và cố lần theo hướng tây một lần nữa. Đến một vùng đất trống nằm giáp ranh, cậu rẽ cho đến lúc bóng của mình nằm thẳng sau lưng. Đoạn cậu cứ thế đi theo đường thẳng.
Chừng năm phút sau, cậu nghe thấy tiếng nước chảy to hơn ở phía trước và tiếng người. Tiếng í ới của trẻ con.
Cậu dừng chân lắng nghe, và đó cũng là lúc cậu nghe thấy tiếng cành cây gãy cùng nhiều giọng nói khác phát ra từ phía sau. Cậu chẳng còn lạ gì những âm thanh này nữa: chúng là của Victor, Ợ Hơi và kẻ độc nhất vô nhị Henry Bowers.
Xem chừng ác mộng chưa có hồi kết.
Ben nhìn quanh để tìm đường về lại địa cầu.
10
Khoảng hai giờ sau đó, cậu bước ra khỏi chỗ nấp, người ngợm dơ như hủi nhưng có chút sảng khoái. Đến bản thân cậu cũng không thể tin nổi mình vừa ngủ thiếp đi.
Khi nghe thấy tiếng động của ba kẻ du côn vẫn lì lợm rượt đuổi ngay phía sau, suýt chút nữa Ben đơ như con thú, sững lại trước đèn pha của chiếc xe tải đang trờ tới, mà thế chẳng khác nào nộp mạng cho chúng. Cơn choáng váng bắt đầu choán lấy cậu. Trong đầu cậu thậm chí còn manh nha suy nghĩ: hay cứ nằm ra đấy, cuộn người như con nhím và mặc xác chúng làm gì thì làm. Rõ là một ý tưởng điên rồ, song đồng thời, nó cũng có vẻ đúng đắn một cách kỳ lạ.
Nhưng không, Ben tiếp tục di chuyển về phía tiếng nước chảy và tiếng của đám trẻ kia. Cậu căng tai nghe giọng của chúng và cố hiểu xem chúng đang nói gì – bất cứ thứ gì để rũ bỏ cơn tê liệt đáng sợ đang chế ngự cậu. Dự định gì đó. Chúng đang bàn về dự định gì đó. Thậm chí một hoặc hai trong số các giọng nói còn có phần thân thuộc. Có tiếng hất nước, theo sau là tiếng cười khanh khách. Tiếng cười giòn tan khơi trong lòng Ben nỗi nhớ da diết, và càng khiến cậu thấm thía việc cậu chưa bao giờ rơi vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc như thế này.
Nếu cậu sắp sửa bị bắt thì không nên để đám trẻ kia bị vạ lây. Ben tiếp tục rẽ phải. Người mập có cái hay là đi rất êm, và cậu cũng thế. Cậu tiến gần đến đám côn đồ tới mức cậu trông thấy bóng bọn chúng di chuyển tới lui giữa cậu và làn nước lấp lánh, nhưng chúng không nghe cũng không thấy cậu. Một hồi, giọng của chúng chỉ còn rì rầm ở đằng sau.
Cậu gặp một con đường mòn nhỏ hẹp. Suy tính một lát, Ben khẽ lắc đầu. Cậu băng qua con đường rồi đi thẳng vào bụi cây. Lần này cậu đi chậm rãi hơn, gạt các bụi cây sang một bên để đi chứ không lộ liễu đạp thẳng lên chúng như trước. Tính ra cậu vẫn đang đi song song với con suối mà đám du côn kia lảng vảng ban nãy. Dù cây cối và bụi rậm cản tầm mắt, nhưng cậu vẫn có thể trông thấy con suối này rộng hơn con suối mà cậu và Henry ngã xuống ban nãy.
Ở đây lại có thêm một ống bê tông, bề mặt bị cây dâu tằm leo kín mít, khe khẽ kêu ro ro. Phía đằng xa, bờ hồ dốc thẳng xuống con suối, với một cây du già sần sùi oằn mình cong queo trên mặt nước. Bộ rễ cây lộ thiên do bờ sông bị xói mòn, trông chẳng khác nào nắm tóc bẩn.
Một mặt, Ben cầu mong không gặp chuột bọ hay rắn rết, nhưng đồng thời cậu mệt đến mức đầu óc mụ mị nên chẳng buồn quan tâm, cậu mò mẫm giữa bộ rễ và chui vào cái hang nông phía dưới. Cậu ngửa ra sau. Nhành rễ đâm vào cậu như một ngón tay giận dữ. Cậu cựa mình một chút, thế là bộ rễ nâng người cậu vừa vặn.
Henry, Ợ Hơi và Victor tiến lại. Cậu cứ tưởng bọn chúng sẽ mắc lỡm mà đi theo đường mòn, ai ngờ đời không như là mơ. Trong một lúc, chúng đứng gần cậu - chỉ cần gần thêm chút nữa thôi là cậu dư sức đưa tay ra chạm vào chúng từ chỗ nấp.
“Hẳn mấy thằng oắt con vừa nãy đã trông thấy nó,” Ợ Hơi lên tiếng.
“Ừ, để coi sao,” Henry đáp, rồi bộ ba đi ngược lại con đường mà ban nãy chúng vừa tới. Lát sau, Ben nghe thấy hắn rống lên: “Lũ chúng mày mò vào đây làm quái gì?”
Có tiếng trả lời, nhưng Ben chỉ nghe tiếng được tiếng mất: đám trẻ ở khoảng cách quá xa, chưa kể ở cự ly này, tiếng nước chảy dưới sông - tất nhiên đây là sông Kenduskeag - quá ồn ào. Nhưng cậu đoán hẳn đám trẻ sợ lắm. Cùng chung hoàn cảnh nên Ben hiểu.
Đoạn Victor Criss hét lên một câu mà Ben chẳng hiểu mô tê gì cả: “Con đập khốn kiếp!”
Con đập? Hay là ăn đập? Hoặc có thể Victor dọa nạt đám con nít nhưng Ben nghe nhầm.
“Phá vỡ nó đi!” Ợ Hơi khơi mào.
Có tiếng la ó phản đối, theo sau là tiếng thét đầy đau đớn. Có tiếng khóc thút thít. Ừ thì, Ben có thể thông cảm. Bọn chúng chưa tóm cổ được cậu (chí ít tới lúc này là thế), nhưng giờ chúng lại vớ được cả một đám trẻ con để giận cá chém thớt.
“Được, phá nó đi,” Henry chốt hạ.
Tiếng nước bắn tung tóe. Tiếng la hét. Điệu cười khả ố, man rợ của Ợ Hơi và Victor. Tiếng một đứa trẻ thất thanh đầy đau đớn.
“Đừng có lý do lý trấu với tao, thằng oắt con cà lăm,” Henry Bowers đe nẹt. “Hôm nay, tao đếch muốn đứa nào giỡn mặt với tao nữa đâu đấy.”
Có tiếng răng rắc vang lên. Tiếng nước chảy ở hạ nguồn chợt to hơn, ầm ì trong một thoáng trước khi trở lại nhịp điệu róc rách êm ả trước đây. Ben chợt ngộ ra tất cả. Phải, lời mà Victor nhắc đến là con đập. Đám trẻ kia – lúc đi ngang qua, cậu áng chừng có khoảng hai ba đứa – đang xây một con đập. Henry và bè lũ côn đồ vừa đạp bể nó. Ben còn đoán mình biết một người trong đám trẻ đó. “Thằng oắt con cà lăm” duy nhất mà cậu biết ở trường Derry là Bill Denbrough, học cùng khối Năm nhưng khác lớp cậu.
“Cậu vừa vừa phải phải thôi!” Một giọng nói mỏng manh, sợ sệt hét lên. Ben nhận ra giọng nói này, nhưng chưa mường tượng được ngay khuôn mặt của người nói. “Mắc mớ gì cậu làm vậy?”
“Vì tao thấy thích , được không đám chết dịch kia?” Henry gầm lên. Một tiếng nện đánh thịch vang lên, và sau đó là tiếng thét và khóc thút thít.
“Câm đi,” Victor gằn giọng. “Khóc lóc cái gì, đồ oắt con, tao véo tai mày xuống rồi cột dưới cằm bây giờ.”
Tiếng khóc chuyển thành một chuỗi khụt khịt nghẹn trong họng.
“Bọn tao sẽ đi,” Henry nói, nhưng trước khi đi, tao hỏi chúng mày một câu. Chừng mười phút trước, chúng mày có thấy thằng béo nào không? Một thằng to béo xây xát và đầy máu me?”
Câu trả lời gọn lỏn, hẳn chỉ có thể là từ “không”.
“Mày chắc không?” Ợ Hơi hỏi. “Không chắc thì coi chừng tao, thằng cà lăm.”
“T-t-tôi ch-ch-chắc.” Bill Denbrough trả lời.
“Đi thôi bọn mày,” Henry lên tiếng. “Chắc ban nãy nó lội hướng kia.”
“Tạm biệt nha,” Victor Criss bông lơn. “Con đập này nhỏ tí ấy mà, tao nói thật. Thà chúng mày không có còn hơn.”
Tiếng nước bì bõm. Giọng của Ợ Hơi lại vang lên, nhưng lần này xa hơn. Ben không nghe được tròn vành rõ chữ. Mà thú thật, cậu cũng chẳng ham nghe ra chúng nó âm mưu gì. Gần đó, cậu bé ban nãy mít ướt lại tiếp tục nước mắt ngắn nước mắt dài. Có tiếng an ủi từ một cậu khác. Ben suy đoán chỉ có hai người, Bill Cà Lăm và cậu trai đang khóc.
Cậu nhấp nhổm nửa ngồi, nửa nằm tại chỗ, lắng tai nghe hai cậu con trai ở con sông và giọng nói của Henry cùng bè lũ ác nghiệt phăm phăm tiến về phía xa của Vùng Đất Cằn. Ánh nắng thả mình vào mắt cậu, lấp lánh rọi thành hoa nắng trên bộ rễ đan xen tua tủa trên đầu và xung quanh. Ở đây dơ dáy bẩn thỉu, nhưng cũng ấm áp… và an toàn. Tiếng nước róc rách làm lòng cậu dịu lại. Đến cả tiếng nỉ non của cậu bé cũng dễ chịu làm sao. Bao đau đớn của cậu giờ chỉ còn âm ỉ, còn tiếng ồn ã của đám lòng lang dạ thú kia cũng đã tắt hẳn. Cẩn tắc vô áy náy, cậu sẽ đợi thêm một hồi để chắc chắn chúng đã đi hẳn rồi mới đi tiếp.
Ben có thể nghe thấy tiếng ù ù của nhà máy nước thải văng vẳng lan qua đất – thậm chí cậu còn cảm nhận được nó rung động đều đều, trầm trầm, vang lên từ lòng đất đến rễ cây cậu đang tựa vào rồi truyền đến lưng. Cậu lại mường tượng đến đám Morlock, đến da thịt lõa lồ của chúng; cậu hình dung nó có mùi tanh tươi và xú uế xộc lên từ lỗ thông hơi của nắp sắt. Cậu nghĩ đến những cái giếng đâm sâu vào Trái Đất gắn sẵn những bậc thang gỉ sét. Cậu mơ màng thiếp đi, bao suy nghĩ nhạt nhòa thành cơn mơ.
11
Thứ cậu nằm mơ thấy không phải là đám quỷ Morlock. Cậu mơ thấy điều đã xảy đến với mình vào tháng Một, sự việc cậu không dám mở miệng kể với mẹ.
Khi ấy là ngày đầu tiên đi học trở lại sau kỳ nghỉ Giáng sinh dài lê thê. Cô Douglas hỏi cả lớp có ai xung phong ở lại phụ cô kiểm những cuốn sách mà mọi người đã trả trước kỳ nghỉ hay không và Ben đã giơ tay.
“Cảm ơn em, Ben,” cô Douglas nói, tặng cậu nụ cười rạng rỡ đến độ cả người cậu, từ đầu đến chân, như được sưởi ấm.
“Đúng là đồ nịnh bợ,” Henry Bowers lầm bầm nanh nọc.
Hôm đó là một ngày mùa đông điển hình của Maine, vừa đẹp nhất mà cũng vừa khủng khiếp nhất: trong vắt không một gợn mây, chói đến lóa mắt, nhưng lạnh đến tê người. Tưởng chừng âm mười độ là chưa đủ, gió vần vũ khiến trời lạnh cắt da cắt thịt.
Ben đếm sách rồi hô số lượng cho cô Douglas ghi chép (cậu xin tự hào nhấn mạnh rằng cô ấy thậm chí còn không tự mình kiểm tra lại cho chắc, dù chỉ là kiểm ngẫu nhiên), sau đó cả hai cô trò sẽ bưng sách xuống phòng chứa nằm bên kia sảnh, nơi lò sưởi kêu lanh canh khe khẽ. Nếu là bình thường, trường học ồn ã tiếng ồn: tiếng tủ đựng đồ đóng sập, tiếng cô Thomas gõ máy đánh chữ lách cách, tiếng hợp xướng có phần lệch tông của ca đoàn ở tầng trên, tiếng bóng rổ đập xuống sàn bộp bộp đầy huyên náo trong phòng thể thao cũng như tiếng giày kin kít, bình bịch khi các cầu thủ chạy tới rổ hoặc đột ngột rẽ ngang trên sàn gỗ bóng loáng.
Dần dà, bao ồn ã lắng dần, cho đến khi chồng sách cuối cùng được đếm xong (thiếu một cuốn nhưng không sao, cô Douglas thở dài – cả hai cô trò cũng chỉ mong đến thế), âm thanh cuối cùng còn sót lại là tiếng lò sưởi và tiếng chổi loẹt quẹt khe khẽ của ông Fazio khi dọn mặt gỗ trên sàn đại sảnh cùng tiếng gió rít ngoài kia.
Đưa mắt nhìn ra ngoài khung cửa sổ nhỏ hẹp của phòng sách, Ben trông thấy bóng dần ngả chiều hôm. Mới 4 giờ chiều mà trời đã bắt đầu nhập nhoạng. Những bông tuyết bâng khuâng bay quanh khung leo trèo băng giá và lững lờ lượn quanh bập bênh đông cứng ngắc xuống nền đất. Chỉ có tiết trời ấm áp khi tháng Tư về mới có thể phá vỡ bao băng giá lạnh lẽo ấy. Cậu thấy ngoài đường Jackson chẳng có ai. Đắm chiêu nhìn lâu hơn, cậu thầm mong có chiếc xe chạy ngang ngã tư đường Jackson-Witcham nhưng cũng chẳng có ma nào. Chí ít từ điểm nhìn của cậu lúc này thì ngoại trừ cậu và cô Douglas, có lẽ mọi người ở Derry đã chết hoặc cao chạy xa bay cả rồi.
Chuyển ánh nhìn sang cô giáo, cậu thoáng sợ hãi khi trông thấy cô cũng đang cảm nhận điều giống y như cậu. Ánh nhìn trong mắt cô cho cậu biết điều đó. Chúng sâu thẳm, đầy ưu tư và xa xăm, không phải ánh nhìn của một giáo viên tuổi tứ tuần mà là ánh nhìn của một đứa trẻ. Đôi tay cô ấp dưới ngực tựa như cầu nguyện
Mình sợ quá, Ben thầm nghĩ, và cô Douglas cũng vậy. Nhưng rốt cuộc thì cô trò mình sợ cái gì?
Cậu chẳng rõ. Đoạn cô nhìn sang cậu và phá lên cười, pha chút ngại ngần. “Cô giữ em lại trễ quá,” cô lên tiếng.”Cô xin lỗi nhé, Ben.”
“Dạ không sao ạ.” Cậu cúi đầu nhìn xuống đôi giày của mình. Cậu cũng thương cô phần nào – dù không phải tình cảm mạnh dạn và mù quáng mà cậu dành cho cho cô Thibodeau, giáo viên lớp Một… nhưng thương thì vẫn là thương.
“Nếu cô mà biết lái xe thì cô sẽ chở em về rồi,” cô tiếc nuối. “Tiếc là không. Chú nhà sẽ đến đón cô vào khoảng 5 giờ 15. Nếu em đợi được thì cô trò mình…”
“Dạ thôi ạ,” Ben từ chối. “Em phải về nhà trước lúc đó.” Thật ra không phải thế, nhưng chẳng hiểu sao cậu không thấy vui vẻ gì lắm trước ý tưởng gặp chồng của cô Douglas.
“Hay em nói mẹ đến…”
“Mẹ em cũng không lái xe,” Ben giải thích. “Không sao đâu ạ. Nhà em chỉ cách trường một cây rưỡi thôi mà cô.”
“Thời tiết đẹp thì chừng ấy không là gì, nhưng trời đông thế này thì xa xôi lắm đấy. Nếu lạnh quá thì em phải tấp vào đâu đó, được không Ben?”
“Dạ vâng. Em sẽ ghé vào chợ Costello rồi đứng sưởi ở lò cho ấm hoặc gì đó. Bác Gedreau chắc sẽ không phiền đâu. Em mang quần đi tuyết, còn choàng cả khăn quàng mới được tặng dịp Giáng sinh nữa.”
Cô Douglas nhìn an tâm hơn một chút… đoạn cô lại liếc nhìn về phía cửa sổ. “Bên ngoài nhìn rét quá,” cô nói. “Thật… thật hiềm oán.”
Cậu không hiểu từ này nghĩa là gì nhưng cậu biết chính xác ý cô nói. Có thứ vừa chuyển biến – nhưng là thứ gì?
Cậu nhìn cô và cậu chợt nhận ra phần người của cô chứ không khô khan dưới góc độ giáo viên nữa. Đó là điều vừa xảy ra. Bất chợt, cậu nhìn khuôn mặt cô bằng cách khác hẳn, và vì thế, trong mắt cậu, cô như mang một diện mạo mới – gương mặt của một thi sĩ mệt mỏi. Cậu có thể mường tượng cảnh cô về nhà với chồng, ngồi cạnh trong xe, tay chắp lại, bộ sưởi chạy ro ro, chồng cô kể lại cho vợ mình một ngày vừa qua diễn ra như thế nào. Cậu có thể hình dung cảnh cô nấu bữa tối. Một suy nghĩ kỳ cục nảy nở trong đầu cậu, và một câu hỏi người ta hay tán phét với nhau trong buổi tiệc rượu mấp máy nơi đầu môi: Cô có con chưa?
“Cứ đến thời điểm này trong năm, cô lại tự nhủ có lẽ con người không nên sống xa về phía bắc xích đạo như vậy,” cô nói. “Chí ít là không phải vĩ độ này.” Đoạn cô cười, và nét kỳ lạ ấy dường như biến mất khỏi khuôn mặt cô hoặc mắt cậu - giờ cậu đã có thể nhìn cô như con người bấy lâu nay, ít nhất là phần nào. Nhưng mày sẽ không bao giờ thấy cô như thế kia một cách toàn vẹn nữa, cậu thầm nhủ, lòng não nề.
“Chừng nào xuân chưa đến, chừng ấy cô còn thấy mình già, nhưng rồi cô sẽ thấy căng tràn nhựa sống trở lại. Năm nào cũng thế. Em có chắc là em tự về được không, Ben?”
“Em đi được ạ.”
“Ừ, cô cũng nghĩ là thế. Em là một cậu bé ngoan.”
Cậu lại nhìn xuống ngón chân mình, mặt ửng đỏ, lòng trào dâng cảm xúc yêu thương dành cho cô giáo của mình.
Từ hành lang, ông Fazio lên tiếng: “Coi chừng bị bỏng lạnh nhé cậu bé,” mắt không rời mạt cưa đỏ đang quét.
“Dạ vâng ạ.”
Cậu đến tủ đựng đồ của mình và mở ra lấy quần đi tuyết trong vào. Cậu khó chịu ra mặt khi mùa đông này mẹ bắt cậu mặc chúng vào những ngày trời rét căm, vì với cậu trông nó chẳng khác nào đồ trẻ con, nhưng riêng chiều nay, cậu thấy mừng là mình đã mang theo. Cậu chậm rãi bước đến cửa, kéo áo khoác lên, cột mũ lại thật chặt và đeo bao tay. Ra ngoài, cậu khựng lại ở bậc thang đầy tuyết trên cùng một lúc, lắng nghe cửa khép đánh cạch – rồi khóa lại – sau lưng.
Trường Derry trầm mặc dưới bầu trời thâm xì. Gió không ngừng rít. Đầu móc trên dây treo cột cờ đập vào cột sắt, phát ra âm thanh leng keng cô tịch. Cơn gió táp thẳng vào da thịt nóng ấm và chưa hề phòng bị trên mặt khiến má cậu tê đi.
Coi chừng bị bỏng lạnh nhé cậu bé.
Cậu vội vàng kéo khăn quàng cổ lên, đến độ trông cậu chẳng khác nào phiên bản biếm họa nhỏ bé, mập lùn của Red Ryder. Bầu trời ngả bóng mang vẻ đẹp khiến ta trầm trồ, nhưng Ben không có thời gian dừng lại chiêm ngưỡng, trời rét căm căm độ này cơ mà. Phải đi tiếp thôi.
Ban đầu, gió thốc từ sau lưng và tình hình không đến nỗi nào; tính ra cậu còn có thể nương vào ngọn gió. Tuy nhiên, đến đường Kênh Đào, cậu phải rẽ phải nên gần như ngược hẳn hướng gió. Giờ đây ngọn gió như đang cản lối cậu… như thể nó muốn ngáng đường cậu vậy. May mà cậu có quàng khăn, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Mắt cậu nhoi nhói, và nước trong mũi đông thành lớp mỏng. Chân cậu tê dại. Nhiều lần, cậu phải rúc đôi tay đã đeo găng của mình vào nách cho ấm. Gió gào rít, thét gầm, lắm lúc chẳng khác nào con người.
Ben vừa sợ vừa hưng phấn. Sợ vì lúc này cậu đã thấm thía những câu chuyện mình từng đọc, tỉ dụ như Nhóm lửa của Jack London, trong đó có nhân vật chết vì lạnh cóng. Một đêm như thế này, một đêm khi nhiệt độ rơi xuống âm 25 độ C.
Còn lý do cậu hưng phấn thì lại hơi khó tả. Cảm giác ấy rất cô đơn - phần nào đó u sầu. Cậu đang ở ngoài trời, cậu lướt như bay cùng ngọn gió, và chẳng người nào bên kia khung cửa sổ sáng đèn trông thấy cậu. Họ đang ở trong nhà, nơi ấm áp và rạng rỡ. Họ không biết cậu đi ngang qua, cậu là người duy nhất biết. Hành tung của cậu thoắt ẩn thoắt hiện.
Không khí lướt qua nhói như kim châm nhưng mát lành. Khói trắng tỏa ra từ mũi cậu thành làn hơi bé bé.
Ngày tàn, ánh tà dương nhuốm không gian bằng sắc cam ngả vàng lạnh lẽo lững thững phía chân trời đằng Tây, những vì tinh tú đầu tiên ló dạng như những mảnh kim cương lấp lánh trên bầu trời, ấy cũng là lúc cậu đến Kênh Đào. Chỉ còn ba dãy nhà nữa là cậu về đến nhà mình, cậu nôn nao muốn cảm nhận mặt và chân mình ấm nóng, máu lưu thông trở lại, tạo cảm giác râm ran.
Nhưng… cậu chợt dừng chân.
Kênh Đào đóng băng ở ngay miệng cống bê tông như dòng sông sữa hoa hồng đông cứng, bề mặt lởm chởm, nứt gãy và đùng đục. Con kênh tĩnh nhưng lại động vô cùng trong ánh sáng mùa đông đầy thanh khiết, nó mang vẻ đẹp kiêu kỳ, độc nhất vô nhị.
Ben rẽ sang hướng khác - tây nam. Đi về phía Vùng Đất Cằn. Khi đi theo hướng này, gió thổi cùng chiều cậu. Nó làm quần đi tuyết của cậu thổi phần phật. Kênh Đào chạy thẳng giữa hai bờ bê tông khoảng tám trăm mét, sau đó con sông ngoằn ngoèo đổ vào Vùng Đất Cằn, một thế giới xương xẩu đầy bụi gai băng giá và cành cây khẳng khiu trụi lá.
Một bóng người đang đứng trên băng dưới kia.
Ben nhìn chằm chằm, lòng đầy thắc mắc: Có thể có một người ở bên dưới đó, nhưng liệu anh ta có thể mặc bộ đồ mà anh ta đang mặc kia không? Điều đó là không thể, đúng chứ?
Hình như bóng người mặc bộ đồ chú hề màu bạc trắng. Nó phần phật quanh cơ thể hắn trong cơn gió lạnh như ở vùng cực. Hắn đi đôi giày màu cam quá khổ, tiệp màu với hàng nút to bản trên bộ đồ. Một tay hắn cầm chùm dây nối với đống bóng bay rực rỡ màu sắc, và khi Ben nhìn chùm bóng bay nhấp nhô về hướng mình, cậu cảm thấy mình ngày càng xa rời thực tế hơn. Cậu hết nhắm mắt, dụi mắt rồi lại mở ra. Nhưng quả bóng vẫn ở đấy, dường như đang lơ lửng về phía cậu.
Cậu nghe thấy giọng nói của ông Fazio vang lên trong đầu mình. Coi chừng bị bỏng lạnh nhé cậu bé.
Chắc hẳn đây là ảo giác hoặc ảo ảnh dưới tác động kỳ lạ nào đó của khí hậu. Có thể có người đứng trên băng, thậm chí cậu nghĩ có khi người này thật sự đang mặc bộ đồ chú hề. Nhưng đống bóng bay kia không thể nào trôi về phía Ben, trôi vào cơn gió được. Thế mà nhìn kìa, bóng bay đang trôi kìa.
Ben! Gã hề trên băng cất tiếng. Ben những tưởng tiếng nói chỉ vang lên trong tâm trí, nhưng hình như cậu nghe thấy bằng tai thì phải. Muốn một quả bóng bay không?
Giọng nói ấy có gì đó thật ma quái, gớm guốc, đến độ Ben chỉ muốn co giò bỏ chạy nhanh nhất có thể, song chân cậu như dính cứng xuống vỉa hè, giống bập bênh trong sân trường đóng băng xuống đất.
Chúng lơ lửng đấy, Ben! Chúng lơ lửng! Thử mà xem!
Gã hề bắt đầu bước đi trên băng, dọc về phía cầu Kênh Đào nơi Ben đang đứng. Ben quan sát hắn ta lại gần, người đờ ra như khúc gỗ; cậu như con chim chỉ biết nhìn con rắn đang lừ lừ bò lại. Dưới cái lạnh cắt da cắt thịt này, lý ra bóng bay phải vỡ tung mới phải, thế mà chúng còn nguyên, chúng lơ lửng trên đầu gã hề trong khi lý ra phải lật phật bay đằng sau hắn, về phía Vùng Đất Cằn… theo suy đoán của Ben, đó là nơi sinh vật này xuất phát.
Và rồi Ben để ý thêm một chi tiết.
Mặc dù tia sáng cuối cùng của ban ngày đổ xuống mặt băng của Kênh Đào sắc hồng óng ánh, nhưng gã hề không hề có bóng. Không có chút nào.
Xuống đây vui lắm, Ben, gã nói. Bây giờ nó đủ gần Ben đến độ cậu có thể nghe thấy những tiếng thụp thụp mà đôi giày ngộ nghĩnh của nó phát ra khi bước trên mặt băng gồ ghề. Xuống đây vui lắm, ta hứa đấy, tất cả những cô cậu bé mà ta gặp đều thích mê nơi này, vì nó giống Đảo Niềm vui trong Pinocchio và Vùng đất Thần tiên trong Peter Pan; chúng không bao giờ phải lớn lên, và đó là điều mà tụi con nít ai cũng mê tít thò lò! Nào, đến đâu! Ngắm cảnh, chơi với bóng bay, cho voi ăn, đi tàu lượn! Cháu sẽ thích mê cho mà xem, ôi, Ben, cháu sẽ lơ lửng…
Và dù rất sợ, Ben nhận ra đâu đó trong lòng mình, cậu thật sự muốn một quả bóng bay. Trên đời này, liệu có ai được sở hữu quả bóng bay lơ lửng mặc gió táp kia chứ? Liệu có ai từng nghe về thứ như vậy kia chứ? Đúng thế… cậu muốn có một quả bóng bay, và cậu muốn nhìn mặt gã hề kia, bởi hắn cứ cúi gằm xuống mặt băng, tựa hồ như tránh cơn gió buốt.
Ben không biết liệu điều gì sẽ xảy ra nếu đúng lúc đó, tiếng chuông báo năm giờ không vang lên trên đỉnh Tòa nhà Thị trấn Derry… hay nói đúng hơn, cậu không muốn biết. Quan trọng là chuông đã reo lên, tiếng chuông chói tai xuyên vào cái lạnh cắt da cắt thịt mùa đông. Gã hề ngước lên, dường như giật mình, và nhờ thế mà Ben trông thấy mặt hắn!
Xác ướp! Ôi Chúa ơi, hắn là xác ướp! Suy nghĩ đầu tiên vang lên trong đầu cậu, kinh hãi đến choáng váng, cậu vội vàng chộp tay vào thanh chắn cầu để không ngất xỉu. Tất nhiên nó không phải xác ướp, nó không thể nào là xác ướp. Ồ, tất nhiên cậu biết ở Ai Cập có xác ướp, rất nhiều là đằng khác, nhưng thứ cậu nghĩ ngay đến là xác ướp ấy – con quái vật gớm guốc do Boris Karloff đóng trong bộ phim ngày xưa mà tháng trước cậu thức xem trên chương trình Rạp Hết hồn .
Không, không thể là xác ướp ấy được, không thể, vì quái vật trên phim ảnh không hề có thật, ai mà chẳng biết điều đó chứ, ngay cả đứa trẻ vắt mũi chưa sạch. Nhưng…
Nguyên nhân không phải vì gã hề trang điểm. Cũng không phải do nó băng bó hết lớp này đến lớp khác. Đúng là nó có băng bó, chủ yếu quanh cổ và trên tay, bay ngược ra sau trong gió, nhưng Ben có thể thấy rõ mặt gã hề. Mặt nó chằng chịt, da là một mảng đầy nếp nhăn, hai má nát bươm, thịt khô đét. Phần da trên trán toác ra nhưng không chảy máu. Đôi môi thâm sì cười toe toét trên cái miệng với hàm răng tua tủa như bia mộ. Nướu của nó lỗ rỗ và đen đúa. Ben không thấy cặp mắt nào, nhưng có thứ gì đó ánh lên sâu trong hai cái hốc nhăn nhúm, mịt mùng như hòn than, tựa hồ viên đá quý lạnh lẽo trong mắt những món trang sức hình bọ hung của người Ai Cập. Và dù ngược gió, nhưng dường như cậu vẫn ngửi thấy mùi quế, hương liệu, vải liệm thối rữa được xử lý bằng những thứ thuốc kỳ cục, cát, máu từ ngày xửa ngày xưa đến độ khô thành vảy và màu gỉ sét…
“Chúng ta đều lơ lửng ở dưới này,” gã hề xác ướp khàn khàn lên tiếng, và Ben kinh hoàng giật mình khi bằng cách nào đó, nó đã mò đến cây cầu, nó đang đứng ngay bên dưới cậu, giơ một bàn tay khô đét và méo mó từ bó da lạch phạch như cờ nheo, bàn tay lộ cả phần xương màu ngà.
Một ngón tay không có chút thịt nào chạm vào mũi giày của cậu. Cơn tê dại của Ben vỡ tung. Cậu vùng chạy qua cây cầu với tiếng còi báo hiệu năm giờ vẫn rít lên bên tai; đến tận lúc cậu sang phía bên kia thì tiếng chuông mới dứt. Đó phải là ảo ảnh, chắc hẳn là ảo ảnh. Trong mười tới mười lăm giây tiếng chuông báo giờ vang lên, gã hề ấy không thể di chuyển nhanh như thế được.
Nhưng nỗi sợ hãi trong cậu không phải là ảo ảnh, những giọt nước mắt nóng hổi trào ra từ mắt cậu để rồi đông cứng trên má cậu một giây sau khi rơi. Cậu chạy như bay, giày nện thình thịch xuống vỉa hè, và phía sau, cậu có thể nghe thấy xác ướp trong bộ đồ hề đang leo lên Kênh Đào, móng tay cứng ngắc cổ xưa cào kin kít vào sắt, gân đã bao năm kêu ken két như bản lề khô dầu. Cậu có thể nghe thấy tiếng khó khè khô khốc phát ra khi nó thở ra thở vào qua lỗ mũi không chút hơi ẩm, tựa hồ những đường hầm dưới Đại kim tự tháp. Thứ mùi hương liệu như cát bụi xộc vào mũi cậu, và cậu biết trong chớp mắt thôi, bàn tay trơ xương không chút thịt, khẳng khiu chẳng khác nào mô hình hình học cậu dựng bằng bộ Erector Set, sẽ rờ tới gáy cậu. Đôi tay ấy sẽ bẻ người cậu ra sau, bắt cậu nhìn vào khuôn mặt nhăn nheo và đang nở nụ cười khả ố của nó. Hơi thở như con sông chết sẽ phả vào cậu. Hốc mắt đen kịt, sâu thẳm bên trong quắc lên ánh sáng sẽ xoáy vào cậu. Cái miệng không răng sẽ há to, và cậu sẽ có quả bóng bay cho mình. Ở đúng rồi. Muốn bao nhiêu có bấy nhiêu.
Nhưng khi cậu chạy đến góc đường nhà mình, nước mắt tuôn như mưa, nấc lên từng tiếng, tim đập loạn trong lồng ngực, nện những tiếng thình thịch vào tai, khi cậu len lén nhìn ra sau lưng, con đường lại trơ trọi không bóng người. Cây cầu cong cong với hai bờ bê tông thấp cùng mặt cầu lát đá cuội theo kiểu xưa cũng trống không. Kênh Đào đã khuất khỏi tầm mắt, nhưng cậu cảm giác dù có trông thấy, cậu cũng chẳng thấy gì ở phía dưới. Không, nếu xác ướp không phải ảo giác hoặc ảo ảnh, nếu nó là thật, hẳn nó sẽ rình rập dưới cây cầu - như con quỷ trong câu chuyện ngụ ngôn Ba chú dê .
Bên dưới. ẩn nấp bên dưới.
Ben ba chân bốn cẳng về nhà, cứ vài bước lại ngó về phía sau cho đến khi cánh cửa đã đóng sập lại và khóa kỹ lưỡng sau lưng. Mẹ cậu mệt lử sau một ngày đầu tắt mặt tối ở nhà máy đến độ bà chẳng còn bới đâu ra sức để nhớ thương con. Cậu bảo mẹ rằng cậu đã ở lại giúp cô Douglas đếm sách. Đoạn cậu ngồi xuống ăn mì và gà tây dư từ hôm Chủ nhật. Cậu nhồm nhoàm ăn đến ba đĩa, và càng ăn, xác ướp lại càng trở nên xa xôi, hư hư ảo ảo. Nó không có thật, những thứ như thế không thể có thật được, chúng chỉ xuất hiện trong chương trình quảng cáo cho phim truyền hình đêm khuya hoặc chương trình chiếu phim sáng thứ Bảy, trong đó nếu may mắn, ta có thể mua hai con quái vật với giá hai mươi lăm xu – và nếu có thêm hai mươi lăm xu nữa, ta có thể mua bắp rang bơ thỏa thích.
Không, chúng không có thật. Quái vật trên ti vi, quái vật trên phim ảnh và quái vật trong truyện tranh không có thật. Không có thật, cho đến khi ta vào giường mà cứ thao thức; cho đến khi bốn viên kẹo cuối cùng, bọc kỹ trong giấy, để dưới gối để phòng ma quỷ trong đêm sẽ ngấu nghiến cho bằng hết; cho đến khi chiếc giường biến thành hồ nước trong mơ đầy mùi ôi, còn bên ngoài, gió gào rít nhưng ta chẳng dám nhìn ra bên ngoài cửa sổ vì biết đâu sẽ có một khuôn mặt ở đấy, một khuôn mặt cổ xưa nhe nhẻn cười, không thối rữa mà khô đét lại như lá khô, đôi mắt như kim cương nằm sâu trong hai hốc đen thui; cho đến khi ta nhìn thấy móng vuốt rách nát như bàn tay cầm chùm bóng bay: Ngắm cảnh, chơi với bóng bay, cho voi ăn, đi tàu lượn! Cháu sẽ thích mê cho mà xem, ôi, Ben, cháu sẽ lơ lửng…
12
Ben tỉnh dậy, thở hồng hộc, giấc mơ về xác ướp vẫn bám riết lấy cậu, hoảng sợ bởi bóng đêm dần bao phủ, đầy rúng động xung quanh. Cậu giật nảy, khiến rễ cây không nâng người cậu nữa mà chọc vào lưng cậu như thể đang cáu tiết.
Nhìn thấy ánh sáng, cậu mò mẫm trườn lên. Cậu bò ra ngoài, hòa vào ánh mặt trời chiều hôm và tiếng suối róc rách, và rồi chợt mọi thứ như trở về vị trí cũ. Hiện tại đang là mùa hè, chứ không phải mùa đông. Xác ướp không bắt cậu đến một hầm mộ xa xôi nơi sa mạc; Ben chỉ đang trốn khỏi đám du côn đô con kia trong một hố đầy đất cát bên dưới cái cây với bộ rễ lộ thiên. Cậu đang ở trong Vùng Đất Cằn. Henry và tay chân của hắn hành đám nhóc chơi dưới suối một dịp lên bờ xuống ruộng vì chúng không tìm thấy Ben để tẩn cậu một trận thừa sống thiếu chết. Tạm biệt nha đám kia. Con đập nhỏ tí ấy mà, tao nói thật. Thà chúng mày không có còn hơn.
Ben ủ dột nhìn xuống bộ quần áo tả tơi của mình. Mẹ sẽ cho cậu nếm trải thế nào là mười sáu tầng địa ngục.
Cậu ngủ đủ lâu khiến cả người cứng lên. Trượt xuống bờ sông, cậu bắt đầu đi dọc theo dòng nước, mỗi bước đi là một lần nhăn mặt. Cả người cậu đau ê ẩm; tựa hồ Spike Jones đang chơi một điệu nhạc réo rắt trên thủy tinh vỡ trong cơ bắp của cậu. Dường như phần da nào lộ ra cũng dính máu khô hoặc đang khô. Mấy đứa trẻ xây đập hẳn đã đi mất dạng rồi, cậu an ủi bản thân. Cậu không biết mình đã ngủ bao lâu, nhưng ngay cả khi cậu chỉ ngủ có nửa tiếng thì cậu cũng dám chắc cuộc đụng độ giữa Henry và bè lũ của hắn hẳn đã khiến Denbrough cùng người bạn của cậu ấy thấm thía rằng thà lưu lạc ở nơi khác – như Timbuktu chẳng hạn - còn lành hơn nơi đây.
Ben nặng nề lê bước, thừa biết nếu đám côn đồ kia trở lại, một chút cơ hội trốn thoát cậu cũng sẽ chẳng có. Mà cậu cũng chẳng buồn quan tâm.
Cậu rẽ một góc quanh theo con suối và đứng yên quan sát một lúc. Nhóm xây đập vẫn ở đó. Quả thật, một trong hai người bọn họ là Bill Cà Lăm. Cậu ta đang quỳ gối cạnh một cậu nhóc chống tay lên bờ sông trong khi vẫn ở trong tư thế ngồi. Đầu cậu kia ngẩng hết cỡ ra sau, đến độ yết hầu thò ra như cái nút hình tam giác. Máu me bê bết dính quanh mũi, trên cằm và dọc theo cổ của cậu thành vài đường chảy. Một tay của cậu ta nắm hờ thứ gì đó màu trắng.
Bill Cà Làm nhanh nhạy nhìn quanh và trông thấy Ben đứng đó. Ben hoảng hồn nhận ra tình hình cậu con trai chống tay lên bờ sông rất chi là không ổn, rõ ràng là Denbrough đang sợ phát khiếp. Cậu chua chát nghĩ: Ngày hôm nay không chịu hết sao?
“C-c-cậu có thể gi-gi-giúp tớ không.” Bill Denbrough lắp bắp. “Ô-ống th-th-th-thở của cậu ấy hết rồi. Tớ lo cậu ấy c-có thể bị…”
Mặt cậu ta sựng lại và đỏ au. Cậu ta chôn chân với từ mình muốn nói, lắp ba lắp bắp như súng máy. Nước bọt văng ra từ môi cậu ta, và sau ba mươi giây lắng nghe cậu ấy lẩm bẩm “ch-ch-ch-ch” trước khi Ben ngộ ra điều Denbrough đang muốn nói là cậu bé kia có thể bị chết.