GÃ HỀ MA QUÁI

Lượt đọc: 10362 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
một trong những đứa trẻ mất tích: câu chuyện mùa hạ năm 1958
1

Không phải đứa trẻ nào cũng được tìm thấy. Không hề; có những đứa trẻ vẫn mất tích. Và lắm lúc, người ta lại phỏng đoán sai.

2

Trích từ Derry News , ngày 21 tháng 6 năm 1958 (trang nhất):

CẬU BÉ MẤT TÍCH LÀM DẤY LÊN LO SỢ MỚI

Edward L. Corcoran, ở số 73 đường Charter, Derry, được mẹ Monica Macklin và bố dượng, Richard P. Macklin, báo cáo là đã mất tích vào đêm qua. Corcoran năm nay mười tuổi. Sự biến mất của cậu bé dấy lên nỗi lo sợ về việc thanh thiếu niên của Derry đang bị một kẻ sát nhân để mắt đến.

Bà Macklin cho hay, cậu bé mất tích từ ngày 19 tháng 6, cũng là ngày đi học cuối cùng trước khi bắt đầu kỳ nghỉ hè, song cậu lại không về nhà.

Khi được hỏi tại sao cậu bé mất tích hơn 24 giờ gia đình mới trình báo, ông bà Macklin từ chối bình luận. Cảnh sát trưởng Richard Borton cũng không đưa ra ý kiến, nhưng một nguồn tin từ Sở Cảnh sát cho tờ News biết rằng mối quan hệ của cậu bé Corcoran với bố dượng không quá hòa thuận, và trước đó, có nhiều đêm cậu bé không ngủ ở nhà. Nguồn tin nghi vấn điểm số cuối năm của cậu bé có thể là một phần lý do cậu không về. Quản lý trường Derry Harold Metcalf từ chối bình luận về điểm số của cậu bé Cornocan với lý do đây là thông tin riêng tư.

“Tôi rất mong việc cậu bé mất tích sẽ không gây ra những nỗi lo không đáng có.” Cảnh sát trưởng Borton cho biết vào tối qua. “Cộng đồng hẳn sẽ xáo động là điều dễ hiểu, nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng hằng năm, chúng tôi ghi nhận từ 30 tới 50 báo cáo về người mất tích là trẻ vị thành niên. Đa số các em xuất hiện trở lại chừng một tuần sau báo cáo ban đầu trong tình trạng khỏe mạnh. Và nếu trời thương, trường hợp cậu bé Edward Corcoran cũng thế.”

Borton cũng nhắc lại quan điểm của ông rằng các vụ sát hại George Denbrough, Betty Ripsom, Cheryl Lamonica, Matthew Clements và Veronica Grogan không phải do cùng một thủ phạm gây ra. “Mỗi vụ án lại có một điểm khác biệt căn bản,” Borton nói nhưng từ chối đi vào chi tiết. Ông cho hay cảnh sát địa phương vẫn đang phối hợp chặt chẽ với văn phòng Tổng Chưởng lý bang Maine lần theo nhiều đầu mối chính. Khi được hỏi trong một buổi phỏng vấn trên truyền hình về chất lượng các manh mối trên, Cảnh sát trưởng Borton đáp: “Rất tốt.” Song khi được hỏi liệu có chuẩn bị vây bắt kẻ thủ ác nào trong các án mạng trên, ông từ chối trả lời.

Trích tờ Derry News , ngày 22 tháng 6 năm 1958 (trang nhất):

TÒA ÁN BẤT NGỜ YÊU CẦU KHAI QUẬT MỘ

Cuối ngày hôm qua, trong một diễn biến mới đầy lạ lùng liên quan tới vụ mất tích của Edward Corcoran, thẩm phán Erhardt K. Moulton của Toà án Derry đã yêu cầu khai quật mộ con trai út của nhà Corcoran tên Dorsey. Lệnh của tòa án xuất phát từ yêu cầu của công tố viên Hạt và Giám định Y khoa Hạt.

Dorsey Corcoran sống với mẹ và bố dượng tại số 73 đường Charter, qua đời do tai nạn vào tháng Năm năm 1957. Cậu bé được đưa tới Bệnh viện Derry Home trong tình trạng gãy xương nhiều chỗ, chấn thương sọ não. Richard P. Macklin, bố dượng cậu bé, là người đưa cậu bé vào viện. Ông cho hay Dorsey Corcoran đang chơi leo thang trong ga-ra thì bị ngã từ trên cao. Sau ba ngày bất tỉnh, cậu bé qua đời.

Edward Corcoran, mười tuổi, được trình báo mất tích vào cuối ngày thứ Tư vừa rồi. Khi được hỏi liệu ông bà Macklin có ở trong diện tình nghi về cái chết của cậu con trai út và sự mất tích của cậu con trai lớn hay không, Cảnh sát trưởng Richard Borton từ chối bình luận.

Trích tờ Derry News , ngày 24 tháng 6 năm 1958 (trang nhất):

HACKLIN BỊ BẮT DO HÀNH HUNG NGƯỜI ĐẾN CHIẾT

Nghi ngờ có liên quan đến vụ án mất tích đang dang dở

Ngày hôm qua, Cảnh sát trưởng Richard Borton đã tổ chức một cuộc họp báo để thông báo Richard P. Macklin, ngụ ở số 73 đường Charter, đã bị bắt và bị buộc tội giết hại con riêng của vợ là Dorsey Corcoran. Cậu bé Corcoran đã qua đời trong Bệnh viện Derry Home vào ngày 31 tháng 5 năm ngoái do “tai nạn”. Ông Borton cho biết: “Báo cáo giám định y khoa cho thấy cậu bé bị đánh đập nghiêm trọng.” Macklin khai cậu bé bị ngã thang trong lúc chơi ở ga-ra, nhưng cảnh sát trưởng cho biết báo cáo của Giám định Y khoa Hạt cho thấy Dorsey Corcoran đã bị đánh đập nghiêm trọng bằng một vật cùn. Khi được hỏi về hung khí, Cảnh sát trưởng Borton nhận xét: “Có thể là búa. Hiện tại, điều quan trọng là kết luận của giám định y khoa cho biết cậu bé bị đánh liên tục bằng một vật cứng đến độ gãy xương. Các vết thương nhất là vết thương ở hộp sọ, hoàn toàn không tương thích với vết thương gây ra do té ngã. Dorsey Corcoran bị hành hung, sau đó được đưa tới Phòng Cấp cứu của bệnh viện để chết.”

Khi được hỏi có phải các bác sĩ chữa cho Corcoran đã tắc trách trong công việc khi không báo cáo về tình trạng ngược đãi trẻ em hoặc nguyên nhân tử vong thực sự, cảnh sát trưởng trả lời, “Họ sẽ phải trả lời câu hỏi khi Macklin ra hầu tòa.”

Còn về diễn biến mới thu được từ vụ biến mất của Edward, anh trai Dorsey Cormoran, được ông Richard và bà Monica Macklin trình báo mất tích bốn ngày trước, Cảnh sát trưởng Borton trả lời: “Tôi đánh giá nó nghiêm trọng hơn nhiều so với những gì chúng tôi nhận xét ban đầu, các vị có nghĩ vậy không?”

Trích tờ Derry News , ngày 25 tháng 6 năm 1958 (trang 2):

GIÁO VIÊN CHO HAY EDWARD CORCORAN “THƯỜNG XUYÊN BẦM TÍM”

Henrietta Dumont, giáo viên lớp Năm trường Tiểu học Derry nằm trên đường Jackson, cho hay Edward Corcoran, tính đến nay đã mất tích gần một tuần, thường đến trường “với nhiều vết bầm tím”. Đảm trách một trong hai lớp Năm của trường Derry kể từ lúc Thế chiến thứ hai kết thúc, cô Dumont nói rằng chừng ba tuần trước khi biến mất, cậu bé Corcoran đến trường trong tình trạng “mắt sưng húp mở không ra. Khi tôi hỏi có chuyện gì, cậu bé kể bị bố dạy cho bài học vì không chịu ăn tối.”

Khi được hỏi tại sao không trình báo trường hợp đánh đập nghiêm trọng như vậy, cô Dumont trả lời, “Trong sự nghiệp nghề giáo của mình, đây không phải lần đầu tiên tôi chứng kiến cảnh này. Mới đầu, khi thấy có bậc phụ huynh dùng phương pháp đánh đập để răn đe con cái, tôi cũng tìm cách can thiệp. Nhưng cô Gwendolyn Rayburn, phó hiệu trưởng thời đó, nhắc nhở tôi đừng vác tù và hàng tổng. Cô cho biết khi nhân viên nhà trường vướng vào những vụ nghi ngờ liên quan đến ngược đãi trẻ em, lúc nào nhà trường cũng bị ảnh hưởng vào thời điểm phân bổ ngân sách thuế. Tôi đến gặp hiệu trưởng thì thầy ấy bảo tôi quên nó đi, nếu không tôi sẽ bị khiển trách. Tôi hỏi liệu khiển trách về vấn đề này có lưu lại trên lý lịch hay không thì nhận được câu trả lời là khiển trách không nhất thiết phải xuất hiện trên lý lịch giáo viên. Tôi nghe đến đó là hiểu ý thầy ấy.”

Khi phóng viên hỏi thái độ trong hệ thống trường học Derry vẫn như vậy hay có thay đổi, cô Dumont cho hay, “Chà, thái độ ra sao sau tình hình hiện tại ư? Tôi xin nói thêm nếu không phải tôi vừa nghỉ hưu vào cuối năm học này, tôi sẽ không trả lời phỏng vấn của quý báo.”

Cô Dumont bộc bạch, “Từ lúc có tin, đêm nào tôi cũng quỳ gối cầu nguyện em Eddie Corcoran chỉ vì mệt mỏi với người bố dượng bạo lực nên mới bỏ nhà ra đi. Tôi mong sao khi đọc báo hoặc nghe đài về chuyện Macklin đã bị tống giam, em sẽ trở về.”

Trong cuộc phỏng vấn nhanh qua điện thoại, bà Monica Macklin kịch liệt phản đối lời chỉ trích của cô Dumont. Bà cho hay, “Rich không đánh đập Dorsey và cũng không đánh đập Eddie. Tôi nói cho các vị biết là như thế và khi tôi chết, tôi sẽ đứng ở Ngôi Phán Quyết, nhìn thẳng vào Chúa, và nói với Ngài điều y chang như vậy.”

Trích từ Derry News , ngày 28 tháng 6 năm 1958 (trang 2):

“BỐ PHẢI DẠY CON VÌ CON HƯ, CẬU BÉ KỂ VỚI GIÁO VIÊN NHÀ TRẺ TRƯỚC KHI BỊ ĐÁNH CHẾT

Hôm qua, một giáo viên mầm non trong vùng từ chối tiết lộ danh tính cho phóng viên tờ News biết rằng gần một tuần trước khi cái chết do vụ tai nạn trong ga-ra có chủ đích xảy ra, cậu bé Dorsey Corcoran đến nhà trẻ (một tuần hai buổi) trong tình trạng ngón trỏ và ba ngón tay của bàn tay phải bị bong gân nặng.

Giáo viên kể: “Cậu bé đau đến độ không thể tô màu bức tranh tuyên truyền Điều Nên Làm của mình. Tay cậu bé sưng to như cái xúc xích. Khi tôi hỏi có chuyện gì, Dorsey nói rằng bố cậu (bố dượng Richard P. Macklin) bẻ tay cậu ra sau vì cậu bé bước lên sàn nhà mà mẹ vừa lau chùi. Cậu bé nói “Bố phải dạy con vì con hư”. Nhìn những ngón tay bé xíu tội nghiệp ấy, tôi chỉ muốn khóc. Cậu bé rất muốn tô màu tranh như bạn bè, vậy nên tôi cho bé uống thuốc giảm đau dành cho trẻ em và để cậu bé tô màu vào giờ Kể Chuyện. Cậu bé mê mệt việc tô màu tranh Điều Nên Làm nên tôi rất vui khi có thể đem đến chút niềm vui cho Dorsey vào ngày hôm ấy.

Khi nghe tin cậu bé qua đời, tôi hoàn toàn không nghĩ đó là tại nạn. Ban đầu, tôi đoán cậu bé bị té vì tay như vậy khiến sức nắm yếu đi. Giờ nghĩ lại, tôi không tài nào tin nổi người lớn lại có thể làm chuyện đó với con nít. Khó tin nhưng là thật. Ước gì tôi không phải biết điều nghiệt ngã ấy.”

Anh trai của Dorsey Corcodan, Edward, mười tuổi, hiện vẫn đang mất tích. Trong trại giam Hạt Derry, Richard Macklin tiếp tục phủ nhận liên quan đến cái chết của cậu con trai út hoặc việc con trai lớn mất tích.

Trích tờ Derry News , ngày 30 tháng 6 năm 1958 (trang 5):

MACKLIN BỊ NGHI NGỜ SÁT HẠI GROGAN VÀ CLEMENTS

Nguồn tin khẳng định có chứng cứ ngoại phạm chắc chắn

Trích từ Derry News , ngày 06 tháng 7 năm 1958 (trang nhất):

CẢNH SÁT TRƯỞNG TUYÊN BỐ MACKLIN CHỈ BỊ BUỘC TỘI GIẾT HẠI CON THỨ DURSEY

Edward Corcoran vẫn mất tích

Trích từ Derry News , ngày 24 tháng 7 năm 1958 (trang nhất):

BỐ DƯỢNG VỪA KHÓC VỪA THÚ NHẬN TỘI GIẾT CON BẰNG BÚA

Phiên xét xử Richard Macklin bị tình nghi về tội giết Dorsey Corcoran, con riêng của vợ tại Tòa án Quận, đã ghi nhận diễn tiến bất ngờ. Không chịu nổi sự đối chất đầy gắt gao của công tố viện hạt Bradley Whitsun, Macklin thừa nhận mình đã dùng búa không giật đánh cậu bé bốn tuổi đến chết, sau đó chôn hung khí ở góc vườn rau của vợ rồi đưa cậu bé đến phòng cấp cứu của Bệnh viện Derry Home.

Trước đó, Macklin đã khai nhận mình thỉnh thoảng đánh con để răn dạy chúng, hắn vừa khóc vừa kể lại câu chuyện khiến cả phòng xử án chấn động và lặng người.

“Tôi không biết ma xui quỷ khiến thế nào. Thấy thằng bé lại táy máy trèo lên cầu thang, tôi liền chộp lấy cây búa để trên băng ghế và đập nó túi bụi. Tôi không cố ý giết nó. Có Chúa chứng giám, tôi không có ý giết con.”

“Cậu bé có nói gì với anh trước khi bất tỉnh không?” Whitsun hỏi.

“Nó bảo, ‘Bố ơi, dừng lại đi. Con xin lỗi, con thương bố lắm.’” Macklin đáp.

“Vậy anh có dừng lại không?”

“Cuối cùng tôi cũng dừng lại,” Macklin đáp. Dứt lời, hắn khóc điên cuồng, thẩm phán Erhardt Moulton buộc phải tạm dừng phiên tòa.

Trích tờ Derry News , ngày 18 tháng 9 năm 1958 (trang 16):

EDWARD CORCORAN Ở ĐÂU?

Bố dượng của cậu bé, bị kết án từ hai đến mười năm tù trong nhà tù bang Shawshank vì tội giết hại Dorsey bốn tuổi, tiếp tục tuyên bố mình không biết Edward Corcoran hiện đang ở đâu. Mẹ cậu bé, hiện đang làm thủ tục ly hôn Richard P. Macklin, cho biết bà nghĩ hắn ta nói dối.

Liệu có phải vậy không?

“Tôi không nghĩ thế,” Cha Ashley Brian, người làm việc với các tù nhân Công giáo trong nhà tù Shawshank nói. Vào tù được ít lâu, Macklin nghe theo lời dạy của đạo Công giáo và Cha O’Brian đã dành rất nhiều thời gian bên hắn. “Anh ta thành tâm hối lỗi vì tội ác của mình.” Cha OBrian kể ban đầu, khi bố hỏi tại sao Macklin muốn theo Thiên Chúa, hắn đáp, “Con nghe nói đạo Công giáo có kinh sám hối, con cần tụng thật nhiều vì con không muốn xuống địa ngục khi chết.”

“Anh ta biết tội lỗi mình đã gây ra với cậu con út,” Cha O’Brian tiếp tục. “Nếu ra tay với đứa con lớn thì lý ra anh ta phải dằn vặt, đằng này anh ta lại chẳng nhớ gì. Anh ta một mực nói tay anh ta không nhúng chàm trong vụ Edward.”

Tay của Macklin có nhúng chàm trong vụ việc liên quan đến cậu con trai lớn Edward hay không là câu hỏi tiếp tục đau đáu trong lòng cư dân Derry, nhưng hắn ta đã được chứng minh không dính líu đến các vụ giết hại trẻ em khác xảy ra ở nơi đây. Hắn đã cung cấp chứng cứ ngoại phạm chắc như bọc sắt cho ba vụ đầu tiên, ngoài ra, hắn đang ở tù khi bảy vụ tiếp theo xảy ra vào cuối tháng Sáu, tháng Bảy và tháng Tám.

Mười vụ án mạng vẫn còn bỏ ngỏ.

Trong một cuộc phỏng vấn riêng với tờ News vào tuần trước, Macklin một lần nữa khẳng định mình không biết Edward Corcoran đang lưu lạc ở đâu. “Tôi đánh đập cả hai đứa,” hắn bộc bạch đầy đau thương, thỉnh thoảng lại ngắt quãng vì những đợt nức nở. “Tôi thương cả hai đứa, thế mà tôi lại đánh đập chúng. Tôi không biết lý do tại sao, giống như cách tôi không biết tại sao Monica để tôi đánh đập chúng, hoặc tại sao cô ta lại bao che cho tôi sau khi Dorsey qua đời. Có lẽ bản thân tôi cũng đủ sức để kết liễu Eddie dễ dàng như với Dorsey, nhưng tôi thề trước Thượng đế, Chúa Giê-su và mọi thánh thần trên thiên đàng rằng tôi không biết. Tôi biết các vị cảm thấy khó tin, nhưng thủ phạm không phải là tôi. Tôi nghĩ thằng bé bỏ nhà đi. Nếu vậy, tôi lại có thêm điều để tạ ơn Chúa.”

Khi được hỏi liệu ký ức có bị đứt đoạn hay không – liệu có khả năng hắn giết Edward rồi chặn hành vi ấy ra khỏi đầu hay không - Macklin trả lời: “Tôi không biết về bất cứ đứt đoạn nào. Tôi biết rõ từng điều tôi làm. Tôi nguyện trao thân này cho Chúa, và tôi sẽ dùng phần đời còn lại để sám hối.”

Trích từ Derry News , ngày 27 tháng 01 năm 1960 (trang nhất):

CẢNH SÁT TRƯỞNG KHẲNG ĐỊNH THI THỂ KHÔNG PHẢI LÀ CỦA CẬU BÉ CORCORAN

Sớm ngày hôm nay, Cảnh sát trưởng Richard Borton cho phía báo giới biết thi thể đã phân hủy từ lâu của một bé trai tầm tuổi Edward Corcoran không phải là của cậu bé. Corcoran mất tích khỏi nhà ở Derry vào tháng Sáu năm 1958. Thi thể được phát hiện ở Aynesford, Massachusetts, chôn trong một bãi khai thác đá dăm. Ban đầu, cảnh sát hai bang Maine và Massachusetts đưa ra giả thiết cái xác là của cậu bé nhà Corcoran, cậu bị một kẻ quấy rối trẻ em dụ dỗ sau khi bỏ nhà ra đi. Trước đó, chính tại căn nhà trên phố Charter, em trai cậu đã bị bố dượng đánh đến chết.

Kết quả từ các biểu đồ nha khoa cho thấy thi thể phát hiện ở Aynesford không phải là của cậu bé Corcoran. Tính đến nay, cậu bé đã mất tích được 19 tháng.

Trích tờ Portland Press-Herald , ngày 19 tháng 7 năm 1967 (trang 3):

SÁT NHÂN TỪNG BỊ KẾT ÁN TỰ TỬ Ở FALMOUTH

Chiều tối ngày hôm qua, Richard P. Macklin, thủ phạm từng bị kết án giết hại cậu con trai bốn tuổi vốn là con riêng của vợ vào chín năm trước, được phát hiện đã chết trong căn chung cư nhỏ trên tầng ba ở Falmouth. Sau khi được ra tù từ nhà tù bang Shawshank vào năm 1964, anh ta đã sống và làm việc thầm lặng ở Falmouth, tình hình cho thấy đây là một vụ tự sát.

“Bức thư để lại cho thấy tình trạng tinh thần người này vô cùng bất ổn, Brandon K. Roche, trợ lý cảnh sát trưởng Falmouth nhận định. Ông từ chối đi sâu vào nội dung bức thư, nhưng một nguồn tin từ Sở Cảnh sát cho hay nó chỉ vỏn vẹn hai câu: “Đêm qua tôi gặp Eddie. Thằng bé chết rồi.”

“Eddie” được nhắc đến ở đây có thể là con trai riêng của vợ Macklin, anh trai của cậu bé mà Macklin bị kết tội sát hại vào năm 1958. Edward Corcoran mất tích đã dẫn đến việc Macklin bị kết án vì tội đánh đập Dorsey, em trai của Edward, đến chết. Tuy nhiên, cậu anh đã mất tích chín năm. Trong một phiên xét xử nhanh tổ chức vào năm 1966, mẹ cậu bé yêu cầu con trai được tuyên bố chết theo pháp lý để người này có thể hưởng quyền sở hữu tài khoản tiết kiệm của Edward Corcoran. Tổng số tiền trong tài khoản là 16 đô-la.

3

Phải, Edward Corcoran không còn trên cõi đời này.

Cậu bé trút hơi thở cuối cùng vào đêm ngày 19 tháng 6, ông bố dượng không liên quan gì đến vụ việc. Cậu chết trong lúc Ben Hanscom đang ngồi ở nhà xem ti vi cùng mẹ, lúc mẹ của Eddie Kaspbrak lo lắng rằng trán của Eddie có dấu hiệu bị “sốt bóng ma” – căn bệnh ưa thích của bà, lúc bố dượng của Beverly Marsh – một người đàn ông cá mè một lứa, chí ít về tính khí, với bố dượng của Eddie và Dorsey Corcoran – tung một cú đá vào bàn tọa cô bé và sai cô bé “Đi ra rửa mấy cái đĩa chết bằm theo lời mẹ mày nói đi”, lúc Mike Hanlon bị một đám nam sinh trung học chửi bới (vài năm sau, một trong số đó sẽ trở thành bố của John “Webby” Garton, cậu thiếu niên kỳ thị giới tính thứ ba như hủi) khi chúng lái chiếc Dodge cũ chạy ngang qua trong lúc Mike nhổ cỏ dại ở khu vườn cạnh căn nhà nhỏ của gia đình Hanlon trên đường Witcham, cách không xa nông trại ông bố điên khùng của Henry Bowers là bao, lúc Richie Tozier đang lén lút ngắm nhìn hình của một cô gái ăn mặc nửa kín nửa hở trong tờ tạp chí Gem mà cậu tìm thấy dưới đáy ngăn đựng tất với quần lót của bố và cột cờ dựng thẳng đứng, lúc Bill Denbrough ném album ảnh của cậu em trai đã chết trong sự bàng hoàng đến hãi hùng.

Tất cả mọi đứa trẻ đều ngước mặt lên vào đúng khoảnh khắc Eddie Corcoran lìa đời… tựa hồ như nghe thấy tiếng rên khóc vẳng lại từ đằng xa, dù không ai trong số chúng nhớ mình đã hành động như thế.

Tờ News đã đúng một điều: điểm trong sổ liên lạc của Eddie rất tệ, do vậy cậu bé rất sợ việc về nhà và đối mặt với bố dượng. Chưa kể, tháng này, mẹ cậu và lão cãi nhau như cơm bữa. Đúng là chỉ đổ thêm dầu vào lửa. Khi to tiếng cãi nhau, mẹ cậu la lối những lời chỉ trích chẳng đâu vào đâu. Đáp lại những lời mắng chửi này, đầu tiên, ông bố dượng lầm bầm, sau đó quát bà im đi, và rồi gầm rống lên như con lợn lòi bị gai nhím thọc vào mõm. Dẫu vậy, Eddie chưa lần nào chứng kiến lão thượng cẳng tay, hạ cẳng chân với mẹ. Eddie nghĩ lão không dám làm thế. Vậy nên lão ta để dành nắm đấm cho Eddie và Dorsey, nhưng giờ Dorsey không còn nữa, Eddie lãnh đủ cả phần mình lẫn phần của em trai.

Những trận khẩu chiến này đến và đi theo chu kỳ. Tần suất của chúng dày đặc nhất vào cuối tháng, khi hóa đơn được gửi tới nhà. Thỉnh thoảng, đôi lần, khi mọi chuyện lên đến đỉnh điểm, hàng xóm phải gọi cảnh sát đến để yêu cầu họ ngừng chửi bới. Thường thì cãi vã đến đây là chấm dứt. Mẹ cậu sẽ giơ ngón tay thối trước mặt cảnh sát và thách thức ông ta gô cổ mình, nhưng người bố dượng hiếm khi tỏ thái độ bất kham.

Bố dượng rất sợ dính đến cảnh sát, Eddie thầm nghĩ.

Những lúc căng thẳng như thế, cậu bé chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt. Cái gì cũng phải liệu cơm gắp mắm. Cứ nhìn gương của Dorsey mà xem. Eddie không rõ chi tiết cụ thể, đúng hơn là không muốn biết, nhưng cậu cũng lờ mờ hiểu được phần nào. Cậu nghĩ Dorsey có mặt không đúng chỗ mà cũng chẳng đúng lúc: ai đời lại mò xuống ga-ra vào ngày cuối tháng. Bố mẹ nói với Eddie rằng Dorsey ngã khỏi thang trong ga-ra – “Có phải tôi mới dặn nó đừng leo trèo một lần đâu, tôi nói cả sáu chục lần rồi,” bố dượng của cậu nói – nhưng mẹ cậu chẳng bao giờ nhìn thẳng vào mắt cậu, trừ khi vô tình… và khi bốn mắt giao nhau, Eddie bắt gặp tia sáng yếu ớt, cáu bẳn, đầy sợ hãi trong mắt bà, mà cậu không thích điều đó chút nào. Còn lão ta chỉ lặng thinh ngồi ở bàn ăn với chai bia Rheingold trong tay, đôi mắt dưới hàng lông mày rậm rạp cau có nhìn vào vô định. Eddie không dám xớ rớ lại gần. Khi bố cậu rống lên, thông thường - không phải mọi lúc mà là thông thường - cậu vẫn toàn mạng. Khi lão im lặng, cậu càng phải cẩn trọng.

Hai đêm trước, lão đã ném một chiếc ghế vào người Eddie khi cậu bé chuyển kênh xem còn chương trình gì khác hay không - lão nhấc chiếc ghế bằng nhôm hình ống, lẳng nó qua đầu rồi thả tay. Chiếc ghế đập vào mông Eddie và làm cậu ngã nhào. Dù mông đau nhưng cậu bé biết như thế còn đỡ: chí ít nó không văng vào đầu.

Sau đó, một đêm nọ, chẳng hiểu hà cớ gì mà lão tỉnh dậy rồi trét một nắm khoai tây nghiền lên tóc Eddie. Tháng Chín vừa rồi, Eddie đi học về và nhỡ tay sập cửa đánh rầm lúc bố dượng đang ngủ. Macklin bước ra từ phòng ngủ, mặc độc chiếc quần đùi lòng thòng, tóc tai dựng ngược, mặt lún phún râu hai ngày cuối tuần chưa cạo, hơi thở phả mùi bia nốc trong hai ngày vừa rồi. “Đứng đấy, Eddie,” lão nói. “Để tao dạy mày cái tội dám đóng sập cánh cửa chết giẫm ấy.” Trong từ điển của Rich Macklin, “dạy” là uyển ngữ cho “đánh lên bờ xuống ruộng”. Và đó là điều lão làm với Eddie. Lúc lão ném cậu bé ra sảnh trước, Eddie không còn ý thức được gì. Trước đó, mẹ cậu đã gắn hai móc treo dưới thấp để cậu và Dorsey có thể treo áo khoác. Mũi thép cứng của móc treo chọc thẳng vào lưng Eddie, khiến cậu bất tỉnh. Chừng mười phút sau, cậu tỉnh lại và nghe thấy tiếng mẹ la hét bảo sẽ đưa Eddie đến bệnh viện và lão đừng hòng ngăn cản bà.

“Sau những gì xảy ra với Dorsey sao?” Bố dượng của cậu đối lại. “Cô muốn vào tù bóc lịch à?”

Thế là bà thôi nhắc đến bệnh viện. Bà dìu Eddie vào phòng, cậu nằm trên giường, run cầm cập, trán rịn mồ hôi mẹ mồ hôi con. Cậu rịt trong phòng suốt ba ngày tiếp theo, chỉ ra khỏi phòng lúc hai người lớn vắng nhà. Cậu tập tễnh lết vào nhà bếp, miệng rên ư ử rồi lấy chai whiskey bố dượng cất dưới bồn. Cậu hớp vài ngụm để làm dịu cơn đau. Sang ngày thứ năm, cơn đau gần như hết hẳn, nhưng cậu đi tiểu ra máu gần hai tuần liền.

Thêm một chuyện, cây búa không còn trong ga-ra nữa.

thế thì sao? Thế thì sao nào, bà con cô bác ơi?

À, chiếc búa hiệu Craftsman – tức chiếc búa bình thường - vẫn còn đó. Còn cây búa không giật hiệu Scotti mới mất tăm mất tích. Đó là cây búa đặc biệt của bố dượng mà cậu và Dorsey không được phép động vào. Vào hôm mua búa, lão đã dọa hai con: “Nếu một trong hai đứa chúng mày rớ vào nó, tao sẽ cho chúng mày lấy ruột làm mũ len bịt tai.” Dorsey rụt rè hỏi chiếc búa đắt lắm phải không. Lão bảo thằng bé nói chuẩn không cần chỉnh. Lão giải thích trong búa chứa các vòng bi, dù nện búa mạnh cỡ nào, búa cũng không giật lên.

Nhưng giờ nó mất rồi.

Từ ngày mẹ tái hôn, điểm số của Eddie ngày càng sa sút vì cậu nghỉ học rất nhiều, nhưng cậu bé không hề ngu ngốc. Trong thâm tâm, cậu biết điều gì đã xảy ra với chiếc búa không giật hiệu Scotti ấy. Tận đáy lòng mình, cậu đoán bố dượng đã dùng nó để giết Dorsey rồi chôn nó trong vườn hoặc vứt xuống Kênh Đào. Trong những cuốn truyện kinh dị Eddie hay đọc và cất ở ngăn trên cùng của tủ quần áo, tình tiết kiểu này xảy ra như cơm bữa.

Cậu tiến về phía Kênh Đào, nước lăn tăn hai bờ bê tông như lụa loang loáng dầu. Mảnh trăng lấp lánh trên mặt nước tối đen thành hình lưỡi liềm. Cậu ngồi xuống, khe khẽ đung đưa chân vào bờ kênh thành những tiếng lộp cộp. Sáu tuần vừa rồi, thời tiết khá khô, nước chảy cách để giày mòn vẹt của cậu chừng ba mét. Nhưng nếu nhìn kỹ đôi bờ Kênh Đào, ta có thể thấy các mức mà thỉnh thoảng nước dâng lên. Bờ kênh chuyển màu nâu đen ngay trên mức nước hiện tại. Phần màu nâu này từ từ phai thành màu vàng, sau đó, ở độ cao mà gót giày Eddie chạm vào khi vung chân, nó biến thành màu trăng trắng.

Dòng nước êm đềm, lặng lẽ chảy ra khỏi vòm bê tông được lát sỏi bên trong, ngang qua chỗ Eddie ngồi rồi chảy xuống phần chân cầu bằng gỗ chằng chịt chữ giữa công viên Bassey và trường Trung học Derry. Hai bên cầu và phần trụ cầu – ngay cả thanh dầm bên dưới – đều được khắc lố nhố các chữ viết tắt, số điện thoại và đủ thể loại câu chữ. Câu bộc bạch tình yêu, câu tuyên bố ai đó chỉ giỏi “bú” hoặc “thổi”; câu dọa dẫm kẻ nào bị phát hiện làm trò bú hoặc thổi sẽ mất bao quy đầu hoặc bị nhét nhựa đường vào lỗ hậu, thỉnh thoảng lại có vài câu vớ vẩn chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao. Một câu khiến Eddie vò đầu bứt tai suốt mùa xuân vừa rồi ghi CỨU DÂN DO THÁI NGA! THU THẬP GIẢI THƯỞNG GIÁ TRỊ!

Câu này có nghĩa là gì? Hay nó vô nghĩa? Và nó có quan trọng không?

Tối ấy, Eddie không đi lên cầu Hôn Nhau; cậu chẳng ham bước sang phía trường học. Cậu nghĩ có lẽ mình sẽ qua đêm trong công viên, trên đống lá khô dưới nhà chòi, còn giờ cứ ngồi ở đây cũng hay. Cậu thích công viên và rất hay đến vào những lúc phải suy tư. Thỉnh thoảng có vài người hôn hít, sờ soạng nhau trong lùm cây rải rác ở công viên, nhưng Eddie mặc kệ họ, và ngược lại, nước sông không phạm nước giếng. Cậu từng nghe mọi người rỉ tai nhau trên sân trường những câu chuyện khủng khiếp về đám đồng bóng mò vào công viên Bassey gạ gẫm khi chiều xuống, cậu nghe thế chứ chẳng thắc mắc gì thêm, vì cậu chưa lần nào bị quấy nhiễu. Công viên rất yên bình, và cá nhân cậu thấy địa điểm tuyệt nhất là ở chính vị trí cậu đang ngồi. Cậu thích đến đây vào giữa hè, khi đó, mực nước thấp đến độ nước róc rách len lỏi qua các hòn đá rồi tách thành những nhánh nhỏ ngoằn ngoèo uốn lượn, rồi thỉnh thoảng lại nhập vào nhau. Cậu thích công viên vào cuối tháng Ba hoặc đầu tháng Tư, khi tuyết vừa tan, thỉnh thoảng cậu có thể đứng cạnh Kênh Đào (không ngồi được vì quá lạnh; mông sẽ đông thành đá mất) cả tiếng đồng hồ hoặc hơn, kéo mũ chiếc áo khoác chật chội do mặc đã hơn hai năm lên cao, đút tay vào túi, chẳng để tâm cơ thể gầy gò của cậu đang run lẩy bẩy. Chừng một hoặc hai tuần sau khi băng tan, Kênh Đào sở hữu một sức mạnh tồi tệ khó cưỡng. Cậu rất lấy làm thích thú trước cảnh nước tung trắng xóa từ vòm kênh lát sỏi, ào ào chạy ngang qua cậu, mang theo nhánh cây, cành cây và đủ thể loại rác rến của con người. Rất nhiều lần, cậu đã tưởng tượng cảnh mình bước đi bên cạnh Kênh Đào vào tháng Ba cùng bố dượng rồi đẩy lão khốn khiếp ấy thật mạnh. Lão sẽ hét vang và ngã xuống, hai tay cuống cuồng chới với tìm thăng bằng, Eddie sẽ đứng trên ụ bê tông nhìn lão bị cuốn trôi theo dòng nước, đầu như khối đen lúc chìm lúc nổi giữa dòng nước trắng xóa hung hãn. Cậu sẽ đứng đó, phải, cậu sẽ khum tay quanh miệng và hét lớn: TÔI TRẢ ĐŨA CHO DORSEY ĐẤY, ĐỒ SÚC SINH! KHI XUỐNG ĐỊA NGỤC, HÃY NÓI VỚI QUỸ DỮ RẰNG LỜI CUỐI CÙNG ÔNG NGHE LÀ TÔI NÓI ÔNG CÓ GIỎI THÌ ĐÁNH NHAU VỚI KẺ NGANG MÌNH ĐI! Tất nhiên, điều này sẽ chẳng bao giờ xảy ra, nhưng chỉ tưởng tượng thôi cũng đã thấy hoành tráng. Cậu cứ thả hồn vào giấc mơ ấy, một giấc mơ tuyệt…

Bỗng dưng, có một cánh tay chộp lấy chân của Eddie.

Cậu đang đưa mắt nhìn qua Kênh Đào hướng về ngôi trường, nở nụ cười mơ màng và tươi tắn khi tưởng tượng cảnh lão bố dượng bị dòng nước lũ mùa xuân cuốn phăng, một đi không trở lại cuộc đời cậu. Bàn tay nắm lấy chân cầu tuy nhẹ nhưng khiến cậu giật mình, suýt chút nữa mất thăng bằng mà ngã nhào xuống Kênh Đào.

Là một tên đồng bóng mà mấy anh lớp trên hay kể ư, cậu chột dạ nhìn xuống. Miệng cậu há hốc. Nước tiểu nóng ẩm són xuống hai chân, biến chiếc quần jean của cậu ngả đen trong ánh trăng. Không có tên đồng bóng nào cả.

Mà là Dorsey.

Là Dorsey trong bộ dạng như lúc được chôn cất, Dorsey mặc áo âu phục xanh và quần xám, chỉ có điều chiếc áo lúc này tả tơi và lấm lem bùn đất, áo của em ấy như mớ giẻ rách vàng ố, quần ướt sũng, dính vào đôi chân khẳng khiu như que củi. Và đầu của Dorsey méo mó dị dạng, như thể nó lõm sâu ở đằng sau nên bị lồi ra ở đằng trước.

Dorsey đang nhoẻn miệng cười.

“Eddieeeee,” đứa em trai đã qua đời của cậu rên rỉ như người chết đội mồ sống dậy trong truyện kinh dị. Nụ cười của Dorsey nở rộng. Hàm răng vàng ố lóe sáng, và ẩn sâu trong bóng tối ấy, có thứ gì đó lúc nhúc.

“Eddieeee… Em đến gặp anh đây, Eddieeeeee…”

Eddie những muốn hét lên những cơn hoảng loạn như đợt sóng dồn dập ập vào cậu, và cậu có cảm giác thật lạ, tựa hồ cậu đang trôi bồng bềnh. Nhưng đây không phải là một giấc mơ, cậu đang thức. Bàn tay nắm chiếc giày của cậu trắng hếu như bụng cá hồi. Bằng cách nào đó, chân của em trai cậu bám vào bờ tường bê tông. Một bên gót chân Dorsey bị thứ gì đó cắn mất.

“Xuống đây nào, Eddieeeee…”

Eddie không tài nào thét lên nổi. Phổi cậu không chứa đủ “Á” để cậu thét thành tiếng. Cậu chỉ ré lên khe khẽ chứ chẳng có sức hét to. Nhưng đành thế thôi. Trong vòng chưa tới vài giây, tâm trí cậu sẽ tắt phụt, để rồi sau đó, mọi thứ sẽ chẳng còn nghĩa lý gì. Tay của Dorsey nhỏ nhưng chắc như đá. Mông Eddie dần trượt khỏi bờ bê tông xuống rìa Kênh Đào.

Miệng vẫn chưa thôi ré lên, cậu quơ quàng ra sau, níu lấy bờ bê tông và giật người lại. Cậu cảm thấy bàn tay trượt đi trong chốc lát rồi nghe thấy tiếng rít lên đầy tức giận. Lúc ấy, cậu kịp có thời gian để suy nghĩ: Dorsey. Mình không biết nó là gì nhưng không phải là Dorsey. Đoạn adrenaline ngập tràn trong cơ thể, cậu cuống cuồng bò đi, cố chạy ngay cả khi chưa kịp đứng dậy, thở hồng hộc đứt đoạn.

Đôi tay trắng hếu hiện lên trên bờ bê tông của Kênh Đào. Tiếp đến là lõm bõm tiếng nước. Nước bắn lên lấp lánh dưới ánh trăng từ làn da bọt bạt của người chết. Mặt của Dorsey ló ra từ bờ rìa. Ánh đỏ lấp lóe trong đôi mắt trũng sâu. Mái tóc ướt bết vào đầu. Đất bùn nhoe nhoét trên mặt như màu vẽ.

Rốt cuộc, lồng ngực của Eddie bật tung. Cậu hít thật sâu rồi cất tiếng thét hãi hùng. Cậu vội vàng đứng lên, co giò chạy. Vừa chạy, cậu vừa ngoái lại đằng sau để xem Dorsey có bén gót theo không, vì thế, cậu đâm sầm vào một cây du lớn.

Cảm giác như có ai đó – ví dụ như lão bố dượng chẳng hạn - vừa kích hoạt thuốc nổ ở vai trái của cậu. Cậu nổ đom đóm, ngã vật xuống gốc cây như thể vừa bị rìu quật vào người, máu rỉ ra từ thái dương bên trái. Trong khoảng chín mươi giây, cậu chới với trong váng vất. Rồi cậu gắng sức đứng dậy trở lại. Cậu không nhịn nổi mà rên lên khi cố nâng cánh tay trái. Nó không cử động, tê liệt và xa xôi. Thấy vậy, cậu giơ tay phải lên chà xát điên cuồng vào quả đầu đau như búa bổ của mình.

Đoạn cậu chợt nhớ ra lý do tại sao mình lại cắm đầu tông thẳng vào cây du, bèn đưa mắt nhìn quanh.

Rìa Kênh Đào ở đằng kia, trắng hếu như xương và thẳng như dây đàn dưới ánh trăng. Không thấy thứ bò lên từ Kênh Đào đâu… nếu thứ đó có thật. Cậu tiếp tục xoay người, chậm chạp nhìn đủ mọi góc độ. Công viên Bassey im ắng và tĩnh lặng như một bức ảnh đen trắng. Hàng liễu rủ đung đưa những nhành cây tối tăm, chỗ nấp lý tưởng cho bất cứ thứ điên rồ, khoằm lưng nào bên trong.

Eddie lê bước, cố gắng giữ tầm mắt mình thật rộng. Bên vai bị trật nhói đau theo nhịp tim thình thịch của cậu.

Eddieeeee , tiếng gió khẽ rên rỉ qua hàng cây, anh không muốn gặp em saoooo, Eddieeeee ? Cậu cảm thấy những ngón tay nhẽo nhoẹt của xác chết vuốt qua cổ mình. Cậu quáng quàng vung tay rối rít. Chân cậu loạng choạng khiến cậu ngã chổng vó, và khi ấy, cậu nhận ra hóa ra chỉ là lá liễu xào xạc theo cơn gió.

Cậu lại đứng dậy. Cậu muốn chạy nhưng vừa dợm chạy đi thì một đợt thuốc nổ lại nổ tung ở vai nên cậu buộc phải dừng lại. Cậu dặn lòng giờ này thì còn sợ gì nữa, tự mắng mình đúng là to đầu mà dại, không dừng lại hoảng hồn vì ảo giác hoặc vì ngủ quên rồi gặp ác mộng. Nhưng muốn là một chuyện, làm được hay không lại là chuyện khác. Tim cậu đập nhanh đến độ cậu không còn phân biệt rõ những tiếng thình thịch nữa, và cậu dám chắc không sớm thì muộn, tim cậu sẽ nổ tung vì sợ. Tuy không thể chạy, cậu vẫn có thể cà nhắc lê chân khi bước ra khỏi rặng liễu.

Cậu nhìn chăm chăm vào ngọn đèn đường ở ngay cổng chính của công viên. Cậu hướng thẳng đến đó, rảo bước nhanh hơn một chút, thầm nhủ trong đầu: Mình sắp bước ra ánh sáng, mọi chuyện êm đẹp rồi. Mình sắp bước ra ánh sáng, mọi chuyện êm đẹp rồi. Ánh sáng rực rỡ, không còn sợ hãi, ánh đèn sáng choang cả đêm tối, khung cảnh sao tuyệt vời…

Có thứ gì đó đang bám theo cậu.

Eddie nghe thấy nó tìm đường qua hàng liễu. Nếu quay lại, cậu sẽ trông thấy nó mất. Nó đang tăng tốc. Cậu nghe thấy tiếng chân của nó, bước đi sột soạt, lép nhép, nhưng cậu không dám ngoái lại, không được, cậu phải nhìn về phía ánh sáng, rồi mọi chuyện sẽ êm đẹp, cậu chỉ cần cao chạy xa bay vào thứ ánh sáng kia, cậu gần đến đích rồi, gần rồi…

Nhưng thứ mùi xộc lên khiến cậu phải ngoái lại. Thứ mùi choáng ngợp, tanh tưởi như đống cá để ươm dưới nắng hè, bầy nhầy và nồng nặc. Đó là thứ mùi của biển chết.

Thứ đuổi theo cậu không phải là Dorsey nữa mà là Sinh vật từ Đầm phá Hắc ám. Mõm của nó vừa dài vừa nhăn nheo. Trên má nó ứa ra thứ dịch xanh từ những vết cắt đen đúa như cái miệng dựng thẳng đứng. Mắt nó trắng dã, nhầy nhầy. Tay nó có màng, đầu ngón tay là móng vuốt sắc như dao cạo. Hơi thở của nó phì phò, như tiếng thở của người thợ lặn vớ phải bình dưỡng khí không tốt. Khi thấy Eddie nhìn mình, cái môi xanh đen của nó nhếch lên nhăn nhúm, tạo thành một nụ cười chết chóc, trống rỗng, để lộ những chiếc răng nanh to gộ.

Nó lết về phía cậu, vừa đi vừa chảy dịch, và Eddie chợt ngộ ra: nó muốn bắt cậu xuống Kênh Đào, nó muốn đưa cậu vào màn đêm tăm tối ẩm ướt trong đường hầm dưới đất của con kênh. Để ăn tươi nuốt sống cậu ở trong đó.

Eddie vùng chạy. Đèn hồ quang ở cổng càng lúc càng gần thêm. Cậu có thể thấy bọ và bướm đêm bâu quanh bóng đèn. Chiếc xe tải vụt qua, hướng về phía Đường số 2, người tài xế từ từ tăng tốc, và trong tâm trí hãi hùng, tuyệt vọng của Eddie vụt qua suy nghĩ người lái xe ấy có thể đang uống cà phê đựng trong cốc giấy, lắng nghe một bài ca của Buddy Holly trên đài, không hề hay biết cách đó chừng hai trăm mét, một cậu bé sắp mất mạng trong chưa tới hai mươi giây nữa.

Thứ mùi tanh tưởi. Thứ mùi tanh tưởi càng lúc càng nồng nặc. Nó bao phủ xung quanh cậu.

Cậu vấp phải băng ghế trong công viên. Trước đó, vài đứa nhóc đã hất đổ nó, hối hả chạy về nhà cho kịp giờ giới nghiêm. Mặt ghế thò ra khỏi cả vài phân, cả hai lại đồng màu xanh, nhập nhoạng trong công viên huyền hoặc ánh trăng. Mép ghế đập vào cổ chân Eddie khiến cậu đau thấu xương. Chân cầu trượt ra sau, cả người ngã ập xuống bãi cỏ.

Cậu nhìn ra sau thì trông thấy Sinh vật kia cúi người xuống, đôi mắt trắng dã như trứng ánh lên, vảy của nó chảy thứ chất nhờn màu xanh rong biển, mang phập phồng lên xuống trên cái cổ lồi và hai bên má hết mở ra lại đóng vào.

“Ặc!” Eddie nên lên. Cậu chẳng nói được gì ngoài những tiếng lắp bắp ấy. “Ặc! Ặc! Ặc! Ặc!”

Cậu bò toài, tay vọc sâu vào cỏ. Lưỡi cậu thè ra.

Khoảnh khắc bàn tay chai cứng hôi tanh của sinh vật ấy vòng quanh họng của Eddie, một suy nghĩ dường như tự huyễn lướt qua đầu cậu bé: Đây chỉ là giấc mơ, chắc chắn là vậy. Sinh vật Đầm phá Hắc ám làm gì có thật kia chứ, Đầm phá Hắc ám làm gì tồn tại trên đời, nếu có chăng nữa, ở Nam Mỹ hay đầm lầy Everglades tại Florida hoặc những nơi tương tự thì may ra. Đây chỉ là một giấc mơ, và mình sẽ tỉnh dậy trên giường hoặc trên đống lá dưới chòi, rồi mình sẽ…

Hai bàn tay có màng siết quanh cổ khiến tiếng hét khô khốc của Eddie bị chặn lại. Sinh vật ấy lật người cậu lại, những cái gai sần sùi mọc trên tay cào vào cổ cậu chảy máu thành những đường ngang dọc. Cậu nhìn thẳng vào đôi mắt trắng dã đang ánh lên của nó. Cậu cảm nhận lớp màng giữa những ngón tay của nó đang siết vào cổ cậu như đống tảo biển đang xoắn lại. Thị lực như được mài giũa bởi sợ hãi, cậu nhìn rõ mồn một vảy của nó, vừa hao hao mào gà vừa hao hao vảy độc trên lưng cá đầu bò nâu, dựng ngược trên cái đầu bò sát đang khòm khòm. Khi đôi tay nó siết chặt, chặn đứng không khí luồn vào phổi cậu, cậu vẫn nhác thấy ánh sáng trắng của đèn hồ quang chuyển sang màu xanh ám muội khi xuyên qua lớp vảy màng trên đầu nó.

“Mày… không… có thật,” Eddie ngạt thở, nhưng những đám mây tối tăm đang bủa vây tâm trí, để rồi cậu mơ hồ nhận ra thứ Sinh vật này đang sờ sờ trên đời. Bởi ngay lúc này, nó đang giết cậu.

Nhưng trong đầu cậu vẫn sót lại chút lý trí, đến tận phút cuối cùng: lúc Sinh vật ấy quặp móng vuốt vào phần thịt mềm trên cổ của cậu, lúc động mạch cảnh của cậu tứa ra dòng máu ấm và chẳng hề đau đớn, phụt bắn lên lớp vỏ bò sát của con quái vật kia. Eddie đưa tay mò mẫm phía sau lưng Sinh vật ấy nhằm tìm khóa kéo. Cánh tay cậu chỉ buông thõng khi Sinh vật nọ xé toạc đầu cậu khỏi vai, miệng gầm gừ đầy thích thú.

Và khi hình ảnh của Nó trong mắt Eddie bắt đầu phai dần, Nó liền biến hình thành thứ khác.

4

Trằn trọc không ngủ được, lại bị cơn ác mộng hành hạ, cậu bé tên Michael Hanlon tỉnh dậy ngay khi tia sáng đầu tiên vừa le lói vào ngày đầu tiên của kỳ nghỉ hè. Tia sáng mờ nhạt trong sương, báo hiệu khởi đầu của một ngày hè hoàn hảo. Màn sương dày đặc là là dưới thấp đến 8 giờ sáng sẽ tản đi hết.

Nhưng đó là lát nữa. Còn hiện tại, vạn vật chìm trong sắc xám pha hồng, tịnh không tiếng động, tựa chú mèo lướt đi trên thảm.

Trong chiếc quần nhung kẻ, áo thun, chân mang đôi giày Keds màu đen cao cổ, Mike bước xuống lầu, ăn tô ngũ cốc Wheaties (thật ra cậu chẳng khoái Wheaties cho lắm nhưng cậu ham hố quà khuyến mãi trong hộp - Nhẫn giải mã ma thuật của Đội trưởng Nửa đêm), sau đó nhảy lên xe đạp, hướng về phía trung tâm thành phố, cẩn thận lách chiếc xe trên vỉa hè do sương mù cản tầm nhìn. Sương mù khoác tấm màn mới cho vạn vật, biến thứ bình thường nhất như vòi cứu hỏa hay biển báo dừng lại trở nên bí ẩn - vừa kỳ dị vừa có chút gì đó ma mị. Ta có thể nghe thấy tiếng xe nhưng không trông thấy chúng, màn sương dường như bóp méo âm thanh, khiến ta chẳng biết xe đang ở gần hay xa cho đến khi thấy chúng lao ra từ trong sương với ánh đèn pha bao quanh bởi quầng hơi ẩm ma quái.

Cậu rẽ phải ở đường Jackson, băng qua trung tâm thị trấn đến đường Chính qua ngõ Palmer – và trong lúc chạy dọc theo dãy nhà trên đoạn đường hai chiều này, cậu đi ngang qua căn nhà nơi cậu sẽ an cư khi trưởng thành. Nhưng cậu chẳng hề nhìn vào; bởi dù gì nó cũng chỉ là một căn nhà hai tầng nhỏ với ga-ra và bãi cỏ con con. Nó chẳng tỏa ra khí chất đặc biệt thu hút cậu bé đi ngang qua đây, dù sau này lớn lên, cậu sẽ sống một thân một mình ở đó gần hết quãng đời.

Ở đường Chính, cậu rẽ phải và đi đến công viên Bassey, bâng quơ đạp xe lòng vòng, tận hưởng ngày mới tinh khôi. Chạy qua cổng chính, cậu xuống xe, gạt chân chống rồi đi bộ đến Kênh Đào. Cậu ý thức mình đến đây chỉ vì nổi hứng bất chợt chứ chẳng có nguyên nhân gì sâu xa. Hẳn nhiên, cậu không hề nghĩ những giấc mơ đêm qua ảnh hưởng đến lộ trình của cậu, thậm chí cậu còn chẳng nhớ mình chiêm bao thấy gì - chỉ biết giấc mơ cứ dồn dập ập đến cho tới khi cậu tỉnh giấc lúc 5 giờ sáng, run cầm cập dù người mướt mải mồ hôi, với một suy nghĩ neo trong đầu: cậu phải ăn sáng cho mau để đạp xe vào thị trấn.

Lẫn trong sương mù ở công viên Bassey thoang thoảng thứ mùi cậu không thích: mùi của biển, mặn và cũ. Tất nhiên cậu từng ngửi thấy mùi này rồi. Thỉnh thoảng, ta có thể ngửi thấy mùi biển giữa làn sương sớm ở Derry, dù biển cách đó hơn sáu mươi ki-lô-mét.

Nhưng buổi sáng hôm nay, thứ mùi ấy dày đặc hơn, sống động hơn. Gần như nguy hiểm.

Có gì đó lọt vào tầm mắt cậu. Cúi xuống, cậu nhặt lên một con dao bỏ túi hai lưỡi rẻ tiền. Ai đó đã khắc hai chữ cái EC lên con dao. Mike chăm chú nhìn nó một lúc rồi bỏ vào túi. Người ta bảo vô tay quan là của quan mà.

Cậu nhìn xung quanh. Gần chỗ cậu tìm thấy con dao có một băng ghế nằm chỏng chơ. Cậu dựng nó lại ngay ngắn, đẩy chân sắt vào vị trí lỗ mà chiếc ghế vô tình hình thành sau ròng rã tháng năm. Đằng sau băng ghế là một bụi cỏ bị dập nát… và cách đó không xa, trên mặt đất hằn hai rãnh dài. Cỏ đã vươn mình trở lại, nhưng hai rãnh vẫn còn rõ nét. Chúng hướng về phía Kênh Đào. Và ô kìa, có vết máu.

(con chim nhớ lại con chim nhớ lại con)

Nhưng cậu không muốn nhớ lại con chim, vì thế, cậu gạt suy nghĩ ấy đi. Hai con chó vần nhau, thế thôi. Một trong hai con hẳn đã bị thương nặng. Giả thuyết nghe thì có vẻ thuyết phục, nhưng cậu chẳng tin chút nào. Những suy nghĩ về con chim cứ mấp mé trong đầu - con chim cậu thấy bên ngoài Xưởng đúc Kitchener, loài mà Stan Uris sẽ chẳng bao giờ tìm được trong cuốn sách về chim của mình.

Nhưng cậu không quay trở ra mà lần theo vết rãnh. Vừa đi, cậu vừa tưởng tượng một câu chuyện trong đầu. Chuyện về vụ án mạng. Có đứa trẻ nào đấy lang thang bên ngoài khi đã quá giờ giới nghiêm. Tên sát nhân đã xuống tay với cậu ta. Và hắn thủ tiêu cái xác ở đâu? Hắn kéo xác đến Kênh Đào rồi vứt xuống dưới, tất nhiên rồi! Như một bộ phim mà Alfred Hitchcock hân hạnh giới thiệu!

Cậu suy đoán dấu vết mình lần theo có thể là của một đôi giày bị kéo lê.

Rùng mình, Mike đưa mắt rụt rè nhìn xung quanh. Sao câu chuyện thật quá!

Và giả sử kẻ sát nhân không phải con người mà là quái vật thì sao. Như quái vật trong truyện kinh dị hoặc sách kinh dị hoặc phim kinh dị hoặc

(một cơn ác mộng)

một câu chuyện cổ tích hay gì đó.

Cậu tự nhủ mình không thích câu chuyện ấy. Rõ là nhảm nhí. Cậu cố gắng gạt nó ra khỏi đầu, thế mà nó cứ ở lì tại đó. À, mày thích ở lại sao? Cứ việc. Rõ là ngu ngốc. Rõ là ngớ ngẩn mới đạp xe vào thị trấn từ sáng tinh mơ thế này. Rõ là đần độn mới lần theo hai rãnh lằn trên cỏ ấy. Hôm nay, bố cậu có cả núi việc nhà cho cậu giải quyết. Cậu phải mau mau về nhà và bắt tay vào làm, kẻo buổi chiều, lúc trời nóng như thiêu như đốt, cậu sẽ phải oằn lưng trên gác xép trang trại mà cào rơm mất. Ừ, cậu phải về thôi. Cậu sẽ làm thế ngay bây giờ.

Chắc chắn rồi, cậu nghĩ. Cá không?

Nhưng thay vì quay trở lại chiếc xe đạp, nhảy phốc lên xe về nhà làm việc, cậu lại bước theo rãnh hằn trên cỏ. Đây đó vương vãi máu khô. Song không nhiều lắm. Không nhiều như ở chỗ bãi cỏ bị dập nát gần băng ghế mà cậu dựng lên ngay ngắn.

Mike có thể nghe thấy tiếng rì rầm của Kênh Đào. Lát sau, cậu nhìn thấy bờ đê bằng bê tông hiện ra trong sương mù.

Có thứ gì đó trong bụi cỏ. Trời ơi, hôm nay là ngày gì mà tìm được lắm thứ thế, tâm trí cậu pha trò, bỗng dưng một con mòng biển kêu lên khiến Mike chùn bước, bởi cậu nhớ lại con chim mà cậu thấy vào mùa xuân vừa rồi.

Dù trong bụi cỏ có thứ gì cũng mặc kệ, mình không muốn thấy. Ôi quả thật là thế, nhưng cậu nghĩ một đằng, tay chân lại làm một nẻo, chưa gì cậu đã cúi người, tay tựa vào đầu gối để nhìn cho rõ.

Cậu trông thấy mảnh vải rách dây máu.

Chim mòng biển lại rít lên. Mike chằm chằm nhìn miếng vải dính máu và nhớ lại chuyện xảy ra với mình vào mùa xuân năm ấy.

5

Hằng năm, vào tháng Tư và tháng Năm, nông trại nhà Hanlon như tỉnh dậy từ giấc ngủ đông.

Với Mike, mùa xuân về không báo hiệu bằng những bông hoa nghệ tây bên bệ cửa sổ trong căn bếp của mẹ, bằng việc đám trẻ con bắt đầu mang những hòn bi ve thủy tinh và bi ve sứ đến trường, cũng chẳng phải việc đội Washington Senators bắt đầu mùa giải bóng chày (thường thì càng vào trong, đội càng thất bại thảm hại). Mike biết mùa xuân đã đến khi bố gọi cậu xuống phụ ông đẩy xe tải tạp nham ra khỏi nông trại. Đầu xe là chiếc Ford Model-A cũ, đuôi xe là bán tải với cốp sau trưng dụng cánh cửa chuồng gà cũ. Nếu mùa đông không quá lạnh, hai bố con có thể “nổ” xe bằng cách đẩy nó xuống đường. Đầu xe không có cửa, cũng chẳng có chắn gió. Ghế ngồi là nửa chiếc sô pha cũ mà Will Hanlon sục sạo được từ bãi rác Derry. Cần số cũng biến tấu từ tay nắm cửa bằng thủy tinh.

Hai bố con sẽ đẩy xe xuống đường, mỗi người một bên, và khi xe đã chạy rồi, Will nhảy lên xe, bật công tắc, nổ máy, đạp côn, kéo cần lên số một bằng bàn tay to bè giữ chặt nắm cửa. Rồi ông la to: “Vượt qua đoạn xương nhất nào!” Ông sẽ nhả côn, khiến động cơ Ford cũ kỹ khục khặc, khèn khẹt và bình bịch, nổ lộp bộp… và thỉnh thoảng nó sẽ lăn bánh, ban đầu hơi khó khăn, sau đó mượt dần. Will sẽ chạy xuống con đường dẫn đến nông trại Rhulin, vòng lại đường nhà mình (nếu ông đi sang hướng kia, khéo có khi Butch - ông bố điên khùng của Henry Bowers – sẽ vác súng săn ra bắn nổ đầu ông), rồi lái về nhà, động cơ bình bịch kêu to như bô làng trong khi Mike nhảy cẫng lên hú hét vì thích thú, còn mẹ cậu đứng ở cửa căn bếp, chùi tay lên khăn lau chén, ngoài mặt giả vờ ra vẻ khó chịu.

Còn vào những lần đẩy mà chiếc xe không chịu khởi động, Mike sẽ phải đợi bố cuốc bộ trở lại nông trại, lấy cần quay tay, lầm bầm gì đó trong miệng. Mike dám chắc một số câu bố thốt ra là rủa xả gì đó, những lúc như vậy, cậu lại cảm thấy hơi sợ bố mình. (Mãi về sau, trong chuỗi ngày vô tận ra vào phòng bệnh nơi Will Hanlon hấp hối, một ngày nọ, Mike mới biết thì ra bố anh lầm bầm là vì ông sợ cái cần quay tay ấy: có lần nó bật tung ra sau, bay ra khỏi lỗ và rạch toác mép miệng của ông.)

“Lùi lại, Mikey,” ông lên tiếng, đẩy cần quay tay vào lỗ dưới bộ tản nhiệt. Và khi chiếc Model-A chịu khởi động, ông cằn nhằn bảo năm sau sẽ đổi sang đầu Chevrolet, nhưng ông chỉ nói thế chứ chẳng bao giờ làm. Chiếc Ford Model-A nửa này nửa nọ ấy vẫn nằm sau nhà, Cỏ dại mọc cao ngang trục xe và cửa sau vốn là cửa chuồng gà.

Khi xe chạy, Mike ngồi trên ghế hành khách, ngửi mùi xăng nồng và mùi khí thải xanh dương, sung sướng tận hưởng cơn gió mát luồn qua cái lỗ trống hoác từng là kính chắn gió, lòng thầm reo vui: Và tận trong tâm khảm, cậu sẽ âm thầm reo hò, rộn ràng đến độ căn phòng vui tươi nhất cũng phải rúng động. Cậu cảm thấy yêu thương đong đầy nhân gian, bởi khi ấy bố cậu sẽ nở nụ cười thật tươi và hét lớn: “Bám chặt vào, Mikey! Bố con mình tăng tốc đây! Chuẩn bị làm lũ chim hết hồn hết vía nào!”

Đoạn bố cậu băng băng trên con đường, bánh sau của chiếc A-Ford bắn phụt đất đen và những vệt bùn xám ra sau, còn hai bố con nảy lên nảy xuống trên chiếc ghế sô pha bên trong đầu xe trống hoác, cười ha hả như đám dở hơi bẩm sinh. Và rồi Will lái chiếc A-Ford qua đám cỏ cao ở cánh đồng phía sau nhà, vốn được dùng để trữ cỏ khô, chạy về cánh đồng phía nam (trồng khoai tây), cánh đồng phía tây (trồng bắp và đậu) và cánh đồng phía đông (trồng đậu, bí đao, bí ngô). Bố con cậu đi đến đâu, chim chóc chộn rộn vụt ra từ lùm cỏ phía trước xe đến đấy, quác quác như chợ vỡ. Có lần một con gà gô bay lên, thân vừa to vừa nâu như cây sồi cuối thu, tiếng đập cánh lạch phạch to đến độ dù tiếng động cơ ầm ĩ như thế mà vẫn không bị át.

Những lần được bố chở là cánh cửa mở vào mùa xuân đối với Mike Hanlon.

Công việc đồng áng bắt đầu bằng việc thu gom đá. Trong một tuần liền, hằng ngày, hai bố con phải lấy chiếc A-Ford và chất những tảng đá cứng đủ sức làm gãy lưỡi cày khi đến thời điểm xới đất. Thỉnh thoảng, chiếc xe còn mắc kẹt trong vũng bùn và ông Will sẽ lầm bầm bực bội… Mike đoán hầu hết là những câu chửi tục. Một số câu từ bố nói cậu có biết, nhưng nhiều cụm từ như “đĩ mẹ” lại khiến cậu băn khoăn. Cậu từng đọc thấy từ này trong Kinh Thánh, và theo như cậu hiểu, đĩ là người phụ nữ đến từ nơi mang tên Babylon. Có lần cậu tính hỏi bố, nhưng chiếc A-Ford mắc kẹt trong bùn lầy đến lò xo cuộn, và dưới hàng lông mày của bố đã tụ đầy giông chớp rồi, cậu bèn đợi một lúc nào đó thích hợp hơn. Rốt cuộc, cuối năm đó, cậu đem thắc mắc ấy hỏi Richie Tozier thì Richie đáp rằng bố cậu ấy giải thích đĩ là người phụ nữ được trả tiền để mây mưa với đàn ông. “Mây mưa là cái gì?” Mike hỏi, nhưng Richie chỉ bỏ đi, tay ôm đầu.

Dạo nọ, Mike hỏi bố tại sao tháng Tư năm nào họ cũng phải thu gom đá, thế mà tháng Tư năm sau vẫn có nhiều đá như thế.

Hôm ấy là ngày cuối của đợt thu gom đá, hai bố con đang đứng ở bãi đổ đá lúc hoàng hôn buông xuống. Lối mòn bằng đất, không đủ tươm tất để gọi là một con đường đàng hoàng dẫn từ dưới cánh đồng phía tây lên phần rãnh nước gần bờ sông Kenduskeag. Rãnh nước này là một bãi đá lổn nhổn tích tụ trong đất nhà Will qua các năm.

Đưa mắt nhìn mảnh đất chó ăn đá, gà ăn sỏi mà ban đầu chỉ có mình ông cày bừa, mãi sau mới có thêm cậu con trai lăn vào giúp (ông biết đâu đó dưới lớp đất đá kia là những gốc cây còn sót lại, đang mục ruỗng dần, mà ngày xưa chính tay ông phải nhổ từng gốc thì mới mong canh tác được lên ruộng), Will châm một điếu thuốc lá và nói: “Ông nội thường bảo với bố rằng Chúa yêu đất đá, ruồi nhặng, cỏ dại và người nghèo hơn tất cả mọi tạo vật của Ngài, và đó chính là lý do ta có nhiều đá như thế đấy.”

“Nhưng cứ như thể năm nào chúng cũng quay trở lại vậy.”

“Ừ, bố cũng nghĩ chúng quay trở lại,” Will đồng tình. “Chứ bố cũng chẳng biết giải thích thế nào.”

Một con chim lặn cất tiếng hót từ xa xa bên kia sông Kenduskeag, trong ánh chiều chạng vạng vừa nhuốm mặt nước thành màu đỏ cam đậm. Tiếng kêu nghe thật cô liêu, thê lương đến độ đôi tay mệt nhoài của Mike nổi hết cả da gà mà cứng lại.

“Bố ơi, con thương bố lắm,” cậu thốt lên, cảm thấy tình thương trào dâng mãnh liệt đến độ sống mũi mình cay cay.

“Sao thế, bố cũng thương con lắm, Mikey,” bố đáp và vòng tay ôm cậu thật chặt. Mike cảm thấy lớp vải thô sần của chiếc áo bố mặc cọ vào má cậu. “Giờ bố con mình về thôi nhỉ? Mình còn phải tắm táp cho sạch sẽ trước khi người phụ nữ đảm đang của nhà ta nấu xong bữa tối.”

“Tuân chỉ bố, Mike nói.

“Tuân chỉ con,” Will Hanlon nói, và cả hai bố con phá lên cười, người mệt bã nhưng sảng khoái, tay chân được dịp lao động nhưng không quá sức, cánh tay cứng lại do bưng đá nhưng không quá đau.

Mùa xuân về rồi, tối hôm ấy Mike thầm nhủ, thiu thiu ngủ trong phòng, còn bố mẹ xem chương trình Vợ chồng son trong một căn phòng khác. Cậu xoay người ngủ, cả người buông thõng mỏi mệt, lắng nghe tiếng gà gô gáy vang, vùng đầm lầy cỏ của nó xa xôi, nửa thực nửa hư hòa vào giấc chiêm bao của cậu. Mùa xuân là mùa bận rộn nhưng tràn đầy niềm vui.

Sau khi hoàn tất thu nhặt đá, Will sẽ đậu chiếc A-Ford vào bụi cỏ cao phía sau nhà và lái máy kéo ra khỏi nông trại. Tiếp đến là quá trình cày bừa, bố cậu sẽ lái máy kéo, Mike lái theo phía sau, tay nắm chặt ghế sắt hoặc đi bên cạnh, nhặt những hòn đá còn sót lại và vứt qua một bên. Sau đó đến gieo hạt, gieo hạt xong là phần việc của mùa hè: xới đất… xới đất… xới đất. Mẹ cậu sẽ tân trang lại ba chú bù nhìn Larry, Moe và Curly, còn Mike sẽ phụ bố gắn coi nai sừng lên đầu bù nhìn rơm. Coi nai sừng là một cái lon được cắt ở hai đầu. Sau đó, ta cột thật chặt một đoạn dây đã bôi thật nhiều sáp ong và nhựa thông giữa cái lon, khi gió thổi qua, nó sẽ tạo ra một âm thanh vô cùng kỳ dị - giống tiếng ộp ộp rền rĩ. Sau một thời gian, Larry, Moe và Curly không ăn thua với đám chim ăn cây trồng sớm, nhưng còi nai sừng khi nào cũng dọa được chúng bay đi.

Qua đầu tháng Bảy, cậu vừa phải thu hoạch vừa phải xới đất – đầu tiên là đậu và củ cải, sau đó là xà lách, cà chua trồng trong thùng, tháng Tám có bắp và đậu, tháng Chín tiếp tục có thêm bắp và đậu, tiếp đến là bí đỏ và bí đao. Trong khoảng thời gian nói trên, khoai tây sẽ đến thời điểm thu hoạch, và khi ngày ngắn lại, không khí khô hanh hơn, bố con cậu sẽ cất còi nai sừng đi (lắm lúc giữa đông, mấy cái còi lại không cánh mà bay; cứ sang xuân là hai bố con lại phải làm cái mới). Sang hôm sau, Will gọi cho Norman Sadler (đầu óc ông này cũng không sáng láng hơn cậu con trai Moose bao nhiêu, nhưng được cái ông tốt bụng hơn vạn lần) và Normie sẽ mang máy đào khoai tây của mình qua.

Suốt ba tuần tiếp theo, tất cả bọn họ tập trung đào khoai tây. Ngoài huy động lực lượng trong gia đình, Will thuê thêm ba hay bốn cậu học sinh trung học giúp họ đào khoai, trả hai mươi lăm xu cho một thùng. Chiếc A-Ford sẽ từ từ chạy lên chạy xuống các luống khoai ở cánh đồng phía nam – đây cũng là cánh đồng lớn nhất – để số thấp, cửa cốp sau hạ xuống, cốp xếp đầy thùng, mỗi thùng ghi tên người đào khoai, và đến cuối ngày, Will sẽ mở chiếc bóp nhăn nhúm cũ mèm của mình và trả tiền tươi thóc thật cho những ai đã đào. Mike được trả đàng hoàng, mẹ cậu cũng thế, số tiền ấy là của riêng họ, và Will Hanlon chẳng bao giờ hỏi hai mẹ con tiêu tiền vào việc gì. Mike được cho năm phần trăm lợi nhuận của nông trại vào lúc lên năm – Will bảo con trai, tuổi này đủ lớn để cầm cuốc và biết cách phân biệt cỏ kê với cây đậu rồi. Mỗi năm, cậu lại được cho thêm một phần trăm, và hằng năm, sau ngày Lễ Tạ ơn, Will sẽ tính toán lợi nhuận của nông trại rồi trừ phần của Mike… nhưng Mike chưa bao giờ nhìn thấy xu nào trong đống tiền ấy. Chúng đi thẳng vào khoản tiết kiệm đại học của cậu chứ tuyệt đối không được đụng vào bất kể trời long đất lở.

Cuối cùng cũng sẽ đến ngày Normie Sadler lái chiếc máy đào khoai tây của mình về nhà, thời điểm ấy, tiết trời đã chuyển xám xịt, lạnh lẽo, sương giá đã đọng trên đống bí đỏ xếp cạnh tường nông trại. Mike sẽ đứng trên sân nhà, mũi ửng đỏ, tay đầy đất cát, thọc vào túi quần jean, mắt nhìn theo bố lái máy kéo và chiếc A-Ford về lại nông trại. Cậu sẽ nhủ thầm trong bụng: Chúng ta lại sắp sửa say giấc rồi. Xuân… tàn. Hạ… phai. Mùa thu hoạch… kết thúc. Giờ đất trời chỉ còn tàn dư mùa thu: những cành cây trụi lá, mặt đất đóng băng, bờ sông Kenduskeag phủ lớp băng mỏng. Trên đồng, thỉnh thoảng quạ lại đậu lên vai Moe, Larry và Curly cho đến khi nào chán chê thì thôi. Đám bù nhìn không phát ra âm thanh nào xua đuổi lũ chim nữa.

Nhưng Mike không lấy làm bâng khuâng cho lắm khi một năm nữa lại dần qua - ở tuổi lên chín, lên mười, cậu còn quá bé để suy ngẫm về cái vô thường của nhân gian -vì có quá nhiều thứ để cậu mong chờ: dùng xe trượt tuyết ở công viên McCarron (hoặc trên đồi Rhulin ở thị trấn Derry nếu ta đủ gan dạ, đa phần toàn những cậu lớn tham gia), trượt băng ném bóng tuyết, xây lâu đài tuyết. Cậu có thời gian để nghĩ đến việc đi bộ trong tuyết tìm cây thông Giáng sinh cùng bố, có thời gian để mơ về dụng cụ trượt tuyết đổ đèo của hãng Nordica mà cậu có thể được tặng vào dịp Giáng sinh, hoặc không. Mùa đông cũng có cái hay… nhưng nhìn bố lái chiếc Ford-A vào lại nông trại

(xuân tàn hạ phai mùa thu hoạch kết thúc)

lúc nào cũng khiến lòng cậu nao nao, như những đàn chim di cư xuống phía nam khi đông về khiến cậu man mác buồn, hoặc như tia nắng xiên xiên thỉnh thoảng lại làm cậu rưng rưng dù chẳng có lý do gì. Chúng ta lại sắp sửa say giấc rồi…

Không thể lúc nào cũng để con suốt ngày đầu tắt mặt tối với trường học và đồng áng như thế. Nhiều lần, Will Hanlon đã bảo vợ rằng cậu con trai cần có thời gian đi câu cá, dù cậu câu chẳng được bao nhiêu. Đi học về, đầu tiên, Mike xếp sách lên nóc ti vi trong phòng khách, sau đó làm món ăn vặt gì đấy cho bản thân (món khoái khẩu của cậu là bánh mì phết bơ đậu phộng kẹp hành tây, một hương vị khiến mẹ cậu chỉ biết giơ hai tay đầu hàng đầy khiếp đảm), tiếp theo cậu nghiên cứu ghi chú mà bố để lại cho mình, như việc bố đang ở đâu và nhiệm vụ của cậu bé là gì – nhổ cỏ hay thu hoạch ở luống nào, bê thùng rau củ nào, luân canh cây trồng nào, quét dọn nông trại nào, vân vân. Nhưng một tuần, có ít nhất một ngày đi học – hoặc thỉnh thoảng là hai ngày – bố không để lại ghi chú. Vào những ngày như thế, Mike sẽ đi câu cá dù thật ra cậu câu chẳng bao nhiêu. Những ngày như thế rất tuyệt… vì những hôm ấy, cậu chẳng phải đi đâu, cũng chẳng phải vội vàng làm gì.

Thỉnh thoảng, bố cậu lại viết những tờ ghi chú kiểu khác: có lúc là “Không có việc phải làm”. Có lúc lại là: “Đến Mũi Đất Cũ quan sát đường ray xe goòng”. Thế là Mike sẽ đi đến khu Mũi Đất Cũ, tìm những con đường con đường ray, săm soi thật kỹ, trầm trồ trước việc ngày xưa lại có xe lửa chạy giữa đường. Đêm hôm ấy, hai bố con sẽ thảo luận về đề tài này, và bố sẽ cho cậu xem những bức hình trong album Derry chụp xe goòng thời còn hoạt động: một cái cột kỳ khôi nối từ nóc xe goòng lên dây điện, bên hông xe goòng dán quảng cáo thuốc lá. Lần khác, bố lại bảo Mike đến công viên Tưởng niệm, chỗ Bể chứa nước Standpipe tọa lạc, để ngắm đài nước cho chim, và có lần hai bố con đã cùng đến tòa án để nhìn tận mắt một cái máy khủng khiếp mà Cảnh sát trưởng Borton tìm thấy trên gác mái. Công cụ này được gọi là ghế lang thang. Ghế được làm bằng gang, có gắn cùm để khóa tay chân lại. Sau lưng và ở chỗ ngồi có gắn những núm hình tròn. Nó gợi Mike nhớ lại một bức hình cậu từng nhìn thấy trong sách – hình chụp ghế điện ở trại cải tạo Sing Sing. Cảnh sát trưởng còn cho phép Mike ngồi vào ghế lang thang và khóa cùm lại.

Sau khi cảm giác ám muội do phải đeo cùm phai đi, Mike băn khoăn nhìn bố và Cảnh sát trưởng Borton, chẳng hiểu tại sao đây lại là một hình phạt đáng sợ cho “đám du thủ du thực” (cảnh sát trưởng dùng từ này) dạt vào thị trấn những năm 20 và 30. Quả thật, núm tròn khiến chiếc ghế phần nào khó chịu và gông cùm trên cổ tay cũng như trên cổ chân khiến cậu không thể cựa quậy để có thể ngồi thoải mái hơn, nhưng mà…

“Chà, tại cháu còn bé đấy,” Cảnh sát trưởng Borton cười. “Cháu nặng bao nhiêu? Chắc tầm ba mươi, ba lăm cân nhỉ? Hầu hết những kẻ du thủ du thực mà Cảnh sát trưởng Sully bắt ngồi vào ghế này thời xưa nặng gấp đôi cháu. Ngồi một tiếng thì hơi khó chịu, ngồi chừng hai, ba tiếng sẽ rất khó chịu, ngồi bốn, năm tiếng là thấy tệ hại vô cùng. Sau bảy, tám tiếng, chúng sẽ bắt đầu hét ầm lên, và sau mười sáu, mười bảy tiếng, đa số đều khóc lóc thảm thương. Và đến khi hành trình hai mươi tư tiếng kết thúc, chúng sẵn sàng thề trước Chúa rằng lần tới nếu có đi lậu tàu lên New England, chúng sẽ biết điều mà tránh xa khỏi Derry. Theo ta biết thì đa số chúng đều giữ lời. Hai mươi tư tiếng hành xác trên ghế lang thang đủ khiến chúng trắng mắt ra rồi.”

Bất chợt, cậu cảm thấy chiếc ghế như có nhiều núm tròn hơn, chúng đâm sâu vào mông, sống lưng, xương cụt và thậm chí cả gáy cậu. “Cháu ra được chưa ạ?” Cậu lễ phép xin, nghe thấy thế, Cảnh sát trưởng Borton phá lên cười. Trong một khắc, một khoảnh khắc hoảng loạn, Mike nghĩ cảnh sát trưởng sẽ treo lủng lẳng chiếc chìa khóa lên cùm ngay trước mắt cậu và nói Ừ, ta sẽ thả cháu ra… khi nào hết hai giờ.

“Sao bố lại đưa con đến đó ạ?” Cậu hỏi bố trên đường về nhà.

“Khi nào lớn, con sẽ hiểu,” Will đáp.

“Bố không thích Cảnh sát trưởng Borton phải không ạ?”

“Không,” bố trả lời bằng giọng cộc đến độ Mike nín thin, không dám hỏi gì thêm.

Nhưng hầu hết các địa điểm ở Derry mà bố bảo cậu đi hay đưa cậu đến, Mike đều thích cả, và đến lúc Mike lên mười, Will đã chuyển tải thành công lòng hứng thú đối với các giai đoạn lịch sử của Derry đến cậu con trai. Thỉnh thoảng, khi đưa tay lần theo mặt sỏi sần sần của bục dựng đài nước cho chim trong công viên Tưởng niệm, hoặc khi ngồi xổm để ngắm nhìn thật kỹ đường ray xe goòng cắt qua đường Mont ở Mũi Đất Cũ, Mike lại cảm nhận được thời gian rõ nét vô cùng… lúc ấy, thời gian như tượng hình, thành một thứ có trọng lượng, chỉ là ta không thấy, như cách ánh nắng có trọng lượng (nhiều đứa nhóc trên trường đã phá lên cười khi cô Greenguss phát biểu như vậy, còn Mike thì quá đỗi ngạc nhiên khi nghe thấy điều đó nên chẳng cười; suy nghĩ đầu tiên của cậu là sức nặng kinh quá!)… Lúc ấy, thời gian trở thành thứ rốt cuộc sẽ chôn vùi cậu.

Lời nhắn đầu tiên bố để lại cho cậu là vào mùa xuân năm 1958, nguệch ngoạc ở mặt sau bì thư, được chặn cho khỏi bay bằng hộp muối. Không khí ấm áp sắc xuân, ngọt ngào hương mới, tất cả cửa sổ đã được mẹ mở toang. Ông ghi: Không có việc cần làm. Nếu muốn, con hãy đạp xe xuống đường Pasture. Con sẽ thấy rất nhiều tường gạch đã cỡ và máy móc cũ để bên ngoài khoảng đất phía bên tay trái. Con hãy nhìn ngắm xung quanh và nhặt thứ gì đó về làm kỷ niệm. Đừng lại gần cửa hầm nhé! Và nhớ về trước khi trời tối. Lý do thì con biết rồi đấy.

Tất nhiên Mike biết lý do là gì.

Cậu nói với mẹ nơi mình sắp sửa đi thì bà chau mày. “Hay con rủ Randy Robinson đi chung cho vui?”

“Dạ vâng. Để con ghé qua rủ xem,” Mike đáp.

Cậu ghé qua nhưng Randy đã lên Bangor cùng bố để mua hạt giống khoai tây. Vì thế, Mike đạp xe đến đường Pasture một mình. Chuyến đi cũng vui – dài chừng sau cây số rưỡi. Mike đoán lúc cậu dựng xe đạp vào hàng rào gỗ đã cũ phía bên trái đường Pasture và trèo vào trong khoảng đất đã là 3 giờ. Cậu có tầm một giờ để khám phá, sau đó phải đạp xe về nhà ngay. Bình thường, mẹ cậu không nổi cơn tam bành miễn là cậu về nhà trước 6 giờ tối, tức là lúc mẹ dọn bữa tối lên bàn ăn, nhưng một giai thoại khó quên đã dạy cho cậu biết năm nay thì khác. Lần nọ, cậu về trễ giờ cơm, thế mà mẹ gần như phát hoảng. Mẹ lấy khăn lau đĩa quất cậu tới tấp, trong lúc cậu đứng há hốc miệng ngay lối vào nhà bếp, giỏ gai đựng con cá hồi vân để dưới chân.

“Mẹ cấm con không được làm mẹ sợ như thế!” Bà hét lên. “Mẹ cấm con! Mẹ cấm con! Tuyệt đối, tuyệt đối không được!”

Mỗi chữ cấm lại được nhận bằng một cú quất khăn. Mike cứ tưởng bố sẽ can ngăn để chấm dứt chuyện này, nào ngờ ông chẳng làm vậy… Có lẽ ông ngại nếu mình làm thế, bà sẽ chuyển cơn thịnh nộ sang đầu ông. Một trận đòn bằng khăn lau đĩa là đủ để Mike học được bài học. Về nhà trước khi trời tối. Vâng thưa mẹ, con sẽ tuân lệnh.

Cậu băng qua khoảng đất đến đống đổ nát ở giữa. Tất nhiên, đây là tàn tích của Xưởng đúc Kitchener – cậu từng chạy xe ngang qua nhưng chưa bao giờ mảy may nghĩ đến việc thám hiểm nó, ngoài ra, cậu cũng chưa nghe bạn bè cùng lứa khoe từng làm như vậy. Giờ đây, khi khom người để săm soi phần gạch ngổn ngang chất lại thành ụ lớn, cậu nghĩ cậu có thể hiểu tại sao. Khoảng đất chói chang lạ lùng, tràn ngập ánh mặt trời mùa xuân (thỉnh thoảng một đám mây che mất vầng dương khiến bóng râm khổng lồ chậm rãi lướt qua khoảng đất), nhưng đồng thời, vùng đất này có gì đó thật ám muội – tĩnh lặng đến rợn gáy, thỉnh thoảng mới có gió vi vu. Cậu cảm thấy mình như nhà thám hiểm vừa phát hiện tàn tích của một thành phố tuyệt vời bị mất tích.

Trên đầu, phía bên phải, cậu trông thấy bề mặt tròn của trụ ngói khổng lồ vươn lên từ bãi cỏ mọc cao. Cậu chạy lại. Đây là ống khói chính của Xưởng đúc. Cậu nhìn vào trong và thấy lạnh hết cả sống lưng. Ống khói lớn đến độ cậu có thể bước vào trong nếu muốn. Nhưng ai mà ham kia chứ; có Chúa mới biết thứ gì bám vào những phần ngói bên trong, đen thui vì khói, nhỡ đâu bọ hay loài vật kinh khủng nào đấy làm tổ thì sao? Gió vù vù thổi qua. Khi gió thổi qua miệng ống khói ngổn ngang kia, một âm thanh kỳ dị, giống như tiếng gió làm rung động dây bôi sáp mà bố con cậu gắn vào còi nai sừng mỗi độ xuân về. Cậu dè dặt lùi lại, trong tâm trí chợt hiện lên bộ phim mà hai bố con mới xem đêm qua trên chương trình Phim Buổi Sớm . Bộ phim mang tên Rodan , xem rất vui, bố cậu vừa cười ha hả vừa la lên “Bắn con chim ấy đi, Mikey!” vào những lúc Rodan xuất hiện, thể là Mike sẽ lấy tay giả làm súng bắn cho đến khi mẹ ló đầu vào và cằn nhằn bảo hai bố con nhỏ tiếng lại trước khi tiếng ồn làm bà nhức hết cả đầu.

Nhưng bây giờ, cậu chẳng thấy vui chút nào. Trong phim, Rodan được một nhóm thợ mỏ người Nhật Bản đào đường hầm dài nhất thế giới thả ra từ lòng đất. Và khi nhìn vào bên trong đường ống khói đen ngòm này, cậu lại mường tượng đến cảnh con chim ấy nấp ở tít đâu đó bên trong, đôi cánh như cánh dơi gập sau lưng, nhìn chằm chằm vào khuôn mặt tròn, nhỏ của cậu bé đang ló đầu nhìn vào bóng tối, dán đôi mắt sáng quắc quầng vàng vào cậu..

Mike rút người lại, rùng mình.

Cậu lùi ra xa khỏi ống khói đã lún xuống đất phân nửa đường tròn. Mặt đất hơi nhô lên, và chợt cậu nổi hứng bò lên trên ống khói. Nhìn bên ngoài, chiếc ống đỡ đáng sợ hơn rất nhiều, mặt ngói của nó được ánh nắng sưởi ấm. Đứng dậy, cậu bước dọc trên ống, hai tay giơ ngang giữ thăng bằng (dù bề mặt ống rất rộng, chẳng phải lo lắng đến chuyện bị ngã, nhưng cậu đang giả vờ mình là người đi trên dây trong rạp xiếc), thích thú trước cơn gió mơn man qua tóc mình.

Đi hết đường, cậu nhảy xuống và bắt đầu mày mò thêm: nào gạch, nào những chiếc khuôn méo mó, khoanh gỗ và những cỗ máy gỉ sét. Trong lời nhắn cho cậu, bố ghi Nhặt thứ gì đó về làm kỷ niệm và cậu muốn kiếm thứ gì đó thật oách.

Cậu lang thang lại gần cửa hầm lộ thiên của nhà máy, nhìn đống đổ nát, cẩn thận để không đạp phải kính bể. Mặt đất đầy mảnh kính.

Không phải Mike không biết tiếng của cửa hầm này, cậu cũng nhớ cả lời bố dặn không được lại gần; cậu còn biết đã có rất nhiều người đã mất mạng ở ngay chỗ này hơn năm mươi năm trước. Cậu nghĩ nếu ở Derry có nơi nào bị ma ám thì hẳn phải là nơi này. Nhưng chẳng rõ cậu chưa thấy quan tài chưa đổ lệ hay vì ăn gan hùm mà cậu vẫn quyết tâm ở lại cho đến khi tìm được thứ thật hay ho để mang về khoe với bố.

Cậu tiến thật chậm rãi và cẩn trọng đến cửa hầm, men sát theo bờ tường sần sùi, một giọng nói văng vẳng vang lên trong đầu, cảnh báo cậu đã tiến lại quá gần, rằng bờ tường bị xói mòn do những trận mưa xuân có thể sạt lở dưới chân cậu, kéo cậu xuống cái hố ấy, mà chỉ có Chúa mới biết bên trong có bao nhiêu sắt thép nhọn hoắt chực chờ để xiên qua người cậu như xiên bọ khiến cậu co giật mà chết.

Cậu nhặt một khung cửa sổ lên rồi vứt sang một bên. Cậu trông thấy một cái vá to như của người khổng lồ, tay cầm lượn sóng và cong queo do sức nóng khó tin nào đó. Còn kia là pít-tông, to đến độ cậu không xê xích nổi chứ đừng nói là nhấc lên. Cậu bước qua nó. Cậu bước qua, trong đầu chợt nảy lên suy nghĩ:

Biết đâu mình tìm thấy một cái đầu lâu thì sao? Đâu lâu của một trong những đứa trẻ thiệt mạng tại đây khi tìm trứng sô-cô-la Phục sinh vào năm một nghìn chín trăm bao nhiêu ấy?

Cậu nhìn quanh mảnh đất trơ trọi, bạc màu dưới nắng gió, choáng váng trước suy tưởng ấy. Gió thổi rì rầm qua tai cậu như tiếng vỏ ốc, và bóng râm lại lặng lẽ bay ngang khoảng đất, tựa bóng một con dơi khổng lồ… hoặc một con chim. Bất giác, cậu một lần nữa nhận ra nơi này tĩnh lặng đến mức nào, nhìn lạ lùng đến nhường nào với đống đất đá ngổn ngang và những khối sắt chĩa tứ phương tám hướng kia. Tựa hồ xa xưa, nơi đây từng xảy ra một trận chiến khủng khiếp.

Đừng ngớ ngẩn như thế, cậu khó chịu nói với bản thân. Năm mươi năm trước, sau khi biến cố ấy xảy ra, thứ gì có người ta đều tìm thấy cả rồi. Và dù nếu chưa chăng nữa, về sau, hẳn đứa trẻ nào đó - hoặc người lớn nào đó – đã tìm thấy… những gì còn sót lại. Chứ mày tưởng này là kẻ duy nhất đến đây tìm đồ lưu niệm à?

Không… không, mình không nghĩ thế. Nhưng mà…

Nhưng gì? Giọng nói lý tính kia gặng hỏi, và Mike nghĩ giọng nói ấy có hơi to tiếng và hơi nhanh. Dù còn thứ để tìm, nó cũng đã mục nát từ đời tám hoánh nào rồi. Vậy thì sao?

Mike tìm thấy một ngăn kéo vỡ nát trong đám cỏ. Cậu nhìn sơ qua rồi bỏ nó sang một bên, tiến đến cửa hầm, chỗ có nhiều thứ nhất. Chắc chắn cậu sẽ tìm thấy thứ gì đó cho xem.

Nhưng nhỡ có ma thì sao? Thế còn đỡ. Nhỡ đâu mình trông thấy bàn tay lồm cồm bò lên cửa hầm thì sao, và nhỡ đâu đó là đám trẻ đã chết năm nào, trên người là bộ quần áo từ Chủ nhật Phục sinh nọ, tất cả đều tả tơi, rách nát, dãi dầu bùn xuân, mưa thu và cả tuyết đóng mùa đông? Những đứa trẻ không đầu (cậu nghe mọi người ở trường kể sau vụ nổ, có người phụ nữ phát hiện đầu của một trong các nạn nhân vướng trên cái cây sau nhà), không chân, da lột như cá tuyết, những đứa trẻ có khác gì mình, đến đây chơi… xuống chỗ tối tăm kia… dưới dầm sắt cong vẹo và bánh răng cũ gỉ to đùng kia…

Vì Chúa, thôi ngay đi!

Lưng run bắn lên, cậu quyết định vớ thứ gì đó rồi cuốn gói rời khỏi chỗ này. Cậu cúi xuống nhặt đại một bánh răng khía có đường kính khoảng mười lăm xen-ti-mét. Cậu lấy bút chì cất trong túi mà hối hả cạy đất ra khỏi bánh răng. Đoạn cậu thả món quà kỷ niệm vào túi. Đi thôi. Giờ cậu sẽ rời khỏi đây…

Nhưng chẳng hiểu sao chân cậu lại chậm rãi tiến theo hướng ngược lại, về phía cửa hầm, và cậu hãi hùng nhận ra mình cần phải nhìn xuống dưới. Cậu phải thấy tận mắt .

Giữ chặt thanh xà hỗ trợ sần sùi nhô lên từ mặt đất, cậu đẩy người về phía trước, cố nhìn xuống dưới. Tiếc là không được. Cậu tiến lại cách miệng hầm chừng năm mét, nhưng khoảng cách ấy vẫn còn hơi xa để cậu nhìn thấy đáy của khu hầm.

Ai mà thèm quan tâm mình có thấy đáy hầm không kia chứ. Giờ mình sẽ về. Mình kiếm được vật làm kỷ niệm rồi, cần gì phải nhìn xuống cái hố từ thời xa xưa ấy. Bố cũng đã dặn mình tránh xa nơi này cơ mà.

Nhưng trí tò mò cấm cảu, như con ngựa bất kham, một khi đã nắm thóp cậu thì nhất quyết không chịu buông. Cậu váng vất bước từng bước vào cửa hầm, biết rất rõ khi đi xuống hết thanh xà gỗ sẽ không còn chỗ để nắm, cũng ý thức được đất ở đây mủn hơn và dễ sụt lún hơn. Dọc theo miệng hầm, cậu trông thấy một số hố lõm trông như mộ bị sụp xuống, và cậu biết chúng là những phần đất bị lún.

Tim đập thình thịch trong lồng ngực như tiếng giày nện xuống đất của bộ đội hành quân, cậu đến sát miệng hầm và nhìn xuống.

Có một con chim rúc dưới hầm, ngẩng đầu nhìn lên.

Mới đầu, Mike không rõ mình đang nhìn thấy thứ gì. Mọi dây thần kinh và mạng lưới trong cơ thể cậu như đông cứng lại, kể cả những dây thần kinh tạo ra suy nghĩ. Cậu choáng váng không chỉ vì nhìn thấy một con chim quái vật, với phần ức vàng chóe như chim két, lông vũ màu xám xù lên như lông chim sẻ; cậu choáng váng vì điều này hoàn toàn nằm ngoài dự tưởng. Cậu cứ nghĩ mình sẽ thấy những cỗ máy lún trong ao tù hoặc bùn đen; thế mà cậu lại phát hiện một tổ chim khổng lồ chiếm cứ toàn bộ khu hầm, không chừa một ngóc ngách. Tổ chim được làm từ rất nhiều cỏ đuôi mèo, đủ để quây thành chục ụ cỏ khô là ít, nhưng phần lá này xám xịt và cũ lắm rồi. Con chim ngồi ngay chính giữa, vầng mắt sáng quắc với con ngươi đen kịt như nhựa đường mới coóng còn ấm, và trong tích tắc điên rồ khi cả người cậu vẫn đơ ra như phỗng, Mike thấy hình ảnh mình phản chiếu trong mắt con quái vật.

Bỗng dưng mặt đất rung chuyển rồi sụp đổ dưới chân cậu. Cậu nghe thấy tiếng rễ cây bị gãy toạc và nhận ra mình đang bị trượt xuống.

Miệng í ới la lên, cậu ngã ra sau, tay chới với tìm thăng bằng. Cậu rơi đánh phịch xuống nền đất toàn rác rưởi. Một khối kim loại cứng và cùn đập vào lưng, khiến hình ảnh chiếc ghế lang thang vụt qua đầu cậu trước khi cậu nghe thấy tiếng đập cánh vù vù vang lên thật to của con chim.

Lồm cồm bò dậy, nhìn qua vai, cậu trông thấy con chim bay lên từ dưới hầm. Móng vuốt có vảy của nó có màu cam mờ tối. Mỗi cánh dài hơn ba mét phần phật thổi đống cỏ đuôi mèo khẳng khiu bay tán loạn, mạnh chẳng kém gì gió từ cánh quạt trực thăng. Nó thét lên tiếng kêu ù ù rít ré. Một vài chiếc lông vũ rời khỏi cánh, bay xuống dưới hầm.

Mike guồng chân chạy.

Cậu cứ cắm đầu cắm cổ chạy qua cánh đồng, không dám nhìn ra sau vì quá sợ. Con chim nhìn không giống Rodan, nhưng cậu cảm thấy nó mang dáng dấp của Rodan, nhào lên từ khu hầm của Xưởng đúc Kitchener như món đồ chơi có hình nộm nảy lên hù người. Bị vấp khuỵu gối nhưng cậu nhanh chóng bật dậy chạy tiếp.

Tiếng rít lên ù ù kỳ lạ vẳng lại. Một bóng râm phủ xuống cậu, và khi ngước lên, cậu trông thấy con quái vật kia bay qua đầu mình chưa tới một mét rưỡi. Cái mỏ vàng khè dơ dáy của nó hết mở lại đóng, để lộ lớp màu hồng phía trong. Nó vòng ngược trở lại chỗ Mike. Gió do nó tạo ra quất vào mặt cậu, mang theo thứ mùi khô khốc khó chịu: bụi bẩn trên gác xép, đồ cũ và nệm thối.

Liếc sang trái, cậu trông thấy ống khói nằm ngang trên đất ban nãy. Cậu chạy thục mạng về phía đó, hai tay thúc liên hồi vào mạng sườn. Con chim rít lên, cậu nghe thấy tiếng đập cánh phần phật, nghe như tiếng buồm trong gió. Có thứ gì đó đập vào sau đầu cậu. Cậu thấy gáy mình nóng ran khi máu bắt đầu rỉ xuống cổ áo phía sau.

Con chim khổng lồ một lần nữa bay vòng lại để quặp móng vào người rồi mang cậu đi như con chim ưng bắt chuột đồng. Nó đang tìm cách mang cậu về tổ để ăn tươi nuốt sống.

Con quái vật bay về phía cậu, sà xuống, đôi mắt đen thăm thẳm dán vào cậu không rời. Mike đột ngột ngoặt sang phải. Con chim sượt qua cậu. Thứ mùi bụi bặm của cánh chim nồng nặc xộc lên mũi.

Hiện tại, cậu đang chạy song song với ống khói, các lớp ngói của nó vun vút lướt qua. Cậu có thể trông thấy điểm cuối. Nếu chạy tới đó và rẽ sang bên trái rồi chui vào ống khói, cậu có thể an toàn. Cậu nghĩ con chim có kích thước quá lớn nên không thể chui vào trong. Suýt chút nữa thì cậu không thành công. Con chim lại nhào tới cậu, lúc tiến sát nó bay cao dần, cánh đập phần phật khiến không khí cuồn cuộn thành cuồng phong, móng vuốt hướng thẳng vào cậu, nó sà xuống. Con quái vật rít lên, và lần này Mike tưởng chừng mình nghe thấy âm hưởng đắc thắng trong giọng của nó.

Cậu cúi đầu, giơ tay lên và nhào thẳng tới trước. Móng vuốt quặp xuống và trong một khoảnh khắc, con chim chộp được cánh tay cậu. Cú kẹp của nó tựa hồ những ngón tay cực kỳ khỏe với bộ móng cứng cáp. Nó như hàm răng ngoạm vào tay cậu. Tiếng cánh vỗ ầm ầm như tiếng sấm; cậu mơ hồ cảm nhận lông vũ rơi lả tả xung quanh, một số còn khẽ lướt qua mặt cậu. Con chim bay lên, và trong một khắc Mike cảm thấy mình đang bị kéo lên, cả người cậu dựng đứng, rồi đứng trên đầu ngón chân… tiếp đến, trong tích tắc, cậu cảm nhận chân trong đôi Keds của mình không còn chạm đất nữa.

“Thả tao ra!” Cậu thét lên và vặn vẹo cánh tay mình. Ban đầu, móng vuốt vẫn không chịu buông lơi, nhưng rồi cánh tay áo của cậu bị rách toạc. Cậu ngã xuống. Con chim gầm rít. Mike tiếp tục chạy, nhào qua phần lông đuôi của con quái vật, ngạt thở trước thứ mùi khô khốc đó. Cậu có cảm giác như đang chạy qua một tấm rèm làm bằng lông vũ.

Cậu ho sặc sụa, mắt cay xè do nước mắt và thứ bụi bẩn gớm ghiếc đóng trên lông con chim, loạng choạng chạy vào ống khói nằm ngang. Giờ cậu chẳng buồn nghĩ có thứ gì nấp bên trong nữa. Cậu chạy vào bóng tối, tiếng nấc của cậu âm vang khắp không gian. Đi được khoảng sáu mét, cậu quay người nhìn về phía hình tròn sáng trưng đằng xa. Lồng ngực cậu phập phồng lên xuống. Bất chợt cậu nhận ra: nếu cậu nhận định sai về kích thước của con chim khổng lồ kia hoặc kích thước của miệng ống khói thì chẳng khác gì tự sát bằng cách dí khẩu súng săn của bố lên đầu và bóp cò. Chỗ này không có lối ra. Đây không phải ống thông mà là ngõ cụt. Đầu còn lại của ống khói đã bị chôn xuống lòng đất.

Con chim lại ré lên, và bỗng dưng ánh sáng ở cuối ống khói bị chặn lại khi con chim chắn bên ngoài. Cậu có thể thấy đôi chân vảy vàng, mỗi cái móng dày như bắp chân người. Và rồi nó chúi đầu nhìn vào bên trong. Mike nhận ra mình lại chằm chằm nhìn vào đôi mắt đen kịt gớm guốc như nhựa đường với tròng mắt như chiếc nhẫn vàng ấy. Mỏ nó hết mở lại đóng liên tục, và mỗi lần mỏ nó đóng lại, cậu có thể nghe thấy tiếng cạch vang lên, như tiếng ta nghe thấy trong tai khi răng bập mạnh vào nhau. Cậu nhủ thầm trong đầu: Sắc quá. Mỏ nó sắc vô cùng. Mình biết mỏ chim rất sắc, nhưng xưa nay mình chưa bao giờ để ý.

Nó rít quang quác. Âm thanh vang lên trong ống khói lát ngói to đến độ Mike phải bịt tai lại.

Con chim loay hoay tìm cách lọt người vào miệng ống khói. “Không!” Mike khóc toáng lên. “Không, mày không được làm thế!”

Ánh sáng mờ đi khi thân hình con chim luồn dần vào ống khói. (Ôi Chúa ơi, sao mình không nhớ người nó chủ yếu là lông vũ kia chứ? Sao mình không nhớ nó có thể chui rúc vào trong?) Ánh sáng mờ dần… mờ dần… rồi tắt hẳn. Giờ chỉ còn màn đêm như mực, thứ mùi ngạt thở như gác xép từ con chim và tiếng lông nó lạo xạo.

Mike quỳ xuống và bắt đầu mò mẫm bề mặt cong cong của ống khói, tay vươn rộng sờ soạng. Cậu tìm thấy một miếng ngói bể, các cạnh dường như đã bọc một lớp rêu. Cậu rụt tay lại rồi ném. Cậu nghe thấy tiếng bộp. Con chim ré lên tiếng ù ù rít rít.

“Biến khỏi đây mau!” Mike thét lớn.

Không gian im lặng… đoạn tiếng sột soạt, răng rắc một lần nữa vang lên khi con chim tiếp tục đẩy người vào ống. Mike lần mò trên mặt đất, tìm thêm ngói và ném hết mảnh này đến mảnh khác. Chúng rơi bồm bộp lên người con chim và lanh canh rớt xuống mặt ống.

Chúa ơi, con xin Người, Mike rối bời nghĩ. Chúa ơi, con xin Người. Con xin Người. Con xin Người…

Cậu nảy ra ý tưởng tiến sâu vào ống khói. Cậu chạy vào từ đáy ống khói, nên có khả năng nếu cậu càng đi thêm, kích thước của ống sẽ càng hẹp dần. Cậu có thể vừa lùi lại vừa lắng nghe tiếng loạt soạt tung bụi mù mịt khi con chim đuổi theo cậu. Cậu có thể đi sâu vào trong, và nếu may mắn, cậu sẽ đến được nơi con chim không tài nào rúc thêm vào.

Nhưng nhỡ con chim bị kẹt thì sao?

Nếu chuyện đó xảy ra, cậu và con chim sẽ cùng chết trong ống khói. Cậu và con quái vật ấy sẽ chết, mục rữa tại nơi này, trong bóng tối mịt mùng.

“Chúa ơi, con xin Người!” Cậu la lên, hoàn toàn không nhận ra mình vừa thét lên thành lời. Cậu ném một mảnh ngói nữa, và lần này, lực ném của cậu mạnh bạo hơn – như về sau, cậu kể lại, cậu cảm thấy như thể lúc ấy có ai đó đứng đằng sau mình, và người đó đã truyền một nguồn lực mạnh mẽ vào tay cậu. Lần này, mảnh gạch không chỉ đập bộp vào lông vũ của con chim mà có một tiếng động đánh phập phát ra, như tiếng tay đứa con nít đập xuống mặt tô thạch Jell-O đã gần đông cứng. Lần này, con chim ré lên đầy đau đớn chứ không chỉ bực bội nữa. Tiếng đập cánh vù vù vang vọng trong ống khói, không khí thổi um ào ào vụt qua người Mike như cơn lốc, khiến quần áo của cậu bay phần phật, còn cậu ho sù sụ, ngạt thở lùi lại khi bụi và rêu bay tứ tung.

Ánh sáng xuất hiện trở lại, ban đầu xám xịt và yếu ớt, rồi sáng dần, dịch chuyển dần khi con chim rút mình ra khỏi ống khói. Mike òa khóc nức nở, khuỵu gối, nhặt lấy nhặt để thật nhiều ngói. Chẳng kịp nghĩ ngợi thấu đáo, cậu chạy thẳng tới, hai tay ôm cả đống ngói (nhờ ánh sáng mà cậu mới nhìn thấy những mảnh ngói này lấm tấm rêu xanh xám và địa y, như bề mặt của bia mộ), cho đến khi cậu gần tới miệng ống khói. Nếu có thể, cậu sẽ liều mình chặn không cho con chim quay lại vào trong.

Nó cúi xuống, nghiêng đầu sang bên như một con chim được huấn luyện đứng nghiêng đầu trong lồng, và Mike nhận ra cú ném cuối cùng của cậu đáp vào đầu. Mắt phải của con chim không còn nữa. Nếu ban nãy, nó là bọng nhựa đường đen kịt sáng quắc thì giờ, nó chỉ còn là một cái lỗ đầy máu. Chất nhầy xám trắng rỉ ra từ khóe hốc mắt và chảy xuống mỏ con chim. Trong chất dịch nhung nhúc những con côn trùng be bé.

Trông thấy cậu, nó bèn lao tới. Mike chọi lia lịa từng nắm ngói vào người nó. Ngói đập vào đầu và mỏ con chim. Nó lùi lại trong chốc lát rồi lại nhào tới, mỏ há rộng, để lộ đường màu hồng và một thứ khiến Mike đứng hình trong một khoảnh khắc, miệng há hốc bất ngờ. Lưỡi con chim là bạc, bề mặt nứt nẻ như đất núi lửa nguội đi sau khi được nung nóng.

Và trên cái lưỡi có rất nhiều cục bông màu cam, trông chẳng khác nào những bụi cỏ lăn kỳ cục bám rễ ở đó.

Còn bao nhiêu ngói, Mike ném thẳng vào cái mỏ đang há rộng của nó khiến con chim rụt lại, rít lên đầy tức tối, thịnh nộ và đau đớn. Trong thoáng chốc, Mike có thể thấy móng vuốt của nó… Nó đập cánh làm xáo động không khí rồi bay mất.

Chốc sau, cậu ngẩng mặt – khuôn mặt chuyển màu nâu xám do bụi, đất và chút rêu bám vào khi đôi cánh không thua gì quạt gió của con chim phần phật thổi – nhìn lên tiếng móng vuốt của nó lanh canh đi trên ngói. Chỗ duy nhất còn sạch trên mặt Mike là nhờ nước mắt rửa trôi.

Con chim đi đi lại lại trên đầu cậu: Canh cách. Canh cách.

Mike lùi lại một chút, gom thêm ngói rồi chất thành đống ở gần cửa ống khói nhất có thể. Nếu con quái vật ấy quay lại, cậu muốn mình sẵn sàng nã ngói thẳng vào người nó. Bên ngoài trời vẫn sáng - hiện tại là tháng Năm nên còn khối thời gian trời mới tối – nhưng nếu con chim quyết định chờ cậu thì sao?

Mike nuốt nước bọt, thành cổ họng khô khốc chà vào nhau.

Trên đầu cậu vẫn là tiếng canh cách, canh cách.

Cậu tích được một lượng đạn dược kha khá. Dưới ánh sáng mờ mờ, mặt trời chiếu xiên đổ bóng râm trải dài vào bên trong, đống ngói nhìn như chén bát vỡ được bà nội trợ vun lại một chỗ. Mike chùi lòng bàn tay bẩn thỉu vào hai bên quần rồi chờ đợi diễn biến tiếp theo.

Mãi lúc lâu sau mới thấy có động tĩnh – cậu chẳng rõ là năm phút hay hai mươi lăm phút. Toàn bộ tâm trí của cậu dồn vào con chim đi đi lại lại trên đầu như kẻ mất ngủ lòng vòng trong phòng lúc 3 giờ sáng.

Rồi nó lại đập cánh phần phật. Nó đậu phía trước lối vào ống khói. Quỳ gối phía sau đống ngói, Mike bắt đầu phóng tên lửa vào con chim khi nó còn chưa kịp cúi đầu xuống. Một mảnh gạch cửa vào cẳng cái chân vàng của nó khiến máu ri rỉ chảy ra, thứ máu tối đen chẳng kém cạnh đôi mắt của nó chút nào. Mike rú lên chiến thắng, nhưng tiếng của cậu mỏng và gần như lọt thỏm giữa tiếng rít đầy giận giữ của con chim.

“Biến khỏi đây đi!” Mike hét lên. “Tao sẽ ném cho tới chừng nào mày biến khỏi đây thì thôi, tao thề với Chúa!”

Con chim bay lên nóc ống khói rồi tiếp tục đi đi lại lại.

Mike nhẫn nại chờ đợi.

Cuối cùng, nó sột soạt cất cánh bay. Mike chờ đợi, đinh ninh cặp chân vàng như chân gà sẽ xuất hiện trở lại. Nhưng không. Cậu đợi thêm, đoán chắc nó đang bày mưu tính kế gì đấy, nhưng mãi lúc sau, cậu mới nhận ra mình đợi không phải vì lý do ấy. Cậu chôn chân ở đây là vì cậu sợ ra ngoài, sợ phải rời khỏi vòng vây an toàn của chốn ẩn náu này.

Mặc kệ! Mặc kệ nó đi! Mình không phải thỏ đế!

Cậu ôm nhiều ngôi nhất có thể, rồi nhét thêm vào trong áo. Bước ra ngoài ống khói, cậu căng mắt nhìn xung quanh và ước mình có thêm một mắt nữa ở sau lưng. Cậu chỉ nhìn thấy mảnh đất trải rộng trước mắt và xung quanh đầy những tàn tích gỉ sét của Xưởng đúc Kitchener sau vụ nổ. Cậu xoay người, dám chắc mình sẽ trông thấy con chim khổng lồ đậu trên thành ống như kền kền, hay chính xác hơn là kền kền độc nhãn, chực chờ để cậu trông thấy trước khi nó tấn công cậu lần cuối, dùng cặp mỏ nhọn hoắt mổ và rỉa lấy cậu.

Nhưng con chim không có ở đó.

Nó đã biến mất.

Dây thần kinh của cậu đánh tách.

Hét lên thất thanh vì sợ, cậu chạy đến hàng rào bạc màu do sương gió ngăn cách giữa khu đất và con đường, vứt hết ngói trên tay xuống. Bao nhiêu ngói còn lại cũng rơi ra khi cậu kéo áo ra khỏi thắt lưng. Cậu trèo qua cổng bằng một tay như Roy Rogers lấy le với Dale Evans trên đường rời khỏi nông trại cùng Pat Brady và những gã cao bồi khác. Cậu chộp lấy tay nắm xe đạp, chạy cạnh xe chừng hơn chục mét rồi nhảy lên. Đoạn cậu guồng chân đạp điện cuồng, không dám ngoái lại phía sau, không dám chạy chậm lại, cho đến khi cậu đến ngã tư đường Pasture và đường Chính Khu Ngoài, nơi tấp nập xe cộ qua lại.

Mike về đến nhà lúc bố đang thay dây máy kéo. Will trông thấy người ngợm cậu con trai lấm lem và dơ như hủi. Mike thoáng lưỡng lự rồi kể với bố trên đường về mình bị ngã xe đạp nên phải đánh võng để không rơi vào ổ gà.

“Con có bị gãy chân hay gì không, Mikey?” Will hỏi, chăm chú nhìn con.

“Dạ không ạ.”

“Có bong gân ở đâu không?”

“Dạ không.”

“Chắc chứ?”

Mike gật đầu.

“Con có mang về món quà kỷ niệm nào không?”

Mike thò tay vào túi và tìm thấy bánh răng. Cậu đưa cho bố mình. Ông nhìn lướt qua nó rồi gỡ vụn ngói dính trên vết thương hở ngay dưới ngón cái của Mike. Ông tỏ ra quan tâm đến nó hơn.

“Từ ống khói cũ à?” Will hỏi.

Mike gật đầu.

“Con đi vào trong hả?”

Mike gật đầu tiếp.

“Có thấy gì không?” Will hỏi, và rồi tựa như muốn câu hỏi chỉ mang tính bông đùa (dù nghe chẳng hài chút nào), ông nói thêm: “Kho báu bị chôn vùi chẳng hạn?”

Mike khẽ mỉm cười, lắc đầu.

“Chà, đừng nói với mẹ con mò ra đấy nhé,” Will căn dặn. “Mẹ sẽ bắn bỏ theo thứ tự bố trước con sau cho mà xem.” Ông nhìn thật lung vào cậu con trai. “Mikey, con có ổn thật không đấy?”

“Dạ?”

“Nhìn mắt con uể oải quá.”

“Chắc con hơi mệt ạ,” Mike đáp. “Bố đừng quên là con đạp xe cả đi cả về tổng cộng mười ba đến mười sáu cây số. Bố cần con phụ gì với máy kéo không ạ?”

“Thôi. Tuần này chính vậy là xong rồi. Con vào trong rửa ráy đi.” Mike dợm bước thì bố gọi cậu một lần nữa. Mike quay đầu lại.

“Bố không muốn con lảng vảng đến nơi đó nữa,” ông nói, “ít nhất là cho đến khi vấn đề hiện tại được giải quyết và người ta bắt được kẻ thủ ác… Con không gặp ai ở đó chứ? Có kẻ nào đuổi theo con hay giữ con lại không?”

“Con không thấy ai hết,” Mike trả lời.

Will gật đầu và châm thuốc. “Có lẽ bố đã sai khi bảo con đến đấy. Những nơi xưa cũ như vậy… lắm lúc cũng nguy hiểm.”

Hai bố con đưa mắt nhìn nhau trong thoáng chốc.

“Dạ vâng.” Mike nói. “Con cũng không muốn quay lại đó. Nó hơi ghê một chút.”

Will gật đầu thêm lần nữa. “Thôi được rồi, nói ít hiểu nhiều. Con đi rửa ráy ngay đi. Bảo mẹ làm thêm ba, bốn cây xúc xích nhé.”

Mike ngoan ngoãn nghe theo.

6

Mặc kệ nó đi, Mike Hanlon tự nhủ, mắt nhìn theo rãnh hằn dẫn thẳng đến bờ bê tông của Kênh Đào thì mất dấu. Mặc kệ nó đi, chắc lại là một giấc mơ thôi, và…

Có những vệt máu khô trên bờ Kênh Đào.

Mike nhìn chúng rồi nhìn xuống Kênh Đào. Dòng nước đen ngòm lặng lẽ chảy qua. Hai bên bờ bám đầy bọt vàng bẩn thỉu, thỉnh thoảng chúng lại hòa vào nước, lững lờ trôi xuôi theo dòng. Trong một khắc - chỉ một khắc ngắn ngủi – hai nhúm bọt nhập vào nhau, tựa hồ tạo thành hình khuôn mặt, khuôn mặt của một đứa trẻ, hai mắt đang trợn trừng đầy hãi hùng và đau đớn.

Mike nín thở, tựa hồ gai đâm.

Bọt vàng lại vỡ ra, vô tri trôi dạt, đúng lúc ấy, có tiếng nước tóe lên rất to phía bên phải. Mike lập tức quay đầu nhìn quanh, thoáng rụt người, và trong tích tắc, cậu nghĩ mình đã trông thấy thứ gì đó trong đường hầm xả nước, chỗ Kênh Đào lộ thiên sau khi chạy dưới lòng thị trấn.

Rồi thứ đó cũng mất hút.

Lạnh run người, cậu thò tay vào túi lôi con dao vừa nhặt được trong cỏ và ném xuống Kênh Đào. Một tiếng tõm khe khẽ vang lên, vận nước hình tròn bắt đầu lan ra rồi bị dòng nước xô thành hình đầu mũi tên… và sau đó biến mất.

Chẳng còn gì ngoài nỗi sợ bất chợt ùa tới khiến cậu nghẹt thở cùng cảm giác đinh ninh rợn người rằng có thứ gì đó đang ở gần, rình rập cậu, chờ lúc chín muồi, canh từng phút từng giây.

Cậu xoay người, toan bước trở lại xe đạp của mình - chạy thì chẳng khác nào cúi rạp trước nỗi sợ và bôi tro trát trấu lên mặt rất nhiều. Tự tôn gì tầm này nữa. Cậu đột ngột co giò chạy nhanh nhất có thể, lao như tên bắn đến cổng và đến chiếc xe của mình, lấy gối gạt chân chống, đạp hết tốc lực xuống đường. Thứ mùi biển tanh tưởi lại xộc lên… xộc lên nồng nặc . Nó ở khắp mọi nơi. Và tiếng nước nhỏ xuống từ cành cây ướt chợt trở nên ầm ĩ.

Có thứ gì đó đang đến. Cậu nghe thấy tiếng chân kéo lê, xào xạc trong cỏ.

Cậu đứng thẳng lên bàn đạp, dồn hết sức phi thẳng vào đường Chính mà không ngoái nhìn lại. Cậu chạy về nhà thật nhanh, băn khoăn tự hỏi mình ăn trúng bùa mê thuốc lú gì mà lại mò đến nơi ấy… tự hỏi mình bị thứ gì lôi kéo.

Và rồi cậu cố nghĩ đến việc đồng áng, tất tần tật mọi việc, gạt mọi thứ khỏi đầu, chỉ nghĩ về công việc. Sau một hồi, cậu thành công.

Ngày hôm sau, khi trông thấy dòng tít trên trang nhất tờ báo (CẬU BÉ MẤT TÍCH LÀM DẤY LÊN LO SỢ MỚI), cậu nghĩ đến con dao bỏ túi mà mình ném xuống Kênh Đào – con dao bỏ túi khắc tên viết tắt bên hông. Cậu nghĩ đến đống máu mình thấy trên cỏ.

Và cậu nghĩ đến những rãnh hằn đứt ở rìa Kênh Đào.

« Lùi
Tiến »