Hai thập niên trước, Astana hãy còn là một thị trấn đường sắt nhỏ nằm ở vùng quạnh quẽ của Xô Viết. Năm 1995, khi tổng thống đầu tiên (và duy nhất đến nay) của Kazakhstan tuyên bố rằng thủ đô nước này sẽ dời từ Almaty đến Astana, các viên chức ngoại giao ai nấy đều thất kinh. Với những con đường rợp lá, những quán cà phê bên vệ đường và những tòa nhà hoa mĩ kiểu Nga với lớp sơn sắc hoa thục quỳ, Almaty có cái không khí ưu nhã đậm chất Ðông Âu. Ở Astana – trong tiếng Kazakhstan nghĩa đen là “thủ đô” – mùa đông nổi danh với nhiệt độ xuống dưới hơn âm 50oC. Nhưng việc kiến lập một thủ đô mới cho một quốc gia mới độc lập vẫn được triển khai, với nguồn tài trợ từ số dầu khoan được dưới đáy Biển Caspi.

Thủ đô mới của Kazakhstan vẫn là nơi ngập gió và giá lạnh, nhưng nó đã biến đổi nhờ lợi nhuận hai mươi năm từ nguồn dầu khổng lồ. Những tòa nhà chọc trời thời thượng, những tượng đài kì quái và những thánh đường Islam lóng lánh xô nhau giành lấy sự chú ý bên cạnh công trình mang đậm chất vị lai nhất thành phố – một khu mua sắm lớn trông như một túp lều hình nón khổng lồ nằm nghiêng.1* Giữa lẫn lộn các tòa nhà quái dị và diệu kì, hai dinh cơ nổi bật ở đường chân trời. Một cái là dinh Tổng thống có vòm xanh lam và chóp vàng: đại ốc của Nursultan Nazarbayev, vị lãnh đạo toàn quyền của Kazakhstan. Dinh cơ còn lại là khách sạn 25 tầng với chủ sở hữu là Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc, CNPC. Với cổng ra vào hoa mĩ và tấm mái chìa ra đặt trên những cây cột màu đỏ son, Cung điện Bắc Kinh (Peking Palace) là khách sạn được chọn làm nơi ở cho các yếu nhân Trung Quốc tới thăm quốc gia có nền kinh tế vượt trội thuộc Trung Á.
Cung điện Bắc Kinh biểu trưng cho uy lực đang tăng của Trung Quốc ở Trung Á. Trung Quốc là đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất khu vực, và là nhà tài trợ lớn nhất. Một mình CNPC đã kiểm soát một phần tư việc sản xuất dầu ở Kazakhstan.2* Khi Bộ trưởng Tài chính Lâu Kế Vĩ chiêu đãi các vị lãnh đạo Châu Á vào tháng Năm năm 2014, lí giải kế hoạch của Bắc Kinh trong việc thiết lập cái sẽ trở thành Ngân hàng Ðầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB), ông đã thực hiện việc đó ở nhà hàng Great Wall của Cung điện Bắc Kinh. Ở Trung Á, cũng như khắp châu Á, cán cân quyền lực đang dịch dần về phía Trung Quốc.
Cũng ở Astana, tại trường Ðại học Nazarbayev vào tháng Chín năm 2013, Tập Cận Bình lần đầu tuyên bố ý định xây dựng “Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa”, trải dài từ phía Tây Trung Quốc băng qua Trung Á đến châu Âu.3* Công cuộc tạo dựng “cây cầu đất liền Á – Âu” đã khởi sự từ lâu trước khi Tập Chủ tịch nhậm chức, nhưng ông đã gói bọc kế hoạch này vào đại sáng kiến của mình về cuộc phục hưng quốc gia: Sáng kiến Vành đai và Con đường là dự án đặc trưng của Tập. Tầm nhìn này nhắm tới nhiều việc hơn là chỉ xây dựng những hành lang xuất khẩu mới và nhập khẩu thêm nhiều dầu, khí đốt và khoáng sản. Ngoài việc tạo ra một mạng lưới phụ thuộc kinh tế trong khu vực, Bắc Kinh còn tính đến chuyện khả năng kết nối tốt hơn sẽ giúp các vùng kém phát triển giáp biên Trung Quốc trở thành những khu vực thương mại có thể thịnh đạt. Họ còn muốn thiết lập một giới tuyến cảnh vụ ở Trung Á nơi sẽ giúp Trung Quốc áp chế những mối căng thẳng về sắc tộc giữa người dân Muslim[26] bản địa và dân di trú Trung Quốc Hán tộc ở vùng Tân Cương nằm phía Tây Bắc.
Thế tàn cuộc trong ngoại giao, dẫu có theo kế hoạch hay không, là trói buộc Trung Á vào Trung Quốc. Cho dù Vladimir Putin thúc đẩy một cái nhìn khác về một Liên minh Kinh tế Á – Âu (Eurasian Economic Union) trỗi lên từ tro tàn của Liên Xô, Trung Quốc vẫn bận bịu lấp vào khoảng trống kinh tế do Moskva để lại sau khi rút khỏi khu vực. Nga giữ lại được mối lợi chiến lược ở năm quốc gia Trung Á, và Bắc Kinh cẩn thận khắc họa những sáng kiến của họ trong khu vực như những sáng kiến thuần về thương mại, chứ không phải tranh thủ mở rộng tầm ảnh hưởng chính trị. Nhưng khi họ gia tăng đầu tư và mang đến sự trợ giúp tài chính cho các chế độ bạc nhược ở các vùng giáp biên, tầm ảnh hưởng của Trung Quốc đang tăng lên theo hướng gây tổn hại cho Nga. Quyền thế về mặt kinh tế đang tăng của Trung Quốc sẽ sớm giúp họ gây dựng vị thế bất khả chiếm lĩnh ở Trung Á. Cuộc “hành quân Tây tiến” của Trung Quốc không thu hút nhiều sự chú ý bằng cuộc “xoay trục sang châu Á” của Hoa Kỳ, nhưng cuộc “Tây tiến” đó hẳn sẽ tỏ ra có ý nghĩa hơn.
TÂN CƯƠNG
Trung Quốc có lịch sử lâu đời về tầm ảnh hưởng ở vùng thảo nguyên và các vùng sa mạc thưa thớt dân cư phía Tây. Trong suốt triều nhà Ðường (618 – 907), khi Ðế quốc Trung Hoa vươn ra xa dọc theo Con đường Tơ lụa, các Hãn quốc (Khanate)[27] ở những vùng ngày nay là Uzbekistan và Turkmenistan đã triều cống bằng lạc đà cho kinh đô Trường An. Vào thế kỉ 18, Hoàng đế Càn Long thâu tóm nửa phía Ðông của Trung Á, sau đổi tên thành Tân Cương – “cương giới mới”. Người ngoại bang tiếp tục nhắc đến cái tên lạ lùng “Shərqiy Türkistan (East Turkestan/ Ðông Ðột Quyết)”, một cái tên được hồi sinh bởi nhóm người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) theo chủ nghĩa quốc gia vào thập niên 1930. Tới cuối thế kỉ 19, phần lớn mảng phía Tây khu Trung Á rơi vào tay người Nga. Dưới uy quyền Liên Xô, Trung Quốc gần như không có mối tương tác nào với những nền cộng hòa nằm ở biên cương phía Tây, đặc biệt sau khi các mối quan hệ ngoại giao bị gián đoạn năm 1960.4*
Khi Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan và Turkmenistan giành được độc lập năm 1991 – được gọi chung là Trung Á – ưu tiên trước nhất của Bắc Kinh là phân ranh giới biên cương và đảm bảo cho an ninh ở Tân Cương. Năm 1996, Trung Quốc thành lập Diễn đàn năm nước Thượng Hải (Shanghai Five Forum),[28] một hiệp hội an ninh khu vực bao gồm Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan và Tajikistan. Sau khi thêm Uzbekistan vào năm 2001, diễn đàn này đổi tên thành Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO). Năm 2015, sau một thập niên bế tắc biên giới, cả Ấn Ðộ lẫn Pakistan đều được mời vào làm thành viên chính thức. Bản hiến chương của SCO yêu cầu các thành viên phải lên án “ba nhóm thế lực” gồm chủ nghĩa khủng bố (terrorism), chủ nghĩa phân liệt (separatism) và chủ nghĩa cực đoan tôn giáo (religious extremism), nhưng Trung Quốc còn xem đây như là phương tiện để đạt được sự hợp tác kinh tế.5*
Việc thiết lập Diễn đàn năm nước Thượng Hải vào giữa thập niên 1990 trùng với lúc Trung Quốc ngày càng công nhận tiềm năng kinh tế và chiến lược của Trung Á. Vùng này dồi dào tài nguyên thiên nhiên, với nhiều mỏ dầu khí chưa khai thác, những kho trữ uranium nằm sâu trong lòng đất và nhiều tiềm năng thủy điện. Bắc Kinh xem tính ổn định ở Trung Á là điểm thiết yếu để đạt được phồn thịnh của vùng Tân Cương tứ bề đất liền bao bọc, vùng mà Trung Quốc có chung 2.800km đường biên giới. Bằng cách xây dựng đường bộ, đường sắt và các đường ống dẫn nối kết các khu vực lại, các chiến lược gia của Bắc Kinh tin rằng công cuộc giao thương xuyên biên giới sẽ phát đạt. Họ hi vọng hiện đại hóa và phát triển kinh tế sẽ giúp Tân Cương được hội nhập vào khu vực và giữ trong vòng cương tỏa đối với những kẻ theo chủ nghĩa li khai luôn manh động.
Năm 2012, cựu Thủ tướng Ôn Gia Bảo tuyên bố những kế hoạch nhằm cải tạo thủ phủ của Tân Cương thành “cổng vào khu vực Á – Âu”, với một sân bay mới và nhiều đường bộ mới chạy đến Kyrgyzstan và Tajikistan.6* Bài diễn văn của ông Ôn Gia Bảo vang vọng tầm nhìn của Vương Tập Tư, Viện trưởng Học viện Quan hệ Quốc tế ở trường Ðại học Bắc Kinh và là một trong những nhà lí luận trứ danh về chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Trong một bài báo công bố hồi tháng Mười cùng năm đó, Vương cổ xúy việc kiến thiết “một Con đường Tơ lụa mới khởi đi từ những cảng phía Ðông Trung Quốc, băng qua dải đường bộ ở giữa vùng Á – Âu, đến bờ Ðông của Ðại Tây Dương và các quốc gia ven Ðịa Trung Hải ở phía Tây”. Ông cho rằng, thay vì tập trung vào hai vùng Biển Hoa Ðông và Biển Ðông nhiều phiền hà, Trung Quốc nên “hành quân về phía Tây”.7*
Trong bài diễn văn năm 2013 ở trường Ðại học Nazarbayev, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đắp thêm da thịt cho bộ khung này. Ông nói về các tuyến liên kết thương mại thời thượng cổ giữa Ðông và Tây, thời điểm mà lụa và những mặt hàng Trung Quốc lên đường từ kinh đô Trường An (nay gọi là Tây An) băng qua Trung Á đến Thổ Nhĩ Kì và Ðịa Trung Hải. Tập nói một cách bâng khuâng, “nhìn lại kỉ nguyên ấy, tôi có thể nghe tiếng chuông lạc đà âm vang ở những vùng núi và thấy những làn khói bốc lên từ sa mạc”. Một năm sau đó, ông Tập trở lại Trung Á để tham dự hội nghị thượng đỉnh lần thứ 14 của SCO, tổ chức ở Tajikistan. Nhưng lần này những mối ưu tư về an ninh lại nằm trên cùng trong chương trình nghị sự của ông: Kêu gọi một thỏa thuận nhằm giúp chế ngự chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan và thúc giục cơ quan chống khủng bố của SCO đóng vai trò lớn hơn trong việc chống buôn ma túy.
SCO được sáng lập từ lâu trước khi Chủ tịch Tập Cận Bình bắt đầu biểu dương nhiệt tình chuyện kiến thiết một Con đường Tơ lụa mới. Nhưng hai sáng kiến do Trung Quốc dẫn dắt có nối kết nhau: Giới lãnh đạo Trung Quốc tin rằng phát triển kinh tế sẽ giúp mang đến tính ổn định cao hơn trong khu vực, cả ở Tân Cương lẫn những quốc gia yếu hơn ở những vùng biên cương phía Tây. Bắc Kinh đã đổ nhiều tỉ đô-la đầu tư khắp Tân Cương, tại đó họ nỗ lực xoa dịu giới quốc gia chủ nghĩa luôn manh động người Duy Ngô Nhĩ. Và họ đã mở rộng phạm vi quyên trợ đến năm quốc gia hậu Xô Viết ở Trung Á, giúp các nước này tái thiết cơ sở hạ tầng đổ nát, một phần để đổi lại quyền tiếp cận nguồn dầu khí ở đây.
Những mối lo lắng về an ninh của Trung Quốc là có thật, mặc dù họ có thói quen sai lầm khi khắc họa chủ nghĩa quốc gia của Duy Ngô Nhĩ là chủ nghĩa cực đoan tôn giáo. Tuy vậy, nước đi tiến vào vùng Trung Á không chỉ là về chuyện đảm bảo tính ổn định khu vực hoặc về chuyện thu tóm tài nguyên thiên nhiên, dẫu những điều này cũng quan trọng. Ðộng thái đó còn ra tín hiệu về một sự chuyển dời trong cái nhìn địa chính trị của Bắc Kinh – vốn từ lâu đã tập trung vào bờ biển phía Ðông Trung Quốc – đối với các vùng đất biên cương. Ý tưởng “Con đường Tơ lụa mới” đánh dấu việc Bắc Kinh tái khám phá tham vọng châu lục truyền thống của họ. Các nhà quan sát vùng Trung Á đã lưu ý một cách thuyết phục rằng sự hiện diện ngày càng nhiều của Trung Quốc trong khu vực này hơn một thập niên qua đã dẫn đến việc tạo lập một “đế quốc ngoài chủ ý (inadvertent empire)”.8* Nhưng quyết tâm tiếp tục “hành quân Tây tiến” của Tập Cận Bình cho thấy Trung Quốc hiện đang chủ động tìm cách thiết định chính mình như một cường quốc kinh tế trọng tâm ở khu vực Á – Âu.
Những tham vọng của Bắc Kinh tập trung vào giao thương và đầu tư, những việc mà họ xem là một phần của giải pháp đối với vấn đề an ninh ở Tân Cương. Giới lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã khích lệ người Hán di trú đến góc viễn phương này của đế quốc Trung Hoa, nơi có dân cư bản địa chủ yếu là dân Muslim nói tiếng Thổ Nhĩ Kì. Trước cuộc cách mạng của Trung Quốc năm 1949, nhóm dân thiểu số Duy Ngô Nhĩ theo đạo Islam chiếm hơn 90% dân số Tân Cương; ngày nay sắc dân này chiếm chỉ 40% trong số 22 triệu cư dân. Bắc Kinh đã đổ nhiều tiền vào việc nâng cấp hệ thống vận tải và kiến thiết những ngành công nghiệp dầu khí, vốn là những lĩnh vực chi phối nền kinh tế Tân Cương. Nhưng phần lớn số tiền tài này đã chảy về lại Bắc Kinh hoặc chảy vào túi những di dân Hán tộc, và chuyện đó đã tiếp nhiệt cho lòng oán hận và các cuộc phản kháng trong nhóm tộc người thiểu số Duy Ngô Nhĩ bản địa. Năm 2009, nhiều cuộc bạo loạn do người Duy Ngô Nhĩ cầm đầu đã giết chết 197 người và làm bị thương gần 2.000 người.9*
Năm 2013, bạo lực lan ra bên ngoài Tân Cương. Tháng Mười năm đó, một chiếc xe jeep do một kẻ phản kháng người Duy Ngô Nhĩ điều khiển đã đâm vào đám đông khách bộ hành ở ngoài rìa quảng trường Thiên An Môn và bốc cháy, giết chết năm người. Tiếp theo, vào tháng Ba năm 2014, tám người Duy Ngô Nhĩ cầm dao đã điên cuồng xông vào một nhà ga đường sắt chật kín người ở Côn Minh phía Tây Nam Trung Quốc, giết 29 người và làm bị thương 140 người khác – một cuộc tàn sát được truyền thông nhà nước Trung Quốc mô tả là “9/11 của Trung Quốc”. Một tháng sau, hai kẻ đánh bom tự sát đã kích nổ bom tại một nhà ga đường sắt ở Ürümqi – vụ đánh bom đầu tiên ở thành phố này trong 17 năm. Và vào tháng Bảy, một vụ bạo loạn sắc tộc ở huyện Toa Xa (Shache) phía Nam Tân Cương đã làm 96 người chết theo tin chính thức. Số người chết được trình báo năm 2014 ở khoảng 400, mặc dù con số thực có lẽ cao hơn nhiều.10*
Bắc Kinh cho rằng những vụ tấn công này phát xuất từ chủ nghĩa li khai được tiếp nhiệt bằng Islam cực đoan. Họ tin chắc rằng bọn khủng bố đang nỗ lực tạo nên một nhà nước Hồi giáo độc lập ở Tân Cương, được chỉ đạo bởi các thế lực ngoại quốc thù địch có liên kết với al-Qaeda và Taliban. Kể từ vụ tấn công Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York năm 2001, họ đã công khai liên kết chuyện đàn áp ở Tân Cương với Cuộc chiến Toàn cầu chống Khủng bố do Hoa Kỳ đề ra, khắc họa Trung Quốc là nước cùng cảnh ngộ, một “nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố quốc tế”. Một cách cụ thể, họ chỉ trích tổ chức mờ ám và mơ hồ có tên là Phong trào Islam của Ðông Ðột Quyết (ETIM) chuyên dàn xếp những vụ tấn công khủng bố từ nước ngoài.
Các chuyên gia về chủ nghĩa khủng bố không tán thành vai trò của ETIM; một số thậm chí còn bàn cãi sự tồn tại của nhóm này. Dù sao đi nữa, gần như không có bằng chứng cho thấy ETIM hoặc bất kì tổ chức “khủng bố” nào khác chịu trách nhiệm cho những vụ tấn công ở Bắc Kinh và Côn Minh. Trong cuốn sách của mình, China’s Forgotten People (Dân tộc bị lãng quên của Trung Quốc), cựu cư dân Tân Cương Nick Holdstock khẳng quyết rằng thực sự gần như không tồn tại chủ nghĩa khủng bố Islam có tổ chức ở vùng này. Thay vào đó, ông lập luận rằng bạo lực tăng nhanh như đã được chứng kiến mấy năm qua là một hành vi phản kháng tuyệt vọng đối với các chính sách mà Bắc Kinh đã đặt nên nhằm kiểm soát “chủ nghĩa khủng bố” – một lời tiên tri tự hoàn thành, về mặt chiến lược, vốn đang khích động khủng bố thực sự. Bằng danh nghĩa “an ninh”, giới chức trách đã biến phần lớn vùng này thành một nhà nước an ninh nghiêm ngặt, kiểm soát các vùng cư trú nơi này và cấm trưng biểu tượng của lòng cung hiến tôn giáo. Ðáp lại, những nhóm nhỏ người Duy Ngô Nhĩ cực đoan đã bắt đầu nhắm vào dân thường để đạt được mục đích chính trị.
Bất luận thực tế ra sao đi nữa, nỗi sợ của Bắc Kinh trước đạo Islam đang phát triển ở Tân Cương không phải là không có lí. Ðầu năm 2016, một kẻ đào thoát khỏi Nhà nước Islam (IS) đã rò rỉ hơn 3.500 mẫu đăng kí của lính ngoại quốc được thu thập từ giữa năm 2013 đến giữa năm 2014. Phân tích của Quỹ Hoa Kỳ Mới (New America Foundation), một hội chuyên gia cố vấn (think tank) trụ sở ở Washington, phát hiện rằng 118 lính trong số trên là những người đến từ Trung Quốc – 114 trong số đó đến từ Tân Cương.11* Năm 2015, IS công bố một đoạn phim tuyển mộ bằng tiếng phổ thông khích lệ thêm nhiều người theo Hồi giáo ở Trung Quốc gia nhập công cuộc jihad[29] toàn cầu. Theo các bản tường trình từ miền Bắc Syria, mấy nghìn người Duy Ngô Nhĩ Trung Quốc từ Tân Cương đã lập quân trại ở đó. Họ được miêu tả là thành viên của Ðảng Islam Turkistan (Turkistan Islamic Party) thuộc chi nhánh của al-Qaeda, một hiện thân mới của ETIM.12*
Vào ngày 30 tháng Tám năm 2016, một vụ đánh bom tự sát xảy ra ở đại sứ quán Trung Quốc ở Bishkek, thủ đô của Kyrgyzstan, đã củng cố tình thế của Bắc Kinh trong việc chống lại ETIM. Một chiếc xe đâm vào cổng đại sứ quán và kích nổ, làm tan nát các khung cửa sổ và làm bị thương ba nhân viên địa phương ở bên trong.13* Ban an ninh quốc gia Kyrgyzstan cho biết vụ tấn công này được thực hiện theo chỉ lệnh từ nhóm Duy Ngô Nhĩ cực đoan hoạt động ở Syria và người tiến hành là người Duy Ngô Nhĩ đến từ Tajikistan, thuộc về nhóm khủng bố trên. “[Nhóm ETIM] đã vấy máu khắp đôi tay họ”, theo lời của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao. “Chúng tôi sẽ kiên quyết công kích chống lại chúng và bảo vệ cho sự an toàn của người Trung Quốc ở ngoại quốc”.14* Những vụ tấn công như thế chỉ làm cho Bắc Kinh thêm bề thuận lợi nhằm biện minh cho việc áp chế các tập tục của đạo Islam tại quê nhà Trung Quốc.
Dẫu vậy, giới chức trách tiếp tục tin rằng sự phản kháng của người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương có thể bị chế ngự bằng cách phát triển nền kinh tế địa phương và cải thiện các phương tiện sinh nhai. Từ năm 2010 họ đã rót tiền vào vùng này, xây nhiều đường bộ, đường sắt và các khu chợ. Nhưng mối căng thẳng vẫn ở tình trạng cao ngất. Ở sân bay Bắc Kinh, các du khách đến Tân Cương sẽ đi qua khu kiểm tra an ninh đặc biệt và được đưa vào một lối đi rào kín đến phòng khởi hành. Ở Ürümqi, hành lí xách tay được lau bằng hóa chất ở ván cầu dẫn vào máy bay nhằm phát hiện chất nổ. Cho đến nay sự phát triển kinh tế và sự cám dỗ của tiền tài không thỏa mãn được những người bản địa đang khát khao tự do chính trị, văn hóa và tôn giáo.
Hai thế kỉ trước, Ürümqi có thể là chốn viễn phương nhất trên trái đất. Nằm ở ngay trung tâm vùng đại lục Á – Âu, bao quanh nơi này là vùng thảo nguyên, sa mạc và núi non kéo dài bất tận. “Ürümqi” nghĩa là “đồng cỏ tươi đẹp” theo tiếng của người Dzungar, những bộ tộc Mông Cổ từng cai trị khu vực này cho đến khi họ bị xóa sổ bởi các chiến dịch quân sự của Hoàng đế Càn Long vào giữa thế kỉ 18. Ngày nay đây là thành phố lớn nhất ở khu Trung Á mở rộng và là khu trung tâm trong nỗ lực của Bắc Kinh cho việc tạo lập Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa. Ürümqi nằm cách xa đại dương hơn bất kì thành phố nào khác trên trái đất, nhưng nơi đây đang trên đà trở thành vùng trung tâm vận tải và tài chính trong khu vực.
Kể từ năm 2011, Ürümqi đã tổ chức buổi Triển lãm Trung Quốc – Á Âu nhằm khích lệ giao thương trong khu vực. Năm 2014, khi tôi đến thăm, chủ đề nơi này đã công khai thành “Xây dựng Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa”. Ðược tổ chức trong một phòng triển lãm khổng lồ, với hình dạng giống như một đĩa bay bạc đến từ ngoài trái đất, nơi này được bảo vệ bởi đội Cảnh sát Vũ trang Nhân dân và đội SWAT trong những chiếc xe bọc thép chở lính. Họ đã thu hút nhiều lãnh đạo địa phương, các thương nhân từ khu vực châu Á và nhiều nơi khác, cũng như nhiều đám đông dân địa phương đang xô đẩy nhau bắt lấy những món hàng thủ công hay những món ăn đặc sản.
Những phần trưng bày sáng tỏa nhất nằm ở gian trung tâm. Ở đây tấm bản đồ khổng lồ chiếu lên cho biết Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa mới sẽ được khôi phục lại như thế nào dù cuối cùng phiên bản này trông có vẻ nhỏ hơn so với Con đường Tơ lụa cổ đại, biến một vùng đất liền tứ bề thành một đại dương ảo tượng dành cho tàu lửa và xe tải – “những con tàu của sa mạc” thời hiện đại. Phần trình chiếu đó được nối tiếp bằng một đoạn phim chiếu những nguồn cội của Con đường Tơ lụa cách đây hơn 2.000 năm, khi sứ thần triều Hán Trương Khiên lần đầu tiên băng qua vùng Trung Á nhằm thiết lập các tuyến giao thương giữa Trung Quốc và các vùng đất Tây Vực. Bộ phim giải thích, đoạn lịch sử đó đang tạo cảm hứng cho Trung Quốc xúc tiến các mạng lưới vận tải nội địa rộng lớn ở các vùng giáp biên, khi họ chuẩn bị chi phối giao thương và đầu tư khắp châu Á và dấn vào châu Âu. Ðây sẽ là “mối lợi chung” của toàn thể khu vực, mang lại hòa bình và phát triển kinh tế cho Á–Âu – nhưng quan trọng nhất, điều này sẽ giúp hiện thực hóa giấc mộng của Tập Cận Bình trong công cuộc “phục hưng vĩ đại cho dân tộc Trung Hoa”.
Những phần trưng bày khác cho thấy làm thế nào các doanh nghiệp Trung Quốc đang cẩn trọng đặt những hoạt động của chính họ vào câu chuyện lớn về Con đường Tơ lụa. Gian triển lãm đầy hình ảnh bắt mắt về cơ sở hạ tầng của các công ty – những cao tốc xuyên qua khu rừng và sa mạc; những đường hầm đâm xuyên qua núi; những chuyến tàu lửa chạy qua vùng cao nguyên băng giá của Tây Tạng – tất thảy đều minh họa cho khả năng mà những công ty đường bộ và đường sắt của Trung Quốc có thể mang lại những đường liên kết vận tải hiệu dụng đến với những vùng hoang dã nhất trái đất. Bên ngoài phòng triển lãm, một trưng bày về các cần trục khổng lồ, máy chất tải và máy xúc đã khiến người ta không còn hồ nghi gì nữa về sức mạnh kĩ thuật của Trung Quốc trong việc chế ngự địa hình không ở được ở Trung Á.
Mục tiêu của Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa, chạy từ phía Tây Bắc Trung Quốc đến châu Âu, là nhằm tạo mạng lưới vận tải đường bộ vốn sẽ rút ngắn hàng nghìn dặm đường biển truyền thống đi từ bờ biển phía Ðông Trung Quốc. Nó còn là tuyến đường vận tải để nhập khẩu dầu, khí đốt và những tài nguyên thiên nhiên khác. Trong vài năm qua, Bắc Kinh đã nối kết Ürümqi đến phần còn lại của Trung Quốc bằng tuyến đường sắt chở người tốc độ cao, và họ đã xây một tuyến đường sắt và tuyến cao tốc chở hàng mới dài 700km từ Ürümqi đến biên giới với Kazakhstan. Từ đó, họ sẽ cấp tiền xây nâng cấp các tuyến đường bộ và đường sắt đến Nga và châu Âu. Các tuyến liên kết vận tải đã cho phép chuyển các mặt hàng tinh tế từ các vùng sâu trong đất liền Trung Quốc trong khoảng thời gian chỉ bằng một phần nhỏ so với thời gian đi đường biển. Vận tải đường bộ và đường sắt có thể tốn kém hơn, nhưng có tính hiệu quả chi phí đối với những mặt hàng tiêu dùng và các linh kiện vốn có tính nhạy cảm với thời gian.
Ở biên giới với Kazakhstan, các nhà quy hoạch của Bắc Kinh muốn biến thị trấn nhỏ Khorgos thành một trong những trung tâm phân phối lớn nhất vùng Trung Á – một “cảng trên cạn” với nhiều héc-ta nhà kho và một khu công nghiệp.15* Một tuyến đường sắt mới từ Ürümqi sẽ đi qua Khorgos, nơi có nhiều hàng cần trục sẽ chuyển các container từ các toa trần chở hàng cỡ tiêu chuẩn của Trung Quốc sang các toa trần chở hàng cỡ lớn vốn được dùng ở khắp các quốc gia Xô Viết cũ. Tuyến này sau đó vòng vào mạng lưới đường sắt Xô Viết cũ ở Almaty, trong khi tuyến đường sắt mới sẽ phục vụ cảng khẩu Caspi và thị trấn dầu Aktau. Dịch vụ xuyên lục địa đầu tiên đến Ðức khởi sự năm 2012 và mất 15 ngày để thực hiện chuyến đi 10.000km, nhanh hơn 30 ngày so với đường biển. HP, Acer và Foxconn dùng tuyến đường này để xuất khẩu máy tính từ các cơ sở sản xuất ở Trùng Khánh; Volkswagen, Audi và BMW dùng tuyến này để vận chuyển các linh kiện từ Ðức đến các nhà máy ở sâu trong đất liền Trung Quốc.16* Từ cơ sở toàn cầu ở Thành Ðô, Dell gửi đi tất cả các laptop đến thị trường Âu châu bằng tuyến tàu lửa xuyên lục địa. Mặt khác, những bộ máy tính bàn cồng kềnh có xu hướng đi bằng đường biển. Những dịch vụ khác tới châu Âu chạy từ các thành phố sâu trong đất liền như Vũ Hán, Trường Sa, Thành Ðô, Tây An và Trịnh Châu.
Ðường sắt còn mở ra những thị trường Á châu mới nổi. Kể từ năm 2016, một dịch vụ tới Tehran đã cung ứng quần áo, túi xách và giày do Trung Quốc làm, thông qua Kazakhstan và Turkmenistan. Ngoài ra, một trung tâm vận chuyển hàng liên hợp ở cảng Liên Vân Cảng, 200km về phía Nam của Thanh Ðảo, về lí thuyết sẽ cung cấp lối vào đường bộ từ Hàn Quốc và Nhật tới Trung Á và châu Âu. Hãng DHL Global Forwarding đã mở một dịch vụ từ Liên Vân Cảng đến Istanbul, chuyển tiếp qua ngõ Kazakhstan, Azerbaijan và Georgia. Công ty này kì vọng số lượng ở các dịch vụ đường sắt Á – Âu sẽ tăng gấp đôi hoặc gấp ba vào năm 2020.17*
Khi tôi ghé Khorgos vào cuối năm 2014, những người môi giới Kazkhstan kể tôi nghe rằng cơ sở hạ tầng mới đã giúp ích đáng kể. “Thời điểm này việc làm ăn thuận lợi lắm”, một thương nhân toe toét cười bảo tôi thế, lí giải rằng đường biên giới mới chạy qua giữa Trung Quốc và Kazakhstan đã cung cấp nhiều phương tiện nâng cấp cho xe tải. Công ty gia đình của anh ta có trụ sở tại vùng biên cương phía Khorgos trong thị trấn Zharkent bụi bặm của dân làm nghề xe tải, và công ty này mỗi ngày gửi đi tới 15 chiếc xe tải đến Moskva. Một tuyến đường cao tốc mới đến Almaty nối kết với các tuyến đường bộ chạy theo phía Bắc tới Nga, theo phía Tây tới Uzbekistan và theo phía Nam tới Kyrgyzstan – các hành lang vận tải được tài trợ một phần bởi chương trình Hợp tác Kinh tế Khu vực Trung Á (CAREC của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).18* Trung Quốc đã dùng thành thục chiếc ô đa phương này để xây dựng nhiều phần trọng yếu của Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa, thậm chí thuyết phục ADB đặt trụ sở khu vực mới của họ ở Ürümqi.19*
Một số thành công đã đạt được trong việc xúc tiến giao thương, có lẽ là thách thức gian nan hơn chính bản thân việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Ở tuyến đường sắt cũ từ Tân Cương tới Nga, băng vào Kazakhstan vài trăm km về phía Bắc, vào năm 2012 các tàu lửa trung bình tốn 17 ngày ở vùng biên cương. Khi so sánh, dịch vụ nhanh xuyên qua Khorgos đến Ðức có nghi thức thủ tục biên giới được đơn giản hóa, đã cho thấy hỗ trợ ở mức cao cấp sẽ có thể đem lại được những gì. Vào lúc này, hàng hóa chuyển đi khá hiệu quả xuyên qua vùng biên cương Kazakhstan tiến vào Liên minh Thuế quan Á – Âu (Eurasian Customs Union). Tuy vậy một số doanh nghiệp Âu châu than phiền rằng tuyến đường này quá đắt đỏ khiến họ không thể tiết kiệm được. Chủ của một công ty hóa dầu lớn cho tôi biết sở dĩ công ty của ông xuất khẩu qua đường cây cầu đất liền này là chỉ để làm cho các viên chức trung ương lẫn địa phương thấy hài lòng.20*
Ngoài việc là một trung tâm vận tải và hậu cần, Bắc Kinh đang tìm cách biến đổi Khorgos từ một tiền đồn đầy bụi cát thành một trung tâm kinh doanh và thương mại. Những kế hoạch này bắt nguồn từ một thỏa thuận được kí kết giữa Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào và Nazarbayev trong kì họp SCO năm 2005, rất lâu trước khi bắt đầu bất kì cuộc bàn thảo nào về Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa. Những khu nhà chung cư đang mọc lên ở miền sa mạc cằn cỗi này, và nhiều thương gia khắp Trung Quốc đã bị hút tới Khorgos do chính sách giảm thuế và chi phí thuê hạ giảm ở nơi đây. Họ làm việc trong một khu chợ nguy nga khổng lồ bắc ngang qua đường biên giới, một nơi có tên gọi chính thức là Trung tâm Hợp tác Biên cảnh (Border Cooperation Centre). Ở phòng nhập cảnh, những đám đông người Duy Ngô Nhĩ, Kazakhstan và người Hồi sẽ nộp giấy phép để băng vào khu vực đặc biệt này, tại đó họ được phép lưu trú không cần visa trong 30 ngày. Phụ nữ ở đây, vận những chiếc váy sáng màu và quấn khăn trùm đầu, tỏa ra những nụ cười với những chiếc răng bằng vàng.
Khu vực biên giới này được thiết kế để thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương bằng cách khích lệ giao thương, với nhiều kho lưu trữ, các nhà kho giữ hàng nhập và nhiều kế hoạch xử lí việc xuất khẩu. Thực tế là hầu hết du khách chỉ đến mua hàng miễn thuế. Phần bên phía Trung Quốc đã được kiến thiết hợp lí rồi, với nhiều khu chợ lớn chuyên bán sỉ và nhiều tòa nhà văn phòng mới. Nhiều chuyến xe buýt chở khách mua hàng đến từ Almaty để mua áo choàng lông, quần áo và giày; hầu hết tên cửa hàng được ghi bằng tiếng Nga thay vì tiếng Trung. Nhưng phần bên phía Kazakhstan nhỏ hơn một khu chợ làng – chỉ vài container vận tải cũ được kiêm dụng làm cửa tiệm chuyên bán tạp phẩm của Kazakhstan và sữa lạc đà cho những bà ngoại bà nội người Duy Ngô Nhĩ. Nơi đây gần như không giống một trung tâm thương mại đang thành hình.
Trở ngại lớn nhất của Khorgos là vùng này thưa thớt dân cư; những thành phố lớn gần nhất là Almaty, 360km về phía Tây, và Ürümqi, 670km về phía Ðông. Các thương nhân Trung Quốc trong khu chợ đó thường cằn nhằn rằng họ bị lừa đi tới chỗ không ra gì. Doanh số sụt giảm sau vụ phá giá tiền tệ Kazakhstan vào tháng Tám năm 2015, khi đồng tenge mất một phần tư trị giá chỉ trong một ngày, làm giảm mãi lực của khách hàng. “Khu vực này hãy còn nghèo lắm: không giống việc buôn bán hàng hóa ở quê nhà [Trung Quốc]”, theo lời than phiền của ông Tả (Zuo), một người bán giày đến từ tỉnh Quảng Ðông. “Tới đây thật là sai lầm.”21*
Một nghìn dặm về phía Tây Nam Ürümqi là nơi tọa lạc của những khu chợ trong truyền thuyết xứ Kashgar, một trong những điểm dừng quan trọng nhất trên Con đường Tơ lụa cũ. Là thành phố nằm ở hướng Tây xa nhất của Trung Quốc, Kashgar giáp biên Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan và Pakistan. Nơi đây nổi danh vì có khu Chợ Chủ nhật (Sunday Market) sầm uất, khu chợ này thực ra mở cửa mỗi ngày. Hầu hết khách hàng đều là dân địa phương và mặc dù có vài biển ghi tiếng Anh chỉ đến trước “tourist souvenirs (hàng lưu niệm cho du khách)”, khu Chợ Chủ nhật chủ yếu bán các vật dụng thường ngày – những thước vải sáng màu dành cho váy các bà các cô, mũ thêu trùm đầu, lông thú và lông vũ dành cho mùa đông giá lạnh, tivi, đồ chơi và tủ lạnh. Có nhiều bao tải phồng to đầy ắp quả óc chó, nho và kẹo, các sạp hàng bên đường chào mời những li sữa đông đá, và có những nhà hàng tỏa khói trong đó người ta nướng những xiên thịt cừu béo ngậy trên những lò than củi. Cả về văn hóa lẫn địa lí, Kashgar gần với Thổ Nhĩ Kì hơn là với Trung Quốc.
Ði khỏi những con đường rộng rãi và nhiều khu cao ốc của thành phố hiện đại, nơi cư ngụ của những cư dân Trung Quốc Hán tộc trong thành phố này, Kashgar vẫn cương quyết thuộc về người Duy Ngô Nhĩ. Ðường phố tấp nập những người đàn bà mặc váy thùng thình và đầu trùm khăn sáng màu; một vài người còn trùm nguyên cả đầu họ bằng tấm khăn choàng màu nâu sạm, dõi mắt ra nhìn qua những đường khâu chỉ. Một số người đàn ông dân lao động, đội mũ flat cap và khuôn mặt lởm chởm râu màu hoa râm, có vẻ ngoài như người Tây phương đến mức họ có thể là người Thổ Nhĩ Kì hoặc thậm chí là người Sicily. Những người đàn ông già hơn, vận áo thụng trắng và đầu đội mũ trùm đầu dạng thêu, lại trưng ra hàng râu hùng tráng – dài và mỏng, để sum sê buông thả hoặc được cắt tỉa cẩn thận. Với đôi mắt hằn sâu và mũi cao, họ trông khá khác biệt với những người láng giềng Mongoloid ở Trung Quốc bản thổ (China proper) và bên kia vùng thảo nguyên Trung Á.
Phần lớn thị trấn cũ của Kashgar đã bị tiêu hủy và tái dựng hơn một thập niên qua. Những làn đường hẹp bên ngoài Thánh đường (Mosque) Id Kah đã được san phẳng để dành lối cho một quảng trường công cộng lớn, được xem là thiết yếu trong bất kì thành phố Trung Quốc hiện đại nào. Mấy căn nhà cũ kĩ làm bằng bùn (mud) và gỗ đang được thay thế bằng nhà và các khu chung cư làm bằng gạch và xi-măng. Bên kia đường đối diện Quảng trường Nhân dân (People’s Square), vốn đã trở thành bãi đậu xe cho những chiếc xe thùng bọc thép của Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung Quốc, một thanh niên đội nón trùm đầu dạng thêu đã xả nỗi bực tức vào tôi về những kẻ xâm lược Hán tộc: “Chúng chẳng có tín ngưỡng gì; chúng chỉ tôn thờ tiền bạc”, anh ta cười khinh bỉ, “Nhưng tôi là người Duy Ngô Nhĩ – một người Turk. Chúng tôi khác”. Tuy vậy, những người Duy Ngô Nhĩ khác lại cho thấy sự chấp thuận ngậm ngùi trước những kẻ thực dân Hán tộc. “Tôi có bạn bè người Hán và hầu hết bọn tôi đều hòa thuận nhau ổn thỏa”, theo lời của Hadicho, một phụ nữ trung niên vận bộ váy xanh dị hình, khi cô kể cho tôi nghe bằng tiếng Quan thoại đứt đoạn. Cô bảo rằng chính quyền thành phố đã trả cho mỗi cư dân 200 nhân dân tệ mỗi tháng, tầm 30 đô-la, để giúp trị an.22*
Tiền bạc và quyền lực là những thứ Bắc Kinh hiểu rõ nhất. Ở sân bay Kashgar, các du khách được đón chào bởi cảnh sát vũ trang và một tấm bích chương tuyên bố “Hiện thực hóa giấc mộng Ðặc khu Kashgar!”. Năm 2010, Kashgar được xếp vào loại SEZ (Ðặc khu kinh tế) mới đầu tiên trong 15 năm, được cho là theo mô hình rất thành công lúc bấy giờ ở Thâm Quyến.23* Tất nhiên Kashgar không hưởng được lợi thế ưu việt của Thâm Quyến: vị trí duyên hải nằm kế bên Hong Kong. Nhưng các nhà lập chính sách đã tiết lộ các chính sách thuế ưu đãi và chỉ thị tỉnh Quảng Ðông đầu tư 1,5 tỉ đô-la vào thành phố Kashgar, một phần của chính sách lớn hơn về việc bắt buộc những khu vực trù phú hơn của Trung Quốc phải trợ cấp cho việc phát triển khắp Tân Cương. Mục tiêu là nhằm tái thiết Kashgar làm ngõ vào vùng Trung Á và Nam Á, với các dự án đường sắt đầy tham vọng được hoạch tính nhằm nối kết thành phố này với hai nước láng giềng Kyrgyzstan và Pakistan, và xa hơn nữa.
Quảng Ðông đã rót nhiều khoản đầu tư vào “Quảng Châu Tân Thành (Guangzhou New City)”, vươn khắp vùng đồng bằng bụi bặm ra khỏi thị trấn vài dặm. Một vài khu nhà ở trong kế hoạch đã được hoàn thiện khi tôi ghé nơi này, nhưng một loạt các khu chợ bán sỉ lớn, thấp tầng trước đó đã mở ra giữa mạng lưới các con đường rộng lớn đối diện những bãi đất trống. Trong sự trống trơn có tổ chức này, nó là sự đối nghịch với khu Chợ Chủ nhật tuy phát đạt mà hỗn loạn kia. Ðến nay, gần như không có cơ sở hợp lí nào về kinh tế cho một sự kiến thiết lớn như thế ở cái vùng miên viễn, dân số thưa thớt thế này của Trung Quốc. Ở chợ quần áo, tôi nhận thấy ba năm miễn phí chỗ ở và tiền thuê tiệm giảm mạnh đã dụ dỗ được nhiều chủ tiệm đi 5.000km ra khỏi quê nhà mình ở tỉnh Chiết Giang. “Chúng tôi tới đây vì nghe nói nơi đây sẽ là một khu chợ quốc tế lớn”, một thương nhân cho tôi biết, “nhưng đến nay chỗ này vẫn còn rất yên ắng”.
Dọc theo con đường, những lái thương ngoại quốc trong Khu mua sắm tám quốc gia (Eight Country Shopping Mall) có chút lạc quan hơn. Họ cũng được thuê tiệm với giá trợ cấp và ba năm miễn phí chỗ ở, khi chính quyền nỗ lực làm cho dự án này cất cánh. Habdul Razzaq, dân bản địa Faisalabad ở Pakistan, ước tính rằng khoảng 150 trong số 1.000 thương nhân làm việc giữa Islamabad và Kashgar trước đó đã chuyển vào khu mua sắm mới này. Họ chất hàng lên xe tải băng qua công lộ Karakoram, con đường lượn uốn xuyên qua dãy núi Kashmir để tới Tân Cương. “Khi đường này không đi được vào mùa đông, tôi sẽ phải chở hàng bằng đường hàng không, nhưng hình thức đó sẽ tốn kém nhiều. Tôi hi vọng họ xây được một đường sắt mới tới Islamabad”, anh ta bảo, ý chỉ đến những kế hoạch xây dựng hành lang vận tải từ Kashgar đến Biển Ả Rập.
Ở phân khu Uzbekistan của khu mua sắm, tôi gặp Firuza Nadirova, người có quá khứ gia đình phức tạp, đã chế nhạo các đường biên giới quốc gia tạo nên đường phân chia giả tạo đối với vùng này. Là người Uzbek đến từ Kyrgyzstan, cô kết hôn với một người Duy Ngô Nhĩ gốc Kyrgyzstan; con gái họ theo học ở trường song ngữ Trung Quốc – Duy Ngô Nhĩ ở Kashgar. Trưng ra đường lông mày dính liền gây ấn tượng được làm sẫm lại bằng bột nhão đen, cô ta cho tôi thấy hộ chiếu Kyrgyzstan lam sáng có đầy visa Trung Quốc mà cô gia hạn ở Kashgar. Thông dịch cho tôi là Nurbiya, một thương nhân Duy Ngô Nhĩ trẻ tuổi nói thạo tiếng Kyrgyzstan. Bằng tiếng Quan thoại hoàn hảo – điều hiếm hoi trong số người Duy Ngô Nhĩ – cô ta kể tôi rằng cô đã đi học trường Trung Quốc và vừa trở về từ công việc dạy học ở Học viện Khổng Tử do chính phủ Trung Quốc bảo trợ ở Bishkek.
Thật còn quá sớm để bảo Quảng Châu Tân Thành – và những kiến thiết khác liên hệ với Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa – sẽ hiện thực hóa được các kế hoạch tham vọng của những nhà lập chính sách trong việc xúc tiến các trung tâm giao thương mới. Tuy vậy họ đã tạo ra nhiều cơ hội kinh tế cho những phụ nữ như Nadirova và Nurbiya. Ðiều này gần như không toại lòng được dân Duy Ngô Nhĩ vốn khao khát tự do tôn giáo và bực tức việc phải nói ngoại ngữ ở vùng đất của chính họ. Nhưng bằng cách tăng cường các tuyến liên kết giao thương với những nước láng giềng, Bắc Kinh đang mang lại tiềm năng về một tương lai phồn thịnh hơn – dẫu chỉ là đối với những ai sẵn lòng tham gia cuộc chơi chính trị này.24*
TRUNG Á
Lưu Á Châu, một vị tướng thẳng tính của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, từng gọi Trung Á là “món lễ vật hậu hĩ nhất được trời cao ban cho người Trung Quốc”.25* Ðối với Trung Quốc, Trung Á mang lại nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào. Kazakhstan có nguồn trữ lớn về dầu và uranium. Turkmenistan cung ứng gần phân nửa khí đốt nhập khẩu Trung Quốc, và ở đây có tiềm năng to lớn cho việc tăng cường rút lấy nguồn khoáng sản trong khu vực. Trung Á chiếm chỉ khoảng 1% giao thương của người Trung Quốc, nhưng giá trị chiến lược địa lí của nơi này lớn hơn hẳn ngụ ý từ những số liệu thô.
Hơn một thập niên qua, CNPC đã đánh bại các công ty quốc doanh của Nga để trở thành gã khổng lồ về năng lượng ở Trung Á. Kazakhstan quả quyết có nguồn trữ dầu lớn thứ mười thế giới, nhưng một thập niên trước các công ty dầu của Trung Quốc sở hữu chỉ một vùng trọng yếu ở đó. Ba vùng khai thác dầu lớn – Tengiz, Karachaganak và Kashagan – đều được các công ty lớn Tây phương kiểm soát, với hai đường ống dẫn chạy xuyên qua Nga tới châu Âu. Sự thâm nhập của Trung Quốc vào thị trường này diễn ra nhanh chóng và hung hãn. Năm 2005, CNPC đấu thầu thầu Tập đoàn Dầu và Khí đốt Tự nhiên (ONGC) để mua công ty dầu Canada PetroKazakhstan với giá 4,2 tỉ đô-la, biến Kazakhstan thành cơ sở sản xuất lớn thứ nhì ở nước ngoài chỉ trong chốc lát. Năm 2006, Trung Quốc và Kazakhstan mở một đường ống dẫn dầu dài 3.000km trải từ Biển Caspi đến Tân Cương. Và khi khủng hoảng tài chính giáng xuống vào năm 2009, CNPC mua một loạt nhiều công ty sản xuất địa phương vốn chịu cảnh lụn bại ở mảng giá cả hàng hóa toàn cầu. Tới năm 2010, họ đã có vốn góp đa số ở 15 công ty năng lượng Kazakhstan.26*
CNPC bơm phần lớn dầu Kazakhstan vào châu Âu, nhưng đang càng lúc càng góp tiền vào đường ống dẫn Trung Á – Trung Quốc. Với công suất kì vọng lên đến 20 triệu tấn vào năm 2020, Tổng thống Kazakhstan đã phát động viễn cảnh xây dựng một đường ống dẫn thứ nhì. Sự tự tin của ông dựa vào các luồng dầu dự kiến chảy từ vùng khai thác dầu Kashagan khổng lồ, trong đó CNPC có được khoản đóng góp 8,3% vào năm 2013 – thành quả đầu tiên của “mối quan hệ đối tác chiến lược” với KazMunaiGas, công ty dầu quốc gia, trong đó quỹ đầu tư của chính phủ Trung Quốc ở mức 11% vốn đầu tư. Chủ cũ ConocoPhilips trước đó đã đồng ý bán vốn đầu tư của họ trong Kashagan cho ONGC của Ấn Ðộ; nhưng chính phủ Kazakhstan lại dùng quyền từ chối đầu tiên để mua lại vốn đó thay vì để ONGC mua, rồi bán lại cho CNPC với giá 5 tỉ đô-la. Không phải lần đầu công ty dầu của Ấn Ðộ để thua trước đối thủ Trung Quốc có túi tiền dày hơn.
Cho đến nay, Kashagan không chứng tỏ được mối lợi khổng lồ mà CNPC từng kì vọng. Vùng khai thác dầu Caspi là khám phá lớn nhất của lĩnh vực này trong 40 năm qua, với nhiều nguồn trữ dạng trích xuất được ước tính cho ra được 13 tỉ thùng – nhưng đây cũng là một trong những nơi tốn kém nhất. Sau nhiều năm tiêu pha quá mức với con số ước tính tầm 50 tỉ đô-la Mỹ, việc sản xuất cuối cùng cũng khởi sự năm 2013, chỉ bốn ngày sau khi CNPC đạt được số vốn góp của mình. Nhưng một loạt sự cố rò rỉ khí đốt do các vết nứt ứng suất (stress crack) ở đường ống dẫn đã làm việc sản xuất bị đình trệ. Việc phục hồi sản xuất toàn diện không được tiếp tục cho đến năm 2017, một trì hoãn sẽ tốn thêm hàng tỉ đô-la. Dẫu vậy, vốn góp của CNPC ở Kashagan nghĩa là Trung Quốc đã dụng sức theo cách của mình để vào ngồi được ở bàn trọng yếu. Không còn cảnh chơi đuổi bắt ở thị trường dầu đang phát triển tại Kazakhstan, Trung Quốc giờ đang là một trong những đại diện ngoại quốc dẫn đầu ở đó.
Chuyện cũng tương tự ở Turkmenistan, một cường quốc khác về tài nguyên thiên nhiên trong khu vực. Từng là pháo đài của Công ty khí đốt Gazprom của Nga, cán cân quyền lực đã chuyển dời chắc chắn về phía Trung Quốc vào năm 2009, khi CNPC mở một đường ống dẫn khí chạy từ Turkmenistan, xuyên qua Uzbekistan và Kazakhstan, đến Tân Cương. Bản thân Nga không giúp ích được gì cho họ. Kể từ thời Xô Viết khi các đường ống dẫn chỉ chạy tới Nga, Gazprom có thể khai thác vị thế độc quyền của họ. Họ mua khí đốt ở mức giá thấp hơn thị trường, tái xuất khẩu sang châu Âu với mức giá tăng cao. Háo hức muốn chấm dứt sự lệ thuộc tốn kém này, Turkmenistan đã thực hiện thỏa thuận với CNPC. Turkmenistan giờ xuất khẩu nhiều khí đốt sang Trung Quốc hơn là bán cho Gazprom. Tình thế đã xoay chuyển thật dứt khoát đến nỗi chính phủ Turkmenistan ở Ashgabat giờ đây cực kì lệ thuộc vào những khoản xuất khẩu sang Trung Quốc.
Bốn công ty năng lượng lớn của Nga – Gazprom, Lukoil, Transneft và Rosneft – tiếp tục bơm lượng lớn dầu và khí đốt từ Kazakhstan qua Nga sang châu Âu. Rosneft thậm chí còn bơm dầu Nga qua Kazakhstan sang Trung Quốc, giúp kiếm được tiền trung chuyển hữu ích cho Astana. Do vậy Nga giữ lại được ảnh hưởng kinh tế đáng kể ở Trung Á. Nhưng móng vuốt cả Trung Quốc đào sâu hơn: Họ đã xây nhiều nhà máy điện, nhà máy lọc dầu và nhiều tuyến dẫn truyền ngoài cơ sở hạ tầng cho khí đốt, hầu hết nhằm để gây tổn hại cho các công ty Nga, vốn không thể cạnh tranh với Trung Quốc trong việc cấp tiền dễ dàng và xây dựng nhanh chóng. CNPC đang xây một tuyến đường thay thế cho khí đốt Turkmenistan đi xuyên qua Kyrgyzstan, với nhiều đoạn đường phụ đi tới những khu vực thiếu năng lượng của vùng này. Và chi nhánh Tân Cương của Công ty Mạng điện Trung Quốc (SGC) đang chuẩn bị rót thêm nhiều tỉ đô-la vào hệ thống mạng điện mới – vốn chắc chắn sẽ được gắn nhãn “Con đường Tơ lụa điện năng” – liên kết Trung Á với Tân Cương.
Về mặt kinh tế, Trung Quốc – chứ không phải Nga – hiện là “ông trùm” của Trung Á. Ðối với Kazakhstan và Turkmenistan, họ là đối tác năng lượng cần yếu và là nguồn quan trọng để có những khoản cho vay lãi suất thấp. Nhưng đối với những nước nhỏ hơn trong vùng, Tajikistan và Kyrgyzstan, họ là chiếc phao cứu sinh về kinh tế. Giới lãnh đạo của họ lệ thuộc vào các công ty Trung Quốc để xây dựng các hệ thống vận tải và điện năng tầm quốc gia, chủ yếu được tài trợ bằng những khoản cho vay lãi suất thấp từ các ngân hàng chính sách của chính Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc đã xây hai quốc lộ mới từ Kashgar tới Kyrgyzstan, cùng với một đường bộ vốn sẽ nối kết miền Bắc và miền Nam của nước đó. ADB đang giúp tài trợ các dự án này, nhưng phần lớn các khoản cho vay đều bắt nguồn từ Ngân hàng XNK. Rất ít nhà tài trợ khác có được nguồn tiền hoặc có xu hướng cho vay đối với các nhà nước bạc nhược vốn chưa đảm bảo được mức độ tín nhiệm chính thức.
Một trong những tuyến đường bộ mới và quan trọng nhất được thiết kế nhằm gia tăng giao thương giữa Kashgar và Osh, hai trong số các trung tâm giao thương lớn nhất của Con đường Tơ lụa cổ đại. Hơn 2.000 năm nay, các thương nhân Trung Quốc đã chở hàng hóa qua lại giữa hai thị trấn chợ này, qua đèo Irkeshtam nằm ở khu đồi thấp thuộc dãy núi Pamir. Khối lượng hàng hóa tăng gấp năm hơn một thập niên qua, khi Kyrgyzstan chuyển hóa chính mình thành một thị trường bán sỉ trong khu vực. Toàn bộ hai phần ba hàng nhập khẩu của họ chính thức đến từ Trung Quốc – hàng gia dụng, đồ chơi, giày, quần áo và sản phẩm điện tử – và con số thực còn hơn nữa nếu tính luôn cả hàng lậu. Cho đến khi tuyến cao tốc mới mở ra, những mặt hàng này được chở bằng xe tải dọc theo con đường đầy ổ gà vốn phải chịu nhiều trận lở đất thường xuyên. Hầu hết đều được tái xuất khẩu, chủ yếu sang Uzbekistan và Kazakhstan. Nền kinh tế chợ của Kyrgyzstan hẳn sẽ sụp đổ nếu không có sự giao thương qua lại của người Trung Quốc.
Tuyến cao tốc mới, như tôi được các thương nhân địa phương kể lại, đã làm giảm thời gian di chuyển 24 giờ xuống còn một nửa ở đoạn đường giữa Kashgar và Osh. Tôi quyết định tự mình kiểm định lấy, rời Kashgar sau bữa ăn sáng. Tài xế của tôi là Osman, một người Duy Ngô Nhĩ với đôi má lởm chởm râu khắp nơi và hàng ria đen rậm. Lái xe về phía Tây dọc theo đường cao tốc, chúng tôi đi xuyên qua vùng hoang vu đầy sa thạch xói mòn, đi ngang qua những vách đá nâu xám lởm chởm có nhiều căn nhà nông trại bằng gỗ nhiều nét khắc chạm. Bọn cừu gầy gò gặm cỏ trên bãi cỏ và cát nhạt nhẽo. Khu kiểm soát hải quan Trung Quốc nằm ở một thị trấn ảm đạm nhỏ với dân số chủ yếu là người Kyrgyzstan, cách đường biên thực sự những 135km. Chúng tôi đi ngang qua một nhúm xe tải đang chờ khai báo ở tòa nhà hải quan hiện đại và bắt đầu lên đường theo tuyến quốc lộ mới đến đèo Irkeshtam.
Ở đây phong cảnh cằn cỗi càng thêm màu ảm đạm – toàn bộ đá lởm chởm và đá vụn ở sa mạc, vươn tới dãy núi màu bánh quy. Tài xế mới của tôi, một người Kyrgyzstan nhưng mang quốc tịch Trung Quốc, treo một màn hình video trong chiếc Geely ọp ẹp của anh, một chiếc xe Trung Quốc rẻ tiền. Những người phụ nữ đội nón lông thú hát líu lo theo tiếng accordion. Phấp phới trên bảng điều khiển xe Geely là hai lá cờ nhỏ, đại diện cho nhà nước Trung Quốc và Ðảng Cộng sản Trung Quốc.27* Từ nhựa đường sạch trơn của quốc lộ mới, chúng tôi thấy được con đường cũ khúc khuỷu và gồ ghề. Các cây cầu xuyên qua lớp đá, và những cây cột sóng radio mới đảm bảo độ phủ sóng di động hoàn hảo ở một trong những địa điểm miên viễn nhất trái đất.28* Ulugqat, ngôi làng cuối cùng ở Trung Quốc, là một mạng lưới xấu xí các ngôi nhà bungalow bằng gạch có tường được phủ bằng những câu tuyên truyền về sự phát triển Trung Quốc được sơn lên bằng chữ Ả Rập. Nhưng ở những cánh đồng phía bên kia, những nông dân đội mũ nỉ đang dùng liềm quét qua vùng đồng cỏ đồi núi, dãy Pamir đỉnh đầy tuyết trỗi lên hùng vĩ đằng sau lưng họ.
Ở phần biên giới của Trung Quốc, một người lính liếc nhìn hộ chiếu của tôi và vẫy tay cho tôi đi vào vùng đất vô chủ, tại đó tôi đếm được một hàng dài hơn trăm chiếc xe tải đang chờ tiến vào Trung Quốc. Ở phần biên giới của Kyrgyzstan, một toán lính vạm vỡ đeo súng trường bên vai gầm với tôi bằng tiếng Nga. “Narkotiki? (Ma túy à?)” một lính gác hải quan hỏi bằng giọng cười ngặt nghẽo, vẫy tay cho tôi đi qua.29* Ở phía bên kia, con đường thoáng chốc đã lên cao đến 3.600 mét dọc theo vùng đồng cỏ nhấp nhô hoang lương. Bầy ngựa và cừu gặm cỏ, lác đác đó đây là những túp lều và mấy chiếc xe kéo nhìn như đoàn lữ hành mỏi mệt của dân du mục. Bên vệ đường, bọn trẻ với những khuôn mặt bóng nhẫy bán sữa ngựa lên men đựng trong bình nhựa. Con đường đi theo hình chữ chi xuống con đèo dốc đi theo con sông hối hả lấm tấm những mảnh băng tan. Cuối cùng chúng tôi vào được Thung lũng Ferghana phì nhiêu, đến Osh kịp lúc cho bữa ăn tối – một chuyến đi dài mười giờ.
Chuyến đi đường này cho thấy làm thế nào mà kĩ thuật của người Trung Quốc đang thay đổi cảnh trí vùng Trung Á. Vào thời Xô Viết, những con đường bộ của Kyrgystan chủ yếu dẫn tới phía Bắc đến Kazakhstan và Nga. Vùng Trung Quốc bản thổ hãy còn là nơi xa xôi, nhưng giờ việc chở hàng bằng xe tải từ các nhà máy ở bờ biển phía Ðông là việc làm hoàn toàn khả dĩ. Nếu các chiến lược gia Trung Quốc được làm theo ý mình, con đường bộ từ Kashgar đến Osh sẽ được đồng hành cùng một tuyến đường sắp đi tiếp tới những khu chợ lớn hơn của Uzbekistan, Iran và Thổ Nhĩ Kì. Ðiều này sẽ cho phép hàng hóa Trung Quốc đi qua Kyrgystan, mà đôi khi nước này còn dọa cấm xe tải Trung Quốc nhập cảnh. Ðoạn cuối cùng của tuyến đường sắt Kazakhstan – Tukrmenistan – Iran đã khai thông vào năm 2014; Turkmenistan đang làm tuyến đường mới xuyên qua Afghanistan và Tajikistan, còn Uzbekistan cũng đang đặt 129km đường ray mới. Một tuyến đường sắt do Trung Quốc xây dựng xuyên qua Kyrgyzstan, mà công tác thực hiện theo lời cựu Thủ tướng Temir Sariyev sẽ bắt đầu vào năm 2016, sẽ nối vào hệ thống trong khu vực này.
Osh từng là thị trấn giao thương quan trọng ở phân khu Con đường Tơ lụa chạy từ Kashgar đến Samarkand. Ngày nay thị trấn này là một di tích đổ nát của thời Xô Viết, hoang phế và xiêu vẹo, khổ sở vì những con đường tắc nghẽn và hệ thống ống nước không ai tin dùng. Hơn bất kì thành phố nào khác ở Kyrgyzstan, nền kinh tế nơi đây vận hành dựa trên việc tái xuất khẩu hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Công việc giao thương này xoay quanh khu chợ Kara-Suu, gần như nằm ở biên giới Uzbekistan. Giống những khu chợ lớn khác trong khu vực ở Bishkek và Almaty, khu này được dựng bằng hàng nghìn container chất chồng thành đôi, và rất hỗn loạn, xô bồ, đầy những quần áo, giày dép, đồ điện tử và những món hàng rẻ tiền khác. Những người đẩy xe chất mấy cái hộp lên xe đẩy kim loại, hối hả băng qua đám đông và cứ la lên Push, push! – “Coi chừng, coi chừng!”
Những thương nhân Trung Quốc, hầu hết đến từ tỉnh Phúc Kiến, đã bắt đầu tới Kara-Suu hơn một thập niên trước. Khi bạo lực bùng lên giữa dân Kyrgyz địa phương và Uzbek năm 2010, đã có khoảng 2.000 người Trung Quốc ở khu chợ này, chủ yếu phục vụ những lái thương bán sỉ đến từ Uzbekistan. Nhưng phần lớn việc kinh doanh đó đã ngừng lại, và khoảng một nửa đã quay về Trung Quốc. “Người Uzbek quá sợ đến mức không tới đây”, theo lời giải thích của Trâu Nhã (Zuo Ya), một thương nhân người Phúc Kiến đã làm việc ở Kara-Suu được mười năm. “Giờ chuyển hàng qua biên giới cũng gay go hơn; hàng thường bị hải quan giữ lấy”. Hối lộ viên chức biên cảnh đơn giản là một phần của việc làm ăn ở Trung Á, nhưng nhiều thương nhân Trung Quốc đã chịu quá đủ. “Làm ăn tệ lắm”, theo lời một người dân Phúc Kiến, vận chiếc váy ngắn nhỏ xíu. “Tôi chắc chắn sẽ về nhà.”30*
Một trong những than phiền nặng nề nhất ở Kara-Suu là các thương nhân Uzbekistan lấy nguồn hàng hóa trực tiếp ở Quảng Châu, và sắp xếp chuyển hàng bằng xe tải qua Ürümqi đến Tashkent. Họ dùng các dịch vụ của Abu-Sahiy, một công ty hậu cần với chủ sở hữu là gia đình của Islam Karimov, người lãnh đạo Uzbekistan bằng nắm đấm sắt từ lúc nước này độc lập năm 1991 đến khi ông ta qua đời năm 2016. Lái xe một đoạn ngắn từ khu chợ, tôi phát hiện kho tải hàng của Abu-Sahiy ở một bãi đỗ xe bụi bặm được quây lại bằng những bức tường đầy những bức vẽ graffiti. Chỗ này có nhân viên là người Duy Ngô Nhĩ, vốn đóng vai trò môi giới giữa Trung Á và Trung Quốc. Một trong số những viên quản lí, một người đàn ông da ngăm tên là Alijan, xác nhận rằng xe tải của họ chưa từng gặp rắc rối ở khu biên giới. Ông ta cười toe nói rằng, “Việc làm ăn của chúng tôi đang phát đạt”.
Ở trung tâm Osh, khu chợ Taatan, do người Trung Quốc quản lí, bán nhu yếu phẩm cho các nhà đầu tư Trung Quốc. Tôi nói chuyện với ông Vũ (Yu) trong cửa tiệm ngũ kim công nghiệp của ông ấy. Ban đầu đến từ thành phố duyên hải Nam Thông gần Thượng Hải, ông chuyển đến Osh năm 2007 để cung ứng cho các doanh nghiệp Trung Quốc, những người đã mua một loạt các xí nghiệp xi-măng và nhà máy thép. Vợ ông sống ở Ürümqi, tại đó bà tổ chức các đợt vận chuyển mũ bảo hộ lao động, máy trộn xi-măng, quạt công nghiệp và các linh kiện máy móc. Hầu hết đều đi qua ngõ Kashgar bằng xe tải; một số được vận chuyển bằng tàu lửa qua ngõ Kazakhstan. CNPC và Công ty Cầu đường Trung Quốc do nhà nước sở hữu đều có mặt ở Osh, một nơi vốn đang trở thành trung tâm cho tư nhân Trung Quốc đầu tư vào việc khai khoáng – vàng, than và pha lê. Năm 2014, Trung Quốc mở một Lãnh sự quán ở thành phố này để hỗ trợ cho cộng đồng Trung Quốc ngày một tăng ở đây. Khi tiền chảy dọc theo Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa, nhiều người như ông Vũ sẽ tới đây để thử vận.
Khi Trung Quốc cấp vốn cho việc kiến thiết khắp Trung Á, người dân trong khu vực sợ bị người láng giềng này nuốt chửng. Ở Kyrgyzstan, ẩn dụ này đã thành thực tế: Dân địa phương còn đùa cợt về giới lao động Trung Quốc ăn uống linh đình trên lưng lừa của họ. Hầu hết mọi người đều thấy rằng kế hoạch của Bắc Kinh trong việc xây dựng tuyến đường sắt băng qua đất nước nhỏ bé của họ là thứ chứa đựng mối đe dọa nhiều hơn mối lợi tiềm tàng. Thách thức cho giới lãnh đạo trong khu vực là làm quân bình quan điểm công chúng với thực tiễn kinh tế: “Chúng ta không nên sợ sự bành trướng của Trung Quốc và giăng rào ngăn họ”, Tổng thống Kyrgyzstan Almazbek Atambaev cố thuyết phục dân chúng của mình. “Chúng ta nên tận dụng lợi thế của mình ở thực tế rằng Trung Quốc là láng giềng của ta. Dẫu cho chúng ta không xây đường sắt, người Trung Quốc vẫn sẽ đến với chúng ta.”31*
Sau nhiều năm Xô Viết tuyên truyền chống Trung Quốc, ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc được xem là điều không tránh khỏi nhưng lại là thứ gây hại. “Trung Quốc là cục nam châm khổng lồ hút tất cả các nước nhỏ quanh họ”, người bán giày bướng bỉnh Chubak đã nói với tôi thế ở chợ Osh. “Chúng tôi cần họ để tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu chúng tôi không cẩn thận, chúng tôi có thể mất nước”. Thích thú trước chủ đề của mình, ông ta chuyển sang lời than phiền quen thuộc. “Ðiều thực sự làm tôi tức tối là việc các công ty Trung Quốc thắng mọi thầu của chính phủ cho những con đường mới, nhưng sau đó họ không bao giờ tuyển công nhân địa phương”, ông nói, đập nắm đấm to béo vào lòng bàn tay mình. Công ty Cầu đường Trung Quốc, vốn đã xây tuyến quốc lộ mà tôi đã đi xuyên qua đèo Irkeshtam, đã nhập khẩu phần lớn công nhân của họ. Sau hôm đó, tôi đi ngang qua những công nhân Trung Quốc trong bộ đồ lao động màu cam huỳnh quang, trồi lên lại mặt đường ở rìa thị trấn.
Nỗi sợ lịch sử về “mối họa da vàng (yellow peril)” vẫn còn sống động ở vùng Trung Á, đặc biệt trong những câu chuyện hài đen (black humour) về dân nhập cư Trung Quốc đang đổ qua vùng biên giới. “Năm 2030, tất cả chúng ta thức dậy và thấy mình nói tiếng Trung Quốc”, theo một câu thường hay nói ở đây. “Mọi người đã thấy những thước phim về huấn luyện quân đội Trung Quốc – cả tỉ người hành động như một người”, Nurbala Amiebayera, một sinh viên kĩ thuật phần mềm, đã kể tôi nghe lúc ăn bữa tối ngon miệng bằng bánh mì kebab thịt ngựa ở Almaty. “Ðiều đó làm bọn tôi sợ muốn chết. Khi chúng tôi học lịch sử của mình, chúng tôi biết được rằng các bộ lạc gần Trung Quốc đã xâm lăng chúng tôi”.32* Ở Kyrgyzstan, khi truyền thông đầy ắp những câu chuyện phóng đại về người nhập cư Trung Quốc kết hôn với phụ nữ địa phương, giới chính trị gia theo chủ nghĩa dân túy thậm chí còn có những bài diễn văn quái lạ nói về việc máu người Trung Quốc làm suy yếu hệ gien của đất nước.33*
Không có dữ liệu chắc chắn về di trú, nhưng các báo cáo về hàng trăm nghìn dân nhập cư Trung Quốc đổ vào Trung Á chắc chắn bị phóng đại – đặc biệt ở Kazakhstan, vốn vẫn duy trì kiểm soát chặt về visa. Hàng vạn người là con số ước đoán đúng hơn. Nhiều di dân không có khoảng thời gian hạnh phúc: Các cộng đồng Trung Quốc là nạn nhân của bọn trộm vặt hoặc của tệ tống tiền của những băng đảng tội phạm, thường được cảnh sát che chở, để họ có khuynh hướng giữ địa vị của mình ở thế khiêm nhường. Vào tháng Mười Hai năm 2013, tờ Hoàn cầu Thời báo trụ sở ở Bắc Kinh tường trình một “làn sóng” tấn công vào giới doanh nghiệp và sinh viên Trung Quốc ở Bishkek và xung quanh đó. Hè năm 2015, người chủ Trung Quốc của chuỗi cửa hàng mắt kính ở thủ đô Kyrgyzstan đã bị đánh bất tỉnh và chết trong bệnh viện sau vụ bất đồng với một viên cảnh sát trưởng.34* Tuy thế cảm thức chống Trung Quốc lại được dung dưỡng nhờ vào sự thiếu tiếp xúc, chứ không phải do tiếp xúc quá nhiều, với người Trung Quốc. Bên ngoài khu chợ, rất hiếm người dân Kyrgyzstan gặp người Trung Quốc. Những thợ làm đường được mang đến từ miền quê Trung Quốc thường được dồn vào các trại nằm xa dân địa phương, từ đó dung dưỡng nhiều lời đồn rằng họ thực ra là những kẻ bị kết án tù đang chịu cảnh lao động khổ sai.
Rất hiếm di dân Trung Quốc bắt rễ ở vùng Trung Á. Họ xem mình như những thương nhân nhất thời, kiếm chút tiền trước khi trở về Trung Quốc. Ðiều này rất khác với nhiều khu vực khác trên thế giới – thậm chí châu Phi, ở đó hàng vạn dân nhập cư Trung Quốc đã an cư tại đó.35* Tại khu chợ Taatan ở Bishkek, họ nhìn chằm chằm bằng vẻ bơ phờ vào những chương trình tivi Trung Quốc phát trên điện thoại. Những thương nhân mà tôi nói chuyện là dân Tân Cương và Phúc Kiến, nhưng họ bảo người ta đến từ khắp mọi miền của Trung Quốc. “Anh có quen với cuộc sống ở đây không?” tôi hỏi một thanh niên đến từ Phúc Kiến, người đã làm việc ở khu chợ này được bảy năm. Anh ta nhún vai, với vẻ khổ sở. Tôi không thấy nhà hàng Trung Quốc nào nhắm đến cộng đồng di dân, và thậm chí những tay đổi tiền ở Bishkek quảng cáo đủ mọi tiền tệ trong khu vực ngoại trừ đồng nhân dân tệ của Trung Quốc. Sự hiện diện của Trung Quốc tạo một cảm giác thật hời hợt.36*
Ở Kazakhstan, hầu hết người Trung Quốc đến bằng loại visa kinh doanh ngắn hạn. Vào những ngày trong tuần, phần vỉa hè bên ngoài Ðại sứ quán ở Bắc Kinh đông đúc những người đàn ông dáng vẻ đời thường, hầu hết trong độ tuổi 30 và 40, tay nắm chặt các biểu mẫu. Trong văn phòng visa, các viên chức gầm lên mấy câu hỏi vào mặt họ bằng tiếng Trung Quốc pha giọng Nga: “Tại sao anh muốn tới Kazakhstan? Anh được rèn luyện ở lĩnh vực nào? Anh sẽ ở đâu và khi nào anh trở về Trung Quốc?” Giới chức trách Kazakhstan háo hức muốn vắt tiền Trung Quốc phục vụ cho đầu tư và chuyên môn, nhưng họ cẩn trọng hạn chế chỉ cho giới công nhân có tay nghề nằm trong luồng di dân Trung Quốc vào nước họ. Ứng viên là dân dầu khí đi đến những giàn khoan và đường ống dẫn ở vùng Biển Caspi, những người vận hành máy móc từng làm trong những dự án cơ sở hạ tầng do Trung Quốc tài trợ, hoặc những kĩ thuật viên tham dự những hội chợ thiết bị – tất cả đều cầm theo thư giới thiệu, có đóng mộc của công ty họ.
Khi tôi đến đó để lấy visa, những ứng viên khác thuộc loại thiên về đầu cơ. Giáo sư Vương từ Ðại học Nông nghiệp Cát Lâm muốn tham gia một diễn đàn nông trại cho hươu ở thành phố Ust-Kamenogorsk nằm ở phía Ðông. Các nhà đầu tư Trung Quốc muốn mua cổ phần ở các nông trại cho hươu của Kazakhstan, ông giải thích, vì gạc hươu được dùng làm thuốc bổ Trung Quốc. Một người đàn ông trung niên đến từ Ðại Liên, thành phố duyên hải phía Ðông Bắc Trung Quốc, hi vọng lập một xí nghiệp gạch. “Tôi chưa từng đến Kazakhstan trước đây, nhưng khi tới đó tôi sẽ xem thử nơi đó thế nào”, ông nói.37* Ðây là loại hình doanh nghiệp đầu cơ vốn giúp các nhà đầu tư Trung Quốc vượt mặt Lào, Myanmar và phần lớn vùng châu Phi. Bất kì nơi đâu có cơ may sinh lợi, họ đều thử đầu tư. Tuy nhiên, cho đến nay chính phủ Kazakhstan đã làm tốt nhiệm vụ trong việc giữ cho số di dân Trung Quốc ở mức tối thiểu: Công nhân cứ bay vào rồi bay ra, nhưng họ không ở lại.
Trong hầu hết các trường hợp, dân nhập cư Trung Quốc làm lợi cho những nền kinh tế địa phương – nhưng sự nhận thức về tầm ảnh hưởng gây phương hại của Trung Quốc cũng là điều quan trọng ngang với thực tiễn xảy ra. Thử lấy vùng Chatkal của Kyrgyzstan làm ví dụ, tại đó dân địa phương kết tội giới khai khoáng vàng người Trung Quốc vì đã biến rừng thành sa mạc, làm việc bí mật vào ban đêm, và hối lộ các viên chức thuế. Phần lớn sự tức giận bắt nguồn từ trước năm 2010, thời điểm mà luật pháp sở tại cho phép hàng tá công ty Trung Quốc lấy được giấy phép khai khoáng với chi phí không hơn chi phí làm giấy tờ – chưa tới 10 đô-la Mỹ mỗi lần. Người dân ở đây trong đầu luôn bao phủ một niềm tin rằng giới viên chức ăn tiền đã để Trung Quốc và các công ty nước này được phép có những hành vi miễn truy cứu.
Người dân Trung Á càng lúc càng tin chính phủ của họ cũng đã nằm trong túi của Trung Quốc. Giới quyền thế Kyrgyzstan và Tajikistan biết quá rõ sự thật là họ cần Trung Quốc chỉ để duy trì nguồn kinh phí cần thiết. Bắc Kinh đang chơi một trò khôn ngoan, đầu tư vào nhiều dự án – từ mạng lưới dây điện mới đến các nhà máy lọc dầu – vốn mang lại rất ít mối lợi thương mại hiển hiện. Trong chuyến công du tới Tajikistan năm 2014, Tập Chủ tịch đã tham dự một buổi lễ động thổ Tuyến D của đường ống dẫn khí Trung Á – Trung Quốc, vốn sẽ chạy từ Turkmenistan đến Trung Quốc thông qua hai ngõ Tajikistan và Kyrgyzstan. Không nước nào trong hai nước này có nguồn cung ứng khí đốt cho riêng mình. Các tuyến đường ngắn hơn và dễ hơn cũng sẵn có khi ấy; những động tác thiện chí này đã cho thấy làm thế nào mà Bắc Kinh dần đạt được sức ảnh hưởng chính trị một cách cẩn trọng.
Trung Á rất cần tăng trưởng kinh tế, điều có thể có được nhờ giao thương và đầu tư với Trung Quốc. Ở ngoại vi Bishkek, dân nhập cư ngoại ô sống trong những căn nhà làm bằng bùn với các tấm nhựa làm cửa sổ. Bản thân thành phố Bishkek loang lổ những xí nghiệp cũ kĩ. Tuy vậy thật đáng ngờ cho chuyện các chính phủ tham nhũng của vùng này có thể lợi dụng sự trỗi dậy của Trung Quốc để phục vụ cho công lợi. Thực tế, bằng cách duy trì những nền kinh tế yếu nhất tránh bị sụp đổ, sự hào phóng của Trung Quốc còn có thể giúp những nhà độc tài duy trì quyền lực.38*
NGA
Sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Trung Á được nhìn nhận bằng nỗi bất an kinh khủng ở Moskva, vốn từ lâu đã xem vùng này là sân nhà họ. Ở khắp vùng không gian hậu Xô Viết, như vùng Liên Xô cũ được biết đến ngày nay, Vladimir Putin than van về sức ảnh hưởng đang suy giảm của Nga. Giống như Tập Cận Bình, Tổng thống Putin là người theo quốc gia chủ nghĩa vốn đang tìm cách phục hưng đất nước của mình. Kế hoạch vĩ đại của ông nhằm đạt được mục đích này là thành lập Liên minh Á – Âu, trải dài từ Ukraine, băng qua vùng Kavkaz[30] và Trung Á, đến vùng Viễn Ðông thuộc Nga. Giới phê bình gọi đây là “Liên Xô bản thứ cấp (Soviet Union-lite)”.39*
Mộng của Putin đã tới gần thực tiễn hơn vào ngày 1 tháng Một năm 2015 với việc thiết lập Liên minh Kinh tế Á – Âu (Eurasian Economic Union – EEU), vốn phát triển từ một liên minh thuế quan sẵn có giữa Nga, Belarus và Kazakhstan. Ðến nay EEU có năm thành viên, với việc Armenia và Kyrgyzstan gia nhập vào ba nước ban đầu. Ðiện Kremlin đã gây sức ép lớn bắt Kyrgyzstan gia nhập, và gây tác động kinh khủng lên Kyrgyzstan để bắt nước này đi theo. Giống như Liên minh Châu Âu, mục tiêu chính yếu của EEU là nhằm đảm bảo sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, vốn, dịch vụ và con người đi khắp một thị trường đơn nhất được tích hợp. Nhưng mục tiêu đường dài của Putin còn to lớn hơn: Nhằm tạo ra một liên minh chính trị siêu quốc gia vốn có thể bắt cầu giữa châu Âu và châu Á nhằm đối địch với EU và Trung Quốc. Nói ngắn gọn, đây là toan tính táo bạo của Nga nhằm bảo toàn khu vực ảnh hưởng của mình khắp cả vùng Á – Âu, bao gồm Trung Á.
EEU khi ấy có nhiệm vụ ngăn chặn Trung Quốc “Tây tiến” cũng như ngăn chặn sự bành trướng của EU ở Tây Âu. Tuy vậy, có nhiều lí do thích hợp về kinh tế để tin rằng toan tính này sẽ không lớn mạnh được. Trước tiên, về căn bản đây là lối tiếp cận hướng nội và theo chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch (protectionism). Các mức thuế đối ngoại cao đã làm tổn hại việc giao thương với các thành viên không thuộc liên minh thuế quan, đáng chú ý là giao thương qua lại giữa Trung Quốc và Kyrgyzstan. Mặc dù liên minh này đã tăng số lượng giao thương chung trong phạm vi khu vực, nhưng họ chủ yếu làm thế để Nga được lợi. Thâm hụt thương mại (trade deficit) ở Kazakhstan càng lớn hơn với các nước láng giềng của họ; tuy thế Nga vẫn nhất quyết giữ nguyên các khoản miễn thuế đối với thuế năng lượng nội bộ, trị giá 40 tỉ đô-la Mỹ mỗi năm, cho đến năm 2025.
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là về chính trị. Ý tưởng về một Liên minh Á – Âu lần đầu được đề xuất vào năm 1994 từ Tổng thống Nazarbayev của Kazakhstan. Nhưng tầm nhìn của ông chỉ khuếch trương thành khối mậu dịch chung – không phải liên minh chính trị mà ông ta sợ là mục tiêu đích thực của Putin. Trước yêu cầu kiên quyết của ông, Liên minh Á – Âu được đổi tên thành Liên minh Kinh tế Á – Âu. Những tham vọng theo chủ nghĩa phục hồi lãnh thổ của Nga là mối ưu tư trường kì ở Astana. Ở trại thanh niên thân Kremlin tổ chức ở Hồ Seliger gần Moskva hồi tháng Tám năm 2014, Putin tuyên bố rằng “người Kazakhstan trước đây chưa từng có cương vị quốc gia” và Kazakhstan kì cùng là một phần của Russki mir – “thế giới Nga”. “Kazakhstan sẽ không trở thành một phần của những tổ chức vốn uy hiếp nền độc lập của chúng ta”, Nazarbayev đáp lại, đầy giận dữ, trên đài truyền hình quốc gia.40*
Nhưng chính việc Nga kiểm soát Crimea hồi năm 2014 là điều làm cho người ta trở nên hốt hoảng ở Astana. Kazakhstan có nhiều điểm chung với Ukraine: 22% dân số là người Nga, tăng lên hơn 40% ở các thành phố dọc theo biên giới phía Bắc với Nga. Nhiều người Nga nhìn chung còn xem miền Bắc Kazakhstan là lãnh thổ của Nga, cũng như cách người ta nhìn nhận Crimea và những khu vực phía Ðông Ukraine. Trong một lần hiếm hoi công chúng bày tỏ tinh thần đối kháng trước thời điểm thương thảo về hiệp ước của EEU, 500 người biểu tình đã tuần hành khắp các đường phố đầy lá rơi của Almaty, phản đối việc gia nhập làm thành viên tổ chức này. Sau hơn một thế kỉ bị Moskva dẫn dắt người dân Kazakhstan – giống như các đồng chí cũ của họ ở phía Tây Ukraine – canh phòng nền độc lập của họ bằng một tinh thần dữ dội.
Giới phân tích chính trị ở Kazakhstan tin rằng toan tính của Nga nhằm mở rộng khu vực ảnh hưởng đã trao cái sáng kiến địa chính trị kia cho Bắc Kinh. “Crimea đã làm Nga suy yếu”, theo lời Nargis Kassenova, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Á ở trường Ðại học KIMEP của Almaty. “Chúng tôi từng e dè trước Trung Quốc, nhưng họ xem ra là phần cược tốt hơn Nga. Người Trung Quốc không can thiệp vào các vấn đề nội bộ; họ cho thấy sự tôn trọng, và họ không áp đặt các điều kiện chính trị”.41* Aidar Azerbayev, một học giả ở Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới (Institute for World Economics and Politics) ở Almaty, đồng ý với quan điểm đó. “Ukraine củng cố tác động của Tập Cận Bình”, ông cho tôi biết ở bữa tối trong một nhà hàng địa phương. “Trung Quốc có thể nới lỏng sự ghì chặt của Nga ở vùng Trung Á và trình ra tầm nhìn của họ về một Con đường Tơ lụa mới như một phương án thay thế cởi mở hơn.”42*
Tổng thống Nazarbayev đã làm khá rõ vị thế của Kazakhstan ở buổi kí kết hiệp ước EEU, bằng những lời bình luận rõ ràng nhắm đến Putin: “Chúng tôi xem EEU là một cộng đồng kinh tế mở, được tự nhiên nối kết với truyền thông toàn cầu và có vai trò là một cầu nối đáng tin cậy giữa châu Âu và khu vực châu Á đang tăng trưởng”. Kazakhstan tự định vị mình như là giao lộ của Á – Âu, tại đó họ kiên quyết cân bằng các mối lợi ích bên ngoài đang cạnh tranh nhau. “Chúng tôi bị đất liền bao phủ tứ bề và nằm cách xa các thị trường thế giới, nên chúng tôi cần hệ thống nối kết tốt hơn”43* , Timur Zhaxylykov, Thứ trưởng quy hoạch kinh tế và ngân sách, đã cho tôi biết ở bên lề kì họp thường niên năm 2014 của ADB, tổ chức ở Astana. “Ðường bộ, đường sắt và đường ống dẫn tức là chúng tôi có lối tiếp cận trực tiếp đến Trung Quốc, thị trường lớn thứ nhì và tăng trưởng nhanh nhất thế giới”, ông nói thêm, gần như hát bài ca tụng Bắc Kinh.
Do vậy nếu mộng hội nhập Á – Âu của Putin có thể thất bại, điều đó sẽ để lại cho Trung Quốc khoảng không cỡ nào để thúc đẩy chương trình nghị sự của họ ở Trung Á? Vào một buổi sáng nóng nực ở Bishkek, tôi đặt câu hỏi này với Talant Sultanov, khi đó đang đứng đầu nhóm cố vấn nghiên cứu chiến lược quốc gia. “Trung Quốc có sức mạnh kinh tế đáng kể, nhưng họ không muốn chọc giận Nga”, ông nói với tôi trong một tòa nhà xỉn màu thời Xô Viết trên đường Kiev. “Thông điệp từ giới lãnh đạo nước họ là thế này: “Chúng tôi muốn các nước láng giềng ổn định và phồn thịnh, và điều đó sẽ tốt cho Trung Quốc. Nếu chúng ta cùng nhau tăng trưởng, đây sẽ là điều có lợi cho cả đôi bên. Nhưng chúng tôi có tham vọng chiếm lĩnh””. Nếu Kyrgyzstan nghĩ thông điệp đó trở nên quá tự tin, ông nói thêm, “Bắc Kinh biết chúng tôi ắt sẽ chạy về lại Moskva”.44*
Các nước Trung Á đang ở vị thế mỏng manh – lệ thuộc về kinh tế vào Trung Quốc, nhưng lại phụ thuộc về quân sự vào Nga. Nga vẫn là lực lượng an ninh đáng tin cậy duy nhất trong khu vực: Quân lính của họ mang lại tính ổn định trước thềm cuộc bạo loạn liên sắc tộc ở Kyrgyzstan và họ đi tuần vùng biên giới lỏng lẻo của Tajikistan giáp với Afghanistan, một cái ổ của chủ nghĩa cực đoan Islam và khu an toàn cho nạn buôn ma túy. Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO) đã chứng tỏ là một tổ chức an ninh hiệu quả hơn nhiều so với SCO do Bắc Kinh hậu thuẫn, vốn gần như không có tài nguyên nào và có liên kết hạn chế.
Về mặt văn hóa, Trung Á cũng gần Nga hơn. Ðiều này đúng ngay cả với những nước nằm ở mép sát phía Ðông của Liên Xô cũ. Chỉ cách 30 phút từ vùng biên giới Trung Quốc ở Khorgos, thị trấn Zharkent của Kazakhstan có được sự phồn vinh tương đối là nhờ giao thương với nền kinh tế khổng lồ ở ngay bên cạnh: đường phố nơi này có hàng dài nhiều xe tải và khu chợ ở đó đầy hàng hóa Trung Quốc. Mỗi sáng, các cư dân đổ xô tới biên giới để xử lí hàng gửi hoặc làm việc ở bộ phận hải quan. Tuy thế ngay cả nơi đây, tôi không thể tìm được một ai nói được tiếng Trung Quốc. Khi họ băng qua hầu hết các thị trấn ở Trung Á, người ta nói tiếng Nga ngoài tiếng riêng của sắc tộc mình. Người Kazakh, Duy Ngô Nhĩ và Slav tất thảy đều san sẻ một nền văn hóa mang tính Nga bên cạnh những căn cước sắc tộc riêng lẻ của họ. Một bài học có được từ Zharkent là những xúc tu văn hóa của Nga dấn vào Trung Á sâu hơn Trung Quốc tại đa số các khu vực ở Tân Cương, nơi rất hiếm người Duy Ngô Nhĩ thành thạo tiếng Trung Quốc.
Ðối với toàn bộ lực kinh tế đang tăng trưởng của Trung Quốc, quyền lực mềm của họ vẫn còn ở mức tối thiểu. Bắc Kinh đã mở nhiều Học viện Khổng Tử khắp Trung Á và chào mời nhiều phần học bổng đến các trường đại học ở đó. Ở Osh, tôi ghé Học viện Khổng Tử địa phương ngụ ở tầng trên cùng của một tòa nhà uy nghi có cột chống thời Xô Viết nằm tại trường Ðại học Quốc gia Osh. Nơi này có 170 học viên, những người đi thành hàng ngang qua bức tượng bán thân bằng đồng của một nhà hiền triết Trung Hoa cổ đại và đi qua ô cửa đỏ được trang trí bằng những chiếc lồng đèn Trung Quốc đỏ. Nhưng tỉ lệ của người nói tiếng Trung Quốc ở Trung Á vẫn là con số quá nhỏ. Ðối với hơn 99% dân chúng vùng này, Trung Quốc và tiếng nói nước này là những thứ hoàn toàn xa lạ. Ðiều này sẽ mất nhiều thập niên để thay đổi, nếu thực sự cần thay đổi.
Khi đó Nga sẽ không nhượng lại sức ảnh hưởng truyền thống của họ ở Trung Á. Tuy vậy có những dấu hiệu cho thấy họ cuối cùng sẽ chấp nhận thực tế rằng Trung Quốc có địa vị chi phối về mặt kinh tế. Chứng cứ là cuộc gặp thượng đỉnh ở Moskva vào tháng Năm năm 2015, khi Putin và Tập kí bản tuyên cáo liên hợp nhằm điều phối việc kiến thiết EEU và Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa. Thay vì đặt ra hai tầm nhìn đối chọi nhau, họ đồng ý xây dựng một “không gian kinh tế chung” ở vùng Á – Âu vốn bao gồm thỏa thuận mậu dịch tự do giữa EEU và Trung Quốc.45* Lối suy nghĩ mới ở Moskva và Bắc Kinh chính là hai dự án đó nên được xem là bổ sung nhau. Ðối với giới xuất khẩu Trung Quốc, khi có được một khối mậu dịch đơn nhất chạy từ biên giới Trung Quốc đến tận EU, thời gian và tiền bạc dọc theo Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa sẽ được tiết kiệm. Về phần mình, Nga sẽ hướng đến Trung Quốc để giúp nâng cấp và tài trợ cho cơ sở hạ tầng của chính Nga, khởi đầu bằng 770km tuyến đường sắt tốc độ cao từ Moskva đến thành phố Kazan phía Nam. Dự án này, vốn kì vọng sẽ tốn hơn 15 tỉ đô-la, sẽ cắt giảm thời gian di chuyển giữa hai thành phố từ 12 giờ xuống còn ba giờ rưỡi. Bắc Kinh được cho là đã sẵn sàng hậu thuẫn tuyến này bằng khoản cho vay 6 tỉ đô-la.46*
Ðiều mà được cho thấy qua sự đổi ý của Nga chính là một thực tế địa chính trị mới: rằng, vào thời hậu Ukraine, Nga cần Trung Quốc hơn hẳn việc Trung Quốc cần Nga. Năm 2014, khi Moskva kí một phi vụ trị giá 400 tỉ đô-la vốn bị trì hoãn đã lâu, nhằm cung ứng khí đốt Nga cho người tiêu dùng Trung Quốc, họ làm vậy vì họ cần tìm một thị trường thay thế cho châu Âu. Với nền kinh tế Nga chao đảo trước các chế tài của phương Tây, họ buộc phải nhìn về phương Ðông để có được những phi vụ làm ăn về năng lượng và những mối liên minh chính trị. Nhưng chính “tình hữu nghị” công khai này giữa Tập Chủ tịch và Tổng thống Putin là một liên kết chiến thuật dựa trên tinh thần thực dụng đối với nhau chứ không có gì khác hơn: Trung Quốc và Nga đề cao quá mức những mối lợi chung của họ trước công chúng, nhưng “mối quan hệ đối tác chiến lược” của họ vẫn còn đó nhiều điều bất tín và đối địch. Một cựu viên chức ngoại giao Kazakhstan, khi được Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group) phỏng vấn, đã miêu tả thật sinh động mối quan hệ giữa Trung Quốc và Nga trong SCO như “điệu nhảy của loài cầy lỏn (mongoose) và loài rắn hổ mang”.47*
Vấn đề lúc này là Trung Quốc có thể duy trì chính sách bất can thiệp này ở Trung Á trong bao lâu. Tại một hội nghị thượng đỉnh song phương ở Astana vào tháng Mười năm 2015, Trung Quốc và Kazakhstan đồng thuận việc mở rộng hợp tác liên quân sự đối với những mối ưu tư chung về an ninh, chẳng hạn như việc chống chủ nghĩa khủng bố. Bộ trưởng Quốc phòng Kazakhstan bảo với bên đối ứng người Trung Quốc rằng họ san sẻ cùng một mong mỏi chung nhằm đảm bảo tính ổn định ở Trung Á. Ðây là một sự phát triển gây hiếu kì, vì mối quan hệ song phương này trước đây chỉ xoay quanh những liên kết kinh tế. Câu chuyện này có ý rằng Kazakhstan vẫn còn đề phòng trước những tham vọng chính trị của Nga, và họ sẵn lòng nâng tầm mối quan hệ chính trị với Trung Quốc nhằm giúp phòng vệ chống lại quá trình sáp nhập Á – Âu thêm nữa.
Ðiều chính yếu thôi thúc Trung Quốc bành trướng vào vùng Trung Á hơn một thập niên qua chính là lối tư duy xu thời về kinh tế chứ không phải do chiến lược ngoại giao – bằng việc hứa hẹn dầu, khí đốt và các thị trường mới dành cho hàng hóa Trung Quốc. Nhưng tầm nhìn của Tập Cận Bình về một Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa đã đánh dấu một thay đổi cấp kì về ngoại giao: Trung Quốc đang chủ động tìm cách tăng quyền thế của mình ở những vùng biên cương phía Tây. Rốt cuộc, đây là chuyện hợp lí khi sự hiện diện kinh tế ngày càng dấn sâu của Trung Quốc sẽ chuyển dịch thành sức ảnh hưởng chính trị lớn hơn, bất luận Nga thích hay không. Ðiều này chắc chắn sẽ thử thách mối quan hệ Trung – Nga, điều mà Ðại sứ Bắc Kinh ở Moskva đã quả quyết là hiện đang “thần xỉ tương y (môi răng nương tựa nhau)” – một thành ngữ từng được Mao Chủ tịch dùng đến để miêu tả mối quan hệ với Bắc Triều Tiên.48*
Có một cảnh báo cho kết luận này. Bắc Kinh đang có vị thế vững chắc trong số các tầng lớp lãnh đạo ở Trung Á, nhưng các công ty Trung Quốc và dân nhập cư mà những công ty đó đưa theo cùng lại cực kì mất lòng người dân sở tại – một tình thế nhắc đến vị thế của Trung Quốc ở Myanmar vài năm trước. Cho đến năm 2011, Bắc Kinh và các doanh nghiệp quốc doanh đều vui vẻ cộng tác khắng khít với các tướng lĩnh Myanmar, và các công ty Trung Quốc còn chuẩn bị xây nhiều đường bộ, đường sắt và các đường dây điện mới. Nhưng khi chính phủ quân phiệt bị giải tán, cuộc phản kháng toàn dân nhanh chóng chuyển hướng nhắm đến các công ty Trung Quốc. Với một số dự án cơ sở hạ tầng trọng yếu bị bãi bỏ hoặc bị đình lại, Bắc Kinh chưa lấy lại được chỗ đứng của họ ở quốc gia phụ thuộc cũ của mình. Nếu những nước độc tài bạn của Trung Quốc bị thay thế bằng các chế độ dân túy, cuộc Tây tiến không ngừng của Trung Quốc có thể bị hãm lại.
[26] Muslim là tên gọi người theo đạo Islam – ND.
[27] Hãn quốc (Khanate) là tên gọi dành cho những chính thể nằm ở vùng Trung Á, dưới quyền cai trị của Khan (Hãn), một tước hiệu chỉ người đứng đầu chính thể này – ND.
[28] Nguyên gốc: 上海五国论坛 (Thượng Hải Ngũ quốc luận đàn) – ND.
[29] Jihad là chữ phiên âm từ chữ Ả Rập, nghĩa là nỗ lực hoặc phấn đấu. Khái niệm này thường được hiểu theo nghĩa: chỉ đến phát khởi chiến tranh (bằng ngôn từ hoặc bằng vũ lực) để bảo vệ hoặc truyền bá đạo Islam. Thường thì khi lối tiếp cận bằng ngôn từ không thành, giới Muslim sẽ dùng đến lối jihad bằng vũ lực.
Nhưng jihad không hẳn là chiến tranh thực sự bằng vũ lực. Kể từ thế kỉ 12, jihad còn được hiểu theo nghĩa: chỉ đến nỗ lực bên trong bản thân để tránh những hành vi tội lỗi và sống đúng với những nguyên tắc đề ra trong kinh Qur’an.
Nguồn tham khảo:
Cory, Stephen; “jihad”; Encyclopedia of Islam; Juan E. Campo chủ biên; New York: Facts on File, 2009.
DeLong-Bas, Natana; “Jihad”; Oxford Bibliographies Online Research Guide, http://www.oxfordbibliographies.com/view/document/obo-9780195390155/obo-9780195390155-0045.xml; truy cập ngày 7/7/2017 – ND.
[30] Kavkaz là tên gọi theo phiên âm từ tiếng Nga, còn có tên khác theo tiếng Anh là Caucasus. Ðây là vùng nằm ở biên giới châu Á và châu Âu, ở giữa Biển Ðen và Biển Caspi. Vùng này bao gồm các nước: Armenia, Azerbaijan, Georgia, Iran, Nga, Thổ Nhĩ Kì – ND.